Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
4 thg 5, 2024
TIN BUỒN VÀ PHÂN ƯU : Con Trai Thầy Nguyễn Văn Lượm Tạ Thế : 01/5/2024
NHỚ CHUYỆN XƯA,NẮNG HẠ VÀ LỮ KHÁCH - Nguyễn Thị Châu
1./ NHỚ CHUYỆN XƯA
Chiếc bóng bên thềm vọng cố hương
Nhớ về quê cũ dạ vấn vương
Ra đi là rất nhiều nhung nhớ
Bỏ lại sau lưng những tình thương
Ba mươi năm, lái đò đưa khách
Thăng trầm biến đổi theo thời gian
Vẫn vững tay chèo theo giông tố
Đưa các em về bến bình an
Đời giáo viên rất nghèo, rất khổ
Khoai sắn độn cơm, qua tháng ngày
Quần áo tả tơi, không đủ mặc
Đàn con nheo nhóc, với rổ khoai
Khổ quá đành bỏ quê đi mất
Giờ ngồi đây nhớ chuyện qua rồi
Quê hương ơi! Tôi luôn nhớ mãi
Ngôi trường xưa, mái đỏ tường vôi….!!!
24-4-2024
Nguyễn thị Châu
2./ NẮNG HẠ VÀ LỮ KHÁCH
Chuyển mùa sang nắng Hạ
Lung linh cánh Phượng hồng
Bay phất phơ trước gió
Sao đời mãi long đong
Chiều nay cơn nắng Hạ
Còn xót sợi tơ vàng
Trên đầu cây, ngọn cỏ
Sao ta còn lang thang
Hoàng hôn chiều nắng Hạ
Nhuộm tím một góc trời
Mây bay, bay thong thả
Ta nhìn áng mây trôi
Cầu cho mưa rơi xuống
Tưới mát cánh đồng khô
Hồi sinh loài hoa dại
Cho cây trái cậy nhờ
Bấy lâu cơn nắng Hạ
Chờ ngọn gió trên cao
Mát lòng người lữ khách
Trở lại từ nơi nào????
1-5-2024
Nguyễn thị Châu
Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng tượng - Nguyễn Tường Giang
Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng tượng
Nguyễn Tường Giang
(con trai Thạch Lam)
Chết là giải thoát một đời. Chết là đầu bên kia của sợi dây ngày tháng. Một sớm kia, một tối nào. Tôi hay anh, cũng thế. Bên kia cái chết là nội cỏ ngàn cây hoa mộng hay bên kia cái chết là thảng thốt khổ đau. Tôi đã nhìn thấy nhiều cái chết, nhiều khuôn mặt chết. Quá nhiều. Nhưng không bao giờ, mãi mãi, tôi có thể hình dung được một cái chết, một khuôn mặt chết thân yêu
nhất và buồn bã nhất của đời tôi. Cái chết của cha tôi. Thạch Lam. Người văn sĩ tài hoa ấy đã chết quá sớm. Ông chết như thế nào, có thể mẹ tôi, bà nội tôi, một vài người bạn của ông và người em ruột của ông biết rõ. Mẹ tôi cũng đã kể cho tôi, bà tôi cũng đôi lần mơ màng nhắc lại,một đoạn văn đã viết. Nếu muốn xác thực hơn, người chú tôi chưa một lần gặp mặt, còn sống
ở một tỉnh Trung-hoa giáp ranh biên giới Việt-Nam, hẳn tôi có thể viết thư hỏi rõ và cặn kẽ.
Nhưng không bao giờ tôi muốn thế. Bởi vì, đối với tôi Thạch Lam êm dịu quá, nhẹ nhàng quá và nói hay nghĩ tỉ mỉ về cái chết của ông tôi không thể không có một chút đau đớn trong lòng.
Sự ra đời của tôi, một đứa con trai, là tai họa cho ông. Một người đoán số tử vi nào đó, năm 1942, khi mẹ tôi đang mang thai, đã nói nếu sanh con trai người cha sẽ chết. Khi mẹ tôi đi sanh, cha tôi đang đau nặng. Ông đau bệnh gì: bệnh lao vì làm việc và suy nghĩ nhiều, ý chí muốn dứt bỏ cái thú phù dung, hay tại số. Tôi không thể định rõ được. Lúc người nhà về báo
với ông đứa trẻ mới sinh là con trai, ông không nói gì, lặng lẽ coi tiếp tờ báo đang xem dở. Ba ngày sau, ngày 27-6-42, Thạch Lam mất. Sinh ra đời, buồn thay, nhiều khi đã mang một bản án sát nhân trong hồn.
***
Cao hơn một thước bảy mươi. Mắt sâu và buồn. Buổi sáng lặng lẽ đội chiếc mũ phớt lên đầu, tay cầm vài cuốn sách để đi đến tòa báo. Thạch Lam. Ông rất ít khi uống cà phê ở ngoài, và vì thế mẹ tôi là người pha cà phê ngon nhất họ. Ðôi khi nhà hết cà phê, người nhà lỡ mua về một ly cà phê nguội, ông bắt đổ đi. Ăn ít và nhỏ nhẹ như một con mèo, bát đũa phải thật sạch và
đẹp. Ông ăn nhẹ nhàng và ít nói. Mẹ tôi nấu cơm rất ngon. Bà đã chết, nhưng mỗi khi Ngạc, Thế-Uyên và tôi tụ họp ăn cơm tại nhà một người trong bọn theo thông lệ, chúng tôi không thể không nhắc tới những chén cơm bà nấu cho chúng tôi ăn ngày bà còn sống. Thạch-Lam buổi tối đi chơi thật khuya, gần như mọi tối nhưng không bao giờ ông say rượu trở về. Tôi hồi còn nhỏ thường hỏi về quán nước cô Dần, về những đêm cha tôi đi suốt sáng không
về, mẹ tôi chỉ cười. Quán nước cô Dần bà cũng biết và chuyện người chồng đi suốt sáng bà quen đi rồi. Thạch-Lam ít tiếp khách, buổi trưa ông thường nằm trong nhà, khách không quan trọng đến chơi ông nói người nhà ra xin lỗi, có gì cần thì viết vào một cuốn vở để sẵn trên bàn.
Sau này, khi mới vào Nam, tôi cùng mẹ tôi đến thăm chú Ðinh Hùng - thi sĩ Ðinh Hùng vẫn coi cha tôi như anh em - tôi cũng phải viết giùm mẹ tôi trên tập vở ngoài phòng khách và thoang thoảng bay trong buổi sáng hôm đó, tôi ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt của một loại thuốc đen.
***
Vào mùa hạ, khi những cơn gió Lào nóng nhất đã thổi về Hà-nội. Trời cao và trong. Trời xanh và gió nhẹ. Buổi chiều, Thạch-Lam ngồi câu những con cá mát rượi nước hồ Tây, những con tôm tươi trong suốt còn lóng lánh những giọt nước đọng trên mình. Ông ngồi lặng lẽ trên một gốc cây lớn, đã gẫy. Nhìn mặt hồ gợn sóng rung rinh ánh mặt trời chiều. Ðôi khi Nhất-Linh
Nguyễn-Tường-Tam, người anh ruột, người trưởng nhóm, đến nhắc nhở ông về một truyện ngắn ông hứa viết. Nhưng những ngày hè nóng quá ông đã viết đâu. Lại hẹn thêm một lần nữa.
Nghĩ đến buổi tối rủ năm ba người bạn, bầy bàn dưới gốc liễu, ăn cái nguyên thủy của đất trời, nhấp những giọt rượu tinh túy và thơm ngát, bàn về chuyện văn chương thời thế. Hẳn tối nay anh cũng động lòng muốn sống thêm một ngày.
Thạch-Lam, người chỉ cần cái phẩm hơn cái lượng. Văn chương và đời sống ông tinh tế, nhẹ nhàng quá. Người yêu hoa cẩm chướng, viết văn thật sớm vào buổi sáng, dạy học thêm một tuần đôi ba giờ, đến tòa báo vào những giờ đẹp nhất trong ngày. Ông thích thơ Nguyễn Nhược Pháp, yêu văn Nguyễn Tuân. Người văn sĩ tài hoa của dĩ vãng đã tặng ông một chiếc ấm gan
gà và một bộ đồ trà, ngày nay tôi chỉ lâu lâu nhìn và ngắm nghía trong những lần dọn nhà. Hỡi ơi, giữa thời đại này một chiếc ấm trà đã lạc lõng, huống chi một chiếc ấm gan gà của một tình bạn cố tri. Thạch-Lam cũng có làm thơ, góp phần khá nhiều vào bài “Tương Biệt Dạ” của Huyền-Kiêu. Thi sĩ Ðinh Hùng - những bài thơ trác tuyệt của mùa thu - đã khóc khi đưa quan tài
ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Ðêm nào tôi mộng buồn riêng gối, Anh đã nằm yên dưới mộ hoa. Nghe tin Thạch-Lam chết, Thanh-Tịnh một sớm nào đã đáp xe từ Nghệ-an ra Hà-nội, thắp trước bàn thờ người bạn tâm giao ba nén hương, nhỏ những giọt nước mắt chân tình nhất rồi lại tất tả trở về. Hàng năm cứ vào cuối thu...
***
Trời mấy hôm nay lạnh, ảnh hưởng của một cơn bão rớt hay đất trời cũng cảm thông với con người buồn bã của những ngày cuối năm 71. Chỉ biết ra đường đã phải mặc len. Những người trên dưới ba mươi đã một lần dời quê hương miền Bắc, không hẹn mà ùa ra ngoài đường, tìm đến gần nhau, nghe tiếng nói của nhau, nhắp một ly cà phê đen, phà một hơi thuốc hôm nay
sao ngọt ngào đến thế. Họ đi trên đường âu yếm, chiếm hết các quán cà phê đẹp, thì thầm thủ thỉ nhắc đến những kỷ niệm ấu thơ. Tôi cũng thế, cũng phải ra khỏi nhà, lên phố, vào một quán cà phê quen thuộc, ngó những chiếc áo len ấm cúng, mầu nâu non, mầu trắng sữa, mầu xám trời đông, mầu vàng lá rụng. Tôi ngồi với người bạn hiền dịu miền Trung, nói chuyện về mùa
thu và Thạch-Lam. Chúng tôi cùng yêu cái nhẹ nhàng êm dịu của “Dưới bóng hoàng lan,” cái ấm cúng gia đình của “Gió lạnh đầu mùa.” Chúng tôi nhắc đến một Cô áo lụa hồng nhí nhảnh
đáng yêu và riêng tôi cũng vì hôm nay trời đẹp quá phải ngượng ngùng nghĩ mình đôi lần cũng chỉ còn cách một Sợi tóc là sa chân. Còn anh, có phải anh đôi lần cũng buồn nhè nhẹ với một mối Tình xưa. Tôi kể cho bạn tôi nghe những năm trẻ thơ chạy loạn. Dời Hà-nội trên một chiếc thúng, tôi còn nhỏ quá và chiếc thúng nhẹ lắc lư trên bờ đê ào ạt gió. Tôi kể cho bạn tôi nghe
những ngày mùa đông tôi đứng ngoài ngõ đón mẹ và chị đi chợ về ở một vùng quê Nhã-nam nào đó, một thiên đường trong trí nhớ. Những ngày đi mót lúa dưới bầu trời hiu hắt của mùa thu, phía xa kia là một khu rừng lau trắng xóa chuyển động dịu dàng như những đám mây nhẹ bay. Tại sao tôi lại nhớ đến những kỷ niệm đẹp như thế trong khi đối với người khác có thể là
khổ đau và uất hận. Bởi vì, không giải thích được, tôi đã là con của Thạch-Lam. Tôi đã học những chữ đầu tiên trong một ngôi đình nhỏ, dưới bóng cờ đỏ. Tôi đã ngồi cạnh những anh du kích với một khẩu súng trường đòi bắn máy bay. Tôi đã chạy trốn lính Tây càn quét trong những khu rừng lau. Tôi thường theo anh tôi, hơn tôi ba tuổi, vào rừng tìm những cây nhót trái
mọng nước và đầy bột để chùi lên áo len, giấu một quả mít trong bụi cây chờ mai chín đến ăn hay hì hục chạy kiếm đá sỏi để bắn một con chim nhiều mầu sặc sỡ trên bụi ruối dầy đặc. Hồi đó chúng tôi ngây thơ quá, không hiểu mình đang sống giữa một miền đất thù. Hồi đó, vì ảnh hưởng của Nguyễn Tường Tam - Việt Minh đang lùng kiếm - mẹ tôi phải đốt và chôn vùi tất cả
những hình ảnh của gia đình. Những hình ảnh của cha tôi, bác Tam, và các bạn văn nghệ của ông, một vài cuốn bản thảo, cuốn sách kỷ niệm có thủ bút của Nguyễn Tuân, Nguyễn Nhược Pháp, các hình ảnh đám tang cha tôi chạy dài trên đường Quan Thánh - số 80 - cơ sở của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn. Mẹ tôi phải giấu hết dĩ vãng, đổi chữ đệm chúng tôi là Nguyễn Thạch -
Nguyễn Thạch Giang - tên tôi đầu tiên trên cuốn vở vỡ lòng, và đó là, hỡi ơi, những ý thức chính trị đầu tiên trong đời đã ám ảnh tôi tới bây giờ. Tôi vẫn tự hỏi tại sao Thạch-Lam không tham dự một hành động chính trị tích cực nào. Trong khi bác Tam, nửa đêm ghé qua nhà, uống một ly cà phê mẹ tôi pha, bàn cãi với người em một vài chuyện về báo chí rồi vội vã vượt biên
giới qua Tầu, bác Long bị mật thám Tây bắt và treo lên sà nhà bằng hai ngón tay cái, Thạch-Lam phải chạy trốn suốt đêm ngoài nghĩa địa. Nhưng sau đó ông vẫn chỉ nhận trông coi tờ báo và viết những bài văn nhẹ nhàng. Có phải chăng - ông là sợi tơ giăng giữa một trời bão táp.
***
Cách đây khoảng hai ba năm, sau một tuần nghỉ ngơi ở Ðà-Lạt trở về, tôi, Thế-Uyên và vài ba người bạn có ý định thành lập một nhóm văn hóa. Vợ tôi giết hai con gà nhà nuôi, mua thêm ít giò chả đặc biệt và chúng tôi tổ chức một bữa ăn họp mặt tại nhà - chúng tôi vẫn cảm thấy đậm đà, dễ bàn cãi và nói chuyện với các thức ăn ngon, gợi một chút xa xưa khi còn bé gặp nhau
trong các buổi giỗ Tết. Chiếc bàn tròn được kê dưới những cành mận đầu mùa, lâu lâu một cơn gió nhẹ làm rơi đôi ba cánh hoa sắp kết thành trái. Bữa cơm ăn xong chúng tôi kê một ít ghế bành cũ, pha cà phê trên một mặt bàn thấp hơn, yên lặng hưởng cái thú êm ả của trời đêm. Gió thổi nhẹ, trời trong và cao. Chúng tôi bàn về sự thất bại của những năm qua khi làm tờ báo
quay tay, tự hỏi lý do và phương thức làm việc của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn và phác thảo một đường lối làm việc mới. Chúng tôi thảo luận về những kinh nghiệm cũ, bàn cãi các dữ kiện cần thiết cho một tổ hợp xuất bản. Ðêm càng khuya, những tiếng nói cũng to hơn và gay gắt hơn.
Thế-Uyên nổi giận, nóng tính và bỏ về. Nhưng việc đó đối với vài người chúng tôi đã quá quen,vài ngày sau hay có thể ngay sớm mai, Thế-Uyên lại cùng chúng tôi uống cà phê và quên chuyện cũ - bởi vì trước tiên chúng tôi đã là những người bạn của nhau. Khi mọi người về hết,
buổi họp đã không thành công ở một phương diện nào đó. Thái-Lãng và Kỳ ở lại cùng tôi. Ðêm hôm đó chúng tôi ba người thức suốt đêm ở ngoài trời, pha thêm cà phê và tâm sự cùng nhau.
Thái-Lãng hăng say nói những dự tính của anh - lần này về Ðà-Lạt phải làm thêm một khu vườn hoa phía sau nhà, trồng vài luống cúc vàng hay hồng nhung đỏ thắm, buổi chiều ngồi trong chiếc ghế mây, hút pipe, nhắm chút rượu mạnh và ngó đằng xa đồi núi cỏ cây trong hơi lạnh của một ngày giáp Tết. Lãng cũng kể cho tôi và Kỳ nghe một vài truyện ngắn dự tính viết
trong thời gian sắp tới. Cuốn bút ký của Lãng, tập thơ của tôi và Ngạc, một tập đoản văn của Thế-Uyên đã bị bộ Thông Tin cấm. Chúng tôi không làm gì được về văn hóa. Chúng tôi đã bị ngăn cản. Tôi chợt có ý nghĩ về nhóm Tự Lực Văn Ðoàn. Họ làm nếu có thể gọi là thành công thời đó, phải chăng vì hoàn cảnh Pháp thuộc tự do và rộng rãi hơn? Họ đoàn kết hơn hay họ
khôn khéo và gặp may hơn ? Tôi không thể có một câu trả lời rõ rệt. Chúng tôi lạc quan nghĩ rằng muốn thành công phải chịu khó chờ đợi thêm, kể cả sự đoàn kết cũng thế. Kỳ đưa ra ý tưởng về sự khác biệt giữa những năm ba mươi sáu mươi và mỉa mai: ít ra bọn Pháp cũng có truyền thống văn hóa cao trên thế giới. Tôi ngậm ngùi tưởng tượng cảnh các chú bác, cha tôi
và bạn hữu ngồi với nhau phác thảo kế hoạch. Họ có bàn cãi như chúng tôi, hăng say hơn chúng tôi, Thạch-Lam chắc cũng chỉ ngồi yên lặng, mơ màng. Ðốãi với ông chỉ có văn chương là đáng quí. Ông yêu văn chương cũng thầm lặng và nhẹ nhàng như ông viết. Tôi nhớ tới lời người bạn miền Trung dịu hiền: góp phần vào văn chương không phải chỉ có những tác phẩm
ồn ào, tiếng tăm - văn chương còn được xây dựng vững vàng và yêu quí hơn bởi những tác phẩm nhẹ nhàng thầm lặng. Sớm hôm sau, khi mặt bàn và các ly cà phê được phủ đầy bởi những cánh hoa, chúng tôi phủi những cánh hoa bám trên tóc và trên quần áo, cùng đi đến một quán nhỏ đầu đường uống ly cà phê đầu ngày. Một sớm mai nào cũng gợi cho con người đôi
chút lạc quan về tương lai. Tôi cũng hy vọng một ngày nào đó, gần đây, chúng tôi sẽ cùng ngồi lại với nhau, như ngày xưa chú bác tôi, cha tôi và các bạn hữu đã làm.
***
Mẹ tôi mất đã gần hai năm, vào một ngày giáp Tết. Sợi dây liên lạc thân yêu giữa chúng tôi và Thạch-Lam bị đứt đoạn hoàn toàn. Còn đâu những ngày chúng tôi cùng ngồi ăn với bà, khi gắp một món ăn ngon bà nói: ngày xưa cậu mày còn ăn cầu kỳ hơn nhiều. Khi đi chơi khuya về nhà, nhè nhẹ chui vào giường ngủ, sớm hôm sau thức giấc bà đã pha một ly cà phê phin đen
sánh và thơm ngát: thật giống cha mày như đúc, đêm nào đi cũng tới sáng mới về. Chúng tôi làm cái gì bà cũng coi như chuyện thường. Bà bình thản khi tôi nói với bà về kết quả kỳ thi năm vừa qua và tôi đậu đầu: ngày xưa cậu mày 16 tuổi đã đậu Tú Tài. Ngày xưa cậu mày thông minh nhất nhà. Ngày xưa... ngày xưa...
Ngày xưa... Căn nhà ở Cẩm-giàng nơi có những đóa hải đường ven con đường lát sỏi vào nhà, có những cây khế trong vườn lâu đời đến nỗi chúng tôi có thể trải chiếu nằm và há miệng cắn những trái thấp nhất, có một bụi ổi ở cuối vườn. Căn nhà cha tôi, các chú bác hàng năm từ mọi
nơi về giỗ Tết. Có một đêm 30 nào, Xuân-Diệu ngồi canh bánh chưng và sau khi ăn chiếc bánh nóng hổi đầu tiên vớt trong nồi ra, ông lại cùng Huy-Cận lên đường vào Trung. Tôi nhớ con đường xe lửa chạy ngang nhà trước khi vào ga. Buổi chiều ngồi ngắm người bẻ ghi in bóng trên nền trời vàng nhạt, nghe tiếng pháo báo hiệu nổ dưới bánh xe và dưới bầu trời con bay
đầy khói tầu, chúng tôi tranh nhau chạy ra lấy chiếc pháo đã bị kẹp mỏng như một lưỡi dao.
Dĩ vãng bao giờ cũng đẹp. Chúng tôi đã trên dưới ba mươi và một thế hệ đã trôi qua. Năm nay là cái Tết thứ hai chúng tôi không có mẹ bầy một mâm cỗ cúng Thạch-Lam, không tự tay bà cắm những bông cẩm chướng mầu hồng trên bàn thờ và ngồi nhắc lại một vài kỷ niệm về người chồng chết quá sớm. Nơi nghĩa trang chùa Giác Minh, bà nằm chung với bà nội chúng
tôi, bác Tam, bác Hoàn chồng cô Năm và một người cháu ruột chết trận. Ba thế hệ của dòng họ đều nằm êm ả trong hương thơm của nến nhang, phần đất hiền lành của Phật. Bên chùa, một cây ngọc lan cao và đầy bóng mát, ngày xưa me tôi mỗi lần đi thăm mộ bà nội vẫn thường xin
một hai bông hoa đầu mùa về xếp lên bàn thờ Phật. Ðôi khi tôi tự nghĩ chúng tôi lưu lạc như những người Do-Thái: Ngôi nhà từ đường ở tỉnh Quảng-Nam nghèo nàn và anh dũng, căn trại nhỏ ở Cẩm-giàng nơi nuôi dưỡng che chở Nhất-Linh, Hoàng Ðạo, Thạch-Lam và thế hệ chúng
tôi đang xây dựng cho tương lai ở Sài Gòn và các tỉnh miền Nam. Tôi vẫn mong một ngày nào hết chiến tranh để có thể đưa các con tôi đi thăm, vào một ngày cuối tháng chạp, từ ngôi mộ của bà nội chúng nơi hiền hòa cửa Phật, ngôi nhà Từ đường miền Trung xa xôi, và buổi chiều nhặt cỏ trên ngôi mộ Thạch-Lam, ông nội chúng. Phần mộ đó nằm hiu quạnh trong nghĩa trang Bạch Mai vùng ngoại ô Hà-nội, - nơi nếu không bị phá hủy, hẳn bây giờ đêm ngày chỉ vang vọng tiếng máy bay.
11-1971
3 thg 5, 2024
CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/5/2024 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
Chữ nghĩa làng văn
“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô
đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào
đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới
của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc
nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề
mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải
thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến
súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết
kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy
người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có
thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ
và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này,
nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh
ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.
***
Nguồn gốc và ý nghĩa của chiếc áo cà-sa - 1
Chiếc áo cà-sa của người tu hành không phải là một hình thức
để tạo ra ảo giác, không dùng để loè mắt những người thế tục.
Chiếc áo cà-sa là biểu tượng của những gì khiêm tốn, đơn sơ và
tầm thường nhất. Nhưng đồng thời, chiếc áo cà-sa cũng là biểu
tượng của đạo Pháp, do đó cũng tượng trưng cho những gì cao
cả, vượt lên trên sự hiểu biết quy ước của chúng ta.
(Hoàng Phong)
Hai cô hàng đầu tiên của làng Tân nhạc Việt Nam
Khi nhắc “Cô hàng nước”, nhiều người thường nhớ tới Sỹ Phú
bởi tông giọng nhẹ, nhung mềm, gần như thủ thỉ mà cũng hết sức
hào hoa, lôi cuốn nhưng tôi (Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương)
vẫn thích chính Vũ Huyến thể hiện ca khúc này hơn. Lần đầu tiên
nghe, có cảm giác như ông đang khề khà kể chuyện tình bằng hơi
men, cứ gà gật, lắc lư theo dòng hoài niệm, mỗi câu phát ra tựa
như động tác ngửa cổ dốc một ngụm rượu cay vào lòng; thậm chí,
ngay cả đoạn “Tình tính tang, tang tính tình…” có vẻ rộn ràng,
tươi vui thì vẫn là cái lắc lư của hơi men, của lòng người đang
chao đảo nhung nhớ. Thỉnh thoảng, người hát ngồi đờ đẫn, ngây
dại, vừa khít các đoạn lặng im lìm của ca khúc. Những lúc như
thế, hơi phát ra từ giọng ông như đang bay theo hơi rượu phảng
phất cay cay, nồng nồng như buồn buồn, nhớ nhớ.
Trên nền nhạc lắc lư đủ cung bậc, chân dung cô hàng xuất hiện:
“Tôi kể rằng đầu làng Ngũ Xá có nàng
Một nàng bán nước chè xanh
Người đâu trông mà duyên dáng
Và cô em chừng đôi tám…
(Nhạc sĩ Lê Văn Thương)
Nguồn gốc và ý nghĩa của chiếc áo cà-sa - 2
Ngày nay, nhiều tu viện lớn ở Miến Điện vẫn còn giữ được truyền
thống thật xưa, theo đó các nhà sư phải tự đi nhặt những mảnh
vải vụn, những tấm khăn đắp hay liệm người chết vứt bỏ ở những
nơi hỏa táng, nghĩa địa hay những đống rác, rồi đem về tự mình
chắp nối và may lấy áo để mặc.
Mỗi người chỉ được phép có ba chiếc áo như thế, thêm một bình
bát. Đến đôi dép cũng không có, họ đi chân đất.
Theo tôi nghĩ có lẽ đây là truyền thống rất lâu đời, từ thời của
Phật. Nhưng trên thực tế, ngày nay chiếc áo cà-sa đã biến đổi ít
nhiều tùy theo phong thổ, tập quán, chủng tộc, học phái…Nhưng
dù cho có biến đổi, chiếc áo cà-sa vẫn giữ được ý nghĩa nguyên
thủy của n : sự đơn sơ, khiêm nhường.
Trong bài viết này tôi sẽ lần lượt chọn hai thí dụ điển hình, một
thuộc Nam tông và một thuộc Thiền học của Bắc tông đề trình bày
những biến đổi từ quan niệm đến hình thức của chiếc áo cà-sa,
và sau đó sẽ lạm bàn xa hơn về ý nghĩa của chiêc áo ấy.
(Hoàng Phong)
Lan man chuyện “Họ”…và tên - 1
Việc đổi họ cổ kim còn vô vàn lý do. Nhà thờ họ Bùi ở một làng nọ
thờ ông Tổ là... Trần Thủ Độ. Không phải vì “thấy người sang bắt
quàng làm họ”, mà họ Bùi làng ấy tôn thờ ông đâu. Ông chính là
ông Tổ của dòng họ Bùi ấy đấy.
Nhưng Trần Thủ Độ họ Trần. Cớ sao lại là ông Tổ của họ Bùi?
Người viết bèn đem điều thắc mắc ấy hỏi một cụ cao tuổi họ Bùi.
Té ra họ Bùi làng ấy vốn gốc từ họ Trần thật. Vào thời xa xưa,
trong họ sinh chuyện bất hoà. Một nhánh của họ Trần bèn tách ra
lập họ riêng, song vẫn không muốn cho con cháu quên cái gốc (là
họ Trần) của mình. Các cụ thời ấy đi từ nghĩa Nôm của chữ
“Trần”. Trần nghĩa là... ở trần, là không mặc áo. Không mặc áo thì
là phi y (không áo). Chữ phi (非) và chữ y (衣) ghép lại thành chữ
Bùi (裴). Thế là được một cái tên họ. Trần = phi + y = Bùi.
(Phạm Lưu Vũ)
Lưng chữ cụ, vú chữ tâm - 1
Tiểu thuyết “Một trăm và chín chín” (Trần Chiểu) viết: “Cụ Cố khen
tôi “lưng chữ cụ, vú chữ tâm”, hai núm như hai hột đào tơ, mắn
đẻ, khéo nuôi con, cụ muốn lấy tôi làm vợ bé...”.
Từ điển tục ngữ Việt (Nguyễn Đức Dương) giải thích: “Lưng chữ
“cụ”, vú chữ “tâm”: Lưng hơi gù như dáng chữ “cụ” (chữ Hán) và
vú hơi bầu như dáng chữ “tâm” (chữ Hán) là hai nét hay gặp ở
các cô gái mắn đẻ và khéo nuôi con.
Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Vũ Dung): “Lưng chữ cụ,
vú chữ tâm (Lưng gù chữ cụ, vú lồi chữ tâm).
Lưng gù chữ cụ: lưng cong hình chữ cụ. Vú lồi chữ tâm: vú to,
nhọn, không chảy sệ, như hình chữ tâm - tiếng Hán. Một kinh
nghiệm xem tướng: vú như vậy là người lắm con.
(Hoàng Tuấn Công)
Lan man chuyện “Họ”…và tên - 2
Về sự cải họ như Trần thành Bùi, như họ Mạc. Sau khi Trịnh Tùng
(con thứ của Trịnh Kiểm) phò vua Lê dẹp tan nhà Mạc, lập ra triều
đại gọi là Lê Trung hưng. Triều đình Lê Trịnh bắt đầu cuộc khủng
bố đại quy mô nhà Mạc. Họ Mạc chạy tứ tán khắp nơi, phải thay
tên, cải họ để tránh những cuộc truy sát. Tuy nhiên, để ngầm
nhắc cho con cháu sau này không quên cái gốc (là họ Mạc) của
mình, các cụ Tổ Mạc thời ấy quy ước với nhau giữ lại bộ thảo đầu
(艹) trong chữ Mạc (莫), thành ra các dòng họ Phạm (范); họ
Hoàng (黄)... mà chữ viết đều có bộ thảo đầu ấy.
(Phạm Lưu Vũ)
Lưng chữ cụ, vú chữ tâm - 2
Lê Gia đưa ra dị bản “đặc biệt” hơn: “Lưng chữ cú (句) vú chữ
tâm”. Nghĩa câu: Lưng hơi cong gù như hình chữ cú (句) có nét
chính hơi cong như cái lưng gù. Hai vú xệ xuống như hình chữ
“tâm” (心) có nét chính cong vòng xuống như quả mướp cong, gọi
là “vú quả mướp”. Đây là nói về tướng người phụ nữ có hình
dáng hơi xấu nhưng mắn đẻ”.
Cứ theo đây, thì cô gái “Lưng chữ cụ, vú chữ tâm” chẳng có gì
đặc biệt, ngoài cái lưng gù và cặp vú “bầu bầu”, mắn đẻ, khéo
nuôi con. Như vậy thì có gì là đẹp?!
Theo chúng tôi, đã có sự hiểu lầm.
Phép xem “tướng lưng” (bối tướng 背相) cho rằng người mạnh
khỏe hay bệnh tật; phú quý hay bần tiện; trường thọ hay yểu
mệnh, đều biểu hiện qua tấm lưng. Lưng là “nền móng” của thân
(bối vi thân chi cơ chỉ 背為身之基祉).
Sách tướng pháp “Nhân luân đại thống phú” của Trương Hành
Giản viết: “Lưng phải đầy đặn làm chỗ dựa yên ổn cho thân. Lưng
rộng, đầy đặn, cân đối thì được hưởng phú quý.”
Nếu lưng mà cong vậy, thì nghèo, chết non, hoặc tuyệt tự
(Hoàng Tuấn Công
Chữ nghĩa làng văn xóm chữ
Cô gái đầu lòng của cô Tố, tạm gọi tên là Nhất, yêu một sinh viên
“quyết tử” của phong trào Phật giáo đấu tranh miền Trung, lập tức
sóng gió nổi lên trong gia đình, dĩ nhiên vì ông bố không chịu. Tôi hỏi
Nhất khi cô nàng đến thăm vợ chồng tôi ở Sài Gòn: “Thế cô cậu tính
sao?”. Nhất cười ngỏn ngoẻn: “...thì em chui hàng rào ra, chứ sao! Hai
đứa bàn tính bắt chước anh chị ở Sài Gòn, cứ có bầu đại đi, là bố phải
cho cưới.” Mọi sự diễn ra đúng như vậy và đôi trẻ cũng thuê một căn
nhà gỗ giản dị cuối cư xá để cô Tố. dễ trông cháu. Lực là sĩ quan cảnh
sát dã chiến. Sau tôi nghe biết là về gia cảnh của Lực không mấy vui:
Lực không thuận hoà với gia đình bên vợ, nhất là bà mẹ vợ. Chuyện
thường tình thôi. Bởi thế một buổi sáng tôi đang ngồi đánh máy bài
văn bỗng nghe tiếng chân dồn dập ngoài đường, tiếng đàn vừa khóc
vừa gào: “Thằng Lực bắn chết mẹ tôi rồi, bà con ơi...”.
Cô Tố nằm ngã ngửa sau chiếc ghế đẩu bị đổ, hai mắt nhắm lại như
ngủ, một viên đạn nhỏ xuyên gọn gàng qua cổ. Tôi biết là cô đã chết
rồi, êm ái. Tôi tiến sang phía Lực nằm nghẹo đầu tan hoang vào vách
gỗ. Tôi cúi xuống Lực hai mắt đã khép nhưng còn ngáp vài cái cuối
cùng. Khẩu súng colt rouleau lăn lóc cạnh tay. Tôi quơ vài miếng vải
lớn, phủ lên cô Tố, thế là xong điều cuối cùng có thể làm cho cô.
(Nàng Tố của Vũ Hoàng Chương – Thế Uyên)
Mộng
Hôm qua mộng lại thật gần
Đừng lay tôi nhé hồng trần mong manh
Vũ Ánh: Người cuối cùng rời khỏi tàu - 1
Vũ Ánh nằm trong số rất ít cấp chỉ huy không bỏ công việc, không
bỏ anh em, nhân viên, ở lại nhiệm sở đến giờ cuối cùng. Khi miền
Trung thất thủ, anh đã cùng chúng tôi nghe qua máy liên lạc giai
tần đơn với Đài Phát thanh Đà Nẵng, tiếp nhận những lời tạm biệt
nghẹn ngào của Quản đốc Huỳnh Quy, báo cáo địch đã vào đến
hàng rào. Là người nắm vững tình hình – một bình luận gia sắc
sảo, Vũ Ánh hẳn biết kết thúc thế nào nhưng anh vẫn bình thản
chờ nó đến cùng các đồng sự. Giờ chót, điều khiến anh bận tâm
là số phận của ba phóng viên trẻ, nếu tôi nhớ không lầm là Hoàng
Hà, Nguyễn Thanh Nghiệm.
Bên ngoài dẫu hỗn loạn, Vũ Ánh vẫn hiện diện để điều phối công
việc. Khi chúng tôi thực hiện cuộc trực tiếp truyền thanh cuối cùng
từ Dinh Độc Lập vào trưa ngày 28/4/1975, tường thuật lễ “trao
nhiệm” giữa Tổng thống Trần Văn Hương và Đại tướng Dương
Văn Minh. Vũ Ánh vẫn ở tại Đài vào buổi chiều 28/4/1975 khi máy
bay đã oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất. Vũ Ánh là cấp chỉ huy
duy nhất đã cử các phóng viên trẻ Lê Phú Bổn, Nguyễn Vĩnh Lộc
cùng chuyên viên kỹ thuật đi thực hiện những cuộn băng cuối
cùng, thu lời cụ Nguyễn Văn Huyền, Gíao sư Vũ Văn Mẫu trong
ngày 29 tháng 4. Sau này, tôi được các bạn trẻ kể lại, cho đến
trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Vũ Ánh và nữ phóng viên trẻ Yến
Tuyết, người 17 năm sau trở thành bạn đời của anh vẫn đứng
bên ngoài vòng concertina, nhìn những người đeo băng đỏ tiến
vào trụ sở Đài Phát thanh Saigon.
Vũ Ánh là người cuối cùng rời khỏi con tàu của mình.
(Nguyễn Mạnh Tiến cựu Phóng viên Đài Phát thanh Sài Gòn)
Đạo
Đạo khả đạo, phi thường đạo.
Vũ Ánh: Người cuối cùng rời khỏi tàu - 2
Từ năm 1964, ông làm phóng viên chiến trường, dần dần lên đến
Chánh sự vụ Sở Thời sự Đài Phát thanh Sài Gòn , một chức vụ
khiến ông bị bắt và bị giam trong trại cải tạo suốt 13 năm. Ngay cả
trong thời gian tù, ông cũng làm được một tờ báo chui tên Hợp
Đoàn, bằng cách cắt ra từ một tờ báo từng chữ cái một, gom lại
và dùng chúng để dán thành báo!
Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1992, ông làm việc cho nhiều cơ quan
truyền thông khác nhau. Khi làm việc tại nhật báo Người Việt, ông
đảm nhiệm vị trí Tổng Thư Ký, sau đó là Chủ Bút. Ngoài ra, ông
từng cộng tác và là trụ cột của nhiều cơ quan truyền thông Việt
ngữ tại Quận Cam, trong đó có nhật báo Việt Herald, đài truyền
hình SBTN . Ông được xem là nhà báo mẫu mực, có kiến thức
thâm sâu, và là người cương trực, thẳng thắn và tôn trọng sự
thật, không hùa theo đám đông, nhưng rất thân thiện với đồng
nghiệp, bằng hữu, và có tinh thần nâng đỡ đồng nghiệp trẻ tuổi.
Vũ Ánh tên thật Vũ Văn Ánh sinh ngày 5 tháng 5 năm 1941 tại Hải
Phòng . Ông là nhà báo kỳ cựu của làng báo Việt Nam trước năm
1975 cũng như tại Quận Cam từ khi ông sang Mỹ theo diện
H.O. vào năm 1992. Trong 50 năm trời, từ khi mới ra đại học năm
23 tuổi, ông liên tục làm báo cho tới giờ phút chót. Bài báo cuối
cùng, Hà Nội vẫn chưa đủ niềm tin cởi trói báo chí, được viết chỉ
khoảng vài phút hay vài giờ trước khi ông qua đời đột ngột tại nhà
riêng, Quận Cam , Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 3 năm 2014.
Đạo
Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Khi Vũ Ngọc Tiến viết về chiến tranh - 1
Ác giả ác báo mất thôi…” Không thể dùng tội ác để biện minh cho
bất cứ gì. Tôi lphải trích ra một đoạn văn ghê rợn như thế này:
”Có dăm người dân quân địa phương ngồi quanh đống lửa uống
rượu ngô và ba xác chết trần truồng, thi thể bầm dập nằm lăn lóc
trên bãi cỏ, hai trai, một gái. Xác người con gái nằm ngửa, không bị
đánh đập, nhưng hai đùi bị banh ra, cột chặt vào hai cái cọc được
đóng sâu xuống đất, cửa mình vẫn còn củ sắn to bự cắm vào, máu
lênh láng chảy ướt đầm mặt cỏ. Hai xác người đàn ông to vật vã,
đầy những vết đánh thâm tím, bộ phận sinh dục bị cắt rời nguyên cả
cụm, ném vào đống lửa, bốc lên mùi thịt nướng”…
Câu chuyện xuyên suốt là sự tố cáo đanh thép cái cuộc chiến tội lỗi,
vô nghĩa lý ấy. Hai nhân vật chính người Mông trong tác phẩm và số
phận của họ, của con gái họ thật khủng khiếp. Nhân vật nữ Thào A
Máy đã phát điên khi chứng kiến người con gái bị cưỡng hiếp, bị giết
dã man trong đoạn văn trên chính là bạn gái của mình.
Tác giả đã rất nhân bản khi để cho nhân vật Chù Mìn Phủ bỏ trốn
khỏi cuộc chiến tranh cùng với Thào A Máy, để hai người thành vợ,
thành chồng. Song ông cũng chỉ làm được đến thế mà thôi, bởi cái
cuộc đời chó má và cuộc chiến đâu có buông tha họ, dù họ đã trốn
vào tận rừng sâu. Chù Mìn Phủ bị cướp đất, cướp nhà, bị đi tù. Thào
A Máy đi tìm chồng bị lạc đường rồi kiệt sức mà chết. Điều khủng
khiếp là cái chết của kiếp người ấy vẫn chưa phải là đã hết.
Lại một đoạn văn làm tôi lợm giọng của con người:
Cô đi tìm chồng bị tù, lạc đường, kiệt sức nằm chết ở bờ ruộng ngô,
phân cách đất của hai nhà người La Chí. Nhà này bế con cô về nuôi,
nhưng lén hắt xác cô sang ruộng bên cạnh vì sợ chôn ở ruộng mình
con ma sẽ về bắt mất đứa bé. Nhà kia thấy vậy chửi bới một hồi, hắt
xác cô sang ruộng của người nhận nuôi con cô. Cứ thế cái xác hắt
qua hắt lại, kiến bu đầy, áo quần tơi tả.
Thế kỉ hai mươi ơi! Trước những cái chết như thế này, con người
khó mà có thể ngẩng mặt lên được nữa.
(Phạm Lưu Vũ)
Đạo
Đạo là nếp sống tùy duyên
Đói ăn, mệt nghỉ an nhiên tâm hồn
Tín.
Nhất độ thất tín, vạn sự bất tin.
(Một lần không giữ lời hứa, vạn chuyện không thể tin tưởng)
Nhà thơ Hữu Loan, lần gặp mặt
Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam,
đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó thể mô
tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó thể hình dung
ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập
trong bao nhiêu năm. Ông vào thăm Sàigòn khá muộn, anh
em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng,
dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây.
Quán cà phê vườn khá rộng. Khi Duy Th. đưa Hữu Loan tới,
quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em
văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là
ca sĩ, một kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh. Bùi
Giáng ngạo nghễ. Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng. Sạm
một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống
mũi thẳng, cao.
(Cung Tích Biền)
Nhân văn Giai phẩm với những hệ luỵ - 1
Trong tuần báo “Trăm Hoa”, Nguyễn Bính viết về phần giải
thưởng thơ: “Khi bắt đầu đặt giải thưởng văn học toàn quốc 1954-
55, anh chị em văn nghệ gặp nhau thường hay nói đùa một câu:
“Giải thưởng này, cái gì thì không biết, chứ tập thơ “Việt Bắc” thì
chém chết cũng được giải nhất rồi!”.
Tất nhiên ai cũng đều hiểu rằng câu nói đó không phải là một câu
tán dương. Anh em còn nhớ mãi cuộc tranh luận về quyển thơ
Việt Bắc, chưa ngã ngũ ra sao thì các ông trong hội Văn nghệ đã
vội vàng đưa ra mấy bài “bịt lỗ châu mai” lại.
Anh em không thể nào quên ông Hoài Thanh phát biểu: “Ðịch nó
không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Ông đã đem cả địch ra
mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu. Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên
Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu
ai cũng biết là lãnh đạo văn nghệ. Trong các thi sĩ có sách in ở
nhà xuất bản của hội Văn nghệ, chỉ duy có thơ Tố Hữu là được
sắp vào loại A, nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền
bản quyền tác giả cao nhất. Sở dĩ anh em biết trước thế nào tập
thơ Việt Bắc của Tố Hữu cũng được giải nhất (*) là bởi không còn
lạ gì cái tệ sùng bái cá nhân của các ông trong hội văn nghệ”.
Cuối cùng, Nguyễn Bính nêu những đề nghị cụ thể: “Muốn cho cái
giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55 có giá trị toàn vẹn, chúng
tôi có ý kiến đề nghị cụ thể như sau: “Về giải thơ: Nên đưa tập thơ
Việt Bắc xuống giải nhì, chưa xứng đáng được giải nhất”.
(Nguyễn Bính và tuần báo Trăm Hoa - Lại Nguyên Ân)
(*) Giải thưởng cho hội viên nếu chiếm giải nhất: 30 đồng. Thời
giá năm 1854-55 một bát phở: 3 đồng (tức 10 bát phở).
Riêng giải nhất với Tố Hữu: 500 đồng.
Mộng
Mình ta đi một mình ta
Bao nhiêu giấc mộng gần xa xa gần.
Nhân văn Giai phẩm với những hệ luỵ - 2
Nguyễn Bính nói tiếp về tập “Ngôi sao” của Xuân Diệu:
“…Tập thơ Việt Bắc được giải nhất thì không ai lấy làm lạ (như đã
trình bày) chứ đến như tập Ngôi sao của Xuân Diệu mà đứng giải
nhì thì anh em lấy làm lạ quá! Anh em lạ quá là vì anh em không
thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn
vào văn nghệ như thế? Anh em lạ quá là vì anh em không thể
ngờ ban giám khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh
thường anh em và quần chúng đến mức ấy. Anh em cho đó là
một cái nhục. Nhục cho anh em. Nhục cho văn nghệ. Nhục cho
cái giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55. Anh em thắc mắc cao
độ và thấy rằng cần phải đấu tranh.
Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại
“tích cực bênh vực cho tập Ngôi sao” (lời ông Nguyễn Tuân). Ông
Hoài Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của
các thi sĩ để soạn thành quyển Thi Nhân Việt Nam, có phê phán.
Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưng
trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm. Thế thì đối với một
tập thơ dở như tập Ngôi sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh
vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông
Hoài Thanh vụ trưởng vụ nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông
Huy Cận hay không? Chúng tôi kết luận: ở bộ môn nào thì chưa
biết chứ trong việc chấm giải thơ thì nhất định là có bè phái…”
Cuối cùng, Nguyễn Bính nêu những đề nghị cụ thể: “Muốn cho cái
giải thưởng văn học toàn quốc 1954-55 có giá trị toàn vẹn, chúng
tôi có ý kiến đề nghị cụ thể như sau:
Về giải thơ: Loại tập thơ Ngôi sao và tập Thơ chiến sĩ ra khỏi giải
thưởng. Tập thơ của Tú Mỡ nên được giải nhất”
(Nguyễn Bính và tuần báo Trăm Hoa - Lại Nguyên Ân)
Ngộ
Trải qua mấy bận long đong
Ngộ ra chẳng sắc thì không cũng đành.
Nhân văn Giai phẩm với những hệ luỵ - 3
Đã 46 năm kể từ trưa 29 tết, năm 1966, nhà thơ Nguyễn Bính đã
chết trong nghèo đói, bệnh tật tại nhà ông lang Hứa. Tôi (Trần
Mạnh Hảo) có gặp ông lang Hứa tại tư gia nhà thơ Vũ Quốc Ái ở
Nam Định. Ông lang Hứa làm thơ, bút hiệu Tân Thanh kể rằng:
Sau 1958 Nguyễn Bính bị nhà nước đuổi về quê vì làm báo “Trăm
Hoa”. Báo này do nhà nước xúi và bỏ tiền cho Nguyễn Bính làm,
học theo phong trào trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng bên
Trung Quốc của Mao Trạch Đông, cốt lừa cho trăm hoa cùng nở
rồi “ thịt” hết hoa vàng hoa trắng hoa tím hoa nâu… tức là trừ hoa
hồng đỏ máu cách mạng ra còn nhổ hết.
Nguyễn Bính về quê làm nhân viên hợp đồng sửa bản in cho ty
văn hoá Nam Định nên đói khổ lắm. Năm 1966, cơ quan ty văn
hoá Hà Nam Ninh sơ tán lên huyện Lý Nhân, nên Nguyễn Bính
hay đến nhà ông lang Hứa ở thôn Mạc Hạ (một người mê thơ
Nguyễn Bính) tá túc.
Tết đến, không có tiền, Nguyễn Bính tới nhà ông Hứa mượn đỡ
chút tiền về cho vợ con có chút tiền ăn tết. Bà Lai làm nghề đan
len nuôi chồng con nên rất cực. Trưa 29 tết, Nguyễn Bính do đói
(*) quá, lại làm tí rượu, chóng mặt, ra bờ ao nhà ông Hứa rửa
mặt, rơi xuống ao. Ông Hứa và người nhà vớt Nguyễn Bính lên
bờ. Nhà thơ đà tắt thở. Gia đình vội cáng ông lên bệnh viện huyện
cho khỏi liên lụy…Nguyễn Bính mất khi mới 48 tuổi.
(*) Về cái chết của Nguyễn Bính, Tô Hoài nói khác, cho rằng
Nguyễn Bính chết no, chứ không phải chết đói như bọn “diễn biến
hoà bình” xuyên tạc.
(Tết nhớ Nguyễn Bính - Trần Mạnh Hảo)
Ngộ
Ngỡ chỉ là một cuộc chơi
Ngoái lại sau thấy một trời phù vân
Một câu hỏi chưa được trả lời - 1
Có thể nói, tờ Nhân văn trên thực tế nằm trong tay một số người
thường xuyên cãi vã nhau. Đến khi chuẩn bị làm số 6, tôi và Lê
Đạt, Văn Cao bàn đổi hướng để tờ báo nói về hội họa, nên đã
chuẩn bị cho số báo chuyên về tranh áp-phích của Ba Lan. Tôi
đến làm việc với sứ quán Ba Lan và có đủ tài liệu về tranh áp-
phích của Ba Lan.
Ngay ngày hôm sau đó có giấy của thủ tướng triệu tập… (về việc
này tôi đã viết trong bài tưởng niệm ông Phan Khôi năm 2007).
Tôi được mọi người cử đi và đã gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Tôi về nói lại với Lê Đạt, Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang những điều
căn dặn của thủ tướng. Nguyễn Hữu Đang bỏ cuộc họp tự động
đến nhà in. Văn Cao và Lê Đạt cùng nói với tôi:
“Thế là Đang sẽ thay đổi nội dung tờ báo, sẽ hướng về tình hình
chính trị Đông Âu, Ba Lan, Tiệp Khắc…”
(Trần Duy)
Ngộ
Ngược về trong mảng đời ta
Tưởng tròn ngẫm lại hóa ra chưa tròn.
Một câu hỏi chưa được trả lời - 2
Ngày 15-12-1956 có lệnh đóng cửa tờ báo. Trong thời gian tờ báo
gặp nhiều khó khăn, tôi có đến gặp ông Dương Đức Hiền và
Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục…, các ông này đều bảo tôi:
“Các cậu có bao giờ lường được những nguy hiểm của công việc
các cậu đang làm?”
Tôi đáp:
“Tờ báo cũng như tờ Độc lập của Đảng Dân chủ… Có điều gì
đáng nguy hiểm?”
Anh Hoàng Văn Đức, người thật thà và cởi mở nói thẳng với tôi:
“Việc nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của việc ấy!”.
(Trần Duy)
Ngộ
Tất bật hơn thua rồi cũng bỏ
Thong dong tự tại vậy mà vui
Chém treo ngành
Chém Treo Ngành là truyện đầu trong Vang Bóng Một Thời được viết
năm 1940 là một trong những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất,
được coi ngang với Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của
Nhất Linh, truyện được Nhà Văn Hiện Đại ca ngợi như sau.
“Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn
thiện, toàn mỹ. Đó là tập Vang Bóng Một Thời.”
Tập truyện đã làm sống lại cả một thời đã qua với những nghệ
thuật cổ thanh cao, những nếp sống, sinh hoạt xã hội nho phong
của một nền văn minh xưa cũ, nó cũng là niềm nuối tiếc của một
tâm hồn hoài cổ trước những cái hay, cái đẹp, những nghệ thuật
cầu kỳ của một thời đại đã qua, cái thời ấy nay đã chết rồi, chỉ còn
để lại một tiếng vang:
Chém Treo Ngành là bài đầu tiên của tác phẩm, Nguyễn Tuân
ngụ ý cho là hay nhất nhưng nó lại ít được các nhà phê bình như
Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ . . . ca ngợi. Trong
cuốn Nguyễn Tuân, Về Tác Giả Và Tác Phẩm, Hà Nội năm 2001,
dầy 600 trang khổ lớn, gồm trên 100 bài nói về Nguyễn Tuân,
Chém Treo Ngành cũng không được các nhà phê bình trong
nước chú ý bằng các truyện khác.
(Đọc “Chém treo ngành” của Nguyễn Tuân – Trọng Đạt)
Văn hóa…ẩm thực
Lòng lợn Bắc kỳ
Phải đợi tới khi đi lính, thuyên chuyển từ xứ Thượng về xứ Bưởi
(Biên Hòa), người viết mới có dịp “về nguồn” và khám phá ra
những tinh túy và cái ngon tuyệt vời của lòng lợn.
Tuy nhiên, để chỉ bàn về ăn nhậu thuần túy, người viết cho rằng
xứ Bưởi không thể sánh với các tỉnh miền Tây. Ngoài một vài nhà
hàng sang trọng ở bờ sông dành cho dân trung lưu và thành phần
“lính cậu”, thành phố Biên Hòa không có những quán nhậu “cao
cấp” cỡ quán nhậu Trung Thành ở cầu Băng Ky, cũng không có
những quán bình dân nhưng hấp dẫn như ở Miệt Dưới… Tạm gọi
là độc đáo chỉ có mấy quán thịt rừng, heo rừng xào lăn, nai nướng
vỉ, lẩu dê… cũng chán.
(Thiên Lôi miệt dưới)
Hát xẩm
Các bộ môn khác như chèo, quan họ và thậm chí ca trù đều phải
“vay mượn”, như các điệu xẩm huê tình, xẩm chợ, xẩm xoan...
Bài xẩm huê tình khi được các đào nương, kép đàn ca trù du
nhập vào trong hình thức ca quán, thường gọi là điệu xẩm cô đầu
(hay xẩm nhà trò). Nói vậy để thấy các nghệ sĩ phường ca trù rất
tôn trọng nghệ thuật xẩm, họ vẫn giữ chữ “xẩm” ở làn điệu này
nhằm chỉ rõ gốc gác của làn điệu.
Về nhạc cụ, điều đáng nói trước nhất là cây đàn bầu. Theo truyền
thuyết, nó được coi là nhạc cụ của xẩm lúc ban đầu (người ta còn
gọi nó là đàn xẩm). Vì âm lượng hạn chế, phần vì khó học, khó
chơi hơn đàn nhị nên không phải nhóm xẩm nào cũng sử dụng đàn bầu.
(Hát xẩm với đàn bầu)
Trong những đồ nghề bất ly thân của mỗi nhóm xẩm truyền thống, bao giờ cũng có một chiếc chậu đồng thau, để xẩm nghe được khi tiền rơi xuống chậu vì xưa dùng tiền kẽm.
(Bùi Trọng Hiền)
Cô đầu
Khâm Thiên trước kia là những xóm nhỏ chung quanh vài ao rau
muống, lác đác mấy chòm nhà tranh. Thời đó Ba Voi làm thầu
khoán, lấy đất ruộng chùa Thanh Nhàn, dựng lên những nhà hát.
Đất từ bi của Phật ấy, mọc lên thứ lầu xanh của những chủ cô
đầu. Đất ấy thuộc về đất Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Tổng đốc
Hoàng Trọng Phu muốn tỉnh mình nổi danh bèn khuyến khích lập
một nơi chốn ăn chơi của tỉnh Đơ mình, ngay sát nách Hà Nội.
Các chủ cô đầu thấy đất mới là nơi “đắc địa” xô nhau về mở nhà
hát y hệt nhà của quan lại thời bấy giờ. Giữa nhà phải có tủ cánh
cho cong, sập chân quỳ, bình phong hay bộ lư đồng vàng chóe.
Trên những miếng đất của hồ ao mới vật lên những cái tên nhà
hát của họ như cô Đốc Sao, Chu Thị Bốn, v…v…
Những năm mất mùa đói kém, Đốc Sao cho người mua về những
em nhỏ mười một, mười hai dạy cho đàn hát. Những cô Tẹo, cái
Tý này chẳng mấy lúc mà lớn phổng lên, biết đọc Tố Tâm,
hay Tuyết Hồng lệ sử và không còn bao giờ biết mình là gốc gác
ở Phủ Khoái, hay Hải Hậu, Duyên Hà nữa. Một ngày “quả chín”,
Đốc Sao bắt phải ra tiếp khách. Anh tri huyện, hay anh nghị viên
nào phải chi hàng trăm chầu hát rồi Đốc Sao mới cho con em của
mình bán cái trinh tiết của đời con gái mình cho khách.
Những căn gác cô đầu chính lại là nơi hò hẹn của lái buôn từ Lao
Kay về, từ Hải Phòng lên, xong giá cả của một tiếng hàng là hai
bên ngả bàn đèn, hút và uống thâu canh. Khâm Thiên rất nhiều
ngõ, như ngõ Văn Chương, Trại Khách, Nam Thái, Sơn Nam, hay
ngõ…Thổ Quan. Đến nay ta vẫn gặp những cái ngõ cũ mà gốc
gác của tên gọi đánh dấu cả một thời.
Thành ngữ tục ngữ…sai
Hàm chó, vó ngựa
Lời khuyên không nên trêu chọc những con chó, con ngựa lạ.
Câu này không chỉ dừng lại ở chuyện trêu chọc con chó, con
ngựa lạ. Nghĩa khái quát của thành ngữ phải được hiểu: nên đề
phòng, tránh xa những nơi hay xảy ra nguy hiểm khó lường.
(Hoàng Tuấn Công)
Trở lại tuổi thơ cùng Lucky Luke
Năm 1971, nhân chuyến thăm Alamo Village (San Antonio,
Texas) tôi có chụp mấy tấm hình cowboy để kỷ niệm. Lúc xem lại
thấy sao giống Lucky Luke với vóc người mảnh khảnh!
(Nguyễn Ngọc Chính)
Phụ bản của người sưu tầm
Trước 75, ở Sài Gòn có Bùi Đình Quang, Kiến Trúc 65, bạn ta
cũng vẽ (copy) Lucky Luke, in thành tập để sinh nhai khi còn là
sinh viên.
Đèn Cù
(ỏ văn phòng mới dọn đến của Tổng bí thư mùa thu 1949. Hàng đầu toàn ngồi
xổm, từ trái qua, vợ Hà Xuân Trường, Lê Ðạt, Hồ Chí Minh. Ngoài cùng bên
phải là Trường Chinh, áo blu dông Mỹ trắng. Hàng sau đứng đầu bên trái là Hà Xuân Trường, thư ký tòa soạn báo – (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)
Đèn Cù đầy rẫy những “đoạn phim” ngắn như vậy. Rất nhiều “clip”
chợt hiện trên màn ảnh trong nửa phút, rồi chuyển ngay sang
cảnh khác, liên tiếp chạy nhanh qua não bộ. Đoạn phim lưu đọng
trong óc mình mãi mãi, trộn lẫn cùng những đoạn phim ngắn
khác, không theo thứ tự thời gian, cũng không theo một dòng lý
luận nào. Tất cả cho người đọc một toàn cảnh sống động về xã
hội nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ, trước và sau khi tác giả
đặt bút viết cuốn sách để đời này. Tất cả là “truyện tôi.” Nếu
không có cái tôi sống, tôi quan sát, tôi rung động, tôi ghi nhớ, tôi
suy nghĩ, thì không có “truyện tôi.”
(tại tòa soạn báo Sự Thật:
(từ trái) Diên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Kỳ Vân, Lê Quang Đạo, Trần Đĩnh,
Trường Chinh, Lê Xuân Kỳ, Thép Mới, Hồng Vũ (sau này tự tử ở bệnh viện Nam Ninh, Trung Quốc)-(hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)
Trong trí não con người đời sống vốn không có trật tự, nó chợt
hiện, chợt tắt, ngổn ngang, chắp nối, không xếp đặt theo không
gian cũng không theo dòng thời gian đơn tuyến và trực tuyến. Đời
sống thật vẫn như vậy. Đó là cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù
nó chạy vòng quanh. Cho nên phải đoc Đèn Cù như một tác
phẩm nghệ thuật. Đây là một sáng tác văn nghệ. Thử tưởng
tượng có một người trước khi đọc không hề biết gì về bối cảnh
lịch sử ở Việt Nam, chưa bao giờ nghe tên những nhân vật như
Nguyễn Tư Nghiêm, Văn Cao, Lê Đức Thọ, Hồng Linh, Thép Mới,
Lê Trọng Nghĩa, Lê Đạt, Tô Hoài, Hồng Hà, vân vân; khi đọc Đèn
Cù người đó cứ nghĩ đây là những nhân vật hoàn toàn do tác giả
bịa ra. Giả thiết Trần Đĩnh sáng tác một cuốn truyện, sẽ thấy Đèn
Cù là một thể loại tiểu thuyết mới, rất mới.
(Ngô Nhân Dụng)
Tử viết…
Lời Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, thiên II, chương 4, Tử viết:
Ngô thập hữu ngũ nhi chi ư, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất
hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập
nhi tòng tâm sở dục, bất dụ củ.
Khổng Tử nói: khi ta mười lăm, quyết chí vào chuyện học, năm ta
ba mươi tuổi, biết tự lập, năm ta bốn mươi tuổi, không còn nghi
hoặc nữa, năm ta năm mươi tuổi, biết được mệnh trời, năm ta
sáu mươi tuổi, biết theo mệnh trời, năm ta bảy mươi tuổi, theo
long muốn nhưng không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý.
(Chữ nghĩa chúng ta – Bùi Bảo Trúc)
Những chiếc xe mì của quá khứ
Tô mì hay hủ tíu thường được ăn cùng với xá xíu, những miếng
thịt heo nạc màu đỏ xắt mỏng ăn thơm thơm mùi ngũ vị hương,
ngòn ngọt của mật ong phết lên lúc quay lúc nướng. Cũng có mì
hủ tíu ăn với cật, gan heo và con tôm hồng hào hấp dẫn. Còn có
mì hoành thánh, sủi cảo chấm tương ớt hoặc nước tương. Bỏ vào
miệng cảm được cái mềm mại của bột, cái dai dai béo béo đậm
đà của thịt, cái ngọt lừ của nước lèo, một hương vị đặc biệt khó
quên. Người Hoa Chợ Lớn có người Tiều, người Quảng, người
Hẹ, Phúc Kiến, người Hải Nam…
Người vùng nào cũng có người làm nghề bán hủ tíu mì. Nhưng
riêng tô hủ tíu mì của người Quảng thường có miếng bánh tráng
mỏng nho nhỏ chiên vàng ươm, trên có một vài con tôm nhỏ để
nguyên chân cắng, râu càng. Cắn miếng bánh dòn rụm, húp thêm
niếng nước lèo, đưa thêm vài sợi mì, ngon!
Sau này còn có hủ tíu sa tế, gồm bò hoặc nai ăn với một loại
“sauce” cay cay trộn đậu phụng giã nát. Hình như những quán
bán loại này đa phần là người Triều Châu, không biết đúng không
bởi món này cũng không phổ biến lắm?
(Đỗ Duy Ngọc)
***
Phụ đính I
Nguyên Sa (1932-1998)
Nguyên Sa sinh ngày 1-3-1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có
bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn từ thập niên
1950 với những tác phẩm như“Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ
không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”,
Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm
1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên
Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh
thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm –RFA).
Ông đi Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở
Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài
thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm
1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm
1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm
sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới
ngày qua đời. Ông mất ngày 18-4 -1998.
***
Phụ đính II
Nhóm Sáng Tạo
Khu lều bạt Thăng Long, nơi tạm trú sinh viên Hà Nội di cư, nằm
ngay trung tâm thành phố trên đất Khám Lớn Sài Gòn cũ, tháo
dẹp. Sinh viên chuyển vào Đại Học Xá Minh Mạng, dù công trình
xấy cất chưa hoàn tất.
Đặc san Lửa Việt của Hội Sinh Viên Đại Học Hà Nội, do anh Trần
Thanh Hiệp làm chủ nhiệm, anh Nguyễn Sỹ Tế làm chủ bút.
Chúng tôi, các anh Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc
Sỹ, và tôi gặp nhau, cùng làm việc, quen dần nhau qua mấy số
Lửa Việt, đồng ý cần có tờ báo của mình để viết cho sướng tay,
để may ra đóng góp được cái gì.
Nhờ trang báo chúng tôi gặp thêm: Mai Thảo.
Mai Thảo gửi tới chúng tôi Đêm Giã Từ Hà Nội.
(Thanh Tâm Tuyền)
Mời Xem
CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN -Kỳ 15/4/2024 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
Tranh Claude Monet
TÌNH THẦY TRÒ. TÌNH ĐỒNG MÔN.
Đường về nhà Ngoại. Thơ TQHN
Mời Xem :
















