31 thg 1, 2022

NỤ CƯỜI MÙA XUÂN - Thơ Quách Như Nguyệt

 

NỤ CƯỜI MÙA XUẬN - Thơ Quách Như Nguyệt

Mùa Xuân tưng bừng vạn vật đổi mới
Dấu yêu mĩm cười hàm tiếu nụ hoa
Sáng nay đẹp trời nắng ấm chan hòa
Thắm tươi ngọt ngào đẹp quá tình ta

Vào xuân chúc nhau gặp nhiều may mắn
Khắp nơi an vui thuận hòa mưa nắng
Nồng say trao nhau nụ hôn thiên đàng
Ngập ngừng, ngây ngất tình đến như mơ

Có em tươi cười, nụ cười rạng rỡ
Có em trong đời, đời bỗng nở hoa
Tối nay ta cùng ngắm anh trăng ngà
Phúc ơn ngập tràn tuyệt quá tình ta

Này em dấu yêu vui vầy hạnh phúc
Cám ơn nụ cười tươi thắm, thắm tươi
Ngất ngây anh nhìn, anh ngắm em cười
Nụ cười của em, nụ cười mùa Xuân

Quách Như Nguyệt

Mời Nghe Nhạc : 1/ Hà Huệ Mẩn hát


2/ Quốc Duy Hát.



La Tour tiểu thuyết đầu tay của Đoan Bùi - Nguyễn Ngọc Giao

 

Doan Bui (họ tên Việt Nam đầy đủ, theo tôi nhớ, là Bùi Đoan Thuỳ) là “ phóng viên lớn ” của tuần báo Pháp OBS (Le Nouvel Observateur cũ) với những thiên phóng sự điều tra xuất sắc về người nhập cư, về những di dân vượt biển Địa Trung Hải, từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Hy Lạp, hay sống vất vưởng trong những cánh rừng  ven biển miền bắc nước Pháp, đợi ngày sang Anh trong những thùng xe vận tải đi xuyên đường hầm hay trên những chiếu ca-nô vượt eo biển Manche, về những thanh niên Hồi giáo cực đoan rời những khu nhà hộp ngoại ô lên đường “ thánh chiến ” – những người trẻ, A rạp có, “ Pháp gốc ” có, thậm chí có cả vài thanh niên gốc Việt mà mặc cảm lớn nhất là... không có râu để sánh ngang vai đồng đạo râu xồm – những thiên phóng sự đã được giải báo chí Albert Londres.

Từ báo chí, Đoan Bùi bước sang văn học với truyện Le silence de mon père (Người cha im lặng, bản dịch của Thuận), “điều tra về cha tôi, con người xa lạ” (2016), rồi tập tranh minh họa FAKE NEWS, l‘info qui ne tourne pas rond (Tin phịa, thứ thông tin khó tin; 2021). Tập truyện là kết quả một cuộc điều tra về thân phụ tác giả, một bác sĩ bị đột quỵ rồi á khẩu, không nói được gì nữa. Sự im lặng của người cha thực ra bắt đầu từ lâu trước đó, ít nhất về quá khứ, gia đình, dòng họ, quê hương. Điểm xuyết những trang điều tra của nhà báo là những tâm tư một thiếu nhi, rồi thiếu nữ “ Pháp gốc Việt ”, sổng ở tỉnh lẻ (Le Mans), xa cách cha bởi một “khoảng cách thế hệ”, hố sâu văn hóa sâu thẳm. Sự “im lặng” đó, không chỉ Đoan Bùi trải nghiệm, mà là "nghiệp chướng” của các “thế hệ thứ hai”, mà cha mẹ, ông bà là sinh viên du học, hay thuyền nhân tị nạn. Tập tranh FAKE NEWS cũng là một cuộc điều tra toàn cầu,từ Bắc Mỹ, qua Pháp, sang một thành phố nhỏ vùng Balkan, nơi sản xuất những clip bịa đặt phục vụ cho Donald Trump trong cuộc “tranh cử bị ăn gian”. Giọng văn và tranh vẽ dí dỏm, cho người đọc lớn bé trẻ già hiểu được thuyết âm mưu, làn sóng lôi cuốn hàng chục hàng trăm triệu người không tin vào những luồng thông tin “chủ lưu” để cuồng tin “tin phịa”.

La Tour là tiểu thuyết đầu tay của Đoan Bùi, thai nghén gần năm năm trời. Không gian khởi điểm là Melbourne, cái tháp cao tầng (tên bịa), nằm trong sáu bảy cái tháp có thực của khu Olympiades, quận 13 Paris (tức là Khu phố tàu ở đông nam thành phố). Mặt bắc là một hình chữ nhật thẳng đứng, 37 tầng lầu, mỗi tầng 8 cái cửa số, tổng cộng 296 cửa sổ, từng ấy con mắt trên khuôn mặt một dị vật khổng lồ. 


Khu Oympiades, Quận 13 Paris

Vào La Tour, chúng ta khám phá những nhân vật đủ mọi quốc tịch. Đầu tiên là gia đình họ Trương, tầng 2 (rồi sẽ nâng cấp lên tầng 5). Ông bố, Victor, như Victor Hugo, mà ông thuộc lòng những câu thơ Les contemplations, bà mẹ Alice (tại sao mang tên Pháp, xin đọc, sẽ biết), và cô con gái Anne-Mai. Ông bà Trương nghe nói tới khu Olympiades qua một Hoa kiều Chợ Lớn, ông Wu (tầng 9), và nhờ sự can thiệp đầy quyền lực của ông bà Trudaine (tất nhiên không ở quận 13, mà quận 16 tư sản), họ được cấp căn hộ F2. Việt, Lào, Khơ Me, nhất là Hoa, phần đông là người Hoa đến từ Lào và Campuchia – họ chiếm đa số cộng đồng châu Á ở quận 13, nơi diễn ra thương chiến giữa hai thế lực kinh tế Tang Frères (Triều Châu / Lào) và Paris Store (Ôn Châu / Campuchia). Nhưng không chỉ có người châu Á : Ileana, nghệ sĩ dương cầm, người  Rumania, nay làm Chị Dậu cho gia đình con gái ông bà Trudaine. Cũng ở tầng 5, chàng Clément, nông dân Pháp thứ thiệt, mà định mệnh run rủi cho trùng tên với con chó Clément nổi tiếng của nhà văn Michel Houellebecq (cũng có một căn hộ ở khu Olympiades, ngoài “biệt phủ” ở tận Ireland) : Clément lạc lõng giữa thế giới những kẻ ngoại lai đến “thay thế người Pháp” (thuyết Le grand remplacement, bài tủ của Eric Zemmour, bạn thân của Houellebecq) đến mức anh ta tưởng mình là người-chó, rồi trở thành chó thực sự bằng cách cắn chết con chó Clément của Houellebecq. Chống bọn nước ngoài xâm phạm nền văn minh Pháp còn có một nhân vật tư sản, cũng ở tháp Melbourne, nhưng ở tít trên cao, dùng thang máy phục vụ các tầng 16-37, ít chung đụng với bọn ở tầng 1-15. La Tour đúng là một xã hội tôn ti trật tự, từ thấp lên cao (từ trên cao, tầng 37, mới thấy toàn cảnh Paris, từ tháp Eiffel tới Nhà thờ Đức Bà, qua thánh đường Montmartre). Và không quên một đẳng cấp mạt hạng, sống chui rúc dưới tầng hầm -2, với nhân vật người Sénégal, Virgile, bạn học của Anne-Mai ở bộ môn Văn học so sánh, Văn khoa Sorbonne, bị trục xuất vì giấy phép cư trú hết hạn, và trở thành nhập cư chui, “sáng tạo lý lịch, tiểu sử” cho đồng loại đang trông chờ quy chế tị nạn.

La Tour đúng là một cái tháp Babel cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, bức tranh thu nhỏ của xã hội Pháp sau “ 30 năm vinh quang ” bước vào thời kỳ nối tiếp khủng hoảng (khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng tài chính, khủng hoảng covid 19), lát cắt của xã hội Pháp đương đại chìm ngập trong một thế giới “toàn cầu hóa”. La Tour còn là một bức tranh lịch đại, cho ta thấy lịch sử hình thành khu Olympiades, với giấc mơ “ thành phố thẳng đứng ” của thời Pompidou (nguyên thủy, khu này được xây trên khu nhà thợ thuyền cũ, bị đẩy ra ngoại ô) nhắm vào tầng lớp trung cao. Cuộc khủng khoảng nhiên liệu đầu thập niên 70 đã biến dự án cao sang ấy thành khu nhà tiếp đón làn sóng tị nạn Đông Dương, được chào đón hào phóng để làm bẽ mặt thế giới cộng sản sắp đến ngày sụp đổ (và quên đi những người tị nạn châu Mỹ La tinh trốn tránh Pinochet-Kissinger). Quá trình sinh tử lão bệnh của cư dân khu Olympiades là trang sử mấy thập niên gối đầu hai thế kỷ của xã hội Pháp.

Cuối cùng, La Tour kết thúc bằng mấy chương “ khoa học dã tưởng ” : vẫn những nhân vật ấy, vào năm 2045, khi Oympiades trở thành khu sinh thái cao sang kiểu mới, với ông chủ là một tỉ phú (con cháu ông Wu tầng 5) từ Trung Quốc sang thành lập mấy tập đoàn siêu quốc gia. Giấc mộng Trung Hoa của ông Tập đã trở thành ác mộng của nước Pháp ? Phần kết này hơi bị chê bởi mấy nhà phê bình văn học Pháp. Nhưng phần nào, nó là nối dài lôgic của lịch sử La Tour, theo xu hướng phát triển của bốn thập niên vừa qua. Lôgic, nêú nó không gặp một sự thức tỉnh của toàn xã hội. Đó lại là câu chuyện khác.

Trước mắt, chỉ xin nhấn mạnh : La Tour là cuốn tiểu thuyết đáng đọc trong những ngày tất niên Tân Sửu đầu năm 2022 này.

Nguyễn Ngọc Giao

Quận 13, 28.1.2022

 

Nguồn gốc cây nêu ngày Tết (Từ vanvn.vn )

Vanvn- Dựng cây nêu là nghi thức xuất hiện phổ biến trong dân gian và đời sống cung đình thời Nguyễn.

Mở đầu bài thơ “Tết của mẹ tôi“, thi sĩ Nguyễn Bính viết:

“Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều

Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều

Sân gạch tường vôi người quét lại

Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu”.

Đoạn thơ gợi lên một không gian của những ngày chuẩn bị đón Tết trong đời sống tinh thần của người Việt. Đặc biệt, có câu thơ nhắc đến tục trồng nêu ngày Tết, một nghi thức có ý nghĩa trong đời sống tâm thức của người Việt từ xa xưa, được hình thành, bảo tồn, kế thừa và phát huy ở nhiều dạng thức khác nhau.

Đây là nghi thức xuất hiện phổ biến trong đời sống dân gian, trong đời sống Phật giáo và trong đời sống cung đình thời Nguyễn.

Theo huyền sử truyền tụng trong dân gian thì nguồn gốc lễ dựng nêu thiên về Phật giáo. Ngày xưa quỷ thường chiếm hữu đất đai và thường cho con người “thuê” để canh tác, rồi mâu thuẫn xảy ra, Phật phải ra tay giúp đỡ. Phật đã đẩy lùi ma quỷ, nhưng lại khiến cho quỷ không có đất kiếm ăn, nên phải cầu khẩn Phật cho biết chỗ đất nào không phải là của Phật. Phật mới bảo ở đâu có chuông, khánh, phướn là đất của Phật.

Vì thế Phật mới dạy dân dựng cây tre cao, trên đó có treo chuông, khánh, phướn trồng ngay trước nhà, đồng thời rải vôi đánh dấu, vẽ hình cung tên làm giới hạn.

Cây tre càng cao bóng tỏa càng rộng, quỷ càng xa lánh. Treo khánh hoặc chuông trên cây nêu để mỗi lần có gió thì phát ra tiếng tất làm quỷ sợ hãi

Lễ rước cây nêu ở Đại Nội Huế. Ảnh: Hoàng Hải.

Trong dân gian, người ta cũng bày biện bàn thờ để nghinh thần, ngoài sọt tre đựng cau trầu vàng bạc, còn phướn đỏ, lung tung hoặc treo lá dứa, lá đa. Rồi vạch vôi làm ranh giới cách nêu vài mươi thước, vẽ cung tên nhắm vào hướng quỷ vương. Có nhà còn treo bùa đào, lá đùng đình để trừ ma.

Miền Bắc nước ta ngày trước dựng nêu vào ngày 23 tháng Chạp, vì sáng 23 có lệ tiễn đưa ông Táo về trời, tức từ ngày này vắng mặt Táo quân trong nhà, nhân đó ma quỷ có cơ hội quấy phá.

Dựng nêu để ngăn chặn ma quỷ, và cây nêu dựng ngay trước nhà cho đến ngày mồng 7 tháng giêng.

Trong đời sống cung đình ở Huế, trước ngày Tết người ta làm lễ “Thướng tiêu” tức dựng nêu để báo hiệu ngày Tết đã tới […]. Trước ngày Tết, triều đình làm lễ Thướng tiêu, tức lễ “lên nêu” để đánh dấu cho biết ngày Tết đã tới.

Mục đích ban đầu để mừng ngày Tết, rồi sau đó cúng những thần linh để phù hộ cho người nhà được bình an, cầu tổ tiên phù hộ cho con cháu, ngoài ra còn để trừ tà ma gây hại. Triều đình dựng nêu cũng để cầu cho mưa thuận gió hòa, cho dân chúng làm ăn thuận lợi.

[…] Vua Minh Mạng cũng quan niệm rằng đã là bậc đế vương phải theo mạnh mẽ của quẻ Càn tượng Trời không lúc nào ngưng nghỉ… Lên nêu, hạ nêu là tục lệ dân gian nhưng không cần đổi thay rắc rối, cứ theo như cũ.

Theo ý chỉ của vua Minh Mạng, những lần lên nêu, triều đình nhà Nguyễn thì chỉ chọn một số ấn triện không quan trọng để bỏ vào sọt treo lên nêu cho có tính cách tượng trưng.

Đến năm Tự Đức thứ 29 (1876) có sớ tâu xin dựng nêu vào giờ Thân (15-17h) ngày 30 tháng chạp và hạ nêu vào giờ Thìn (7-9h) và mồng 7 tháng giêng. Sau đó được Sắc chỉ của vua chọn giờ Thìn vào ngày 30 tháng chạp và mồng 7 tháng Giêng để dựng nêu cùng hạ nêu, rồi lấy đó làm lệ không thay đổi nữa.

Như vậy trước năm Tự Đức thứ 29, lên nêu và hạ nêu vào 25 tháng Chạp và mồng 7 tháng giêng về sau thì lên nêu vào ngày 30 tháng chạp, tức thời gian nghỉ Tết ngắn lại.

Ở các Thượng thư đường, Thị lang đường, Tham tri đường, cũng như các cơ quan khác đều dựng nêu trước sân, theo lệ cũ có sọt tre đựng cau trầu, vàng bạc, rượu cùng ấn triện vừa để cúng Thần, mà ngưng nghỉ công việc trong những ngày Tết.

Nhìn thấy cây nêu lấp ló trong Hoàng cung, nhà dân mới theo đó mà dựng nêu ăn Tết.

Nhà thơ Tú Xương từng nhận định thực tế này, ý thơ “xuân từ trong ấy ban ra” chính là nhìn thấy hình ảnh của cây nêu vút lên từ sau bức tường Hoàng cung:

Xuân từ trong ấy mới ban ra

Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà.

Cây nêu dựng lên báo hiệu Tết đến. Nguyễn Khuyến lúc cáo lão về hưu, mắt lòa không nhìn thấy rõ đã vấp vào nêu dựng tối 30 tháng Chạp mới “nẩy” thành vế đối:

Tối ba mươi nghe pháo Giao thừa à à

Tết Sáng mồng một vấp nêu Nguyên đán ờ ờ Xuân.”

NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG


 

30 thg 1, 2022

Thơ Hà Thu Thủy : TẾT NẦY CHỈ CÒN HAI BÀ CHÁU

 
 
Tết này chỉ còn hai bà cháu
Covid cướp đi tất cả rồi
Xót thương cháu nhỏ phải mồ côi
Lủi thủi bên bà lưng còm cõi.
 
Vườn nhà xưa trĩu đầy hoa trái
Giờ ủ ê dăm gốc cây gầy
Bà buồn buồn chặt một nhành mai
Đặt lên bàn thờ liêu xiêu khói.
 
Nhìn nụ hoa lòng bà nhức nhối
Bà nuôi con khôn lớn nên người.
Tử thần mang đi không báo trước
Mấy tháng nay đêm nằm thao thức
 
Nhớ thương con bạc trắng mái đầu
Chốn vĩnh hằng xa tận nơi đâu?
Mây trắng xóa mịt mù mất dấu
Tết về... Bà cháu biết đợi ai?

Hà Thu Thủy           


Mời Xem 

DÒNG SÔNG- MẸ VÀ EM - Thơ Hà Thu Thủy 

TẾT CỦA CHẢU - Phùng Nguyên ( Từ vn.express )

Tôi gặp vợ chồng Lý A Chẩu trong con ngõ đường Nguyễn Trãi, Hà Nội vài tháng trước. Họ trải áo mưa vệ đường cho con nhỏ nằm ngủ.

Đứa bé mệt nên thiếp đi, hai vợ chồng giở gói mỳ tôm ra nhai sống, dốc cạn chai nước suối để uống cùng.

Tôi dừng lại, hỏi chuyện. Gia đình bé mọn này đã vượt 2.000 km từ TP HCM về đây. Chặng đường phía trước vẫn còn xa vì quê họ ở huyện Mường Tè, Lai Châu.

Tôi thấy chiếc xe máy cà tàng, lốp mòn, phanh vẹt đã chở ba người và tải hành lý lỉnh kỉnh kèm chiếc lồng gà. Trong lồng, một gà trống và đôi gà mái cũng xơ xác. Chẩu bảo, có những lúc hai vợ chồng kiệt sức, tiếng gáy từ chiếc lồng sắt lại giục họ đứng lên đi tiếp.

Hồi tháng 9/2021, vợ chồng Chẩu chỉ là một trong nhiều gia đình rời bỏ các đô thị phía Nam. Khoảng 2,2 triệu người hồi hương do ảnh hưởng của đợt dịch thứ tư kéo dài, theo số liệu của ngành Thống kê tới 15/12/2021.

Chẩu kể với tôi, vợ chồng họ làm công nhân da giày nhưng thất nghiệp vì dịch. Cả nhà ở trọ có bảy mét vuông. Suốt bốn tháng chỉ ngồi trong phòng mái tôn nóng nực, tiền không có, việc làm không, phải nợ tiền trọ và sống nhờ thực phẩm từ thiện.

Nếu ví nền kinh tế như chiếc xe đạp, khi bánh xe ngừng quay, những lao động ráo mồ hôi là hết tiền sẽ ngã đầu tiên.

Lúc thu hành lý về quê, Chẩu buồn phát khóc khi nhận ra gần 10 năm bán sức trong công xưởng chỉ còn lại bốn tháng nợ tiền nhà, ba con gà ở góc bể nước, ít quần áo và đồ dùng cá nhân.

Vài hôm sau, Chẩu về đến Mường Tè, tôi gọi điện. Chẩu đang cuốc đất làm rẫy, y như lúc trước khi "đi miền Nam". Tài sản so với trước khi làm công nhân còn thêm món nợ gần 7 triệu.

Đại dịch xuất hiện như cơn gió lật tung bất cập của thị trường lao động. Những năm qua, Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài bằng lợi thế lao động giá rẻ. Nhưng chính đại dịch đã cho thấy mặt trái của mô hình kinh tế thâm dụng lao động giá rẻ. Trình độ thấp kéo theo thu nhập thấp.

Hàng triệu lao động đang bán sức để nhận lại đồng tiền chỉ duy trì cuộc sống tối thiểu. Đa số người nhập cư tại các trung tâm công nghiệp như Chẩu không tiếp cận được nhà ở xã hội, phải thuê trọ tạm bợ, con cái ít cơ hội vào trường công. Họ nằm ngoài vùng phủ sóng của mạng lưới an sinh, thậm chí có người không bảo hiểm xã hội, y tế.

Mấy năm trước, khi đi thực tế để viết phóng sự về cuộc thiên di của nông dân miền Trung, miền núi phía Bắc vào các tỉnh công nghiệp phía Nam, tôi nhận thấy họ ra đi chủ yếu vì lực đẩy chứ không phải vì lực hút. Sinh kế ở quê quá khó khăn mới phải ly hương. Tôi gặp nhiều lao động di cư cứ chạy vòng quanh, vì mưu sinh mà phải bỏ quê lên thành phố, rồi lại bỏ phố về quê, lăn lóc trong cái vòng luẩn quẩn. Tất cả đều tạm bợ và không thể tìm ra khâu "đột phá" để thay đổi đời mình.

Kỳ họp bất thường của Quốc hội hai tuần trước đã thông qua gói hỗ trợ để hồi phục kinh tế. Tôi chú ý đến vài kiến nghị dành ngân sách cho đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hậu đại dịch như giải pháp căn cơ cho tăng trưởng.

Một doanh nhân cũng chia sẻ với tôi ý tưởng mở trường dạy công nhân trên Internet. Ông cho rằng cách dạy truyền thống không thể chuyển đổi năng lực cho hàng triệu lao động trình độ thấp. Nhưng nếu dạy trực tuyến đại trà, kích hoạt khả năng tự học, người lao động có thể tiếp nhận nguồn kiến thức mới, kỹ năng mới, vừa có thể vừa học vừa làm.

Nếu mỗi ngày họ học hai tiếng, khoảng ba năm sẽ có kiến thức tương đương đại học, nhiều công ty sẽ tuyển dụng ngay với thu nhập cao, vị này nói. Nếu nhà nước bắt tay với các đơn vị dân doanh mở ra những "trường đào tạo công nhận giá rẻ online", thị trường lao động Việt Nam rất có thể được chuyển hóa. Cho những công nhân muốn học cơ hội, bởi ai cũng cần cơ hội và đất nước sẽ có thêm lựa chọn.

Chất lượng tăng trưởng liên quan chặt chẽ tới chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam không thể thoát khỏi mô hình tăng trưởng thâm dụng lao động giá rẻ khi lực lượng chính ở các công xưởng vẫn chỉ học hết cấp ba như Lý A Chẩu.

Tôi cứ nghĩ lần trở về này, Chẩu sẽ chấp nhận cuộc sống cuốc rẫy làm nương. Nhưng tôi mới nhận điện thoại của Chẩu báo tin đã trở lại TP HCM xin quay lại nhà máy vì "ở Mường Tè mấy tháng không làm gì ra hai triệu".

Chẩu đã hy vọng vào thưởng Tết. Nhưng lãnh đạo công ty vừa thông báo, thưởng Tết năm nay không có vì phải dừng sản xuất mấy tháng. Chẩu chẳng đình công phản đối như đồng nghiệp, tìm cách tăng thu nhập bằng đăng ký làm thêm giờ xuyên Tết. Tết này, Chẩu ở lại phòng trọ bảy mét vuông và công xưởng như ngày thường vì không đủ tiền về thăm vợ con.

Nghe tôi nói nếu có gói hỗ trợ công nhân hay lớp học cho công nhân sẽ báo sau, Chẩu cũng hy vọng về cơ hội của mình. Chẩu bảo muốn học để nâng cao trình độ, có lương thưởng cao hơn, "nhưng tăng ca đến 10 giờ đêm nên chưa biết thế nào".

Phùng Nguyên


 

 

 

CHỮ ĐỒNG - Nguyễn Thị Châu

 
CHỬ ĐỒNG
🌷🌷
 
Tôi đã cùng ai kết chử Đồng
Bây giờ bay mất giửa mùa Đông
Gió đem sương lạnh sang rồi đó
Trên thềm lác đác nhớ mênh mong
 
Chử Đồng còn đó ai đã vắng ?
Để lại nơi đây buốt nỗi lòng
Từ khi ca cách ai còn nhớ ?
Đôi chút về tôi có nhớ không ?
 
Mình tôi ôm lấy một chử Đồng
Ngày ngày mong đợi nơi bờ sông
Chờ con thuyền cũ quay về bến
Ai đó cùng tôi vẹn chử Đồng
 
Hôm nay ai bẻ gãy chử Đồng
Để tôi ngồi khóc bên bờ sông
Con thuyền đi mãi không về nữa
Bỏ lại bến sông một tấm lòng !
 
19-1-2022
Nguyễn thị Châu

 

Mời Xem :Quê Tôi Bến Cầu & Tìm Ánh Trăng Xưa - Nguyễn Thị Châu
 

Người Cọp - Lê Hửu Nghĩa

 

Người Cọp
 
Từ khỉ lên người mấy triệu năm
Từ người hóa cọp chẳng bao lăm
Cẳng teo như sậy làm sao đứng
Bụng phệ tợ heo chỉ có nằm
Bao tử chứa toàn rừng biển núi
Hàm răng ngoạm hết ruộng ao đầm
Quái thai lịch sử từ kim cổ
Học thuyết Darwin rõ quá lầm .
 
LHN
 

THƠ VUI CUỐI TUẦN: CHÂN ĐỨNG, CHÂN NGỒI ! - Lê Xuân Cảnh

Cùng Anh Chị Em quí mến,

Trên mạng Tik Tok tuần qua có xôn-xao một chuyện không biết có thật hay dàn dựng để quảng-cáo cá-nhân. 
Đó là chuyện của một cô gái đã hiến thận cho người yêu để rồi bây giờ anh chàng này đã bỏ cô để chạy theo một bóng hồng khác. 

Dựa theo cái nhìn y-học trào-phúng của bác Quan Tài, một khán-giả rất quen thuộc của SBTN MORNING, tớ xin có một bài thơ vui là chính, với tựa-đề cũng của bác Quan Tài: 

CHÂN ĐỨNG, CHÂN NGỒI !

Một chàng trai bị thận hư, 
Người yêu tặng một quả từ thận cô,
Cuộc ghép thận thành-công to,
Cả hai hẹn hò đầu bạc răng long.

Nhưng rồi chưa được một năm,
Chàng trai đổi dạ thay lòng bỏ đi,
Cô gái ở lại lonely !

Lập-tức bè bạn giải-bày, ủi-an,
Khuyên cô gái bớt thở-than,
Phân-tích rõ ràng để cô thấy ngay:

“Tuy đã xa cách từ đây,
Nhưng thằng khốn này luôn nhớ đến mi,
Mày tặng nó một kidney,

Thận đàn bà thì ngồi mới dám pee,
Thận đàn ông đứng tì-tì,
Hai thận khác kiểu, phải tuỳ- tiện thôi,
Phải tè đứng, hay tè ngồi ?

Nó sẽ bồi-hồi nhớ đến mày luôn,
Xa mặt cách lòng là thường,
Nhưng nay xa mặt vẫn thương người tình,
Đã hy-sinh cả đời mình,
Đã coi như bóng với hình tặng ta,
Một quả thận của đàn bà,
Để ghép với quả thận nhà, đàn ông,
Người được tặng luôn nhớ mong,
At least cũng phải sáu lần a day,

Cẳng mặt cong, cẳng trái ngay ! 😝
Pee pee như vầy nó mới êm xuôi,

Một bài học cho loài người,
Ghép thận phải đòi cùng giới-tính nghe,

Nếu không?

Chân đứng chân ngồi khó kê
Cẳng mặt cong, cẳng trái ngay ! 😝
Pee pee như vầy nó mới êm xuôi,
Một bài học cho loài người,
Ghép thận phải đòi cùng giới-tính nghe,

NHƯNG có một điều khắt-khe:
Cứu người là chuyện ta care hàng đầu,
Dù sau này có phụ nhau,
Người Cho từ đầu không được tính toan,
Cứu người là number one !🙏
 
 
Lê Xuân Cảnh

 

CHUYỆN QUANH CHIẾC BÁNH ÍT NGÀY TẾT- Trần Hoàng Vy

Có lẽ không có người Việt Nam nào là không biết chiếc bánh ít, có điều tùy theo vùng miền mà có hình dáng khác nhau như hình tam giác, hình vuông ở miền Bắc, hình trụ ở miền Trung, hình tháp ở miền Nam, và tùy theo nguyên liệu gói bánh hay nhưn bánh mà có tên gọi: Bánh ít trần, bánh ít lá gai, bánh ít nhân trần, bánh ít nhân mặn, v.v...
Theo truyền thuyết trong nghệ thuật ẩm thực, người Việt Nam từ thời xa xưa đã biết làm nhiều loại bánh. Ngoài sự tích bánh chưng, bánh dày, món quà dâng cha mẹ của chàng Lang Liêu hiếu thảo, truyện cổ tích còn kể về nàng Út Ít, cũng là con gái vua Hùng học theo Lang Liêu, dùng nếp làm ra bánh ít. Và tên chiếc bánh ít cũng đã có mặt rất sớm trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam, như lời trách khéo của chàng trai với cô gái:
Bánh cả mâm sao em gọi là bánh... ít
Trầu cả chợ sao em gọi là trầu không?
Hay để chỉ sự trao đổi, thỏa thuận qua lại: “Bánh ít đi, bánh quy lại”, và để nhắc nhở về các vùng đất, người xưa đã có ca dao:
Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi.
Hay
Muốn ăn bánh ít nhân mè
Lấy chồng Hòa Đại đạp chè thâu đêm
Muốn ăn bánh ít nhân tôm
Lấy chồng Hòa Đại ăn cơm củ mì.
Hoặc đưa vào lời rao:
Ai mua bánh ít bán cho
Nhưn tôm, nhưn thịt, nhưn dừa ngọt ngon.
Như vậy, bánh ít đã có từ rất lâu đời trong đời sống ẩm thực và cả văn hóa của dân tộc Việt, trong quá trình mở cõi về phương Nam, bánh ít đã theo chân cha ông trong quá trình mở cõi, và qua phát âm theo thói quen của người miền Nam, bánh ít được phát âm thành “bánh ích”, lý giải về điều này, nhà nghiên cứu văn hoá Hồ Nhật Quang, cho rằng tên gọi và hình dáng của chiếc bánh dân dã này là cả một nét văn hoá sâu sắc của người dân phương Nam:
“Đó là tên bánh dựa trên hình dáng của nó. Bánh có hình tam giác, theo Hán tự là hình chữ “Ích”. Trong kinh dịch, 1 trong 64 quẻ dịch là “Phong lôi ích” hay còn gọi tắt là quẻ ích (phong là gió, lôi là sấm, có gió có sấm là sẽ có mưa xuống, mùa màng tươi tốt, là điềm tốt, có ích). Ích có nghĩa là thêm được lợi, vươn lên suôn sẻ, là tăng lên, làm tốt cho nhau. Hình dáng bánh như hình tam giác mang hình ảnh rất đặc sắc của dân khai khẩn, đó là hình lều trại. Thuở khai hoang của cư dân Việt thế kỷ 16, 17, miền Nam rất hoang vu, lưu dân vùng Ngũ Quảng đến phương Nam phải dựng lều trại để nương thân, lập nghiệp. Mép gấp của bánh tượng trưng cánh cửa của lều. Người miền Nam khi gói bánh ích còn gấp đỉnh đầu xuống một chút, có nơi gọi là bánh nóc chùa. Điều này mô tả thời khai khẩn, người ta phải nương náu cùng nhau trong những đền chùa...”
Bánh ít thường được làm trong những dịp lễ Tết, đám giỗ để dâng cúng Tổ tiên, tưởng nhớ ông bà và thường được kèm với trái cây, vật phẩm cúng tế để làm quà mang về nhà cho người đến dự lễ hay đám giỗ nên thường đi đôi với câu nói “giỗ quải” mà theo từ điển Tiếng Việt, “quải” là phương ngữ có nghĩa là “vãi hay rải thóc cho gà ăn”, ở đây có ý chia cho và mang về, hay nói vui theo... dân gian là lo đám giỗ thì phải... “quải” oải người, mệt người! Hay đi ăn giỗ thì phải “quải về”, mang vác quà về?
Nói đến bánh ít, thì phải nói đến tài nội trợ khéo léo và đảm đang của người phụ nữ làm ra chiếc bánh ít, đó là công đoạn chế biến chiếc bánh ít từ những cân nếp thơm, đậu xanh, cơm dừa nạo, đậu phộng, thịt heo, tôm sú và cả những chiếc lá gai hay lá chuối nữa...
Ngày bé, bọn trẻ chúng tôi thường theo mẹ hay bà, ngồi nhìn bàn tay khéo léo của bà, của mẹ, cẩn thận vo, gút từng nắm nếp thơm trong nước cho sạch, xong để ráo, rồi bỏ vào cối xay gạo, xay nhuyễn thành bột gạo, xong bỏ vào bòng, lấy cối đá dằn lên cho ráo nước chờ nặn thành bánh (hiện nay, đã có máy xay bột, đỡ bớt công đoạn cực nhọc nhất cho người làm bánh). Trong khi chờ bột, lại phải lo chuẩn bị nhân, tùy theo muốn làm bánh “ngọt” hay “mặn” chia ra bánh nhân hay còn gọi là nhưn: đậu xanh, nhân dừa, đậu phộng, thịt heo hay tôm chấy, v.v... rồi đến chuyện hấp trần, hay gói lá chuối, lá gai. Bánh gói lá chuối cho bánh màu xanh nhẹ, gói lá gai cho bánh màu đen bắt mắt, bỏ thêm ít lá dứa, bánh có mùi thơm nhẹ, kích thích vị giác của người ăn, và mỗi chiếc bánh ít... lại tràn đầy tình cảm của người gói, của tấm lòng con cháu cúng dâng lên các đấng hiền nhân, tổ phụ, ông bà... và cả tấm lòng san sẻ, chia cho con cháu, hàng xóm, láng giềng đến cùng chung chia sẻ, tưởng nhớ. Bánh ít còn được dâng cúng trong đền chùa, miếu mạo mỗi kỳ tế lễ và luôn được coi là món quà thanh khiết được cúng dường bởi những con trẻ, tín đồ... đầy lòng thành kính.
Chiếc bánh ít nhân đậu xanh, ngọt bùi. Chiếc bánh nhân dừa, vị ngọt béo, sừng sực của những hạt đậu phộng chín... hay phong vị thơm ngon của thịt heo, của tôm chấy, đủ cả... ngũ hành trong ẩm thực và cả âm dương, cân bằng trong ăn uống dưỡng sinh của người xưa, gợi nhớ bao kỷ niệm của đấng sinh thành và người thân ruột thịt trong mỗi kỳ lễ cúng. Gợi nhớ cả tuổi ấu thơ của một vùng quê với bao họ hàng thân thích. Tên là chiếc bánh ít nhưng đầy và nhiều những tình cảm họ hàng dòng tộc mỗi khi đến kỳ giỗ chạp hay cúng kỵ tiền nhân mở cõi.
 
Trần Hoàng Vy


THÔNG ĐIỆP CỦA BỆNH VIỆN

 

THÔNG ĐIỆP CỦA BỆNH VIỆN:
Virus dường như đang lây lan nhanh chóng.

Bộ dụng cụ y tế Covid Yêu cầu tại nhà:

1. Paracetamol
2. Betadine để súc miệng và súc miệng
3. Vitamin C và D3
5. B phức hợp
6. Máy xông hơi + viên nang xông hơi
7. Máy đo ôxyt
8. Bình oxy (chỉ dành cho trường hợp khẩn cấp)
9. Bài tập thở


Covid Ba giai đoạn:
1. Covid chỉ ở mũi - thời gian phục hồi là nửa ngày.  (Xông hơi), vitamin C. Thường không sốt.  Không có triệu chứng.

2. Viêm họng - đau họng, thời gian hồi phục 1 ngày (súc họng nước nóng, uống nước ấm, nếu nóng thì dùng paracetamol. Vitamin C, B-complex. Nếu nặng thì cho kháng sinh).

3. Phổi đặc - ho và khó thở từ 4 đến 5 ngày.  (Vitamin C, B complex, súc miệng nước nóng, máy đo oxy, paracetamol, xi lanh nếu nặng, phải truyền nhiều chất lỏng, tập thở sâu.

Giai đoạn khi đến bệnh viện:
Theo dõi mức oxy.  Nếu nó xuống dưới 92 (bình thường 98-100) thì bạn cần bình oxy.  Nếu có sẵn tại nhà, sau đó không có bệnh viện nào khác thừa nhận.

* Giữ gìn sức khỏe, Giữ an toàn! *

  Xin vui lòng chuyển đến tất cả trong danh sách liên hệ của bạn.  Bạn không bao giờ biết nó có thể giúp ích cho ai.

Lời khuyên từ các bệnh viện cách ly bên trong, chúng tôi có thể thực hiện tại nhà

Thuốc được dùng trong bệnh viện cách ly
  1. Vitamin C-1000
  2. Vitamin E (E)
  3. Từ (10 đến 11) giờ, ngồi dưới nắng 15-20 phút.
  4. Bữa ăn trứng một lần.
  5. Chúng tôi nghỉ ngơi / ngủ tối thiểu 7-8 giờ
  6. Chúng ta uống 1,5 lít nước mỗi ngày
  7. Tất cả các bữa ăn phải ấm (không lạnh).

Và đó là tất cả những gì chúng tôi làm trong bệnh viện để tăng cường hệ thống miễn dịch

Lưu ý rằng độ pH của coronavirus thay đổi từ 5,5 đến 8,5

Do đó, tất cả những gì chúng ta phải làm để loại bỏ vi rút là tiêu thụ nhiều thực phẩm có tính kiềm cao hơn mức axit của vi rút.

  Nhu la :
  Chuối
  Chanh xanh - 9,9 pH
  Chanh vàng - 8,2 độ pH
  Quả bơ - 15,6 pH
  * Tỏi - 13,2 pH
  * Xoài - 8,7 độ pH
  * Quýt - 8,5 độ pH
  * Dứa - 12,7 pH
  * Cải xoong - 22,7 pH
  * Cam - 9,2 pH

Làm thế nào để biết rằng bạn đang bị nhiễm vi rút corona?

  1. Ngứa cổ họng
  2. Khô họng
  3. Ho khan
  4. Nhiệt độ cao
  5. Khó thở
  6. Mất mùi….

Và chanh với nước ấm giúp loại bỏ vi rút ở đầu trước khi đến phổi ...

Đừng giữ thông tin này cho riêng mình.  Cung cấp nó cho tất cả gia đình và bạn bè của bạn.

29 thg 1, 2022

Một người bạn thân thương /thơ nhu nguyệt

 Một người bạn thân thương




 

 

 

 

 

 

 

 

Anh viết điện thư dài

Thư dễ thương, dấu ái

Cuối thư đề hai chữ

“Thân thương”, thật dễ thương!

 

Vừa mới quen nhau thôi

Tôi có cảm tình rồi

Đâu dễ gì có được

Tôi có phước ghê nơi

 

Anh ơi à anh ơi

Cảm ơn anh nhiều nhé

Xem tôi như người bạn,
đã thân lại còn...thương

 

Một người bạn thân thương

Không dễ tìm đâu ạ
Tình cờ ta quen nhau
Hiểu nhau, không xa lạ

 

Bạn tri kỷ, tri âm

Mới quen mà sâu đậm

Có nhiều người cả đời

Không có được anh ơi

 

Một người bạn thân thương

Không phải bạn bình thường

Tình bạn luôn đẹp nhé

Mình quý nhau mãi nhé

Bạn thân, bạn tôi thương!

 

Anh thương tôi, quý tôi!

Ngược lại tôi cũng thế
Vui ghê, thật vui ghê!

Tình bạn, tình thân ái

Chẳng si dại, đam mê

Nên chẳng có ê chề

Chẳng nhớ nhung ray rứt

Có niềm vui hả hê...

nn

June 10, 2021


 

Mời Xem Thơ và Nghe Nhạc mục : Quách Nhu Nguyệt


TẢN MẠN VỀ "CỌP" - Lê Tấn Tài


 Năm Tân Sửu  hết,  lại đến  năm  Nhâm Dần,  gửi đến  các bạn  những chuyện về Cọp. Chuyện Cọp thì nhiều lắm, kề hoài  không hết;  chỉ lượm lặt  vài  chuyện để  các bạn đọc  thưởng xuân vì e rằng  trong tương lai cọp  sẽ bị loài người săn bắn đến tuyệt giống và  các thế hệ sau không còn được biết cọp là con gì  nữa.
 

 Trong tiếng Việt, cọp có nhiều tên gọi: Ông Ba Mươi  (ngày xưa, ai giết được một con cọp, thì sẽ được  vua  thưởng cho ba mươi quan tiền, nhưng cũng bị đánh  tượng trưng ba mươi hèo  để hồn “ông cọp” không còn giận kẻ đã giết mình..), ông Hỗ, ông Hùm, ông Kễnh, ông Mãnh...Có lẽ vì người ta quá sợ “Ông” nên  tránh  gọi tên Ông.  Cọp là dã thú, thân dài, cổ ngắn, đầu tròn, râu cứng, răng nhọn,  thuộc  họ nhà mèo, có sức mạnh, to khỏe, nhanh nhẹn,  chiến đấu giỏi,  săn mồi thành thạo. Đặc trưng  của cọp là  tính hung dữ, táo bạo, liều lĩnh, dám tấn công hay đối địch nhiều thú to khỏe khác,  với tiếng gầm rống rung chuyển núi rừng gây khiếp đảm cho muôn loài.  Bộ da cọp vằn vện vàng đỏ và có nhiều vằn đen, đẹp rực rỡ.  Thân hình lượn sóng, uyển chuyển, hùng dũng.  Dáng đi  của cọp  (hổ bộ) rất đặc trưng: bốn chân khi đi rất khoan thai, nhưng chắc chắn, mỗi bước chân đặt xuống đất thì các xương cốt, cơ bắp trên phần thân thể đều lộ ra. Tuổi thọ của cọp tối đa 25 nãm, phần lớn  sống tới 17 hay 21 năm, cọp nuôi  sống được 25 năm. Cọp trưởng thành nặng nhất độ ba trăm ký, sống trong các khu rừng, kể cả rừng đầm lầy có lau sậy.  Cọp  thường ăn thịt hươu nai, lợn rừng, thậm chí có khi bắt cả trâu bò mà ăn. Mỗi bữa dùng tới 30, hay 50 ký  thịt. Sau đó, có thể nhịn trong nhiều ngày…Cọp săn mồi bằng cách bò thật sát đến từ phía sau con mồi. Khi khoảng cách còn độ 5m cọp chạy thật nhanh và phóng lên lưng con mồi, cắn vào gáy, ghì chặt con mồi, chờ đến khi con mồi vùng vẫy và đuối sức ngã xuống mới cắn vào cổ họng cho con mồi nghẹt thở chết.
> Trước đây châu Á có  hàng trăm ngàn  cọp,  hiện nay chỉ còn khoảng 5.000 con, trong đó có đến 3.000 con  bị nhốt trong các sở thú. Khoảng 200 năm về trước,  miền Nam toàn rừng rậm hoang vu, thú rừng đầy rẫy,  những người khai hoang bị cọp beo, rắn rết  giết  hại rất nhiều. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi: “Giữa ngày Tết năm 1771, cọp từ rừng Sác, phía Cần Giuộc, từng bầy kéo về chợ Tân Kiểng, trên đường vào Chợ Lớn, làm dân chúng kinh hoàng...” Việt Nam  hiện còn khoảng 300 con, kể cả cọp  nuôi.> >

 Trong văn hóa hiện đại,  người ta  sử dụng hình tượng, biểu tượng, biểu trưng, phù hiệu, nhãn hiệu có  hình ảnh cọp  trên nhiều lĩnh vực như thể thao, kinh tế, quảng cáo... đặc biệt dùng hình ảnh cọp  để chỉ tiềm lực hùng mạnh cũng như sự trỗi dậy của nền kinh tế  mới ở các quốc gia  như "bốn con hổ châu Á", "bốn con hổ con kinh tế" (Tiger Cub Economies), "những con hổ kinh tế mới",  "những con hổ kinh tế" (Tiger economies).   

 Trong lịch sử có nhiều danh thần, võ tướng có tên gọi gắn với hổ  như: Phạm Bạch Hổ (võ tướng các triều nhà Ngô), Lê Như Hổ (vô địch đấu vật thời nhà Lê), Bùi Cầm Hổ (quan nhà Lê),  Phạm Đình Hổ (biệt hiệu  Chiêu Hổ, quan  triều Nguyễn), Tăng Bạt Hổ (chí sĩ tham gia phong trào Cần Vương), Đào Văn Hổ (tướng của Nguyễn Nhạc)... Thời xưa thì có Tràng An Tứ Hổ (Nhất Quỳnh, nhì Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn), Trường An Thất Hổ (bảy con hổ của kinh thành Thăng Long). Thời Tây Sơn có Tây Sơn Thất Hổ tướng trong đó có Hám Hổ Hầu Võ Văn Dũng. Nhà Nguyễn  có  Ngũ Hổ tướng Gia Định, Long Hổ tướng quân Trần Hầu (cháu của đô đốc Mạc Thiên Tứ). Thời hiện đại, Lê Văn Hưng của QLVNCH được các phóng viên chiến trường gọi là một trong Ngũ Hổ U Minh Thượng, võ sư Long Hổ Hội (tên thật là Lâm Hữu Hội) danh chấn xứ Bạc Liêu, võ sư Ngô Bông còn được gọi là Lâm Hổ. Ở Việt Nam không thấy có phụ nữ nào tên là Hổ, mặc dù nhiều bà cũng được gọi là "hổ cái", "cọp cái".
>
> Trung Hoa có  nhiều  người  tên Hổ như:  Đường Bá Hổ (tức  Đường Dần, một danh hoạ, một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Minh),  Hàn Hổ (tức Hàn Khang Tử là vị tông chủ thứ 10 của họ Hàn giữ chức quan khanh nước Tấn),  Hổ Sơn (tức Hoàng Đắc Công, tướng lãnh nhà Minh, trấn thủ Lư Châu),  Mã Định Hổ (tự nhận là hậu duệ đời thứ 39 của Phục Ba tướng quân Mã Viện). Thời nhà Minh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích được phong danh hiệu Long hổ tướng quân, Vương Đài làm Long Hổ tướng quân. Thời nhà Thanh  có danh xưng Quảng Đông Thập Hổ (10 con hổ ở đất Quảng Đông) trong đó có Tô Hắc Hổ (chưởng môn phái  Hắc Hổ nổi tiếng với bài Thập hình quyền).  Thời Tam Quốc, Viên Thiệu được phong làm Hổ Bôn Trung Lang tướng, Vu Cấm được phong chức Hổ Uy tướng quân...
> Trong Tam Quốc diễn nghĩa, La Quán Trung dùng hình tượng  cọp  để mô tả  hình dáng của nhiều viên tướng được ví  như  anh hùng:  Đổng Trác được xưng tụng là Biên Quan Dã Hổ (con  cọp  dữ ở vùng biên), Lữ Bố được Tào Tháo so sánh với hình ảnh  cọp,  Hứa Chử được gọi là Hổ Hầu (tên gọi do Mã Siêu đặt, ban đầu có tên là Hổ Si, tức con cọp dại). Ngoài ra  còn có danh xưng Ngũ Hổ tướng chỉ  các viên tướng có sức mạnh như: Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu, Triệu Vân, Hoàng Trung. Trong tác phẩm Thủy Hử, có Bát Hổ Lượng Sơn Bạc: Sáp Sỉ Hổ Lôi Hoành (Hổ mọc cánh), Cẩm Mao Hổ Yến Thuận (Hổ long gấm), Nụy Cước Hổ Vương Anh (Hổ chân ngắn), Khiêu Giản Hổ Trần Đạt (Hổ nhảy khe), Hoa Hạng Hổ Cung Vượng (Hổ sẹo hoa), Đả Hổ tướng Lý Trung (Tướng đánh hổ), Tiếu Diện Hổ Chu Phú (Hổ mặt cười) và Trúng Tiễn Hổ Đinh Đắc Tôn (Hổ trúng tên).
>
>
> Một số nước khác, các danh tướng cũng dùng tên  Cọp để chỉ về mình như Takeda Shingen danh tướng thời chiến quốc Nhật Bản được gọi là Con Cọp Xứ Kai, đối thủ của ông là Uesugi Kenshin còn gọi là Nagao Kagetora  (Trưởng Vĩ Cảnh Hổ) sau đó đổi tên thành Uesugi Masatora  (Thượng Sam Chính Hổ). Viên tướng Nhật Yamashita Tomoyuki còn được gọi là con cọp Mã Lai. Võ sư Kim Chấn Bát (Triều Tiên) được đặt biệt hiệu là Kim Phi Hổ. Tên vua  Babur (là người sáng lập Đế chế Mughal ở Ấn Độ)  có nghĩa là cọp.  Vua Sher Khan của Hồi giáo, vua Tipu Sultan (còn được gọi là Tipu Sahab hoặc là Tiger of Mysore) là những vị vua lấy cọp  làm biểu tượng.
>
> Những cao thủ võ thuật Việt Nam danh chấn cũng được đặt biệt danh là hùm xám. Võ sư Mã Thanh Long  được đặt biệt danh là Hùm xám Hòa Hưng, võ sư Huỳnh Long Hổ được mệnh danh là Hùm xám Quảng Ngãi, võ sư Hà Trọng Ngự với tuyệt kỹ quyền ba chân hổ được tôn xưng là Hùm xám miền Nam, võ sư Hà Trọng Sơn cũng có biệt danh là Hùm xám miền Trung cùng với võ sư Lý Xuân Hỷ người được mệnh danh là Hùm xám Cao nguyên.
>
> Người Việt còn dùng thuật ngữ hùm xám để đặt tên cho các  đội bóng  nước ngoài như: Đội bóng Bayern Munich được báo giới Việt Nam đặt tên là Hùm xám xứ Bavaria, thủ môn José Luis Chilavert được gọi là Con hùm xám Nam Mỹ. Radamel Falcao García  có biệt danh là  Mãnh hổ (El Tigre).    Cúp bóng đá vô địch các quốc gia Đông Nam Á trước đây còn có tên gọi là Tiger Cup do hãng Tiger Beer tài trợ. Đội bóng đá Hull City A.F.C. của giải ngoại hạng Anh cũng sử dụng hình ảnh con hổ làm logo chính thức cho mình.  Cọp  cũng là biểu tượng của Thế vận hội 1988 ở Seoul với hình ảnh là chú hổ Hodori. Logo của Đội tuyển bóng đá Hàn Quốc là hình một con hổ; bóng đá Hàn Quốc được biết đến là một mãnh hổ Đông Á với sức mạnh và tinh thần thi đấu quả cảm và đội tuyển bóng đá Hàn Quốc được đặt biệt danh là hổ Đông Á.  Tên Tiger Woods,  vận động viên golf chuyên nghiệp người Mỹ,  được lấy từ tên  Vương Đăng Phong (có biệt danh Tiger), người bạn quân nhân Việt Nam của cha  anh. Earl  Woods bắt đầu gọi con trai mình là Tiger  như một sự kính trọng đối với  một trong những người bạn thân nhất của mình, một người lính miền Nam Việt Nam. [Earl Woods - một đại tá quân đội Mỹ và  cựu binh trong chiến tranh Việt Nam - là một người lai giữa người Mỹ gốc Phi (50%), người Trung Hoa  (25%), và người Mỹ bản địa (25%). Mẹ anh, Kultida, xuất thân từ Thái Lan, là người lai giữa người Thái Lan (50%), Trung Hoa  (25%) và Hà Lan (25%). Điều này khiến Tiger Woods có 1/4 dòng máu người Trung Hoa, 1/4 của người Thái lan, 1/4 của người Mỹ gốc Phi, 1/8 của người Mỹ bản địa và 1/8 dòng máu Hà Lan. Anh  tự coi mình là thuộc chủng tộc Cablinasian (anh ghép từ tên 5 chủng tộc trong Tiếng Anh: Caucasian, Black, American-Indian, and Asian)].
>
> Cọp cũng được sử dụng trong quảng cáo hàng hóa như xăng dầu và đồ ăn nhanh. Một số hãng sử dụng  cọp  làm biểu tượng cho mình như hãng dầu nhớt Essso,  các hãng bia Tiger, bia Laruer in hình con  cọp. Hãng hàng không Tiger Airways có logo với hình con  cọp đang tung mình.  Ở Đài Loan  có Tiểu Hổ Đội (tiếng Anh: The Little Tigers), gồm ba thành viên Ngô Kỳ Long, Trần Chí Bằng và Tô Hữu Bằng, là ban nhạc của Đài Loan  đầu  thế kỷ 20.
>
> Một số loại vũ khí có sức mạnh công phá lớn được gọi là hỏa hổ. Thanh đao được ví như hổ với câu: "Đao như mãnh hổ, thương tựa giao long". Thanh kiếm của Kondō Isami được gọi là Hổ Triệt  (Kotetsu), là tác phẩm của một thợ rèn  danh tiếng thế kỷ  17 tên là Nagasone Kotetsu.  Nhiều máy bay chiến đấu được đặt tên theo loài hổ (tiger). Không quân Hoa Kỳ  sử dụng máy bay tiềm kích biệt hiệu con hổ Northrop F-5 vào những năm 1960, ngoài ra còn nhiều máy bay chiến đấu được đặt tên theo loài hổ như: Grumman F-11 Tiger, Grumman F11F Super Tiger. Trong chiến tranh thế giới thứ 2,  Đức Quốc xã đã chế tạo và đưa vào sử dụng những chiếc xe tăng lợi hại gồm 2 thế hệ là Xe tăng Tiger I và Tiger II. Về tàu chiến, có mười lăm tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Anh từng được mang cái tên HMS Tiger, theo tên loài hổ, Hải quân Anh còn có lớp tàu tuần dương trực thăng Tiger là lớp đầu tiên  của Hải quân Hoàng gia Anh, và cũng là những tàu tuần dương cuối cùng được chế tạo cho Hải quân Anh, xuất sắc nhất có chiếc HMS Tiger (1913).
>
> Tên  cọp cũng được đặt  cho các đơn vị quân đội.  Ở châu Á  có Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ của Nam Hàn từng tham chiến tại Việt Nam.  Những con Hổ giải phóng Tamil (viết tắt: Hổ Tamil /LTTE) là một tổ chức  chiến đấu đòi độc lập cho người thiểu số Tamil  có trụ sở ở đông bắc Sri Lanka. Một số đơn vị của QLVNCH  cũng sử dụng hình ảnh con  cọp  cho một số đơn vị như: Tiểu đoàn biệt động Cọp đen của Sư đoàn 23 Bộ binh, Tiểu đoàn 42 Biệt động quân Cọp ba đầu rắn, Tiểu đoàn Cọp Biển (tiểu đoàn 6) của Thủy quân Lục chiến.
>
> Uy danh của  cọp  còn ảnh hưởng đến tên gọi nhiều  sinh  vật  to lớn hoặc    mạnh mẽ  như  rắn hổ,  cá hổ,  cá mập hay còn gọi là cọp biển,  tôm hùm, tép cọp, bướm đêm hổ đốm,  muỗi hổ (Aedes albopictus),  con mèo thường được gọi là tiểu hổ. Về các loài thực vật có: cây lưỡi hổ, cây ba mươi, lá lưỡi cọp,  cỏ đuôi hùm,  bìm bìm chân cọp...  Trong kho tàng dược liệu y học cổ truyền, nhiều cây, lá mang tên hổ là vị thuốc dễ  tìm có tác dụng chữa bệnh như: Hổ thiệt, Hổ nhĩ thảo, Hổ trượng căn,  còn có chín vị thuốc tên hổ như Hổ kế hay  ô rô (Cicus japonicus), Hổ thiệt (Aloe), Hổ cao (Siegesbeckia orientalis L), Hổ trượng căn (Polygonum cuspidatum sieh Znce), Hổ vĩ, hay hổ vĩ mép vàng (Sansevira trifasciata Prain var), Hổ phách (Succinum), Hổ chuối (Ptyas korros), Hổ mang  (Ophiophagus hannah), Hổ cốt (Panthera tigris L).
>
> Hiện nay hình ảnh cọp được diễn tả ngộ nghĩnh, đáng yêu hơn rất nhiều so với hình ảnh cọp  dữ  trước kia,  nhằm đề cao ý thức bảo vệ, bảo tồn loài cọp  vì  loài này đã trở thành một động vật quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Một cuộc thăm dò dư luận hơn 50.000 người  đến từ 73 quốc gia, của kênh truyền hình Animal Planet cho kết quả cọp  là con vật được yêu thích nhất trên thế giới.  Theo kết quả bỏ phiếu thì  cọp nhận được 21%  đứng hạng nhất, tiếp theo là chó với số phiếu sát sao 20%, cá heo  13%, ngựa  10%, sư tử  9%, rắn  8%,  sau đó  là voi, tinh tinh, đười ươi và cá voi.  Ngày nay, cả thế giới đã dành riêng một ngày để kỷ niệm về  cọp  đó là "Ngày quốc tế  bảo tồn  cọp"  (nhằm ngày 29 tháng 7 hàng năm),  ngày này đã diễn ra tại Việt Nam vào năm 2011.
>
> Nhiều vùng đất, địa danh, công trình được đặt tên  loài cọp.  Trung Hoa  có Long Hổ Sơn hay còn gọi là núi rồng-hổ, một địa danh linh thiêng của đạo giáo,  Hổ Khiêu Hiệp (Hẻm núi Hổ Nhảy), tương truyền rằng để trốn khỏi một tay thợ săn, một con hổ đã nhảy qua con sông tại điểm hẹp nhất (rộng 25 m), do đó người ta gọi đây là hẻm núi Hổ Nhảy. Hổ Khâu, Hổ Môn nghĩa là "cổng hổ", người phương Tây thường biết đến Hổ Môn qua tên gọi xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha là Bocca Tigris (nghĩa là "miệng hổ") hay Bogue, Hổ Lao Quan, Hổ Môn (trấn), Hổ Lâm, Cầu Hổ Môn, Đại Hổ Sơn, cù lao Hổ Hạm (Hổ Hạm Châu).  Ngoài ra, các nước khác còn có Sông Tigre ở Brazil,  và đặc biệt là sông Tigrit một trong hai con sông của dòng sông Lưỡng Hà.
>
> Ở Việt Nam,  Tiền Giang vùng đất miệt vườn có tên gọi là Cù lao Ông Hổ.  Ngoài ra còn có Mỏ dầu  Bạch Hổ (cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 145 km), Thị trấn Tăng Bạt Hổ (Bình Định). Đặc biệt ở miền Nam  còn lưu truyền nhiều địa danh liên quan đến cọp như Đìa Cứt Cọp (Giồng Trôm, Bến Tre) là nơi có nhiều cọp tụ tập lại săn mồi và phóng uế bừa bãi, Sân Ngự (thị trấn Bình Đại, Bến Tre) là nơi theo truyền thuyết hàng năm vào mùa khô, cọp từ các nơi tụ tập về đây gọi là cọp hội dưới sự đầu lĩnh của chúa cọp bạch ba chân, Đồn Cọp  Chợ Lách, Bến Tre) là nơi cọp thường đến phá phách dân chúng mới lập mưu vây cọp lại, rồi báo cho tỉnh đưa lính về bắn, Mỏ Cày (Bến Tre) cọp ở đây rất nhiều do đó, người dân vừa cày, vừa đánh mỏ để cọp sợ không dám đến làm hại, rạch Ông Hổ (Long Hưng, Tiền Giang), Rạch Gầm (Châu Thành, Tiền Giang) là nơi trước có nhiều cọp và chúng gầm thét vang động cả một vùng nên có tên Rạch Cọp Gầm, về sau, gọi tắt thành Rạch Gầm. Đồng thời có các địa danh như suối Cọp và Hang Bạch Hổ (Định Quán), truyền rằng, trước kia, khi rừng rậm còn nhiều, có một cặp hổ trắng về ẩn tại núi Đá Voi, cặp hổ này không bắt người ăn thịt mà thường xuống nghe kinh Phật ở chùa Thiện Chơn. Sau này rừng bị phá dần, lại thêm chiến tranh, cặp hổ bỏ đi.  Dân cho là Hổ thần nên đặt tên hang là Bạch Hổ. Ngoài ra còn có Thác Hang Cọp ở Đà Lạt, tương truyền nơi đây ngày xưa là nơi trú ngụ của một con cọp cho nên mới lấy hang cọp mà đặt tên cho thác, hiện nơi đây có đặt tượng hổ cao khoảng 5m, dài 10m nằm trong khuôn viên của thác.
>
> Trong văn hóa Á đông cọp chiếm một vị trí khá quan trọng.  Nói tới cọp là  nói đến cái dáng dấp hào hùng mạnh mẽ, cái khí thế oai phong lẫm liệt. Vì vậy, hình ảnh  cọp  là  biểu tượng cho các vị tướng lãnh và các bậc anh hùng, người ta dùng    từ “hổ tướng” để tả  một viên võ tướng có dáng điệu uy nghi, oai vệ:  "Ra oai hổ tướng đoạt thành / Ngói tan, trúc chẻ, tan tành thịt xương." Hoặc  nói  “hổ trướng”  là nói nơi đóng quân của viên chủ tướng, thường dùng da cọp  bọc  quanh trướng để họp với các thuộc hạ, luận bàn  cơ mật quân sự. Cũng vì thế, mà  dân Việt  gọi ông Hoàng Hoa Thám, hay Đề Thám, người anh hùng đất Yên Thế là Hùm thiêng Yên Thế.
>
> Vùng Bengal ở  Ấn Độ, nổi tiếng cọp dữ. Người dân vào rừng thường mang mặt nạ về phía sau đầu, nhìn tưởng người đi thụt lùi. Họ tin rằng cọp chỉ vồ từ đằng sau con mồi nên thấy mặt người thì cọp  sợ  nên  bỏ đi.  Các  dân tộc thiểu số ở cao nguyên Việt Nam vẫn có tục vác chà gạt trên vai, mũi nhọn hướng về phía sau. Cọp biết nếu vồ con mồi sẽ bị đầu nhọn chà gạt đâm  nên không dám tấn công. Người Việt  tin rằng,  ai  bị cọp ăn thịt thì hồn không siêu thoát mà phải theo hầu con cọp đó (gọi là hổ trành). Hổ trành thường xúi thân nhân ra nộp mạng cho cọp để thế chỗ cho hồn cũ đi đầu thai kiếp khác.
> Trò chơi “bầu cua cá cọp”  ngày Tết: trên miếng giấy vẽ hình các con thú là bầu, cua, cá, cọp để người chơi đặt tiền.  Vì lẽ kiêng nễ cọp nên không ai dám đặt tiền vào hình con cọp, sợ thất lễ với “ông”, nên người ta bỏ hình  cọp mà thay vào bằng hình con nai. 

 Việt Nam ngày xưa  cũng có trò chơi bắt voi và cọp  đấu sức với nhau như  các  đấu trường thời La Mã.  Cố đô Huế còn lại phế tích trường đấu Hổ Quyền xây dựng năm 1830.  Trò chơi này còn đến đời vua Thành Thái ở cồn Dã Viên trên sông Hương. Trong những trận đấu này,  cọp  luôn luôn thua vì vóc nhỏ hơn voi, sức cũng yếu hơn voi. Móng cọp không làm rách được da voi nên cuối cùng, hổ bị voi đạp chết.
> Giai thoại ngày xưa kể rằng Tả quân Lê Văn Duyệt cùng với sứ thần Xiêm La (Thái Lan)  ngồi trên vọng đài xem  Lê Văn Khôi,  con nuôi của Tả Quân,  tay không đấu với cọp. Lê Văn Khôi mình trần mặc quần cụt, tay cầm đùi heo. Không ngờ gặp con  cọp  quá dữ tấn công ngay, ông né mình đánh ra một côn trúng  cọp  ngã lăn  rồi tắt thở. Sứ thần Xiêm La tấm tắc khen ngợi, nhưng Tả Quân nổi trận lôi đình truyền đao phủ bắt trói Lê Văn Khôi đem chém, vì theo lệnh đấu với  cọp  chỉ được bắt sống chứ không được đánh chết. Lê Văn Khôi đến trước vọng đài xin tha tội  và xin được bắt sống  con cọp khác để chuộc tội. Tả quân đồng ý ra lệnh thả  cọp  ra, bên ngoài trống thúc vang trời. Cuộc tỉ thí lần này thật gay go. Khôi đá trúng hàm dưới của cọp  và cọp  nằm bất tỉnh.  Khôi  trói cọp,  đặt dưới vòng đài làm lễ xin chuộc tội. Sứ thần Xiêm la thấy vậy khen không dứt lời. Tả Quân ung dung nói: "Bọn tiểu tốt dưới trướng tôi đều như vậy cả, có chi đáng cho đại nhân khen." Đây là hình thức phô trương nhân tài của Duyệt để  dằn mặt quân Xiêm đừng sang quấy phá nước ta.
>
> Đông Y  đánh giá rất cao công dụng của xương hổ với loại thuốc trứ danh "Cao hổ cốt" là cao được nấu cô đặc từ xương  cọp,  trước hết  phải có bộ xương  cọp  đầy đủ, không được thiếu mảnh xương nào và cũng không được lẫn các loại xương khác, theo đó Cao hổ cốt có thể làm thay đổi chất lượng sức khỏe con người, cứu bệnh hiểm nghèo, giúp bệnh ung thư, cứu người hậu sản... Râu cọp  theo truyền thuyết có thể  làm ra một thứ thuốc rất độc.    Vì ăn thịt sống máu còn dính hai bên miệng, râu mép, nên cọp  có mùi hôi, do đó  râu cọp  rất độc có chất ptomaine, khi săn hay bẫy được cọp, người ta thường đốt râu, sợ người khác lấy râu  bỏ vào bẹ măng sẽ sinh ra loại sâu có phân rất độc  giết người. Chỉ cần uống phải một tí hay bôi một chút vào đầu mũi tên bắn bị thương người nào thì  không cứu được.
>
>
> Trung Hoa xem cọp  là  con  vật có thật và gần như là duy nhất được người ta sánh đôi với rồng,  trong khi hầu hết những con vật  tượng trưng  sự may mắn như  Long  và Kỳ Lân  đều là giả tưởng. Người Trung Hoa cho rằng những vệt vằn trên trán  cọp  có hình chữ Vương (王), có nghĩa khi sinh ra  cọp đã  là vua của muôn thú.  Chữ vương trên trán  cọp  được hội họa Trung Hoa cũng như Hàn Quốc khai thác rất nhiều.  Nhiều câu thành ngữ  có sự so sánh  giữa rồng và cọp  như:
> - Long tranh, hổ đấu  hoặc Long hổ giao đấu hay Long hổ tranh hùng:  Chỉ về một trận đấu ác liệt ngang sức ngang tài giữa hai kỳ phùng địch thủ. Đây cũng là tựa đề của một bộ phim võ thuật của điện ảnh Hồng Kông có tên "Long tranh, hổ đấu" (tựa tiếng Anh: Enter The Dragon) với sự tham gia của diễn viên Lý Tiểu Long.
> - Long bàn, hổ cứ (Rồng cuộn, hổ ngồi) hay  hổ phục rồng chầu:  Chỗ đất hiểm yếu hay một địa điểm chiến lược. Thành ngữ này được nhắc đến trong chiếu  chỉ dời đô của Lý Thái Tổ khi đề cập đến địa thế của Đại La và chọn đây là kinh đô  nước Việt. Câu nói này cũng là cảm hứng cho tựa đề của bộ phim của Đài Loan của đạo diễn Lý An có tựa đề "Ngọa hổ, tàng long" (tựa tiếng Anh: Crouching tiger, hidden dragon) có nghĩa là một nơi có vẻ vô hại nhưng lại có những lực lượng  mạnh ẩn nấp.
> - Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ: Rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải.
> - Long đàm hổ huyệt hay Ao rồng, hang hổ: Chỉ về một nơi nguy hiểm.
> - Long đằng hổ dược: Rồng nhảy, hổ vọt.
> - Vân tùng long, phong tùng hổ:  Mây theo rồng, gió theo hổ.
> - Long sinh quyển, hổ sinh phong:  Rồng sinh ra mây, hổ sinh ra gió.
>
> Người Hàn Quốc quan niệm rằng khi trời mưa to là lúc rồng và cọp  đang giao chiến kịch liệt.  Cọp  được dân gian  tôn làm thần giám hộ,  là biểu tượng của uy dũng và quyền lực, giúp con người tránh được vận hạn và đem đến cho họ nhiều phúc lộc.  Hình cọp  còn được in lên bùa để  bảo vệ khỏi mọi điềm gở trong đời sống.
> Vùng Nam Á,  cọp  Bengal được gọi một cách trang trọng là "hổ Hoàng gia Bengal" (Royal Bengal Tiger). Cọp  Bengal là biểu tượng của đảng bảo thủ Liên đoàn Hồi giáo Pakistan Nawaz. Quân đội Bangladesh cũng sử dụng làm phù hiệu cho mình với hình ảnh khuôn mặt của một con  cọp. Biểu tượng  đội bóng chày Kolkata của Ấn Độ và đội  bóng chày Bangladesh là  cọp  Bengal.
> Vùng Tây Bá Lợi Á,  nơi cư ngụ của giống  cọp  Mãn Châu to lớn. Người Tungus, một dân tộc ở vùng Tây Bá Lợi Á gọi giống  cọp  Mãn Châu bằng tên gọi  tôn xưng là Ông hay Ông già, người Udege và người Nanai gọi hổ Mãn Châu cùng với gấu (Doonta) bằng tên gọi Amba với ý nghĩa sùng kính. Người Mãn Châu gọi tên cọp  với ý nghĩa là vua (Hu Lin), đối với người Ghiliak thì  cọp  với cuộc sống và tập tính của nó, là một con người đích thực, chỉ tạm thời khoác hình dáng  cọp.  Cọp  Mãn Châu là hình tượng  trên các lá cờ và huy hiệu của vùng lãnh thổ Primorsky,  vùng lãnh thổ Khabarovsk, cũng như trên nhiều  thành phố và quận, huyện trong khu vực vùng Viễn Đông nước Nga.
> Trên cờ Lungta  (trong tiếng Tây Tạng có nghĩa là "ngựa gió", cờ cầu nguyện ở Tây Tạng) thường có sự hiện diện của bốn linh vật ở mỗi góc, được gọi là Tứ linh (Shambhala Terma) bao gồm  Sư Tử Tuyết trắng (seng) ở phương Đông,    Cọp  vàng (tak)  ở phương Tây (cọp  vàng tượng trưng cho  sự  kiêu hãnh, sự tỉnh thức và  sự  khiêm hạ,  an trụ), Rồng Xanh (druk) ở phương Nam, Mệnh lệnh điểu (kyung) ở phương Bắc. 
> Đối với những dân tộc  khu vực  Ấn Độ,  là nơi  loài  cọp  nhiều  nhất  thế giới cho nên từ lâu trong văn hóa,  cọp  đã hiện diện rõ rệt ở đây. Trong tranh tượng đạo Hindu, da cọp là một chiến quả của thần Siva và  cọp  là vật cưỡi của thần Shakti,  của nữ thần Durga trong cuộc chiến chống lại ác quỷ Parvati.  Ở  miền Nam Ấn Độ  cọp  là bạn của vị thần Ayyappan.  Trong Phật giáo, cọp  cùng với khỉ và hươu  là một trong ba linh vật thiêng liêng.  Cọp  biểu tượng cho sức mạnh của niềm tin, sự chiến thắng mọi trở ngại trên con đường tu chứng do đó hình ảnh thường thấy là hình tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi trên lưng  cọp  và đó là sự tượng trưng cho sự diệt trừ được tham, sân, si và ác nghiệp, tu thành quả Phật.
> Ở Thái Lan một con  cọp  mà ăn thịt nhiều  người có thể trở thành  con hổ tinh. Ngoài ra còn có các loại ma  cọp  chẳng hạn như phù thủy với quyền năng lớn, có thể thay đổi hình dạng để trở thành động vật. Trong dân gian Indonesia và Malaysia có một loại hổ tinh được gọi là  Cọp  jadian (Harimau jadian), con yêu tinh này có sức mạnh  và biết sử dụng phép thuật, sự quyến rũ,  nhưng nó không  thù địch với  đàn ông. Trong các sinh vật truyền thuyết ở Nhật Bản có quái vật Nue, đây là một con quái vật tổng hợp các bộ phận của nhiều loài động vật trong đó nó có  thân,  chân và bộ da của một con cọp.
> Cọp  Mã Lai là biểu tượng quốc gia của Malaysia,  được khắc họa trên quốc huy, biểu tượng của chính quyền, pháp đình cũng như biểu tượng của lực lượng cảnh sát hoàng gia, ngân hàng quốc gia và là logo của Liên đoàn bóng đá Mã Lai. Cùng với sư tử, Cọp  Mã Lai được thể hiện trên Quốc huy của Singapore.
>
> Ở Việt Nam,  theo Phạm Đình Hổ thì qua tục giết người tế Thần Hổ,  có nhắc đến Quỷ Xương Cuồng hay còn gọi  Mộc tinh là yêu quái trong truyền thuyết của người Việt và được ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái. Tục tế Thần Hổ này có từ xa xưa trước Tây Lịch, khi quân nhà Tần của Nhâm Ngao và Triệu Đà mới lấn chiếm và đô hộ đất Văn Lang. Ở Miền Đông Nam Bộ, những danh xưng cao nhất được dành cho  cọp  như Sơn quân chi thần, Sơn quân chúa xứ, Sơn quân mãnh hổ, Sơn lâm chúa tể, Sơn lâm chúa xứ, Sơn lâm đại tướng quân, Sơn quân chúa động, Chúa xứ sơn lâm, Mãnh Hổ, Thần Hổ, Ông, Ông Thầy, ông Cả, Ngài, ông Ba Mươi, Hương quản. Ở các làng quê  miền Nam, thường có tập tục cử cọp giữ chức Hương cả của làng, có nơi như Bến Tre, dân làng gọi cọp  với chức Đại hương cả.
>
> Ở  Phương Tây,  cọp  chỉ đóng vai trò thay thế sư tử để trở thành vua của muôn thú (King of the Beasts) trong  khi sư tử luôn là biểu tượng của hoàng gia, biểu tượng của sức mạnh.  Tây Phương  thường trình bày  hình ảnh  cọp  trong  cuộc chiến với sư tử,  như  tranh vẽ của Eugène Delacroix, George Stubbs, và James Ward vào thế kỷ thứ 18 và 19.  Các nhà thơ Edmund Spenser, Allan Ramsey, và Robert Southey  thường  mô tả chiến thắng của sư tử trong  các cuộc  chiến đấu với  cọp. Oliver Goldsmith cho rằng  cọp  là hiện thân như một kẻ hay gây hấn, hung dữ và tính tình tàn bạo. Charles Knight cũng khẳng định sự tàn khốc vô cớ, sự tàn ác không cần thiết, và sự hèn nhát của  cọp  trong tương quan với lòng quảng đại và sự oai vệ của sư tử. Trên những huy hiệu của các quốc gia phương Tây,  cọp  được khắc họa là một con quái vật huyền ảo với một cơ thể thon gọn của một con con chó sói, có bờm, râu và chỏm lông ở đuôi giống sư tử cùng một cái mõm nhọn (điều này  cho biết  nhiều nghệ sĩ châu Âu thời Trung cổ chưa từng  nhìn thấy một con cọp  thực sự).
>
> Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam,  cọp được gắn với tục thờ Mẫu. Cọp  là phúc thần được vẽ tranh thờ để trừ tà yểm quái.  Cả ba miền  đều có tục lệ thờ Thần Hổ như một biểu tượng của con vật dũng mãnh,  có khả năng trấn giữ cửa ải ngũ phương. Tranh  cọp  còn được bày nơi  đền chùa, nhất là các đền thờ Thánh Mẫu, như tranh Bạch Hổ Thần tượng đặt ở đền Quan Thánh, Hà Nội. Ngày nay, tại miền Bắc Việt Nam, từ đồng bằng lên Mạn Ngược, nhiều nhà còn sùng tín vào Tranh Hổ. Đình miếu nào cũng có bình phong vẽ hoặc phù điêu đắp nổi hình cọp để thờ  vì dân tin rằng nếu cọp thật đến, thấy chúa sơn lâm trên bình phong là biết “đất đã có chủ”, không vào phá khuấy. Trên phương diện này cọp  đã hoá thành vật linh thiêng với những cái tên trong huyền thoại dân gian thường gọi: Thần Hổ, Sơn quan thần Hổ, Lý nhĩ tướng quân, thần hộ vệ Thành Hoàng, chúa Sơn Lâm, ông Ba Mươi, trong khi đó ở miền Nam Việt Nam còn có tên ông Cả Cọp, Thần Bạch Hổ... Bùa ông Hổ còn được dán và ếm ngay trước cửa  chánh  ra vào nhà để trừ tà. Xuất phát từ tục thờ  cọp,  các nghệ nhân dân gian thực hiện  biểu tượng cọp qua nhiều chất liệu như: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhiều nhất là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) xưa. Không chỉ người kinh, một số đồng bào  thiểu số ở Việt Nam cũng có tục thờ  cọp, trong đó có người Khơ mú sống ở khu vực Tây Bắc và miền tây Nghệ An. Với người Thái, khi được nghe tiếng cọp  gầm vang trên đồi cao là niềm hân hoan, sảng khoái nhất của bản mường. Người Tà Ôi coi  cọp như vị thần bảo hộ cho làng, việc bắt được cọp  được ví như món quà tặng của thần rừng.
>
> Trong văn học  thế giới , cọp là đề tài được  khai thác  nhiều.    Truyện  Tây Du Ký,  cọp là  những con yêu quái hại người, trong đó cọp  tấn công  Tam Tạng khi  chuẩn bị qua biên giới Đại Đường, nhưng  được một người thợ săn ở biên giới giải cứu và giết chết  cọp. Lần thứ hai,  cọp  rình tấn công  Tam Tạng thì bị Tôn Ngộ Không đánh chết, Ngộ Không  lấy da cọp  làm áo mặc trong  suốt quá trình đi thỉnh kinh.  Một lần khác,  Tam Tạng  bị con yêu tinh làm  phép biến  ông thành  cọp. Và con  cọp  đáng chú ý nhất là  hổ tinh trong lốt yêu quái đạo sĩ ở nước Xa Trì gồm Dương Lực Đại Tiên (Dê), Hổ Lực Đại Tiên (Cọp) và Lộc Lực Đại Tiên (Hươu).
> Tam Quốc Diễn nghĩa  đầy dẫy những anh hùng  ngoài  Ngũ Hổ tướng,  có  Vương Song viên tướng được mô tả là thân hình dài chín thước, lưng gấu, mình hổ, mắt đen nhưng con ngươi vàng và được phong là Hổ oai tướng quân.  Trong tác phẩm này có kể về một trận đánh của quân Thục với quân Nam Man trong đó, quân Nam Man  dùng các loài dã thú, rắn rết  và cọp  để tấn công quân Thục.
> Võ Tòng đánh hổ trên đồi Cảnh Dương là một trong những chương nổi tiếng nhất của bộ truyện  Thủy Hử,  được truyền tụng trong dân gian như một điển tích. 
> Ngoài ra cọp  còn được mô tả qua việc ăn thịt mẹ của Lý Quỳ và ông này đã trả thù bằng cách tìm về hang  giết cọp  báo thù cho mẹ của mình.
>
> Ở châu Âu, nhà thơ William Blake (Anh)  sáng tác bài thơ  "The Tyger"  (Chúa sơn lâm)  được coi là bài thơ hay nhất trong sự nghiệp của ông và là bài thơ hợp  tuyển (anthology) hay nhất  với những trích đoạn nghệ thuật mô tả sự rực rỡ và mãnh lực của cọp:
> "Chao ôi hổ! Hổ cháy bừng như lửa
> Chúa sơn lâm bừng cháy giữa rừng đêm
> Ánh mắt nào, bàn tay nào bất tử
> Có thể tạo ra cái vẻ kinh hoàng.
> ........
> Bờ vai nào, và từ đâu nghệ thuật
> Tạo đường gân thớ thịt của con tim?
> Mỗi khi con tim dồn lên nhịp đập
> Chân tay nào tạo nên vẻ khiếp kinh?"
>
> Rudyard Kipling (Anh) trong "The Jungle Books"  mô tả  con  cọp Shere Khan là kẻ thù lớn nhất và nguy hiểm nhất của Mowgli, ông vua không ngai của rừng rậm nhiệt đới. Trong truyện tranh "Calvin and Hobbes" của Bill Watterson (Mỹ), Hobbes là con cọp  đôi khi  được  diễn tả  như là một con thú  dễ thương để ôm ấp.  Walt Disney Television Animation sản xuất bộ phim "My Friends Tigger & Pooh"  trình diễn  hình ảnh  cọp Tigger có  giọng khàn khàn, hay di chuyển bằng cách nhảy tưng tưng bằng đuôi. Trong tác phẩm "A Tiger for Malgudi" của nhà văn Ấn Độ thì Yogi là con cọp  tốt. Nhà văn Canada Yann Martel đoạt giải Man Booker Prize năm 2002 với tiểu thuyết "Cuộc đời của Pi" (Life of Pi)  kể chuyện  cậu bé Ấn Độ sống sót trên Thái Bình Dương với con hổ Bengal và đã được Lý An dựng thành  phim.
> Trong văn học Ấn Độ,  truyện  "Cọp Trắng" nguyên bản tiếng Anh The White Tiger được giải Man Booker 2008 mô tả anh chàng  Balram, con người phức tạp,  là đầy tớ,  triết gia,  doanh nhân,  muốn làm cọp trắng, loài vật trong rừng mà mỗi thế hệ chỉ có một con, phá cũi vươn về thế giới ánh sáng.  Khát vọng của Balram không dễ thực hiện được trong xã hội anh đang sống. Và cọp trắng Balram đã không từ thủ đoạn nào, kể cả giết chết ông chủ và mặc kệ số phận gia đình để một mình thoát khỏi bóng tối.
>
> Cọp  cũng xuất hiện nhiều  trong  văn học Việt Nam, bên cạnh những câu chuyện cổ tích  như: Trí khôn của ta đây, Cóc kiện trời, Thỏ rừng và hùm xám, Con hổ có lá gan chuột nhắt, Mèo vẫn hoàn mèo...  cọp  còn được nhắc đến trong các tác phẩm văn học thời cổ như: Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, Lĩnh Nam Chích Quái, Mãnh hổ hành (Bài hành về con hổ dữ) của nhà thơ Nguyễn Hành, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Cũng như những tác phẩm thời kỳ cận đại và hiện đại như: Thần Hổ của Tchya, Đường Rừng của Lan Khai...    Đặc biệt  bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ  mô tả chân thực cảnh một con hổ trong vườn bách thú và hình dung ra hình ảnh của nó khi tự do trong rừng.
> "Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
> Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
> Đâu những ngày xưa chuyển động bốn phương ngàn
> Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới
> ... Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ
> Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị
> Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngàn xưa..."
>
> Trong  tập truyện  "Hương rừng Cà Mau" Sơn Nam viết  về Cọp:
> [“Vùng đất lúc bấy giờ hoang vu lắm sấu lắm cọp, “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua” có ai dám bơi xuồng ban đêm bao giờ! Đằng này, dân mình hồi đó còn nghèo lắm, ruộng chưa hết phèn, đình chưa cất, hương chức làng chưa có…Bởi vậy chỉ có hát bội là cách giải trí độc nhất của người đi khai phá đất mới.” Họ mời gánh hát bội đến hát, nhưng phải nuôi cơm toàn ban nam nữ, phải cất rạp sẵn…Sân khấu được dựng lên giữa rừng. “Chung quanh sân khấu nọ, mình xốc cừ làm vòng thành, gốc cừ này khít gốc kia chừng một gang tay. Ai muốn coi cứ việc bơi xuồng vô vòng rào nọ. Xong xuôi đóng cửa lại. Cọp phải bơ vơ ngồi trên bờ rạch. Sấu thì đành ngóng mỏ, ngoài vòng. Trong này, mình ngồi trên xuồng mà coi sáng đêm ăn thua. Tuồng Tàu dài lắm...” “Lần lần, dân chúng thỏn mỏn về số gạo đóng góp nuôi đào kép. Ba chục ngày là ba chục vùa gạo!” Và rồi gánh hát ra đi. “Nhưng chưa hết, vì còn mấy ông cọp nọ. Có lẽ mấy ông mê hát bội hơn loài người. Chừng một hai tháng sau, cái sân khấu nọ tốc nóc, bao nhiêu nọc tràm làm hàng rào đã lung lay ngả nghiêng trên dòng nước, chừng đó người ta thấy một đôi ông cọp thường tới lui ngồi cú rũ dưa gốc cây gừa bên bờ rạch. Nhất là đêm có trăng, mấy ông le lưỡi dài thòn, như nhớ tiếc bao nhiêu con mồi ngon, bao nhiêu tiếng kèn tiếng trống. Biết đâu về sau này mấy tiếng “coi hát cọp” là do sự tích của mấy ông hồi xưa không chừng!”] (Hát bội giữa rừng)
>
> Trong văn chương bình dân, có khoảng 1.300 câu ngạn ngữ, phương ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca có liên quan đến loài cọp  được trải rộng trên  nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội,  hoặc  trực tiếp hoặc gián tiếp mượn chuyện con cọp  để răn mình và nhắc nhở người đời.
> - Hổ dữ không ăn thịt con (chỉ về đạo lý làm người, tình  mẫu tử)
> - Cọp chết để da, người ta chết để tiếng (nói về danh dự)
> - Nam thực như hổ (chỉ về ăn khỏe)
> - Mình hổ, tay vượn, bụng beo, lưng sói (chỉ về  một cơ thể đầy sức mạnh)
> - Hổ bộ, hổ bôn (dáng đi như  cọp)
> - Rồng cuộn hổ ngồi (chỉ về địa thế đẹp)
> - Hổ phụ sinh hổ tử (chỉ sự tự hào khi có thế hệ tiếp nối)
> - Long tranh hổ đấu (chỉ về đối thủ ngang tài ngang sức)
> - Rồng bơi vũng cạn bị tôm cợt / hổ xuống đồng bằng bị chó khinh (chỉ  sự thất thế)
> - Mãnh hổ nan địch quần hồ (kẻ đơn độc lẻ loi cho dù  có tài, có sức  cũng bại trận)
> - Điệu hổ ly sơn (đưa cọp ra khỏi núi, cọp sẽ bị lúng túng khó khăn, không hậu thuẫn dễ bị  thất thế)
> - Vuốt râu hùm, xỉa răng cọp (hành động liều mạng,  coi thường mạng sống...)
> - Miệng hùm gan sứa (người bề ngoài thì nói năng hùng hổ, nhưng thực chất trong lòng lại nhút nhát, sợ sệt)
> - Hổ mọc thêm cánh (tạo quyền lực, sức mạnh hay một điều gì đó cho kẻ mạnh  khiến kẻ đó trở nên mạnh hơn gấp bội)
> - Không vào hang hổ làm sao bắt được hổ con (không tự mình trải nghiệm thì không thể gặt hái thành công)
> - Cáo mượn oai hùm hay cáo giả oai hùm (chỉ hạng người luôn mượn thế kẻ mạnh, nấp dưới ô quyền lực đi hù dọa, lòe bịp người khác)
> - Thả hồ về rừng (việc làm nguy hiểm vì tạo cho kẻ mạnh có điều kiện, hoàn cảnh thích hợp làm việc xấu)
> - Hùm nằm cho lợn liếm lông (lợn là con vật hiền lành, là mồi ngon của con hùm to lớn, hung dữ. Vậy mà  hùm lại ngoan ngoãn nằm im cho lợn liếm lông. Quả là chuyện lạ, chuyện thay bậc đổi ngôi)
> - Tọa sơn quan hổ đấu (ngồi trên núi xem hổ đánh nhau chờ cơ trục lợi)
> - Làm bạn với vua như đùa với hổ (ở bên cạnh vua là một điều nguy hiểm, mặc dù bình thường có thể được vua quý trọng, nhưng  trong lúc bực tức vua cũng có thể ra lệnh xử tử lúc nào không hay)
> - Miệng hùm chớ sợ, vảy rồng chớ ghê (đừng quan ngại, lùi bước trước sự hù dọa)
>
> Trong nghệ thuật,  nếu rồng  là  biểu tượng dành riêng cho vua chúa thì cọp  được xem là biểu tượng  cho  quan võ,      trang trí áo võ quan, miếu võ quan, cho ngành võ bị...
> Trong hội họa phương Đông và phương Tây đều có  nhiều bức tranh vẽ về  cọp.  Vào khoảng thế kỷ 18 và 19,  qua  các bức tranh vẽ tây phương thì sư tử thường là kẻ chiến thắng trong những trận  quyết đấu phân chia quyền lực,  loại tranh này xuất hiện trên cả huy hiệu của Hoàng gia Anh. Nhiều bức  họa,  tranh thủy mặc ở Trung  Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản... có vẻ cảnh  cọp  và rồng đang ở tư thế gầm ghè chuẩn bị giao chiến và điều này cũng thể hiện trên những bức tượng, phù điêu khác.  Người Trung  Hoa có tranh thủy mạc về cọp  và rồng. Người Hàn  có bức họa thần núi (Sansindo) vẽ cảnh thần ngồi tựa  vào cọp  hay cưỡi trên lưng  cọp và một số bức tranh  cọp  chính là thần núi. Bức tranh dân gian “Jakhodo” (Ác hổ đồ)  vẽ con hổ  ngước nhìn cành cây và con chim ác là  đậu trên cành thông xanh ngắt.  Người Việt,  thường treo tranh  ngũ hổ  ở bàn thờ dành riêng cho cọp  hoặc trưng dưới bàn thờ thần hoặc thờ Phật, không trưng trên bàn thờ gia tiên.  Tranh  Hàng Trống Việt Nam  chuyên vẽ    cọp  để treo thờ với tư cách là những vị trấn giữ các phương trời đất. Nghệ thuật tranh cọp chuyển vấn đề từ Ngũ hổ (hổ vàng, hổ xanh, hổ trắng, hổ đỏ, hổ đen) tới Ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ), Ngũ sắc (xanh, đỏ, vàng, trắng, đen), Ngũ phương (đông, tây, nam, bắc, và trung tâm), Ngũ phúc (phú, quý, thọ, khang, ninh), làm cho tổng thể bức tranh  thêm thần bí,  lôi cuốn tâm linh người dùng tranh,  và nghệ thuật thưởng thức người xem tranh.
>
>
> Trong điêu khắc,  tượng  cọp  được tạc ở nhiều nơi trên thế giới. Tượng đá chạm khắc  cọp  của Nhật, thường  đặt ở  đền chùa  để trấn yểm.  Việt Nam không sử dụng các tượng đá sư tử để trấn yểm,  nếu cần có một con vật hung dữ, người Việt nghĩ ngay đến cọp,  vì cọp  được xếp vào nhóm hộ môn thú (những con thú canh gác nhà cửa, lăng mộ, đình chùa, miếu mạo).    Trong suốt lịch sử xây dựng lăng miếu,  cọp  là con vật oai phong nhất  trấn giữ  các lăng mộ  vua chúa, danh nhân,  như  tượng cọp  đá ở lăng Trần Thủ Độ, lăng vua Hiến Tông,    tượng  chạm ở bệ đá  chùa Quế Dương (Hà Tây cũ),  những con cọp  đá thời Lê ở Nam Kinh (Thanh Hoá)...
> Ngoài ra, một số tác phẩm  tiêu biểu như hình  cọp  khắc trên tháp đồng Vạn Thắng (Phú Thọ), tấm phù điêu  dân đâm  cọp  ở đình Chảy (Hà Nam), bức chạm khắc gỗ cọp chạy ở đình Lỗ Hạnh (Bắc Ninh).
> Hiện nay, theo  phong thủy, tượng  cọp  mạ vàng được coi  là biểu tượng cho quyền lực,  công danh và  kinh doanh, thường  đặt trong phòng khách, trên bàn làm việc  để cầu sự thăng tiến và may mắn. 
> Trong các đồ  gốm Việt cổ  sớm  xuất hiện  phong cách tạo hình diễn tả  cái hùng, cái oai,  ẩn tàng  chất thơ của cọp, tạo nên những dấu ấn riêng, độc đáo, đa dạng  như cọp  vồ mồi,  cọp  ngắm trăng, cọp và rồng,  cọp và đại bàng… 
> Cọp còn là  đề tài trang trí được các thợ gốm và những người sử dụng gốm sứ Việt Nam ưa chuộng  như  hình gốm  diễn  tả  dáng đứng  của cọp với hai chân sau, chân trước bên phải như  người vươn ra nắm khóm cây (giống cây tre), còn chân kia  xoãi ra sau,  cái đuôi dài đưa ra trước đến chấm đất.
>
> Trong hệ thống các vũ khúc cung đình triều Nguyễn, "Long Hổ Hội" là điệu múa được nhiều thế hệ nghệ nhân cung đình Huế sáng tạo nhằm biểu hiện những sinh hoạt của hai loài vật,  dựa  theo  điệu múa tứ linh.
> Nghệ thuật múa Hổ độc diễn được các nghệ nhân tái hiện cực kỳ độc đáo. Chuỗi hành động của Hổ  được trình  diễn như  lăn một vòng 360 độ, tiếp đến Hổ quan sát xung quanh, đào đất, nhảy ngồi trên 2 chân sau, nín thở, đại tiện, lấp đất, ngửi, lăn đất, cọ lưng, giỡn bóng nắng, ngủ... Khi biểu diễn hình tượng  cọp,  nghệ sĩ phải mang bộ lốt màu vàng đất vì Hổ ở đây chính là Hoàng Hổ tượng trưng cho đất, có  những động tác như: ngồi trên hai chi sau, hai chi trước chống đất, lạy ba lạy với ý nghĩa Đất phải chịu Trời.
>
> Trong võ thuật,  phong cách, kỹ thuật chiến đấu, những thế võ, đòn đánh  phần lớn mô phỏng động tác của loài  cọp. Khi  quan sát  hoạt động của  cọp, các nhà sư Thiếu Lâm  thấy được sức mạnh, sự dũng cảm, uy lực của cọp,  bèn  kết luận đây là con vật tiêu biểu để noi theo rèn luyện võ thuật.  Đuôi  cọp  giữ vai trò quan trọng trong các động tác vồ, nhảy  trái  phải, xoay trở trước sau,  cùng với sức bật tối đa, cọp  có thể cắn họng một con bê, nhảy vọt qua hàng rào cao vài mét.  Cọp  chế ngự con mồi  từ mọi góc độ,  từ những cuộc tập kích và cắn cổ, để làm gãy cột sống hay khí quản của con mồi, hay làm tổn thương tĩnh mạch hoặc động mạch chủ. Đòn mạnh nhất của  cọp  là vả thật mạnh vào khu vực mặt và cổ của đối phương, với nanh vuốt cực sắc nhọn, chiêu đòn này thường khiến con mồi bất động ngay tại chỗ.  Cọp còn có một tuyệt chiêu mà giới võ học gọi là thế "trâu vằng" với việc con  cọp  khi chiến đầu thường nằm ngửa, và chổng chân lên trời là thế để lừa giết con mồi  nếu con mồi sơ ý nhảy vào  là sẽ bị tấn công bằng một đòn chí mạng.
> Những động tác, tư thế của cọp  được thể hiện qua nhiều bài quyền, thế võ. Môn võ  cọp cùng với những linh vật khác như Long, Xà, Hạc, Báo…  của  các nước Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia  với những đòn đánh  kỹ thuật  căn bản hổ trảo (sử dụng  đòn tay  bằng cách quặp các ngón tay theo dáng của móng cọp), tấn công mãnh liệt, hiểm độc chớp nhoáng. Nhiều người cho rằng võ hổ ra đời ở Trung  Hoa, căn cứ vào nhiều bài quyền của phái Thiếu Lâm hay Võ Đang. Tuy vậy, trong  Karate của Nhật Bản  (cọp là cảm hứng cho Võ sư Gichin Funakoshi sáng lập ra phong cách Shotokan của hệ phái Shotokai, đến nay, hệ phái võ Không Thủ Đạo (Karate) Shotokan cũng dùng hình ảnh con hổ làm biểu trưng cho hệ phái của mình).  Pencak Silat  môn võ  xuất phát từ Indonesia mô phỏng theo động tác của  loài cọp  (Harimau) và đại bàng (Garuda),  tương truyền  khởi nguồn từ việc chứng kiến cảnh quyết đấu của một con  cọp  với chim đại bàng.  Kalari của Ấn Độ,  võ hổ  Việt Nam cũng đều lấy cảm hứng tử cọp.
> Trong  võ phái Bạch Hổ  Việt Nam tương truyền do Nguyễn Hữu Cảnh sáng lập là môn quyền cước chiến đấu, chú trọng đến kỹ thuật cận chiến, mọi đòn tấn công đều nhắm vào chỗ hiểm trên thân thể đối phương. Đặc biệt, trong kỹ thuật thủ pháp, môn phái này sử dụng khá nhiều đòn  hổ trảo. Biểu trưng của phái võ Tân Khánh Bà Trà là hình ảnh một võ sư tung cú đá vào đầu con hổ lớn trong tư thế đẹp. Đây chính là bắt nguồn từ những trận đả hổ của các bậc tiền bối, môn phái Bạch Hổ Lâm ở Quảng Bình cũng có biểu tượng hổ, lò võ Bạch Hổ của võ sư Võ Thiện Đường ở Trung Nhứt, Trà Bay, Cần Thơ lấy linh vật là con hổ trắng vì Bạch Hổ là tướng tinh, biểu tượng sức mạnh của Tiết Nhơn Quý trong truyện Trung Hoa.  Võ hổ cổ truyền Việt Nam,  xuất hiện khá nhiều như Mãnh hổ xuất sơn, Hắc hổ xuyên tâm, Long hổ quyền của hệ phái Nam Hồng Sơn, Phục hổ công, Mãnh hổ quyền của Thăng Long võ đạo, Hồng hổ quyền của Tây Sơn Bình Định được xây dựng dựa trên 4 bộ chính: Hổ quyền, Long quyền, Hầu quyền và Xà quyền.
>
> Trong  điện  ảnh, cọp  cũng xuất hiện nhiều trong các bộ phim ảnh, phim hoạt hình.  Phim "Cậu bé rừng xanh"  (1942) do Sabu Dastagir  đóng  vai Mowgli thì  cọp  Shere Khan được mô tả đúng như tiểu thuyết là một con cọp  hung ác, và sau này bị Mơgli giết chết trong một trận đánh diễn ra dưới nước.  Cũng  phim "Cậu bé rừng xanh" (1994) của Mỹ với sự tham gia của ngôi sao Jason Scott Lee vào vai Mowgli thì  cọp  Shere Khan được mô tả có khác với tiểu thuyết,  Shere Khan thực sự là một con hổ thiêng, có nhiệm vụ thực thi Luật của rừng xanh.
> Một  phim nổi danh khác là Tây Du Ký (1986) trong đó có cảnh Đường Tăng hóa hổ.  Cảnh  Cầu viện Mỹ Hầu Vương  là một cảnh quay hết sức khó khăn và vất vả lúc bấy giờ.  Đoàn làm phim  phải  chọn một  con cọp đã được huấn luyện  của Đoàn xiếc Thượng Hải. 
> Một bộ phim của điện ảnh Nga có tên "Coi chừng, có động vật hoang dã trên tàu!" (Chuyến tàu chở cọp) cũng miêu tả về loài cọp  trong đó  có một tiểu cảnh nhỏ mô tả cảnh đánh nhau giữa  cọp  và sư tử.
> Một bộ phim Thái Lan chiếu năm 2002 có tựa đề: "Sab Suea" (tên tiếng Anh: Tigress of the King River, phụ đề tiếng Việt: Hổ cái rừng thiêng) có kể về một cô gái bị chết trong chiến tranh và đầu thai vào một con hổ cái thành tinh, sau này được một nhà sư cảm hóa ác tính.
>
> Trong  phong thuỷ  hai  đối cực "Tả Thanh Long - Hữu Bạch hổ"  là  hai    thế  đất bên cạnh huyệt (địa thế rồng cuộn, hổ ngồi hay là nơi ngọa hổ, tàng long)..  Khi giành được giang san,  nhà Nguyễn  chọn xây kinh thành về hướng Đông Nam,  hai bên có  Tả Thanh Long  (rồng xanh ở  phia trái) là cồn Hến  nằm phía đông  thuộc hành mộc và Hữu Bạch Hổ  (cọp trắng ở phía phải) là cồn Dã Viên  nằm phía tây  thuộc hành kim. Ngoài ra, Cồn Dã Viên còn gắn với một dấu ấn khác - cầu Bạch Hổ. Tương truyền, khi cầu Bạch Hổ (lúc đó chưa được đặt tên) đang được xây cất, có một con hổ trắng đến ngồi ở giữa cầu khiến mọi người đều hoảng hốt bỏ chạy.  Đó là thế rồng chầu hổ phục bảo vệ cho vương triều.
> Cọp  nhập hệ lịch can chi 12 con vật, là biểu tượng chi Dần với những ý nghĩa triết lý nhân văn sâu sắc. "Một năm là mấy tháng xuân / Một ngày là mấy giờ Dần sớm mai".  Như vậy, giờ Dần  đến  sớm từ 3 tới  đúng 5 giờ sáng hôm sau.  Từ giờ Dần sang giờ Dậu (17gi đến 19gi) là lâu lắm,  tính ra là từ sáng sớm đến chiều tối . Những người lề mề, chậm  chạp, kéo dài công việc bị ví như là  làm từ giờ Dần sang giờ Dậu. Trẻ con chậm ăn thường bị  mắng là ăn có một bát cơm nhỏ mà suốt từ giờ Dần sang giờ Dậu cũng chưa xong.  Con gái  có lứa, có thì,  chỉ  có một khoảng thời gian thích hợp nhất  để tính đến chuyện cả đời, như một năm chỉ có ba tháng xuân, một ngày  chỉ có  giờ Dần sớm sủa.  Người xưa cũng có ghi vào sách đáng cho chúng ta suy ngẫm như : Nhứt niên chi kế tại ư Xuân / Nhứt nhựt chi kế tại ư Dần. (Muốn thực hiện kế hoạch: 1 năm phải sắp đặt bắt đầu vào mùa Xuân và 1 ngày phải sắp đặt vào giờ Dần tức giờ Cọp thức dậy nhìn mặt trời vào bình minh sáng).
> Tháng Giêng  gọi là tháng Dần,  đầu xuân, đầu năm mới, tháng mà âm dương  giao hoà,  khí dương (của trời) cân bằng với  khí âm (của đất),  do đó cũng là tháng mở đầu của con người (nhân sinh ư dần), vì con người là sự cân bằng giữa trời - đất và  khoẻ mạnh là sự cân bằng âm - dương, nóng - lạnh từ nội tạng… Trong 12 con giáp thuộc cung Hoàng đạo thì cọp  là con vật đứng thứ hàng thứ ba sau Chuột (Tý), Trâu (Sửu). Cọp  đứng ở phương Đông, cung Dần, góc vuông thứ nhất của tử vi. Tính cách con giáp của cọp  là tính cách của một năm mạnh mẽ nhất về sức khỏe, sung mãn  kinh tế, mở mang  học vấn và tính vượng khí của trục Dần-Thân  đầy sức  sống.

> Những năm Dần với những sự kiện lịch sử  không thể nào quên:
> - Nhâm Dần (42 Sau công nguyên) Mã Viện đem quân sang đánh Trưng Nữ Vương.  Vì quân ít thế cô, nên hai Bà phải lui quân về Cẩm Khê và nhảy xuống Hát Giang tự trầm. Rồi Mã Viện cho lập trụ đồng và khắc vào đó ‘đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt‘.
> - Mậu Dần (618) Nhà Tùy sai sứ sang dụ hàng Tiết độ sứ Giao Châu là Khấu Hòa nhưng bất thành nên đem quân sang đánh, Khấu Hòa về hàng Nam Ðường.
> - Mậu Dần (858) Quân Nam Chiếu  sang cướp phá Giao Châu, quan kinh lược sứ Giao Châu là Vương Thức đem quân đánh đuổi giặc tận Vân Nam. Giao Châu tạm yên từ đó.
> - Bính Dần (966) Nam tấn Vương Ngô Xương Văn mất, kéo theo sự sụp đổ của nhà Ngô. Khắp nơi quần hùng nổi lên thành loạn thập nhị sứ quân. Vua Ngô là Xương Xí chỉ còn giữ được đất Bình Kiều. Ðinh Bộ Lĩnh dẹp tan loạn sứ quân thống nhất đất nước.
> - Canh Dần (990) Vua Lê Ðại Hành đánh chiếm ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính của Chiêm Thành. Sau đó sai Phụ quốc tướng quân Ngô Tử An đem 3 vạn quân, mở con đường từ biên giới Chiêm Việt ở Thạch Hà (Hà Tĩnh) tới châu Ðịa Lý (Quảng Bình). Ðây là con đường bộ đầu tiên của nước ta.
> - Giáp Dần (1074) Chế Củ được vua Lý Thánh Tôn tha về nước nhưng ngôi vua Chiêm Thành đã lọt về tay Madhavamurty nên nội chiến lại xảy ra. Cuối cùng Harivarman IV lên làm vua, đem quân đánh Ðại Việt và Chân Lạp. Lý Thường Kiệt dẹp yên đồng thời tổ chức cuộc di dân tới ba châu Ðịa  Lý, Ma Linh và Bố Chính vừa mới chiếm của Chiêm Thành. Ðây là cuộc di dân đầu tiên của Ðại Việt.
> - Canh Dần (1170) Vua Jaya Indravarman sau khi giao hảo với Ðại Việt, đem quân đánh Chân Lạp, phá thành Angkor giết vua nước này và cướp hết tài sản đem về nước. Nhưng không bao lâu, Chiêm Thành lại bị vua Java Varman VII của Chân Lạp nổi lên chiếm lại kinh đô Angkor và đánh đuổi quân Chiêm ra khỏi nước.
> - Nhâm Dần (1302) Vua Chiêm là Chế Mân cử phái đoàn sang Ðại Việt cầu hôn công chúa Huyền Trân nhưng dù đã được thượng hoàng Nhân Tông hứa gả vẫn bị vua Anh Tông và triều thần từ chối. Cuối cùng Chế Mân xin dâng hai châu Ô, Rí (Quảng Trị và phía bắc Thừa Thiên ngày nay) làm sính lễ mới được nhà Trần chịu gả.
> - Mậu Dần (1398) Hồ Quý Ly tự xưng Khâm Ðức Hưng Liệt Ðại Vương Quốc Tổ Nhiếp Chính, để lộ ý định thoán đoạt nhà Trần. Lại sai đạo sĩ Nguyễn Khánh dụ vua Thuận Tôn nhường ngôi cho Thiếu Ðế để đi tu. Nhân có Trần Thiểm Bình chạy sang Tàu cầu cứu, nhà Minh vin vào lý do trên sang xâm lược và đô hộ nước ta hơn 10 năm.
> - Giáp Dần (1434) Lê Thái Tổ mất, thừa dịp vua Thái Tôn còn nhỏ nên vua Chiêm là Bồ Ðề sang cướp chiếm Hóa Châu nhưng bị các tướng Lê Chuyết, Lê Liệt và Trần Lê Khôi đánh tan.
> - Canh Dần (1470) Theo gót Chế Bồng Nga, Trà Toại đem 10 vạn quân cướp phá Hóa Châu. Do đó vua Lê Thánh Tông đem lực lượng thủy bộ chinh phạt Chiêm Thành, đuổi Trà Toại chạy vào sông Phan Lang (Ninh Thuận).
> - Giáp Dần (1674) Nặc Ông Ðài cầu viện quân Xiêm về đánh Chân Lạp, Nặc Ông Nộn sang cầu cứu. Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Nguyễn Dương Lâm đánh quân Xiêm, phá đồn Sài Côn, xây thành Nam Vang, Nặc Ông Ðài chạy trốn và chết trong rừng.
> - Mậu Dần (1818) Vua Gia Long sai trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thoại huy động 1500 dân công người Việt và Khmer đào sông Tam Khê (kênh Thoại Hà) dài 12.410 tầm khoảng 31.769m, rộng 10 trượng (40m) và sâu 18 thước ta (7,2m). Công tác được hoàn thành sau 1 tháng.
> - Canh Dần (1890) Pháp nhập ba châu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Mộ Ðức vào phủ Tư Nghĩa, còn trấn Sơn Phòng cũng giao luôn cho tỉnh Quảng Ngãi. Thay chức bố chánh bằng tuần vũ cai trị tỉnh Quảng Ngãi gồm phủ Tư Nghĩa và 6 huyện trực thuộc.
> - Nhâm Dần (1902) Tiểu La Nguyễn Thành một chí sĩ cần vương tại Quảng Nam, cùng Phan Bội Châu lập Việt Nam Quang Phục Hội, tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể làm minh chủ với tôn chỉ dùng vũ lực đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước Việt Nam.
> - Giáp Dần (1914) Ðại chiến thứ nhất bùng nổ (1914-1918), để phòng Phan Chu Trinh đang ở Pháp theo Ðức, thực dân bắt ông giam vào ngục Sante (Paris) một năm sau mới thả.
> - Bính Dần (1926) Khải Ðịnh chết, Bảo Ðại từ Pháp trở về Việt Nam lên ngôi hoàng đế Ðại Nam, rồi lại sang Pháp tiếp tục học.
 

 Trong nhân tướng học,  cọp  là con vật linh thiêng  hổ trợ  bản mệnh người tuổi Dần.  Theo  quan điểm người xưa, năm Dần thường được coi  là năm tốt, sanh được con trai thì càng quý bởi  cọp  tượng trưng cho thế và lực, cho sự oai phong lẫm liệt và sức mạnh phi thường.  Người  tuổi Dần  có nét uy quyền, cá tính mạnh mẽ,  có tính tập trung cao,  nhiều năng lực, tính can đảm, thích mạo hiểm,  luôn đem hết cả sức lực, tinh thần để làm việc,  có lối sống khá lập dị, ham bay nhảy, du lịch đó đây. Đời sống tình cảm  rất phong phú,  rất nhạy cảm, dễ xúc động, tình yêu  thật nồng nàn và mãnh liệt. Người tuổi Dần mệnh Mộc có tài ngoại giao, trọng danh dự, có thể tạo dựng nên sự nghiệp lớn. Người nữ tuổi Dần rất có duyên, hoạt bát, linh lợi, thanh lịch, họ không bao giờ hài lòng với bất cứ việc gì.  Quan niệm dân gian cho rằng  "Dần-Thân-Tỵ- Hợi tứ hành xung"  và  phần đông tin rằng những con giáp trong tứ hành xung đều xung khắc lẫn nhau, nhưng hiểu như vậy là không đúng,  người tuổi Dần hợp với người tuổi Hợi, vì người tuổi Hợi điềm đạm, từ tốn,  bổ túc, kiềm chế sự nóng nảy của người tuổi Dần. Dần ý hợp tâm đầu với người tuổi Tỵ vì cả hai đều rất đa nghi. Sự khác biệt là ở chỗ người tuổi Dần liều lĩnh trong khi người tuổi Tỵ thì thận trọng. Người tuổi Dần sẽ nếm hậu quả nếu đối đầu với người tuổi Thân vì người tuổi Thân nhanh nhẹn, tháo vát, lắm mưu nhiều kế.

> Một số danh nhân tuổi  Dần  có thể kể đến là:
> - Nhà toán học Hi Lạp Euclide (Canh Dần, 330-257 tr. CN)
> - Vua Trần Thái Tông (Mậu Dần, 1218-1277)
> - Triết gia  Đức Hegel Goerg Wilhelm Friedric (Canh Dần, 1770-1831)
> - Nhà sử học Phan Huy Chú (Nhâm Dần, 1782-1840)
> - Triết  gia  Đức  Karl Max (Mậu Dần, 1818-1883)
> - Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tôn Trung Sơn (Bính Dần, 1866-1925)
> - Nhà  văn Nga Boris Pasternak (Canh Dần, 1890-1960)
> - Nữ nhà văn Anh Agatha Christie (Canh Dần, 1890- 1976)
> - Tổng thống Mỹ Dwight David Eisenhower (Canh Dần, 1890 - 1969)
> - Tướng Pháp  De Gaulle (Canh Dần, 1890 -1970)


Lê Tấn Tài