3 thg 2, 2024

Chữ nghiã làng văn -kỳ 1/2/2024 - Ngộ Không Phí Ngoc Hùng

Chữ nghĩa làng văn

*****

Chữ Việt cổ

Tục: thói quen - phong tục, tục lệ.

(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)

 Một vài cách nói độc đáo của người miền Nam - 1

 Lại nữa, đi vào miền Nam, ta còn nghe câu cửa miệng "Tam hoàng ngũ đế". Hiểu ra làm sao? Xin dẫn chứng văn liệu, năm 1888, nhà văn hóa Trương Vĩnh Ký thực hiện tờ Thông loại khóa trình, trong lời phi lộ, ông cho biết mục đích:

"Coi sách dạy lắm, nó cũng nhàm; nên phải có cái chi vui pha vào một hai khi, nó mới thú. Vậy ta tính làm ra một tháng đôi ba kì, một tập mỏng mỏng nói chuyện sang đàng, chuyện Tam hoàng cuốc chí, pha phách lộn lạo xào bần để cho học trò coi chơi cho vui. Mà chẳng phải chơi không vô ích đâu, cũng là những chuyện con người ta ở đời nên biết cả".


Chữ Việt cổ

Chừ: bây giờ

(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)

Một vài cách nói độc đáo của người miền Nam - 2

 

Gần đây, trong hồi ký “Hơn nửa đời hư” (NXB Tổng hợp 1992), học giả Vương Hồng Sển viết: "Mua một món đồ lạ, rồi đắc ý gặp ai đến nhà cũng lấy ra khoe, quên rằng ép người ta nghe mình nói chuyện Tam hoàng cuốc chí, người ta mau chán ngán" (tr. 501).

 

Câu Tam hoàng cuốc chí là cách nói ghép từ hai chuyện:

1. Khi nói về lịch sử xa xưa, xa lắc xa lơ của Trung Quốc, người ta thường bắt đầu từ thời Tam hoàng, ngũ đế.

2. Tam quốc chí là tiểu thuyết chương hồi nhiều tập, phải đọc/ kể ròng rã nhiều ngày mới xong. Khi kết hợp cả hai, từ "ngũ đế" bị loại bỏ; Tam quốc chí, chỉ lấy "quốc chí" đơn giản đã có tam/ Tam hoàng rồi, thế thì nó phải là Tam hoàng quốc chí mới đúng catalogue, không đâu, nếu thế, có gì vui, có gì lắt léo?

 

Từ hai nghĩa trên, câu này hàm ý muốn nó là chuyện xa xửa xa xưa, từ đời bà cố Hỷ không ăn nhậu gì với hiện đại , nghe nhàm tai, không thiết thực, đã thế nó còn được kể lại một cách dông dài, dài dòng, tràng giang đại hải, nói cà kê, dây cà ra dây muống… Nghe chán ngán là phải rồi.

Về…“hưu”

Chữ “hưu” hình thành từ chữ “nhân” và “mộc”.

Ý là khi người ta về già hãy vui thú điền viên với cây cỏ.

Chửi mất khoai

Cha năm đời mười đời bố cụ nhà mày nhá, mày lấy thuổng mày đào, mày lấy dao mày cạo, mày bỏ thỏm vào nồi, mày đun sôi sùng sục, mày múc ra mâm, mày ăn ngấm ngầm, mày khen khoai nhà bà ngọt nhá.

(Vùng sáng ký ức – Khuyết danh)

Góp nhặt cát đá

Cá rô cây 

Lão hành khất vào ngồi trong hiên chùa, bắt đầu bữa ăn xin được trong ngày: ít vắt cơm, muối và...
một con cá rô cây.

 Bà vãi nhìn bữa ăn, thấy con cá rô cây được đẽo gọt khá cẩn thận, dọn ra giống y con cá thật đã được nấu nướng đàng hoàng. Bà hỏi người hành khất: 
- Này ông lão, ông làm gì với
con cá gỗ ấy hay cuối cùng cũng chỉ cơm với muối?

Lão hành khất đưa tay chỉ tượng Phật giữa chánh điện trả lời: 
- Này bà, còn bà làm gì với
tượng Phật kia và…ăn chay? 

Con đường Dương Nghiễm Mậu

 

Tuần lễ trước đây, ở một lá thư của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung.

 

Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu chưa đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hỏm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mĩm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.

 

Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa ngục có thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang cộng sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: "Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy". Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn chỗ đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.

(Mai Thảo)

 Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 Ngày sau nếu không là tôi nữa
Sỏi đá vô tri chắc cũng buồn.
(Đăng Học)

 Thú đau thương không còn nữa

 Từ cuộc đời đau thương của Dương Kiền, tôi nhớ một lần, một lần đầy kịch tính như phim hành động của điện ảnh Hoa Kỳ. Tôi tới quán cà-phê quen thuộc ở góc đường Kỳ Đồng - Thanh Quan như thường lệ. Trời chiều sậm màu. Một người khách mang kính đen ngồi bàn bên, mũ vải kéo sụp xuống. Anh ta nhìn sang phía tôi, hỏi nhỏ thì thầm: “Đạt phải không?” Hóa ra Dương Phục. Anh vượt ngục ở vùng Sông Bé, nơi có trại tù sĩ quan học-tập-cải-tạo. Vì thế anh mang kính đen che đôi mắt, đội mũ vải có vành, kéo xuống sát gọng kính. “Moa vượt ngục mà. Đợi thằng NgM. tiễn nó đi chầu Diêm Vương, thằng khốn kiếp nó rù quến...” Dương Phục nói tên người phụ nữ mà anh bảo là bị NgM. rù quến.

 

Tôi nhìn thấy con dao găm, là lưỡi lê gắn đầu súng garant, chả hiểu anh kiếm ra nó ở đâu, thọc sâu nó bên hông quần kaki. Tôi toát mồ hôi, dù từng dùng lưỡi lê hơn một lần, khi xáp lá cà với Vixi ở A Sao A Lưới. Tuy nhiên... “Thằng cha NgM. (đã mất) văn nghệ văn gừng này tôi từng xem là bạn. Một lần khác đi, nếu thấy nhất thiết phải như vậy. Một lần nào cũng được, miễn không phải lần này...” Tôi nói với Dương Phục như vậy. Dương Phục uống cạn ly cà-phê đá, lên chuyến xe Traction đen cuối cùng về Biên Hòa. Tôi ngồi lại. Năm mười phút sau NgM. từ bên kia đường bước sang, anh chàng thấy tôi ở quán. Nếu lần nào Dương Phục cũng vì thương anh mình mà “giải quyết vấn đề” như vậy, chắc là anh đã phải đóng phim hành động Hoa Kỳ ít nhất năm bảy lần. Dương Kiền thì đã phổ hết đời mình trong Thú Đau Thương.

Hôm nay, tưởng niệm người anh của bạn tôi, người bạn của anh tôi, tôi chẳng đặng đừng nhắc nhớ những chuyện như vậy. Chỉ là những gì tôi muốn quên,  Dương Kiền thì đã quên tất cả rồi.

 (Nguyễn Đạt)

 Đoàn Kế Tường & Đoàn Thạch Hãn


 Đoàn Kế Tường tên thật là Đoàn Văn Tùng, sinh năm 1949 tại làng Đông Dương, xã Hải Dương, huyện Hải Lăng, Quảng Trị.

(Đoàn Kế Tường 1949-2014)

Theo lời Tường, năm 13 tuổi, do bố từng là lính cho Pháp nên Tường được vào học Trường Thiếu Sinh Quân-Vũng Tàu, sau đó vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, ra trường chọn Lực Lượng Đặc Biệt, đóng ở Cao Nguyên, rồi đào ngũ về quê Quảng Trị, sau làm lính địa phương quân và do cơ duyên tình cờ, trở thành phóng viên của báo Sóng Thần. Tường gia nhập làng báo từ 1971 với các bút danh: Đoàn Kế Tường,

Sau 1975  Tường làm cho báo Công An, ký tên Đoàn Thạch Hãn

 Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Lời nói không mất tiền mua
Tha hồ mà nói đừng thua câu nào

Xuân Sách: viết chân dung

 Về tập thơ Chân dung nhà văn

Trở lại với bài thơ tôi (Xuân Sách) viết về Tố Hữu. Chín mươi chín bài thơ tôi viết xong đều được anh em đem truyền khẩu (hoặc tôi đọc trước những người tôi viết, trừ bài thơ về Tố Hữu).

Viết xong bài thơ tôi hiểu ngay rằng không thể nào truyền bá ra được, cũng phải biết trời biết đất chứ làm sao bây giờ. Tôi biết có một nhà văn gửi một bản tường trình lên thủ lĩnh tố cáo tôi đã làm thơ bôi xấu các nhà văn, rồi trích ra một số bài, nhưng ông ấy nếu không có bài thơ về Tố Hữu thì chưa đủ sức nặng. Ông liền ghi mấy câu ở vỉa hè nhại bài thơ Bầm ơi của Tố Hữu: “Bầm ơi có biết không bầm. Vôn ga con cưỡi, gà hầm con xơi. Con nay đã khác xưa rồi (…) Bầm ra ruộng cấy bầm rung/ Con ngồi sưởi ấm mà thương lại bầmLàm thế nhà văn nọ vô tình đã phạm thượng. Xuân Sách đã viết về những nhà văn như thế không thể viết về tôi như vậy, tôi chờ.

 Và tôi cũng phải chờ. Một lần nhà văn Đặng Thái Mai gọi tôi đến nhà. Cụ bảo tôi đọc bài thơ tôi viết về Tố Hữu cho cụ nghe. Thấy tôi chần chừ, cụ nói: “Cậu sợ tôi phản cậu hay sao?”

 Thưa bác, cháu đâu dám nghĩ về bác như thế, có điều cháu nghe lời ông Hàn Phi rằng vua là con rồng nhưng có thể gần được thậm chí có thể cưỡi lên mình nhưng tuyệt đối không được sờ vào cái vuốt dưới hàm. Cháu muốn giữ được cái đầu để hoàn thành tập thơ.

 Thế là phải, nhưng cậu đọc riêng cho tôi nghe cơ mà!

 Thưa bác- tôi lại múa mép: Cái đạo của những trí giả như bác có cái hay trong bụng không thể truyền cho người khác .Cho phép cháu khoe một chút, bài này là bài hay.

Rồi tôi âm ử…Chúng tôi ngồi trên sàn nhà bằng gỗ. Cụ gác cằm lên đầu gối cười khục khục rồi mắng yêu tôi: - Thằng tiểu quỷ!

 Đỗ Ngọc Thạch)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 Tất bật hơn thua rồi cũng bỏ
Thong dong tự tại vậy mà vui.

212 Chữ nghĩa làng văn xóm chữ

Mỗi năm khi hoa đào nở, tôi lại đến thăm nhà thơ trào phúng Tú Sót (tên thật là Chu Thành), một ông đồ trong CLB Cảo thơm thư hiên. Trong cái thanh tịnh của một sớm đầu Xuân Bính Tuất, nhà thơ Tú Sót kể lại cho tôi nghe buổi "hầu chuyện" thơ của ông với cụ Vũ Đình Liên cách đây vừa đúng 15 năm như một sự tri ân với tác giả bài thơ "Ông đồ".

Đây cũng là buổi "hầu chuyện" cuối cùng của Tú Sót với tác giả Ông đồ vì sau đó vài năm, thi sĩ tài hoa này đã về nơi vĩnh hằng. Thật ra ý định ghi lại xuất xứ bài thơ Ông đồ đã được ông Tú ấp ủ từ năm 1989, nhưng rồi cứ nấn ná vì lý do này nọ mà chưa thực hiện được. Và ngày 24/10/1991, một buổi chiều thu nhạt nắng, sau khi thắp hương viếng phần mộ nhà văn Vũ Trọng Phụng, nhà thơ Tú Sót đã mời nhà thơ Vũ Đình Liên lại nhà mình để được "hầu chuyện". Kể lại kỷ niệm này, ông rưng rưng:

"Rất ít người biết rằng, bài thơ Ông đồ và nhiều bài thơ khác của cụ Vũ Đình Liên còn nặng kỷ niệm về người vợ tảo tần của nhà thơ. Cụ gọi đó là cái tình tri âm, tri kỷ đã theo cụ trọn cuộc đời. Bà chẳng làm nghề gì cao sang, chỉ là cô hàng xén ở phố Hàng Bồ. Cụ Liên khi đó là anh chàng thư sinh học trường Bưởi, ngày nào cũng đi qua con phố có cô hàng xén dễ thương đó và chẳng biết tự bao giờ, chàng trai trẻ thi sĩ này đã phải lòng. Phải lòng gánh hàng chỉ có kim, chỉ, đèn dầu, phải lòng người bán hàng đôi má ửng hồng e thẹn, nhưng chàng thanh niên Vũ Đình Liên còn phải lòng cả cái khung cảnh bình dị mà chỉ có trái tim thi sĩ mới rung lên được sợi tơ tình cảm đó:

Bên cạnh cô hàng xén còn có một ông đồ già ngồi viết chữ. Họ ngồi cạnh nhau nhiều tháng trên hè phố cùng kiếm sống nhưng cũng không bị "Pu-lít" (cảnh sát) đuổi phạt bao giờ. 



(ông đồ Vũ Đình Liên tranh Bùi Xuân Phái)


Thời đó, kẻ sĩ nước mình có mấy ai giàu. Ông đồ nghèo đến nỗi phải ngồi ở vỉa hè để bán chữ, mà còn không có cả tiền mua giấy nên phải ngồi bên cô hàng xén. Để khi có khách đến thuê viết, ông đồ chỉ cần với tay về phía cô hàng xén: "Này, này, cô cho tôi nhờ tờ giấy, nhờ cái bút", vậy là được cả đôi bên! Họ cứ dung dị sống, dung dị gắn bó mưu sinh với nhau trên một góc vỉa hè chật chội mà đâu có biết rằng, có một anh chàng thư sinh nho nhã đã khắc ghi hình ảnh đó trong lòng”. 

(Mối tình trong bài thơ Ông đồ - Lê Chánh Thiêm)

 Nói lái trong nước 

 Tình chan chứa là tình…chưa chán.

Ao nghiên ruộng chữ: người trăm năm cũ

Thể lọai “Tiểu thuyết lịch sử” (không hư cấu)

 Tiểu thuyết lịch sử

 Theo nhận xét của tôi, nét tiêu biểu của cây bút Đào Trinh Nhất là biên khảo sử học.. Muốn viết tiểu thuyết lịch sử một cách đích thực, đầu tiên là phải có một cái nhìn rất riêng. Điều này Đào Trinh Nhất làm được rất xuất chúng, ở mặt này. - (Lại Nguyên Ân)


 Đào Trinh Nhất sinh năm 1900. Nguyên quán tại Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Ông là con Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng giápĐào Nguyên Phổ. Mẹ là Lương Thị Hòa, con gái Lương Ngọc Quyến và là cháu ngoại Lương Văn Can.

 Thuở nhỏ, Đào Trinh Nhất theo học chữ Hán ở quê nhà, sau lên Hà Nội học chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Năm 1926, ông sang Pháp du học, ông tới Paris, liên lạc với Nguyễn Thế TruyềnNguyễn Như Phong và viết cho báo Việt Nam Hồn.

Từ năm 1921-1925, ông bước vào làng báo, làm biên tập Hữu thanh tạp chí. Rồi viết bài cho báo Đông Pháp. Năm 1925, ông vào Sài Gòn, làm thư ký tại Chez Phan Chu Trinh, số 5 Catinat. Trong khoảng 10 năm ấy, ở Sài Gòn, ông đã cộng tác với các báo: Thần chung, Tân Văn, Việt Nam. Và làm chủ bút báo Ðuốc Nhà Nam. Sau năm 1945, chạy loạn về, tiên-sinh làm báo Ngày mới, báo Việt thanh (Bắc), năm 1948 làm báo Phụ Nữ tân văn

Ra Hà Nội, ông viết cho tờ Trung Bắc Chủ nhật (1940-1945). báo Nước Nam (1944-1945).

Năm 1950, ông vào Sài Gòn  viết cho báo Ánh sáng, Sài Gòn mới, Dân thanh cho đến ngày mất.

 Tác phẩm: Một chuyện về lịch sử (s. 677, ngày 2/2/1928), Mấy ông vua nhà Nguyễn (s. 679, ngày 7/2/1928), Phan Đình Phùng (Đại La 1936), Việt sử giai thọai. Cô Tư Hồng dưới đây là một tác phẩm hết sức đặc biệt của Đào Trinh Nhất.

Ông mất trong một gian nhà nhỏ ở xóm Hòa Hưng ngày 23-11-1951, hưởng dương 52 tuổi, an táng tại nghĩa địa Hòa Hưng. Được tin ông mất, trong Nam ngoài Bắc làng báo, làng văn đều tỏ tình mến tiếc. Báo Tiếng Dội (Sài Gòn) chủ xướng việc xây mộ cho ông. Báo Cải Tạo (Hà Nội) tổ chức ngày lễ truy điệu long trọng. Các báo đều có nói nhiều về thân thế, văn nghiệp tiên sinh, đăng đủ điếu từ, đối phúng, văn tế, thơ viếng.

(Nhị Linh)

 Phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Tên tuổi ông gắn liền với bộ sách Thơ văn Lý Trần nổi tiếng từ 40 năm nay, và đối với bạn đọc hải ngoại, ông đã có mặt trên tạp chí Hợp lưu từ 8 năm trước. Nhưng chúng ta chỉ thật sự được nghe nói đến nhiều về ông kể từ kể từ khi William Joiner Center thuộc trường đại học UMASS quyết định mời ông và một người khác, ông Hoàng Ngọc Hiến, sang Hoa Kỳ tham gia vào một chương trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam ở hải ngoại.

Dưới đây là một phần của cuộc nói chuyện khá dài nhân dịp ông Nguyễn Huệ Chi ghé qua San Jose mới đây trong tháng Chín. Vì lý do tế nhị, đề tài cuộc nói chuyện được thỏa thuận trong giới hạn của những vấn đề văn hóa dù biết rằng sự cách biệt tuyệt đối giữa văn hóa và các vấn đề khác là điều không phải dễ. Trong trường hợp này, nếu phải đọc bài giữa hai hàng chữ là chuyện riêng của độc giả và ở ngoài ý muốn của người đặt câu hỏi và người trả lời câu hỏi dưới đây.

 **

Hỏi: Nếu có người hỏi ông là ai, ông sẽ trả lời ra sao ?

Đáp : Tôi trả lời theo hai cách. Cách đơn giản nhất: tôi là Nguyễn Huệ Chi, có mặt ở nước Mỹ từ mùa hè 2001 cho đến bây giờ. Còn trả lời kỹ càng hơn : tôi là sinh viên khóa đầu tiên của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội từ 56-59, sau đó được học một lớp Đại học Hán học từ 1965, và thi bằng tốt nghiệp 4 năm, năm 1972.

Từ đầu 1961, sau khi rời trường Tổng hợp được một năm, tôi được chuyển về Viện Văn học. Đứng đầu Viện lúc bấy giờ là Giáo sư Đặng Thái Mai. Ông gợi ý với tôi đi vào ngành văn học cổ và vì vậy tôi phải theo học lớp Đại học Hán học. Kể từ đấy, ngành chính của tôi là văn học cổ và Hán Nôm.

(Thượng Văn)

 Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 Đường trần ta cứ rong chơi
Vui thêm bước nữa buồn thôi lại về.

Nhà sử học Đào Duy Anh - 1



Đào Duy Anh sinh ngày 25.4.1904 tại Thanh Hoá và mất ngày 01.4.1988 tại Hà Nội. Họ Đào vốn gốc ở làng Khúc Thuỷ, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, từ đời ông nội chuyển cư vào Thanh Hoá (huyện Nông Cống). Sau khi tốt nghiệp Thành chung tại Trường Quốc học Huế (1923), ông ra dạy ở Trường Tiểu học Đồng Hới (Quảng Bình).

 

Giữa lúc đó, dấy lên sôi động với tiếng bom Sa Diện (Quảng Châu, Trung Quốc) của Phạm Hồng Thái năm 1924, phong trào đấu tranh đòi “ân xá” cho Phan Bội Châu năm 1925, đám tang Phan Chu Trinh năm 1926, đã cuốn hút tâm trí Đào Duy Anh. Cuối năm 1925, ông có mặt trong buổi Hội Quảng Tri Đồng Hới đón tiếp Phan Bội Châu trên đường từ Hà Nội vào Huế. Năm 1926, ông từ chức giáo học, vào Đà Nẵng và có ý định vào Sài Gòn để “thoát chốn ao tù”, có điều kiện “mở mang tri thức” và tiếp xúc với những hoạt động yêu nước. Từ đó, ông dấn thân vào các hoạt động chính trị, văn hoá. Trên đường vào Đà Nẵng, ông ghé qua Huế thăm cụ Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở chùa Phổ Quang, vào Quảng Nam gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ông giúp cụ Huỳnh sáng lập báo Tiếng dân, giữ chức Thư kí toà soạn.
Tháng 7.1929, Đào Duy Anh bị chính quyền thực dân bắt, cho đến đầu năm 1930 mới ra khỏi nhà tù. Từ đây, ông chọn con đường hoạt động văn hoá.

 (Phan Huy Lê)

 Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 Bỗng nhiên ta gặp lại ta
Bồng bềnh trong cái gọi là nhân gian.
(Thái Thanh Nguyên)

 Nhà sử học Đào Duy Anh - 2

Lĩnh vực văn hoá đầu tiên mà Đào Duy Anh quan tâm là Từ điển học. Ông đã hoàn thành và xuất bản hai bộ từ điển: “Hán – Việt từ điển” (1932), “Pháp – Việt từ điển” (1936). Từ năm 1938, ông chuyển sang lĩnh vực văn hoá, văn học. Những công trình nghiên cứu đã xuất bản là “Việt Nam văn hoá sử cương” (1938), “Khổng giáo phê bình tiểu luật“(1938), “Khảo luận về Kim Vân Kiều” (1943). Sau năm 1945, GS. Đào Duy Anh được mời giảng dạy môn Lịch sử tại Đại học Văn khoa Hà Nội. Năm 1954, ông dạy tại Trường Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa. Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập, ông được cử làm Chủ nhiệm Bộ môn Cổ sử Việt Nam, chăm lo công tác đào tạo và nghiên cứu. Thời gian công tác ở Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cho đến năm 1958. 

Ngay sau đó, ông bổ sung và viết lại thành “Lịch sử cổ đại Việt Nam” (1957) gồm 4 tập: “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam“, “Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc“, “Văn hoá đồ đồng và trống đồng Lạc Việt“.

Theo sự phân công của Viện sử học, ông đã hiệu đính và chú giải nhiều bộ sách quý đã dịch ra tiếng Việt như “Lịch triều hiến chương loại chí“, “Đại Nam thực lục“, “Phủ biên tạp lục“, “Đại Việt sử kí toàn thư“, “Đại Nam nhất thống chí“, “Binh thư yếu lược và Hổ trướng khu cơ“, “Gia Định thành thông chí“, “Nguyễn Trãi toàn tập“. Cũng trong thời gian này và sau khi nghỉ hưu (1965), ông biên soạn một số công trình như “Đất nước Việt Nam qua các đời” (1964), “Từ điển truyện Kiều” (viết xong 1965, xuất bản 1974), “Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến” (1975), dịch và chú giải “Khoá hư lục” (1974), “Sở từ” (1974), “Truyện Hoa Tiên” (1978), “Thơ chữ Hán Nguyễn Du” (1988).Cuối đời, ông viết tập hồi kí “Nhớ nghĩ chiều hôm“(viết xong 1974, xuất bản 1989). 

Trên chặng đường dài từ 1928 cho đến lúc đi vào cõi vĩnh hằng, GS. Đào Duy Anh đã để lại một di sản đồ sộ với nhiều trước tác trên nhiều lĩnh vực từ Từ điển, Ngôn ngữ, Văn hoá, Văn học đến Sử học, Khảo cổ học, Văn bản học, Dân tộc học, Địa lí học.

 (Phan Huy Lê)

 Chữ nghĩa làng văn

Những năm gần đây, tôi ít thấy thơ lục bát trên mạng văn chương. Thi thoảng, một hai bài nhen nhúm như ngọn đèn dầu leo lắt nhưng rồi lại tắt ngúm, chìm lịm dưới lượng thơ tự do ào ạt đổ vào thị trường thơ, nhất là thị trường thơ trên mạng. Điều này không lạ. Từ lâu thể thơ lục bát đã không còn sức quyến rũ đối với các nhà thơ Việt Nam nữa, nhất là các nhà thơ trẻ. Ngày nay họ chuộng thể tự do hơn, cho thích hợp với phong cách và tinh thần “Hậu Hiện đại”. Có nhà thơ còn thẳng thừng tuyên bố ông thà làm thơ tự do dở chứ không thèm làm thơ lục bát hay!

Tại sao có tình trạng này? Tại sao một thể thơ truyền thống của dân tộc, gắn bó với tâm hồn Việt cả nghìn năm, ngày nay lại lâm vào tình cảnh bi đát, bị quay lưng lại, bị ruồng rẫy một cách đáng thương như thế? Phải chăng nó là vấn đề của hình thức biểu đạt cho những thao tác sáng tạo mới? Phải chăng niêm luật thơ lục bát gò bó quá, thơ lại đơn điệu, dễ nhàm, ý tình chẳng thể nào biểu đạt cho trọn vẹn? Phải chăng nó cổ lỗ một cách thảm hại, như bà cụ đầu vấn khăn vuông, mình mặc áo dài nhung đen, lưng khòm, xệch xạc từng bước nặng nhọc lên chùa lễ Phật?

 (Thơ lục bát: một duyên phận long đong – Trịnh Y Thư)

 Thăng Long - Hà Nội xưa

Thời nhà Lý thì gọi là Quốc Tử Giám; thời Trần gọi là Quốc Tử Viện, sau lại đổi là Quốc Học Viện; thời Lê gọi lại là Quốc Tử Giám; tới thời nhà Nguyễn buổi đầu thì gọi tên là Quốc Học, sau cũng gọi tên lại là Quốc Tử Giám.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám vừa là nơi tưởng niệm và tôn xưng những bậc tiền hiền, cũng vừa là nơi đào tạo nho sĩ.

Những dấu vết cũ như tấm biển đề "Hạ Mã", "Văn Miếu Môn" cho đến khu vực "Nhà Giám" đã đổ nát vẫn còn được bao bằng tường xây gạch vồ - loại gạch phổ biến của thời Hậu Lê.

 (Văn Miếu và Quốc Tử Giám – Kiêm Thêm)

 Trấn Hải Dương

 Thành Hải Dương - Thành Đông năm 1885, 1 trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn.

Hải là miền duyên hải, vùng đất giáp biển. Dương là ánh sáng, ánh mặt trời. Hải Dương có nghĩa là "ánh sáng từ miền duyên hải chiếu về". Tên gọi Hải Dương chính thức có từ năm 1469.

Thành Hải Dương, còn gọi là Thành Đông, là một ngôi thành cổ thời nhà Nguyễn được được đắp bằng đất năm 1804 theo kiến trúc Vauban với mục đích vừa là trấn thành, vừa án ngữ phía đông kinh thành Thăng Long.

 An Nam tứ đại khí

 An Nam tứ đại khí là bốn kỳ quan, bốn vật quốc bảo của nước ta thời Lý, Trần. Đó là: Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh.

Trấn Sơn Nam


Đời Lê, Nam Định thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2, vùng đất này thuộc lSơn Nam Hạ. Trong suốt thời kỳ từ Thiên Trường đến Nam Định ngày nay, trải qua các triều đại Trần, Hồ, , Mạc,Tây Sơn, Nguyễn đã nhiều lần đổi tên như Thiên Trường, Vị Hoàng, Sơn Nam, Thành Nam rồi Nam Định. Đây là thành phố có nhiều tên gọi trong văn học: Thiên Trường, Vị Hoàng, trấn Sơn Nam Hạ, Thành Nam, Non Côi sông Vị, thành phố Hoa Gạo, thành phố Dệt, thành phố bên sông Đào, Nam Định...

Danh xưng Nam Định chính thức có từ năm 1831, dưới thời Minh Mạng. Thời đó Nam Định còn có trường thi Hương, thi Hội, có cả Văn Miếu như Hà Nội.

Tháp Báo Thiên

 


Tháp Báo Thiên có tên gọi đầy đủ là Đại thắng tư thiên bảo tháp, được xây cất vào năm Đinh Dậu (1057) đời Lý Thánh Tông. Theo Đại Việt sử lược, tháp cao 20 trượng (khoảng 70 mét) và gồm 30 tầng (có tài liệu chép là 12 tầng). Tháp nằm trong khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên nên còn gọi là tháp Báo Thiên.

Lý do để tháp được coi là một trong tứ đại khí là vì tầng trên cùng và đỉnh của tháp đều được đúc bằng đồng. Trận bão năm Mậu Ngọ (1258) đời Trần Thánh Tông đã làm ngọn tháp này bị đổ. Sau khi được trùng tu, tháp lại bị sét đánh sạt mất hai tầng vào năm Nhâm Tuất (1322) đời Trần Minh Tông. Đến tháng sáu năm Bính Tuất (1406) đời Hồ Hán Thương, nghĩa là 84 năm sau khi được trùng tu lần thứ hai, đỉnh tháp lại bị đổ. An phủ sứ Đông Đô lúc đó là Lê Khải vì không báo tin này cho Hồ Hán Thương biết mà bị biếm tước 1 tư (giáng xuống một trật). Thời thuộc Minh (1414-1427), quân Minh đã cho phá tháp để chế súng. Chỗ tháp bị phá sau đó được đổ đất thành gò cao để dựng đàn tràng.

(Phùng Thành Chủng)

 Chưa…hỏi đã…ngã

Viết cho đúng dấu hỏi (?) ngã (~) không đơn giản, làm nhức đầu một số người Nam, đồng thời lại quá dễ dàng đối với người Bắc. Người Nam không biết tại sao chỉ có hai dấu mà mình không làm sao nhớ được, người Bắc lại không thể tưởng tượng được lại có người không nhớ nổi hai dấu này.

Một số người Nam không cần thắc mắc, chỉ dùng một dấu, tới đâu thì tới, ai mà để ý. Bài này viết, theo cái nhìn của phương Nam, một phần dựa theo các thắc mắc do thân hữu đề ra…

Vấn đề: Viết sai hỏi ngã vì là dân trường Tây. Nhiều người cho là tại vì học chương trình Pháp nên viết tiếng Việt sai chính tả.
Giải thích: Các nhà văn tiền chiến, như nhóm Tự lực văn đoàn, ai mà không học trường Tây, thế mà họ viết tiếng Việt đâu có sai. Vậy không phải chỉ có Tây, mà cả Ta cũng thế.

Vấn đề: Chữ thông thường dùng hằng ngày, nhiều từ, nghe, nói, đọc hằng chục lần, viết hằng chục lần, bị sửa sai bao nhiêu lần mà chứng nào tật ấy, sai vẫn cứ sai hỏi ngã.
Giải thích: Tại sao tiếng Anh, tiếng Pháp chữ nào cũng dài thoòng, âm tiết kỳ lạ, nói giọng khịt mũi (Pháp), ưỡn ẹo như bóng (giọng Ăng lê), cà giựt như xe thổ mộ (giọng HongKong), cà xịt như xe lửa chạy (giọng Nga), rồ rồ trong cổ họng như bị hen suyễn (giọng Bắc Mỹ), líu lo dính cả lưỡi (giọng Japan), mà ít khi quên, trong khi chỉ có hai dấu quèn mà không nhớ.

 Thế nghĩa là thế nào?

(Đoàn Văn Phi Long – Hỏi ngã)

Học lại chữ Hán

Một thắc mắc lớn nứa của tôi, đó là danh từ thần nông. Thần nông là gì. Những lần tôi học chữ nho, các ông dạy tôi học, dù cho rằng Thần nông có nghĩa là vị thần trông coi về nông nghiệp.

Tôi đã hiểu như thế trong rất nhiều năm, mãi cho đến khi tôi biết rõ cơ cấu của Hoa ngữ thì tôi bắt đầu nghi ngờ. Trong cơ cấu của Hoa ngữ thì ở các từ loại đó, chữ thứ nhì là chữ quan trọng, khác với trong Việt ngữ mà chữ thứ nhứt là quan trọng. Trong Việt ngữ thì Thần là chữ quan trọng, nhưng sách Tàu thì lại viết là Thần Nông chớ đâu có viết là Nông Thần. Mà cơ cấu Hoa ngữ thì như thế đó Nông mới là quan trọng.

Chú Lý Văn Hùng đã được tôi tín nhiệm, thế nên tôi cũng cứ hỏi chú Thần Nông là cáí gì. Chú ấy biết tiếng Pháp, chú giải thích: “Thần Nông là nông nghiệp thiêng liêng, chớ không phải ông thần của nông nghiệp đâu. Nếu nói ra bằng tiếng Pháp thì đó là agriculture sacrée, chớ không làm sao mà là Génie de l'agriculture được hết.”. Tôi thấy là chú ấy có lý quá. Vậy quý vị nhà nho ta nghĩ sao ? Đây là học hỏi của tôi với một người Tàu. Ông họ Lý đó, dở hay giỏi, tôi không đủ sức biết, nên xin ghi lại đây cho quý vị nho học ta xét lại. Nếu ông họ Lý dạy sai thì tôi sẽ bỏ những gì mà tôi được biết nhờ ông ấy, và sẽ nghe theo những lời chỉ dạy hữu lý hơn của các vị khác.

(Bình Nguyên Lộc)

Trở lại tuổi thơ cùng Lucky Luke

Các bạn vào lứa “sáu bảy bó” ở miền Nam chắc hẳn vẫn còn nhớ Lucky Luke, nhân vật Cao bồi Miền Tây “Wild Wild West” bắn súng còn nhanh hơn… cái bóng của mình! Đó không phải là lời khen ngợi của người viết bài này mà là câu quảng cáo cho tập truyện Lucky Luke khi đăng trên tạp chí Pilote, năm 1968. Để ra mắt tập truyện tranh “Dalton City”, Pilote đã giám cả quyết: “Lucky Luke: L’homme qui tire plus vite que son ombre”. 


Ấy vậy mà chuyện tranh Luck Luke nổi tiếng thế giới lại không xuất phát từ Mỹ, xứ sở của các chàng cowboy… mà lại từ Bỉ, một quốc gia nhỏ bé tại Châu Âu! Cha đẻ của Lucky Luke là họa sĩ người Bỉ, Maurice de Bevere (1923-2001), còn có biệt danh là Morris. Mãi về sau Morris mới sang Hoa Kỳ.

Lucky Luke “ra chào đời” năm 1947 qua “ông bố” Morris và kể từ đó, một loạt truyện tranh Lucky Luck được phát hành làm “nức lòng” người đọc khắp nơi. Bạn có thể là cậu bé 9 tuổi và có thể là ông già 99 tuổi… nhưng tựu chung đều say mê với các cuộc phiêu lưu khắp Miền Tây Hoang Dã của Hoa Kỳ.

(Nguyễn Ngọc Chính)

Tết Mậu Thân bốn mươi năm sau (1968-2008

Tội phạm chiến tranh – Tấm hình chiếm giải Pulitzer Ảnh về Tin ngắn và giải Nhiếp ảnh Báo chí Thế giới năm 1969, nhiếp ảnh gia Eddie Adams đã nói nhiều lần trong cuộc phỏng vấn với National Public Radio (NPR), trong điếu văn Tướng Loan trên Tạp chí Time, và ở cả cuộc phỏng vấn (2) với David Culbert, một sử gia tại Louisiana State Univerity.

(2) Transcript, Eddie Adams Interview, by David Culbert (theo Ed Moïse). Virtual Vietnam Archive, of the Vietnam Project, at Texas Tech University. Online: http://snipurl.com/20tha [star_vietnam_ttu_edu], February 15, 2008.

“Ông Tướng giết Việt Cộng. Tôi giết ông Tướng bằng máy ảnh của tôi… Ảnh là vũ khí mạnh nhất thế giới. Người đọc tin vào ảnh, nhưng ảnh cũng gian dối, ngay cả khi không bị cạo sửa.”

(Eddie Adams, Time Magazine, 24/06/2001).

“Ảnh, chỉ là nửa sự thật, chỉ thấy một chiều”

(Eddie Adams, NPR)

“Tướng Loan qua đời vào tháng 7, 1998, như tấm hình đã hại đời ông, đa số những sơ lược tiểu sử người chết chỉ là những tấm ảnh phiến diện, không khoan dung.”

(Jonah Goldberg, There Are Tears in My Eyes, 26/08/1999)

Ediie Adams tại Việt Nam. I’m sorry. There are tears in my eyes (Eddie Adams gởi tướng Loan).  Nguồn: nppa.org

 Trả lời David Culbert, Eddie Adams cho biết 3 người cùng Eddie vào Chợ Lớn săn tin ngày 1 tháng 2, 1968 là ký giả (Howard Tuckner), người quay phim (Võ Sửu) và người thu thanh; cả ba là nhân viên của hãng truyền hình NBC.

Trên đường trở lại khách sạn sau khi chụp ảnh quay phim cuộc giao tranh nhỏ ở một ngôi chùa trong Chợ Lớn, đoàn ký giả, nhiếp ảnh viên chợt thấy Nguyễn Văn Lém (Trung uý Việt Cộng bí danh Bảy Lốp) bị bắt dẫn đi; Như thói quen của một nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp, Eddie Adams chụp hình tù binh Bảy Lốp.

(Trần Giao Thủy)

Ai về Bình Định mà... xơi

"Nước có lửa" với món hấp dẫn

Nguyễn Thanh Xuân - viết lách thường ký bút danh Hạt Cát - nửa đùa nửa thật:
- Về Bình Định nhậu, nên ực bia "Lâu quên", rồi đi đâu cũng nhắc.

"Lâu quên" là cách phiên âm và rút gọn thương hiệu Löwen Pils - loại bia do Bình Định sản xuất bằng dây chuyền công nghệ của Cộng hoà Liên bang Đức từ năm 2000.

Kỳ thực, đưa cay đúng điệu Tây Sơn thì phải khề khà rượu Bàu Đá. Lão võ sư Phan Thọ gật gù:

- Rượu Bàu Đá ngâm với biệt dược, nếu dùng đúng cách thì giúp người luyện quyền cước và vũ khí được mạnh gân cốt, phục hồi sức lực, chữa lành một số chấn thương.

 Xóm Bàu Đá - tức xóm Tân Long ở thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn - hình thành nghề nấu rượu gạo đạt nồng độ cao từ năm 1947 sau khi được ông Hương Lễ Nghè từ huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) đến truyền nghề. Rượu Bàu Đá hiện được một số doanh nghiệp ở Quy Nhơn sản xuất, đóng chai, bán nhiều nơi trong lẫn ngoài nước.

Bàu Đá nhắm với mực khô,
Có về âm phủ cũng đội mồ mà lên.

 Không chỉ "nước có lửa" với mực khô lẫn tươi, Bình Định còn bao đặc sản ngon lành khác như chim mía Tây Sơn, gié bò Phú Phong, bún song thằng An Thái, v.v.

Nữ võ sĩ Tây Sơn phái mà đoạn mở đầu bài này có nhắc, đọc tôi nghe chùm ca dao liệt kê mồi màng Bình Định, như:

Bún song thằng An Thái,
Lụa đậu tư Nhơn Ngãi,
Xoài tượng chín Hưng Long,
Mặc ai mơ táo ước hồng,
Tình quê em giữ vẹn lòng trước sau.

 Lẩm cẩm quanh chuyện Từ điển chính tả tiếng Việt

25. trừu mến tv 𝒕𝒓𝒊̀𝒖 𝒎𝒆̂́𝒏. Ví dụ trong ca khúc có câu: Vài hàng gởi anh trìu mến

26. táng gia bại sản tv 𝒕𝒂́𝒏 𝒈𝒊𝒂 𝒃𝒂̣𝒊 sản.

27. xỉ mắng tv sỉ mắng.

28. sít xoa tv xuýt 𝒙𝒐𝒂.

29. xừng xộ tv sừng sộ.

30. triêu mộ tv chiêu mộ

chiêu mộ đgt: tuyển người làm một việc gì (tuyển mộ), còn triêu mộ (sớm chiều), như “Tiếng Chuông Triêu (sic) Mộ” tác phẩm của nhà văn Võ Hồng.

31. sán lạn tv xán lạn

xán có nghĩa là rực rỡ, chói lọi; lạn cũng có nghĩa là tươi sáng, rực rỡ. Hán Ngữ Đại Từ Điển giảng: “xán lạn: vẻ rực rỡ, tươi đẹp; hình dung sự việc hoặc sự nghiệp huy hoàng, tốt đẹp. Viết đúng chính tả là sáng lạn - không viết: sán.

32. siêu tán tv xiêu tán. Xiêu có nghĩa là trôi nổi, lưu lạc (hồn xiêu phách lạc, xiêu lạc, xiêu dạt, xiêu lưu…).

33. trưởng bạ tv chưởng bạ. Chưởng nghĩa là nắm, giữ; “chưởng bạ” là người nắm giữ sổ sách giấy tờ; “chưởng ấn” là người giữ ấn tín.

34. thống xuất tv thống suất. Suất có nghĩa là dẫn đầu, chỉ huy. Thống suất đg là chỉ huy, đốc suất toàn quân đội…

 Theo sự nhận xét thì cuốn tự điển nầy chép nguyên cuốn Tự Điển Chính Tả Tiếng Việt Phổ Thông của Nguyên Văn Khang, ấn hành năm 2003.

 (Vương Trùng Dương)

 ***

 Phụ đính I

 40 Năm hải ngoại - Một nén hương - Cho những nhà văn

nhà thơ đã khuất núi

(Danh sách cập nhật tới tháng 6/2017 – Nhật Tiến biên soạn

Tổng hợp từ nhiều nguồn)


Vũ Khắc Khoan
(1917-1986)


 

Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

 Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam viết cho các báo Tự do, Quan điểm rồi làm chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ của Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn. Ông  sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại đây. Ông mất ngày 12 tháng Chín, 1986.

 **

 Phụ đính II

 Chữ nghĩa làng văn

 Thanh Tịnh


 Thanh Tịnh ở ngoài Bắc, không lấy vợ. Ông vẫn chung thuỷ với bà ở trong Nam. Sau 1975, ông vào Nam, vợ ông đã lấy chồng khác, con ông thì đi ngụy quân, cũng không tha thiết gì với ông cả. Ông lại quay trở về Hà Nội, sống độc thân ở số 4 Lý Nam Đế như cũ.

Ông có câu thơ cám cảnh thân phận của mình:

Ra đi mấy chục năm trường
Ăn cơm tập thể, nằm giường  nhân

Cuộc đời buồn thế mà ông hay nói chuyện vui, nói đùa. Có lẽ chính vì đời buồn quá nên ông phải cố cười cho quên đi. Ông nói: “Bây giờ nhà thờ tổ không còn, nhà  cũng không, “nhà tôi” đã thành “nhà” người ta mất rồi. Ông đọc cho tôi nghe một vế câu đối, không biết do ông đặt ra hay người ta thách ông. Vế câu đối chưa có ai đối lại được: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ, cả bốn nhà đều không nhà ở”. Thanh Tịnh đúng là bốn “nhà” mà không ông có nhà cửa gì.

(Nguyễn Đăng Mạnh)

Mời Xem :

Chữ nghĩa làng văn kỳ 15/1/2024 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng


 

MUA CHỮ - Chuyện Ngắn của Nguyễn văn Hương


Ông Mãng dừng xe lại cạnh lề đường và đưa mắt nhìn dãy dài những “ ông đồ ” tân thời đang bò trên những tấm chiếu, hí hoáy viết. Khúc lề đường này, chạy dài theo hàng rào một ngôi trường trung học cổ kính xây từ thời Pháp thuộc, từ lúc nào chẳng rõ, vẫn được dành riêng làm chỗ “ viết thư pháp ” mỗi dịp Xuân về. Các ông đồ Thế kỷ XXI, xúng xính trong những bộ áo dài đủ kiểu đủ cỡ, mới có, cũ có, đội khăn đen, đi chân trần, ngồi trên những chiếc chiếu nan, chiếu hoa, chiếu nylon sặc sỡ chờ khách thập phương đến “ xin chữ ”. Sau lưng họ, móc vào hàng rào nhà trường, những bức thư pháp đủ kích cỡ, màu sắc lủng lẳng trong gió nhẹ sớm mai. Một vài ông già đứng ngắm, gật gù bình luận tài năng làm “ phượng múa rồng bay ” của các nho sinh, các thư pháp gia mà độ chênh lệch tuổi tác làm cho người ta không khỏi thán phục tính đa dạng và hòa đồng trong môn nghệ thuật mới được hồi sinh từ mươi năm trở lại đây, lúc xã hội đã chen lấn nhau bước vào thời kỳ phú quý sinh lễ nghĩa.

Ông Mãng quyết định ghé vào. Ông tắt máy xe, dắt nó lên lề đường và dẫn tới chỗ gửi xe đã được quy hoạch. Rồi ông ung dung đi dọc theo khu các ông đồ, vừa đi vừa ngắm nghía những bức vẽ treo trên hàng rào sắt.

Mắt ông dừng lại ở một người trạc tuổi ông—nghĩa là khoảng lục tuần—có đôi mắt sáng, cái miệng tươi cười và hàm râu lưa thưa dưới cằm có vẻ như không được cạo từ khá lâu. “ Ông đồ ” này trông tướng rất nghệ sĩ vì cái áo dài the ông mang trên người đã lộ ra những vết ố, thủng và qua cả cái cách ông ta ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói. Lúc ông Mãng nhìn ông là lúc ông ta đang ngáp, một cái ngáp rất dài nhưng không thể hiện sự mỏi mệt của những người đã kiên nhẫn ngồi hàng giờ nhìn hàng ngàn hàng vạn chiếc xe chạy ngang trước mặt, chỉ để mong có được một người ghé lại. Ông ta ngáp xong, đưa mắt nhìn lên và thấy ông Mãng đang nhìn mình.

“ Mời bác,” ông ta nói lửng lờ rồi mỉm miệng cười. Ông Mãng thấy có cảm tình với ông đồ này vì một lý do nào đó không giải thích được, liền đặt mông ngồi vào chiếu.

“ Bác định mua chữ gì ? ” ông đồ hỏi.

Bác Mãng ngạc nhiên trước cách ăn nói rất thương mại của ông đồ mới gặp này. Ông ta không dùng những từ trịnh trọng như “ xin ” hay “ thỉnh ”, thậm chí trung lập như “ viết ”, mà lại sử dụng thứ từ ngữ của các cửa hàng bách hóa. Sự tò mò làm bác bị kích thích mạnh mẽ. Bác thấy mình đã làm một chọn lựa rất thú vị vào dịp cuối năm.

“ Tôi chưa biết,” bác thủng thẳng nói, “ chỉ thấy hay hay nên ghé vào thôi…”

“ Vậy là cái vô thức của bác quá tinh tế rồi,” ông đồ nói.

Bác Mãng đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Không đến nỗi dốt đặc cán mai, bác hiểu rằng người đứng trước mặt bác chắc phải có một sở học kha khá nên mới có thể sử dụng cái thuật ngữ lạ tai kia với bác.

“ Ông nói gì, tôi chưa hiểu,” bác Mãng thú thật, “ tôi có làm phiền gì ông không ? ”

“ Bác hiểu nhầm tôi rồi,” ông đồ cười xòa, khoát tay, “ tôi nói vô thức chứ không phải vô ý thức. Mà thôi, nói cho bình dân dễ hiểu hơn nhé : đó là cái duyên đã khiến bác ngồi xuống đây…”

“ Vậy à ? ”, bác Mãng ậm ừ cho qua chuyện. Từ hồi còn nhỏ đến giờ, bác chưa bao giờ hiểu hết ý nghĩa của chữ duyên, cái chữ chỉ có một từ nhưng lại biến hóa thiên hình vạn trạng mà bác đã nghe hàng trăm lần trong đủ các hoàn cảnh, tình thế. Dù sao, bác cũng nghĩ ông đồ trước mặt bác đã nói đúng : có một cái gì đó đã kéo bác đến đúng chỗ này giữa hàng chục con người đang cùng làm một công việc như nhau trong một bối cảnh na ná nhau.

“ Nếu bác chưa rõ chữ nào, thì tôi xin đề nghị nhé,” ông đồ kéo bác quay về thực tại. “ Tôi chỉ đề nghị thôi, còn thì bác quyết.”

Ông ta trỏ vào một tờ giấy dó màu đỏ treo chung với khoảng chục tờ khác cùng màu trên hàng rào sắt của trường học.

“ Chữ này nhé, bác ? ” ông đồ nói, “ đa số đều chuộng lấy chữ này về treo phòng khách…”

Chẳng phải người sành chữ Hán, bác Mãng cũng biết ngay đó là chữ TÂM, cái chữ bác bắt gặp hầu như ở mọi nhà “ sính chữ ”, lúc thì vỏn vẹn mình nó, lúc lại đeo theo một lô những câu từ “ phụ đề ” hay “ minh họa ” như để giúp khách đến chơi hiểu rõ hơn về ý tứ thâm trầm của chủ nhà.

“ Không, tôi không mua chữ ấy,” bác Mãng nói. Bác đã vừa dùng lại cái từ ngữ “ thương mại ” của ông đồ, chắc hẳn dưới ảnh hưởng khá tức thời của cái “ vô thức ” chìm sâu trong bác. “ Nó thường quá, ai cũng dùng, thành ra nhạt nhẽo, vô nghĩa.”

“A, hóa ra bác không phải người đi theo đám đông… Đám đông không phải lúc nào cũng có lý… Đây là một đề tài tôi từng quan tâm khi nghiên cứu môn Tâm lý học hành vi ngày trước, bác ạ…” ông đồ nói. “ Vậy thì hay là chữ này ? ” ông đồ tiếp, và rướn người chỉ vào một tấm giấy dó màu đỏ khác hơi xa tấm có chữ TÂM. “ Chữ này hẳn rất phù hợp với bác, chỉ sợ nó hơi… hiện đại.”

Bác Mãng nhích lại gần, ngắm nghía tấm giấy rồi như thấy có gì là lạ, bác xích lại gần chút nữa. Rồi bác cứ chăm chú nhìn mãi cái chữ duy nhất được vẽ trên đó.

“ Chữ gì mà lạ quá,” bác nhìn ông đồ, “ tôi chưa thấy bao giờ.”

“ Bác thấy lạ ở chỗ nào ? ” ông đồ tủm tỉm.

“ Nó là chữ TÂM chứ gì đâu, nhưng lạ là lại có dấu sổ bên trên như dấu huyền… La tinh ấy,” bác nói.

“ Thì nó đúng là dấu huyền mà,” ông đồ cười phá lên rồi gật gù như tìm được tri kỷ. “ Theo bác chữ TÂM có dấu huyền phía trên thì là chữ gì ? ”

“ Thì…” bác Mãng ngần ngừ, “… thì nó là chữ TẦM, đúng không ? ”

“ Chính xác,” ông đồ vỗ đùi đét một cái, “ nó là chữ TẦM. Như các ông quan chức bây giờ vẫn thi nhau nói : có tài, còn phải có tâm, có tâm lại còn phải có tầm… mốt ngôn ngữ thịnh hành hiện nay đấy, bác ạ. Rinh chữ này về treo phòng khách là hết sảy ! ”

“ Bác định đùa tôi phỏng ? ” bác Mãng cười xòa. “ Nhưng phải nói ông có nhiều sáng kiến lạ lùng.”

“ Không lạ lắm đâu bác,” ông đồ nói, “ đây là một phương pháp tôi thường xuyên sử dụng khi cần kiểm tra hoạt động của tiềm thức khách hàng. Tôi cứ vẽ lăng nhăng thứ gì đó, rồi yêu cầu họ nói tôi nghe họ nhìn thấy gì trong hình…”

“ Ông nói hệt như bác sĩ tâm lý,” bác Mãng nói. Nhờ đọc sách khá chăm chỉ, bác cũng biết dăm ba từ ngữ “ chuyên ngành ” và có tài dùng chúng một cách đắc địa trong những câu chuyện xã giao. “ Vô thức, rồi tiềm thức, ông hẳn đã tốt nghiệp đại học ? ”

“ Chính xác,” ông đồ nói, “ tôi tốt nghiệp chuyên ngành tâm lý học dị thường mấy năm trước sau vài chục năm làm đủ thứ nghề vặt vãnh… Nhưng thời vận chưa đến, tôi sống không nổi với nghề chính của mình, nên phải xoay thêm mấy nghề tay trái nữa.”

Bác Mãng thôi không xem các tờ thư pháp đang lung lay trước gió sớm nữa. Bác ngồi hẳn xuống chiếu, đối diện với ông đồ “ nhà tâm lý học ”.

“ Thế bác có sống được không ? ”

“ Đắp đổi qua ngày,” ông đồ nói. “ Tôi chọn phân ngành tâm lý học dị thường vì dự đoán số người trong xã hội ta mắc cái bệnh loại này sẽ ngày một tăng cao cùng với nền kinh tế thị trường. Thực tế thì tôi không sai, bác cứ đọc báo mạng hàng ngày sẽ thấy. Đủ thứ bệnh dị thường, đủ loại người dị thường, đủ dạng hành vi dị thường… Nhưng tôi vẫn không có khách. Những người “ dị thường ” ấy, họ không biết mình mắc bệnh, hoặc giả không biết có thầy chữa được, hoặc nghĩ có chữa cũng chẳng đi đến đâu… Rốt cuộc phòng mạch của tôi im ỉm cả ngày…”


Ông đồ ngừng nói, rót một chút nước trà và uống lấy giọng. “ Thế là tôi phải xoay sang… xem bói. Cũng phải nghiền ngẫm ít Kinh Dịch, thuộc lòng dăm ba quyển Tử Vi Đẩu số, học cách gieo quẻ, bói bài, đọc chỉ tay … rồi kết hợp với môn tâm lý học “ tủ ” của mình, tôi mới hành nghề cho ra trò được. Rốt cuộc cũng khá thành công — nhờ vào những người luôn cảm thấy “ bất an ” và muốn tìm kiếm một chỗ dựa tâm lý nào đó, dù nó chẳng có cơ sở nào cả… Tôi sống được, tuy không có tiếng tăm vang dội hay dư dả bạc tiền như mấy ông thầy bói chuyên nghiệp.”

Nhìn dòng người chen nhau trôi đi giữa lòng đường trên những chiếc xe gắn máy phun khói mù mịt, ông đồ chép miệng, “ Và cứ mỗi lần Xuân về, tôi lại nghiên bút ra đây bán mấy chữ Nho đổi lấy vài chiếc bánh chưng, khoanh giò thủ ăn Tết…”

Bác Mãng có vẻ cám cảnh. Bác đứng dậy, ra chỗ những mảnh giấy hồng. Ông đồ cũng đứng lên đi theo bác.

“ Hay là chữ DŨNG ? ” ông đồ chỉ tay vào một tờ treo giữa những mảnh giấy PHÚC, LỘC, THỌ … “ trong thời buổi này, nó sẽ nhắc nhở chúng ta hàng ngày về một đức tính then chốt để chống lại những cám dỗ tồi tàn của cuộc sống ? ”

“ Nó còn động viên chúng ta can đảm đấu tranh với tiêu cực, tham nhũng, nạn bè phái, lợi ích nhóm, tham vọng quyền lực, v.v. và v.v. đúng bài bản không ? ” bác Mãng tiếp rồi cười dài, “ nhưng rất tiếc chữ này chủ yếu dành cho các bậc ‘dân chi phụ mẫu’ treo ở đại sảnh công đường chứ còn dùng cho dân về hưu, lại thấp cổ bé họng như tôi thì e không phù hợp lắm.”

Ông đồ không nói gì, đi xa thêm về cuối dãy trưng bày.

“ Tôi tìm ra rồi,” ông kêu lên và trỏ tay vào một tờ giấy lớn đỏ như xác pháo. “ Bác phải có chữ này trong phòng khách, nhất định phải là nó…”

Bác Mãng lại gần và chăm chú quan sát, rồi bác lắc đầu.

“ Trời ơi ! ” ông đồ kêu lên, thất vọng. “ Chữ ĐỨC mà bác cũng chê à ? Sống trong thời đại đảo điên lấy kim tiền làm trọng này, không làm gì được cho đời thì chí ít cũng giữ được cho mình cái đức, bác không đồng ý sao ? ”

“ Vấn đề ở chỗ từ nhỏ đến giờ, tôi chưa bao giờ làm gì thất đức cả,” bác Mãng nói. “ Tôi sống trung thực, không chà đạp ai để leo lên quyền cao chức trọng, không dối trá như căn bệnh trầm kha của vô số con người hai mặt hiện nay, không a dua theo đám đông cơ hội… Vậy thì tại sao tôi lại phải treo chữ ĐỨC trong nhà ? Người ta nhìn vào đó lại lầm tưởng tôi đang thiếu đức nên mới phải tự nhắc nhở, đúng không ? ”

“ Tất nhiên tôi đồng ý với bác,” ông đồ nói. “ Treo thư pháp là để nhắc nhở mình, nhắn nhủ người… cũng là để cầu mong thứ gì đó mà mình chưa có, hay có chưa đủ. Nếu quả thật bác không thiếu đức, thì cũng chẳng cần treo…”

“ Ông nói vậy là ông hiểu tâm lý tôi rồi,” bác Mãng nói. “ Nhưng hỏi thật, ông còn chữ gì đặc biệt — thật đặc biệt, ông muốn gợi ý cho tôi không ? ”

“ Để tôi nghĩ,” ông đồ nói và lấy tay đưa lên trán, lông mày nhíu lại, mắt hơi nheo nheo như một kịch sĩ. “ Phải rồi, chữ này, chữ này rất hợp với trình độ tư duy của bác…”

“ Chữ gì ? ”

“ Chữ TRÍ,” ông đồ nói. “ Nhất định phải là TRÍ, một bậc trí giả như bác rất xứng đáng với chữ này ở vị trí trang trọng nhất của phòng khách.”

“ Thôi, tôi xin vái ông,” bác Mãng cười xòa, “ chữ đó là tối kỵ với tôi…”

“ Sao thế bác ? ”

“ Vì nhiều lý do. Thứ nhất, trong thời buổi nay, người ‘trí thực’ thì ít, bậc ‘trí giả’ thì nhiều… Hàng trăm, hàng ngàn ông giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ cứ mọc lên như nấm sau mỗi trận mưa phong học hàm, học vị, vậy mà chả hiểu vô số trong họ đã làm được nên những công trạng gì, hay chỉ biết chi vài trăm đô cho những tờ tạp chí khoa học lá cải đăng bài cho đủ số lượng để đoạt thành tích. Thứ hai, không có bậc trí giả chân chính nào lại khoe khoang sự hiểu biết của mình trước thiên hạ, nhất là lại thông qua một tấm thư pháp lủng lẳng trên tường; thứ ba, chữ TRÍ đó dễ gây hiểu lầm là đề cao sự khôn ngoan trong khi ở thời buổi này, dại thì chết mà khôn cũng chết — ông thừa biết rồi ; vậy cho nên tốt nhất là giấu cái trí tuệ của mình đi ngay cả khi mình có thừa thãi…”

“ Đến nước này thì tôi chịu thua,” ông đồ chặc lưỡi, “ bác đúng là người không giống ai… Không có gì làm bác vừa lòng cả, trong tư tưởng bác chỉ toàn là không, không và không…”

Ông đồ quay lại cái chiếu cói và ngồi xuống, rót trà. Rồi ông ngước nhìn lên vị khách mở hàng quý báu khó tính. Bác Mãng vẫn đứng đó, tần ngần như đang suy nghĩ điều gì. Rồi bỗng chợt, bác sải bước đến xấp giấy thư pháp đỏ màu xác pháo còn trắng treo trên vách lều. Bác chọn một tấm có cái khung nền đơn giản, rồi đi lại chỗ ông đồ.

“ Đây, tôi chọn cái này,” bác nói, và chìa tấm thư pháp trắng ra cho ông đồ nhìn.

“ Vậy hả bác ? ” ông đồ ngước lên, ngạc nhiên và tò mò, “ thế cuối cùng bác mua chữ nào — để tôi viết vào…”

“ Không cần viết gì cả,” bác nói và cười, “ nó ở sẵn đây rồi.”

“ Thế là sao ? ” ông đồ càng thêm ngạc nhiên.

“ Ông quen đố thiên hạ, bây giờ tôi đố lại ông nhé,” bác Mãng nói, “ ông nhìn thấy chữ gì trong tờ thư pháp này ? ”

“ Tôi chịu,” ông đồ nói sau khi đã ngoẹo cổ qua trái rồi qua phải vài lần để nhìn tờ giấy. “ Không có chữ gì cả. Nó trắng bốc…”

“ Một nhà tâm lý học như ông, chuyên đánh đố bệnh nhân với những hình vẽ trừu tượng, mà không nhìn thấy gì cả à ? ” bác Mãng nói, “ ông cố lần nữa, cho tiềm thức, vô thức, ý thức của mình thức dậy hết đi, chạy hết ga đi…”

Ông đồ im lặng, tập trung nhìn như chọc thủng tờ thư pháp trước mặt. Năm phút trôi qua.

“ Tôi nhìn thấy rồi,” ông buồn bã nói. “ Đó là chữ KHÔNG.”

Nguyễn V. Hương



NGUỒN : trích từ tập truyện Những anh hùng cô đơn 2 tác giả gửi tặng và cho phép phổ biến

2 thg 2, 2024

Thơ Xướng Họa :THẦN TÁO NGHẸN LỜI (Duy Anh và Các Thi Hửu )


 THẦN TÁO NGHẸN LỜI

Tháng Chạp hai ba, Táo đáo Trời,
Tình hình Thế Giới báo nơi nơi.
Thương vong động đất nghe kinh hãi,
Tổn thất giao tranh thấy rụng rời.
Pháo dập Ukraine còn tới tấp,
Bom vùi Hamas vẫn tơi bời.
Ngọc Hoàng đoái giúp, can giùm chúng
Thần tấu tới đây đã nghẹn lời !
DUY ANH
Xuân Giáp Thìn (2/2/2024)


HỌA: 1  TÁO VỀ TRỜI

Hai ba tháng Chạp Táo chầu Trời,
Báo cáo tình hình diễn khắp nơi.
Cô vít Hán gây chưa chết dứt,
Ukraine Nga phá xác tan rời.
Trung Đông Hamas bom vùi dập,
Động đất Mỹ, Âu, Á rối bời.
Táo khẩn Ngọc Hoàng ơn cứu giúp,
Cả xin cúi lạy kỉnh dâng lời.
*
An bình hạnh phúc phủ muôn nơi.
HỒ NGUYỄN (31-01-2024)

HỌA 2 : KHÓ THỐT NÊN LỜI

Hăm ba, Thần Táo phải chầu Trời,
Chùn bước khi mà sắp đến nơi.
Chẳng lẽ trình tâu toàn chuyện xấu,
Ngoài ra báo cáo rặt tin rời?!
Trần gian kinh tế đà suy sụp,
Thế giới an ninh đã rối bời.
Dịch họa, thiên tai tràn khắp chốn,
Làm sao có thể thốt nên lời!
Sông Thu (31/01/2023)

TIẾP PHỤ HỌA  3: CỨ NÓI HẾT


Tại sao khó thốt với ông Trời?
Việc đã phủ trùm khắp mọi nơi.
Chẳng lẽ dấu im bao chuyện xấu!
Sao không nói việc nát tan rời?
Việc lành cũng báo Trời hay biết,
Điều dữ trình lên dẫu rối bời!
Thượng Đế vốn thương yêu dưới thế,
Thành tâm cứ kính thật ra lời.
*
Ông Trời đâu có thích đùa chơi?

 HỒ NGUYỄN (01-02-2024)

 HỌA 4 :CHUYỆN TÁO

Eva xực bậy không tuân trời
Thế giới tành banh khổ đủ nơi
Vua Bếp chiến tranh đành tháo chạy
Đầu Rau động đất phải di rời
Bình thường mọi sự đều vui thỏa
Ngược lại nhân sinh thẩy rối bời
Cho Táo khó trình thiên hạ sự,
Ngọc Hoàng thấy vậy cũng im lời.
Thái Huy Feb/01/24

HỌA 5 :THẦN TÁO NGẠI LỜI
(Bát vận đồng khuôn)

Cá chép giùm đưa đến cổng Trời
Sớ trình Ngọc Đế khổ muôn nơi
Giàu sang giáp Tết người trông đợi
Nghèo khó đầu Xuân kẻ mộng rời
Cuộc chiến mơ ngừng sao diệu vợi
Giao tranh ước dứt lại bời bời
Thiên tai địch họa lui rồi tới
Táo chẳng tâu thêm ngại thốt lời
ThanhSong ntkp

Họa vần (2)
THẦN TÁO VIỆT NAM


Hăm Ba cưỡi chép Táo lên Trời
Khẩn báo Hoàng Thiên việc mọi nơi
Lạc Việt sơn hà đang xẻo nát
Rồng Tiên biển đảo sắp chia rời
Xuân kề đất khách người đau khổ
Tết cận quê Cha kẻ rối bời
Sớ thỉnh Thiên Lôi dùng sấm sét
Diệt sâu mọt nước, tấu ngưng lời
ThanhSong ntkp

HỌA 7 :TÁO QUÂN THƯỢNG SỚ…

Hăm ba tháng chạp Táo tâu Trời
Mọi chuyện trần gian rộn khắp nơi 
Tổn thất chiến tranh nghe rũ rượi 
Thương vong động đất thấy tiêu rơi
Ukraine đất nước hư hao mới 
Hamas đường hầm chết rã rời 
Thượng Đế lôi đình đang chới với 
Táo Quân tấu sớ biết bao lời…!
    MAI XUÂN THANH 

 HỌA 8 :TÁO QUÂN CHÀU TRỜI

"Thtk"

Dân trình cõi thế ngàn dông bão

Táo bẩm Thiên đình chuyện những nơi..!


DÂN báo năm nay mộng rã rời

TRÌNH lên cuộc sống thật tơi bời

CÕI đời kinh tế sầu trăm nỗi

THẾ giới đạn bom nghẹn những lời

NGÀN cảnh tham tàn gây lạc lối

GIÔNG mây ảm đạm trải quanh trời

BÃO bùng biến đổi ngàn tăm tối

TÁO BẨM THIÊN ĐÌNH CHUYỆN NHỮNG NƠI..!

Đức Hạnh

 

HỌA 9 :TÁO TẤU TRÌNH
 
Hăm ba Táo họp với ông Trời
Trần thế tấu trình chuyện khắp nơi
Phú quý nghênh tân dần thịnh đạt
Phiền ưu tống cựu sớm xa rời
Thiên đường mở cửa, hoài vui sướng
Quỷ sứ buông đao, hết nát bời
Sớ đọc say sưa giòn pháo nổ
Vung tay, Ngọc Đế quát: -Im lời !...
Lý Đức Quỳnh


HỌA 10 :THẦN TÁO VỀ TRỜI 


Hôm nay chư Táo trở về Trời 

Báo cáo tình hình ở mọi nơi

Kẻ nói nhân dân vui hạnh phúc 

Người thưa bá tánh nát tan rời

Lọc lừa ngụy tạo tâm gian xảo 

Ngay thẳng thật thà dạ rối bời 

Thượng Đế ngỡ ngàng rồi quyết định 

Phán rằng y cũ chẳng nhiều lời

Hưng Quốc 

 

HỌA 11 : TÁO TƯỜNG THẾ SỰ 2024

Thể song thanh, hoán và lạc 1 vần

 

Hăm ba Táo báo sự về trời

Thế giới đì đùng lỗ chỗ nơi

Lũ quỹ lăm le đòi đánh tới

Dân sinh cảm tử tránh bàn rời

 

Thằng bày bạo lực luôn khoe mẽ

Nước chống gò mình chả thả lơi

Lộ vận cơ nguy rồi sẽ lãnh.

Thiên ân phán xét trị từng lời.

Mai Thắng - 240202


Mời Xem Thêm :


SỚ TÁO QUÂN GIÁP THÌN - PHÚ

VTM 139_ MỘNG TÌNH XUÂN_Tâm Quã


 Xướng:

Mộng tình xuân
 
Mưa thuận gió hòa sông núi xanh
Gặp nhau ý hợp kết duyên lành
Bắc Nam đôi ngã duyên kỳ ngộ
Ân nghĩa một lòng diệu phước sanh
Hai họ sum vầy hoa kết trái
Trăm năm ước nguyện lễ viên thành
Tình Xuân gối mộng trăng tròn với
Con cháu chuyên cần sớm rạng danh


Tâm Quã

Họa 1:
 
Mái tóc xanh
 
Nhớ ngày mái tóc hãy còn xanh
Thiện nguyện dấn thân tạo phúc lành
Dạy dỗ luyện rèn nhiều bạn trẻ
Cảm thông am hiểu kiếp nhân sanh
Vườn xưa tri kỷ tình cờ gặp
Chỉ đỏ trăm năm thệ kết thành
Quyết chí cùng nhau xây sự nghiệp
Tâm đầu ý hơp sẽ thành danh
 
PTL
Jan. 2024

Chú thích:
Chỉ đỏ lấy ý từ điển tích Vi Cố đời Đường trong sách Tục U quái lục 
續幽怪錄
. 
Trăm năm một sợi chỉ hồng,
Buộc người tài sắc vào trong khung trời.
Sự đời thử ngẫm mà chơi,
Tình duyên hai chữ với người hay sao?
(Hoa Tiên Truyện 花箋傳 _ Nguyễn Huy Tự
)
Họa 2:

Mộng

Nhân sinh mộng tưởng thuở xuân xanh
Đạo đức chơn tâm đặng phước lành
Cuộc sống trần gian trò ảo mộng
Thinh không muôn sắc ngộ vô sanh
Thiên thu trong cái chơn không ấy
Khoảnh khắc viên dung chứng đạo thành
Hiện tại vô thường thôi bám giữ
Từ bi độ thế chẳng cầu danh
 
Hương Lệ Oanh VA
Jan. 16, 2024

Họa 3:

Xuân hoài niệm
 
Xuân về én liệng khắp trời xanh
Đồi núi quanh co suối nước lành
Vất vả bao năm đời sống vững
An nhàn mấy chốc nghĩa tình sanh
Mùa thu lỗi hẹn chia hai ngã
Tháng hạ cầu may mộng tất thành
Đất nước xa xôi hoài nỗi nhớ
Thương người em nhỏ bất cầu danh
 
Nguyễn Cang
Jan. 16, 2024 

Họa 4:


Mộng ngày xuân
 
Đông tàn nắng ấm cỏ cây xanh
Bướm lượn chim bay gió mát lành
Đón Tết mai vàng bừng tỉnh dậy
Mừng xuân đào thắm vội hồi sanh
Rượu hồng bánh mứt chưng đầy chợ
Pháo đỏ bông hoa kết khắp thành
Nữ tú nam thanh vui trẩy hội
Trai tìm vợ đẹp gái chồng danh
 
Mỹ Ngọc
Jan. 22, 2024

Họa 5:

Xuân cảm

Lửng lơ mây trắng dạo trời xanh.
Xuân đến, chúc nhau vạn sự lành.
Thời tiết dịu dàng mưa gió thuận,
Cỏ cây tươi tắn lộc chồi sanh.
Hận thù bốn biển mong dừng lại,
Hòa ái năm châu ước đặng thành.
Dõi mắt xem đời bao ngán ngẫm,
Giật giành khắp chốn, lợi cùng danh


Min
h Tâm

Mời Xem :


VƯỜN THƠ MƠí #138_ Bài Xướng Xuân đã về_Mỹ Ngọc  

1 thg 2, 2024

Đếm Giọt Tương Tư - Thơ Thuyên Huy

Mời Xem :

Đông Xưa Góc Phố Cũ - Thơ Thuyên Huy

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này

Hoa đào thuộc họ hoa hồng, có mặt ở nhiều nơi trên khắp thế giới. Ở Việt Nam, hoa đào được trồng nhiều nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Hà Nội.

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này, có loại giá bán lên đến cả trăm triệu- Ảnh 1.

Hoa đào là một trong những biểu tượng truyền thống của Tết Nguyên đán

Chỉ 3 tuần nữa là Tết Nguyên đán. Người người nhà nhà tất bật lo toan để chuẩn bị cho tháng “củ mật”, gom góp mọi thứ để đón một năm mới đủ đầy. Dù năm cũ có thăng trầm ra sao, buồn vui thế nào, ai cũng mong trong nhà có bánh chưng, mứt kẹo, chậu mai xuân, cành đào, cây quất… Vậy mới gọi là có không khí Tết.

Riêng với phong tục truyền thống phía Bắc thì ngày Tết không thể thiếu hoa đào, bởi loài hoa xinh xắn dịu dàng này mang trong mình nhiều ý nghĩa đặc biệt:

– Là tinh hoa đất trời mùa xuân, thanh khiết, trong lành, xua đuổi tai ương.

– Càng nhiều lộc nhiều hoa thì năm mới càng sung túc viên mãn, vạn sự hanh thông.

– Là loài hoa mang ý nghĩa đoàn viên, gắn kết tình cảm người thân, gia đình.

– Cầu chúc một năm an khang thịnh vượng, may mắn bình an.

Thấy hoa đào là thấy Tết, nhưng Tết xưa và nay không chỉ có duy nhất 1 loại đào. Liệu bạn có phân biệt được hết những loại hoa đào nổi tiếng nhất mỗi mùa Tết đến xuân về không?

1. Đào bích

Đào bích (hay bích đào) là loại phổ biến được rất nhiều người ưa chuộng, cũng là giống đào nổi tiếng ở làng Nhật Tân, Hà Nội. Đặc điểm của đào bích là hoa màu hồng đỏ rực rỡ, cánh kép mềm mại xếp chồng lên nhau, cành dày nụ, hương thơm nồng nàn tràn đầy sức sống.

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này, có loại giá bán lên đến cả trăm triệu- Ảnh 2.
Hoa đào bích rất dày, bông xòe to

Ngoài đào bích dạng cành quen thuộc còn có cả đào bích nguyên thuỷ. Loại này hiếm hơn và giá cũng cao hơn đào bích thường. Với những người sành chơi hoa thì sắm được một chậu đào bích nguyên thủy có gốc to xù xì, lâu năm và dáng đẹp là một thú vui sang chảnh.

Giá của đào bích có thể thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước, tuổi của cây, chất lượng, và thời điểm trong năm, đặc biệt là quanh dịp Tết Nguyên đán khi mà nhu cầu mua sắm tăng cao. Mức giá dao động từ vài trăm nghìn đến cả triệu đồng Việt Nam cho một cây đào bích.

2. Đào bạch

Đào bạch (hay bạch đào) là giống hoa vô cùng quý hiếm, khó trồng và khó chăm sóc để nở đúng dịp Tết. Hiện nay số lượng bạch đào cổ truyền thống chỉ còn lại rất ít và được nhiều đại gia săn lùng với giá cao ngất ngưởng.

Bạch đào có hoa màu trắng tinh khôi, bông to, cánh kép, nụ hoa dày, mọc đều khắp cành.

Bạch đào là dòng khó mua nhất, đẹp thanh tao với màu trắng như tuyết

Giá cây đào Bạch ở miền Bắc có thể dao động từ vài trăm ngàn đến vài triệu đồng, tùy thuộc vào kích thước và hình dáng của cây.

3. Đào phai

So với đào bích thì đào phai cũng là dòng hoa đại trà dịp Tết với giá cả phong phú bình dân. Màu sắc hoa y như tên gọi, hồng phớt nhạt giống đôi má thiếu nữ e ấp đón gió xuân.

Đào phai thường có 5 cánh đơn hoặc đa cánh, nụ xếp đều cành xen với búp lá, hương thơm nhẹ. Số lượng hoa trên cành ít hơn đào bích, cánh mỏng hơn và dễ rụng hơn. Làng đào Nhật Tân (Hà Nội) nổi tiếng với những vườn đào phai hút khách.

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này, có loại giá bán lên đến cả trăm triệu- Ảnh 10.
Cứ mỗi mùa Tết đến, đào phai được bày bán rất nhiều ở các chợ hoa

Do đó, giá đào phai năm nay sẽ tăng hơn so với mọi năm khoảng 200 – 300 nghìn đồng/cây. Hiện tại, giá đào của các vườn phổ biến từ 500 nghìn – 2 triệu đồng/cây.

4. Đào thất thốn

Được tôn là “vua của các loại hoa đào”, đào thất thốn sở hữu vẻ đẹp vô cùng ấn tượng. Điểm đặc biệt của giống đào này chính là hoa có thể mọc ở cả cành, ngọn, thân, thậm chí cả gốc cây.

Có nhiều cách giải thích khác nhau cho cái tên “thất thốn”:

– Cứ khoảng 7 “thốn” (1 thốn bằng 1 đốt ngón tay) lại chia ra các cành nhỏ, mỗi đầu cành ra hoa thường có 7 bông tượng trưng cho chữ thất.

– Lá đào thất thốn dài 7 khoảng “thốn” (7 đốt ngón tay), gấp 3 – 4 lần so với lá đào thường.

– Cứ 7 năm đào thất thốn mới ra hoa kép 7 tầng, mỗi tầng hoa có 7 cánh.

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này, có loại giá bán lên đến cả trăm triệu- Ảnh 15.
Đào thất thốn có giá trị cao cả về thẩm mỹ lẫn kinh tế, gốc đào càng lâu năm thì càng quý hiếm đắt đỏ

Dù hiểu theo nghĩa nào thì đây vẫn luôn là giống đào độc lạ, xa xỉ trong các loại hoa chơi Tết. Muốn “tậu” về thì khách phải bỏ ra số tiền từ vài triệu cho đến hàng chục triệu đồng. Có những cây đào thất thốn không thể bán, chỉ cho thuê với giá trên trời nhưng vẫn có người đam mê mang về chưng Tết, mong rước phú quý giàu sang đến nhà.

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này, có loại giá bán lên đến cả trăm triệu- Ảnh 16.
Hoa của đào thất thốn có màu đỏ hồng sang trọng với vô số cánh cụp giống hoa trà

Cành đào thất thốn mọc thẳng, ít phân nhánh với những nụ mầm đan xen dày đặc

Vì hình dáng đậm nét quý phái, cộng thêm bông hoa có kích thước lớn, cánh dày xếp bồng bềnh như mây, màu đỏ hồng rực rỡ bắt mắt nên xưa kia đào thất thốn chỉ dành cho vua chúa và nhà giàu thưởng lãm. Ngày nay hoa đào thất thốn đã được nhân giống phổ biến hơn, tuy nhiên cũng có loại đào mini mang đặc điểm hình dáng giống đào thất thốn, nên cần chú ý tìm hiểu kỹ khi muốn mua về trang trí nhà dịp Tết.

Đào Thất Thốn giá rẻ nhất 7-10 triệu đồng/cây, cao nhất lên tới hơn 100-200 triệu đồng/cây.

5. Đào đá

Khác với những loại hoa đào kể trên, đào đá mang vẻ đẹp mộc mạc vùng sơn cước với lớp vỏ xù xì xám bạc. Từ gốc đến cành đào đá bám đầy rêu, địa y, nấm mốc… Đào đá phù hợp với người thích hoa dáng tự nhiên và không cần uốn nắn cầu kỳ.

Đón xuân về, dân sành chơi hoa Tết đều biết đến 5 loại đào này, có loại giá bán lên đến cả trăm triệu- Ảnh 22.

 Loại hoa đào này có giá khá cao do nguồn gốc từ rừng núi. Mỗi cây đào đá đều có kích thước lớn, gốc nặng, cứng cáp, cành rậm nhiều nhánh, ít lá trông giống “củi khô”. Tuy nhiên khi đâm chồi nở hoa thì ai cũng bất ngờ vì đào đá mang vẻ đẹp vô cùng khác lạ. Bông đào 5 cánh đơn xòe to, viền trắng, hồng sậm dần từ ngoài vào đến nhuỵ, nở rất bền.

Theo tìm hiểu, đào đá Lào gốc lớn, thế đẹp có giá hàng trăm triệu đồng. Cây, cành nhỏ có giá từ 2-8 triệu đồng được nhiều người dân tìm mua về chơi trong dịp Tết trong những năm gần đây.


Nguồn: Cafebiz

Nên bỏ tục đốt vàng mã - Pham Xuân Cần


 

Mọi năm, VTV1 có chương trình nói về nguy cơ hỏa hoạn do tục đốt vàng mã gây ra. Trong đó VTV khẳng định đốt vàng mã là “không thể thiếu” và chỉ khuyến cáo người dân cẩn thận. Cuối chương trình một sĩ quan cảnh sát Phòng cháy chữa cháy hướng dẫn cách đốt vàng mã sao cho không gây hậu quả.

Theo mình, thì không hẳn như vậy.

Lần xem trong sách vở thì đốt vàng mã có nguồn gốc từ xa xưa ở Trung Quốc, sau đó lan đến các nước, nhất là các nước Đông Á.

Nhưng, ở Việt Nam, sách “Việt Nam phong tục” của cụ Phan Kế Bính, chỉ nói đến tục thắp hương, không thấy viết gì về đốt vàng mã. Tuy nhiên, trên thực tế đốt vàng mã cũng đã thành một tục, khá phổ biến từ xưa đến nay và đang có xu hướng phát triển.

Vụ đốt vàng mã được cho là lớn nhất Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là trong đám tang của vua Khải Định, băng hà vào ngày 25 tháng 11, năm 1925. Triều đình Huế đã làm nguyên cả ngôi điện Kiến Trung bằng giấy thật lớn và nhiều loại đồ dùng của vua như ngự liễn, long xa, tàn kiệu, v.v.. để đốt theo vua.

Thế nhưng, cũng dưới triều Nguyễn, năm 1933 vua Bảo Đại đã có chỉ dụ về việc cúng tế, trong đó cũng nói là không đốt vàng mã.

Hiện nay, mặc dù đã có không biết bao nhiêu văn bản về việc cấm hoặc hạn chế đốt vàng mã, rải tiền vàng trong đám tang, thế nhưng xem ra tình trạng đốt, rải tiền vàng chưa bao giờ “phát triển rực rỡ” như ngày nay.

Gần đây dư luận cũng đã lên tiếng nhiều về việc đốt vàng mã. Giáo hội Phật Giáo Việt Nam cũng đã khuyến cáo không đốt vàng mã. Ở thành phố Vinh, tôi biết chính xác có hai cụ trước khi qua đời đã yêu cầu con cháu không rải tiền vàng, mà rải tiền thật. Các cụ lý giải rằng: Rải tiền vàng vừa lãng phí, vừa ô nhiễm môi trường, còn rải tiền thật, thì những người nghèo sẽ nhặt những đồng tiền lẻ đó, ít ra là còn có ích.

Xem ra vàng mã cũng thật khó bỏ. Ngay gia đình mình, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng cũng chỉ hạn chế, chứ chưa thể bỏ được việc đốt vàng mã, khi ngoài mình ra, tất cả các thành viên khác trong nhà đang coi đó là một phong tục.

Dù khó, nhưng nên, cần và phải bỏ tục đốt vàng mã! Trước hết là trên truyền thông cần tỏ thái độ dứt khoát nói Không với vàng mã!