27 thg 2, 2016

MÙA XUÂN,CHIM ÉN VẪN XÔN XAO - Thơ Lê Hà Thăng


Khi chim én trở về
Em thả niềm vui chao nghiêng cùng đôi cánh
Và mùa xuân
Đậu trên từng vòm lá non xanh
Cũng chẳng thể rớt xuống đôi tay em
Chút lộc đời mới hé.
Tình yêu
Ai biết trước được nỗi đợi chờ
Ai hiểu được lòng mình bao điều trăn trở
Như những bông hoa
Đang đùa vui hớn hở nắng mai kia
Rồi sẽ héo tàn
Nên thời gian cho em bao điều dự ước.

Tiễn nhau chiều cuối năm
Có hoa và rượu ấm
Sao nghe lòng chơi vơi
Khi hai bàn tay lạnh níu vào nhau
Em dấu đôi mắt buồn sóng sánh vào đêm
Từ giã

Bước chếnh choáng trên đường về đầy gió
Nghe thời gian chưa kịp hẹn dài lâu
Nghe mong manh hơi thở mối tình đầu
Nghe mùa xuân chim én vẫn xôn xao.


26 thg 2, 2016

2 cây cỏ đặc biệt lọt vào giải Nobel Y học

Lọt vào tầm của Nobel Y học danh giá không phải dễ, nhưng có 2 loại cây đã lên ngôi. Nó là nguồn cội của sáng tạo y học, đồng thời cũng là nguồn cội của cứu thế nhân gian.
Cam và câu chuyện về bảo tồn sự sống
Cây cam vốn là một loại cây thân thuộc. Loại cây này trong y học cổ truyền có nhiều công dụng để làm thuốc. Quả cam có vị chua ngọt, tính lương, có tác dụng sinh tân, giải khát, khai vị, chữa ho, dùng để chữa ho hen lâu ngày, kích thích ăn uống, giải rượu.
Có một sự thật ít ai biết, cam gắn liền với vitamin C, gắn liền với nhà sinh lý học Albert Szent Gyorgyi, nhà khoa học giành giải Nobel Y học năm 1937.
Cha đẻ của vitamin C là Albert Szent Gyorgyi de Nagyrapolt (1893-1986). Szent Gyorgyi là một nhà sinh lý người Hungary. Ông sinh ra ở Budapest, thủ đô của Hungary. Ông giành giải thưởng Nobel Y học năm 1937 cho khám phá kỳ vĩ của mình: vitamin C. Ông cũng là nhà khoa học lỗi lạc tìm ra các chất hóa học và các phản ứng của vòng chuyển hóa citric.
Vitamin C là một loại vitamin có khá nhiều chức năng, nó giúp cơ thể tăng cường chuyển hóa chất, tăng sử dụng chất bột đường, chất béo và chất đạm. Vitamin C hoạt động như một chất chống ôxy hóa, chống lại các gốc tự do thừa thãi hoạt động trong cơ thể. Nó là vitamin cần thiết cho sự phát triển khỏe mạnh của xương, răng, lợi, dây chằng và thành mạch. Vitamin C cũng là một thành tố tâm điểm trong tái tạo collagen và trong khả năng tái tạo các cơ quan tổn thương. Nó có khả năng làm tăng sức miễn dịch chung của cơ thể, tăng khả năng đề kháng với bệnh nhiễm trùng và đương nhiên, nó chống lại bệnh thiếu vitamin C - bệnh Scurvy. Và điều quan trọng, vitamin C, đã giúp Szent Gyorgyi trở nên nổi tiếng khắp toàn cầu.
2 cây cỏ đặc biệt lọt vào giải Nobel Y học
Cha đẻ của vitamin C là Albert Szent Gyorgyi de Nagyrapolt (1893-1986).
Quá trình tìm ra vitamin C thực cũng không hề bằng phẳng. Trước khi tìm ra nó, người ta đã phải chứng kiến nhiều người bị bệnh do nó gây ra. Chừng hơn 2 thế kỷ trở về trước, các thủy thủ lênh đênh trên biển dài ngày đã thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu vitamin C từ thực phẩm tươi. Và gần như họ phải trải nghiệm qua những chứng bệnh dị thường mà bản thân họ không hiểu điều gì đang xảy ra, do tội lỗi hay do chúa trời định đoạt. Họ chỉ biết lợi răng bị sưng, chảy máu chân răng, rụng răng, xuất huyết dưới da, vết thương liền rất chậm nếu như bất cẩn.
Dày công nghiên cứu, các nhà khoa học mới chỉ dừng lại ở mức, có lẽ trong các thực phẩm tươi có một “chất gì đó” có khả năng phục hồi và bảo vệ sự sống. Bởi nếu bổ sung nhóm thực phẩm tươi thì người ta lại khỏe mạnh và hoàn toàn không mắc bệnh. Hai nhà nghiên cứu Axel Holst và Alfred Frohlich đã đề xuất giả thiết về sự tồn tại của chất kỳ diệu đó (sau này được gọi là vitamin C) vào đầu những năm 1970 nhưng không ai chỉ ra được sự xác thực. Phải đợi mãi đến các năm 1920, Szent Gyorgyi mới làm được điều mà các nhà khoa học khác không làm được: nhận ra, phân lập và xác định chính xác sự hiện hữu của vitamin C. Chất này có cấu trúc giống với đường (glucose) và có tính chất như một axit. Ông gọi đó là axit hexuronic, chính là vitamin C ngày nay, một chất có khả năng tách và nhập nguyên tử hydro, ông gọi là chất mang hydro. Song nếu chỉ dừng ở đó thì ông cũng chưa được đăng quang.
Vào một ngày đẹp trời, ông lang thang trong vườn cam. Trong lúc nghiên cứu, quan sát và thí nghiệm, ông đã vô tình làm rớt những giọt nước cam vào đống rau củ bị chặt bỏ. Ông ghi nhận một hiện tượng vô cùng quan trọng: những rau củ có thêm những giọt nước cam, chúng lâu bị thối rữa hơn những rau củ khác. Ông bắt đầu thu hút sự chú ý của mình vào dung dịch cam và nhận thấy trong cam có rất nhiều axit hexuronic. Chất này chính là chất chống lại sự hủy hoại - vitamin C. Chính chất này có khả năng phục tồn sự sống, phòng vệ sự phá hủy và chống lại sự thối rữa. Chất đó là bệ đỡ cho giải Nobel Y học đã vinh danh.
Thanh hao hoa vàng - Cứu thế nhân loại
Thanh hao hoa vàng là một cây thuốc rất quý. Cây cao khoảng 1,5 mét, lá xẻ lông chim 2 lần, vò nát lá có mùi thơm. Hoa có màu vàng nhạt nên còn gọi là cây thanh hao hoa vàng. Quả có đài hình trứng. Cây thanh hao hoa vàng trong y học cổ truyền có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, bổ hư, lợi tiểu, thông khí trệ. Câu chuyện nếu chỉ dừng có thế thì thanh hao hoa vàng cũng chỉ nằm trong nhóm các cây thuốc bình thường của y học cổ truyền. Thanh hao hoa vàng khiến cho cả bác sỹ đông y và tây y chú ý, cả nhân loại chợt biết là vì nó gắn với một giải thưởng danh giá bậc nhất thế giới về y học, giải thưởng Nobel.
2 cây cỏ đặc biệt lọt vào giải Nobel Y học
Bà Đồ U U được trao giải thưởng Nobel Y học 2015. Ảnh: Jin Liwang

Giải Nobel Y học năm 2015 được trao cho ba nhà khoa học, William C. Campbell, Satoshi Omura và Youyou Tu (Đồ U U) trong đó 1/2 giải thưởng Nobel Y học năm 2015 được trao cho GS. Đồ U U, một nhà nghiên cứu của Trung Quốc đại lục. Đây là một giải thưởng được trao hơi kỳ lạ vì lẽ ra mỗi nhà khoa học sẽ giành 1/3 tổng giá trị giải thưởng nhưng do giá trị khoa học kiệt xuất của Đồ U U, bà đã giành được 1/2 giải thưởng Nobel Y học.
Đồ U U sinh năm 1930, tại Tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc). Con đường đến với Nobel Y học của bà không tơ lụa giống như sự nghiệp khoa học bất kỳ của nhà khoa học nào. Nhưng điều đáng nói, đó là sự nỗ lực, cố gắng và niềm say mê nghiên cứu của người phụ nữ Trung Quốc đầu tiên chạm tới vinh quang này. Trước khi có thuốc điều trị sốt rét, nhân loại khốn đốn với loại bệnh này. Người ta chỉ biết rằng, vào thời đó, sốt rét hoành hành và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu vào những năm đó. Hàng ngàn người chết, hàng ngàn binh sĩ phải bỏ mạng hoặc lui về chiến trường. Các cuộc chiến của Trung Quốc đứng bên bờ thất bại. Sốt rét vẫn là căn bệnh đáng sợ nhất trong các căn bệnh tại vùng cao nguyên núi rừng. Sốt rét càng ngày càng khiếp sợ, nó gây ra những đại dịch kháng thuốc khiến cho các nhà chính trị trở nên đau đầu. Một chiến dịch tìm thuốc điều trị mới được khởi động, trong đó có bà Đồ U U.
2 cây cỏ đặc biệt lọt vào giải Nobel Y học
Thanh hao hoa vàng.
Để nghiên cứu ra thuốc sốt rét, bà đã phải lăn rừng, lội suối, làm ngày, thức đêm, đọc sách, lục báo, bà và cộng sự của bà đã phải nghiên cứu 2.000 bài thuốc y học cổ truyền khác nhau. Những bài thuốc này đa phần là bài thuốc cổ phương, bài thuốc kinh nghiệm và rất khó để áp dụng. Phải trải qua tất cả 380 dịch chiết từ 200 loại thảo dược, cuối cùng bà đã phát hiện ra thanh hao hoa vàng. Nhưng thành công cũng chưa hẳn đã mỉm cười. Lần đầu tiên nhóm nghiên cứu đã chiết ra dung dịch thanh hao hoa vàng hỏng, không có tác dụng điều trị. Tiếp tục “mò kim” trong phòng thí nghiệm, bà đã bào chế thành công thuốc tinh chế từ loại thảo dược này và cứu sống loài người khỏi dịch sốt rét.
Trước khi chạm tay vào giải Nobel Y học, Đồ U U là nhà khoa học bị “người đời lãng quên”. Bà là giáo sư 3 không: không bằng cấp, không nghiên cứu ngoại quốc, không là thành viên của Hội đồng khoa học quốc gia (những tiêu chí bắt buộc của Trung Quốc). Nhưng nhờ có thanh hao hoa vàng, bà đã được vinh danh. Và trong mối tương quan tương hỗ, Đồ U U đã nâng tầm thanh hao hoa vàng từ giá trị đất lên giá trị vàng. Bà đã cùng thanh hao hoa vàng trở thành hiện tượng y học và đem lại sự sống cho rất nhiều người như một cứu thế của nhân loại.
http://suckhoedoisong.vn/2-cay-co-dac-biet-lot-vao-giai-nobel-y-hoc-n112533.html
Theo BS. Đào Châu Tú/Báo Sức Khỏe Đời Sống

Thuốc hay từ chuối






Nước ta có nhiều loại chuối như chuối tiêu, chuối tây, chuối hột. Trong đó chuối tiêu được dùng làm thực phẩm dinh dưỡng và làm thuốc nhiều nhất.
Chuối tiêu thơm ngon, giàu dinh dưỡng do chứa bột đường (glucose, fructose, sucroe); protein là albumin và globulin, mà được cấu tạo bởi các acid amin cần thiết; các vitamin: A, B, C, H...; các nguyên tố Ca, Fe, Mg, K, Na, Zn... và nhiều enzym: amylase, invertase...
Theo Đông y, chuối tiêu vị ngọt, tính lạnh; vào vị, đại tràng. Có công năng tư âm, nhuận tràng, nhuận phế, thanh nhiệt, giải độc. Dùng cho các trường hợp táo bón, sốt nóng khát nước, mụn nhọt, trĩ xuất huyết, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, an thai. Vỏ quả chuối chín có vị ngọt, chát, tính ôn; có tác dụng sát khuẩn, chỉ tả. Củ chuối: vị ngọt, lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc. Dịch nhựa chảy ra từ thân hay củ chuối: vị ngọt, chát, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc. Hằng ngày có thể ăn 1 - 5 quả; 20 - 30 g vỏ chuối; 60 - 120 g tươi củ chuối.
Một số đơn thuốc và thực đơn chữa bệnh:
Chữa đái ra máu: củ chuối tươi 120 g, cỏ nhọ nồi 30 g. Sắc lấy nước, uống trong ngày.
Chữa trĩ ra máu: chuối 2 quả, để cả vỏ, nấu chín, ăn trong ngày, dùng nhiều lần.
Chữa phế nhiệt, đàm suyễn: củ chuối tươi 60 g, rau sam 30 g. Giã nát ép lấy nước, đun âm ấm để uống.
Chữa mụn nhọt ở sống lưng, viêm cơ: củ chuối hay rễ chuối, giã nát đắp chỗ đau.
Chữa trúng độc do ăn uống: củ chuối tiêu 200-500 g, thái miếng, sắc đặc lấy 1 bát. Cho uống để gây nôn.
Phòng và chữa viêm loét dạ dày: chuối tiêu xanh thái lát, phơi hay sấy ở nhiệt độ dưới 500C, tán bột. Ngày uống 20 - 30 g.
Chuối luộc: chuối chín 2 - 3 quả, để cả vỏ luộc chín, cho ăn cả vỏ. Dùng cho các trường hợp táo bón, trĩ nội, ngoại xuất huyết.
Chuối hấp đường phèn: chuối chín 2 - 3 quả, đường phèn 100 g. Chuối cắt đoạn, thêm đường phèn, đun cách thủy cho chín. Ngày 1 - 2 lần. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, ho khan, đờm ít dính, táo bón.
Kiêng kỵ: Không dùng nhiều khi bị tiêu chảy, đầy bụng trướng hơi.
http://suckhoedoisong.vn/thuoc-hay-tu-chuoi-n71777.html
Theo TS. Nguyễn Đức Giang/Sức Khỏe và Đời Sống

Về Bệnh Viêm Não Mô Cầu

Viêm não mô cầu là bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng, khó phát hiện sớm, tỷ lệ tử vong cao và dễ lây thành dịch.


Theo tiến sĩ Trần Đắc Phu, Cục trưởng Y tế Dự phòng, Bộ Y tế, mặc dù ít gặp nhưng bệnh não mô cầu rất nguy hiểm, thường gặp ở lứa tuổi trẻ và có khả năng gây thành dịch. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp, tỷ lệ người lành mang trùng cao.
bi-viem-nao-mo-cau-nguoi-khoe-co-the-tu-vong-sau-mot-ngay
Biểu hiện ban đầu của viêm não mô cầu có thể giống như viêm họng thông thường tuy nhiên diễn tiến xấu rất nhanh. Ảnh: Bác sĩ cung cấp. 
Bệnh diễn tiến rất nhanh, có thể lấy đi sinh mạng của trẻ đang khỏe mạnh chỉ trong vòng 24 giờ sau khi có biểu hiện. Một nữ sinh lớp 12 tại Hải Dương mới đây tử vong chỉ sau 2 ngày sốt nhẹ, đau đầu. Ở thể tối cấp, tỷ lệ tử vong của bệnh lên đến 60-70%; thể viêm màng não mủ 30-40% nếu việc điều trị không kịp thời. Những trường hợp sống sót có thể để lại di chứng nặng nề như chậm phát triển tinh thần, điếc, liệt... 
Khi nhiễm vi khuẩn não mô cầu, thời gian ủ bệnh 2-10 ngày, thường 3-4 ngày. Bệnh nhân có các biểu hiện sốt, đau đầu, buồn nôn, nôn, gáy cứng (trẻ nhỏ có thóp phồng), lơ mơ, nhạy cảm với ánh sáng, có thể xuất hiện ban xuất huyết hình sao hoặc biểu hiện sốc nhiễm khuẩn... Biểu hiện này tương tự như viêm não, màng não do virus thông thường khác. Bệnh cũng có ban hoại tử trên da nên dễ nhầm với bệnh liên cầu khuẩn. Ngoài ra, bệnh còn khó phát hiện sớm vì biểu hiện ban đầu như viêm họng thông thường nhưng diễn biến cấp tính.
Sau khi một nữ sinh lớp 12 ở Hải Dương tử vong do viêm não mô cầu, ngày 25/2 Bộ Y tế chỉ đạo khẩn yêu cầu Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành tăng cường các biện pháp phòng chống bệnh. Trong đó, Bộ yêu cầu các địa phương cần phát hiện sớm các ca não mô cầu, các ổ dịch mới phát sinh. Những người tiếp xúc gần với ca bệnh, trường hợp nguy cơ cần được lấy mẫu xét nghiệm để kịp thời phát hiện người lành mang trùng, từ đó tiến hành điều trị dự phòng và triển khai xử lý ổ dịch, không để ổ bệnh dịch lan rộng.
Bộ Y tế khuyến cáo, tại ổ dịch, người dân cần đeo khẩu trang, vệ sinh mũi họng thường xuyên bằng nước muối sinh lý, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng; thực hiện tốt vệ sinh môi trường, thông thoáng nơi ở, nơi làm việc. Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh cần đến ngay các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.
Bệnh xuất hiện quanh năm tại Việt Nam, có thể gây dịch vào mùa thu và mùa đông - xuân. Trong năm 2015 và những tháng đầu năm 2016 đã có các trường hợp mắc rải rác tại TP HCM, Gia Lai, Sơn La, Hòa Bình, Nam Định và Lạng Sơn…
Trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 650 trường hợp viêm màng não mủ do vi khuẩn, trong đó vi khuẩn não mô cầu chiếm khoảng 14%. Tại Hà Nội, mỗi năm ghi nhận 5-7 ca bệnh. Tuy nhiên, theo các bác sĩ đây là một bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng, số mắc ít nhưng tỷ lệ tử vong cao.
Nam Phương
vn.express

VẦNG TRĂNG KHÓC - Thơ nvs.Vũ Thụy


Cũng đành phải chịu vậy thôi
Nhìn vầng trăng khóc anh cười xót xa
Cuối đời chưa hết phong ba
Trót ăn trái cấm nên xa địa đàng
Chiều nay đi dự đám tang
Đạp lên những cánh hoa vàng theo sau
Màu hoa không giống trao nhau
Hoa nay khác nét nhiệm mầu khi xưa
Em đi vào tuổi trái mùa
Quả chưa kịp chín theo mưa xuôi dòng
Cho rồi một kiếp long đong
Xuôi tay nhắm mắt trời hồng đón em
Em giờ biết kẻ giấu tên
Viết thơ trên báo mực in chưa mờ
Đếm từng giọt nhớ trong mơ
Hành trang em giữ cuối mồ đem theo
Giờ đây em không còn nghèo
Giàu thơ anh đã chắt chiu từng dòng

                                               nvs.Vũ Thụy

Đôi Khi Hãy Thử Không Chỉ Nhìn Về Phía Trước

Nhìn về phía trước để hướng tới tương lai, cũng làm nên phong thái ung dung tự tại. Nhưng có đôi khi, bạn hãy thử không nhìn thẳng về phía trước mà xem… Nhìn sang bên để thấy những người âm thầm nâng đỡ và yêu thương bạn vô điều kiện, nhìn đằng sau để sẻ chia những mảnh đời khốn khổ, nhìn xuống để suy ngẫm về những lời chỉ trích….

Đôi khi, hãy nhìn sang bên để thấy mình không đơn độc. Cha mẹ, vợ con, bè bạn… những người vẫn luôn thầm lặng ở bên, nâng đỡ và yêu thương bạn vô điều kiện trong suốt cuộc đời.
Đôi khi, hãy ngoái lại đằng sau để sẻ chia với những mảnh đời khốn khổ. Một em bé ăn xin lang thang cơ nhỡ, một ông cụ mù lòa… Họ có thể không tiến nhanh như bạn, họ chỉ có thể lê từng bước chân mỏi mệt trên cõi nhân sinh. Một lần ngoái lại, hãy trao cho họ ánh mắt yêu thương và cử chỉ ấm áp.
Người đàn ông mù vượt qua được khiếm khuyết của đời mình và chơi được 7 loại nhạc cụ. (Ảnh: pianofingers.vn)
Người đàn ông mù vượt qua được khiếm khuyết của đời mình và chơi được 7 loại nhạc cụ. (Ảnh: pianofingers.vn)
Đôi khi, hãy nhìn xuống đất để khiêm tốn lắng nghe những lời chỉ trích. Lão Tử nói :
“Bậc thượng thiện giống như nước, nước hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh, ở chỗ mà người người đều ghét (chỗ thấp), nên gần với Đạo. Vì không tranh, nên không sao lầm lỗi.”
Đôi khi, hãy nhìn lên để chiêm ngưỡng bầu trời bao la và những vì tinh tú. Để thấy những ưu phiền, tranh đấu, lo toan trong đời này trở nên nhỏ bé biết bao. Để thấy được đằng đẵng của nhân sinh trong luân hồi chuyển kiếp, để tìm về bản nguyên sinh mệnh vĩnh hằng.
Hãy nhìn lên trên để chiêm ngưỡng bầu trời bao la và những vì tinh tú… (Ảnh: Internet)
Hãy nhìn lên trên để chiêm ngưỡng bầu trời bao la và những vì tinh tú… (Ảnh: Internet)
Đôi khi, hãy nhìn vào trong để hiểu được chính mình. Những sự tình trái ý phiền lòng vốn chẳng phải do người ngoài đem đến, chỉ tại lòng mình chưa khoáng đạt đó thôi. Dứt bỏ những mê lầm, dục vọng và vô minh, ta mới có thể ngao du giữa đất trời, làm bậc quân tử an nhiên tự tại.
Một lúc nào đó, hãy thử không chỉ nhìn về phía trước, biết đâu bạn sẽ tìm được niềm an vui đích thực của đời người?

Mã Lương-Hà Phương

Nghiên Cứu Quốc tế: Một "IS Phật Giáo "Đã Từng Tồn tại ở Mông Cổ

Một ‘ISIS Phật giáo’ từng tồn tại ở Mông Cổ