29 thg 1, 2022

Ảnh chụp các Văn Bằng trước 1975 của Lê Ngoc Châu K.2-SPSG

Bằng Tiểu Học

Bằng TH,Đệ Nhất cấp

Chứng chỉ TT 2

Trường Văn Khoa

CÚNG MẸ (từ Kiếp Mồ Côi )

CÚNG MẸ                      
 
Hắn là người thành đạt
Gia cảnh rất đề huề
Có con ngoan, vợ đẹp
Cuộc sống vạn người mê.
Cứ mỗi lần giỗ mẹ
Hắn thết cỗ linh đình
Nào sơn hào, hải vị...
Để chứng tỏ cái tình.
Trong một lần dọn dẹp
Đem vứt bớt đồ thừa
Hắn thấy quyển nhật ký
Của mẹ mình năm xưa.
Tò mò nên hắn đọc
Những con chữ quay cuồng
Bởi những trang nhật ký
Là những câu chuyện buồn:
Ngày... tháng... năm... mẹ tủi
Con mắng mẹ: Già rồi
Sao còn như con nít
Làm cơm vãi khắp nơi!
Ừ! Bởi vì tuổi lắm
Nên mắt kém, tay run
Có làm rơi ít hột
Âu cũng chỉ chuyện thường!
Khi con còn nhỏ dại
Cũng làm vãi khắp nơi
Mẹ quét, lau, gom lại...
Đâu trách mắng nửa lời?
Ngày... tháng... năm... mẹ tủi
Con mắng mẹ: Mặc đồ
Sao lóng nga lóng ngóng
Y hệt nhành cây khô!
Ừ! Tuổi già xương cứng
Gân cũng chẳng dẻo dai
Khó xở xoay, quay trở
Sao cứ mắng mẹ hoài?
Khi con còn nhỏ dại
Cứ hiếu động chân tay
Mẹ mặc hoài mới được
Đâu trách mắng nọ này?
Ngày... tháng... năm... mẹ tủi
Con mắng mẹ: Điếc à?
Trả lời rồi vẫn hỏi
Cứ như trúng phải tà!
Ừ! Già nên nghễnh ngãng
Nghe lúc được, lúc không
Mẹ mới đi hỏi lại
Mắng chi để tủi lòng?
Khi con còn nhỏ dại
Hỏi đủ chuyện trên đời
Mẹ kiên trì đáp lại
Đâu mắng mỏ một lời?
Ngày... tháng... năm... mẹ tủi
Con mắng mẹ: Bực mình!
Cả đêm ho sù sụ
Mất ngủ cả gia đình!
Ừ! Tuổi nhiều bệnh lắm
Quy luật của tự nhiên
Mẹ đâu mong như thế
Mắng chi để tủi phiền?
Nhớ khi con nhỏ dại
Đủ thứ bệnh mang vào
Hàng năm trời khóc quấy
Mẹ đâu trách câu nào?
Ngày... tháng... năm... mẹ tủi
Cứ mỗi bận ăn cơm
Mẹ phải ngồi góc khuất
Bởi người mẹ không thơm.
Ừ! Kiếp này ta sống
Con nít đến hai lần
Mẹ già không tự liệu
Tất cả cậy con làm!
Nhớ khi con nhỏ dại
Tè, ị bậy khắp nơi...
Mẹ lau chùi, tắm rửa
Có bao giờ chê hôi?
Ngày... tháng... năm...
...
Ngày... tháng... năm... mẹ yếu
Chắc chẳng thể... nữa rồi
Những dòng này mẹ viết
Là sau cuối trong đời:
Dù cho con lạnh nhạt
Hay gắt gỏng bấc, chì
Mẹ chỉ buồn đôi chút
Chứ không trách cứ gì!
Con vẫn là con mẹ
Bé bỏng và đáng yêu
Dù cho theo năm tháng
Con đã đổi thay nhiều...!
Hắn thẫn thờ nét mặt
Nhìn lên phía bàn thờ:
Ánh mắt bà âu yếm
Qua lớp khói hương mờ!
Hắn nấc lên từng chặp:
Con bất hiếu mẹ ơi
Con muốn xin lỗi mẹ
Nhưng đã quá muộn rồi!
* Những ai còn Cha- Mẹ
Hãy thức tỉnh kịp thời
Đừng để thành quá muộn
Ôm hối hận cả đời!
Mâm cao ngày cúng họ
Cũng chẳng ý nghĩa chi
Nếu khi cha mẹ sống
Đối xử chẳng ra gì!
"Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn trên mắt mẹ nghe không"
 
“ K.M.C.” 


 

Tuổi Học Trò - Nguyễn Cang

 

Ngày xưa ấy rộn ràng tà áo trắng

Nắng sân trường trải lụa những nàng xuân

Chân bước nhỏ làm hồn ai ngơ ngẩn

Ngồi lặng im nghe chiều xuống bâng khuâng

 

Trời lộng gió mây hồng vương tóc rối

Áo trinh nguyên e ấp tuổi học trò

Đôi mắt ngọc long lanh niềm hy vọng

Bàn tay thon ươm mộng một trời thu

 

Thành phố nhỏ kết tình yêu thơ dại

Trước cổng trường ai chờ đợi đón đưa

Khi tiếng trống vang lên giờ tan học

Và mong chiều trời thôi đổ cơn mưa

 

Rời phố chợ tôi về lên tỉnh học

Xa mái trường xa cả dáng em thơ

Nghe trăn trở nhìn bóng quê xa khuất

Nhớ người xưa bao kỷ niệm trong mơ!! !

 Nguyễn Cang ( Dec. 20, 2021)


 Mời Xem :

Vài hàng về nhà thơ Quang Tuấn:/Nguyễn Cang 

DẠ

Nhiều người vẫn lầm tưởng khi dùng chữ  ‘dạ’ là tỏ thân phận hèn kém, bề dưới, lép vế, hay hèn mạt. Hoặc thậm chí hiểu sai luôn khi cho rằng chỉ người dưới mới cần dạ với người trên. Chữ ‘dưới’ ở đây được hiểu là người nhỏ tuổi hơn trong xã hội, hay vai em/con/cháu trong gia đình.

 Mình đi dạy kèm. Ông nội đứa học trò ngang tuổi ba mình. Vài lần tới sớm nhóc chưa kịp tắm hoặc ăn cơm, hay những khi mưa to phải ngồi chờ cho dứt cơn mới về là bác hay tiếp chuyện mình. Bác cẩn thận hỏi ba mẹ mình nhiêu tuổi. Khi biết ba mình hơn bác một tuổi bác khiêm tốn xưng chú và cười thẹn: “Thật là có lỗi với bác bên nhà quá.”. Mình cũng chữa thẹn cho bác, nói: “Dạ, con cũng như em út của các anh chị bên đây nên bác là bác cũng phải mà.”.
 Điều đặc biệt là mỗi câu trả lời của bác luôn có chữ ‘Dạ’ đệm ở đầu câu: “Dạ, hồi còn thanh niên tui cũng ham chơi lắm cô.”, “Dạ, cháu nó còn dở dang chén cơm cô vui lòng ngồi chờ chút.”, “Dạ, xin lỗi cô, hai bác bên nhà năm nay chắc còn mạnh?”. Những năm sau này không tiện ghé thăm bác mình gọi điện hỏi thăm. Ngôn ngữ bác dùng trên điện thoại lại càng trang trọng hơn: “Dạ thưa cô cháu nó lớn rồi mà tui cũng còn lo lắm”, “Dạ thưa cô năm nay cũng không đi lại nhiều bị cái chân nó không còn được như xưa”, “Dạ, bà nhà tui kỳ này cũng ít còn may vá”.

 Mỗi lần gọi học sinh phát biểu, tụi nhỏ không chịu trả lời ngay mà cứ “Dạ thưa cô”, “Thưa cô con đọc bài” nghe cũng sốt ruột nhưng nghĩ lại đó là nếp lễ nghi cần duy trì nên cũng kềm bớt cái tính nóng nảy lại.

 Dạo còm-men thấy dân tình đối đáp có chữ dạ, chữ thưa sao mà thấy vui quá. Mình dạy tiếng Anh nên không ác cảm với chữ “OK” như một số người hiểu lầm là lối nói xấc xược. Nhưng thấy mọi người hay chốt câu chuyện bằng chữ “Dạ anh”, “Dạ chị”, “dạ chú”, “Dạ bác” thì vẫn thấy vui hơn chữ “OK” gọn lỏn.

 Những gia đình còn cố giữ lễ nghi, phép tắc vẫn dạy con luôn có chữ “Dạ” đầu câu. Cô hỏi con mới đi Đà lạt về hả, trò trả lời “Con mới về á cô.”. Mẹ quay qua nhắc con: “Con phải nói dạ con mới về”. “Con 5 tuổi”, con phải nói là “Dạ thưa cô con 5 tuổi”, “Con ăn rồi.”, con phải nói là “Dạ con ăn cơm rồi”.

 Lang thang quán xá, “Chị ơi tính tiền.”, “Dạ, của em 5 chục nha”. Ra khỏi quán, anh bảo vệ hỏi đi hướng nào để dắt xe giùm, ngại quá bảo anh cứ để em, “Dạ, không sao chị. Chị cứ để tui.”

 Xứ Đàng Trong, chữ “Dạ” đệm đầu câu cho câu nói thêm dịu dàng, khiêm tốn, và để thể hiện con nhà có giáo dục, lễ nghi, phép tắc. Nào phải đớn hèn, nhục nhã gì đâu! Chỉ sợ sau này thứ văn hóa Đ.mm, đ.éo biết, đ.ịt con m.ẹ mày, bố mày lên ngôi thì 2 mẫu tự tạo nên con chữ ngọt ngào ấy cũng sẽ tuyệt chủng.

 By: Mui Thị Mài

 Chuyện của Sài Gòn


Hoa Thủy Tiên

 

Pháp-Việt: Những người « Chân Đăng » và việc giữ gìn phong tục tập quán

 Cách nay hơn 130 năm, những người Đông Dương đầu tiên đã đặt chân đến Nouvelle-Calédonie để làm phu mỏ theo hợp đồng ký kết. Xa quê hương, xa người thân, dù sống và làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt, những người « Chân Đăng » - những người « phu mỏ » Bắc Kỳ năm xưa - vẫn gìn giữ và lưu truyền các tập tục cổ truyền cho các thế hệ con cháu.

Vào cuối những năm 1890, để đáp ứng nhu cầu nhân công hầm mỏ, chính quyền toàn quyền Đông Dương tổ chức tuyển dụng đưa người sang làm việc tại Nouvelle-Calédonie. Và thế là những lao động xứ Bắc Kỳ đầu tiên đã đến hòn đảo thuộc Pháp ở Thái Bình Dương ngay từ năm 1891. Phần đông trong số này là tù nhân Côn Đảo. Họ được hứa hẹn có được tự do nếu làm việc tốt một khi đến Nouvelle-Calédonie. Trốn một đất nước nghèo nàn và cuộc sống khốn khổ, họ nuôi ảo tưởng hy vọng sẽ được đổi đời với một hợp đồng lao động đầy hứa hẹn, nhưng đâu có ngờ rằng đó là một kiểu « địa ngục trần gian », thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và đôi khi nhuốm cả máu.

 
Con tầu Eastern Queen đưa người lao động Việt Nam từ Nouvelle-Calédonie và Vanuatu về nước năm 1960. © Ảnh do GS. Lê Thị Xuyến cung cấp.

Phu mỏ Bắc Kỳ : Lao động cưỡng bức hay nô lệ da vàng ?

Họ, khoảng 4.000 - 5.000 di dân Việt Nam đầu tiên ở vùng Thái Bình Dương, đã tự gọi mình là những người « Chân Đăng ». Giáo sư Lê Thị Xuyến, nguyên trưởng ban Việt học, khoa Ngôn ngữ và Văn minh Đông Á, đại học Paris-Diderot, có thân phụ, thân mẫu là những người « Chân Đăng » trong một cuộc trò chuyện với RFI Tiếng Việt trước hết lưu ý, việc tìm hiểu và giải thích ý nghĩa thật sự của từ này vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.

GS. Lê Thị Xuyến : « Chỉ xin hiểu nôm na, "Chân Đăng" là những người ký hợp đồng để đi làm phu mỏ. Có những định nghĩa cho rằng một hợp đồng 5 năm nhưng vì không được tự do đi lại, dưới chế độ giấy thông hành rồi kiểm soát rất chặt chẽ, người ta gọi nhau và cho đấy như là một dạng bị trói chân. Tôi cho rằng, theo nhà văn Jean Van Mai, cũng là thế hệ con cháu "Chân Đăng" như chúng tôi và cuốn sách của anh viết về những người "Chân Đăng" được giải thưởng từ năm 1981, anh định nghĩa rất đơn giản : Đó là những người ghi tên và đi làm theo hợp đồng. Bản thân anh cũng là người rất tâm huyết và cũng đã đi làm điều tra, đi hỏi rất nhiều người mà tôi tin nguồn đó là tương đối chính xác. »

Trái với những gì được ghi trong hợp đồng, điều kiện làm việc và sinh sống của phu mỏ Bắc Kỳ cực kỳ khắc khổ : Thiếu ăn, thiếu mặc, đôi khi phải làm việc 15 giờ mỗi ngày và tuyệt đối phải đạt sản lượng 20 tấn đất quặng đào được cho một người trong một tháng dưới sự cai quản bất nhẫn của các đốc công da trắng. Đáng chú ý, trong quá trình làm việc, người ta không gọi họ bằng tên mà bằng con số. Giáo sư Xuyến cho rằng đây thật sự là một nỗi mất mát lớn.

« Ngay cả vấn đề này tôi cũng có nhiều thắc mắc. Trong tất cả các sách báo đều nói là để cho dễ gọi, tức là người ta nói là người Pháp để dễ đọc, dễ gọi tên cho đúng người ta gọi bằng con số. Bởi vì phát âm tiếng Việt khó, tất cả các báo đều nói như thế. Nhưng tôi không tin. Cho đến bây giờ khi đọc các tài liệu tôi không tin, vì họ coi những người đi làm phu cho họ như là nô lệ thì đúng hơn. Một số người cũng đã gọi đó là những nô lệ da vàng. »

Ngoài ra, trong chính sách tuyển dụng, thực dân Pháp tuyển nam nhiều hơn nữ do sợ vấn đề sinh đẻ có thể ảnh hưởng đến nguồn lợi kinh tế.

« Bởi vì trong hợp đồng, ngoài chế độ ăn uống, còn có cả chế độ thuốc men. Do vậy, một gia đình có cả vợ và con thì sẽ tổn phí cho họ. Vì chính sách của chế độ thực dân tuyển người dạo đó là cứ 9 người đàn ông và một người đàn bà, nên khi những người sang trước, người ta luôn để ý những chuyến sang sau để tìm đồng hương một phần và một phần khác là xem có người phụ nữ nào không, thì như vậy người ta đã nhắm trước rồi. »

GS. Lê Thị Xuyến và cành đào ngày Tết tại văn phòng làm việc đại học Paris-Diderot. © Ảnh do GS. Lê Thị Xuyến cung cấp.

Giữ gìn tập tục : Sự phản kháng thầm lặng chống người da trắng ?

Đôi dòng nhắc lại bối cảnh lịch sử. Nhân dịp Tết Nhâm Dần, giáo sư Lê Thị Xuyến hồi tưởng lại không khí những ngày Tết đầm ấm cùng gia đình khi bà còn nhỏ ở Nouméa, thủ phủ Nouvelle-Calédonie. Điều làm bà cảm động và trân trọng nhất mỗi lần được nghe Ba, Má kể lại vào những năm đầu mới sang là dù phải sống trong những điều kiện khắc nghiệt, những người phu mỏ năm xưa vẫn luôn tìm cách lưu giữ kỹ lưỡng những phong tục cổ truyền Việt Nam để rồi truyền đạt lại cho con cháu. Đó cũng là một hình thức phản kháng thụ động chống lại cách đối xử bất nhân của người da trắng theo như nhận định của một số sử gia.

« Người Việt Nam khi sang đến Nouvelle-Calédonie, trong giai đoạn đầu bắt buộc phải ở theo khu vực, từng khu mỏ. Các tỉnh xa nhau hàng 200, 300 thậm chí 400 cây số, thì ngoài tình bà con, là người Việt Nam, những người cùng quê họ quý trọng nhau lắm, như là ruột thịt. Không những tổ chức Tết của từng gia đình một, mà còn tổ chức theo nhóm, theo đoàn.

Bởi vì, còn có một chi tiết là từ năm 1946, khi được làm ăn tự do, gia đình tôi ở cùng một khu với trên một chục gia đình khác, dù không cùng quê nhưng rất gắn bó với nhau và vẫn sum họp nhau lại để mà cùng tham gia vào các hoạt động. Chẳng hạn như văn nghệ, các chị thì múa nón, cũng có đoàn múa lân, các bậc trên như cha ruột tôi có tham gia một đội tuồng.

Rất tiếc là khi đi tìm tài liệu, thì không có, vẫn chưa tìm được. Ngoài phòng lưu trữ (ở Nouméa) còn có phòng phim ảnh thì tôi lại không xem được do chỉ tập trung vào tư liệu. Nhưng các vở truyền thống mà các cụ hay nhắc đến như Phạm Công Cúc Hoa, Tình Nghĩa Bạn Bè của Lưu Bình – Dương Lễ, hay Thị Mầu Lên Chùa… »


Một buổi biểu diễn tuồng của những người Chân Đăng. © Ảnh do GS. Lê Thị Xuyến cung cấp.

Sau này, khi được tự do đi lại, chợ búa cũng đông đúc hơn. Dù sống xứ người, nhưng những nghi thức ngày Tết vẫn giữ nguyên không khí thiêng liêng. Mâm cỗ Tết của những người « Chân Đăng » ở  Nouméa trong những năm 1950 cũng thịnh soạn không kém như ở quê nhà.

« Cho đến bây giờ mấy anh em ngồi nói chuyện với nhau chúng tôi phục các cụ lắm. Không hiểu sao mà tất cả các món ăn cổ truyền dân tộc ngày Tết không thiếu món gì. Cho đến bây giờ, dù đã hơn 70 tuổi, tôi vẫn nhớ từng món ăn ba má tôi hay là sau này dượng tôi làm như bánh chưng, các món miến gà, chân giò nấu măng, bánh cuốn, rau xào với bóng, hay như má tôi còn làm món chè kho, bánh mật nữa, rất là ngon. Sau này, ở trong nước, có thể tôi chưa đi hết, chưa biết hết mọi miền, nhưng bánh mật của má vẫn có một mùi thơm dịu ngọt không thể nào quên được. Về việc tổ chức Tết thì thiêng liêng lắm. Bàn thờ gia tiên là phải sạch sẽ, chuẩn bị Tết hàng tháng trước. Bàn thờ gia tiên bao giờ cũng đủ mâm ngũ quả, các câu đối, hoa, rồi dâng các món ăn mời tổ tiên ông bà về ăn cỗ. »

Tết cổ truyền : Từ Nouméa đến Paris

Giờ sống tại Paris, nhưng giáo sư Xuyến vẫn không quên được không khí háo hức chuẩn bị đón Tết như thế nào của những người « Chân Đăng » thuở xưa. 

« Khi chuẩn bị Tết, là vì các anh phải giã giò, mỗi người một tay một chân, tức là, mấy chị em thì rửa lá, má thì đãi đỗ. Khi gói bánh, thì các cụ gói. Sau này thì các cụ truyền lại cho các con, bắt các con là phải học, tập gói bánh. Không khí ngày Tết nó lạ lắm. Ngày Mồng Một, biết chắc chắn là thế nào cũng được mừng tuổi. Không những bố mẹ mừng tuổi mà hàng xóm cũng sẽ mừng tuổi, rồi được mặc quần áo mới. »

Rồi tục nhuộm răng đen, mời trầu, 30 năm ở xứ người nhưng vẫn không mai một…

« Nói về truyền thống dân tộc, cả cụ ông lẫn cụ bà và nhất là cụ bà đều nhuộm răng đen. Suốt hơn 30 năm ở Nouvelle-Calédonie, và cho đến khi về nước, các cụ vẫn để răng đen. Khi có khách đến nhà, bao giờ cũng vậy, các cụ bà mời ăn trầu và những miếng trầu mà các cụ têm, các cụ làm cẩn thận và têm rất đẹp. Cách các cụ bổ quả cau cũng thế, rất trân trọng, rồi các bình vôi ở góc nhà ra sao. Các cụ ông thì không hút thuốc lào bằng điếu cày mà bằng chiếc bát, điếu bát. Khi khách đến nhà, các cụ mời uống nước trà ướp sen hoặc là ướp hoa nhài và cũng có khi có một cái ấm mà nếu đúng như từ các cụ ngày xưa gọi là vò trà, thì là bằng nụ vối ».

 
Múa lân ngày Tết (năm 2017) tại đại học Paris-Diderot. © Ảnh do GS. Lê Thị Xuyến cung cấp.

Câu chuyện về những người « Chân Đăng » là một câu chuyện dài nhiều đau thương, để lại nhiều hệ quả, cả về chấn thương tâm thần lẫn những chia rẽ sâu sắc trong cộng đồng người Việt Nam ở Nouvelle-Calédonie. Trong không khí ngày Tết, điều mà giáo sư Lê Thị Xuyến muốn gởi gắm là làm thế nào duy trì những nét đẹp văn hóa dân tộc cho thế hệ mai sau, nhất là cho những người Việt Nam sống nơi đất khách quê người.

Cái không khí Tết ở Nouméa khó quên đó nay đã được giáo sư Xuyến, khi còn giảng dạy truyền đạt lại cho nhiều lớp thế hệ sinh viên. Hàng năm, cũng vào dịp Tết, sinh viên Việt Học tại trường đại học Paris 7 vẫn háo hức chuẩn bị đón Tết Nguyên đán. Cũng bàn thờ tổ gia tiên, bánh chưng xanh, dưa hành tím, câu đối đỏ. Cũng những cảnh múa lân và trình diễn văn nghệ như ngâm Kiều… chỉ thiếu mỗi tiếng pháo vang rộn rã mà thôi

Xem Trên Youtube


 H.Phi chuyển

28 thg 1, 2022

TỪ ĐẦU TRĂM NĂM - Thơ Thuyên Huy


Mời Xem :Em Ở Đó Anh Nơi Này - Thuyên Huy

Tại sao ép tim thổi ngạt có thể làm cơ thể tuần hoàn trở lại?

 


Hệ thống tuần hoàn được tạo thành từ các mạch máu đưa máu đi và về tim. Động mạch mang máu đi khỏi tim và tĩnh mạch mang máu trở lại tim. Hệ thống tuần hoàn mang oxy, chất dinh dưỡng và hormone đến các tế bào, đồng thời loại bỏ các chất thải, như carbon dioxide.

Ngừng tuần hoàn là trạng thái tim ngừng cung cấp máu cho cơ thể, đặc biệt là các cơ quan quan trọng như não, tuần hoàn vành, phổi… Có 3 trạng thái cơ bản là: vô tâm thu, rung thất và phân ly điện cơ.

Ngừng tuần hoàn có thể xảy ra đột ngột với một quả tim hoàn toàn khoẻ mạnh như trong các tai nạn do điện giật, đuối nước, sốc phản vệ, đa chấn thương… nhưng cũng có thể là hậu quả cuối cùng của một bệnh lý mạn tính giai đoạn cuối như ung thư, xơ gan, suy tim, suy thận…Ngừng tuần hoàn là trạng thái tim ngừng cung cấp máu cho cơ thể.

Khi phát hiện bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn thì phải tiến hành cấp cứu ngay tại chỗ gồm 3 động tác phải làm: A (Airway: giải phóng đường thở), B (Breathing: hô hấp nhân tạo hay thổi ngạt), C (Chest compressions: ép tim ngoài lồng ngực). Câu hỏi đặt ra là vì sao ép tim thổi ngạt (còn gọi là hồi sức tim phổi, hô hấp nhân tạo) lại giúp máu tuần hoàn trở lại?

Theo tài liệu trên Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ khi hồi sức tim phổi, máu được ép từ tim vào các tuần hoàn động mạch và phổi, với sự đóng van hai lá và van ba lá, ngăn chặn dòng máu chảy ngược và mở động mạch chủ, các van phổi để đáp ứng với dòng máu đang tới. Không khí di chuyển tự do vào và ra khỏi phổi, do đó áp lực trong lồng ngực không tăng lên đáng kể và tuần hoàn phổi không bị ảnh hưởng xấu bởi ép ngực. Nhờ tác động của ép ngực, tim sẽ nạp đầy máu và không khí trở lại phổi một cách thụ động.

Nói một cách ngắn gọn, ép tim phổi giúp lưu thông máu cung cấp oxy cho cơ thể, não và các cơ quan khác vẫn sống trong khi chờ xe cấp cứu. Thường có đủ oxy trong máu để giữ cho não và các cơ quan khác sống trong vài phút, nhưng máu sẽ không lưu thông trừ khi ai đó thực hiện hô hấp nhân tạo. Phương pháp hô hấp nhân tạo không đảm bảo rằng người bệnh sẽ sống sót, nhưng có thể giúp tăng cơ hội sống sót của người bệnh nếu được bắt đầu ngay sau khi tim ngừng đập. Nếu không, chỉ cần ba đến bốn phút sau là người đó sẽ chết não do thiếu oxy.

Các bước hô hấp nhân tạo cơ bản

 

Hô hấp nhân tạo thành công nhất khi được thực hiện càng nhanh càng tốt. Nó chỉ nên được thực hiện khi một người không có dấu hiệu của sự sống hoặc khi họ:

  • Bất tỉnh
  • Không phản ứng
  • Không thở hoặc không thở bình thường (trong trường hợp ngừng tim, một số người thỉnh thoảng sẽ thở hổn hển – họ vẫn cần hô hấp nhân tạo vào thời điểm này. Đừng đợi cho đến khi họ hoàn toàn không thở).

Không cần thiết phải tìm kiếm mạch khi một người không có dấu hiệu của sự sống. Đôi khi có thể khó tìm thấy mạch của một người và có thể lãng phí thời gian để tìm kiếm. Nếu hô hấp nhân tạo là cần thiết, nó phải được bắt đầu ngay lập tức.

Các bước cơ bản để thực hiện hô hấp nhân tạo có thể được sử dụng cho người lớn, trẻ em và trẻ sơ sinh. Thông tin dưới đây chỉ là một hướng dẫn và không thay thế được cho việc tham gia một khóa học hô hấp nhân tạo.

1. Kiểm tra các mối nguy hiểm. Xem xét lý do tại sao người đó có vẻ gặp rắc rối – có mùi khí gas hay họ bị điện giật? Họ có thể bị say rượu hoặc bị ảnh hưởng bởi thuốc và do đó có là mối nguy hiểm cho bạn không? Tiếp cận cẩn thận và không đặt mình vào nguy hiểm. Nếu người đó đang ở trong khu vực nguy hiểm (chẳng hạn như trên đường), bạn có thể di chuyển họ càng nhẹ nhàng càng tốt để bảo vệ an toàn cho cả bạn và họ.

2. Kiểm tra xem nạn nhân có tỉnh táo không? Nhẹ nhàng lắc và hét vào mặt người đó, như thể bạn đang cố đánh thức họ. Nếu không có phản hồi, hãy trợ giúp.

3. Gọi số cấp cứu 115 để yêu cầu có xe cấp cứu.

4. Giải phóng đường thở. Bạn có thể nhẹ nhàng lăn người đó nằm ngửa nếu cần. Nhẹ nhàng ngửa đầu ra sau, mở miệng và nhìn vào trong. Nếu có chất lỏng và chất lạ, hãy nhẹ nhàng lăn họ nằm nghiêng. Ngửa đầu ra sau, mở miệng và nhanh chóng loại bỏ bất kỳ vật lạ nào (ví dụ như kẹo cao su, răng giả, chất nôn). Điều quan trọng là đừng để mất nhiều thời gian làm việc này, vì ưu tiên thực hiện hô hấp nhân tạo. Ép ngực có thể giúp đẩy vật lạ ra khỏi đường thở trên.

5. Kiểm tra nhịp thở. Hãy nhìn, nghe và cảm nhận các dấu hiệu của nhịp thở. Nếu người đó thở bình thường, hãy lăn họ nằm nghiêng. Nếu họ không thở, hoặc thở không bình thường, hãy chuyển sang bước 6. Người bị ngừng tim có thể thỉnh thoảng phát ra tiếng rên rỉ hoặc ngáy để cố gắng thở và đây không phải là nhịp thở bình thường. Nếu không chắc một người có thở bình thường hay không, hãy bắt đầu hô hấp nhân tạo theo bước 6.

6. Xoa bóp tim ngoài lồng ngực: quỳ gối bên trái nạn nhân. Hai bàn tay chồng lên nhau rồi để trước tim, tương ứng với điểm giữa hai núm vú hoặc khoang liên sườn 4 – 5 bên ngực trái, từ từ ấn sâu xuống khoảng 1/3 cho đến một nửa bề dày lồng ngực, sau đó nới lỏng tay ra.

Người lớn và trẻ em trên 1 tuổi, số lần ép tim trong một phút khoảng 100 lần. Trẻ dưới 1 tuổi, mỗi phút ép tim hơn 100 lần. Trẻ sơ sinh có thể phải ép tim đến 120 lần/phút.

Khi nạn nhân vừa ngưng tim vừa ngưng thở: Phải kết hợp cả ép tim với thổi ngạt, cứ 15 lần ép tim lại thổi ngạt hai lần, với trẻ sơ sinh là ba lần ép tim thổi ngạt một lần.

Sau khi bệnh nhân tự thở được cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị kịp thời.

7. Thổi ngạt: Một tay bịt mũi nạn nhân, tay kia kéo hàm xuống dưới để miệng hở ra, ngậm chặt miệng nạn nhân rồi thổi liên tục hai hơi đối với người lớn, một hơi với trẻ em dưới 8 tuổi, sau đó để lồng ngực tự xẹp xuống rồi lại thổi tiếp. Người lớn và trẻ em trên 8 tuổi, mỗi phút phải thổi ngạt 20 lần. Trẻ dưới 8 tuổi, mỗi phút phải thổi ngạt 20 – 30 lần.

Theo Khoa học