1 thg 6, 2017

Học sinh viết về Salvador Dali trong bài luận văn tốt nghiệp phổ thông (Từ Văn Việt)


Cháu Cristina Mary Hjortlund, bố Đan Mạch (làm việc tại Việt Nam), mẹ Việt, sinh năm Dần ở Hà Nội, từ bé học trường quốc tế HIS và UNIS (Hà Nội), từ lớp 6 học phổ thông ở quê bố ở Copenhagen.
Bản thân người viết mấy lời “chapeau” này, một nhà báo chuyên viết về Mỹ thuật trong nhiều năm, đã giật mình thon thót khi đọc bài của cô học trò 18 tuổi. Ngay từ lời “tuyên bố” mở đầu đã có tư thế của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp: “Mục đích tôi nghiên cứu chủ đề này là bởi vì tôi thấy cho tới nay còn thiếu sự hiểu biết về ảnh hưởng của phương pháp này tới Dalí. Có nhiều công trình nghiên cứu về tranh của Dalí song không thấy đề cập vai trò của phương pháp hoang tưởng-phê phán. Những thông tin có thể tìm thấy hiện nay liên quan đến phương pháp này thì hoặc là quá sơ sài còn không thì lại quá chung chung. Tôi nghĩ đây là một đề tài đáng quan tâm bởi lẽ tôi thấy phương pháp này giúp ta vượt qua những giới hạn của cách nghĩ quá lệ thuộc vào lý trí và nó giúp chúng ta khám phá một định nghĩa thật sự về thế nào là “hiện thực” ở ngay trong thế giới chúng ta đang sống”. Cho đến những phân tích cụ thể về bố cục, màu sắc, ánh sáng ở ba bức tranh Dali, thì… chắc các nhà nghiên cứu Mỹ thuật ở nước ta cũng phải… gật gù!
“Tiểu luận tốt nghiệp phổ thông” của cô học trò Cristina mà tôi xin được phép của gia đình cô đưa lên Văn Việt và Bauxite Vietnam, đáng cho các nhà giáo dục và cha mẹ học sinh Việt Nam tham khảo, để nhận ra con em mình có thể làm những gì nếu được hướng dẫn đúng cách, để các vị có trách nhiệm quyết định “trận đánh lớn về giáo dục” xem xét sao cho đường hướng cải cách sắp tới không khiến cho con em nước nhà cứ ngày càng đi sau xa lắc trình độ chung của trẻ em thế giới!
Cũng nhân đây xin giới thiệu: ông ngoại cô học trò lớp 12 này là nhà giáo dục Phạm Toàn, người khởi xướng và chủ biên bộ sách giáo khoa Cánh Buồm. Một vài cơ sở đang dùng sách Cánh Buồm đã cho “ra lò” những “nhà thơ” lớp 4 hoặc lớp 5 mà Văn Việt đã có lần giới thiệu hoặc “nhà” viết tiểu luận lớp 5 cỡ như bài này: “Con mắt bên trong của Hoàng Cầm và nỗi nhớ miền quê bị giặc chiếm qua bài thơ “Bên kia sông Đuống”. Trong bộ sách Trung học cơ sở Cánh Buồm, sách Tiếng Việt Lớp 9 thực sự là cuốn sách tổ chức cho học sinh dùng tiếng mẹ đẻ để khảo sát những vấn đề triết học, và sách Văn Lớp 9 thì chỉ học hai tác phẩm, Truyện Kiều (học trong 5 tháng, để khi vào đời thanh niên nào cũng thuộc áng văn chương bất hủ đó của dân tộc), và Faust (học trong 2 tháng) để những trang thanh thiếu niên kia sẽ không chỉ “… qua huyện Nghi Xuân, bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều…” – tác phẩm của Goethe bổ sung một chủ đề có tầm cỡ loài người hơn vì đi sâu vào tấm lòng từng cá nhân hơn: “con người tiến lên thông qua những lầm lạc”.
Nhà giáo dục Phạm Toàn nhắn nhủ: “Nhóm Cánh Buồm xin “đấu thầu” bằng cái giá “bỏ thầu” này: cho chúng tôi thực nghiệm ở một trưởng Phổ thông cơ sở, sau ba năm sẽ có 70 phần trăm học sinh lớp 9 giỏi hơn 90 phần trăm học sinh lớp 12 cùng thời”. 
clip_image001
Hoàng Hưng

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP PHỔ THÔNG MÔN NGHỆ THUẬT THI GIÁC  
Trường : HERLUFSHOLM
GV Hỗ trợ : Birgitte Lamb

Đề tài: “Phương pháp hoang tưởng-phê phán và ảnh hưởng của phương pháp này trong kỹ thuật sáng tác của họa sĩ Salvador Dalí”
(Câu hỏi nghiên cứu: Phương pháp hoang tưởng-phê phán ảnh hưởng tới các tác phẩm của Salvador Dalí như thế nào?)
Tóm tắt
Tiểu luận này đặt mục tiêu nghiên cứu phương pháp hoang tưởng-phê phán (paranoiac-critical method) đã ảnh hưởng thế nào tới các tác phẩm của Salvador Dalí. Đề tài này dĩ nhiên có nằm trong môn Nghệ thuật thị giác và tôi chủ yếu tập trung vào nghiên cứu Dalí đã sử dụng thế nào các yếu tố hình thức của hội họa, chức năng và mục đích của các yếu tố ấy, làm công cụ để sáng tác. Từ đó tôi muốn chỉ ra Dalí đã sử dụng phương pháp hoang tưởng- phê phán trong nhiều tác phẩm của ông. Ngoài ra tôi cũng sử dụng các câu hỏi phụ liên quan và chọn ra ba bức tranh của Dalí để phân tích nhằm làm rõ hơn đề tài nghiên cứu “Phương pháp hoang tưởng- phê phán ảnh hưởng thế nào tới các tác phẩm của Salvador Dalí?”
Để trả lời câu hỏi trên, tôi đã nghiên cứu tính cách và tiểu sử của người họa sĩ này. Sau đó tôi trình bày định nghĩa về phương pháp hoang tưởng- phê phán theo nhận thức của tôi. Sau cùng tôi thử vận dụng các nguyên tắc của phương pháp này để phân tích ba tác phẩm của Dalí: Dream Caused by the Flight of a Bee around a Pomegranate a Second before Wakening up, sáng tác năm 1944) (Giấc mơ xảy ra trong một giây thì tỉnh giấc có nguyên nhân là một con ong bay quanh một quả lựu); The Persistence of Memory, sáng tác năm 1931 (sự dai dẳng của ký ức) và; Swans Reflecting Elephants, sáng tác năm 1937 (Bóng của các con thiên nga biến thành các con voi).
Để đưa ra được kết luận đầy đủ, tôi đã nghiên cứu các ghi chép riêng tư của Dalí được xuất bản thành sách (cuốn Nhật ký của một thiên tài bẩm sinh), các bài phỏng vấn Dalí, tranh của Dalí in thành sách và một số trang web. Kết luận tôi rút ra là Dalí chịu ảnh hưởng rất nhiều từ phương pháp hoang tưởng-phê phán, ảnh hưởng này được thể hiện ở kỹ thuật ông đặt mọi thứ ông bắt gặp ở trong trạng thái hoang tưởng vào trật tự đồng thời cấp cho chúng một ý nghĩa tinh thần.
Dẫn nhập
Vào đầu những năm 1930, họa sĩ người Tây Ban Nha Salvador Dalí đã sáng tạo ra kỹ thuật vẽ được ông đặt tên là Phương pháp hoang tưởng-phê phán. Bằng phương pháp này Dalí đã từ bỏ những quan niệm, khái niệm, cách hiểu quen thuộc mỗi chúng ta vẫn thường có trong thế giới của hiện thực. Phương pháp này giúp ông nhìn thế giới theo những cách thức mới mẻ, theo cách khác đi và giải phóng mọi giới hạn. Điều này có được là nhờ kỹ thuật khuyến khích làm xuất hiện trạng thái hoang tưởng[1]. Dalí định nghĩa phương pháp này như sau: “từ cơ sở là trạng thái hoang sảng ta có thể tìm thấy sự lý giải, tìm thấy sự nhận thức tưởng như phi-lý tính”[2].
Phương pháp hoang tưởng-phê phán bắt nguồn từ hội họa siêu thực. Với phương pháp này Dalí có thể tạo ra một kiểu hình thức mới mẻ cho hiện thực, hình thức ấy thoạt nhìn có thể gây hiểu nhầm. Dalí có thể gợi cho người xem cách hiểu các đồ vật, các hình ảnh trong tranh của ông tưởng như chúng không có liên hệ với nhau nếu nhìn theo cách lập luận logic thông thường. Dalí đã sử dụng phương pháp này trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình. Ông tin rằng vô thức cũng có một ngôn ngữ biểu trưng mang tính phổ quát. Khi xem tranh của Dalí ta thấy ở đó một cách hiểu có tính chủ quan ở người sáng tác, nó gợi ra trong óc người xem những suy nghĩ để họ chứng nghiệm chính mình cũng có những hành vi vô thức[3].
Tiểu luận này sẽ trình bày nghiên cứu của tôi về phương pháp hoang tưởng-phê phán đã ảnh hưởng thế nào tới các tác phẩm của Salvador Dalí. Tôi phân tích ba tác phẩm của Dalí để khám phá kỹ thuật vẽ điêu luyện và tinh tế đến từng chi tiết, đến từng màu sắc, bố cục và các yếu tố hình thức hội họa khác, chúng gợi ra cho người xem cách tư duy tưởng như hỗn độn song có hệ thống, bởi lẽ chính là nhờ vai trò của phương pháp hoang tưởng-phê phán.
Ba bức tranh tôi chọn để phân tích là Swan Reflecting Elephants, Dream caused by the Flight of a Bee around a Pomegranate a Second before Wakening up, và The Persistence of Memory. Phân tích các yếu tố hình thức hội họa (màu sắc, đường nét…) và lịch sử của ba bức tranh này sẽ thấy được mối quan hệ giữa chúng với phương pháp hoang tưởng-phê phán.
Mục đích tôi nghiên cứu chủ đề này là bởi vì tôi thấy cho tới nay còn thiếu sự hiểu biết về ảnh hưởng của phương pháp này tới Dalí. Có nhiều công trình nghiên cứu về tranh của Dalí song không thấy đề cập vai trò của phương pháp hoang tưởng-phê phán. Những thông tin có thể tìm thấy hiện nay liên quan đến phương pháp này thì hoặc là quá sơ sài còn không thì lại quá chung chung. Tôi nghĩ đây là một đề tài đáng quan tâm bởi lẽ tôi thấy phương pháp này giúp ta vượt qua những giới hạn của cách nghĩ quá lệ thuộc vào lý trí và nó giúp chúng ta khám phá một định nghĩa thật sự về thế nào là “hiện thực” ở ngay trong thế giới chúng ta đang sống.
Salvador Dalí là ai?
Thế kỷ 20 dồn dập những biến động lớn: các trại tập trung, các cuộc chiến tranh, nạn cấy ghép các bộ phận cơ thể người vượt khỏi tầm kiểm soát, tất thảy đã dẫn đến một thế giới ngày càng trở nên như không có thực. Nghệ thuật của họa sĩ người Tây Ban Nha Salvador Dalí, một biểu tượng của hội họa siêu thực, chứa đựng trong đó sự tiên tri về thế giới của chúng ta, một sự tiên tri chính xác có thể so sánh với Sigmund Freud kể từ khi Freud xuất bản tác phẩm Civilisation and Its Discontents (Nền văn minh và những điều bất mãn). Nhìn vào tranh của Dalí ta thấy một cỗ máy tâm thần của người sáng tác đầy ắp những ý tưởng, những hành vi, chúng theo đuổi con đường riêng, giống như những trò điên ở người bệnh tâm thần. Dalí đã chuyển trao sang người xem tranh ông đời sống tình dục và những hoang tưởng của chính cuộc đời ông. Ta không chỉ nhận ra ở tranh của Dalí cái hứng thú phô bày sự lập dị của bản thân (exhibitionism and eccentricity) mà còn cả cái cách ông tự trình bày chính mình cho người xem nói chung. Nhân dạng, chẳng hạn, đúng hệt như ông ở ngoài đời, cái vẻ bề ngoài rất nổi tiếng ấy: chiếc áo choàng không tay dài chấm gót, cây gậy cầm tay, vẻ mặt kiêu ngạo thường trực, và bộ râu dữ tợn “nhọn hoắt hướng lên trời, bá quyền chủ nghĩa, suy lý cực đoan chủ nghĩa”[4]. Michel Déon đã thử lý giải “Điều gì khiến cho bộ rễ và cần ăng-ten của ông gây cảm giác hoảng sợ cho người xem tranh của ông”. Déon mượn hình ảnh “bộ rễ” và “cần ăng-ten” để nói tới sự cắm sâu vào đất để hút cái “chất đất” còn “ăng-ten” là cái được vi chỉnh để “bắt sóng” của tương lai với tốc độ thu của cây cột thu lôi.[5]
Thời thơ ấu của Dalí’ không có gì đặc biệt. Ông sinh năm 1904 tại Figueras, gần Barcelona, bố ông là một luật sư. Ông chỉ bắt đầu bộc lộ tính cách thiên tài bẩm sinh khi bắt đầu vào học trường hội họa, đó cũng là lúc ông khám phá môn tâm phân học.
Đó là vào cuối những năm 1920. Lúc này hội họa siêu thực đã có chỗ đứng vững chắc, với những nghệ sĩ đàn anh của phong trào Siêu thực như Chirico, Duchamp và Max Ernst. Điều ta thấy Dalí tách khỏi các nghệ sĩ siêu thực khác đó là Dalí là họa sĩ siêu thực đầu tiên chấp nhận trọn vẹn “lôgic” của giai đoạn tâm phân học Freud thống trị. Các tác phẩm của Dalí’ được phân biệt ở kỹ thuật tả thực (naturalism), một kỹ thuật hội họa của thời kỳ Phục hưng lúc này vẫn còn được dùng, song là tả thực những ảo giác, và ông còn đưa thêm vào đó tính dục và cái chết, hai người bạn đường trung thủy của Dalí trong suốt cuộc đời ông[6]. Ngoài ra, tranh của các họa sĩ Siêu thực khác đều dựa vào không gian tự sự, chủ đề và cấu trúc thời gian theo lối truyền thống, thì ở Dalí là kỹ thuật của chủ nghĩa hiện thực nhiếp ảnh, tranh của ông giống như một khuôn hình được cắt ra từ một bộ phim. Tranh của Dalí biểu hiện một sự đồng nhất khác thường về cách nhìn, về tính mới mẻ vượt ngoài giới hạn thông thường và quyền năng của trí tưởng tượng. Từ nguyên tắc của tâm phân học Freud theo đó sự lập luận (reasoning) là công việc “hợp lý hóa” thực tại ở bên ngoài trí óc chúng ta, Dalí vứt bỏ sự lập luận. Người xem tranh của ông có cảm giác bất an, thấy chúng dường như chẳng nói lên điều gì một cách tường minh cả, thấy có sự di chuyển vị trí những khái niệm mà ngoài đời ta vẫn quen, và điều này gây cho người xem cảm giác hoảng sợ. Song điều khiến cho Dalí trở thành một biểu tượng đích thực của hội họa siêu thực chính là sự trung thành với những ám ảnh, ông duy trì chúng và đồng thời nâng chúng lên thành cái nhìn siêu hình học. Hiếm có họa sĩ nào như Salvador Dalí, ở trong mỗi một bức tranh thể hiện các phương diện khác nhau của nghệ thuật của mình, Dalí duy trì nhiều biết bao những giá trị nghệ thuật và tinh thần.
Phương pháp hoang tưởng-phê phán là gì?
Sự phát minh ra phương pháp (hay kỹ thuật vẽ) hoang tưởng-phê phán là đóng góp quan trọng hơn cả của Salvador Dalí cho phong trào Siêu thực. Dalí chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nhà tâm lý học người Áo là Sigmund Freud, lý thuyết về cái vô thức của Freud đã làm đảo lộn cái cách chúng ta xưa nay vẫn hiểu thế nào là hoạt động của tâm trí. Khi một người suy nghĩ và có cảm xúc về một điều gì thì cùng lúc đó cái ý thức ở tầng tiềm thức (the subconscious) hoạt động mà người ấy không hề biết, nó dẫn dắt đến những điều xảy ra trong lúc ngủ (nằm mơ) và những giấc mơ ấy được mã hóa (coded) là do sự hoạt động của tiềm thức. Để diễn đạt đơn giản hơn, đó là một quá trình được Dalí thấy là cách thức mới mẻ và độc đáo để nhìn thế giới ở bên ngoài[7]. Không chỉ với Dalí, mà điều này còn hấp dẫn nhiều họa sĩ siêu thực, họ kinh ngạc phát hiện ra rằng các giấc mộng có thể làm phơi mở ra nhiều điều. Tiêu ngữ của phương pháp hoang tưởng-phê phán là “Hãy chinh phục cái phi-lý tính”[8].
Vào đầu những năm 1930, Dalí tập trung chú ý tới cơ chế bên trong của hiện tượng hoang tưởng. Khi mối quan hệ với thế giới hiện thực bị căng bức, nếu nó bị méo mó đi thì lúc ấy xuất hiện một hiện tượng có bản chất hoang tưởng. Bình thường, hiện thực của thế giới bên ngoài phải được dùng làm hiện thực của trí óc chúng ta, trong khi hoang tưởng là sự liên tục bất ngờ nhận ra trí óc bị ảo tưởng ở trng thế giới bên ngoài đánh lừa. “Tôi tin rằng mình thấy ở trong tầm tay cái thời điểm khi một trí óc hoang tưởng có sự chủ động tham gia, lúc ấy trí óc có thể hệ thống hóa được sự “lẫn lộn” do trạng thái hoang tưởng gây ra, và bằng cách ấy giải thể hoàn toàn uy tín của thế giới của hiện thực.”[9]
Trào lưu Siêu thực tin rằng trí óc hữu thức đã đàn áp quyền năng của trí tưởng tượng[10]. Trào lưu này muốn khơi mào một cuộc cách mạng, muốn đặt sức mạnh vào sự làm phơi mở ra những mâu thuẫn ở trong thế giới thường nhật, qua đó coi nhẹ chủ nghĩa suy lý và chủ nghĩa hiện thực trong lĩnh vực phê bình văn chương. Chính ở đây có vai trò to lớn của tâm phân học Sigmund Freud. Sigmund Freud (1856-1939)[11] được xem là cha đẻ của tâm phân học và cũng là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng quan trọng ở đầu thế kỷ 20. Từ những khái niệm về vô thức, về tính dục ở trẻ em và sự đàn áp tính dục, Freud đã xây dựng một lý thuyết coi tâm trí là một hệ thống-năng lượng phức hợp. Dalí đã sử dụng những cách lý giải của Freud, ông thường gọi đó là “cỗ máy Freud”. Dalí dùng cỗ máy Freud để lý giải cái vô thức và cái ham muốn tình dục (the erotic), để định vị nguồn gốc “libido” và vô thức của bất cứ cái gì ông chọn để vẽ[12]. Là người nghiên cứu nhiều về Freud, Dalí đã đạt tới cái đích đến của tâm phân học, ông thường xuyên tìm kiếm những giấc mơ: “cách chính xác và hiệu quả nhất để bắn những viên đạn đầy ắp mực để có thể sắp đặt những lỗ thủng (hole) theo một trật tự như toán học.[13]
clip_image002
PHÂN TÍCH BỨC TRANH Dream caused by the Flight of a Bee around a Pomegranate a Second before Wakening up, Salvador Dalí, 1944, oil on canva
Một quả lựu vỡ toác ra, giải phóng một con cá khổng lồ màu đỏ, hai con hổ chồm tới một người đàn bà nằm ở chính giữa phía dưới bức tranh, thành một chuỗi những hình ảnh. Người đàn bà khỏa thân đang ở trong tư thế nằm mơ người bồng bềnh trên không, vẫn không biết có hai con hổ đang chồm tới và một khẩu súng đã tuốt lưỡi lê sắp đâm vào cánh tay phải của mình. Một con voi ở gần đường chân trời, trong tư thế những cái chân lều khều bước đi kiểu cà kheo hướng về phía đông, trên lưng nó là một cái tháp bia kiểu Ai Cập cổ đại (giống rất nhiều tháp bia ở Paris, trong đó nổi tiếng là tháp nằm tại Quảng trường Concorde). Con voi giống với bức tượng nổi tiếng ở Rome của danh họa Bernini thời Phục hưng.[14] Tác phẩm này là Dalí vẽ người vợ mình, Gala, lúc đang khỏa thân nằm tắm nắng bên bờ biển, trong một ngày yên tĩnh, rất có thể đó là bờ biển nhiều vách đá tại Port Lligat (ở Tây Ban Nha).[15]
Khung bố cục thu hút mạnh mắt người xem vào những hiện tượng phi-lý tính của thế giới của mộng. Cơ thể người đàn bà, quả lựu, con cá, hổ và cái tháp trên lưng con voi, và những cái chân khuềnh khoàng, tạo ra một pyramid ba cạnh.
Ảnh hưởng chính của phương pháp hoang tưởng-phê phán tới bức tranh này được thấy ở chủ đề và sự tập trung vào cơ thể người đàn bà bồng bềnh bên trên những tảng đá, một lưỡi lê sắp thọc vào cơ thể người đàn bà, và chuỗi hình ảnh quả lựu, con cá và các con hổ. Theo chỉ dẫn của tên gọi của bức tranh, thì hổ, cá và lưỡi lê là biểu tượng cho một con ong sắp đốt người đàn bà mà nếu không có con ong thì bà ta vẫn tiếp tục ngủ say. Con hổ tượng trưng cho màu sắc và hình thù cơ thể của con ong. Cái lưỡi lê lúc này là cái nọc của con ong sắp “châm” vào cơ thể người đàn bà. Con cá có thể là biểu tượng cho đôi mắt của con ong, vì những cái vẩy của con cá làm liên tưởng tới ấn tượng đa sắc của đôi mắt con ong. Bức tranh này là ví dụ rõ rệt cho ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu của Freud về mộng và vô thức, tới nghệ thuật siêu thực và việc Dalí thăm dò thế giới của những giấc mơ để biến chúng thành một quang cảnh đầy mộng mị.[16]
Người xem dễ lẫn lộn hình thức Dalí thể hiện bề mặt và không gian của bức tranh, nhất là họ không thấy đâu là “mặt đất” cả. Bề mặt và không gian của bức tranh giống với cảnh vật ở bên ngoài thế giới hiện thực của chúng ta, như thể Dalí đang cho thấy những giấc mơ của ông khi ông đặt chính mình dưới sự hoạt động của phương pháp hoang tưởng-phê phán. Có những mảng tối hắt ra từ những đồ vật ở phía trên, song những chỗ màu lam được làm cho tối đi khác nhau không đóng vai trò cụ thể gì, cũng không có vai trò hiện thực chủ nghĩa. Không gian âm (hay “khoảng nền”: negative space), chiếm một phần đáng kể trên tấm toan, tất cả trong đó đều được vẽ bằng những màu lạnh, bằng hai màu lam và xám được làm cho hơi tối đi. Màu lạnh tương phản với các màu ấm, ở đây là màu cam đỏ tươi tươi và vàng tương phản với màu da người đàn bà, ở tất cả những chỗ có vật cần được tập trung như quả lựu, con cá, con hổ và người đàn bà. Màu lam sáng được dùng ở rất chỗ vắng ánh sáng. Độ rực của màu tạo ấn tượng mạnh mẽ cho bức tranh. Các màu ấm cũng được dùng cho những vật chính, và hơi giống màu cam hoặc khi trộn lẫn nhau có thể gọi đó là màu cam. Điều này chứng tỏ có sự thực hành hai màu bổ sung cho nhau là màu cam và màu lam trong bức tranh.
Năm 1962 Dalí đã giải thích ý định ông dùng hội họa để “lần đầu tiên biểu đạt bằng hình ảnh khám phá của Freud về giấc mơ điển hình có đầu có cuối và người nằm mơ chợt tỉnh giấc vì một sự kiện ngẫu nhiên bất ngờ nào đó. Như vậy, giống như người nằm mơ chợt tỉnh giấc khi trong giấc mơ có thể bắt gặp một thanh sắt, lưỡi máy chém rơi xuống cổ, thì tiếng động của con ong ở trong bức tranh này gợi ra cảm giác bị ong đốt và làm Gala tỉnh giấc.”[17]
Các nét cọ và đường nét tinh tế tạo cho bức tranh một phong cách hiện thực chủ nghĩa, điều này chứng minh cho ý tưởng của ông về một “bức ảnh giấc mơ được vẽ lại bằng tay”[18]. Các nét cọ chắc nịch của Dalí’ cho người xem thấy rõ phong cảnh núi, những chi tiết về quả lựu, con cá, con hổ vân vân. Có thể thấy kỹ năng sử dụng cây cọ là rất cao, nhất là ở những giọt nước li ti cực kỳ hiện thực chủ nghĩa ở trên háng người đàn bà. Điều đáng chú ý là những hình ảnh phi lý ở trong bức tranh. Hai con hổ, cái lưỡi lê, con cá, người đàn bà bồng bềnh, quả lựu bồng bềnh, và những giọt nước li ti được vẽ một cách hiện thực chủ nghĩa. Trong khi đó thì phong cảnh, đúng như trong hiện thực chứ không phải là một phần của thế giới giấc mơ, lại được vẽ một cách bớt hiện thực chủ nghĩa đi. Các đường viền màu tối thể hiện vách đá ở bên phải bức tranh và núi ở gần chân trời đều được vẽ bằng màu tối, qua đó làm nổi bật bức tranh khiến nó nom có phần giống như hình ảnh trong phim hoạt hình. Nước và mặt trăng có vẻ như quá giản dị để có thể nói không có chất hiện thực, trái ngược với sự mô tả giấc mơ và hiện thực ở trong quang cảnh giấc mơ được vẽ lại.
Đây là cái cách Dalí chơi đùa với phương pháp hoang tưởng-phê phán. Khi vẽ một quang cảnh được liên tưởng từ quang cảnh ở Port Lligat, ông đã làm xuất hiện một mối tương quan méo mó giữa hai hiện thực, một hiện thực như chúng ta nhìn thấy bằng mắt và một hiện thực do cái nhìn trong trạng thái hoang tưởng gây ra sự đánh lừa gây sốc. Phương pháp này khiến người xem bối rối, bằng cách ấy hoàn toàn giải thể uy tín của thế giới của hiện thực, đó là mục đích của người nghệ sĩ. Dalí trong phương pháp này ở mỗi bức tranh của mình bao giờ cũng đưa vào những cội rễ vô thức và libido. Chỉ dấu rõ rệt nhất là người đàn bà trong tư thế khỏa thân gợi dục. Các chỉ dấu khác là sự gây hấn hòng áp đảo tình dục của con cá và hai con hổ, được vẽ bằng màu sắc hơi sáng một chút khiến người xem có cảm tưởng da của chúng mềm mại và mời gọi. Quả lựu nằm ở bên trái bức tranh được vẽ chín đậm, nó vỡ toác ra vì con cá. Hình thù con cá được vẽ khiến người xem liên tưởng tới bộ phận sinh dục của phụ nữ.
Ở nhiều nền văn hóa, từ các nền văn hóa Do Thái-Kitô giáo đến văn hóa Trung Hoa, quả lựu được dùng phổ biến như là một biểu tượng. Nhìn từ truyền thống Kitô giáo, quả lựu là hình ảnh làm liên tưởng tới khả năng sinh sản và sự tái sinh. Có người đã diễn giải quả lựu nằm bên dưới người đàn bà là hình ảnh tượng trưng cho nữ thần Venus. Cái bóng hắt ra từ quả lựu có hình trái tim, trong khi những giọt nước li ti trong vắt nom giống như những hạt chân trâu, những vật quen thuộc luôn đi kèm nữ thần Venus trong nghệ thuật cổ điển.[19].
Bức Dream caused by the Flight of a Bee around a Pomegranate a Second before Wakening up kết hợp chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa biểu trưng, thiên tài sáng tác và sự sử dụng ẩn dụ lịch sử trong nghệ thuật, tất cả kết hợp tạo ra một tác phẩm nghệ thuật siêu thực.
clip_image004
The Persistence of Memory, Salvador Dalí, 1931, oil on canvas
Bức The Persistence of Memory có bốn chiếc đồng hồ ở trong một quang cảnh xa mạc. Bốn chiếc đồng hồ được uốn cong đi khiến chúng nom như không có thực và như đang trong quá trình tan chảy. Ở phía dưới, bên trái bức tranh là chiếc đồng hồ màu đỏ nhung nhúc những con kiến. Người xem không tập trung sự chú ý vào cái đồng hồ mà vào cái hình thù bất thường có những chiếc lông mi khiến chiếc đồng hồ nom như một con côn trùng, cái hình thù màu vàng ở ngay bên dưới có thể là một cái lưỡi đang “rỉ ra” từ cái mũi [20]. Quang cảnh trong bức tranh biểu hiện một quang cảnh ở gần Port Lligat[21]
Bức tranh chủ yếu gồm những đường nét mềm mại, song cũng có những đường nét sắc cạnh trên chiếc thùng trên đó một chiếc đồng hồ màu cam-nâu đang tan chảy trên đó có những con kiến. Sau cái cây khô cũng có những đường nét sắc cạnh. Ở những chỗ không gian âm rộng ta thấy có rất ít các vật. Các vật trong tranh nom rất kỳ cục, bất thường, chúng tạo ra sự bí ẩn. Những chỗ bóng râm mờ trong bức tranh được nhấn mạnh để làm nổi bật những chi tiết của bức tranh có ba chiều.
Có sự phân phối các màu ấm và màu lạnh. Các màu ấm là các vách núi ở phía xa, chiếc đồng hồ màu cam-nâu có kiến. Mặt khác, ba chiếc đồng hồ kia, vật nom kỳ cục, và nước có màu lam ngả về sắc lạnh. Màu lam và màu cam bổ sung cho nhau, làm cho bức tranh hấp dẫn người xem.
Chiếc đồng hồ màu cam-nâu thổ tương phản với các màu có sắc lam của các vật trong giấc mơ. Màu đất nguyên thủy cũng gợi ý tưởng sau khi ta đã đào xuyên qua ý thức thì ta nhận ra rằng mình đến từ thế giới hiện thực và chỉ duy nhất những hình ảnh ở trong bức tranh là sự thật. Các màu hữu cơ làm tăng thêm tính chân thật trong bức tranh; làm mất uy tín những quan niệm hạn chế cho rằng những gì ta có thể nhìn thấy ở trong thế giới của hiện thực thì mới là thực. Bằng việc thực hành phương pháp hoang tưởng-phê phán, Dalí đã thành công trong việc đặt câu hỏi về chủ nghĩa duy lý tính ở trong cái phi lý tính và cái phi-lý tính có giá trị nhiều thế nào đối với cái duy lý tính.
Trong thời gian ông vẽ bức này, có một sự kiện chấn động đó là Albert Einstein công bố Thuyết Tương đối – một khái niệm cho rằng thời gian là tương đối và phức tạp hơn chứ không chỉ như là cái có thể dễ dàng theo dõi được bằng một vật được sáng chế như chiếc đồng hồ chẳng hạn, qua đó làm thay đổi địa vị của thời gian như xưa nay chúng ta vẫn coi thời gian là cái gì có tính “tuyệt đối”. Thuyết tương đối củng cố phương pháp hoang tưởng-phê phán, bởi lẽ phương pháp hoang tưởng-phê phán vô hiệu hóa tính đơn giản của các quy luật của hiện thực, nó cho thấy ta có thể kiểm soát “thời gian” bằng quyền năng của trí tưởng tượng và tiềm thức, kiểm soát một thứ được coi là vô cùng quý giá mà lại rất quen thuộc. Trong bức trên, bốn chiếc đồng hồ đang tan chảy, mất đi quyền năng và tính ổn định đối với những gì ở quanh chúng .[22] Dawn Ades giải thích, “Những chiếc đồng hồ bị mềm oặt đi là biểu tượng vô thức của tính tương đối của không gian và thời gian.”[23]
Bức tranh này là một ví dụ minh họa cho lý thuyết về “cứng” và “mềm” của Dalí, một ý tưởng có tính trung tâm của ông vào giai đoạn đó. Trong bức này, cách truyền đạt của ông là dùng ánh sáng để hai tảng đá tròn được vẽ thành bé tí hầu như không thể nhận ra ở hậu cảnh của bức tranh. Tảng đá ở bên phải được đặt dưới nắng mặt trời, trong khi tảng bên trái được đặt trong bóng râm cùng với chiếc đồng hồ tan chảy nom như cái dạ con và những con kiến, tất cả đều phi hiện thực nếu nhìn bằng con mắt quen thuộc về thế giới bên ngoài. Núi và nước, mặt khác, có màu sáng nhờ nắng mặt trời, lại hiện thực đối với thế giới bên ngoài. Điều này làm tách bạch sự khác nhau giữa các vật “mềm” (ở bức vẽ này là cái gì phi hiện thực) và các vật “cứng” (hiện thực). Để thấy rõ hơn, có thể vạch một đường chéo từ góc trái phía trên xuống góc phải ở phía dưới của bức tranh, tách vùng tối và vùng sáng. Những hình ảnh “mềm” tượng trưng cho những hình ảnh tiềm thức, trong khi những hình ảnh “cứng”, chẳng hạn núi sáng nắng mặt trời, và nước tượng trưng cho ý thức, một cái gì đó đúng với hiện thực[24].
PHÂN TÍCH BỨC TRANH 3
clip_image006
Swans Reflecting Elephants, Salvador Dalí, 1937, oil on canvas
Như đầu đề bức tranh này cho thấy, có ba con thiên nga duyên dáng đang bơi trên mặt hồ màu lam. Ở đằng sau những con thiên nga có những cái cây bị tróc hết vỏ, bóng các con thiên nga trên mặt nước hồ biến thành ba con voi. Ba con thiên nga mảnh dẻ tương phản với ba con voi nặng hàng tấn; hình ảnh con vật to xác nhất thế giới này gợi ý sự kết luận về tính hai mặt và nghịch lý của việc không thể xếp mọi thứ thành các cặp[25]. Hậu cảnh được vẽ theo phong cách truyền thống của hội họa phong cảnh xứ Catalonia, được thấy phổ biến trong tranh của Dalí’[26]. Bên trái có một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng và quần màu nâu, mặt nhìn theo hướng trái. Nhân thân của người đàn ông này từng là chủ đề của nhiều cách giải thích và tranh luận. Song, một bức thư của nhà sưu tập và bảo trợ của Dalí, Edward F.W James, viết rằng người đàn ông này “được cố ý vẽ giống với một nhà hóa học ở ngôi làng bên cạnh có tên là Ampurdan ở phía bắc Barcelona”[27].
Bức tranh được chia thành ba phần. Hình hai đám mây ở phía trên, đang trôi bồng bềnh trên bầu trời màu lam nom phi hiện thực. Ở phía bên trái là mặt trăng được đặt ở ngay phía trên vách núi, hầu như không thể nhận ra. Phần thứ hai bắt đầu từ các vách núi và kết thúc ở các con thiên nga. Hầu hết các chi tiết và sự kiện xảy ra là nằm ở phần này. Phía sau các con thiên nga và những cành cây bị xoắn lại có một mặt trời lặn. Đây cũng là chỗ người đàn ông đứng, ở phía bên trái bức tranh. Phần cuối cùng là phần ở phía dưới bức tranh, bắt đầu từ ngay bên dưới các con thiên nga và kết thúc ở cuối bức tranh. Có sự phân biệt rõ rệt giữa phần hai và phần ba, bởi lẽ có sự đột ngột thay đổi về sắc độ màu. Phần thứ ba là những hình ảnh phản chiếu của phần thứ hai. Màu sắc ở phần ba râm tối hơn, chẳng hạn cũng vẫn là màu lam song làm cho tối hơn, hình ảnh phản chiếu tối hơn của những con thiên nga, và nhiều hiệu ứng râm che hơn. Điều này làm nổi bật sự đặt cạnh nhau bóng các con voi và các con thiên nga.
Kỹ thuật được dùng để tạo hiệu quả cho bức tranh là kỹ thuật của phương pháp hoang tưởng-phê phán. Việc đặt bên cạnh nhau thiên nga và voi đã thực sự chinh phục được cái phi-lý tính (xem tiêu ngữ của Dalí). Sự khác biệt rõ rệt giữa một con thiên nga và một con voi kích thích trí óc đi tìm khả năng giải thích bằng lý trí cách nào mà một con voi nặng nề lại có thể là hình ảnh phản chiếu một con thiên nga dịu dàng. Đây là một ví dụ đích thực của việc đạt được mục đích của tâm phân học là cho phép liên kết và ghép với nhau các vật và ý tưởng, điều mà trong thực tế và trong suy nghĩ hữu thức của chúng ta đều thấy là không thể xảy ra.
Có nhiều đường nét, hầu hết là nét mảnh, làm cho bức tranh đạt được chất hiện thực. Hầu hết các đường nét đều kết thúc nhắm tới một trong ba con thiên nga và cái bóng của chúng. Khác với tên gọi bức tranh (bóng các con thiên nga là những con voi), ba con thiên nga được đặt ở giữa bức tranh, quy tầm quan trọng vào các con thiên nga, đúng như mục đích và chức năng của bức tranh.
Không gian “âm” bị giới hạn, do có nhiều vật quá. Điểm tụ tưởng tượng (vanishing point: điểm tụ tưởng tượng, theo luật viễn cận, của các đường chạy song song) biến mất vào trong bầu trời, nó hầu như nhìn không rõ ở chỗ chân trời. Tuy nhiên, sự thay đổi sắc độ màu ở đường phân chia các con thiên nga với những cái bóng, tạo ra một hình ảnh phản chiếu sai lạc khác. Một ảo giác khác nữa là người đàn ông ở bên trái các con thiên nga. Bề sâu và không gian dường như chưa đủ chất hiện thực để cho phép các con thiên nga nom lẽ ra phải to hơn nhiều so với người đàn ông đứng ở khoảng cách xa hơn. Cũng không rõ chân của người đàn ông này ở chỗ nào, vì quần của ông ta lẫn vào phần còn lại của vách núi, người xem sẽ tự hỏi tại sao người đàn ông lại đứng đó và mục đích của ông ta và cấp độ hiện hữu của ông ta ở trong hiện thực bên ngoài bức tranh.
Màu sắc được dùng gồm các màu nhẹ nhàng như màu vàng và màu lam, nhất ở xung quanh đường chân trời. Cũng có màu cam ở một số vùng nhất định trên vách núi và màu lam nhạt của mặt nước hồ. Các màu tối như cam-nâu được dùng cho hầu hết các vách núi, còn bóng râm che đậm và các vùng tối được dùng ở trên các cây, trên con thiên nga và hình phản chiếu của chúng. Sắc độ sáng tối được dùng tương đương nhau, tạo ra cảm giác rõ rệt về ánh sáng tự nhiên. Điều này cũng tạo ra cảm giác về bề sâu và bố cục màu sắc trong bức tranh, nhất là ở các vách núi. Mặc dù các màu sáng tối đều có vai trò hầu như ngang nhau, song độ rực của màu là không rõ rệt. Những chỗ râm che ở các con thiên nga và cây cối bị tróc hết vỏ làm cho bức tranh nom có vẻ xám xịt. Song việc dùng c màu lam và màu cam, hai màu có tính bổ sung cho nhau, khiến vẫn hấp dẫn người xem. Hai màu có tính bổ sung cho nhau này được kết hợp để tạo ra màu nâu trung tính, điều được dùng nhiều trong bức tranh này.
Việc đặt thiên nga bên cạnh voi còn đem lại yếu tố nhuốm màu libido cho bức tranh, giống như bức Metamorphosis of Narcissus Dalí vẽ năm 1937[28], tức vẽ cùng năm. Bóng của thiên nga biến thành voi là hình ảnh trong Thần thoại Hy Lạp về Narcissus phải lòng cái bóng của mình. Thiên nga cũng bắt chước thái độ tự yêu chính mình, thái độ vị kỷ, nó giúp cho người ta cảm thấy mình cao hơn so với thực tế mình đang là. Hiệu ứng này, như được thấy khi sử dụng tâm phân học, cho thấy trí tưởng tượng và ảo tưởng kéo người ta xa ra sao ra khỏi hiện thực bên ngoài, và có thể làm xuất hiện một căn cước mới mẻ không có giới hạn, mà ở trong thế giới hữu thức của hiện thực nó bị kiềm chế, bị khinh miệt.
Chất lobido được mô tả trong hầu hết những chỗ nổi bật của bức tranh. Mặt trời lặn mà trời lại sáng gợi liên tưởng tới thời điểm của sự ham muốn nhục dục trong ngày, khi mọi thứ đều trở nên hấp dẫn hơn nhờ ánh sáng lờ mờ và những chỗ tối. Các vách núi được vẽ bằng những nét cọ tạo ra bố cục màu sắc khác nhau ở những vùng tách rời nhau. Song song với tư thế không kiểm soát được của những cái cây chết, các vách núi tạo ra sự vận động từ cái vô hồn, qua đó tạo ra năng lượng cho người xem, phần nào làm gia tăng nhịp đập của tim, giống như khi ta đột nhiên có những xúc cảm nhục dục.
Swans Reflecting Elephants được vẽ hai năm sau khi Salvador Dalí viết một tiểu luận giải thích phương pháp hoang tưởng-phê phán, tiểu luận có đầu đề “The Conquest of Irrational” (Chinh phục cái phi-lý tính)[29]. Swans Reflecting Elephants thực sự phản ánh trí tuệ bậc thầy ở Dalí. Dalí thành công khi tạo ra sức hấp dẫn ma thuật cho các kiệt tác của mình, trong đó có tài nghệ vẽ, sơ đồ màu, bố cục và sử dụng biểu tượng song đôi.
Kết luận
Trên cơ sở phân tích ba bức tranh trên chúng ta thấy Phương pháp Hoang tưởng-Phê phán ảnh hưởng tới các tác phẩm của Salvador Dalí ở mức độ rất lớn, nó đem lại cho các tác phẩm của ông một ý nghĩa và khái niệm cao hơn. Tiểu luận nghiên cứu này cũng chứng minh tại sao và bằng cách nào ý định sử dụng các yếu tố hình thức của hội họa và các vật định vẽ lại cho thấy có chức năng và mục đích của hoạt động hoang tưởng-phê phán. Cả ba bức tranh đều giúp hiểu được quan niệm của Dalí về giải phóng mọi bản thể vật chất (dematerializing) để rốt cuộc siêu linh hóa mọi thứ (spiritualize, tương tự như khái niệm “thăng hoa”, sublimation, của tâm phân học) để tạo ra những hình thức năng lượng mới mẻ theo cách khác đi.
Dalí mặc dù không phải là một người thực sự mắc chứng hoang tưởng, song ông có thể đạt tới trạng thái hoang tưởng đồng thời biết quay trở lại “trạng thái bình thường” để đưa những ảo giác của mình lên tấm toan[30]. Salvador Dalí đã khiến người xem nhìn thế giới dưới một ánh sáng khác đi, đó là nơi các tác phẩm do ông sáng tác. Bằng cách đặt bên cạnh nhau những hình ảnh và dùng biểu tượng song đôi (double imagery), ta có thể làm thay đổi cách nhìn quen thuộc, hạ thấp giá trị những quan niệm định kiến về cuộc sống thực tiễn duy lý, như ta thấy trong tác phẩm Swans Reflecting Elephants cái cách người nghệ sĩ đặt cạnh nhau hai vật khác nhau và làm cho chúng giống nhau. Còn cả cách khác nữa để giải thể giá trị những quan niệm định kiến về cuộc sống thực tiễn ấy là khi Dalí biến đổi một con ong thành một hình thức hay biểu tượng mới mẻ. Phương pháp Hoang tưởng-Phê phán cũng ảnh hưởng tới các tác phẩm của Dalí ở chỗ ông đã đưa vào tác phẩm của mình cái libido, ngay cả khi cái libido được mã hóa ở cấp độ tiềm thức.
Nghiên cứu Phương pháp Hoang tưởng-Phê phán ảnh hưởng tới các tác phẩm của Dalí, nghiên cứu việc ông đưa những giấc mơ, những huyễn tưởng và những ảo giác của mình vào tác phẩm, giúp làm rộng ra thế giới của những cái nhìn duy lý chủ nghĩa.
20160114_184144
Ảnh: Tác giả luận văn trong buổi dạ vũ sau lễ Tốt nghiệp Trung học phổ thông
PHẠM ANH TUẤN dịch

[1] “Paranoid Critical Method: Salvador.” Paranoid Critical Method: Salvador. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.tufts.edu/programs/mma/fah188/clifford/Subsections/Paranoid%20Critical/paranoidcriticalmethod.html>.
[2] “Salvador Dali – The Paranoid Critical Transformation Method.” Salvador Dali. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <https://library.humboldt.edu/about/art/artists/daliPCTM.html>.
[3] “Paranoid Critical Method: Salvador.” Paranoid Critical Method: Salvador. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.tufts.edu/programs/mma/fah188/clifford/Subsections/Paranoid%20Critical/paranoidcriticalmethod.html>.
[4] Dalí, Salvador. Nhật ký của một thiên tài bẩm sinh (Dairy of a Genius. N.p.: Solar, 2006. Print. P.17
[5] Descharnes, Robert, and Gilles Néret. Dalí II 1946-1989. Ed. Gilles Néret. Cologne: Taschen, 2007. Print. P.139
[6] Descharnes, Robert, and Gilles Néret. Dalí I 1904-1946. Ed. Gilles Néret. Cologne: Taschen, 2007. Print. P.11
[7] “Salvador Dali – The Paranoid Critical Transformation Method (Phương pháp biến đổi hình thể hoang tưởng có phê phán).” Salvador Dali. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <https://library.humboldt.edu/about/art/artists/daliPCTM.html>.
[7] “Paranoid Critical Method: Salvador.” Paranoid Critical Method: Salvador. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015.
[8] Descharnes, Robert, and Gilles Néret. Dalí I 1946-1989. Ed. Gilles Néret. Cologne: Taschen, 2007. Print. P.255
[9] “MoMA Learning.” MoMA. N.p., n.d. Web. 19 Oct. 2015. <https://www.moma.org/learn/moma_learning/1168-2>.
[10] “Surrealism Movement, Artists and Major Works.” The Art Story. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.theartstory.org/movement-surrealism.htm>.
[11] Thornton, Stephen P. “Internet Encyclopedia of Philosophy.” Internet Encyclopedia of Philosophy. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.iep.utm.edu/freud/>.
[12] Descharnes, Robert, and Gilles Néret. Dalí II 1946-1989. Ed. Gilles Néret. Cologne: Taschen, 2007. Print. P.503
[13] Descharnes, Robert, and Gilles Néret. Dalí II 1946-1989. Ed. Gilles Néret. Cologne: Taschen, 2007. Print. P.531
[14] Heckscher, William S. BERNINI’S ELEPHANT AND OBELISK (n.d.): 159. College Art. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.collegeart.org/pdf/BerniniPDF3r.pdf>.
[15] Edwell, Bernard. “Freud’s Influence on Dali’s Surreal Dream Art – Park West Gallery.” Park West Gallery. N.p., 09 Feb. 2010. Web. 19 Oct. 2015. <http://www.parkwestgallery.com/freuds-influence-on-dalis-surreal-dream-painting/8948>.
[16] http://artdaily.com/news/36133/Painting-by-Salvador-Dal—Made-in-the-U-S—on-Temporary-Loan-to-the-Dal–Foundation#.VnCHUzYwyF1
[17] Edwell, Bernard. “Freud’s Influence on Dalí’s Surreal Dream Art – Park West Gallery.” Park West Gallery. N.p., 09 Feb. 2010. Web. 19 Oct. 2015. <http://www.parkwestgallery.com/freuds-influence-on-dalis-surreal-dream-painting/8948>.
[18] “MoMA.” Salvador Dalí­. The Persistence of Memory. 1931. The Museum of Modern Art, 2004. Web. 19 Oct. 2015. <http://www.moma.org/collection/works/79018>.
[19] Edwell, Bernard. “Freud’s Influence on Dali’s Surreal Dream Art – Park West Gallery.” Park West Gallery. N.p., 09 Feb. 2010. Web. 19 Oct. 2015.
[20] “MoMA.” Salvador Dalí­. The Persistence of Memory. 1931. The Museum of Modern Art, 2004. Web. 19 Oct. 2015. <http://www.moma.org/collection/works/79018>.
[21] Descharnes, Robert, and Gilles Néret. Dalí I 1904-1946. Ed. Gilles Néret. Cologne: Taschen, 2007. Print. P.173
[22] Niklov, Greg Sidel. “Meaning of The Persistence of Memory (c. 1931) by Salvador Dalí Analysis and Meaning of a Painting by Spanish Surrealist Painter.” Authentic Society. WordPress, 14 Feb. 2015. Web. 19 Oct. 2015. <http://www.authenticsociety.com/about/thepersistenceofmemory_dali>.
[23] Clocking in with Salvador Dalí: Salvador Dalí’s Melting Watches (n.d.): 1. The Dalí. Web. 16 Dec. 2015. <http://thedali.org/wp-content/uploads/2014/03/LessonPlan-Clocking.pdf>.
[24] Niklov, Greg Sidel. “Meaning of The Persistence of Memory (c. 1931) by Salvador Dali Analysis and Meaning of a Painting by Spanish Surrealist Painter.” Authentic Society. WordPress, 14 Feb. 2015. Web. 19 Oct. 2015. <http://www.authenticsociety.com/about/thepersistenceofmemory_dali>.
[25] Chimera, Paul. “‘Swans Reflecting Elephants’ Is One of Those Dali Paintings Everybody Loves!” Dali Prints Swans Reflecting Elephants Is One of Those Dali Paintings Everybody Loves Comments. N.p., 27 Feb. 2011. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.dali.com/blog/swans-reflecting-elephants-is-one-of-those-dali-paintings-everybody-loves/>.
[26] “MoMA Learning.” MoMA. N.p., n.d. Web. 19 Oct. 2015. <https://www.moma.org/learn/moma_learning/1168-2>.
[27] Chimera, Paul. “‘Swans Reflecting Elephants’ Is One of Those Dali Paintings Everybody Loves!” Dali Prints Swans Reflecting Elephants Is One of Those Dali Paintings Everybody Loves Comments. N.p., 27 Feb. 2011. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.dali.com/blog/swans-reflecting-elephants-is-one-of-those-dali-paintings-everybody-loves/>.
[28] “Swans Reflecting Elephants, 1937 by Salvador Dali.” Dali Paintings. N.p., 2011. Web. 16 Dec. 2015. <http://www.dalipaintings.net/swans-reflecting-elephants.jsp>.
[29] Dalí, Salvador. Diary of a Genius. N.p.: Solar, 2006. Print. P.19
[30] “Salvador Dali – The Paranoid Critical Transformation Method.” Salvador Dali. N.p., n.d. Web. 16 Dec. 2015. <https://library.humboldt.edu/about/art/artists/daliPCTM.html>.
 

Hè nóng hay đi biển: Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra xa bờ?


Mùa hè đến đồng nghĩa với việc sẽ có rất nhiều người ùn ùn kéo ra biển để tận hưởng nắng, gió và sóng biển. Nhưng đi biển thường xảy ra những sự cố bất ngờ. Vậy nên bạn cũng đừng quên bỏ túi những kỹ năng sinh tồn trên biển khơi dưới đây, để nếu lỡ có lâm vào tình huống không may mắn thì có thể tự cứu mình.
1. Hãy cố giữ bình tĩnh
Mặc dù những người bị cuốn ra biển chắc chắn cảm thấy rất hoảng loạn và lo sợ cho tính mạng của mình, nhưng có hốt hoảng cũng chẳng giúp ích được gì mà ngược lại, nó còn khiến đầu óc bạn trở nên hỗn loạn, kéo theo đó là không giữ được nhịp thở cần thiết khiến bạn rất dễ bị đuối nước. Chính vì vậy mà việc đầu tiên bạn cần làm khi phát hiện mình đang bị nước cuốn chính là giữ bình tĩnh.
2. Chọn kiểu bơi phù hợp
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Trong tình huống nguy cấp này, sớm hay muộn bạn cũng sẽ phải di chuyển, do đó mà kiểu bơi bạn chọn sẽ quyết định sức bạn sẽ trụ được bao lâu dưới nước. Vì vậy, hãy nhớ hai nguyên tắc sau:
Nếu bạn đang ở trong vùng nước tĩnh, hãy bơi ngửa vì khi đó bạn sẽ có cơ hội thư giãn tinh thần và cơ thể, đồng thời giữ được nhịp thở đều.
Nếu bạn đang ở trong vùng nước động, hãy bơi sấp, ví dụ như bơi ếch. Đầu tiên hãy hít một hơi đầy, ngụp đầu xuống nước và thở ra. Bạn không cần phải cố gắng giữ đầu mình ở trên mặt nước vì như vậy bạn sẽ tốn nhiều năng lượng hơn một cách không cần thiết.
3. Bám vào thứ gì đó nổi được
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Nếu bạn bị trôi dạt do đắm tàu hoặc rơi máy bay xuống biển, chắc chắn xung quanh bạn phải có vô số thứ nổi được tốt. Tốt nhất là bạn tìm được một chiếc áo phao hay bè hay thuyền cứu sinh vẫn luôn được trang bị sẵn trên các con tàu.
4. Hãy để ý đến quần áo
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Ánh sáng trực tiếp từ mặt trời thực sự cực kỳ nguy hiểm, vì thế nên đừng bao giờ cởi quần áo ra vì chúng sẽ bảo vệ bạn khỏi ánh mặt trời. Nếu trang phục của bạn bị rách hoặc vì lý do nào đó không thể che phủ cơ thể, hãy tìm vật liệu nào đó có thể giúp che chắn bạn khỏi ánh mặt trời. Tốt nhất là tự dựng lên một cái lều để tạo bóng râm. 
5. Quyết định thứ mình sẽ ăn
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Nếu thuyền cứu sinh của bạn có khẩu phần thực phẩm khẩn cấp thì quá tốt, tuy nhiên nếu không có thì bạn cũng không phải lo bị chết đói đâu.
Nếu bạn có khẩu phần khẩn cấp, hãy chia nhỏ chúng ra cho từng ngày nhằm giúp bạn sống sót lâu hơn và bạn cũng không gặp vấn đề về hệ tiêu hóa.
Nếu không có khẩu phần khẩn cấp, bạn có thể tự chế cần câu cá từ dây giày và một mẩu lon thiếc (để làm móc câu). Nếu không có những thứ trên, hãy cố nhặt lấy rong biển trôi trong nước vì có khả năng sẽ có cá nhỏ kẹt trong đó.Dù cho bạn có thực phẩm rồi thì vẫn nên tìm cách câu cá vì trong cá sẽ có sẵn chất lỏng giúp bạn không bị mất nước.
Đừng ăn thực phẩm hỏng dù cho bạn có đói bụng đến đâu đi chăng nữa.
6. Liên tục cung cấp chất lỏng cho cơ thể
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Trong thời gian bị trôi dạt ngoài biển, nước lúc nào cũng quan trọng hơn thực phẩm vì bạn vận động rất ít nên hầu như không tiêu tốn mấy năng lượng. Ngược lại, chất lỏng lại bị tiêu thụ ngay tức thì. Tuy nhiên bạn cũng nên nhớ là không nên uống nước biển đâu nhé.
Ngưng tụ: Bạn sẽ cần một cái hộp, hai bình chứa, vật liệu chống thấm nước (ví dụ như polyethylene) và các vật nặng. Đổ nước biển vào một bình chứa, bình thứ hai bỏ vào hộp và đặt cạnh bên. Đậy vật liệu chống thấm nước lên cả hai bình và đặt một vật nặng lên bình chứa rỗng. Trong chốc lát bình này sẽ chứa đầy nước sạch.
Nước mưa: Hãy nhớ trữ một số bình trống để hứng nước mưa.
7. Tự cứu mình đúng cách
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Dù bạn có muốn chóng đặt chân lên đất liền như thế nào đi nữa thì hãy cân nhắc những biện pháp giải cứu một cách cẩn thận. Hãy ghi nhớ những quy tắc sau:
Nếu không biết mình đang ở đâu, đừng chèo đi đâu cả. Hãy cứ để dòng chảy cuốn bạn đi vì có khả năng bạn sẽ được đưa vào bờ.
Đừng vội lao xuống nước nếu thấy thuyền ở đằng xa. Đừng cố bắt kịp nó, tốt nhất là hãy ra hiệu bằng một mẩu kiếng hoặc lon thiếc.
Đừng ra hiệu bằng cách đốt lửa để không gây nguy hại đến nơi trú ẩn tạm bợ của bạn.
Nếu bạn may mắn giữ được một ít pháo sáng, đừng vội bắn chúng lên không trung, hãy chờ đến khi con thuyền xuất hiện gần hơn hoặc thấy rõ hơn.
Nếu bạn đang giữ fluorescein (chất huỳnh quang), hãy nhanh chóng hòa tan nó vào nước khi thấy máy bay hoặc tàu thuyền đi qua. Chất này sẽ tạo nên một đốm sáng quanh bạn, giúp bạn dễ dàng được nhìn thấy từ trên không hoặc từ xa.
8. Đừng từ bỏ hy vọng
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?
Nỗi tuyệt vọng là kẻ thù nguy hiểm nhất trong những tình huống như thế này. Đừng từ bỏ hy vọng được giải cứu. Hãy nhớ rằng có rất nhiều câu chuyện kể về những người được tìm thấy trên biển nhiều tháng sau khi họ mất tích.

Theo thethaovanhoa.vn
Phải làm sao để sống sót nếu lỡ bị trôi dạt ra biển?

BÓNG ƠI - Thơ Lê Hà Thăng (SPSG)


Rất tình cờ về lại chốn em xưa
Mùa gió thổi bên trời xao xác lá
Ta hỏi lòng qua trăm đường trăm ngã
Chẳng hiểu vì sao lạc lối nơi  nầy?

Tím bằng lăng ướp tím cả chiều nay
Ngồi quán vắng anh thương ngày đã mất
Tình có thật mà hóa ra chẳng thật
Cứ như ta đang đuổi bắt bóng mình

Bóng rất gần và anh rất đinh ninh
Nên hụt hơi biết bao lần chẳng nhớ
Chỉ vòng tay là chạm vào duyên nợ
Sap bổng dưng thăm thẳm mịt mờ sương

Anh dắt mùa xuân qua khắp con đường
Đã nhạt mất mùi hương ngày tháng cũ
Vườn mộng xưa bầy chim về di trú
Hót điệu đàng theo ngọn gió miên mạn

Bóng phai rồi từ độ rớt mưa ngang
Anh nhẩm đếm trên tay mình những hạt
Thầm mong đợi một bình minh nắng hắt
Bóng lại về dù chiếc bóng vô tâm

Lê Hà Thăng

Vì sao tỉ phú Mark Zuckerberg lại lái một chiếc xe cũ đến mức không thể nát hơn như thế? Tháng Năm 7, 2017

Tác giả: Châu Yến (Biên dịch)
.KD: Có thể họ quá Lớn, nên những thứ như xe sang, hàng hiệu, thật ra quá…. nhỏ bé  hoặc phù phiếm so với khao khát sống, sáng tạo và làm việc cho cộng đồng ở họ?
—————-
Mỗi lần ông chủ Facebook có sự kiện gì đó gây chú ý cho công chúng, bên dưới các bài viết đều không thiếu các loại bình luận như:
Tại sao mỗi ngày Mark đều mặc quần áo giống nhau vậy nhỉ?
Tại sao một người giàu có như vậy vẫn ngồi ở lề đường ăn McDonald’s?
Tại sao lại lái một chiếc Toyota cũ đến mức không thể nát hơn như thế?v.v…
Nói thật, hai tuần trước tôi cũng không thể lý giải được cho đến khi tôi đến Israel và trò chuyện với một đối tác tại đây. Đó là vào tháng 7, tôi được công ty giao cho một dự án khảo sát về du lịch.
Khi ngồi trên máy bay, trong đầu tôi tưởng tượng ra đủ thứ: có lẽ đây chính là một nơi mà đâu đâu cũng là những doanh nhân thành đạt, các tòa nhà cao tầng, xe xịn, khắp nơi đều có người giàu tụ tập nói chuyện, v.v…

Thế nhưng, vừa đáp xuống đến Tel Aviv tôi đã cảm thấy rất thất vọng. Thành phố cũ nát theo kiểu như chưa được quy hoạch. Các loại xe trên đường, nếu không phải là loại xe hiện đại của Hàn Quốc thì là xe Scott, tốt hơn một chút thì là xe Nhật. Trong 1 tuần ở Isarel, tôi mới chỉ nhìn thấy không quá 5 chiếc BMW, 10 chiếc Mercedes, vài chiếc Land Rover, một chiếc Porsche. Tôi không hề nhìn thấy Ferrari, Lamborghini hay bất cứ chiếc xe đua nào. Thậm chí, ngay cả người mặc quần áo hàng hiệu, vai đeo túi xách xịn tôi cũng không thấy.

Đối tác của công ty chúng tôi là một nhà doanh nghiệp vô cùng thành công. Vào năm 2003, anh ấy đã khởi nghiệp thành công và đem bán lại công ty cho người khác với giá 75 triệu USD. Sau đó anh ấy không hề nghỉ ngơi như nhiều người vẫn nghĩ mà lại tiếp tục khởi nghiệp theo hướng khác và hiện đang là thành viên hội đồng quản trị của rất nhiều công ty. Anh hẹn tôi dùng bữa tối với anh vào lúc 7h.

Tôi ngồi ở quán rượu bên ngoài khách sạn vừa uống một ly cocktail vừa nghĩ về việc, người giàu có như vậy sẽ lái xe gì đến đón mình đây? Có lẽ lần này mình sẽ được nhìn thấy một chiếc xe hàng hiệu chăng? Đang mơ mơ màng màng như vậy thì tôi thấy trước cửa có một chiếc xe taxi đang bấm còi “bim, bim”. Bất ngờ anh bạn tôi thò mặt ra ngoài cửa kính xe, nhoẻn cười rồi vẫy vẫy tôi lại.

Tôi kinh ngạc không thốt lên lời. Biết ý, anh bảo: “Ở Tel Aviv đậu xe rất khó khăn, cho nên không lái xe, gọi taxi tiện hơn.” Tôi nghĩ thầm trong đầu nhưng không dám hỏi “chẳng lẽ anh ấy không có tài xế sao?“

Đến quán ăn, chúng tôi gọi một chai vang đỏ rất bình thường, gọi vài món ăn đơn giản rồi bắt đầu nói chuyện. Anh kể, năm 2003 anh đã trở thành một triệu phú trẻ tuổi sau khi bán công ty đầu tay của mình với giá 75 triệu USD. Ai cũng nghĩ chắc anh sẽ đi du lịch vòng quanh thế giới một chuyến, nhưng không, lúc đó anh quyết định đi học. 6 năm sau đó, anh không làm gì ngoài học. Mỗi ngày anh đọc sách ít nhất 6 tiếng và lấy được bằng tiến sĩ.

Sau khi nói chuyện được một lúc, anh bắt đầu kể về cuộc sống riêng của mình. 3 năm trước vợ anh đã ly hôn với anh rồi. Lúc đó anh rất buồn nên nửa năm sau, anh đã lên một trang web kết bạn. Tại đây, anh đã gặp được một phụ nữ 40 tuổi có 2 đứa con và họ đã yêu nhau ngay sau đó. (Nghe đến đây tôi không thể tưởng tượng nổi. Ở Isarel, một ông chú cao to, phong độ, giàu có như vậy lại cần phải lên mạng tìm tình yêu sao? Không những vậy lại còn là một phụ nữ 40 tuổi đã có 2 con?)

Anh bảo, bạn gái ở thành phố Haifa cách khá xa nơi anh sống nên có nhiều thứ khá là bất tiện. Tôi không kìm được, liền bảo “anh kêu chị ấy dọn đến đây là được rồi”.


Anh nói “không được đâu, cô ấy cần cha mẹ cô ấy giúp đỡ trong việc trông con”. Tôi thản nhiên đáp: “anh không thể thuê một người giúp việc sao? Anh giàu có như vậy, thuê hai người cũng còn được mà.”

Thế nhưng câu trả lời của anh sau đó khiến tôi bừng tỉnh.
“Anh có biết không, cái mà người Do Thái chúng tôi tôn sùng chính là Frugalism (chủ nghĩa hà tiện). Chúng tôi cho rằng hà tiện là một đức tính đẹp. Vì vậy nếu như chúng tôi xa xỉ, lãng phí, khoe khoang giàu có thì sẽ rất mất mặt, sẽ bị tất cả mọi người xem thường. Nếu mà chúng tôi thuê bảo mẫu, hàng xóm tất sẽ cho rằng chúng tôi đang khoe khoang, hoặc là đang sống một cuộc sống xa xỉ. Vì vậy chúng tôi cần phải tự mình chăm sóc con cái, không được dùng bảo mẫu. Mọi thứ ở đây chính là như vậy đó”, anh nói.

Nghe đến đây tôi chợt hiểu ra mọi chuyện. Tôi đột nhiên cảm thấy sự tồi tàn và cũ nát ở Tel Aviv là có lý do của nó.

Vợ chồng tỷ phú Mark Zuckerberg rất thích đồ ăn nhanh.


Zuckerberg sở hữu một công ty trị giá hàng trăm tỷ USD, nhưng lại không mặc đồ hiệu, lái chiếc xe rất rẻ tiền, hôn lễ cũng rất đơn điệu, tôi cũng có thể lý giải được rồi.
Đó là vì anh ấy là người Do Thái!

Anh bạn doanh nhân bảo tôi rằng, tôi biết là tôi vô cùng giàu có, tiền của tôi có dùng cả đời cũng không hết được. Thế nhưng tôi tuyệt đối sẽ không để số tiền này làm hư hỏng cuộc sống của mình cũng như các con. Tôi sẽ quyên góp phần lớn số tiền này để làm từ thiện.
Ngay lập tức tôi liên tưởng tới Zuckerberg. Hình như anh ta cũng vậy. Tuy cuộc sống rất giản dị nhưng khi làm từ thiện thì không bủn xỉn chút nào.
(Ghi chú: Vào năm 2014, Mark Zuckerberg và cô vợ người Hoa Priscilla Chan đã đứng ở vị trí thứ nhất trong danh sách những người quyên góp từ thiện nhiều nhất thế giới sau khi hào phóng quyên tặng gần 1 tỷ USD)
Loại văn hóa của người Do Thái thật đáng để chúng ta phải suy ngẫm. Có lẽ chính vì không theo đuổi những thứ phù phiếm ở bề ngoài cho nên họ mới có thể chuyên tâm vào học tập, nghiên cứu và sáng tạo.

Đất nước Israel tuy nhỏ, nhưng lại là cái nôi của vô số những công nghệ, phát minh mới nhất với chất lượng vô cùng vượt trội. Điều tưởng chừng như bất hợp lý nhưng đọc xong câu chuyện này, có phải bạn cũng đột nhiên hiểu ra rồi phải không?
———–
Theo Đại Kỷ nguyên
(H.Phi chuyển)

Ở sạch mau chết? (Từ Dannews)

Ganges river
Vào đầu những năm 1890, Ernest Hankin đã nghiên cứu dịch tả ở hai bên bờ sông Hằng.
Những thi thể được người dân địa phương thả xuống dòng nước có thể biến con sông thành nguồn lây lan dịch bệnh xuống các thị trấn dưới hạ nguồn. Hankin đã chứng kiến điều này ở khắp châu Âu khi nguồn nước bị nhiễm khuẩn.
Tuy nhiên dọc hai bờ sông Hằng, dịch bệnh vẫn không lan rộng mà thay vào đó, giảm dần và sau đó biến mất.
Hankin kết luận rằng một cái gì đó bí ẩn trong nước đã giết chết các mầm bệnh trước khi chúng có thể gây ra thảm hoạ.
Tuy nhiên phải 20 năm sau, một nhà khoa học người Pháp mới phát hiện ra vị thần hộ mệnh là một loại ‘thực khuẩn’ (bacteriophages) – thứ vi khuẩn không gây hại cho con người nhưng lại có khả năng tiêu diệt vi khuẩn tả. Nó đã giúp thanh lọc nguồn nước trước khi vi khuẩn tả kịp ảnh hưởng đến những người tắm sông.

‘Virus Ninja’

Dù từng bị các nhà khoa học phớt lờ, các “virus ninja” được cho là một ngày nào đó sẽ giúp cứu hàng triệu sinh mạng. Chúng được xem như là kho vũ khí mới giúp nhân loại chống lại những căn bệnh chết người.
Nhiều thập kỷ qua, con người đã phụ thuộc vào các loại thuốc kháng sinh như penicillin. Miễn là bạn không phải trẻ em, người già hoặc có thể chất yếu, bạn không cần phải lo ngại bị đứt tay, bầm dập hay tiểu phẫu.
Tuy nhiên trong lúc các loại thuốc kháng sinh ngày càng trở nên thịnh hành, vi khuẩn cũng bắt đầu tiến hoá để đáp trả và hậu quả của điều này đang trở nên đáng báo động.
Ngày nay, những vi khuẩn có khả năng chống lại thuốc kháng sinh đang cướp đi hàng trăm nghìn tính mạng mỗi năm và con số này có khả năng tăng lên 10 triệu vào năm 2050, theo một báo cáo năm 2014 của chính phủ Anh và tổ chức từ thiện y sinh Welcome Trust.
“Đó là số người chết vì ung thư ngày hôm nay, và nó không chỉ bao gồm những người lớn tuổi mà là bất cứ ai,” Heather Hendrickson, từ Đại học Massey ở Auckland, New Zealand, nói.

Bacteriophages target bacteria without harming the body's cells
Các thực khuẩn tấn công vi khuẩn nhưng không làm tổn hại tới các tế bào trong cơ thể
“Những chấn thương nhỏ như vết trầy xước, quá trình sinh nở hoặc phẫu thuật hông – có khả năng sẽ khiến chúng ta nhiễm loại bệnh nhiễm trùng kháng thuốc kháng sinh,” bà nói thêm. “Chúng ta đang quay về thời đại trước khi kháng sinh ra đời, khi mà tuổi thọ ngắn hơn bởi vì cơ thể không thể chống lại nhiễm trùng.”
Nếu muốn tránh viễn cảnh ảm đạm ấy, chúng ta cần một giải pháp triệt để – và Hendrickson nghĩ rằng chúng ta cần nghiên cứu những thực khuẩn đã cứu mạng người dân hai bờ sông Hằng.
So với các sinh vật cao cấp hơn, thực khuẩn là một thứ khá khiêm tốn: Một tập hợp các protein có khả năng xâm nhập vào vi khuẩn, sau đó chiếm lĩnh cơ chế phân thân của vi khuẩn để sinh sôi ra đông gấp hàng trăm lần, rồi phát nổ từ trong các tế bào chết. Cơ thể con người – đặc biệt là phần mũi – cũng chứa nhiều thực khuẩn có khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong không khí mà chúng ta hít vào.
Và có rất nhiều lý do tại sao thực khuẩn đang mang lại nhiều hy vọng cho các bác sỹ muốn tiêu diệt vi khuẩn có khả năng chống thuốc kháng sinh.
Hendrickson chỉ ra rằng chúng đông hơn vi khuẩn gấp 10 lần. “Mỗi gram đất có nhiều thực khuẩn hơn số người trên Trái Đất,” bà nói với BBC Future trong một cuộc phỏng vấn.
Bên cạnh đó, các thực khuẩn chi tấn công những mục tiêu nhất định. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng. Các bác sỹ đang nhận ra rằng các vi sinh vật trong cơ thể có thể đóng vai trò quan trọng cho sức khoẻ, bảo vệ chúng ta khỏi bệnh suyễn và thậm chí cân bằng chất dẫn truyền thần kinh để giúp ta có tinh thần khoẻ mạnh.
Các thuốc kháng sinh không thực sự nhắm đến một loại vi khuẩn đặc biệt nào và có thể tiêu diệt cả những vi khuẩn có lợi. “Chúng phát nổ trong cơ thể như một quả bom nguyên tử,” Hendrickson nói.
Trong khi đó, các thực khuẩn hoạt động như những lính bắn tỉa thiện chiến, tiêu diệt từng mục tiêu một mà không làm hại đến các đồng minh.
Sự đa dạng của các thực khuẩn, cộng với các tính năng đặc biệt của chúng, khiến chúng có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên điều này cũng khiến công cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học như Hendrickson trở nên khó khăn vì họ phải tìm cách phân loại chúng cũng như các bệnh nhiễm trùng mà chúng có thể chữa.
There was much research into bacteriophages in the Eastern Bloc during the Cold War
Đã từng có rất nhiều nghiên cứu về thực khuẩn tại Đông Âu trong thời Chiến tranh Lạnh
Hendrickson đang hợp tác với các sinh viên của mình để phân loại các thực khuẩn được tìm thấy trong đất tự nhiên. Sau khi đã xây dựng hồ sơ cho từng loại thực khuẩn, họ cũng cần tìm một cách an toàn để chắt lọc và lưu trữ chúng. Các thực khuẩn khá mong manh và dễ biến tính theo thời gian. Họ cũng sẽ phải kiểm tra và đảm bảo rằng chúng không kèm theo các phản ứng phụ. Một ví dụ là chúng có khả năng sẽ kích hoạt hệ thống miễn dịch và gây ra các bệnh dị ứng ngoài ý muốn.
Hiện nay, các nước Đông Âu đang dẫn đầu trong công cuộc nghiên cứu thực khuẩn, bà nói. Nhiều nước trong số này đã tiếp tục đào sâu vào các thực khuẩn trong lúc phương Tây chuyển sang dùng thuốc kháng sinh.
“Sau Bức Màn Sắt, Georgia, Nga và Ba Lan đã sử dụng thực khuẩn như một loại thuốc trong suốt thời gian qua,” bà nói. Chúng được sử dụng trên chiến trường. “Đã có nhiều chuyện kể về những người lính mang theo các lọ thực khuẩn theo họ vào chiến trận.”
Đáng tiếc là nghiên cứu này không được đăng tải trên các tạp chí y khoa tiếng Anh và không được nhiều nhà khoa học ở phương Tây biết đến. Đây là điều mà Hendrickson hy vọng sẽ có thể thay đổi thông qua sự hợp tác. Mới đây, một bác sỹ sử dụng thực khuẩn để trị liệu đã liên lạc với bà sau một sự kiện khoa học mà bà tham gia tại Sydney.
Ở phương Tây, một trong những cuộc thử nghiệm lớn sẽ sử dụng băng vết thương chứa nhiều thực khuẩn để ngăn chặn nhiễm trùng ở những nạn nhân bị bỏng.
Hindrickson đã thuật lại nhiều trường hợp điều trị bằng thực khuẩn thành công, trong đó câu chuyện của Alfred Gerler, một người bị chấn thương nghiêm trọng ở mắt cá chân trong lúc leo núi.
Vết nhiễm trùng của ông trầm trọng tới mức thuốc kháng sinh trở nên vô tác dụng và ông ban đầu đã đối mặt với khả năng phải cưa chân. Tuy nhiên sau 10 ngày điều trị bằng thực khuẩn, ông đã hoàn toàn hồi phục.
“Đây là một công cụ đầy hứa hẹn,” Hendrickson nói. “Và chúng ta chỉ mới bắt đầu tìm hiểu nó.”
Nguồn BBC Future.