Em vẽ gì ư? Vẽ chiếc lá vàng Mùa thu đến em nhớ chàng quá đỗi Chiếc lá vàng tặng chàng ngày xưa đó Không biết giờ chàng còn giữ hay không?
Chiếc lá vàng có tình em mênh mông Có mây thu bàng bạc, có trăng vàng Có cả trái tim mơ mộng quy hàng Tình dâng hiến giờ đây tình mất biến
Em vẽ gì… một trái tim đẫm máu Thêm mũi tên xuyên qua thật đớn đau Tim buồn phiền vì người đã xa xăm Mới thu trước tình ta còn đằm thắm…
Tình úa vàng như chiếc lá mùa thu
Lá đỏ, tím… cuối cùng rồi tan vỡ Em hiểu mà, tình hiếm khi muôn thuở Nên tìm vui qua lời nhạc, câu thơ
Mùa thu về… ôi mùa thu mơ mộng Em ngồi thiền để đầu óc rổng không Quán vô thường để hiểu tình cũng thế Cũng là… không, tình mất chẳng quay về… Như Nguyệt
VOV.VN - Viêm tai giữa thường có nguyên nhân do viêm mũi họng điều trị
chưa đúng phương pháp hoặc điều trị chưa kịp thời, có thể biến chứng
nguy hiểm.
Viêm tai giữa là hiện tượng phần niêm mạc của tai giữa, bao gồm hòm tai, vòi tai (đường thông mũi tai), xương chũm bị viêm.
Nguyên nhân gây ra viêm tai giữa
80% các trường hợp viêm tai giữa là biến chứng của viêm mũi họng, hay gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi.
Một số trường hợp viêm tai giữa xuất phát từ:
+ Viêm mũi xoang điều trị không đúng: xì mũi....
+ Các khối u vùng vòm mũi họng chèn ép hoặc xâm lấn vùng vòi tai.
+ Gián tiếp qua chấn thương do áp lực tác động vào vùng vòi tai khi đi máy bay, lặn...
+ Viêm nhiễm trong một số bệnh tự miễn
Biểu hiện của viêm tai giữa:
Toàn thân: thường có 2 biểu hiện chính là
+ Sốt: thay đổi theo từng cá thể bị bệnh,
một số người viêm tai giữa đặc biệt là trẻ nhỏ sức đề kháng giảm sốt rất
nhẹ hoặc thậm chí không sốt.
+ Rối loạn tiêu hóa: ỉa chảy – chính vì
thế các bác sĩ nhi khoa có kinh nghiệm thường xuyên kiểm tra tai với
những trẻ đi khám vì rối loạn tiêu hóa.
Các biểu hiện có thể được người bệnh mô tả
+ Đau tai, tức tai: dễ dàng khai thác ở người lớn hoặc trẻ lớn.
Với những trẻ chưa biết nói sẽ biểu hiện như hay dụi phần tai viêm hoặc khóc khi bị chạm vào tai.
+ Ù tai và nghe kém: chỉ nhận biết được khi đối tượng viêm tai giữa là trẻ lớn và người lớn.
+ Biểu hiện tại mũi họng: Chảy mũi, ngạt tắc mũi
Khi thăm khám, thầy thuốc khám sẽ thấy gì?
Tùy theo giai đoạn của viêm tai giữa mà
có thể thấy các biểu hiện khác nhau để khẳng định các biểu hiện thu thập
được ở trên là viêm tai giữa.
Màng nhĩ sung huyết
Màng nhĩ ứ mủ
Màng nhĩ thủng và mủ chảy ra ống tai ngoài hoặc ra tận cửa tai
Tại sao viêm tai giữa hay tái phát?
Chúng ta biết được viêm tai giữa nguyên
nhân chính do viêm mũi họng điều trị chưa đúng phương pháp hoặc điều trị
chưa kịp thời, chính vì vậy mà nếu người chăm sóc trẻ không đưa trẻ đã
có tiền sử viêm tai giữa đi khám kịp thời hoặc những người lớn viêm mũi
xoang vẫn tiếp tục duy trì các biện pháp điều trị chưa thích hợp đặc
biệt là xịt rửa và xì mũi thường xuyên thì viêm tai giữa sẽ tái diễn khó
kiểm soát.
Viêm tai giữa có nguy hiểm không?
Đây là câu hỏi được nhiều bố mẹ đặt ra cho thầy thuốc tai mũi họng khi đưa con đi khám và được chẩn đoán là viêm tai giữa.
+ Đại đa số các trường hợp viêm tai giữa
không nguy hiểm tới tính mạng, tuy nhiên có thể ảnh hưởng tới một số
chức năng của tai: sức nghe giảm tuy nhiên không nhiều.
+ Một số viêm tai giữa gây biến chứng nội sọ có thể nguy hiểm tới tính mạng như:
+ Viêm màng não, áp xe não ... biến chứng
này thường xảy ra ở trẻ em do hiện tượng chưa liền của một số khớp nằm ở
trần hòm tai, nơi tiếp xúc với nội sọ, viêm nhiễm có thể lan vào màng
não, não...
+ Một số viêm tai giữa do lao, viêm tai giữa sau sởi... cũng có thể biến chứng vào nội sọ.
Làm thế nào để biết được trong những trường hợp nguy hiểm trên?
Người bệnh tự đánh giá: Đi kèm với các biểu hiện viêm tai giữa được mô tả ở trên còn có một số biểu hiện:
- Đau đầu dữ dội, trẻ em sẽ quấy khóc, bỏ ăn.
- Nôn vọt, thường không liên quan đến bữa ăn
- Thường xuyên nằm ở tư thế cò súng
- Sốt cao, rét run
Với bác sĩ, khi thăm khám, thấy:
- Tam chứng màng não:
Ðau đầu: Thường gặp, đau dữ dội, lan tỏa
hoặc khu trú, liên tục nhưng cũng có khi có cơn, tăng lên khi có tiếng
động, ánh sáng hay khi cử động đột ngột, nên bệnh nhân thường nằm yên
quay đầu vào chổ tối. Dùng thuốc giảm đau ít có tác dụng.
Nôn vọt: Nôn thành vòi nhất là khi thay đổi tư thế, nôn xong đở đau đầu.
Táo bón: không kèm chướng bụng, dùng thuốc nhuận tràng không đỡ.
Lưu ý: người già có khi không có đau đầu
và nôn nhưng thay vào đó là bất an, mất ngủ rồi đi dần vào hôn mê và ít
hội chứng kích thích chung; trẻ em có khi lại tiêu chảy.
- Tăng áp lực nội sọ: Nhức đầu, buồn nôn, nôn; Giảm các khả năng về tinh thần, Nhầm lẫn về thời gian, sau đó vị trí và những người xung quanh khi áp lực tăng xấu đi, Nhìn đôi, giảm phản xạ ánh sáng; Rối loạn nhịp thở, thở nông...
Cần khám bác sĩ tai mũi họng ngay khi có những biểu hiện được mô tả trên để có chẩn đoán xác định./.
Daron Acemoglu và James A Robinson đặt câu hỏi: Làm thế nào cân bằng giữa sự bảo vệ và nền tự do? “Đến Đan Mạch” là cách nói ẩn dụ phổ biến về công cuộc biến các quốc
gia trở thành những xã hội thịnh vượng, ổn định, được quản trị tốt,
thượng tôn luật pháp, dân chủ và tự do. Trong cuốn sách mới nhất, Daron
Acemoglu của MIT và James Robinson của Đại học Chicago, đồng tác giả của
cuốn “Tại sao các Quốc gia Thất bại” nổi tiếng, tiếp tục đề ra khuôn
khổ giải đáp câu hỏi làm thế nào đạt được sự biến đổi trên. Theo họ, câu
trả lời đơn giản là: khó. Câu trả lời sâu hơn là: “nền tự do xuất phát
từ sự cân bằng tinh tế giữa quyền lực nhà nước và xã hội”. Nền tự do không phải do nhà nước ban phát, cũng không phải giành được
từ sự cưỡng ép của nhà nước. Nó là sản phẩm của sự tranh đua và hợp tác
giữa nhà nước và xã hội. Nói theo nhà văn Lewis Carroll (tác giả cuốn
Alice ở Xứ thần tiên), các tác giả mô tả mối quan hệ này như là cuộc đua
“Nữ hoàng Đỏ”, trong đó, nhà nước và xã hội phải chạy cùng tốc độ nếu
muốn duy trì vị trí của mình. Rất quan trọng và cũng rất chính xác, cuốn sách không xem tự do nghĩa
là đơn thuần không có sự áp đặt của nhà nước. Khiến tự do bị xói mòn
không kém là những thứ như nam giới lấn át nữ giới, cấp trên áp đặt cấp
dưới, hay người giàu áp bức người nghèo. Theo mạch lập luận của triết
gia chính trị Philip Pettit, các tác giả cho rằng “nguyên lý cơ bản về
một cuộc sống viên mãn là…tự do thoát khỏi sự thống trị, sợ hãi và bất
an”. Xuất phát điểm phân tích của họ là cuốn Leviathan (Thuỷ Quái) của
triết gia chính trị người Anh ở thế kỷ 17, Thomas Hobbes. Với Hobbes, kẻ
thù chính là “Warre”, hay xung đột không có hồi kết. Để mang lại an
ninh, loại bỏ những cuộc đời “cô độc, nghèo, hèn, bẩn thỉu, tàn bạo và
ngắn ngủi”, ông cho rằng chúng ta buộc phải có một nhà nước hùng mạnh,
một chính quyền Leviathan toàn năng. Cuốn sách này gọi kiểu hình nhà
nước của Hobbes là “chuyên chế Leviathan” (Despotic Leviathan). Ngược với chuyên chế Leviathan là “Leviathan không tồn tại” (Abscent
Leviathan – hay vô chính phủ). Trong một số trường hợp, một xã hội vô
chính phủ đồng nghĩa với chiến tranh trong đó tất cả chống lại tất cả,
như Hobbes từng lo sợ, nơi mà sự báo thù dai dẳng sẽ thay thế cho nền
pháp quyền. Trong những xã hội như vậy, các mối thâm thù đẫm máu có thể
kéo dài nhiều thế hệ. Tuy nhiên vẫn có một hình thái thay thế cho “Leviathan không tồn
tại”: như một cái lồng sắt của những cấm đoán xã hội chụp lên người dân
buộc họ hành xử theo qui phạm. Những qui phạm phù hợp với vị trí của một
người trong cấu trúc giai tầng là một ví dụ. “Cái lồng sắt qui phạm”
như vậy có thể mang tính áp đặt. Theo định nghĩa, hầu như không thể nới
lỏng lồng sắt ràng buộc này, bởi vì nền lập pháp không tồn tại để thay
thế vai trò đó. Do đó phải có nhà nước. Với nền chuyên chế Leviathan, nhà nước hoàn toàn áp đảo xã hội. Ngược
lại với hình thái Leviathan vô chính phủ, xã hội chiếm ưu thế và nhà
nước không là gì. Đâu đó giữa hai hình thái này là một hành lang nơi mọi
thứ không quá nóng hoặc quá lạnh. Chỉ ở không gian hẹp này, tương quan
nhà nước và xã hội sẽ ở thế cân bằng. Cứ một bên lấn lướt thì bên kia sẽ
bắt kịp. Do đó, các tác giả cho rằng “để nền tự do nổi lên và thăng
hoa, cả nhà nước lẫn xã hội đều phải mạnh”. Đan Mạch có cả nhà nước mạnh và xã hội vững. Ngược với những lo ngại
của Friedrich Hayek, sự nổi lên của nhà nước với thuế khoá cao và phúc
lợi hậu hĩnh thực tế không dẫn đến số phận như ông mô tả trong “Đường về
nô lệ”. Thay vào đó là con đường chia sẻ tự do và sự thịnh vượng. Đây là điều mà Acemoglu và Robinson gọi là “Leviathan có ràng
buộc”(Shackled Leviathan). Chủ thuyết của họ là con đường đi đến hình
thái nhà nước này không đơn giản và cũng không tất yếu, nó có tính ngẫu
nhiên: phụ thuộc vào những qui phạm và thể chế khởi phát của một xã hội,
vào bản chất các cơ hội kinh tế và cả những điều vô tình. Ở Tây Âu, tiến trình đi đến “Leviathan có ràng buộc” bắt đầu bằng sự
sụp đổ của đế chế La Mã, với di sản là những ký ức về thể chế và nhà
thờ. Nhưng theo sau là giai đoạn tập hợp có chủ đích các bộ tộc người
Đức cùng nhau chinh phạt thành Rome. Đây chính là “cặp lưỡi dao” tạo nên
cây kéo thể chế châu Âu. Lập luận trên cho rằng, niềm tin vào nhà nước càng lớn, thì người dân
càng đòi hỏi nhà nước phải làm nhiều hơn và nhờ đó càng hiệu quả hơn.
Sự tin tưởng, không phải sợ hãi, chính là nền tảng của một nhà nước vững
mạnh. Do đó, một nhà nước chuyên chế Leviathan sẽ không hành động nhất
quán và hiệu quả bằng nhà nước Leviathan có ràng buộc. Trong lịch sử, Trung Quốc có nhà nước Leviathan chuyên chế qui mô
nhất thế giới. Nước này luôn giằng co giữa hai luồng tư duy cai trị:
giữa Pháp gia, áp đặt kiểm soát lên người dân, và Nho giáo vốn chú trọng
vào đạo lý vua tôi. Tuy nhiên, một nhà nước Trung Quốc không bị ràng
buộc không bao giờ có thể bảo vệ người dân trước sự tuỳ tiện của chính
nó. Theo đó sự thành công về kinh tế của nhà nước này nhất định có giới
hạn. Di sản lịch sử đã cho thấy kinh nghiệm rất khác biệt của các xã hội
hậu Liên Xô. Nga quay trở lại thời quân chủ chuyên chế chính vì sức ỳ
của xã hội. Nhờ vậy mà Vladimir Putin dễ dàng áp đặt trở lại hình thái
nhà nước Leviathan áp chế. Tuy nhiên, Ba Lan với một xã hội dễ vận động,
lại tiến gần hơn tới hình thái nhà nước Leviathan có ràng buộc. Tuy
nhiên không có gì là chắc chắn. Dường như Ba Lan ngày nay đang đi thụt
lùi trở lại chế độ chuyên quyền cùng với Hungary. Một trong những chủ thuyết lớn của cuốn sách là vai trò của giới tinh
hoa săn mồi (predatory elites) trong việc ngăn chặn sự xuất hiện của
hình thái nhà nước Leviathan có ràng buộc. Chủ thuyết này nêu bật sự
tương phản giữa Costa Rica và Guatemala, theo đó Costa Rica là một thành
công đi theo hướng này, còn Guatemala thì gánh chịu tai hoạ của giới
tinh hoa săn mồi. Lực đẩy đằng sau sự thất bại của Guatemala trong việc
thiết lập nhà nước Leviathan có kiểm soát là nhu cầu cưỡng ép lao động
của chính tầng lớp tinh hoa. Điều đó hoàn toàn đúng với khu vực phía Nam
châu Mỹ. Đối với người dân, hai tác giả gợi ý rằng, một nhà nước Leviathan
bằng Giấy (paper Leviathan) vừa áp chế vừa phi hiệu quả, có thể là hình
thái tồi tệ nhất của cả hai thái cực: “Loại hình nhà nước này vẫn chuyên
quyền, bỏ ngoài tai ý kiến nhân dân và trơ lì trước công luận, và không
do dự trong việc đàn áp hay tiêu diệt họ.” Đơn cử là Argentina. Phần
lớn Mỹ Latinh và châu Phi cận Sahara cũng rơi vào nhóm này. Chế độ Leviathan Giấy là pha trộn giữa độc tài Leviathan với
Leviathan vô chính phủ. Cuốn sách đề ra hai lý do cho sự tồn tại của
hình thái Leviathan giấy: một là những người nắm quyền không muốn nhà
nước vận động được nhân dân; hai là họ muốn khai thác triệt để mối quan
hệ thân hữu. Dù với lý do nào, họ không muốn nhà nước ở thế trung dung
và hiệu quả, mà phải thiên vị và phi hiệu quả. Cuốn sách này có tính nguyên thuỷ về mặt ý tưởng và thú vị hơn cuốn
sách trước đó của họ. Nó vượt xa khỏi trọng tâm thể chế để xoáy vào cách
thức một nhà nước thật sự hoạt động hiệu quả. Nó cho thấy việc đạt được
và duy trì một nhà nước Leviathan có ràng buộc là khó. Đi từ nhà nước
Leviathan độc tài sang vô chính phủ hay Leviathan giấy là dễ hơn nhiều:
Iraq là ví dụ gần nhất. Khi Saddam Husein sụp đổ, đất nước này tan rã,
bất kể có sự trợ giúp của Mỹ. Cuốn sách cũng nêu ra những câu hỏi lớn về tương lai, ví như chính
thể Leviathan tập quyền của Trung Quốc rồi sẽ thất bại trong việc đưa
nước này lên vị trí kinh tế hàng đầu thế giới. Tương tự, các tác giả cho
rằng cái lồng sắt của những qui phạm giai tầng sẽ tiếp tục kìm hãm Ấn
Độ, và nước này sẽ khó thành công. Câu hỏi quan trọng khác là liệu có thể kìm hãm được “Ý chí giành
quyền lực” không, ngay cả với nhà nước Leviathan có ràng buộc. Đây chính
là câu hỏi đối với Mỹ. Câu trả lời là phải tạo ra một nhà nước hiệu quả
hơn nữa, một nhà nước sẵn sàng hành động chống lại thiểu số săn mồi hay
nhà nước độc tài. Xã hội sẽ phải vận động một lần nữa. Nhưng liệu xã
hội sẽ làm điều đó không? Sự tiến bộ hướng tới “nhà nước Leviathan có ràng buộc” đòi hỏi một xã
hội được huy động và một nhà nước luôn đáp ứng. Không có gì đảm bảo sự
kết hợp này sẽ xảy ra. Mặt khác sẽ rất khó để đạt được và duy trì nó.
Nhưng không có gì là bất khả. Những ai trong chúng ta may mắn được sống
trong những xã hội và nhà nước như vậy đều có nghĩa vụ phải bảo vệ lấy
nó. Đây là bài điểm cuốn “The Narrow Corridor: States, Societies, and the Fate of Liberty”,
của Daron Acemoglu và James A. Robinson. Martin Wolf là chuyên gia bình
luận chính về các vấn đề kinh tế của tờ Financial Times.
Nàng ơi Ai đốt ngôi đền ấy Để những bùa thiêng rụng xuống đời
Thiên đường chỉ có đôi ta đấy Tuyệt mỹ mà sao lạnh...đất trời Dù cho Không thốt lời tuyệt vọng Thì trái tim si cũng nghẹn rồi Mưa của sông hồ hay biển động Mưa đổ lòng ta cũng thế thôi Ngày mai Ai thảo thơ nâng bút Vẽ lại trang tình đẫm lệ rơi Đêm nay một kẻ ngồi di chúc Gửi xuống mồ sâu những khóc cười TRẦN PHONG VŨ 30/9/2018 (ảnh:Quan tran )
Có đến hơn một triệu con lạc đà hoang dã ngày đêm rong ruổi trên vùng đất hẻo lánh của châu Úc
(Ảnh Getty Images )
Thành thật mà nói, tôi không nghĩ mình lại có thể nhìn thấy lạc đà ở Úc.
Thời
gian chầm chậm trôi đi khi ta lái xe trên Xa lộ Stuart ở Úc. Mang tên
nhà thám hiểm Thế kỷ thứ 19 John McDouall Stuart, người châu Âu đầu tiên
thành công du hành trên biển tới châu Úc rồi quay trở về; và xa lộ này
đi theo hành trình dài dằng dặc của ông. Trải dài 2.834 km, nó giống như một đường ống dài vô tận nối từ thành
phố cảng Augusta ở phía nam đến thủ phủ Darwin phía bắc, băng ngang qua
một vùng đất hoang dã rộng lớn. Người ta gọi con đường này là 'The Track', một cách gọi đã làm giảm bớt đi nhiều sự hùng vĩ thực sự của nó. Dọc
đoạn đường, tôi biết là mình sẽ gặp nhiều thú hoang, và biết chắc là vẻ
trống trải của vùng bình nguyên sẽ lác đác được tô điểm bởi các loài
động vật bản địa nổi tiếng là chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt của Úc.
Mấy con chuột túi đứng ngây người nhìn vào khoảng không xa xôi.
Vài con đại bàng đuôi nhọn khuỵu gối ngó nghiêng trước những con thú bị
xe cộ chẹt chết. Thỉnh thoảng có chú chó hoang dingo màu đất ló ra từ
bụi rậm, trông thon gầy và dẻo dai dưới cái nóng thiêu đốt. Tôi ngủ đêm tại những thị trấn hẻo lánh dọc đường. Thế rồi sau ba ngày rong ruổi, tôi bắt gặp một con lạc đà.
Lạc đà Ả-rập trên đất Úc
Tôi đã lên mạng kiểm chứng thông tin ngay tối đó để chắc chắn rằng mình không bị ảo giác. Hiểu theo lẽ thông thường thì lạc đà cũng như gấu Bắc Cực là loài rất xa lạ với nước Úc. Hoặc ít nhất thì trước kia là như thế. Nhưng
hoá ra là do tôi đã thiếu cập nhật thông tin một cách trầm trọng. Vùng
hẻo lánh này từ xưa đến nay vẫn là nơi sinh sống của hàng đàn lạc đà
hoang dã.
Vùng hẻo lánh trải rộng hơn 6 triệu cây số vuông, rộng gần gấp đôi diện tích Ấn Độ
Trang web Feral Scan, được chính phủ hậu thuẫn và nhằm giám sát những
loài xâm thực, đưa ra con số hiện thời là vào khoảng từ 1 đến 1,2 triệu
con lạc đà, và có xu hướng sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 8 đến 9 năm. Vậy làm thế nào mà loài thú ngoại bang này lại lưu lạc nơi đây với một số lượng khổng lồ như vậy? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải quay lại thời tiên phong của những nhà thám hiểm như Stuart. Trước
hết, cần phải làm rõ một đặc điểm quan trọng của vùng hẻo lánh ở châu
Úc. Bạt ngàn, trải rộng bốn phương tám hướng. Mênh mông. Đây đương nhiên
là một lời tuyên bố thần thánh, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng đó chính
là yếu tố khiến vùng đất này trở nên hẻo lánh. Diện tích nơi đây rộng hơn 6 triệu cây số vuông, gần gấp đôi Ấn Độ. Nơi đây, đường chân trời như nối tiếp đường chân trời.
Hành trình khai phá
Khi
người Anh bắt đầu định cư trên một số vùng dọc miền duyên hải châu Úc
từ cuối Thế kỷ thứ 18, đi cùng với chủ nghĩa thuộc địa thời đó là nhu
cầu khám phá và tìm hiểu toàn diện châu lục rộng lớn này. Thổ dân
châu Úc đã sinh sống trên mảnh đất này suốt mấy chục ngàn năm - họ đã
sinh tồn, thích nghi và hiểu rõ mảnh đất này - nhưng với những người
châu u lúc bấy giờ, lục địa này là một vùng chói chang và hoàn toàn xa
lạ.
Cuối Thế kỷ 19 - đầu Thế kỷ 20, lạc đà vận chuyển người và hàng hoá xuyên lục địa nước Úc Những cuộc khai phá trên mặt đất bắt đầu diễn ra thường xuyên, phần nhiều trong điều kiện khắc nghiệt.
Đôi khi, các nhà thám hiểm thu được những kết quả nhầm lẫn - ví dụ
một tấm bản đồ đầu Thế kỷ 19 đã từng vẽ ra một vùng biển nội thuỷ rộng
lớn nằm ngay trung tâm nước Úc. Thế nhưng với nhiều chuyến đi khác nhau, các nhà thám hiểm đã dẫn dần dựng lên được hình ảnh chân thực của châu Úc. Người ta tìm thấy các mỏ vàng, rồi các khu định cư và các tuyến giao thông được hình thành trong vùng hẻo lánh. Nhưng
để tới được các nơi trên một khoảng cách lớn như vậy, người ta cần dùng
đến những đoàn ngựa thồ, xe bò kéo, nhưng các loài động vật này lại
không đủ sức bền cho những hành trình kéo dài, khan hiếm nước nhiều
ngày. Vậy là cần phải tìm được loài nào khác thay thế. Trong thời
gian từ 1870 đến 1920, có khoảng 20.000 con lạc đà được nhập khẩu vào
Úc từ bán đảo Ả-rập, Ấn Độ và Afghanistan. Cùng đi với chúng là ít nhất
2.000 người huấn luyện hoặc chăn lạc đà, cũng lấy từ những nơi đó.
Nhanh chóng thích nghi
Bọn
lạc đà chủ yếu là loại một bướu (còn được gọi là lạc đà Ả-rập). Loài
móng guốc nặng đến nửa tấn với một cái bướu trên lưng này sinh ra chính
là để tồn tại trong khí hậu hoang mạc lục địa Úc: chúng có thể di
chuyển hàng tuần mà không cần uống nước, có đủ độ bền bỉ và sức lực để
chịu sức nặng của cả người cưỡi và thồ hàng vượt qua mảnh đất thường
xuyên bị nung nóng ác liệt. Những con lạc đà này và những người chăn dắt chúng đã để lại những ảnh hưởng đáng kể trong hàng chục năm tiếp theo. Trong
cuốn sách mà Anna Kenny là đồng tác giả, "Những người Hồi giáo chăn lạc
đà trên đất Úc, thời thập niên 1860-1930" (Australia's Muslim
Cameleers: Pioneers of the Inland, 1860s-1930s), bà nói rằng những người
chăn lạc đà đã không được ghi nhận công sức đúng mức dù họ có công lao
to lớn với nền văn hoá và kinh tế của xã hội Úc. "Những người
chăn lạc đà đã khai phá ra những cung đường cung ứng, vận tải hàng hóa
và liên lạc kết nối giữa những khu vực định cư nằm riêng rẽ với nhau,
giúp phát triển kinh tế cho vùng khô cằn của Úc. Họ cũng làm giàu thêm
bản sắc văn hoá nơi đây." Lạc đà thồ hàng trở thành một phần
không thể thiếu trong đời sống nơi hẻo lánh. Chúng thồ len, nước, cột
điện, tà vẹt đường ray xe lửa, trà và thuốc lá. Người thổ dân Úc châu
còn gắn lông lạc đà lên các sản phẩm nghệ thuật thủ công của họ. Thậm
chí ngày nay, chuyến tàu thượng hạng chạy dọc nước Úc từ thành phố
(phía Nam) Adelaide đến thủ phủ phía Bắc Darwin được đặt tên là The
Ghan, để tưởng nhớ đến những người chăn lạc đà, vốn thường được gọi một
cách phổ biến là những 'Afghans' - chỉ người đến từ Afganistan.
Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption
Bọn lạc đà hoang đã trở thành mối uy hiếp mạnh mẽ
đối với các cộng đồng cư dân sống ở vùng hẻo lánh và các loài động thực
vật hoang dã bản địa
Qua thời cực thịnh
Thế nhưng đến thời thập niên 1930, việc dùng lạc đà thồ hàng thất thế. Với
sự ra đời của động cơ đốt trong và cơ giới hoá vận tải, lạc đà trở
thành đồ thừa. Bất kỳ loài thú bốn chân nào cũng không thể cạnh tranh
được với một chiếc xe tải chở hàng, dù cho chúng chịu đựng tốt đến đâu
cái nóng 40 độ C. Thế là có hàng nghìn con lạc đà được thả vào
thiên nhiên hoang dã, nơi mà chúng nhanh chóng sinh sôi nảy nở. Chỉ chín
chục năm sau, chúng trở nên vô cùng đông đúc. Song điều này không ổn chút nào. Lạc đà từng là vấn nạn nghiêm trọng của Úc. Trông
thì chỉ to xác nhưng hiền lành vô hại, nhưng bọn lạc đà hóa ra lại phá
phách tai hại đối với các cộng đồng cư dân xung quanh. Chúng phá tan
hàng rào, làm vỡ các đường ống và tớp cạn nguồn nước. Chúng cũng cạnh
tranh khốc liệt với các loài bản địa, gặm sạch sành sanh cỏ. Theo
lời của nhà thám hiểm thời hiện đại Simon Reeve, lạc đà "gần như là
loài duy nhất cực kỳ phù hợp với điều kiện môi trường ở vùng hẻo lánh.
Mang chúng đến đây là ý tưởng tuyệt vời cho thời gian ngắn hạn, nhưng
về lâu về dài thì đó lại là thảm họa".
Bản quyền hình ảnhGetty ImagesImage caption
Những nông trại nuôi và chế biến sữa lạc đà như
QCamel Dairy (trong hình) đề cao mặt tích cực của lạc đà hoang dã bằng
cách quảng cáo lợi ích của sữa lạc đà
Bị tàn sát
Chính quyền đã thực thi nhiều biện pháp quyết liệt để ngăn chặn sự phát triển của lạc đà. Tin
tức hồi cuối năm 2013 nói rằng Dự án Kiểm soát Lạc đà Hoang dã do chính
phủ Úc tài trợ đã hạ sát gần 160.000 con lạc đà kể từ năm 2009, chủ yếu
bằng súng. Không ngạc nhiên gì, cách thức xuống tay tàn nhẫn này
đã bị một số người chỉ trích nặng nề, và đã có những nỗ lực nhằm biến
sự bùng nổ của lạc đà hoang dã ở Úc thành điều tích cực. Một ví dụ
điển hình trong số đó là trang trại Summer Land Camels, nơi hiện đang
chăn thả hơn 550 con lạc đà trong nông trại hữu cơ rộng 850 mẫu ở
Queensland. Họ ra sức quảng cáo về những ích lợi của sữa và những
chế phẩm sữa lạc đà: giàu acid béo không bão hòa và vitamin C, vốn rất
cần cho cơ thể người. Họ sản xuất một loạt các chế phẩm từ sữa lạc đà,
đầy đủ mọi thứ như phô mai tươi kiểu Pháp và phô mai ướp muối kiểu Ba Tư
và kem caramel mặn kiểu Ý. Cũng ở Queensland còn có trang trại
nuôi lạc đà và chế biến sữa QCamel Dairy, nơi tuyên bố sẽ ra mắt sản
phẩm sữa lạc đà vị sô-cô-la trong năm nay. Số phận tương lai của lạc đà hoang dã ở Úc vẫn còn là một ẩn số. Nhưng
dù sao thì tôi vẫn vô cùng kinh ngạc bởi số lượng của chúng ở đây. Kể
từ sau chuyến xe đầu tiên trên đường cao tốc Stuart, tôi đã có thêm hai
hành trình xuyên lục địa Úc, nhưng không hề gặp một con lạc đà hoang dã
nào nữa, dù chỉ là thoáng qua một hình bóng xa xăm. Nhưng đó
chẳng phải là đặc trưng của châu Úc sao - mảnh đất trải dài vô tận, nơi
có đường chân trời nhoà đi trong cái nóng thiêu đốt, và thậm chí đến số
liệu thống kê cũng là được đưa ra dựa trên một quy mô khó đoán. Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.
Nên ăn gì để tốt cho tiêu hóa?
Câu trả lời không bao giờ là đơn giản. Tây y có những lời khuyên
dinh dưỡng chung cho mọi người dựa trên các nghiên cứu và được
cập nhật theo thời gian. Đông Y- nền y học cổ xưa nhất cũng đưa
ra câu trả lời cho từng người dựa trên nền tảng lý luận chặt
chẽ của riêng mình. Trên thực tế không có một công thức hoàn
hảo duy nhất cho tất cả vì mỗi người đều không giống nhau,
hoàn cảnh xung quanh cũng khác biệt.
Đông Y
là nền y học cổ xưa nhất, lớn thứ hai thế giới và được sử
dụng cho một phần ba dân số toàn cầu. Trước khi thảo luận việc
sử dụng Đông Y để điều trị bệnh lý tiêu hóa, chúng ta cần
hiểu nguyên lý cơ bản của Đông Y.
Lưỡi/miệng
Quá
trình tiêu hóa bắt đầu từ miệng. Trong thăm khám Đông Y, thông
thường người thầy thuốc sẽ yêu cầu bệnh nhân đưa lưỡi ra để
quan sát.
Cơ quan
tiêu hóa tiếp theo là tỳ (lách). Nếu có triệu chứng chướng
bụng, tiêu chảy/phân nát, phân sống, mệt mỏi, chán ăn, bác sĩ
Đông Y sẽ có thể chẩn đoán bạn bị tỳ hư.
Một
trong những vai trò của tỳ là biến thức ăn và dịch thành các
chất dinh dưỡng hữu ích, đồng thời vận chuyển những chất này
đi khắp nơi theo nhu cầu của cơ thể. Việc điều trị tỳ hư bao
gồm các thực phẩm như bí, cà rốt khoai lang, gạo chín, gừng,
và một ít mật ong trong bữa ăn. Cùng với đó là hạn chế hoặc
loại bỏ sữa, cam quýt, đồ ăn chiên và nhiều đường trên bàn ăn.
Ảnh: Phunutoday.
Gan
Gan
giúp thanh lọc máu và giải độc cho cơ thể. Gan cũng tiết mật
được dự trữ trong túi mật. Mật đóng vai trò hỗ trợ tiêu hóa
chất béo. Trong Đông Y, những thực phẩm biến tính, hóa chất,
chứa mỡ không tốt, đồ gây say (bia, rượu) đều là những nguyên
nhân gây bệnh gan.
Gan còn
đóng vai trò điều chỉnh cảm xúc con người. Một người có gan
hoạt động không tốt sẽ dễ cáu gắt, chán nản, ngoan cố và ít
kiên nhẫn. Rễ hoặc lá cây bồ công anh, cây kế sữa, atiso, và
các thực phẩm giàu diệp lục như tảo lục, cỏ lúa mì đều có
lợi cho gan. Bên cạnh đó căng thẳng đặc biệt càng làm bệnh gan
thêm trầm trọng, bởi vậy thư giãn và kiểm soát stress là một
biện pháp hữu hiệu để dưỡng gan.
Người
bị táo bón thì nên tránh uống rượu, bánh mì lên men, đồ ăn
“trắng” đã qua tinh chế như gạo trắng, đường trắng, bánh mì
trắng. Những món ăn dành cho người tiêu chảy kéo dài bao gồm
nước gạo, hạt hướng dương, khoai lang, đậu đỏ.
Trên
thực tế nhiều thuật ngữ trong Đông Y không tương đồng với Tây Y
(chẳng hạn tỳ không thực sự chỉ lách trong Tây Y mà ta biết,
can không thực sự là gan mà ta biết), nhưng về nguyên tắc là
tương đồng: ăn uống lành mạnh, cân bằng, ăn thực phẩm tự nhiên,
hạn chế ăn đồ chế biến sẵn và cuối cùng là ăn đúng giờ, nhai
kĩ!
Nếu bạn nói rằng bạn đang bị 'kiệt sức' vào đầu những năm 1970, có thể bạn sẽ khiến một số người nhướn mày.
Ai cũng có thể bị kiệt sức
Vào thời điểm đó, thuật ngữ này được sử dụng không chính thức để mô tả các tác dụng phụ mà những người sử dụng ma túy nặng gặp phải: ví dụ như suy giảm năng lực trí óc, như trường hợp của nhiều người tiệc tùng thâu đêm suốt sáng.
Tuy nhiên, khi nhà tâm lý học người Mỹ gốc Đức Herbert Freudenberger lần đầu tiên nhìn nhận vấn đề kiệt sức ở thành phố New York năm 1974 tại một phòng khám dành cho người nghiện và người vô gia cư, Freudenberger không hề nghĩ đến những người sử dụng ma túy.
Các tình nguyện viên của phòng khám thực sự cũng chới với: công việc của họ rất căng thẳng; nhiều người bắt đầu cảm thấy mất đi động lực và cạn kiệt cảm xúc.
Mặc dù họ đã từng thấy công việc của họ rất có ích, nhưng họ trở nên bi quan và trầm cảm; họ không dành cho bệnh nhân sự quan tâm mà họ đáng có.
Freudenberger định nghĩa tình trạng mới đáng báo động này là tình trạng kiệt sức do làm việc quá sức kéo lâu - và mượn thuật ngữ 'kiệt sức' để mô tả nó.
Sự phổ biến của nó đang bùng nổ. Ngày nay, kiệt sức là một hiện tượng toàn cầu.
Mặc dù số liệu thống kê về sự lan rộng của kiệt sức khó có được, chỉ riêng ở Anh đã có 595.000 người mắc chứng căng thẳng trong công việc vào năm 2018.
Người chơi thể thao bị kiệt sức. Các ngôi sao YouTube cũng bị. Doanh nhân cũng bị. Bản thân Freudenberger cuối cùng dính.
Hồi cuối tháng 5/2019, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông báo rằng căn bệnh trào lưu này sẽ được ghi nhận trong ấn bản mới nhất Cẩm nang Phân loại Bệnh Quốc tế, trong đó nó được mô tả là hội chứng 'do căng thẳng kinh niên tại nơi làm việc mà không được kiểm soát thành công'.
Theo WHO, kiệt sức có ba yếu tố: cảm giác kiệt sức, tinh thần không tập trung được vào công việc và hiệu suất kém hơn trong công việc.
Để xác định tình trạng tiền kiệt sức,
hãy chú ý tới những thói quen xấu ngày càng nhiều, như uống nhiều hơn và
ăn nhiều thức ăn có đường trong ngày
Nhưng đợi cho đến khi kiệt sức hoàn toàn rồi mới làm điều gì đó thì chẳng có ích gì cả, và cũng như đối với bất kỳ căn bệnh nào khác, bạn sẽ không chờ đợi cho đến khi quá muộn mới tính cách chạy chữa.
Cảm thấy kiệt sức
Vậy làm thế nào bạn có thể biết được là mình gần như - nhưng không thật sự - kiệt sức?
"Nhiều dấu hiệu và triệu chứng của tiền kiệt sức rất giống với bệnh trầm cảm," Siobhán Murray, nhà trị liệu tâm lý có trụ sở tại County Dublin, Ireland, và là tác giả của một cuốn sách về sự kiệt sức, 'The Burnout Solution', nói.
Murray đề nghị theo dõi dấu hiệu của những thói quen xấu, chẳng hạn như uống rượu nhiều hơn và phải dựa vào đường để qua ngày.
Cũng cần cảnh giác coi có cảm giác mệt mỏi vốn sẽ không hết đi hay không.
"Ngay cả khi bạn đã có giấc ngủ ngon nhưng vừa mới 10 giờ sáng, bạn đã đếm ngược mong cho đến giờ đi ngủ. Hoặc không có năng lượng để tập thể dục hoặc đi bộ."
Ngay khi bạn bắt đầu cảm thấy như vậy, Murray khuyên bạn nên đi khám bác sĩ.
"Trầm cảm và tiền kiệt sức rất giống nhau. Tuy nhiên, mặc dù gần đây người ta hăng hái nhìn nhận rằng kiệt sức giờ đây đã trở thành một vấn đề sức khỏe, nhưng nó vẫn chưa được xem như vậy - trầm cảm vẫn được phân loại là một hiện tượng nghề nghiệp."
Điều quan trọng là cần phải có sự giúp đỡ từ người có chuyên môn y tế để phân biệt giữa hai tình trạng này, bởi vì mặc dù có nhiều lựa chọn để điều trị cho bệnh trầm cảm, nhưng cách tốt nhất để cải thiện tình trạng kiệt sức vẫn là thay đổi lối sống.
Vậy làm thế nào để biết rằng bạn thực sự đang kiệt sức hết mức, hay chỉ là đang trải qua một tháng đầy thử thách, khó khăn?
"Điều quan trọng là tâm trạng căng thẳng, và sự lo lắng sẽ thúc đẩy chúng ta làm việc tốt," Murry giải thích. "Khi chúng ta liên tục phải đối mặt với căng thẳng, lo lắng và chúng ta không buông tay, thì khi đó là lúc ta bắt đầu rơi vào tình trạng kiệt sức."
Bản quyền hình ảnhAlamy
Hãy xem xét tới một dự án lớn mà bạn đang thực hiện. Thật bình thường khi cảm thấy adrenaline dồn lên, và có lẽ nó khiến bạn thức khuya.
Nhưng, Murray nói, nếu bạn vẫn cảm thấy bồn chồn một khi dự án đã kết thúc thì cần phải xem bạn có nguy cơ bị kiệt sức không.
"Đó là khi bạn để dự án cuốn theo mình trong suốt cả ngày, và để cho nó cứ tiếp tục ám ảnh bạn," bà giải thích.
Một dấu hiệu kinh điển khác của việc nhích gần hơn đến kiệt sức là sự bi quan: cảm giác như công việc của bạn có ít giá trị, tránh các cam kết xã hội và trở nên dễ thất vọng hơn.
"Một người nào đó trên bờ vực có lẽ sẽ bắt đầu cảm thấy mụ mị về tình cảm và tâm thần để đâu đâu," Jacky Francis Walker, nhà trị liệu tâm lý ở London chuyên về kiệt sức, nói. "Giống như họ không có khả năng tham gia nhiều vào những điều bình thường trong cuộc sống."
Bà cũng khuyên bạn nên tìm kiếm dấu hiệu kiệt sức cuối cùng, đó là cảm giác không thể lay chuyển rằng chất lượng công việc của bạn đang bắt đầu trượt dốc.
"Mọi người nói 'Nhưng đây không phải là tôi!', 'Tôi không phải như vậy', 'Tôi thường có thể làm được x, y và z'. Nhưng rõ ràng nếu họ ở trong tình trạng suy nhược về thể chất, thì họ không còn trong phạm vi năng lực bình thường của họ," Walker nói.
Nếu điều này nghe có vẻ ít khoa học, hãy xem xét Maslach Burnout Inventory (MBI), một thử nghiệm được thiết kế để đo lường kiệt sức.
Được sử dụng rộng rãi nhất là Khảo sát Chung MBI, dùng để đo lường những thứ như kiệt sức, bi quan và bạn nghĩ bạn đang làm việc tốt như thế nào.
Được công bố lần đầu năm 1981, kể từ đó nó đã được trích dẫn hàng trăm lần trong các nghiên cứu. Mặc dù nó thường được sử dụng để đo lường sự kiệt sức một khi nó phát tác tối đa, không có lý do gì bạn không thể áp dụng nó để xem bạn có đang gần đến kiệt sức hay không.
Bạn đang bị tiền kiệt sức: Tiếp theo là gì?
Cách duy nhất để chấm dứt kiệt sức - và đẩy nó đi mãi mãi - là nhổ tận gốc vấn đề gây ra nó.
"Bạn đang có điều gì xảy ra trong đời mà bạn có thể tạm thời hoặc loại bỏ vĩnh viễn? [Ngủ thật nhiều] có thể giúp bạn phục hồi khỏi tình trạng trông như kiệt sức," Murray nói.
Walker có một chương trình gồm ba bước, bao gồm tìm hiểu tại sao có sự không ăn khớp giữa những gì một người có thể làm được và những gì họ cảm thấy người ta đòi hỏi họ phải làm.
"Đôi khi là vì họ cảm thấy cần phải hoàn hảo quá mức, hoặc họ có thể mắc hội chứng kẻ mạo danh khi họ phải làm việc rất chăm chỉ để che đậy rằng họ không hoàn toàn có năng lực như mọi người nghĩ."
Tuy nhiên, đôi khi môi trường làm việc là vấn đề.
Theo một nghiên cứu của Viện Gallup năm 2018 với 7.500 nhân viên Mỹ, kiệt sức bắt nguồn từ sự đối xử không công bằng trong công việc, khối lượng công việc không xử lý nổi và sự thiếu rõ ràng về vai trò của một người trong công việc là như thế nào.
Nhân viên cũng bị áp lực do thiếu sự hỗ trợ từ người quản lý và áp lực thời gian không hợp lý.
"Một vấn đề khác có thể là các giá trị của công ty đối chọi nhau nghiêm trọng với các giá trị của cá nhân, điều này tạo ra cảm giác căng thẳng và tréo ngoe, bởi vì họ đang làm những điều mà họ không tin," Walker giải thích.
Trong một số trường hợp, khách hàng của bà có thể giải quyết vấn đề bằng cách làm thêm một vài việc gì đó khiến họ cảm thấy hài lòng, là các việc nằm bên ngoài công việc, nhưng rất hiếm khi họ quyết định có thay đổi triệt để hơn, chẳng hạn như thay đổi công ty hoặc thậm chí chuyển sang một ngành nghề mới.
Cho dù nguyên nhân của sự kiệt sức của bạn là gì đi nữa, lời khuyên hàng đầu của Murray là hãy tử tế với chính mình.
Theo kinh nghiệm của Murray, một lực đẩy chính của tình trạng kiệt sức lan tràn là văn hóa muốn tất cả ở ngày nay.
Thường thì không thể nào cùng một lúc có được hết nào là cuộc sống xã hội lành mạnh, nào là làm được một dự án lớn, và đạt được tất cả các mục tiêu thể dục cá nhân.
Bà nói rằng điều hết sức quan trọng là phải có ưu tiên và không kỳ vọng quá nhiều vào bản thân; trong khi những người khác dường như là cùng một lúc vừa là cha mẹ hoàn hảo, thần tượng thể hình và là bạn bè dễ chịu, có lẽ họ đã làm chúng ta hiểu sai - hoặc ít nhất là họ đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ.
Nếu bạn cảm thấy rằng bạn có thể sắp bị kiệt sức, hãy lùi lại một bước, tìm hiểu xem có điều gì sai không - và hãy để bản thân thoát khỏi tình trạng đó.