10 thg 7, 2026

THẦY TÔI (FB.Lê Ngọc Vân )


 
THẦY TÔI

Những năm 1950 đến 1970, làng Tấn Lộc quê ngoại tôi có một ngôi trường chỉ có một ông Thầy, dạy cho nhiều lớp lứa trẻ con của dân làng mới vào học lớp Năm, lớp Tư. Tôi học lớp Năm (lớp 1 bây giờ) lúc 5 tuổi, năm học 1960 -1961.Thầy dạy cả 2 lớp trong một phòng học, ngày học 2 buổi, sáng và chiều, từ thứ hai đến thứ bảy. Ngoài dạy các môn học, Thầy dạy cả hát, múa, các trò chơi, dắt đi dạo nơi này, nơi nọ...
Dáng người Thầy thấp, mập mạp, Thầy đi phục phịch, Thầy khoảng trên năm mươi tuổi, tóc Thầy đã bạc nhiều, loe hoe. Hàng ngày Thầy đi bộ từ nhà ở gần chợ Dinh (Phan Rang) xuống làng dạy học, buổi trưa Thầy ở lại nhà bà Bốn, chị họ bà ngoại tôi nấu cơm cho ông ăn, nghỉ trưa, năm này qua năm nọ, suốt thời gian ông dạy học ở làng.
Cả làng gọi ông là Ông Thầy giáo Ù, theo bộ dạng của ông, nhưng không phải có ý hỗn, mà nửa đùa, nửa thật. Riêng bọn học trò chúng tôi không bao giờ dám gọi như vậy.
Thầy tôi là một Hương sư đúng nghĩa, ông dạy dỗ bọn tôi tận tâm, thương yêu, chăm chút học trò. Bọn tôi đa số là con nông dân, nhà nghèo, học không có đóng tiền gì cả, có đứa cũng nghịch ngợm, Thầy lúc nào cũng cầm một đoạn roi tre để đe nẹt mấy đứa lộn xộn, tôi nhớ hình như Thầy dọa dẫm chứ không đánh đòn học trò. Thầy tập hát cho bọn tôi, giọng Thầy ồ ề, Thầy bày nhiều bài hát xưa như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, các bài đồng dao,... có bài kèm theo động tác múa nữa, có học trò nam và nữ cùng múa, cùng hát.
Hàng tháng, Thầy cộng điểm trung bình, công bố xếp hạng, từ đứng nhất đến đứng năm được khen bảng danh dự, cuối năm học có phần thưởng cho ba hay bốn trò xếp hạng trên hết. Trò nào học kém thì ở lại, hình như không có thi lại gì hết. Cho nên trò nào học yếu có thể ở lại lớp 2, 3 năm là chuyện thường niên. Năm tôi học lớp Tư, có bạn lớn hơn tôi 3, 4 tuổi luôn, vì ở lại lớp liên tục.
Qua hết lớp Tư, muốn học tiếp phải nộp hồ sơ học bạ xin chuyển trường lên Phan Rang là Trường Tiểu học Đạo Long hay Trường Tiểu học Nam để học lớp Ba trở lên.
Thầy dạy 2 lớp trong một phòng học, phòng học và bàn ghế kiểu hồi xưa, bàn nghiêng, có bệ ngang trên để hủ mực khỏi đổ, ghế đóng liền vào bàn, mỗi bàn ngồi bốn trò, khi nào trò đi học đủ, thiếu chỗ ngồi thì chen vào thêm một bạn nữa, ngồi chật nên hay đụng tay nhau khi viết, làm chữ lệch nét, đâm quẹo lung tung,... thế là có thể gây ra cải cọ, chửi bậy, thậm chí đánh lộn,...thế là Thầy phải xử lý tới nơi tới chốn, cho yên ổn mà học hành.
Thầy viết chữ trên bảng chậm rãi, đều nét, cân đối theo ô bảng, học trò phải chăm chú viết theo để chữ được đẹp, không có phong trào vở sạch chữ đẹp gì cả. Tội một cái là bọn tôi viết bằng viết mực, ngòi bầu hay ngòi lá tre, chấm trong hủ mực nước, mực mua lọ hay viên mực để pha với nước thành mực chấm, việc chấm mực để viết làm sao vừa đều mực, đủ nét chữ, không rớt giọt, lem nhoè, vấy bẩn,... là cả quá trình rèn luyện, kinh nghiệm, không phải thuận lợi như sau này có các loại bút máy, bút bi, ít bị lỗi mực. Kèm theo bút chì, bút mực là phải có cục gôm, cục gôm có mấy loại khác nhau, gôm viết chì, viết mực, và loại có hai đầu gôm chì, gôm mực. Loại nữa là giấy chậm tức giấy thấm, dùng để thấm mực đọng, để ngừa mực lan lem làm nhòe chữ.
Lớp Năm học các môn chính là tập đọc, tập viết, làm toán, thủ công, vẽ,... Các sách học gia đình học trò tự mua ở tiệm sách trên phố, học trò phải giữ gìn sách nghiêm túc, không làm rách, quăn góc, dơ mực, vì còn để lại cho em, cháu tiếp tục sử dụng sau này, đến 5, 10 năm tiếp theo.
Trên bảng đen trình bày tuần tự là : Giữa là ngày, tháng, năm, hàng tiếp theo là Cách ngôn, ghi nội dung các câu tục ngữ, châm ngôn, ca dao,... mỗi tuần đổi một nội dung mới, suốt cả thời học tiểu học luôn. Đầu tuần Thầy ghi bảng câu cách ngôn rồi giảng giải kỹ cho trò nghe, hiểu và yêu cầu trò phải rèn luyện tính tình, nhân cách để trở thành người tốt hiện tại và suốt đời, ví dụ như : Có học phải có hạnh, Không thầy đố mày làm nên, Anh em như thể tay chân, Giấy rách phải giữ lấy lề, Lá lành đùm lá rách, Công cha như núi Thái Sơn...Dạy làm người đủ lãnh vực để mà sống tốt với đời. Bọn tôi nhớ, thuộc suốt đời những câu cách ngôn dạy người những năm đi học hồi đó. Góc trái trên bảng có ô điểm danh, ghi sỉ số học sinh, số vắng mặt, có phép, không phép, số có mặt. Phần còn lại của bảng là Thầy ghi nội dung các môn học tập hàng ngày và học trò lên bảng ghi phần học tập của mình.
Ngoài những môn dạy ở lớp, sinh hoạt ở sân trường, ra chơi ngoài đường trước trường, thỉnh thoảng Thầy ‘tổ chức’ dắt bọn học trò nhỏ bọn tôi đi ‘chơi’ xa, bây giờ gọi là tham quan, dã ngoại,... gì gì đó.
Năm tôi học lớp Tư, Thầy dắt 2 lớp học trò đi qua làng An Thạnh, cách làng Tấn Lộc ở phía bên kia sông Dinh, chỉ lội qua được khi mùa nước cạn, gần vào mùa Hè, tháng 3, 4, 5...đoạn sông cuối làng Tấn Lộc qua giữa làng An Thạnh, nước ngập khoảng ngang đùi bọn học trò, xắn quần lên là lội qua.
Bọn tôi đi thành hàng hai, trước tiên là vào thăm nhà từ đường của Thầy, ngôi nhà kiểu xưa, nửa Ta, nửa Tây, có các bàn thờ kiểu cổ,... Sau đó đi thăm lò làm đồ gốm, nghề truyền thống từ xa xưa của dân làng, nên còn gọi An Thạnh là làng Lò Gốm, sản xuất các loại vật dụng gia đình hàng ngày như hỏa lò (để nấu than, củi), ống ghè để xây nhà, đựng đồ vật nhỏ, lò đổ bánh căn, bánh xèo,... đem lên chợ Dinh bán và buôn đi khắp nơi.
Tiếp theo là các nhà làm nghề đan chiếu cói, đây cũng là nghề truyền thống của làng, nghề của gia đình, họ tộc. Khi đi đến đâu Thầy giảng giải cho bọn tôi về sản phẩm, nguồn gốc, công đoạn sản xuất, công dụng, giá trị tiêu dùng, thị trường,... để bọn tôi hiểu biết và trân trọng làng nghề, công sức của người làm nghề tạo ra sản vật cho cộng đồng, xã hội.
Bọn tôi đến trường đa số là đi chân đất, trò nào không đi chân đất thì mang guốc vông, nhưng mang guốc chạy nhảy chơi đùa bất tiện, nên hầu hết ở trường là đi chân đất. Về quần áo thì không có đồng phục, phù hiệu gì cả, trò nữ thường mặc đồ bộ bà ba, hay đồ bộ nữ, trò nam thì mặc áo gì cũng được, quần đùi, đầu trần, đứa nào đứa nấy tóc cháy vàng hoe, da rám đen, chân chai như dân làm ruộng, nhiều đứa như trẻ chăn bò, cắt cỏ,... mà cũng có chăn bò, cắt cỏ cho nhà mình những khi không có đi học.
Năm tôi học lớp Năm, cuối năm được phần thưởng, Thầy tổ chức lễ phát thưởng trong phòng học, cho cả hai lớp Năm và Tư, hình như có bảy, tám trò được lãnh Bảng danh dự cuối năm và một gói phần thưởng, gồm cặp táp da, vở, bút chì, bút màu, gôm, giấy bao vở,... Không thấy có phụ huynh, quan chức gì đến dự cả, không có băng rôn, diễn văn khai mạc, bế mạc gì ráo, Thầy thông qua xếp hạng từng trò mỗi lớp, đọc lại danh sách các trò được thưởng, Thầy phát thưởng lần lượt từ hạng cao đến thấp, Thầy khen chung, dặn dò vui chơi học hành 3 tháng hè, cẩn thận,... rồi Thầy trò ra về.
Năm đó tôi xếp hạng nhì lớp, được lãnh thưởng đem về nhà, khoe với bà ngoại, bà khen một câu rồi xoa đầu, thế thôi. Còn phần thưởng do đâu mà có để tặng cho học trò thì bọn tôi không biết luôn, không có việc Thầy vận động phụ huynh ủng hộ đồng nào hết ! Đến giờ tôi vẫn nghỉ không ra việc này, dù mình lãnh thưởng được 3 lần luôn, chắc là của Thầy mua ! Rồi Thầy chuẩn bị lo hồ sơ của các trò chuyển lên trường trên phố học tiếp lớp Ba, hình như là Thầy làm thủ tục chuyển luôn cho học trò.
Năm tôi lên lớp Tư, cuối năm tôi cũng đứng nhì lớp, do bị bệnh nên không dự nhận thưởng được, cuối buổi sáng đó, đích thân Thầy đem phần thưởng đến nhà thăm tôi bệnh và trao thưởng. Tôi nhớ phần thưởng gồm một cặp da bò màu vàng, có hai ngăn ngoài, gài nắp bật, hai ngăn trong, trong cặp có vở, bút chì, hộp bút màu, bút và hộp đựng lọ mực, gôm, đặc biệt là có một xấp vải lụa trắng để may bộ quần áo bidama mặc ở nhà.
Thầy ân cần hỏi han và dặn ngoại tôi nên dắt đi khám chữa bệnh cho mau nhẹ. Nhưng mà, năm đó tôi ở... lại lớp vì trong giấy khai sinh nhỏ một tuổi, với lại đi học lên phố chỉ đi bộ, còn nhỏ, nhà xa trường ba cây số, hàng ngày đi về bốn lượt, cũng nhiều khó khăn, bất tiện đủ thứ.
Đến cuối năm học sau, tôi xếp hạng nhất, được Thầy chuyển hồ sơ lên học lớp Ba của trường Tiểu học Đạo Long, Phan Rang. Tôi bắt đầu đi học xa nhà, hàng ngày đi bộ mười mấy cây số, hai vòng buổi sáng và buổi chiều. Từ đó, tôi gặp Thầy thưa dần, nhưng mỗi lần gặp Thầy, bọn học trò đều cúi đầu, vòng tay, thưa : Con chào Thầy. Đứa nào trong tầm tay, Thầy xoa đầu hỏi han việc học hành, gia đình thế nào,...
Sau một thời gian Thầy về hưu, trước 1975, rồi Thầy mất lúc nào tôi không hay biết, cũng chưa lần nào viếng thăm thắp kính Thầy một nén hương tưởng nhớ, dù trong lòng luôn nhớ ơn Thầy. Tôi tự trách mình sao vô tâm đến vậy, kính mong hương linh Thầy tha thứ cho đứa học trò nhỏ xa xưa hồi nẳm đó.
Trường xưa giờ vẫn còn đây
Rêu phong phủ kín tháng ngày đã qua
Về thăm trường... tuổi đã già
Bạn bè lứa lớp đi xa... hết rồi


9 thg 7, 2026

Ban Bè K.2 SP.SG Đến Nhà Thăm HP Ngày 9/7/2026

 Lúc 10 giờ sáng,Quý hóa biết bao nhiêu : Đinh Hỏi,Đoàn Quốc Tuấn,Nguyễn Ngoc Chẩn đến nhà Pham Hoa thăm

Ngoài ra Hồng Điệp và các Ban còn tặng thêm bánh mì nướng,vit quay,vui vẻ nhưng ăn thức ăn không hết

Cũng thời gian đó, cháu Hửu ở Q.9 cũng ghé thăm

Trước cháu còn ơ Nguyễn Chí Thanh là thợ Photo trong cưa hàng của Bảo

Cám ơn cháu dù ko được hoc cao nhưng tình nghĩa củ luôn nhớ

Cầu Mong Bạn Bè Mình và Cháu Hửu Luôn Được BÌNH AN,MAY MẮN

Chiều,lúc 7 g tối Phượng (mẹ Subin-Quốc Nguyên )báo tin vui :Đề Án Tốt Nghiệp của con trai đạ được Duyệt

MỘT NGÀY VUI

DS.Ban Giang Huấn Trường SP.Saigon Lớp Nhị 15, K.11 Năm thứ 2 1974

 

Nguồn : Sư Pham Saigon Xưa

 Mời Xem Thêm :


GS.Phụ Trách Năm thứ Nhất (1972-73 )K.11 -Trường SPSaigon

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: CÁI BẪY CỦA MỘT NGÔN NGỮ THỐNG KÊ GIỐNG NHƯ NGÔN NGỮ CỦA CHÚNG TA

 


Trí tuệ nhân tạo tạo sinh, như ChatGPT hoặc các hệ thống tương tự, một sản phẩm của văn bản mạch lạc không tri giác, không hình hài, không trải nghiệm và không có ý thức. Đó là cái mới triệt để mà ta cần suy nghĩ.

Khi ta hỏi ChatGPT, Claude hay các “Chat” khác về bất kỳ một chủ đề gì, nó trả lời như là một người đối thoại biết tất cả. Tuy nhiên, ngôn ngữ này được tạo ra theo phương thức thống kê, bằng cách tích hợp nhiều bối cảnh - điều này cho phép nó trả lời một cách thích hợp và mỗi lần là khác nhau, tuỳ theo ngữ cảnh được nêu ra -, bằng cách tổng hợp một khối lượng dữ liệu khổng lồ (các mô hình ngôn ngữ lớn hay LLM). Đặc thù này đem lại một chiều kích mới: nếu máy móc diễn đạt như con người, thì ngay cả khi ngôn ngữ đã được nhận thức bởi một số triết gia, mà đứng đầu là René Descartes, như là chỉ dấu của tư duy, và do đó là chỉ dấu của sự thừa nhận “tính người” nơi máy móc, thì làm sao phân biệt con người với máy móc?

Vấn đề này, dựa trên nền tảng của phép thử Turing, có vẻ như là một phép tu từ, tuy nhiên, có nhiều thực tiễn xác nhận, từ sự lẫn lộn này, rằng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đôi khi được sử dụng như người phụ tá, người bạn, và có khi làm công việc của nhà tâm lý học. Dù chỉ là trong cách chúng ta đặt câu hỏi cho trí tuệ nhân tạo, chúng ta đã kết nối với nó một cuộc đối thoại, và như vậy chúng ta trở thành nạn nhân của một phóng chiếu nhân hoá rất tự nhiên ngay từ khi kẻ kia – máy móc hoặc con người – trả lời chúng ta. Cách chúng ta xưng hô với “chat” của chúng ta chứng tỏ điều đó: đôi khi chúng ta nói chuyện với nó rất lịch sự, bằng cách thân ái gọi nó là “Bạn”.

Vậy thì làm sao nhận định lại về ngôn ngữ nếu nó không còn là chỉ dấu của một tư duy có ý thức? Và làm sao phân biệt ngôn ngữ của con người với ngôn ngữ của máy? Vì trong cấu trúc, cú pháp, tính mạch lạc, ngôn ngữ máy giống hệt ngôn ngữ của con người.

Tuy nhiên, việc phần lớn các văn bản do trí tuệ nhân tạo tạo sinh tạo ra từ nay không còn xuất xứ từ những văn bản do con người viết ra mà từ những văn bản khác do trí tuệ nhân tạo tạo ra đặt ra một vấn đề đầu tiên về tính tham chiếu.

Một sản phẩm thống kê không kết nối với sự thật

Ta đã biết từ những công trình của nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson là ngôn ngữ có nhiều chức năng (thông tin, tiếp xúc, tạo mối liên hệ, vẻ đẹp, v.v.). Chức năng tham chiếu là chức năng kết nối ngôn ngữ với thực tại và biến ngôn ngữ thành một nơi của sự thật với nghĩa là một sự tương hợp giữa một phát biểu và thực tại mà nó đề cập. Đó chính là định nghĩa nổi tiếng của Thomas d’Aquin (khoảng 1225-1274) “Veritas est adaequatio rei et intellectus” (“Sự thật là sự tương hợp của sự vật và của trí tuệ”). Do đó, “chỉ duy nhất các phát biểu có thể đúng hoặc sai. Về phần các sự vật, cho dù do một sự lạm dụng ngôn ngữ, mà ta cho là “đúng” hoặc “sai”, có thực hay không có thực, xác thực hay giả tạo. Nhưng những sự vật này không thể là “thực” được””, ta có thể đọc trong bài của l’Encyclopédie Universalis về sự thật theo nghĩa tổng quát.

Như vậy, phát biểu “trời tốt” là có ý nghĩa nếu trời tốt, được cho là cung cấp thông tin về thời tiết, nhằm nhiều mục đích (tổ chức ngày sinh hoạt của mình, chọn đi hay không đi xe đạp, v.v.). Mục đích của việc nói “trời tốt” là gì nếu không phải để truyền đạt thông tin này, hay tạo mối liên hệ với một người khác chỉ vì ta nói chuyện với người ấy (khi đó ta gọi là chức năng duy trì liên lạc của ngôn ngữ).

Tất nhiên, chữ viết sẽ truyền đạt chính ý tưởng giao tiếp nhưng chữ viết vẫn là một vectơ của một tri thức, một thông tin, một mối quan hệ giữa người đọc, người viết và điều được viết ra. Tuy nhiên, ở đây, ngôn ngữ được giải phóng khỏi những chức năng tham chiếu và duy trì liên lạc của nó.

Việc sản sinh ngôn ngữ tách rời khỏi thực tế

Phát biểu do trí tuệ nhân tạo tạo sinh không còn là dấu hiệu hướng về tính khách quan bên ngoài, và điều này mang tính cấu trúc, vì nó hoạt động theo một phương thức thống kê, bằng cách tính đến bối cảnh, từ những cơ sở dữ liệu số. Tính trung gian có nguy cơ gia tăng gấp nhiều lần, nếu các văn bản do trí tuệ nhân tạo sản sinh ra cuối cùng thay thế các văn bản do con người tạo ra. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh sản sinh ra từ chính nó và theo cách các thuật toán một phát biểu mà theo định nghĩa hoàn toàn không có ý định giao tiếp. Phát biểu này là kết quả một một phép tính.

Rút ra bài học gì? Rằng chính cấu trúc của việc sản sinh ngôn ngữ tách rời khỏi thực tế: ta không thể trách máy móc không đưa mắt nhìn lên trời để xác nhận là trời tốt.

Như vậy, chính điều kiện cốt yếu của sự thật đã bị loại bỏ. Trong “Sự thật và chính trị”, nữ triết gia Hannah Arendt phân biệt “sự thật thực tế” và “sự thật lý trí”, liên hệ sự thật lý trí với chân lý khoa học và sự thật thực tế với “điều đã xảy ra”, nói cách khác là một cái thực tối thiểu, một điều kiện chung. Thế nhưng chính sự thật này mà các ý thức hệ toàn trị đã đặt lại vấn đề, thay thế thực tại bằng một hệ thống ý tưởng hoặc niềm tin ít nhiều nhất quán. Nhưng các nền dân chủ đại chúng cũng không chịu thua kém: theo Arendt, quảng cáo cũng đề ra một thay thế cho thực tại.

Ngày nay, ý thức hệ không còn cần thiết để thay thế cho quan hệ với thế giới bằng một diễn ngôn thoát khỏi ràng buộc với thế giới. Chính là hoàn cảnh của phát biểu làm cho phạm trù “sự thật thực tế” trở nên lỗi thời bởi vì trí tuệ nhân tạo tạo sinh, ngay chính trong sự vận hành của nó, không tham chiếu với thực tại để sản sinh ra ngôn ngữ, cho dù vẫn còn một liên hệ gián tiếp, vì sản xuất có tính chất thống kê của mô hình ngôn ngữ lớn LLM xuất phát từ những phát biểu bên ngoài LLM. Sự đứt gãy kết nối giữa sản sinh ngôn ngữ (mặc dù được cho là nơi chốn của sự thật) và thực tại mà ngôn ngữ nói đến đã được hoàn tất.

Do đó, hậu sự thật mà chúng ta đang sống từ nay được củng cố về mặt cấu trúc: không chỉ là một sự thờ ơ đối với sự thật, đó là một sự sản sinh nội dung tách rời khỏi hay độc lập với chính sự khả dĩ của đúng hay sai, cho dù một số lớn các văn bản cung ứng cho LLM vẫn còn đến từ con người. Ý thức hệ không nằm trong điều được nói ra, được sản sinh, được viết: nó nằm trong sự giải phóng một sản phẩm ngôn ngữ đối với thực tế và ngay với cả ý tưởng về tính tham chiếu. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh không sáng tạo ra hậu sự thật, nhưng do sự vận hành của nó, nó củng cố cấu trúc của hậu sự thật.

Một ngôn ngữ được định dạng trước bởi các doanh nghiệp tư nhân?

Thêm vào đó, việc sản xuất này là độc quyền của các doanh nghiệp tư nhân. Chúng ta đang sống trong một xã hội tư bản, ai cũng biết rõ điều này, mà nguyên tắc là các phương tiện sản xuất tập trung trong tay một số ít người. Đó là cái mà Marx gọi là cơ sở hạ tầng, còn kiến trúc thượng tầng chỉ tất cả những lĩnh vực khác – chính trị, văn hoá. Nhưng ngày nay, cơ sở hạ tầng sản xuất ra ngôn ngữ. Và ngôn ngữ là bệ đỡ cho tất cả các kiến trúc thượng tầng: Nói như nhà ngôn ngữ học Klemperer, ngôn ngữ là phương tiện tuyên truyền vừa đại chúng nhất và vừa kín đáo nhất. Đại chúng, vì chúng ta không thể không có ngôn ngữ để sống trong xã hội; kín đáo, vì chúng ta không nhận ra đến mức độ nào ngôn ngữ bị chi phối bởi các chuẩn mực vốn chi phối chúng ta hơn là chúng ta chi phối chúng và đến lượt chúng ta chuyển tải chúng khi chúng ta phát biểu.

“Các kỹ thuật tái sản xuất nhất định tương ứng với mỗi thời đại”, Walter Benjamin đã viết như vậy. Kỹ thuật ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ: vào thế kỷ XIX, báo chí đại chúng đã biến đổi cách viết, tạo ra một thể loại văn chương mới – tiểu thuyết – mà Benjamin, trong tác phẩm le Raconteur (Người kể chuyện) cho là khác với chuyện kể, nhưng cũng là sự bùng nổ của báo chí gây giật gân, quan tâm đến những tin vặt và đề ra một “lối kể chuyện” hấp dẫn.

Do đó, ngôn ngữ sẽ ngày càng phải tuân thủ các phương tiện sản xuất kỹ thuật. Tất nhiên, ta có thể xem nó đã là như vậy trong cách sử dụng của công chúng, nhưng từ nay cũng là trường hợp của những cách sử dụng riêng tư, trong nghề nghiệp, trong thân tình, nói cách khác là hầu hết các cách sử dụng, kể cả lúc ta không hề cần công nghệ để giao tiếp: chúng ta đã từng giao tiếp qua thư điện tử khi chúng ta ở trong cùng một văn phòng, tham dự các buổi họp trực tuyến trong khi chúng ta chỉ cách nhau vài mét, giao tiếp qua Instagram khi ngồi cạnh nhau… Điều đó dẫn đến những hệ quả mang tính quyết định, nhất là đối với chính trị, và đặc biệt là đối với nền dân chủ, mà chất liệu nền tảng trước hết chính là ngôn ngữ và các quyền khác nhau gắn với ngôn ngữ.

Hannah Arendt viết “Là chính trị, sống trong quốc gia thành thị độc lập, điều đó có nghĩa là mọi việc đều được quyết định bởi lời nói và sự thuyết phục chứ không phải bởi sức mạnh hay bạo lực.” Bà thêm rằng chính là khi xuất hiện trước mắt mọi người mà lời nói trở thành chính trị. Do đó, cần có một không gian để lời nói được nghe, một không gian “công cộng” cho “một phát ngôn chính trị”.

Nhưng một không gian công cộng và một phát ngôn chính trị là gì, khi sản xuất ngôn ngữ thoát khỏi cả thực tại lẫn chủ thể phát biểu? Bằng cách tạo ra ngôn ngữ một cách tự lập không có tham chiếu, trí tuệ nhân tạo tạo sinh hoàn thành về mặt kỹ thuật một mơ tưởng về một phát biểu không cần chủ thể.

Do đó, ngôn ngữ không còn là yếu tố phân biệt con người và máy móc đã có những hệ luỵ cả về chính trị lẫn siêu hình. Mối quan hệ với cái thực đang bị biến đổi có lợi cho những trung gian tư nhân vô hình đang chiếm hữu ngôn ngữ: ngôn ngữ không còn giúp nhận ra một “người khác” nơi người gửi hoặc người nhận. Tuy nhiên, ngôn ngữ chỉ có nghĩa khi được gửi đến một con người. Đối với máy, ngôn ngữ hoàn toàn vô nghĩa. Cứu vãn ý nghĩa của ngôn ngữ tức là cứu vãn chính ý tưởng về chủ thể. Chính là với điều kiện này mà ngôn ngữ sẽ giữ được những tính năng giải phóng của nó.

Người dịch: Thái Thị Ngọc Dư

Nguồn:IA: Le piège d’un language statistique qui ressemble au nôtre, The Conversation, 14.4.2026.

Chú thích:

[*] Mazarine M. Pingeot là tác giả của tác phẩm Inappropriable. Ce que l’IA fait à l’humain, (Flammarion, février 2026)


(Copy Từ Diễn Đàn Forum )

8 thg 7, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 6)


 BIỆN ĐẠO (BÀI 6)

LỄ LÀ NHỮNG ĐIỀU THÍCH ĐÁNG MÀ MỌI NGƯỜI ĐỀU CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

BÀI 6

Phần đông hậu Nho bắt ép học những thứ không thể thực hiện được

Các hậu Nho (1) phần lớn bắt ép người học học những thứ mà họ cho là cao xa, mầu nhiệm được chọn lọc kỹ càng (cao diệu tinh vi), những thứ mà người thường không thể thực hành được, và cho rằng các thánh nhân lấy những thứ này để đặt ra cực. Thật là bậy bạ. 


Lễ là thứ để dạy người dân những việc thích đáng nên làm theo

Các tiên vương đặt ra lễ và gọi đó là cực (2).(những thứ mà người dân ai cũng có thể thực hiện được để làm chuẩn mực trong cuộc sống). Các Nho gia đời Hán (3) giải thích cựctrung (trung có thể hiểu là thích đáng, không thừa không thiếu, vừa đủ; cũng có thể hiểu là trúng, là đúng). Lễ là thứ dùng để dạy trung (nghĩa là lễ dùng để dạy những điều thích đáng) (4). Và khi chú giải sách Trung Dung, các Hán Nho cho rằng Tử Tư viết Trung Dung để giải thích ý nghĩa của lễ (5). Chú giải này không thích đáng trọn vẹn nhưng không cách xa nhiều với nội dung của cổ đại (tức thời của các tiên vương). Nội dung ở cổ đại được thầy truyền trực tiếp cho trò nên ý nghĩa ở cổ đại còn lại như trên. 


Lễ là thứ mà các tiên vương đặt ra để cả người giỏi và người dở đều có thể thực hiện được 

Các tiên vương đặt ra lễ để cho người giỏi cúi xuống (phủ, hạ thấp mình xuống) mà thực hành, người không giỏi vói lên ( gắng sức) mà làm cho được (cập) nên mới gọi là cực (tiêu chuẩn mà mọi người đều thực hiện được) (6). Cực là thứ mà người thông thường cũng có thể thực hiện được. Nếu không phải như vậy (nghĩa là người dân thường không thể thực hiện được) thì có nghĩa là cưỡng ép người dân thường thực hiện những nhiệm vụ (vụ: đem hết sức ra làm) mà họ không thể thực hiện, thế chẳng phải là bắt người dân phải tuyệt vọng với điều tốt, việc thiện hay sao? Nếu như vậy thì đó có thể gọi là đạo an dân của các tiên vương sao?


Những chủ trương của Tống Nho không phải của đạo Khổng

Do đó những chủ trương cho rằng “cực của lý lẽ đương nhiên của sự việc” (Tống Nho chủ trương đạo trong khi theo Sorai đạo lễ nhạc hình chính để an dân), “có thể làm thay đổi khí chất con người”, “học có thể thành thánh nhân” tất cả đều là không phải chủ trương nguyên thủy của Khổng tử và của các tiên vương. 


Giải thích của Itô Jinsai cũng không hợp lý

Vào thời gần đây, Itô Jinsai là người hiểu rõ đúng sai của các chủ trương nói trên (của Tống Nho) nhưng ông lại gọi hiếu, đễ, nhân, nghĩa là mẫu mực (quy củ chuẩn thằng). Nếu điều này đúng, thì mọi người sẽ lấy ý tưởng của riêng mình để quyết định thế nào là hiếu, đễ, nhân, nghĩa. Như vậy thì lấy gì làm mẫu mực, tiêu chuẩn đây? Suy nghĩ như vậy thì chẳng khác thước đo, cân đo không có các con số quy định cụ thể của chiều dài và trọng lượng. (Ý Sorai là cần phải theo nội dung của đạo tiên vương tức đạo Khổng để quy định thế nào là hiếu, đễ, nhân, nghĩa. ) (a) 


Tóm tắt ý quan trọng

- Lễ là thứ để dạy những việc thích đáng nên làm theo, cũng là trung, cũng là cực của đạo tiên vương (đạo Khổng). Cựccó nghĩa là mẫu mực, tiêu chuẩn.

- Lễ là thứ mà các tiên vương đặt ra để cả người giỏi và người dở đều có thể thực hiện được. Những mẫu mực, tiêu chuẩn của các tiên vương đặt ra để an dân đều là những điều mà người bình thường cũng có thể thực hiện được.

- Các chủ trương như “cực của lý lẽ đương nhiên của sự việc”, “có thể làm thay đổi khí chất con người”, “học có thể thành thánh nhân” tất cả đều là không phải chủ trương nguyên thủy của Khổng tử và của các tiên vương.


Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 24/6/2026

Xem lại và bổ sung ngày 1/7/2026


Nhận xét

(a) Sorai hơi quá đáng khi chỉ căn cứ vào nội dung Jinsai viết trong tác phẩm mà phán quyết như thế! Có lẽ bởi vì Jinsai nghĩa rằng không cần phải nói ra dài dòng mà ai cũng hiểu. Người dịch nghĩ rằng Jinsai không nói ra cụ thể nhưng chắc chắn ông không hề nghĩ như Sorai nói, bởi vì Jinsai cũng chủ trương học Luận Ngữ để xem cần phải thực hiện như thế nào mới gọi là hiếu. Nếu tự mình giải thích hiếu theo ý của mình thì cần gì phải học.


Nhận xét tổng thể

(1) Nhận xét của Sorai rằng lễ là nội dung ai cũng có thể thực hiện được dù khôn hay không khôn, dù giàu hay nghèo. Nhận xét này thật là chí lý xác đáng. Nếu không thì làm sao cho mọi người dân có thể áp dụng trong cuộc sống như mục đích của các tiên vương là dùng lễ để an dân. Hơn nữa nội dung này là lời nói của Tử Tư để phản biện lại với Tăng tử được ghi chép lại trong thiên Đàn Cung thượng của sách Lễ Ký. Nên nhớ Tử Tư là học trò của Tăng tử . Do đó, đạo Khổng không chủ trương trò không được trình bày ý kiến khác với thầy. Chúng ta nên tìm hiểu học kỹ lại nội dung đúng của người xưa và kèm theo suy nghĩ và phán đoán của bản thân chớ nên tin rằng “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu” là chủ trương của đạo Khổng. Xin đọc bài “Xuất xứ của câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung”” của người dịch.


(2) Trước nay người chỉ hiểu cực là đỉnh cao nhất như Chu Hy đã giải thích là chí cực至極. Khi đọc bài nói về cực trong Biện Danh của Sorai mới biết trong kinh Thi, Đại Học, Chu Lễ, thiên Hồng Phạm của kinh Thư, thiên Tế Nghĩa của Lễ Ký cho thấy ý nghĩa của cựctrung, là mẫu mực, tiêu chuẩn mà mọi người có thể thực hiện được. Quả thật không nên dùng ngay ý nghĩa của ngôn ngữ hiện tại để hiểu nội dung của sách xưa.


(3) Nhờ biên dịch và tra cứu thêm các sách được trích dẫn, người dịch càng thấm thía thêm tầm quan trọng của lễ trong cuộc sống của bản thân và xã hội. Matsushita Kônosuke, nhân vật được người Nhật Bản xem là bậc thánh của kinh doanh,  giải thích lễ như sau:

https://diendankhaiphong.org/y-nghia-coi-nguon-cua-le-la-gi/

https://diendankhaiphong.org/le-va-tu-than/



Ghi chú

  1.  Thí dụ trong Lời Tựa của sách Đại Học Chương Cú, Chu Hy viết:

大學之書、古之大學、所以敎人之法也。蓋自天降生民、則莫不與之以仁義禮智之性矣。然其氣質之稟、或不能齊。是以不能皆有以知其性之所有、而全之也。一有聰明睿智、能盡其性者、出於其閒、則天必命之以爲億兆之君師、使之治而敎之、以復其性。此伏羲・神農・黃帝・堯・舜所以繼天立極、而司徒之職、典樂之官所由設也。

Đại Học chi thư, cổ chi đại học, sở dĩ giáo nhân chi pháp dã. Cái tự thiên giáng sinh dân, tắc ký mạc bất dự chi dĩ nhân nghĩa lễ trí chi tính hỹ. Nhiên kỳ khí chất chi bẩm, hoặc bất năng tề. Thị dĩ bất năng giai hữu dĩ tri kỳ tính chi sở hữu, nhi toàn chi dã. Nhất hữu thông minh duệ trí, năng tận kỳ tính giả, xuất ư kỳ văn, tắc thiên tất mệnh chi dĩ vi ức triệu chi quân sư, sử chi trị nhi giáo chi, dĩ phục kỳ tính. Thử Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn sở dĩ kế thiên lập cực, nhi tư đồ chi giáo, điển nhạc chi quan sở do thiết dã.

Tạm dịch

Sách Đại Học là sách thuật lại cách giáo dục con người ở cổ đại (có lẽ ý nói trong 3 thời đại nhà Hạ, nhà Ân và nhà Chu. Thời đại mà các Nho gia xem là thời hoàng kim của họ) trong trường đại học. Tôi nghĩ rằng khi trời sinh ra con người, trời đã bẩm sinh cho mọi người bản tính (tính) có nhân, nghĩa, lễ, trí. Tuy nhiên, đồng thời trời cũng bẩm sinh cho mọi người khí chất (khí chất) nhưng khí chất này của mọi người không giống như nhau. Do đó, không phải tất cả mọi người đều có thể biết được và phát huy được hết toàn thể bản tính thiện tốt mà trời đã bẩm sinh cho (do sự cản trở của khí chất). Một khi có người được trời bẩm sinh cho thông minh duệ trí xuất hiện trong xã hội con người tức là trời đã sai người đó làm vua làm thầy để quản trị và dạy cho mọi người trở lại với bản tính có nhân, nghĩa, lễ, trí. Các vị vua Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn đã theo mệnh trời lập ra cực (tiêu chuẩn của phép làm người) và đặt ra các chức quan Tư Đồ (phụ trách lễ) và Điển Nhạc (phụ trách nhạc). 


Ghi chú

Không hiểu tại sao trong các sách dịch tiếng Việt của Đại Học Chương Cú không thấy phần Lời Tựa này! Trên chỉ là phần đầu của Lời Tựa. Chúng ta có thể thấy nội dung giải thích về đạo Khổng rất trừu tượng và khó hiểu! Trong khi nội dung truyền dạy của Khổng tử cho các đệ tử không trừu tượng khó hiểu.


(2) Chi tiết xin đón xem mục Cực trong tác phẩm Biện Danh của Sorai (người dịch sẽ giới thiệu sau). Đặc biệt ông trích dẫn các chứng cứ trong kinh Thi, Đại Học, Chu Lễ, thiên Hồng Phạm của kinh Thư, thiên Tế Nghĩa của Lễ Ký cho thấy ý nghĩa của cựctrung, là mẫu mực, tiêu chuẩn.


(3) Trong Ngụy Khổng An Quốc Truyện (ngày nay được xem là sách giả tạo nên viết “Ngụy” ở tựa sách) chú giải câu “Kiến dụng hoàng cực建用皇極”, Khổng An Quốc chú giải “Cực, trung dã極、中也 (Cực trung)

Khi chú giải câu “Duy vương kiến quốc...dĩ vi dân cực 惟王建国...以為民極, Trịnh Huyền viết “Cực, trung dã極、中也。(Cực trung)


  1.  Trong thiên Trọng Ni Yến Cư của sách Lễ Ký viết:

Tử viết “Lễ hồ lễ! Phu lễ sở dĩ chế trung dã”.

子曰:「禮乎禮!夫禮所以製中也。」

Tạm dịch

Khổng tử nói: “Là lễ đó sao, đúng là lễ rồi! Chính lễ định ra trung (không vượt quá và cũng không thiếu), là vật dừng lại ở chỗ thích đáng của hành động, việc làm”.


(5)  Khi chú giải câu “Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã中也者,天下之大本也 (Trung là căn bản lớn của thiên hạ) trong chương 1 sách Trung Dung, Trịnh Huyền viết:

中為大本者,以其含喜怒哀樂,禮之所由生,政教自此出也。

Trung dĩ đại bản giả, dĩ kỳ hàm hỹ nộ ai lạc, lễ chi sở do sinh, chính giáo thử xuất dã.

Tạm dịch

Trung là căn bản quan trọng của thiên hạ, là mức độ mà con người nên có khi vui vẻ, giận dỗi, đau buồn, sung sướng; lễ được đặt ra để có được trạng thái này (tức trạng thái của trung), chính trịgiáo dục cũng xuất phát từ căn bản này.


  1. Trong thiên Đàn Cung thượng của sách Lễ Ký viết:

子思曰:「先王之制禮也,過之者俯而就之,不至焉者跂而及之。」

Tử Tư viết: “Tiên vương chi chế lễ dã, quá chi giả phủ nhi tựu chi, bất chí yên giả kì nhi cập chi.”

Tạm dịch

Tử Tư nói: “Các tiên vương đặt ra lễ, tất cả mọi thứ lễ đều theo nguyên tắc là người quá cao cúi thấp xuống, người quá thấp thì nhón chân lên cao để thực hiện được.”

Đó là lời của Tử Tư (học trò của Tăng tử) đáp lại lời của Tăng tử khi Tăng tử nói về việc để tang cha ông.


Nguyên văn

後儒多強学者。以高妙精微凡人所不能為者。而曰聖人以是立極也。妄矣哉。先王立極。謂礼也。漢儒訓極為中。礼者所以教中也。又解中庸書而謂子思礼意矣。其雖未当。要之去古未遠。師弟所伝授。古義猶存者爾。蓋先王制礼。賢者俯而就之。不肖者企而及之。是所謂極也。是凡人所能為者也。不爾。務以凡人所不能為者強之。是使天下之人望於善也。豈先王安天下之道哉。故所謂事理当然之極。及化気質。学為聖人類。皆非先王孔子之教之旧矣。近世伊氏能知其非是。而酒以孝弟仁義謂為規矩準繩。果若是乎。則人人自以其意為孝弟仁義也。亦何所準哉。可謂無寸之尺。無星之称已。


Âm Hán Việt của nguyên văn

Hậu Nho đa cưỡng học giả. Dĩ cao diệu tinh vi phàm nhân sở bất năng vi giả. Nhi viết thánh nhân dĩ thị lập cực dã. Vong hỹ tai. Tiên vương lập cực. Vị lễ dã. Hán Nho huấn cực vi trung. Lễ giả sở dĩ giáo trung dã. Hựu giải Trung dung thư nhi vị Tử Tư thuyết lễ ý hỹ. Kỳ thuyết tuy vị đương. Yếu chi khứ cổ vị viễn. Sư đệ sở truyền thụ. Cổ nghĩa do tồn giả nhĩ. Cái tiên vương chế lễ. Hiền giả phủ nhi tựu chi. Bất tiêu giả xí nhi cập chi. Thị sở vị cực dã. Thị phàm nhân sở năng vi giả dã. Bất nhĩ. Vụ dĩ phàm nhân sở bất năng vi giả cường chi. Thị sử thiên hạ chi nhân tuyệt vọng ư thiện dã. Khởi tiên vương an thiên hạ chi đạo tai. Cố sở vị sự lý đương nhiên chi cực. Cấp biến hóa khí chất. Học vi thánh nhân loại. Giai phi tiên vương Khổng tử chi giáo cựu hỹ. Cận thế Y thị năng tri kỳ phi thị. Nhi tù (逎・逎) dĩ hiếu đễ nhân nghĩa vị quy cụ chuẩn thằng. Quả nhược thị hồ. Tắc nhân nhân tự dĩ kỳ ý vi hiếu đễ nhân nghĩa dã. Diệc khả sở chuẩn tai. Khả vị vô thốn chi xích. Vô tinh xứng dĩ.


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten. 


  3. MỜI XEM :