3 thg 3, 2023

CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN kỳ 1/3/2023 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Chữ nghĩa làng văn

 

“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.

 ***

 Ký, Đường, Tự, Kim

Nghĩa gốc chính xác của chữ Ký trong Tường Ký, Chánh Ký, v.v… chẳng qua chỉ là “hiệu”. Chính vì thế nên chủ một số cửa hàng người Hoa mới đặt bảng hiệu của mình bằng một danh ngữ mà “ký” là trung tâm (đứng cuối) còn đứng trước là một trong những chữ dùng làm tên riêng cho cửa hàng”.
Tóm lại chữ Ký trên biển hiệu của các quán ăn người Hoa có nghĩa là ghi nhớ đến quán, là để nhớ đến, là nhãn hiệu.

(Đỗ Duy Ngọc)

Rượu Ngang

 

Rượu Nganglàng Ngang, thời Tây nấu rượu lậu.

Hay rượu quốc lủi. Nay có tên là…cuốc lủi.

 

(Phan Nghị - Bữa gỏi cá mè cuối năm)

 Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

 “sáng: sáng lạn → không viết: sán.” - Gs Nguyễn Văn Khang

 (viết đúng = xán lạn)

 (Hòang Tuấn Công)

 Chữ nghĩa làng văn

Độc giả

Theo Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh thì độc đọc sách. Độc giả người đọc sách. Tôi đã thử tìm chữ "người đọc" trong Từ điển An Nam – Lusitan - Latin của Alexandre de Rhodes: Không có. Tìm chữ "độc giả": Cũng không có. Cuốn Việt Nam Quốc âm Tự vị  của Huỳnh Tịnh Paulus Của cũng không có hai chữ ấy.

 Dĩ nhiên, tôi biết, chưa thể vì sự vắng mặt này mà chúng ta đã có thể đi đến kết luận là trước thế kỷ 20 hai chữ "độc giả" hay "người đọc" không từng hiện hữu. Có thể chúng đã có, nhất là chữ "độc giả". Có thể. Nhưng nếu có: Chúng nằm ngoài lỗ tai của Alexandre de Rhodes và cũng nằm ngoài sự ghi chép nhất định là rất cẩn thận và nghiêm túc của Huỳnh Tịnh Paulus Của.

(Nguyễn Hưng Quốc – Viết cho ai?)


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

sâm: sâm sấp. → không viết: xâm.” (Gs Nguyễn Văn Khang)

(viết đúng = xâm xấp, xăm xắp)

(Hòang Tuấn Công)

 

Văn hoá chửi

Vỗ nợ

 

Trích truyện Khao của Đồ Phồn:

“…Cha bố tiên nhân thằng Cò! Cha bố tiên nhân thằng Cốc! Cha họ nội họ ngoại, họ gần họ xa, họ năm đời giở lên, họ ba đời giở xuống nhà thằng Cò, thằng Cốc! Cha tam đại, tứ đại, ngũ đại mai thần chủ thằng Cò, thằng Cốc! Cha đứa già đứa trẻ, đứa nhớn đứa bé, đứa mẹ đứa con, đứa đỏ như son, đứa vàng như nghệ nhà thằng Cò, thằng Cốc, bảo nhau định vỗ nợ của bà…”

 

Chữ nghĩa bề bề

Nhiều tác giả viết trên sách báo câu:

Văn chương chữ nghĩa bề bề

Thần “l…” nó ám cũng mê mẩn đời

 Tầm chương trích cú thì câu trên xuất xứ từ một nhà văn Tầu: “Nữ nhân đối với nam nhân trước sau chỉ là cái “thiên cổ chi mê”.

Từ đấy cái “thiên cổ chi mê”  của Tầu xuất hiện khắp nơi khắp chốn trên văn đàn của Ta.

(Vũ Tài Lục – Người đàn bà trong tướng mệnh học)

Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

sập: sập sè.”  (Gs Nguyễn Văn Khang)

 viết đúng = xập xè, xập xoè)

(Hòang Tuấn Công)

Góp nhặt phố văn ngõ chữ

Lê Văn Trương - 1

Phạm Thế Ngũ thì nhận xét đại để như sau:

Lê Văn Trương đã không thành công lắm về phương diện nghệ thuật. Bởi ông không có bản lĩnh để dựng nên một câu chuyện tự nhiên hoặc vẽ nên một nhân vật trọn vẹn.

Truyện ông thường đầy những vô lý về tình tiết, giả tạo về tâm lý. Cái hấp dẫn người đọc ở ông thường chỉ là ở những tiểu thuyết giang hồ: cái vị lạ, những cảnh tượng xa xôi, những gặp gỡ kỳ thú hay gian hiểm...

Còn văn của ông, thường là lối nói khoa đại, kêu mà rỗng, nhất là ở những chỗ ông nghị luận...Ông ít khi tìm được một lối bình dị thuần nhã, mà thường bị cái tật huênh hoang lôi cuốn làm cho người đọc hết cảm động. Nói chung văn nghiệp của ông có lượng mà không có phẩm, do ông không săn sóc câu văn mấy.

 Trừ mấy tác phẩm đầu như cuốn "Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích", văn viết chải chuốt, còn về sau ông viết nhanh một cách cẩu thả. Thường cứ nghị luận một câu lại xuống hàng, hoặc để cho nhân vật đối thoại lê thê nhạt nhẽo, gây cho ta có cái cảm tưởng như lối "kéo dài ăn trang" của những nhà tiểu thuyết viết thuê, nhằm đến một số công chúng dễ dãi, không cần gì đến sự trau tria nghệ thuật.

Tướng mạo con người qua ca dao, dân ca


Má hồng, trán bóng có duyên
Lương tâm dẫu tốt, đừng hòng tuổi cao

Góp nhặt phố văn ngõ chữ

Lê Văn Trương - 2

Sau khi phân tích một số tác phẩm của Lê Văn Trương, nhà văn Vũ Ngọc Phan  cũng đã kết luận rằng: Lê Văn Trương là một nhà tiểu thuyết luân lý, nhưng cái luân lý của ông là một thứ luân lý rất thông thường: vợ phải nghe theo chồng, em phải nghe anh...Ông lại tựa vào một lý thuyết rất hẹp. Cái thuyết sứ mạnh của ông là thứ lý thuyết nông nổi, không có gì vững vàng...

Tiểu thuyết của ông mỗi ngày một nhiều, nhưng xét chung tất cả, người ta thấy các truyện của ông không khác nhau mấy tí. Người ta lại thấy về đường tư tưởng và ý kiến, những truyện của ông chỉ có chiều rộng mà không có chiều sâu...Về cách hành văn...cũng không thay đổi mấy. xưa kia ông hay nghị luận...thì bây giờ ông cũng hay nghị một cách trường giang đại hải. Văn ông chỉ là một thứ văn hoạt, thứ văn dễ hiểu,...không có gì đặc sắc..

 190 Chữ nghĩa làng văn xóm chữ

 Một người bạn sau này quen nhau ở trường kiến trúc, nhân lúc nói chuyện văn chương, đã tìm mua tặng tôi cuốn La Chute, với lời viết tặng cho “une petite amante de Camus”.

Bây giờ vẫn tôi còn thích văn hào này vì văn phong ở mỗi cuốn tiểu thuyết Camus có một văn phong riêng và vì ảnh hưởng sâu đậm ông đã để lại trong đời tôi. (…)

 

Cũng đồng thời trong thời gian dậy thì này tôi (Trùng Dương) làm quen với hội hoạ. Tôi có cái may mắn có thiên phú về vẽ, có được “mười ngón tay bắt được của trời” như diễn tả (hình như) của cố nhà văn Mai Thảo, chủ trương tạp chí văn học Sáng Tạo hồi cuối thập niên 1950, và Văn sau này. Tôi không bao giờ có ý tưởng trở thành nhà văn, hay cả nhà báo. Thực ra tôi vẽ từ khi mới biết cầm bút tập viết, và đã thực hiện nhiều truyện bằng tranh, đã bán cho mấy đứa nhỏ hàng xóm lấy tiền mua giấy vẽ tiếp. Có một dạo tôi mơ làm hoạ sĩ. (…) Bố tôi, vẫn muốn tôi đi thi vào trường Sư Phạm, còn phán, “Làm hoạ sĩ chỉ chết đói. Con gái không làm hoạ sĩ.” Tôi đành đi thi vào Sư Phạm, và trượt. Đành ghi danh học Luật và Văn Khoa rồi, sau này, Kiến Trúc.(…)

 

Tôi lớn lên không có người để tâm sự. Có tâm sự cũng chưa chắc đã được thông cảm, nếu không là bị phán đoán, điều chả giúp gì được cho tôi hết. Trong nỗi hoang mang cùng tận, đặc biệt từ sau khi người tình đầu của tôi (nay đã qua đời, ở tuổi mới 55) đi du học, tôi cầm bút viết. Một phần cũng vì viết không tốn kém gì nhiều, như vẽ, và chỉ cần một xấp giấy trắng và cây bút, và ngồi viết ở đâu cũng được. Nỗi niềm thì đã ở cả trong đầu, trong tim.

 

Một trong những truyện ngắn đầu tiên của tôi, “Sao Rụng”, được nhà văn Võ Phiến giới thiệu đăng trên tờ bán nguyệt san Bách Khoa do Lê Ngộ Châu làm chủ nhiệm, vào năm 1965. Ông Võ Phiến hồi ấy nghĩ tôi có thể “đi xa”, vì “Sao Rụng” là câu chuyện không phải về tôi, như với đa số những người mới viết còn ít kinh nghiệm sống và hay viết về mình. “Sao Rụng” là chuyện về một con bạn thân, mà tôi rất thương, đi lấy chồng. Người chồng lớn tuổi hơn nó nhiều và nó không yêu, song phải lấy vì một nhu cầu gia đình, như cô Kiều của Nguyễn Du, để lại một cậu bé hàng xóm, một nhân vật hoàn toàn tưởng tượng thầm yêu trộm nhớ trong tuyệt vọng.

 

Và tôi... lạc đường vào văn chương kể từ đấy.

(Lạc đường vào văn chương – Trùng Dương)

 

Góp nhặt làng văn xóm chữ

Đào Trinh Nhất

 Đã đến lúc chúng ta nên bớt tin vào một số danh xưng lưu truyền suốt nhiều năm!  Bộ tứ "Vĩnh Quỳnh Tố Tốn" có đến mức độ như thế không? Khái niệm "bộ tứ" này lại là một cái gì đó vô cùng đặc vị Hà Nội, cái xứ hễ một tí lại thấy có "Trường An tứ hổ", mỗi thuyết lại khác nhau, đại khái Nguyễn Bá Lân hổ mà ông thân phụ Nguyễn Công Hoàn lại cũng hổ nốt. Với tôi, nếu có bốn trí thức trước 1945 thực sự kiệt xuất có thể đặt thành "bộ tứ" (lại bộ tứ, đúng đầu óc Bắc Kỳ Hà Nội) thì đó là "Kim Khôi Nhất Hùm" (Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất và Phan Văn Hùm). Được cái trong này có hùm có hổ luôn đỡ phải phân vân.

Thật ra, sự xuất hiện trở lại của một nhân vật như Phan Khôi làm đảo lộn rất nhiều thứ, làm thay đổi cái nhìn và cách đánh giá về cả một giai đoạn. Vĩnh Quỳnh Tố Tốn đều là danh nhân, nhưng Kim Khôi Nhất Hùm dường như trình bày một hình mẫu trí thức khác hẳn, có thể gọi là một thế hệ mới, tuy rằng Phan Khôi, Trần Trọng Kim còn lớn tuổi hơn Phạm Quỳnh.

 (Khuyết danh)

 

Tướng mặt

Mặt là bộ phận được nghiên cứu nhiều nhất trong nhân tướng học phương Đông. Chỉ cần nhìn qua người đối diện, bạn có thể biết cá tính, vận mệnh cả đời của người đó.

Khuôn mặt chữ Thân ()

Chữ Thân trên dưới nhỏ, ở giữa lớn, nên theo đó khuôn mặt dài, trán nở phần gần chân mày nhưng hẹp ở đỉnh đầu, cằm dài. Tướng này tuổi nhỏ gặp nhiều vất vả, có cha mẹ cũng không được nhờ cậy, phần lớn đa thọ nhưng về già cô độc.

 Chữ nghĩa làng văn    

 

Nguyễn Bính đã dành trang phê bình của 2 số đầu Trăm Hoa loại mới cho bài viết của chính mình về giải thưởng văn học 1954-55, nhan đề: Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955 dưới nhan đề là mấy dòng chapeaux in đậm: “Ðề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng. Bổ sung một số tác phẩm khác”. Ðây là bài tiểu luận vào loại khá hiếm hoi trong đời văn Nguyễn Bính, trong đó tác giả đã trình bày thẳng thắn ý kiến của mình về một sự kiện đang chia rẽ giới nhà văn vừa tập hợp về Hà Nội sau kháng chiến chín năm.

 

Xin dừng lại kỹ hơn ở bài này của Nguyễn Bính.

“…Kết quả giải thưởng văn học 1954-55 đã gây nên rất nhiều dư luận, nhiều thắc mắc trong giới văn nghệ và yêu văn nghệ. Những dư luận và thắc mắc ấy đã kéo dài đến nửa năm nay. Dư luận càng sôi nổi từ sau lớp học tập lý luận văn nghệ 18 ngày và nhất là sau bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của ông Phan Khôi đăng trong Giai phẩm mùa thu tập I.

Tại sao lại có nhiều dư luận thắc mắc? Chính vì căn cứ vào những tác phẩm trúng giải, người ta thấy có nhiều quyển không xứng đáng, nhiều quyển cần phải xét lại thứ bậc, nhiều quyển tại sao không trúng giải? Thành phần ban giám khảo cũng như lề lối làm việc độc đoán, hẹp hòi, xa rời quần chúng, bè phái, và có cả cái tệ sùng bái cá nhân nữa.

 

Nhờ có dư luận ấy mà ban giám khảo và Thường vụ Hội Văn Nghệ đã kiểm điểm lại vấn đề giải thưởng. Mới đây Hội Văn Nghệ có ra một thông báo và ông Nguyễn Tuân (vừa là trưởng ban giám khảo vừa là tổng thư ký ) có viết một bài về giải thưởng văn học 1954-55. Theo tinh thần hai văn kiện ấy ta có thể kết luận là ban giám khảo và thường vụ hội có nhận một số khuyết điểm về quan niệm, tổ chức và lề lối làm việc của giải thưởng…”

Sau khi trích dẫn một đoạn trong bài nói trên của Nguyễn Tuân và tóm tắt một số điểm trong thông báo của thường vụ Hội Văn Nghệ, lưu ý đến một vài đề xuất sửa đổi (đưa tập Ngôi sao từ giải nhì xuống giải ba, sẽ cân nhắc trường hợp Người người lớp lớp), Nguyễn Bính cho rằng các đề xuất đó là quá ít, trong khi những khuyết điểm về nhận thức và tổ chức xét giải đã khiến toàn bộ giải thưởng “mất đi rất nhiều giá trị và tác dụng”.

 

(Nguyễn Bính và tuần báo Trăm Hoa - Lại Nguyên Ân)

Bên lề chữ nghĩa

Hà Nội những điều nhỏ bé bạn nên làm khi…”quởn”

Ngồi trà đá ở trước cửa Nhà Hát Lớn

 (Nguồn: Tôi đi đâu)

 Hậu Nhân văn Giai phẩm

 

Hành trình tư tưởng của Phùng Quán thực ra đơn giản. Suốt đời ông ca ngợi lý tưởng, kêu gọi người ta chiến đấu cho độc lập dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân. Nhưng tính bộc trực, lòng nhiệt thành khi đăng bài trên NVGP đã làm ông chịu nhiều oan ức. Vừa câu cá trộm ở hồ Tây để sống ông phải viết hàng trăm truyên thiếu nhi, truyện tranh cho các nhà xuất bản với bút danh mới hoặc mượn tên người khác.

Ông đã hoàn thành bộ tiểu thuyết 3 tập gần 1000 trang về quãng đời niên thiếu chiến đấu trong đơn vị độ đội với tên Tuổi thơ dữ dội xuất bản lần đầu ở Huế. Tuổi thơ dữ dội được Giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1987. Ông mất năm 1995.

(Biên niên Nhân văn Giai phẩm – Thái Kế Toại)

Nhà thơ, nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hóa)

Tướng mạo con người qua ca dao, dân ca

Những người tai ngửa ra sau
Tướng hèn mà lại cứng đầu, chậm nghe
                                                                                                             

Hàm Nghi: một nhà ái quốc - 1


Vào cuối thập niên 1880, rất ít người VN đang sống tại Algérie, đa số là những thanh niên Nam Kỳ được người Pháp cấp học bổng để theo học tại các trường trung học đệ nhị cấp (lycée) vì tại VN chưa có ban tú tài. Trong tác phẩm “Như Tây Nhựt Trình” (De Sàigon à Paris) xuất bản vào năm 1888,
cụ Trương Minh Ký có ghi lại cuộc hành trình mà ông đã hướng dẫn 10 du học sinh VN sang Phi châu vào năm 1880. Có lẽ đây là chuyến đầu tiên một số người VN được học bổng sang học tại Algérie.

Khi vua Hàm Nghi đến Algérie vào năm 1889 thì những nguời đang theo học bậc trung học, họ đã đi đón tiếp nhà vua và thường tới lui thăm viếng, hầu cận và giúp đỡ cho nhà vua bị lưu đày làm quen với nếp sống và nền văn hoá hoàn toàn mới lạ tại xứ người.

Ngay từ khi mới đặt chân lên đất Algérie, dù được khuyến khích nhưng trong năm đầu tiên ngài nhất định từ chối không thèm học tiếng Pháp để liên lạc với người Pháp, Ngài chỉ nói tiếng Việt trong mọi sự giao tiếp và ông Trần Bình Thanh phải lo việc thông dịch cho ngài.

 Tuy nhiên dần dà, có lẽ vì có cảm tình với những người Pháp tại đia. phương, có lẽ vì chịu ảnh hưởng bởi một số du học sinh người VN như ông Bùi Quang Chiêu và cũng có lẽ vì nhu cầu cần được hiểu biết về nền văn hoá trong môi trường sinh sống hoàn toàn mới lạ và nhất là nhu cầu cần mở mang kiến thức. Vua Hàm Nghi đã thay đổi thái độ và bắt đầu chịu học tiếng Pháp. Khi đó Ngài đã gần 20 tuổi, và chỉ trong một thời gian rất ngắn, chàng thanh niên VN bị lưu đày này đã ăn nói trôi chảy, về sau rất giỏi tiếng Pháp và được mọi người tại Alger gọi bằng một danh vị đầy thương mến và kính trọng: “Le Prince d’Annam” (Hoàng tử xứ VN). Một tờ báo ở Alger đã viết như sau về cái tên đó:

“…một người bị xem như là tù nhân chính trị được nổi tiếng dưới cái tên “Prince d’Annam,” cái tên mà báo chí cũng như là công chúng đã gọi ông ngay từ năm 1889, khi ông mới bị đưa đến sống cuộc đời lưu đày tại thành phố này…” (9)

(9) Es’mma : “Le mariage du Prince d’Annam “. Es’mma là trang web của Hội Cựu Học Sinh các Trường Trung Học Alger, , thủ đô nước Algérie.

Hầu hết những tấm hình của vua Hàm Nghi và bà Marcelle Laloe đều trích từ trang web của hội Es’mma, Alger.

(Trần Đông Phong)

 Thành ngữ tục ngữ

 Chim ra ràng


Ràng là từ cổ, có nghĩa là chuồng. Một số nơi còn dùng từ ràng trâu để chỉ chuồng trâu. Chim ra ràng là chim đã đủ lông đủ cánh, mới ra khỏi chuồng (tức chim non). Hiện nay, ta dùng từ ràng buộc nghĩa gốc là nhốt vào chuồng và cột chặt.

Hàm Nghi: một nhà ái quốc - 2

 Người tù bị lưu đày biệt xứ Hàm Nghi đến nước Algérie vào đầu năm 1889 và được toàn quyền Pháp tại xứ này cho trú ngụ tại ngôi biệt thự mang tên là “Villa des Pins”  Trong một cuốn sách viết bằng tiếng Pháp nhan đề Le Laos, trong chương “La Cour d’Annam en fuite dans la province,” tác giả có viết về vua Hàm Nghi và ngôi biệt thự này như sau:


 

”Cựu hoàng Hàm Nghi, mà mọi người gọi là “Hoàng tử xứ Annam,” cư ngụ tại biệt thư Villa des Pins trong làng El Biar, trên những ngọn đồi Mustapha Thượng ở cách thủ đô Alger 8 cây số. Ông sống ở đây trong sự cô tịch, chỉ đón tiếp một vài người bạn thân tình họ đã giúp cho ông chịu đựng được những nỗi thống khổ khắt khe của cuộc sống lưu đày nơi xứ người.

 Có lẽ không ai mô tả được về vị hoàng tử này khéo hơn là nhà vẽ hoạ đồ nổi tiếng De Varigny trong một bài được đăng trên báo Le Temps vào tháng 12 năm 1894:

“…Qua một người bạn, ông ta đã chấp thuận đón tiếp tôi vào ngày hôm sau. Rời Alger, chiếc xe hơi leo từ từ lên cao nguyên Sahel hướng về vùng đồi núi Mustapha Supérieur. Ngay khi tôi lên đồi, nhìn về phiá trước, cảnh vật càng đẹp lạ kỳ, nhìn về sau lưng, thành phố Alger màu trắng nổi bật lên giưã màu xanh của biển Địa Trung Hải với những cánh buồm màu trắng tưa. như những đôi cánh của đàn chim hải âu đang cất cánh tung trời.
Khi đến làng El Biar, chiếc xe ngừng lại trước cổng sắt của một ngôi nhà mang tấm biển “Villa des Pins.” Một con đường nhỏ hai bên là hai rặng thông già chạy dài đến một ngôi nhà kiến trúc theo kiểu mauresque (kiểu của người Maures ở Bắc Phi).


Đó là nơi mà Hàm Nghi, Hoàng tử xứ Annam đang sinh sống. Ông ta đã ở đó từ năm năm qua và dường như vào trạc 24 tuổi. Tuổi thật của ông ta, ông ta không thèm để ý đến hay là chỉ muốn cố tình dấu đi vì có ích lợi gì mà nhớ đến con số của những năm tháng lưu đày! Khi hỏi về thời thơ ấu, ông ta giữ im lặng, về thời trưởng thành thì thật là bi đát khi ông ta nghĩ đến thời gian khi mới còn là một thiếu niên trẻ tuổi, ông ta được thưà kế ngai vàng rồi chẳng bao lâu sau đó phải bôn đào qua khắp nẻo đường đất nước của ông đang bị xâm chiếm…


Khi đặt chân xuống vùng đất Phi Châu thuộc Pháp này, một quốc gia  mà cái tên ông ta cũng chưa hề được biết đến, ông ta đã từ chối không học cái ngôn ngữ của những người đã giam cầm ông, ông đã tự giam mình trong một sự câm lặng…”
 

 Trần Đông Phong)

Giai thọai làng …vua xóm chữ

“…Sau 1975, chúng ta biết có những đợt thay đổi tên đường theo sau đổi tên thành phố. Nhìn qua cách đổi tên đường, chúng ta có thể đoán được rằng mấy người trong chính quyền hiện nay không ưa triều Nguyễn, vì những ông vua và quan của triều này bị cho biến đi gần hết.

Vài ví dụ :

* Tự Đức bị cho lên đường, và thay vào là cái tên lạ hoắc Nguyễn Văn Thủ.

* Duy Tân là con đường đẹp đã đi vào thơ ca, nhưng nay thì bị Phạm Ngọc Thạch cho lên đường biến mất luôn.

* Khải Định cũng là một vị vua triều Nguyễn, nhưng sau 1975 thì ông bị đuổi đi và nhường cho Nguyễn Thị Tần (là ai?)

* Hàm Nghi vì cụ vua ta chống Pháp nên vẫn là….Hàm Nghi

 (Khuyết danh)

 

Sài Gòn: Những con đường đã mất tên

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do

 Hai con đường như vận vào vận mệnh của đất nước. Công lý chẳng còn mà tự do cũng đã đánh mất mãi cho đến hiện nay và…không biết còn kéo dài tới bao giờ?  
Chúng ta đã tiêu Công Lý vào tay Nam Kỳ Khởi Nghĩa và mất Tự Do vào một chiến dịch Đồng Khởi. Người viết xin mời bạn đọc thong dong trên những con đường của Sài Gòn từ Xa Cảng Miền Tây đến đại lộ Thống Nhứt! Để nhớ về một Sài Gòn.

Đi từ cửa ngõ vào tới trung tâm Sài Gòn, nếu để ý bạn sẽ thấy cả một chiều dài 4000 năm lịch sử của nước Việt trên từng bước chân. Khởi đầu từ Xa Cảng Miền Tây có đường Hồng Bàng, An Dương Vương, Triệu Đà… Bà Triệu… rồi thì tiếp theo có đường Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục… kề cận đó là đường Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh…Lý Chiêu Hoàng.

 Nhà Trần có đường Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo và các tướng quây quần như đường Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư…Từ ngoại thành vào thành phố là đi quãng đường mấy ngàn năm lịch sử. Nhà Nguyễn gần trung tâm nhất vì đó là triều đại cận kề nhất. Cuối cùng là hội tụ lại đại lộ Thống Nhứt, đẹp và rộng, dẫn thẳng vào Dinh Độc Lập, một thời của thời VNCH.

 (Uy Bảo)  

 Khoa cử thời xưa

Đời Lê (1428-1527)

Khi Lê Lợi thu hồi độc lập xong cho tái lập lại thi cử theo Tống nho để bảo vệ ngôi vua. Nho giáo đánh bật Phật và Lão giáo ra khỏi trường thi. Thi cử hạn hẹp trong vài quyển sách, xa rời thực tế, vì theo lề lối Tống nho. Và kéo dài trong 300 năm trị vì của nhà Lê qua đến đời Nguyễn thêm 150 năm nữa kể từ đời Gia Long.

Lê Thánh Tông là vị vua đầu tiên làm chủ khảo các kỳ thi Đình, đặt ra lệ xướng danh, vinh quy bái tổ. Sau khi đăng khoa xướng danh được cờ quạt võng lọng do vua ban cho để vinh quy. Tiếp đến là bảng vàng bia đá, Năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia khắc tên các tiến sĩ ở trường Quốc tử giám. Tổng cộng có 82 bia có 1323 tên tiến sĩ  đặt ở hai bên tả vu, hữu vu.

Đời Lê mở mang việc học, lập thêm những trường Quốc tử giám ở các châu, phủ, huyện (trong dân gian gọi là Văn chỉ như ở Hưng Yên). Năm 1429, cho phép các quan từ hàng Tứ phẩm trở xuống, các ẩn sĩ thông kinh sử, các võ tướng thi Hội. Quan văn thi kinh sử, quan võ thi võ kinh. Đời Lê, thi Hương 4 năm như đời Trần Anh Tông, ai đỗ cả 4 trường được gọi là hương cống, đỗ 3 trường gọi là sinh đồ.

 Những khuất lấp thời Hồng Bàng thị

 Bản kỷ (chính sử) về Hùng vương trong Đại Việt sử ký tòan thư chỉ xuất hiện sơ lược trong Lĩnh Nam chích quái qua truyện Dưa hấu, Bánh dầy bánh chưng, Chử Đồng Tử, Tiên Dung và Truyện Hồng Bàng của Trân Thế Pháp dựa vào Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên viết năm 1329, vua Hùng không được nhắc đến nhiều, phải đợi Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp với những truyền thuyết và thần tích trong dân gian để chứng tỏ nước ta cũng có quá trình “truyền kỳ” như người phương Bắc.

Thế kỷ 15, người tới sau xuất hiện gốc tích mù mờ tên là Trần Thế Pháp. lưu danh thiên cổ là truyện…”người lấy cá đẻ ra trứng” qua Sùng Lãm. Vũ Quỳnh góp nhặt những truyện ấy cho là truyện truyền khẩu sọan thành tập như cuốn sách mỏng

(Lĩnh Nam chích quái 1959 : Lê Hữu Mục)

 Sài Gòn xưa

Bánh bao Cả Cần

 Bánh bao Cả Cần là thứ bánh bao đặc chất của người miền Nam, sản xuất ở Sài Gòn trước 75, khác với bánh bao của người Hoa. Bánh bao Cả Cần không trắng như bánh bao gốc của người Hoa, mà hơi hẩm, vì không dùng bột tẩy. Vị bánh bao bùi hơn, ăn không dính răng, nhân bánh bao hoàn toàn là thịt băm, không pha lẫn cá và dầu mỡ như bánh bao của người Hoa.

Bánh bao Cả Cần nổi tiếng ở Sài Gòn từ trước 75. Nhân bánh bao Cả Cần gồm tôm – thịt – trứng muối – nấm đông cô.. Bánh bao Cả Cần thơm ngon, tuy nhiên cũng không vượt trội bánh bao nhiều nơi khác, nhất là bánh bao ở Mỹ Tho.

 

Tuy nhiên cho tới ngày nay, thương hiệu “Cả Cần” đã đi vào lịch sử ẩm thực của Sài Gòn. (nguồn : ST)

 Dầu cháo quẩy

 Chuyện kể rằng: thời nhà Tống có người tên Tần Cối là tể tướng. Thời ấy, cũng có Nhạc Phi là một vị tướng nổi tiếng dẫn binh chống lại quân Kim, Tần Cối bán thân cho ngoại bang (nước Kim), cam tâm làm một kẻ tay sai, Tần Cối đã không từ một thủ đoạn nào để lập mưu hãm hại Nhạc Phi. Hắn tâu lên rằng: “Thiên hạ bách tính đều biết có Nhạc Phi chứ không biết còn có vua Cao Tông”. Do âm mưu thâm độc của Tần Cối và vợ là Vương Thị mà Nhạc Phi bị mang ra xử chém. Sau cái chết của Nhạc Phi, lòng dân khắp nơi oán hận, căm thù Tần Cối...

Ở kinh thành, có người bán bánh rong, trong lúc ế khách lấy bột ra nặn 2 chiếc bánh hình người, một hình đàn ông là Tần Cối, một hình đàn bà là Vương Thị vợ hắn. Nặn xong, 2 cái bánh bị ném vào chảo mỡ sôi sùng sục. Ông rán chiếc bánh như đang hành hình hai kẻ bán nước hại dân để thỏa lòng căm tức. Ngày nào cũng có người đến xếp hàng để chờ rán và ăn ngay tại chỗ.

Chuyện đến tai Tần Cối, hắn cho quân lính đến bắt cửa hàng bán bánh nọ. Họ trốn khỏi kinh thành và tiếp tục bán bánh kiếm ăn. Nhưng do ở trong tình thế bị săn đuổi, họ không còn đủ thời gian nặn bánh thành hình người như trước nữa mà chỉ còn vê hai thỏi bột dài rồi quấn vào nhau, giả làm 2 vợ chồng Tần Cối.

 Tên của món bánh đó là "Du Gia Quỷ" tức là con Quỷ bị chan (gia) dầu (Du) lên người, cũng có nơi gọi là "du thiêu quỷ" , "dầu thiêu quỷ" ... đều có nghĩa là con quỷ bị chiên trong vạc dầu.

Món bánh này phổ biến sang ta và "Du Gia Quỷ" hay "Dầu chá kuảy" hàm ý cặp vợ chồng kẻ phản nghịch bị nấu trong chảo dầu ở địa ngục. Âm "Kuảy" có nghĩa là quỷ mà cũng trùng âm là "Cối" tức dầu chiên Tần Cối đọc thành "Dầu cháo quẩy", người Tàu ngày nay ăn kèm món với cháo, ta thì hay ăn với…phở. 


Đến đời Tống Minh Tông, mọi chuyện sáng tỏ, Nhạc Phi được minh oan, được đem hài cốt về chôn và lập miếu tại Hàng Châu. Người ta làm 2 pho tượng theo hình vợ chồng Tần Cối đặt quỳ ở trước mộ, trong khuôn viên miếu Nhạc Phi.

 

 

Tại sao gọi họ là người Tàu?

 

Cách giải thích thứ hai: Cách này phát xuất từ những người có ăn học, có biết chút chữ Hán. Họ bị cái vòng cái vòng kim cô thít đầu mình lại, ấy là do sự kém cõi của lớp người có ăn học trước đây: "Người Việt vốn từ người Tàu mà ra" đây là câu kinh điển của Hoàng Cao Khải viết quyển Việt Sử Lược, có câu "Người Việt vốn từ Hán tộc mà ra".

 

Tại Miền Nam Việt Nam thập niên 60, giáo sư linh mục, tiến sĩ thần học Nguyễn Phương tốt nghiệp tại Học viện Công giáo Pháp về nắm giữ chức giáo sư trưởng khoa sử của VĐH Huế. Ông Linh mục này cũng viết một câu chắc nịch như thế này: "Người Việt, tiếng Việt vốn từ Tàu mà ra cả".

 

(Lai Quảng Nam)

 

“Ảo từ”, “ẩn từ” hay “biến từ” trong tiếng Việt?

 

Cho tới hôm nay, từ từ tôi đã tập được thói quen "sáng tác", hết còn "tối tác". Và thay vì viết tay, tôi gõ thẳng vào máy vi tính. Sau đó đọc và sửa với bàn phiếm, trên màn hình. Chữ không còn đơn thuần là tình nhân với mực in và giấy trắng nữa, mà trở thành những tín hiệu điện tử chằng chịt tiềm ẩn trong nhu liệu, chờ ngày xông pha ra trận mạc tin mạng toàn cầu. Nhưng, dẫu là gì gì đi nữa, chữ nghĩa, đối với tôi, trước sau vẫn là phương tiện, không phải để dẫn tới cứu cánh, mà là một cách để tôi giao tiếp với bạn đọc, những người mà tôi chưa hề quen biết.

 

Nếu thuở trước, thỉnh thoảng tôi lại nhận được thư làm quen của độc giả do toà soạn chuyển tới tận nhà qua đường bưu điện, với danh chính ngôn thuận, địa chỉ người gởi cùng nét bút, chữ ký và đôi khi, kèm theo cả hình ảnh với lời đề tặng hẳn hoi. Thì giờ đây, độc giả vi báo chỉ còn là những "ẩn danh" qua các bài góp ý gọi là "phản hồi", "phản biện", và không biết sẽ có thêm những "phản" gì nữa. Tốc độc liên lạc giữa người viết và người đọc càng ngày càng tiện lợi và nhanh chóng. Nhưng hình như, tiếc thay, không vì vậy mà mối giao hảo giữa họ gần gũi và mật thiết nhau hơn. Mà nhiều khi, ngược lại.

 

Những thay đổi này bắt tôi lắm lúc không khỏi ưu tư. Lẽ nào, những bạn đồng hành cùng tôi trong những chặng đường văn chương chữ nghĩa thủa nào, đột nhiên hoá thân thành những "nhân vật ảo", ẩn mật như một màn xảo thuật tài tình theo đà tiến bộ kỹ thuật của nhân loại?

 

(Ngô Nguyên Dũng)

 

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 

Những giải thích sai, hoặc không giải thích nghĩa đen, ghi sai, ghi nhầm, hiểu sai hoàn toàn ý nghĩa thành ngữ tục ngữ trong “Tự điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam ” của Nguyễn Lân.

 

Ốc chẳng mang nổi mình ốc, còn làm cọc cho rêu 

Chế giễu những người bản thân mình còn khổ sở, lại còn giúp đỡ người khác. Nhưng thực ra những người như thế lại đáng được khen, vì tinh thần hi sinh, quên mình vì người khác.

 

Vì không hiểu ý dân gian nên khi giải thích xong, dường như GS vẫn còn băn khuăn, bận lòng cho rằng dân gian đã chế giễu oan người tốt nên phải nói lại một câu 

“Thực ra những người như thế lại được đáng khen vì tinh thần hy sinh quên mình vì người khác”.

Cần giải thích nghĩa đen: Ốc là loài di chuyển rất chậm chạp, nặng nề, trên vỏ ốc thường bám đầy rong rêu. Dân gian mượn hình ảnh này để phê phán, chê cười những người có thói ôm đồm, không biết lượng sức mình, hay quan tâm những việc bản thân mình chưa lo nổi. Nếu “hy sinh, quên mình” là phải giúp được người khác. Bản thân còn chưa đủ khả năng lo cho chính mình thì giúp đỡ người khác sao nổi?

(Hoàng Tuấn Công)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Những sai lầm trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân

 lang bạt kỳ hồ

Ðây là một thành ngữ Trung Quốc. Soạn giả cho biết: lang = chó sói; bạt = chạy qua, nhảy qua; kỳ = cái ấy; hồ = phần dưới cằm; và, nghĩa đen của thành ngữ lang bạt kỳ hồ là: con chó sói nhảy qua cả cằm nó.

Sự thực thì không phải như vậy, mà lỗi là do soạn giả quá thông thái của chúng ta. Nay chúng tôi xin giải nghĩa lại như sau. Lang =chó sói; bạt = nhảy qua, bước qua; kỳ = của nó; hồ = cái yếm thịt ở dưới cằm và dưới cổ của con vật. Vậy, lang bạt kỳ hồ có nghĩa đen là: con sói bước qua (hay giẫm lên) cái yếm thịt dưới cổ nó, và nghĩa bóng là: lúng túng, vướng víu không gỡ được.

Chúng tôi chưa biết tại sao người VN ta lại sử dùng thành ngữ lang bạt kỳ hồ với nghĩa là đi xa và không có chỗ ở nhất định.

(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)

Bích Câu kỳ ngộ, một truyện Nôm thuần Việt bị lãng quên

 

2- Bích Câu kì ngộ nên có vị trí quan trọng

trong văn học vì 2 lẽ

 

- Một là Bích Câu kì ngộ  truyện Nôm thuần Việt. Nếu các truyện nước ta ít nhiều có liên quan đến nhân vật, cốt truyện của truyện, tích xưa Trung Hoa thì Bích Câu kì ngộ là ngoại lệ. Truyện viết bằng thể thơ lục bát diễn lại một sự tích lịch sử lưu truyền trong dân gian nước Việt. Theo Dương Quảng Hàm và GS. Thanh Lãng thì Bích Câu kì ngộ  truyện thơ Nôm khuyết danh(1).

 

- Hai là phải đọc, phải học Bích Câu kì ngộ để biết một địa chỉ Văn hóa Việt Nam.

GS. Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “…Chữ Bích Câu đã có từ lâu, nhưng chính thức được xem như là một sự kiện (một thời đại) thì có lẽ phải tính từ năm 1788, năm mà nhà học giả Bùi Huy Bích (1744 - 1848) chính thức cho ra đời cuốn Bích Câu thi tập. Có thể nói với sách này, Bùi Huy Bích chính thức thừa nhận phường Bích Câu ở Hà Nội là một địa chỉ văn hóa Việt Nam […] Hình như văn hóa Thăng Long có một sự kiện đẹp, mà lại ít được chú ý, đó là hiện tượng Bích Câu. Bích Câu là một vị trí đẹp của Hà Nội đã từng có chùa, có quán. Quán ấy là quán Đạo giáo thuộc thôn An Thạch, phường Bích Câu (nay là phố Cát Linh - Hà Nội). Xưa kia ở đây có con ngòi. Các vua chúa đời Lê Trịnh, thường đi thuyền ra đây chơi câu cá, nên cũng có tên là Ngự câu […]. Do có những đặc điểm như vậy mà Bích Câu từ sau thế kỷ XV (sau chuyện vua Lê Thánh Tông gặp tiên nữ) đã trở thành một vùng đất tiếng tăm, tập trung được nhiều gia đình quan lại, nhiều sinh hoạt học thuật sôi nổi: chung quanh Văn Miếu có nhiều văn nhân sĩ tử hội họp, các nhà trường danh tiếng hồi thế kỷ 17 đã được thành lập: trường Nguyệt Áng của Nguyễn Quốc Trịnh, trường Hào Nam của Vũ Thạnh. […] Nhiều nhà ngôn luận, nhà tư tưởng cũng góp tiếng nói, góp khuôn mặt rực rỡ của mình trong không khí đàm luận văn chương, chính trị này. Bích Câu vào lúc đó (thế kỷ 17, 18) chắc chắn được thành một cái tên có ý nghĩa văn hóa mà các nhà thức giả phải nhắc đến. Sau này Bùi Huy Bích đã viết hẳn một cuốn sách lấy tên là Bích Câu thi tập chuyên về chủ đề Thăng Long. Hiện tượng Bích Câu đã rõ ràng là một hiện tượng văn hóa đáng chú ý, nhưng từ trước đến nay, các tác giả nghiên cứu văn học sử, và sưu tầm văn học thường không nhắc đến.

 

- Bích Câu quả thực là nơi đào tạo (hoặc gây tác dụng sâu sắc đến các tài năng của hai họ Nguyễn Tiên Điền, họ Nguyễn Trường Lưu. Hai bà vợ của Nguyễn Huy Tự (là cháu của Nguyễn Du) đều có tài văn thơ. Con của bà Nguyễn Thị Đài đã sinh ra Nguyễn Huy Hổ là tác giả Mai Đình Mộng ký. Em của các bà lại cũng là danh sĩ. Nguyễn Thiện đã nhuận sắc lại cuốn Hoa Tiên. Hình như các họ Phan (của Phan Huy Ích), họ Ngô (của Ngô Thì Nhậm), họ Lê (của Lê Hữu Trác) đều lui tới khu vực Bích Câu này của Nguyễn Khản. Nguyễn Hành đã tự xưng mình là công tử Bích Câu (trong bài viết về phường Đồng Xuân). Rõ ràng ở Bích Câu có đủ những gì mà cuộc sống đài các (xã hội phong kiến) cuộc sống thị dân và cuộc sống nghệ thuật để bồi dưỡng cho một tài năng như tài năng Nguyễn Du sau này.

 

(Nguyễn Cẩm Xuyên)

***

 Phụ đính I

 Tranh không phải của... hoạ sĩ

 Có ý kiến cho rằng tranh không phải của hoạ sĩ, song của tác giả đã nổi tiếng ở lĩnh vực khác, hiện được nhiều gallery lùng mua với giá "cao đến chóng mặt" vì tên tuổi của người vẽ chứ chưa hẳn vì chất lượng nghệ thuật mà bức tranh chất chứa. Nhân đây, chúng ta thử xem xét lại danh xưng "hoạ sĩ" theo nghĩa "tài tử" hoặc "nghiệp dư" trong mối tương quan với "chuyên nghiệp".

Năm 1973, trong cuốn Tác giả tác phẩm xuất bản tại Sài Gòn, Trần Tuấn Kiệt nhắc đôi câu khi đề cập Bùi thi sĩ: "Bùi Giáng cũng có vẽ rất nhiều tranh, nhưng sau này ông dẹp đi đâu mất cả, không nói đến nữa. Những bức tranh đó, hoạ sĩ Nghiêu Đề bảo là rất đẹp". Một hoạ sĩ chuyên nghiệp và uy tín như Nghiêu Đề (7) khen ngợi tranh của Bùi Giáng như thế, song Bùi thi sĩ vẫn cứ là... thi sĩ họ Bùi.

(7) - Nghiêu Đề có họ tên Nguyễn Tiếp (1939 - 1998), người Quảng Ngãi, học trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, đoạt Huy chương bạc Hội hoạ mùa xuân 1961 với tác phẩm Chân dung, là thành viên sáng lập Hội Hoạ sĩ trẻ Việt Nam năm 1966, làm Tổng thư ký Hội này giai đoạn 1973 - 1975. Định cư ở Hoa Kỳ năm 1985. Bên cạnh hội hoạ, Nghiêu Đề còn làm thơ, viết văn. Đã xuất bản tập truyện ngắn Ngọn tóc trăm năm (Sài Gòn, 1965).

Hoạ sĩ Đinh Cường tỏ rõ lòng "kết" tranh do Bùi Giáng lẫn Trịnh Công Sơn vẽ. Trong bộ sưu tập của hoạ sĩ chuyên nghiệp họ Đinh, hiện có tranh của hai nhân vật này. Đây là nhận định của Đinh Cuờng về tranh Trịnh Công Sơn qua bài Tình bạn, hồi sinh cơn hôn mê: "Không gian tranh của Sơn bao giờ cũng dở dang nhưng lại đầy sáng tạo. (...) Tranh Sơn thanh thoát đến hư tưởng. (...) Những hình thể mảng màu trong tranh xếp đặt ngộ nghĩnh và đầy suy tính, lại rất đúng với nguyên lý của nghệ thuật mới."

Ít nhất có một người gọi Trịnh Công Sơn là hoạ sĩ thực thụ. Hoạ sĩ Nguyễn Trung khẳng định: "Michel Ragon, nhà lý thuyết, người bênh vực nghệ thuật mới, nghệ thuật trừu tượng, có viết rằng trong thời đại chúng ta, không còn những họa sĩ vẽ chơi (peinture du dimanche) nữa. Rất đúng với Trịnh Công Sơn. Anh mới vẽ một vài năm và đã trở thành họa sĩ thực thụ". Còn Trịnh Công Sơn thì sao? Đích thân Trịnh Công Sơn nhiều lần dí dỏm nhắc rằng trong hội hoạ và ngay cả âm nhạc, bản thân mình thực thụ là... amateur / tài tử / nghiệp dư. Đây, trích đoạn từ thủ bút của Trịnh Công Sơn: "Không bao giờ muốn chạm đến bờ cõi của giới chuyên nghiệp. Có hai bờ cõi: chuyên nghiệp và tài tử. Cái tài tử thường cho phép đi xa, lạc lối, mênh mông. Từ khước khuôn phép (convention) để trôi nổi trong thế giới của mộng mị".

Vậy trong địa hạt nghệ thuật, sự khu biệt "chuyên nghiệp" với "nghiệp dư" dường mơ hồ lắm! Người nghệ sĩ đích thực chẳng nề hà danh xưng hư hão. Rất tự nhiên, thoải mái, họ cứ say sưa phát hiện và thể hiện cái Đẹp bằng bất kỳ phương tiện nào mà họ cảm thấy thích hợp, đem lại hiệu quả thẩm mỹ như ý. Phần còn lại, xin dành để công chúng tiếp nhận và định giá cho Đoá hoa vô thường là... nghệ phẩm. ♥         

Trịnh Công Sơn,  Bùi Giáng (ảnh của Báo Quảng Nam )

 ***

Phụ đính II

 Trịnh Công Sơn, Võ Văn Kiệt

 “Dù là lãnh đạo, ông rất cởi mở với chúng tôi. Ngày ấy, vô tình mà ba chúng tôi – Nguyễn Duy (Bắc), Trịnh Công Sơn (Trung), Nguyễn Quang Sáng (Nam) – là ba nghệ sĩ thân thiết nhất với ông Sáu Dân.


Nhà thơ Nguyễn Duy (ngồi, phía trái) bên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (ngồi) và Trịnh Công Sơn (đứng, bên phải) cùng hát Nối vòng tay lớn bên sông Sài Gòn năm 1999. 

Có thể mỗi người có cảm nhận riêng về những đóng góp của ông, còn với tôi, ông là một người bạn lớn”, Nguyễn Duy nói:

Nhiều ca khúc nhạc Trịnh nổi tiếng sau này được gợi cảm hứng nhờ ông Sáu DânNhớ mùa thu Hà Nội là một sáng tác như thế, theo ông Nguyễn Địch – nguyên Chủ nhiệm Văn phòng của ông Võ Văn Kiệt thời kỳ 1982-1985. Tháng 8.1985 (1) (xem khúc dưới), nhạc sĩ lần đầu ra Hà Nội trên chuyên phi cơ của ông Sáu Dân. Chuyến bay hôm đó, ông gợi ý nhạc sĩ sáng tác một ca khúc về thủ đô vì “Hà Nội bây giờ là của cả nước, cũng là của Sơn”. Sau khi lang thang khắp phố phường, Trịnh Công Sơn phác thảo những nốt nhạc đầu tiên: “Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng/ Cây bàng lá đỏ…”. Khi Trịnh Công Sơn vừa ngưng đàn guitar, ông Võ Văn Kiệt ôm chầm, vỗ vai nhạc sĩ và khen ngợi: “Thật tuyệt vời”.

(nguồn Mai Nhật, theo Vnxpress)

Trịnh Công Sơn, Văn Cao

ảnh :

(Gặp gỡ tại nhà riêng gác 2, 108 phố Yết Kiêu)
 

(1) Họa sĩ Văn Thao (con Văn Cao) cho biết, vào một ngày mùa thu năm 1985, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến nhà nhạc sĩ Văn Cao, hồ hởi: “Anh Văn, em vừa sáng tác một bài hát về mùa thu Hà Nội. Em hát thử anh nghe nhé”. Tiếng hát của Trịnh Công Sơn vang trong căn phòng nhỏ, với những ca từ hay về Hà Nội. Văn Cao nghe Trịnh Công Sơn đã hát đoạn cuối: “Hà Nội mùa thu, đi giữa mọi người/Lòng như thầm hỏi, tôi đang nhớ ai/Sẽ có một ngày trời thu Hà Nội trả lời cho tôi/Sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi…”.

Nghe đến đây, tưởng chừng bài hát đã kết thúc, nhưng Trịnh Công Sơn bất ngờ lắng xuống bởi câu hát cuối cùng:

“Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội/Nhớ đến một người, để nhớ mọi người”.

Họa sĩ Văn Thao cho biết: “Trong lúc Trịnh Công Sơn hát, cha tôi lặng lẽ nghe. Tới đoạn gần cuối, ông ngẩng lên, ngỡ bài hát đã kết thúc. Đến khi nghe Trịnh Công Sơn hát nốt câu cuối, cha tôi nhận xét: “Sơn viết hay quá. Nhiều nét tinh túy của Hà Nội đọng lại trong bài hát. Nhưng bài hát đó kết thúc ở câu “Sẽ có một ngày từng con đường nhỏ trả lời cho tôi” là được rồi, sao còn thêm đoạn vĩ thanh vào làm gì?”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cười: “Đúng là em định kết thúc ở câu đó rồi, nhưng rồi lại nhớ đến anh nên em thêm phần vĩ thanh đó vào. Nhớ đến một người là nhớ đến anh, như vậy được không?”. Cha tôi gật đầu cười”.

(Văn Cao và Trịnh Công Sơn, tri âm với tri âm – Kiến Nghĩa)

Mời Xem :

 Chữ Nghĩa Làng Văn - Kỳ 15/2/2023 - Ngộ Không Phí Ngoc Hùng

CHOLESTEROL- BS: HỒ NGỌC MINH

 

Tôi đã viết nhiều về liên hệ giữa cholesterol và bệnh tim mạch, và cũng viết về triệu chứng của bệnh mất trí nhớ. Tuy nhiên, tôi chưa trình bày mối về liên hệ giữa cholesterol và bệnh mất trí nhớ. Một mối liên hệ nghịch:
-cholesterol càng cao thì nguy cơ bị mất trí nhớ… càng thấp!
Hồi nhỏ, thỉnh thoảng, mẹ tôi có mua não bò, đem chưng cách thủy, để ăn với muối tiêu và rau răm. Ăn thì ăn, nhưng tôi thấy nghẹn cổ họng vì nó quá béo, ngầy ngậy. Não người cũng thế, tuy nhỏ, chỉ chiếm 2% sức nặng của cơ thể, nhưng nó chứa 25% tổng số cholesterol trong người.
Gần đây, rất nhiều bệnh tật, khiếm khuyết của não bộ, thí dụ -bệnh mất trí nhớ
-bệnh run Parkinson…
nguy cơ tăng cao vì thiếu cholesterol.
Trên thực tế, người trên 70 tuổi
-cholesterol càng cao, càng sống lâu, càng ít bị truỵ tim và càng minh mẫn hơn.
Các tế bào thần kinh, cũng như các tế bào khác trong cơ thể
-cần cholesterol làm nguyên liệu cấu trúc cho màng tế bào. -Những vỏ bọc tế bào thần kinh, neuron, cũng được cấu tạo từ cholesterol
-và những “mạch điện” thần kinh liên lạc với nhau, truyền tín hiệu cũng nhờ vào cholesterol.
Không có cholesterol thì những mạng thần kinh nầy sẽ bị “chạm điện” và bị “mát dây”.
Ở đây, xin nói thêm về cholesterol một chút.
Chúng ta thường lầm tưởng là có hai loại cholesterol, LDL là loại xấu và HDL là loại tốt. Thực ra chỉ có một loại cholesterol duy nhất là… cholesterol!
· HDL (high-density lipoprotein) chỉ là tên gọi của chất protein chuyên chở cholesterol mà thôi. Người ta cho rằng HDL là loại tốt vì nó chở cholesterol dư thừa về trở lại trong lá gan, như thế là làm sạch mạch máu. Gần đây những nghiên cứu mới cho biết, HDL cũng không hẳn là tốt: người có HDL cao vẫn bị bệnh tim, như thường.
-LDL (low-density lipoprotein) là loại xấu vì nó chở cholesterol ra làm dơ mạch máu.
Thật ra LDL có nhiều kích thước khác nhau, và trước LDL còn có những “xe chuyên chở” khác nữa như VLDL (very low density, loại nhẹ) và IDL (intermediate density, loại trung bình). Để dễ hiểu, mạch máu của bạn là một xa lộ.
-HDL là những xe tải 18 bánh chở cholesterol dư thừa đi ngược chiều về là gan.
-Còn các loại xe khác, to nhỏ như xe đạp, xe gắn máy, xe ba bánh, xe bốn bánh, xe thồ, xe lam… chở cholesterol, tiếp liệu ra… mặt trận.
Như thế, một khi tuyến đường bị nghẽn, không phải là vì cholesterol mà vì đường xá bị hư hại, bị “ổ gà”, bị bom mìn khủng bố chẳng hạn.
-NHỮNG XE NHỎ VLDL, IDL, LDL thường dễ bị sụp hố và làm nghẽn đường mạch máu.
-Trong trường hợp bị gãy cầu xa lộ thì XE 18 BÁNH HDL cũng gây ra tai nạn, như chơi.
Tháng 2 năm 2012, chính cơ quan FDA công nhận rằng:
-thuốc giảm cholesterol statins có thể làm tăng nguy cơ bị lú lẫn và mất trí nhớ.
Đồng thời một nghiên cứu trong Tháng Giêng năm 2012, cho thấy:
-phụ nữ dùng statins có nguy cơ bị bệnh tiểu đường tăng 42%. -Người bị bệnh tiểu đường, lại có nguy cơ bị bệnh mất trí nhớ tăng gần gấp 3 lần.
-Khi đường thặng dư trong máu sẽ gây ra hiệu ứng “ làm mứt” hay “thắng đường, rim tôm” , những phân tử cholesterol, làm cho DÍNH CHÙM với nhau và DÍNH VÀO CÁC CHỖ LỠ LOÉT trong mạch máu.
Tương tự như mạch máu tim, não bộ đã thiếu cholesterol lại còn bị nghẽn mạch máu não, sẽ đưa đến tình trạnh hao mòn sớm, gây ra các chứng bệnh về hệ thần kinh.
Khoảng thập niên 1970, lượng cholesterol 240 mg/dL được xem là bình thường. Sau khi thuốc statins ra đời
-mức độ ấy giảm xuống còn 200mg/dL, với LDL dưới 130 mg/dL.
Nếu bạn có người thân trong gia đình bị truỵ tim, nhiều bác sĩ sẽ bắt bạn uống statins :
-để giảm chỉ số ấy xuống dưới 180mg/DL
-và LDL phải dưới 70 mg/dL!
-Từ khi thuốc statins ra đời đến nay, chỉ số bị TRỤY TIM cho những người dùng thuốc, giảm từ 3% XUỐNG còn 2%,
-Trong khi tỉ số bị bệnh MẤT TRÍ NHỚ TĂNG gần gấp ba.
Sẵn đang nói về xe và xa lộ, dường như cách chữa bệnh:
-xe nhả ra khói (cholesterol cao) hiện nay là bằng cách, bịt ống khói hoặc là huỷ bớt một, hai xy-lanh (uống statins kinh niên) để cho xe chạy bớt ra khói
thay vì làm sạch đường ống dẫn xăng và thay xăng dầu :
-thể dục thể thao
-cải thiện thức ăn
-bớt đường
-và tinh bột
HỒ NGỌC MINH, M.D.



2 thg 3, 2023

Mơ ước làm Thầy giáo_Trần-Lâm Phát

Bài này trích từ website của trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn đăng năm 2009 & 2018

Trần Lâm Phát là cựu sinh viên Đại học Sư phạm Sàigòn, ban Việt Hán, khóa 1969-1972.
Năm 1980 ông sang định cư tại Hoa kỳ, tốt nghiệp Kỹ sư điện tử năm 1987. Hiện ông đang làm việc ở Trung tâm Huấn luyện thuộc Nhà máy phát điện Nguyên tử tại tiểu bang Virginia - USA.
Ái hữu ĐHSP Sàigòn hân hạnh gởi đến độc giả một bài văn tự thuật rất chân thành và cảm động của Trần Lâm Phát.



Năm tôi lên tám, dân chúng trong làng tôi nhộn nhịp với thời hòa bình. Những đêm trăng sáng, tiếng chày giả gạo hòa âm cùng những câu ca điệu “lý con sáo” (một điệu ca cổ nhạc Nam phần) làm cho sức sống tăng thêm gấp bội phần. Sáng nào các bà, các bác, các cô cũng nối tiếp gánh hàng ra chợ Trảng Bàng trong tiếng cười rộn rã.
Một hôm bổng dưng mọi người dồn cục trên đường làng. Nơi cổng làng, các vị làng xã và thầy giáo bắt các người phải đọc được hai câu viết bằng phấn trắng trên nền bảng xanh rồi mới được đi chợ. Nếu ai không đọc được thì phải quay trở về. Đó là phong trào chống nạn mù chữ của làng tôi. Hai câu thơ ấy không bao giờ tôi quên được vì tôi hướng dẫn má tôi đánh vần hàng ngày để má có thể gánh hàng ra chợ bán.
Cô kia má đỏ hồng hồng
Vì không biết chữ nên chồng cô chê.

Một hôm tôi hỏi má tôi sao bà con không học thuộc lòng rồi có thể đi chợ được. Má tôi bảo rằng chính phủ đang diệt trừ nạn mù chữ mà các thầy ngoài xóm nói là “giặc dốt”, hơn nữa Khổng Tử dạy rằng “ Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết” ("Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã 知之为知之,不知为不知,是知也")
Tên học trò lớp ba nào có hiểu “có biết, không biết” là cái gì, rồi cũng gật đầu dạ dạ...
Một hôm ngồi bên cạnh mẹ, mẹ tôi chẻ nan còn tôi thì đan rổ, mẹ tôi khẽ nói: “ Con à! con phải học cho giỏi rồi về chỉ má đánh vần và đọc, không thì cả nhà sẽ đói vì má không ra chợ được.”
Tôi thoáng nghe qua cả nhà sẽ đói thì tôi hốt sợ lên, tay chân như cái đuôi của con thằn lằn bị chặt đứt. Từ đó ngày nào hai mẹ con cũng tập đánh vần và tôi cũng khám phá ra cách mới để mẹ tôi dễ nhận dạng ra chữ cái.

Năm tôi lên mười, mẹ tôi đã nhận dạng ra được mặt chữ, đánh vần và phát âm , đọc những bài trong sách giáo khoa như “nạn lụt”, “hạn hán” v.v. nhưng không thể viết thành câu được. Tôi thì thầm lẩm bẩm: “Ước gì mình là thầy giáo thì sẽ có cách chỉ cho mẹ viết”. Mẹ tôi nghe được, bèn ôm tôi vào lòng, rồi mặt tôi có hai giọt nước nóng, thì ra mẹ tôi đã khóc. Tôi an ủi mẹ và hứa rằng tôi sẽ làm thầy giáo để hướng dẫn bà con trong làng biết chữ . Rồi từ đó trở đi mẹ bắt tôi ra đồng làm việc cực nhọc hơn, những khi rảnh rổi phải theo ba đi xây nhà cho thiên hạ. Ba tôi giao cho tôi chuốt viết chì, mài đục và giũa lưỡi cưa. Tất cả cái tôi phải làm, tôi đều ghét cả. Tôi có cái tính nói lẩm bẩm một mình khi tôi không vui “con nhất định không làm thợ mộc và cũng không làm ruộng hay đan thúng đan rổ như ba má”. Ba tôi ngước đầu lên nhìn tôi và mỉm cười rồi nói: “nhất sĩ nhì nông”. Tôi tự nhủ: đúng vậy! phải đi học, phải làm thầy giáo để không phải đan thúng, giũa cưa. Sau này khi tôi 16 tuổi thì tôi hiểu được lý do ba mẹ bắt tôi phải làm những việc cực nhọc và việc tôi không thích: song thân tôi chỉ muốn tôi nên người, có học vấn. Đó là cách dạy con của song thân tôi. Năm tôi 17 tuổi,  bắt đầu biết ơn cha mẹ thì mẹ tôi vội vã lìa đời theo ông bà tôi.

Một hôm một nhóm chúng tôi bị thầy hiệu trưởng Ẩn kêu lên văn phòng và biểu chúng tôi về nhà vì chúng tôi không có giấy khai sinh. Chúng tôi quì, lạy lục nhưng ông hiệu trưởng từ tốn bảo chúng tôi về nhà thưa với cha mẹ, đi làm giấy khai sanh rồi mới trở lại trường được. Trên đường về nhà, giữa buổi trưa hè oi bức, nỗi lo âu hòa cùng cơn nắng chói chang làm cho tôi cảm thấy mất đi cả sức lực. Tôi vừa đi vừa lẩm bẩm “cả làng mình sẽ không được đi chợ vì mình không có cơ hội làm thầy giáo”. Trong lúc tôi trầm ngâm suy nghĩ thì có tiếng ai ru con văng vẳng từ xa:
Ầu …… ơ ……ơ
Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ ầu… ơ… ơ...
Trở về làng cũ, cấy cày cho xong

"Hứ! tôi không đi cày, tôi không làm rẫy, tôi không đan thúng chẻ tre nữa. Tôi không thích làm những việc ấy" Tôi hét lên.
Nhìn xung quanh, chỉ có một mình tôi dưới hàng tre làng, tôi vội vã bước nhanh để về mét mẹ nhưng tôi lại đổi ý và ghé qua chổ ba tôi cất nhà cho bà Năm. Vừa chợt thấy tôi, ba tôi ngừng tay và hỏi: “có chuyện gì mà con về sớm vậy.” Tôi bổng òa lên khóc và kể chuyện bị đuổi học. Bác sáu Đỉnh, người cùng làm nhà với ba tôi, cũng ngừng tay, nhăn trán một chút rồi nói với ba tôi: “chú Hai à! hay là cả xóm mình rủ nhau lên tòa xin giấy khai sinh cho các cháu, tôi sẽ đi theo làm chứng!” Ba tôi khe khẽ nói: “tiền đâu mà mướn xe lên tỉnh, thêm nữa các nhân chứng đều không biết chữ thì làm sao mà nhớ ngày sinh tháng đẻ của tụi nó”.
Ba tôi kêu tôi về nhà phụ giúp mẹ và chờ đến chiều ba tôi về sẽ bàn với mẹ. Tôi lê bước về nhà với bộ mặt đưa đám ma.
Mẹ tôi đang ngồi chẻ nan bèn đứng dậy, lật đật đến bên tôi và hỏi: “Con sao vậy ? Con bị trúng gió hả ? Để má cạo gió rồi nấu nước cho con xông”. Tôi ôm ghì lấy mẹ và nức nở thút thít: “ con phải đi chăn bò và không làm thầy giáo được vì con bị đuổi ra khỏi trường”.

Tối hôm ấy các cha mẹ có con bị đuổi học đến nhà tôi và yêu cầu ba tôi lên nhà ông út Nhiển để nhờ xin cho các cháu được trở lại lớp học. Ba tôi buồn bả trả lời “ông hiệu trưởng đuổi chứ không phải thầy cô giáo!” Mọi người bàn tán xôn xao rồi bổng dưng ba tôi đưa ý kiến: “ cứ chọn ngày dễ nhớ, đừng lấy ngày thiệt vì không ai nhớ hết các cháu đâu”. Vậy là ai nấy bắt đầu chọn ngày sinh cho con mình. Ba tôi và cậu Tư tôi chọn cho anh họ tôi ngày 9 tháng 9 năm 1949, anh tôi ngày 7 tháng 7 năm 1947 và tôi ngày 10 tháng 10 năm 1950 (mặc dù tôi sanh ngày 18 tháng 8 năm 1950). Rồi cứ hàng đêm các nhân chứng đến nhà tôi để học nhớ ngày sinh tháng đẻ. Ông út Nhiển giả làm quan tòa (Ông út là thầy giáo) và chỉ tay về phía chúng tôi và hỏi nhân chứng ngày sinh nhật của chúng tôi. Hàng ngày mẹ tôi và tôi cứ hỏi nhau ngày sinh của anh tôi và của tôi.

Một tháng trôi qua, tôi và các bạn hàng xóm vẫn đến trường nhưng không được vào lớp. Tôi đứng ngoài hàng hiên nhìn qua cửa sổ để chép bài và nghe cô Khéo giảng bài với cây thước trong tay nhịp lên nhịp xuống. Đến giờ chơi, các bạn ùa ra ôm chầm lấy tôi và chúng tôi nô đùa như không có chuyện gì.

Rồi một hôm xóm tôi nhận được trát hầu tòa và ai nấy sửa soạn lên tòa án Tây Ninh. Đêm hôm đó khi nghe tiếng gà gáy canh ba (nhà ba má tôi không có đồng hồ), mẹ tôi đánh thức mọi người, thay quần áo và đi bộ đến chổ tập trung để ngồi xe lên tỉnh. Xe vừa đến ngã tư cầu cống ở chợ Trảng Bàng thì anh Bảy tôi đã đứng chờ với chú Tám Lộc (thầy giáo Lộc).
Sau hơn hai tiếng đồng hồ, xe đã lên đến tỉnh. Chú Tám Lộc dẫn mọi người đi vô khu tòa án. Khi cảnh sát mở hai cánh cửa và đọc tên từng người để vào hầu tòa, lúc đó tim tôi đập thình thịch. Nhìn ông tòa với bộ quần áo đen chễm chệ ngồi trên ghế trông giống như một ông vua trong hình bìa của cuốn tuồng cải lương, tôi thầm nghĩ chắc ông tòa rất minh mẫn và khó tính. Quan tòa chậm rãi gọi tên từng đứa bé rồi hỏi cha mẹ và nhân chứng ngày sinh nhật của đứa bé. Mọi người đều trả lời đúng nhưng quan tòa chỉ cho một miếng giấy tạm để về đi học chứ chưa có giấy khai sinh. Trên đường về , ai ai cũng mừng rở và huyên thuyên chuyện trò.

Từ đó tôi sáng đi học, chiều về chăn bò, kéo nước tưới trầu cau và phụ mẹ tôi đan giỏ xách. Khi tôi trở lại lớp học, đến cuối tháng trong buổi lễ chào cờ và phát bảng danh dự, cô Khéo kêu tên tôi, tôi cứ tưởng mình đang mơ vì tôi học rất kém so với các bạn. Thầy hiệu trưởng Ẩn đọc tên tôi và giải thích rằng tôi được ban khen về hạnh kiểm tốt và siêng học. Tôi vui mừng khôn xiết, mừng hơn những ngày hạn hán gặp mưa dầm.

Năm lên lớp nhất, tôi không đủ điểm về luận văn để được miễn thi tiểu học cho nên tôi phải đi thi để lấy bằng tiểu học. Đề thi về luận tôi vẫn còn ghi nhớ: “Miền Nam ta có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng. Em thích mùa nào nhất và giải thích tại sao?” Tôi chọn mùa mưa với lý do gia đình tôi được trồng trọt, làm ruộng, cây cối sum sê, khí hậu không có nóng và tôi khỏi phải kéo nước tưới trầu cau cho mẹ tôi. Chú Tám Lộc nghe tôi kể về bài luận thì chú bảo rằng cháu có nhiều hy vọng lên lớp đệ thất. Không ai hỏi tôi một câu về bài toán đố để tôi có dịp khoe cái tài khoa học của mình vì ai cũng biết tôi rất giỏi về toán.

Thời gian trôi qua tôi vào lớp đệ thất, đệ lục của tư thục Minh-Đức. Mỗi ngày có giờ Hán văn là tôi toát mồ hôi vì giáo sư Nguyễn Ngọc An (nguyên là Tổng trưởng bộ chiêu hồi thời VNCH) sẽ đánh sưng đít nếu không thuộc bài hay viết chữ Hán không đúng qui luật: từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ ngoài vào trong.
Năm lên đệ ngũ, tôi chuyển lên trường bán công Đặng Văn Trước vì học phí rẻ hơn. Nơi đây tôi học văn chương với nhà văn Thẩm Thệ Hà. Thầy Hà hay khen tôi có tư tưởng hay nhưng không biết cách diễn đạt cho nên tôi không hề có bài luận nào được 10/20 điểm. Tôi bắt đầu ghét luận văn và tôi chỉ thích giờ cổ văn và kim văn. Tôi thuộc lòng bài văn hay bài thơ như cơm bửa. Tôi luôn luôn dùng lý luận của khoa học mà phân tích văn chương, nó tuy lạ, không giống các bạn trong lớp nhưng không hiểu sao mà nhà văn Thẩm Thệ Hà lại thích đọc bài của tôi cho cả lớp nghe.
Năm 1963 trên đường từ trường về nhà, tôi thấy anh cán bộ Việt cộng cầm loa rêu rao “Ngô đình Diệm bị giết rồi!” Sau đó không bao lâu, nhiều nữ cán bộ đến nhà nhỏ to với mẹ tôi. Từ đó mẹ tôi không cho tôi ra đồng nữa, chỉ làm việc lẩn quẩn bên mẹ. Một buổi sáng đẹp trời, tôi háo hức để đi bắn bi với bạn hàng xóm nhưng mẹ tôi bảo tôi đi ra ngoài chợ để gặp anh Bảy tôi. Anh tôi đưa tôi đến tiệm may quần áo để sắm quần tây và áo sơ mi. Tôi tò mò hỏi anh thì anh bảo rằng mẹ quyết định gởi hai anh em mình đi Sài gòn ở với anh Năm. Đi Sài gòn à? Có gì vui ở dưới đâu, em thích ở nhà với bạn hàng xóm. Anh tôi chẳng buồn để ý đến câu kêu nài của tôi. Sau khi thợ may đo ni xong, anh tôi dẫn tôi lên nhà bà Út (em của ông nội tôi). Chú Tám Lộc nói với tôi rằng đây là cơ hội cho cháu làm thầy giáo. Tôi bán tín bán nghi nhưng không dám hỏi và chỉ cúi đầu im lặng.
Hai tuần trôi qua, tôi len lén thỏ thẻ với mẹ về việc đi Sài gòn nhưng mẹ tôi chỉ ứa nước mắt mà không nói gì cả.
Việc gì đến rồi sẽ đến. Hôm đó tôi theo mẹ đi ra chợ bán gà và đó cũng là lần sau cùng tôi sống bên mẹ tôi hàng ngày. Sau buổi chợ sớm, ba tôi đưa hai anh em tôi đi Sài gòn để sống với anh Năm của chúng tôi. Tôi ở nhà đôi ba ngày rồi theo chị Thu Ba (sau này là vợ của anh Năm tôi) đến trường trung học Nguyễn Bá Tòng để thi vào lớp đệ tứ.
Lần đầu tiên tôi thấy ngôi trường dài đồ sộ và ông cha trong bộ y phục màu đen. Tôi sợ quá ôm lấy chị Thu Ba như nam châm hút sắt. Chị Thu Ba giảng nghĩa cho tôi đó là linh mục Đỗ đình Tiệm, ông hiệu trưởng của trường này. Tôi khoanh tay và gật đầu chào ông hiệu trưởng nhưng cái lưỡi của tôi như con sáo mới vừa học nói “ con ki … ính cha.. ào thầy hiệu trưởng.” Cha Tiệm mỉm cười rất khoan hậu và đưa hai chị em tôi vào phòng khách. Tôi lại thấy một ông khác cũng mặc y phục dài đen, tôi chưa kịp mở mồm thì chị Thu Ba nói rằng “em à! Đây là cha Hà, giám học của trường”. Tôi tự hỏi “Giám học là ai?” Ở nhà quê tôi, tôi chưa hề nghe qua, chỉ biết có ông giám thị cầm cây củ mây để đánh đít chúng tôi mà thôi. Tôi không biết chị Thu Ba nói gì với cha Hà mà Cha bảo tôi “con đừng sợ, chậm rãi mà làm”.
Trước mặt tôi là mảnh giấy trắng với cây viết chì. Tôi bắt đầu viết lý do tôi muốn đi học. Tôi không nhớ tôi trả lời bao nhiêu lần vì tôi muốn làm thầy giáo, để bà con trong xóm biết đọc và đi chợ. Khi qua bài toán, tôi làm rất nhanh vì những bài này tôi đã làm qua biết bao lần trong bộ sách anh Năm gởi về quê cho tôi. Khi còn ở nhà quê, Ba tôi đóng tấm bảng đen treo trong nhà và tôi dùng phấn viết bài toán rồi giải bài trên bảng như giáo sư Thuần dạy toán cho chúng tôi. Tôi nhớ rất rõ: mấy tuần lễ đầu, tôi không tài nào viết cho ngay hàng. Tôi hình dung cách viết của các giáo sư rồi bắt chước nhưng sao nó khó khăn quá. Tôi kêu nài với mẹ thì chỉ nghe câu “có công mài sắt, có ngày nên kim”. Tôi đâu có mài sắt, tôi chỉ viết phấn lên bảng mà thôi. Dần dà tôi viết rất thẳng hàng, tôi không hiểu phép nhiệm mầu từ đâu mà đến. Tôi ơi ới kêu mẹ vô xem, mẹ xoa đầu tôi và nói “má biết, con của má sẽ viết được ngay hàng!”

Tôi vào lớp đệ tứ 4 của trường Nguyễn bá Tòng chậm hơn các bạn một tháng, tôi thích nhất là giờ Pháp văn của giáo sư Trần Thừa Dụ , người mà tôi hằng ao ước được làm học trò của ông ta. Anh Năm có gởi về nhà quê cho tôi quyển sách “Văn phạm Pháp văn” của Trần Thừa Dụ và cuốn L’art De Conjuguer của Le Bescherelle do nhà sách Hatier bên Pháp ấn hành. Tôi nằm lòng tất cả qui tắc trong sách của giáo sư Dụ và cách chia động từ.
Khi theo học với thầy Dụ, thầy hay gọi tôi là Gramarcien chứ không có kêu tên tôi. Trong những giờ học hình học, tôi hay phát biểu và hay hỏi những câu mà cha Cử không trả lời được. Những bài toán mà cha Cử cho trong lớp tôi đã làm ở nhà. Anh Bảy bảo tôi phải giải hết tất cả bài toán trong sách, không thể bỏ sót một bài. Nếu bị bắt được sự thiếu sót thì không cho về quê gặp má tôi. Tôi thương mẹ lắm cho nên tôi làm đi làm lại nát nhừ cuốn sách toán; do đó, khi cha Cử vừa viết đầu đề, tôi lẻo mép đọc luôn câu hỏi của bài toán. Tháng nào tôi cũng lãnh bảng danh dự hạng nhất và cất rất kỹ để đem về quê khoe mẹ.
Sau vài tháng ở trường Nguyễn Bá Tòng anh Năm bị cha Cử kêu vào mắng vốn về tội lẻo mép và câu hỏi hơi cố chấp của tôi. Cha Cử sau này là người thân tôi nhất khi tôi tốt nghiệp Đại học Sư phạm.
Anh Năm dạy tôi về sự kính trọng thầy giáo “kính thầy mới được làm thầy, em đừng bắt bí giáo sư nữa.” Anh Năm sao mà rành tâm lý quá “Kính thầy mới được làm thầy” cho nên tôi cũng không dám làm khó dễ giáo sư Toán nữa.

Nơi đây tôi gặp người bạn cùng xóm tên là Hùng. Anh ta là Bắc kỳ đặc cho nên lúc đầu tôi cũng ngại không dám làm thân. Anh Năm nói rằng người Bắc cũng tốt như người dưới quê mình vậy nên sau đó tôi mới dám gần gũi với Hùng. Hai chúng tôi học tập thể, làm hết những bài toán đại số của giáo sư Nguyễn Tá trước khi đến trường. Dần dà hai đứa chúng tôi là kỳ phùng địch thủ về Toán và Pháp văn trong lớp.
Thời gian trôi qua những cây phượng vĩ bắt đầu đơm bông đỏ thắm, chúng tôi từ giã nhà trường để về luyện tập cho kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.
Sau kỳ thi Hùng và tôi vẫn la cà với nhau từ chợ Nguyễn Tri Phương đến khu cư xá sĩ quan quân đội (bố Hùng là Trung Úy). Hùng dẫn tôi vào lòng chợ, tôi thấy nhiều sập bán đủ thứ, lung tung. Tôi cố nhớ để về quê kể cho mẹ nghe nhưng không tài nào nhớ hết. Ngày đăng kết quả kỳ thi, Hùng chở tôi trên chiếc xe đạp đến trường Hùng Vương, hai đứa tôi chen vào để dò tên. Hùng la lên “Phét ơi! Mày tìm được tên mày chưa, tao đỗ rồi!” Hùng họ Đinh nên tên nằm ở phía trên, còn tôi họ Trần cho nên nằm ở trang khác và gần cuối cùng. Hai đứa tiếp tục dò từng hàng và cuối cùng tôi thấy tên mình trên bảng. Hai đứa tôi mừng rỡ và quay về nhà. Anh Bảy nghe tin hai chúng tôi đều đậu thì mừng lắm nhưng anh ấy vẫn đạp xe đi xem kết quả lại cho chắc.
Hai hôm sau Hùng và tôi về quê thăm gia đình tôi. Khi ra đồng Hùng rất vui thú và tò mò bắt cá, đùa giỡn với nước trong ruộng lúa. Tôi luôn luôn nhớ thân hình của Hùng đưa qua đưa lại khi đi trên bờ ruộng. Hùng ở thành phố, chưa bao giờ làm ruộng rẫy; do đó, chưa quen đi trên con đê ruộng, trơn trợt, nhỏ hẹp và đầy cỏ. Ngày vui qua mau, hai chúng tôi trở lại Sài gòn mang theo nhiều thổ sản để biếu mợ (mẹ của Hùng).

Hè đã qua, Hùng và tôi trở lại Nguyễn bá Tòng. Sau một tháng ở Nguyễn bá Tòng , tôi được giấy vào lớp đệ tam B2 của trường công lập Mạc Đỉnh Chi ở Phú Lâm. Hai đứa tôi vẫn khắn khít bên nhau, tranh tài giải toán. Ba tôi có đóng cho hai anh em tôi tấm bảng đen và treo ở nhà anh Năm, cho nên ban ngày chúng tôi ở nhà anh Năm; cuối tuần thì tôi được phép ngủ lại ở nhà Hùng.
Năm chúng tôi lên lớp đệ nhị, chúng tôi học rất chăm chỉ vì thi rớt tú tài 1 thì chỉ có chờ ngày đi lính và không lên được lớp 12. Chúng tôi học chung, hỏi bài cho nhau và cuối cùng cả hai chúng tôi đều đậu tú tài 1. Hình như đó là năm Ba của Hùng - mà tôi gọi là Bố - mở tiệm ăn ở 114 đường Gia Long, gần chợ Bến thành.
Bố mợ Hùng xem tôi như là con ruột. Bố bị giải ngũ cho nên phải dọn ra khỏi căn nhà lớn dành cho sĩ quan. Bố mợ mua một căn nhà nhỏ hẹp trong cư xá. Sáu anh em chúng tôi (Hùng có 4 đứa em trai) ngủ trên một cái phản. Những đêm mưa dột, chúng tôi đều thức giấc để tát nước ra khỏi nhà. Cuối tuần tôi theo Hùng lên tiệm ăn vào buổi trưa để đi bỏ cơm tháng, xong việc chúng tôi về nhà và học chung với nhau.
Chúng tôi hỏi nhau những bài thơ, tiểu sử tác giả trên đường đi bỏ cơm cho khách. Hùng ghét thơ, nhất là các bài hát ả đào. Tôi thì ngược lại nhớ nó rất dễ, nó tương tự các câu hò cấy lúa ở quê tôi.

Cuối hè hai chúng tôi đều thi đậu tú tài 1, bà con trong cư xá tấm tắc khen bố mợ có hai đứa con học hành rất giỏi, đỗ tú tài ban B mà còn đỗ Bình thứ nữa.
Năm chúng tôi lên đệ nhất, tôi hầu như thường trực ở nhà của Hùng. Anh Năm đã vào quân ngũ còn anh Bảy thì học đại học khoa học, anh Ba và anh Sáu còn ở nhà quê chăm lo ruộng vườn với ba mẹ.

Tết Mậu thân năm 1968, tôi về quê ăn Tết với mẹ và bị kẹt ở quê nhà vì Việt cộng tấn công Sài gòn. Các phương tiện di chuyển từ Trảng Bàng đến Sài gòn đều bế tắc. Ba mẹ tôi buộc tôi phải rời nhà quê ra chợ Trảng Bàng ở nhà chú Tám Lộc để chờ ngày về lại Sài gòn. Tôi rất nôn nóng về Sài gòn để học thi với Hùng nhưng đành bó tay chịu trận.
Hai tuần lễ trôi qua tôi trở lại Sài gòn, anh Bảy dẫn tôi ra ty cảnh sát để làm giấy khai báo sự vắng mặt của tôi trong lúc bị VC tấn công. Cả khu nhà đường Nguyễn Kim bị cháy rụi, tôi và Hùng nôn nóng đi tìm tin tức của Trần văn Đức và cuối cùng biết được bạn tôi may mắn thoát chết. Thấm thoát năm tháng trôi qua, Hùng và tôi miệt mài học tập. Chúng tôi học ngoài hàng hiên của cư xá dưới ánh đèn dầu vì nhà Hùng rất eo hẹp. Mồi lần gió lướt qua, hai đứa tôi cầu nguyện cây đèn thần đừng có tắt. Hai chúng tôi rất tự tin nơi sự chăm chỉ và nhất quyết sẽ làm rạng danh cho bố mợ và ba má tôi.

Một chủ nhật tôi và Hùng đi bỏ cơm tháng cho khách về, khi chúng tôi đang ăn cơm trưa với gia đình Hùng thì anh Bảy đạp xe lên tiệm ăn với nét mặt thảm sầu. Mợ vội hỏi: “Anh Bảy có chuyện gì mà buồn thế ? Hãy vào đây dùng cơm với các em”.
Hai dòng lệ tuôn tràn trên mặt anh tôi, anh ôm tôi vào lòng và nói “ Em ơi! Má đã mất rồi!”. Tôi chết đứng giữa trời, còn Hùng thì gào lên “Trời ơi ! má mất thật sao? Sao anh biết?”. Cả nhà Hùng như gặp tai nạn, thương cho thân phận mồ côi của tôi. Tôi và Hùng đạp xe về lại nhà anh Năm. Tôi ủ rũ và nức nở. Anh Bảy thì gào lên như con hổ bị tên. Anh tôi kể lể “Má ơi! má bán từng miếng trầu, miếng cau cho con ăn học. Chưa được báo hiếu thì má không còn…” Hùng luôn luôn bên cạnh và nắm lấy tay tôi.
Tối hôm ấy bố mợ kêu Hùng và tôi về cư xá. Mợ vỗ về an ủi trong khi bố cố gắng khích lệ tôi đừng thối chí mà thi rớt vì ngày thi chỉ còn khoảng 50 ngày. Hùng và tôi không có đi học hơn cả một tuần. Hai đứa bên nhau, đứa thì khóc lóc, đứa thì vuốt ve an ủi. Một hôm tôi nói với Hùng: “chúng ta phải thi đậu, đó là cách báo hiếu cho người mẹ tảo tần, dãi nắng dầm sương, che chở và bảo bọc con mình.” Tôi không thể nào quên được hình ảnh má tôi ngồi trên chiếc xe đò ở ngã tư Bảy hiền để về Trảng Bàng sau chuyến thăm ba anh em tôi. Sáng hôm ấy Hùng và tôi đưa má tôi lên xe. Hai đứa tôi đứng đó và nhìn theo cái đuôi của chiếc xe đò cho đến khi mất dạng rồi mới trở về nhà . Đó là lần cuối cùng tôi thấy mặt má tôi.
Trong lớp 12B2 của Mạc Đỉnh Chi, ai cũng chia xẻ nỗi mất mát của tôi và cổ động tôi trở lại nề nếp. Thầy dạy toán, rất hãnh diện về năng khiếu toán của tôi và hy vọng đem lại thành quả vẻ vang cho trường cũng chịu sự buồn lây vì không biết tôi có vượt qua nỗi khổ đau hay không. Không một ai tin rằng tôi sẽ thi đậu vì biến cố xảy ra rất gần ngày thi Tú tài 2.
Dưới sự dìu dắt của hai anh tôi, sự chăm sóc và an ủi của bố mợ, Hùng và tôi bắt đầu tập trung vào bài vở và cương quyết lập thành tích vẻ vang.

Tháng bảy đến, Hùng và tôi chuẩn bị rất cẩn thận để đi thi. Hai hôm trước ngày thi tôi cảm thấy buồn vô hạn vì thương nhớ mẹ. Ngày thi đã đến, anh Bảy dẫn tôi đi ăn sáng, và đưa tôi đến trường thi. Anh Bảy ngồi ngoài cổng và chờ đợi. Tôi làm bài xong trước giờ ấn định nhưng anh tôi dặn Hùng và tôi phải dò lại bài cho kỹ, đừng có nộp bài ra sớm. Tôi ra cửa đúng giờ ấn định và đi ăn trưa với anh tôi. Buổi chiều cũng vậy tôi chăm chú làm bài, quên cả anh Bảy đang thấp thỏm đợi chờ. Mỗi lần thấy tôi, anh Bảy luôn luôn khích lệ và khen thưởng. Chiều về Hùng và tôi trao đổi kết quả cho nhau trong khoảnh khắc rồi lại ôn bài vở cho ngày hôm sau. Ngày thi thứ nhì là môn chính, Toán buổi sáng, Lý Hóa buổi chiều. Hùng và tôi đều làm rất tốt. Ngày thứ ba là những môn phụ: vạn vật và sinh ngữ 2.
Sau những ngày vất vả tôi và Hùng tiếp tục đi bỏ cơm tháng và chờ kết quả. Mỗi ngày chúng tôi đến trường Petrus Ký để lén nghe ban giám khảo đọc tên và ráp phách. Chúng tôi đã biết được kết quả qua những lỗ tai đặt vào vách tường nhưng anh Bảy bảo phải chờ kết quả chính thức.
Tôi hơi thất vọng khi nghe tên mình chỉ đỗ Bình thứ. Kết quả cuộc thi đã thông báo. Hùng và tôi đều đổ Tú tài 2. Bố mợ làm tiệc ăn mừng. Hai anh tôi thì vui mừng khôn xiết, nhắn tin về nhà quê cho ba tôi và hai anh. Sau một tuần vui chơi, tôi và Hùng bàn kế hoạch lên Đại học. Tôi thi vào trường Sư phạm Sài gòn để làm thầy giáo, còn Hùng thì đi ban kinh tế ở trường Đại học Vạn Hạnh. Tôi được tuyển vào trường Sư phạm Quốc gia.

Trong khi học năm thứ nhất ở Sư phạm, tôi ghi tên học dự bị Văn khoa. Cuối năm tôi đậu dự bị và trúng tuyển vào ban Toán cho giáo sư Đệ Nhất cấp cấp tốc, các thầy cô ở trường Sư phạm khuyên tôi thi vào khóa 11 Đại học Sư phạm. Tôi rất phân vân vì chỉ có một năm nữa thôi, tôi sẽ thành thầy giáo, còn vào Đại học sư phạm thì phải ba năm nữa. Vả lại tôi không có khiếu về văn chương. Cô giám thị Lê Thị Quan la rầy tôi vì tôi không chịu đi nộp đơn và cuối cùng thầy Minh (dạy Pháp văn) dắt tôi qua trường Đại Học Sư Phạm để nộp đơn. Tôi không ngờ tôi đậu vào ban Việt Hán Đại Học Sư phạm. Gia đình tôi ai cũng hớn hở vui mừng. Bố mợ và Hùng cũng vui khôn xiết vì tôi còn ở lại Sài gòn 3 năm nữa.
Tôi bắt đầu vào học lớp huấn luyện cho giáo sư Toán cấp tốc.  Giáo sư Lý Công Cẩn gọi tôi vào văn phòng và ra lịnh cho tôi qua bên Việt-Hán. Tôi van xin được ở lại nhưng bị khước từ.

Năm đầu tiên ở Đại Học Sư Phạm, tôi tham gia biểu tình chống tham nhũng và yêu cầu bộ giáo dục tách rời chính trị ra khỏi học đường. Lúc bấy giờ ông Nguyễn cao Kỳ đã sáng lập chương trình huấn luyện quân sự học đường và đã có những tai tiếng tham nhũng trong việc xử dụng tiền viện trợ của Mỹ. Tôi và 71 sinh viên bị bắt giam ở quận Nhất. Chúng tôi tuyệt thực đòi hỏi công lý. Sau một tuần bị giam, anh Năm lảnh tôi ra. Hành động này đã gây khó khăn về sau khi tôi tốt nghiệp.

Ba năm ở Đại Học Sư phạm, tôi đưọc sự khuyến khích và giúp đỡ của nhiều thầy cô như giáo sư Lê Hữu Mục và giáo sư Khưu Sĩ Huệ, tôi được dạy tư cho trường Trung Học Thánh Gioan ở đường Nguyễn Trãi, trung học Lĩnh Nam ở đường Trần Hoàng Quân trong vùng Chợ lớn và tình nguyện dạy cho trường nữ sinh mù ở đường Minh Mạng, ngã sáu Chợ lớn. Ban đêm tôi đi dạy toán luyện thi tú tài miễn phí cho những học sinh nghèo và hiếu học Trung học Nghĩa Việt ở trung tâm Nghĩa sinh nơi đường Hùng vương.

Khoảng năm 1969-1970 quân đội Cao miên tiêu diệt ngườì Việt định cư trên lãnh thổ của họ. Dân Việt lìa bỏ xứ Chùa Tháp để hồi cư. Hàng ngàn dân ta từ già cho đến sơ sinh, tay bồng tay bế dắt nhau chạy loạn, vượt qua biên giới về tỉnh Tây ninh. Nhìn cảnh màn trời chiếu đất của dân ta trên quê nhà, sinh viên Đại học Sư phạm Sài gòn, đoàn Nghĩa sinh Việt nam và học sinh, giáo chức tỉnh Tây ninh thành lập Ủy ban cứu trợ Việt kiều.



Trên đường từ Sài gòn lên Tây ninh, tôi và anh em đoàn Nghĩa sinh dừng chân nơi Tha la xóm đạo, một địa danh lẫy lừng trong thời kỳ kháng Pháp.Tha La xưa thuộc làng An hòa, quận Trảng Bàng, cũng có tên Phú Đức (là quê hương của tôi), sau thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, hiện nay thuộc tỉnh Tây Ninh. Tha La nằm ven quốc lộ số 1, cách thị trấn Trảng bàng khoảng 6 km về phía Tây. Tha La nguyên thủy là tên của người Khmer Schla, thuộc dất Chân Lạp. Vào thời Minh Mạng (1840), linh mục Cosimo đưa một số con chiên lánh nạn đến Tha la để khai thác và trốn tránh triều đình tiêu diệt Thiên Chúa giáo. Sau khi Pháp xâm chiếm miền Nam thì Thiên chúa giáo được nâng đỡ và khuyến khích. Tha La trở nên một địa điểm có qui củ, nhà thờ được dưng lên chánh thức. Vào khoảng 1945, thanh niên xứ đạo Tha La đã tích cực tham gia phong trào chống Pháp và Vũ Anh Khanh đã viết lên cảm nghĩ của ông khi về lại Tha la.
Dưới bóng mát của hai lũy tầm vông dẫn đường vào nhà thờ, không ai không ngậm ngùi với phong cảnh nên thơ, trìu mến và oai nghiêm. Trước khi rời Trảng bàng anh em Nghĩa sinh chúng tôi cũng không quên thưởng thức hương vị bánh canh Trảng bàng và bánh tráng phơi sương. Khi tới Phước điền, Nghĩa sinh chúng tôi bắt tay ngay vào việc giáo huấn trẻ em và vệ sinh công cộng.
Sinh viên Đại học sư phạm Sài gòn dưới sự hướng dẫn của Nguyễn vạn Thắng cùng giáo chức và học sinh Tây ninh dựng lều và cung cấp thực phẩm, thuốc men cho đồng bào. Dưới ánh nắng của trưa hè nơi xứ được mệnh danh là “chó ăn đá, gà ăn muối” mọi người đều mệt lả. Anh em Nghĩa sinh chúng tôi cố đào giếng để lấy nước cho đồng bào nhưng công việc này rất gay go và cần nhiều nhẫn nại vì Tây ninh mực nước giếng rất sâu:
Lấy chồng về miệt Tây ninh
Xách nước giếng ba mươi sải, thất kinh ông bà!

Chúng tôi cũng cố xoa dịu vết thương của đồng bào tị nạn và tạo cho đồng bào không khí, tập quán dân miền Nam, chúng tôi dạy trẻ em ca những bài lý con sáo. Bài hát đó càng tăng thêm nỗi bi thương của dân mình:
Ai xui nó giết dân ta
Để... cho, để .... cho cô bác, ơi người ơi!
Bỏ... nhà , bỏ... nhà ơi người ơi, mà sang đây!

Ban đêm chúng tôi thay phiên nhau về nhà anh Tiên và chị Sương để nghỉ ngơi. Anh giáo viên Tiên với cuộc sống thanh đạm nhưng vòng tay của gia đình anh rất lớn, ôm ấp chúng tôi trong những ngày cứu trợ và làm cho chúng tôi thêm hăng say trong công việc. Trước khi về Sài gòn tiếp tục con đường học vấn, anh em chúng tôi đi thăm tòa thánh Tây ninh, dịa phận của giáo phái Cao đài. Nhìn vào kiến trúc từ ngoài bách hoa viên cho đến trong cung điện của Tòa Thánh, không ai không bái phục.
Năm thứ hai tôi bị đánh rớt khóa 1, phải đi học quân sự ở trung tâm huấn luyện Quang Trung và vừa phải ôn bài để thi khóa hai. Năm thứ ba tôi cứ ngờ rằng tôi sẽ bị đánh rớt nhưng không hiểu tại sao tôi cũng ra trường.

Ngày đi nhận nhiệm sở là ngày hồi hộp nhất cho tân giáo sư nhưng tôi không hề bận tâm vì tôi tình nguyện và quyết chọn trường trung học Đất Đỏ, nằm trong vùng hẻo lánh tỉnh Phước Tuy, nơi bãi chiến trường vừa kết thúc và trường học bị đổ tan. Tôi lớn lên ở nhà quê, đã từng thấy bãi chiến trường, từng thấy nhiều trẻ em bị thất học, cho nên Đất Đỏ là nơi tôi muốn dạy, dạy cho những trẻ em khốn khó như lúc tôi còn bé.

Trong những năm ở Đất đỏ, tôi rất nghiêm khắc với học sinh, nhất là nữ sinh, tôi cương quyết và đề phòng “Vòng tay học trò của Nguyễn thị Hoàng” hay “ Cánh hoa chùm gửi của Quỳnh Giao”, “Ngựa chứng trong sân trường của Duyên Anh” hoặc chủ thuyết "lấy thầy mới được làm cô"; do đó, tôi tạo khoảng cách với các em nữ sinh từ lớp 9 cho đến lớp 12 bằng cách áp dụng phương pháp “khổ hạnh” của chủ thuyết giáo dục thuộc trường phái Thiền Tông. Các em Đất đỏ là máu huyết của tôi, là niềm an ủi của đời tôi làm thầy giáo. Tôi không muốn các em Đất đỏ phải sống cuộc sống hẩm hiu như thời thơ ấu của tôi. Tôi tìm mọi cách, ép buộc các em phải học, phải đậu tú tài 2 và tốt nghiệp đại học như tôi. Một nhóm em Đất đỏ tạm trú ở nhà tôi để học luyện thi tú tài.

Năm 1975 miền Nam sụp đổ, tôi cũng như các giáo chức ở Phước Tuy phải đi cải huấn 7 ngày (Cộng sản gọi là cải tạo. Tôi muốn nêu ra ở đây là chữ “cải huấn”
改訓 dùng cho con người, còn chữ “cải tạo”改造 dùng cho đồ vô tri vô giác).
Trong lúc tôi còn ở Đất Đỏ, một buổi chiều trên đường từ trường về nhà trọ, một em bé du kích đã bắt tôi đứng giữa chợ Đất đỏ và hăm dọa bắn bể đầu tôi vì tôi thuộc thành phần cải tạo, cải lịnh chính quyền đi ra đường sau 5 giờ chiều. Mỗi lần em ấy đưa cây AK 47 lên mặt tôi là mỗi lần tôi té tiểu trong quần. Dân làng xin hắn tha tôi nhưng hắn cương quyết không buông. Sau đó có người báo cho ông Tư Thanh, trưởng ban tuyên huấn Bà Rịa Long Khánh, cậu ruột của Nguyễn ngọc Phương. Ông Tư Thanh từ Bà rịa chạy Honda xuống Đất đỏ và ra lịnh hắn cho tôi đi về nhà trọ.
Sau lần thoát chết đó, tôi như con chim bị tên, lúc nào cũng sợ sệt và lo âu. Tôi không hề thù hằn hay oán hận em du kích, tôi chỉ tội nghiệp cho em ấy, một đứa bé vô giáo dục, không có cơ hội được tôi dạy dỗ. Tôi tâm sự với Phương, cùng dạy chung trước 1975, và sau đó tôi bị đưa đi Rừng lá.

Ngày cuối cùng ở Đất đỏ thầy trò đều đỏ mắt. Tôi bước vào lớp như người đã quá chén, đầu óc quay cuồng. Tôi gượng tỉnh và nói lời giã từ, khuyên các em tiếp tục con đường học vấn và làm tốt mọi việc như khi tôi còn ở nơi này. Trong lúc tôi còn loay hoay dẫn giải thì cuối lớp tiếng nức nở òa lên rồi sau đó lan tràn như vết dầu loang, cả lớp đều sụt sùi. Tôi không thể tự chủ được nữa và cũng ứa lệ với các em. Ngày tôi về Đất đỏ với bao niềm vui, với tràn đầy hy vọng thì ngày tôi ra đi hoàn toàn trái ngược. Có lẽ định mệnh đã sắp xếp cho cuộc hành trình làm thầy giáo của tôi phải trải qua thử thách như giai thoại ni cô biến thành chim bìm bịp. Ni cô vì bội ước mà thành chim, còn tôi nào có lỗi ước gì với các em Đất đỏ mà lại bị lưu đày?
Chiều hôm ấy tôi giã từ hai phụ huynh nơi nhà trọ rồi đón xe về lại Sài gòn. Ngồi trong căn nhà nhiều kỷ niệm, thân phụ tôi cũng buồn lây và hỏi thăm về các em học sinh của những năm về trước. Tôi cũng chẳng biết các em ấy đi đâu và không có câu trả lời cho thân phụ. Nhìn xung quanh, tôi có cảm giác như các em vẫn thì thầm đọc sách, học phát âm tiếng bạch thoại và hỏi tôi giải những bài toán như xưa. Bổng nhiên tôi cảm thấy căn nhà lạnh tanh như một nơi hoang vắng mà đã lâu ngày không ai lui tới. Tôi nghe tiếng thở dài của ba tôi vì ba tôi hiểu được tâm trạng của tôi với học sinh Đất đỏ. Tôi bèn đứng lên cố gượng vui để ba tôi an lòng và nói với ba tôi những hy vọng một Đất đỏ thứ nhì nơi Rừng lá.

Rừng lá là nơi rừng thiêng nước độc và là chổ định cư của đồng bào di tản từ Bình long. Nơi đây không có đầy đủ nước uống hay đèn điện như ở Đất đỏ. Cuối tuần hiệu trưởng Học cùng thày giáo đi tắm suối và giặt giũ. Theo lời anh Nguyễn văn Học, anh là giáo viên bị đưa vào Nam. Anh Học rất nghèo và thương vợ con. Anh ấy thông cảm cho sự mất mát của chúng tôi. Những ngày Tết chúng tôi mời anh Học về Sài gòn để cho anh ta quên đi nỗi cô đơn.
Một hôm anh Học quá nhớ nhà, anh em chúng tôi góp tiền mua cho anh vé xe lửa để lén về quê thăm gia đình. Không may chuyện bị lộ và anh Học bị khiển trách khi anh trở lại. Ở Rừng lá anh chị em giáo chức đều thuộc thành phần lý lịch xấu đối với chính quyền. Trường chỉ có 4 lớp (lớp 6-9) nhưng có nhiều giáo sư có cử nhân và cao học (3 giáo sư văn chương, 1 giáo sư Sử Địa, 1 giáo sư Lý Hóa.) Đa số cha của các em học sinh đều ở trong các trại cải tạo. Mỗi buổi chiều tôi hay ngồi một mình trên bực thềm của trường, nhìn những hàng mây bay lơ lửng hoặc ôm quanh đỉnh núi Mây tào, tôi buồn thúi ruột và bắt đầu suy nghĩ lung tung; tôi nhớ gia đình, nhớ mẹ, nhớ bạn bè, nhớ người yêu và ứa lệ khi nhìn về Đất đỏ qua dãy núi Mây tào. Sau một năm, dân chúng bắt đầu biết tôi và giúp đỡ thì tôi lại bị đổi đi Nhơn Trạch ở Cát lái vào mùa hè năm 1976.

Trước khi về Nhơn trạch, tôi lập gia đình. Các em học sinh người Hoa thuộc trường trung học Thánh Gioan trợ giúp tôi về tài chính và phương tiện di chuyển trong ngày tiểu đăng khoa. Nhà tôi ở Phú Lâm, mỗi ngày, tôi thức giấc vào 4 giờ sáng, chia tay với vợ rồi đạp xe từ Phú Lâm đến Nhơn trạch để dạy học. Thường xuyên tôi chỉ về nhà cuối tuần; đôi lúc tôi cũng về nhà thăm vợ giữa tuần. Từ nhà tôi đến Nhơn trạch phải qua phà Thủ thiêm và phà Cát lái. Nếu trể giờ thì phải đợi chuyến phà kế. Đứng trên phà Cát lái, nhìn những căn nhà nhô nhúc bên sông, tôi cảm thấy buồn ray rứt. Tôi nhớ quê tôi có con sông Vàm Cỏ Đông nhưng bà con đều ở xa bờ sông, còn ở Long Xuyên, nơi nhà bạn gái tôi thì nhà chen chúc như bờ sông Cát lái. Từ nơi phà cập bến tôi phải đạp qua Phước Lý, một con dốc rất dài và cao rồi mới tới trường Nhơn trạch.
Theo qui chế mới, thầy cô phải tập trung ở trong trường và phải đi thăm viếng từng phụ huynh của lớp do mình làm chủ nhiệm. Có em ở xa lắc xa lơ, đạp xe hằng giờ mới tới nơi. Đôi khi tôi ngủ đêm ở nhà học trò, cùng phụ huynh bàn chuyện ruộng rẫy, cuốc đất trồng khoai. Tôi cũng ra ruộng, cấy lúa với phụ huynh, uống rượu đế, ca vọng cổ và quên đi sự đày ải của thể chế giáo dục mới. Những ngày giỗ ở nhà phụ huynh, tôi đều tham dự. Phụ huynh ở đây rất quí và thương tôi vì tôi là hiện thân cho giai cấp nhà quê, cố gắng học tập để thành thầy giáo. Phụ huynh hay khuyên con bắt chước tôi mà cố học.

Ở Nhơn trạch tôi dạy cả toán và văn chương vì người bạn dạy toán, giáo sư Đường nhà ở Biên hòa, bị bịnh suyển cho nên thường xuyên vắng mặt. Ban đầu tôi từ chối dạy toán và bị Hiệu trưởng khiển trách. Hiệu trưởng Nam là đảng viên từ Bắc vào, ông ta rất hiền và hòa đồng với giáo chức miền Nam. Ông ta đưa ra nhiều lý lẽ bắt tôi dạy toán vì có người dạy chung, anh ta là anh của cô bạn cùng ban Việt Hán với tôi, báo cáo với anh Nam là tôi từng mở lớp luyện thi Toán miễn phí ở trung tâm Nghĩa sinh cho những học sinh nghèo trong lúc tôi học Đại học Sư phạm Sài gòn.
Nhơn trạch để lại cho tôi nhiều kỷ niệm; học sinh hiền hậu, dễ thương như các em Đất đỏ và có cơ hội quấn quít bên tôi nhiều hơn các em Đất đỏ. Các em thông cảm cho sự lên voi xuống chó của tôi. Trong những ngày nghỉ, tôi thường đạp xe đưa vợ về Cát lái để gặp phụ huynh và các em.

Ngày tháng qua nhanh, năm học chấm dứt, tôi đi học tập chính trị như những đồng nghiệp. Trong một buổi học tôi bị anh cán bộ kêu ra ngoài, tôi tưởng rằng tôi sẽ bị đi tù vì lý lịch của gia dình. Vừa đi vừa thương cho vợ nếu chẳng may tôi có bị đi tù hay bị giết chết. Vợ tôi còn quá trẻ mà chịu cảnh góa bụa hay sao? Tôi run run bước chân vào văn phòng và hồi hộp chờ phán quyết. Với gương mặt lạnh như đồng, anh ta nói rằng “đồng chí được chỉ thị về trường Thống Nhất B ở Gia kiệm”. Tôi càng run lên vì Hiệu trưởng tên Sáu ở Gia kiệm nổi danh rất độc tài. Tôi van nài anh ta cho tôi về trường Thống Nhất A ở Hố nai. Anh hỏi gặn tôi lý do. Tôi thong thả trả lời “tôi sẽ học hỏi nhiều kinh nghiệm nơi đồng chí hiệu trưởng Thuần, người đã vang danh vô tư và hết lòng cho giáo dục.” Anh ta cắn cây bút và ký tên vào giấy thuyên chuyển. Tôi vừa mừng vừa sợ.
Khóa học chính trị đã xong, tôi về lại Sài gòn, báo tin cho vợ biết. Từ đó hai vợ chồng tôi sống như thời chiến tranh; thỉnh thoảng tôi mới có dịp về nhà. Vợ tôi vừa đi làm vừa chăm sóc cha chồng.

Năm 1978 vợ tôi mang thai, nhạc phụ tôi chuẩn bị vượt biên. Vợ tôi chạy đôn chạy đáo và xin được cho tôi một chân thợ điện trong công ty cấp nước nơi đường Lữ gia ở Sài gòn. Tôi âm thầm từ bỏ nghề dạy học một cách đau thương để về gần vợ. Những ngày cắt vỏ xe hơi làm niềng cho xe đổ rác hay làm dép râu cho các ông lớn, tôi cứ tự hỏi sao ông trời không có công bằng. Trong sở vợ tôi, ai cũng biết tôi nguyên là giáo sư đệ nhị cấp cho nên họ tìm cách giúp đỡ tôi học những công việc mới. Anh Thuận hay bảo tôi:
" Lao động là vinh quang
Lang thang là chết đói
Hay nói thì ở tù
Lù khù thì vẫn sống "
Tôi chăm chỉ lao động để khỏi bị quấy rầy. Thỉnh thoảng tôi đi bắt điện cho những văn phòng ở Gò vấp hay sở thú Sài gòn.

Một hôm một nhóm học sinh Hố nai bất ngờ thăm viếng tôi ở Phú Lâm, các em ngủ trọ một đêm và yêu cầu tôi dắt các em đi sở thú. Sau khi đưa vợ đi làm và xin phép nghỉ nửa ngày, tôi đưa các em đi thăm sở thú. Thầy trò dạo quanh vườn bách thảo và tôi khuyên các em hãy quên tôi đi mà tiếp tục học với thầy cô mới. Các em phẩn nộ rồi òa lên khóc. Tôi cố an ủi và vỗ về vì tôi không muốn rơi vào cảnh Đất đỏ 4 năm trước. Tôi mãi loay hoay với các em và quên đi trách nhiệm của người chồng; tôi không về ăn cơm trưa với vợ và để vợ tôi trông đứng, trông ngồi nơi bàn làm việc. Tôi rất hối hận về việc này nhưng tôi không hiểu được chính mình. Tôi đứng trước ngã ba đường và rẻ sang phía học sinh để cho vợ tôi phải buồn trong lúc mang thai.

Năm 1979 khi con chúng tôi chào đời được hai tháng, tôi theo gia đình vợ vượt biên theo diện bán chính thức dành cho người Hoa. Nhạc phụ và nhạc mẫu mua giấy người Hoa cho tôi để tôi được di. Lần ra di đầu tiên, chiếc ghe chết máy trôi dạt 14 ngày từ Mỹ Tho đến Bình Tuy, tưởng chừng đã chết nhưng được tàu Liên sô cứu và kéo về Vũng Tàu. Cuộc hành trình thứ hai bị hải quân Việt nam kéo vô Côn đảo 1 tuần. Sau khi vơ vét hết những gì họ có thể làm rồi thả ra đi. Trải qua hai lần thập tử nhất sinh, cuối cùng gia đình tôi định cư ở Mỹ vào ngày 19 tháng 1 năm 1980.



Trong những năm đầu định cư ở Mỹ, vợ tôi là hình bóng của bà Tú Xương, quán xuyến mọi việc từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Những việc thông dịch đều do vợ tôi đảm trách. Sau một năm làm cho xưởng gổ, gia đình tôi dọn lên Richmond, thủ đô của tiểu bang Virginia, để tôi đi học lại. Trong những ngày mới ở Richmond, từ nhạc phụ, nhạc mẫu cho đến các cô cậu em vợ đều chung tay giúp gia đình tôi phương tiện di chuyển. Hàng ngày cậu em chở tôi đi học.

Năm 1983 , sau khi tôi tốt nghiệp cán sự điện tử với hạng Summa Cum Laude, không nơi nào chịu mướn vì tôi không nói được tiếng Anh. Trường đại học cộng đồng nơi tôi theo học, mướn tôi dạy lớp thí nghiệm. Một năm sau (1984) công ty điện lực mướn tôi làm cán sự cho nhà máy chạy bằng than. Ngoài giờ làm việc, họ trả tiền và chi phí cho tôi đi học kỹ sư. Đây là giai đọan khổ cực nhất của vợ tôi vì tôi vừa làm, vừa học và không có thời gian với gia đình. Ba năm sau (1987) tôi được tuyển dụng vào trung tâm huấn luyện năng lực của công ty.

Cũng năm 1987 tôi nhận được thư của Hùng báo hung tin ba tôi đã qua đời trong nổi nhớ thương con. Tôi nghỉ làm 3 ngày và ân hận đã bỏ cha già nơi chôn nhau cắt rún. Vợ tôi cũng rất buồn nhưng gượng gạo vui tươi để an ủi tôi . Tôi chợt nhớ lời Trung tá Quốc “ số tôi cô độc, tha phương cầu thực, may mắn trên đường công danh và không thấy mặt cha mẹ lúc qua đời.”

Năm 1998 tôi được biệt phái qua trung tâm huấn luyện của nhà máy phát điện chạy bằng nguyên tử. Những tháng năm tôi làm việc cho trung tâm huấn luyện nhân viên điều hành nhà máy phát điện chạy bằng nguyên tử, tôi rất đau buồn khi nhìn thấy những xe chuyên chở học sinh. Tôi nhớ lại thời dĩ vãng, những giờ giảng dạy dưới thời VNCH. Tôi luôn luôn buồn bã và không sao chữa lành được. Tôi rất quạu quọ và nóng nảy. Một hôm tôi đi khám bác sĩ tâm lý, ông ta khuyên tôi đi học lại mà phải học về giáo dục. Trong sở tôi, họ ủng hộ và cổ vỏ tôi đi học lại. Họ trả tất cả chi phí, từ thông dịch giấy tờ cho đến học phí để tôi trở lại học đường.

Ngày đầu tiên trong lớp học, ai cũng giới thiệu trường lớp của mình; tôi là người duy nhất “mất dạy”. Giáo sư hỏi qua vì lý do gì mà anh là kỹ sư lại chọn cao học giáo dục. Tôi tự hào và thao thao bất tuyệt nói qua về trường Đại Học Sư phạm Sài gòn và những tháng ngày tôi đi dạy học. Ngày nào tôi cũng ứa lệ khi tan trường. Sau hai khóa học tôi phải tạm dừng vì công việc quá nhiều trong sở. Tôi chọn giờ đi làm về khác biệt với giờ xe chuyên chở học sinh để tôi không phải rơi lệ. Tuy nhiên sau hai khóa học, bạn cùng lớp và giáo sư cũng đã giúp tôi vượt qua được nỗi nhớ nhung trường cũ cùng nỗi cảm xúc trước chiếc xe buýt màu vàng đưa học sinh đi học.

Hầu hết đời tôi luôn gắn bó với ngành giáo dục. Hiện nay tôi không có trường, có lớp nhưng tôi luôn luôn chia sẻ những kỹ thuật mới cho những huấn luyện viên thuộc trung tâm huấn luyện chuyên viên cho nhà máy phát diện chạy bằng nguyên tử ở tiểu bang Virginia, USA để họ có phương tiện dạy dỗ tốt và hiệu quả hơn.
" Nếu tôi tái thế làm người
Nguyện làm thầy giáo trọn đời kiếp sau "

Trần Lâm Phát
Virgina, ngày 22 tháng 6 năm 2009

Đăng ngày 25 tháng 6 năm 2009
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 2 năm 2018


Mời Xem : Các Bài Viết Khác Của  : Trần Lâm Phát

 

Thông Tin của Ban Liên Lạc K.2-SPSG

Ban LLk.2 SPSG đã đến nhà thăm bạn Lê Ru Nghi  ngày 1/3.2022

Trước đó khoảng 3 tuần bạn Ru Nghi đã bị tai nạn  (xe đụng  khi đi chợ ) nên phải nằm BV hơn tuần

Nay bạn đã về nhà nhưng sức khỏe vẫn chưa hồi phục,còn yếu

Xin thông  báo cùng các Bạn SPSG k.2 

Ban LL.SPSGK.2 

 

Xem Thêm Để Nhớ Lại : 

Kỷ Niệm K1  

Kỷ Niệm K2   còn nữa.

Rất Cảm ơn   Trần Xuân Lộc  🌷🌷🌷🌷🌷🌷🌷🌷🌷

Chất EO trong mì ăn liền gây hại ra sao mà nhiều nước cấm....?


H.Phi chuyển