5 thg 6, 2019

BS Giáo Sư Nguyễn Khắc Minh Tài liệu quí _ Lịch sử chữ Quốc ngữ

Tôi có vài ý kiến: 
1.   Có người cho rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người Pháp và liên quan tới thực dân Pháp xâm lược nước ta. Sự thật ông sinh ra ở Pháp nhưng sống và lấy quốc tịch Bồ Đào Nha, vì vậy ông đã soạn từ điền Việt-Bồ-La (Việt Nam, Bồ Đào Nha, Latin), chứ không phải từ điển Việt-Pháp-Latin). Ông rời khỏi VN gần 200 năm trước khi người Pháp đến VN.

2.   Thử tưởng tượng nếu VN còn dùng chữ Nôm thì có nhiều bất tiện ra sao. Một thí dụ nhỏ: các tên đường phố sẽ phải ghi 2 hàng chữ: tên bằng chữ Nôm và tên bằng chữ Latin. Giống như ở các nước không sử dụng chữ Latin như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Campuchia, Lào, Ấn Độ, Ả-rập, Nga v.v..

3.   Nhật Bản và Mao Trạch Đông ở Trung Quốc đã cố gắng chuyển chữ viết bằng chữ Latin nhưng thất bại.

4.   Các giáo sĩ Thiên Chúa giáo (Công giáo và Tin Lành) đều tìm cách học tiếng địa phương để truyền đạo và các vị này thích chuyển ngôn ngữ địa phương ra chữ Latin. Khoảng thập niên 1950, các giáo sĩ truyền đạo ở vùng Cao nguyên trung phần (nay gọi là Tây Nguyên) đã chuyển ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở đây (vốn chỉ có tiếng nói mà không có chữ viết thành có chữ viết và chữ viết bằng chữ Latin). Bây giờ tôi thấy chữ này không còn duy trì nữa mà thay bằng chữ Quốc ngữ của người Kinh. Nghĩa là các chính quyền sau này đã triệt tiêu chữ viết của họ để thống nhất chữ viết cả nước.

5.   Chữ quốc ngữ thay đổi theo thời gian:

-        Thời Alexandre de Rhodes viết: Đức Chúa Blời đã dựng lên blời và đớt (Đức Chúa trời đã dựng lên trời và đất).

-        Thời các vua chúa, lối văn diễn đạt rất dài dòng, không khúc chiết ngắn gọn như ngày nay và có những từ ngữ ngày nay không dùng nữa, như: song le (nhưng mà), cầm bằng (cho dù), mà chớ (như vậy), lắm ru (lắm sao), mọi sự (tất cả), hết thảy (tất cả), kẻ (kẻ nào phạm tội), hết thảy (tất cả) v.v..

-        Thời CT Hồ Chí Minh viết cuốn sách ghi tựa đề là “Đường Kách Mệnh” (Đường Cách Mạng)

-        Ở miền Nam trước 1975, những từ ngữ kép thường có gạch nối, kể cả tên họ. Thí dụ: Phan-thanh-Giản (chữ “thanh” không viết hoa), và đoạn văn dưới đây :


Tổ-tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá-trình đô-hộ lâu-dài của Trung-Hoa, với âm-mưu hủy-diệt nền văn-hóaViệt-Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt-diệt với chữ Việt cổ, với mục-đích đồng-hoá dân-tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối-tượng bị Trung-Hoa hủy-diệt trước nhất, bởi nó phản-ánh tư-tưởnglinh-hồnvăn-hóa của dân-tộc Việt. Hịch khởi-nghĩa của Hai Bà Trưng kêu-gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ. Trong sách Hậu-Hán-thư (後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao-Chỉ có linh-vậtlà trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... " Sách này còn viết rằng: "Mã-Viện sau khi dập tắt cuộc nổi-dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch-thu các trống đồng của các thủ-lĩnh địa-phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã-Viện."           

Sở dĩ hồi đó người ta phải dùng gạch nối cho những từ ngữ kép là bởi vì nếu từng từ đứng riêng thì không có nghĩa, chẳng hạn nếu từ ngữ “tịch thu” mà trong đó chữ “tịch” đứng một mình thì không có nghĩa gì cả.


6.   Tôi thấy văn phong báo chí miền Nam trước 1975 và ở một số (không phải tất cả) người Việt ở nước ngoài hơi rườm rà, đôi khi sáo rỗng. Văn phong báo chí trong nước ngày nay viết gọn gàng hơn. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện những từ ngữ lạ lùng mà người Việt ở nước ngoài không hiểu nổi, thí dụ “cháy vé” (hết vé), “đi phượt” (tự đi du lịch không theo tour), “chảnh” (tự đề cao), “ô sin” (người giúp việc nhà, lấy theo tên gọi của một bộ phim Nhật Bản) v.v.. chưa kể chen tiếng Anh một cách bừa bãi (chắc để “hội nhập” với thế giới???), dù cho từ ngữ đó có thể viết hoàn toàn bằng tiếng Việt. Tôi công nhận là ngày nay với sự phát triển khoa học công nghệ như vũ bão, mà hầu hết những từ ngữ này lại bằng tiếng Anh nên tiếng Việt không thể dịch được hoặc nếu dịch được thì rất dài, thí dụ những từ ngữ sau đây làm sao dịch sang tiếng Việt: internet, facebook, facetime, menu (trong nhà hàng ăn thì gọi là “thực đơn” vì “thực” có nghĩa là “ăn”, nhưng trong máy vi tính mà gọi “thực đơn” thì không ổn, vì có ăn uống gì đâu), vân vân…
PVT 
wwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwwww

LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ



Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có  trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).
Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa.
Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp

Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt. Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ.
Trong sách Hậu Hán thư (
後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... " Sách này còn viết rằng: "Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện."
Sử xưa cũng ghi lại rằng: " Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và  Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…"
Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu. 

Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu.


Chữ Việt cổ trên thân Trống Đồng Lũng Cú.
Tuy nhiên, với chí khí bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.

Nhìn chung Việt Nam vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1)  nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân gian và ngày càng phong phú, súc tích.
Trong quá trình xã hội phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.
Vào thế kỷ XV. Sứ thần Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt.
(*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt Nam từng phải triều cống.
Giai đoạn năm 939, thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. Tổ tiên ta  luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du, là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại.
Tuy nhiên, chữ Nôm vì được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng rộng rãi. 

Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du
(Sách cổ viết chữ Nôm)




Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát  triển nhanh chóng.
Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên)   http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt. Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ.  Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.  
Bản Kinh lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau:

Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và  “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651. 

Từ điển Việt-Bồ-La 

Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu)


Hình bìa  “Sách Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày” 

Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam. Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt. Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang. Sách  không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes

Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học. Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ.
Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ  truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.NGHE & Down load  
(AUDIO BOOK THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM)
Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có thể chia làm 3 giai đoạn sau:
(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Nghiên cứu của linh mục Ðỗ Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972).
Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626):
Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa.

Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm 1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ.
Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ:
- Annam = An Nam
- Unsai = Ông Sãi
- Ungue = Ông Nghè
- Bafu = Bà Phủ
- doij = đói
- scin mocaij = xin một cái
- Sayc Chiu = Sách chữ
- Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết


Giai Ðoạn Hai (1631-1648)
Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này, đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như:
· Nghệ An
· Bố Chính
Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác
· Thính hoa: Thanh Hóa
· oũ bà phủ: Ông bà Phủ
· hụyen: huyện
· sãy: sãi

Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) . Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) .
Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình.
Giai Ðoạn Ba (1649-1651):
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc Lộ (7) . Hai cuốn ấy là:
· Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°
· Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn)

Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình)
Mãi cho đến ngày 18 tháng 9 năm 1924 (Giai đoạn Pháp thuộc), toàn quyền Đông Dương Martial Merlin (1923-1925) đã ký quyết định chính thức cho dạy chữ Quốc Ngữ ở ba năm đầu cấp tiểu học, được phổ biến rộng rãi toàn quốc. Sự ra đời và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt Nam, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây qua sách báo, nâng cao nhận thức, dân trí phát triển cao hơn và nhanh hơn so với các nước trong vùng.
Cũng nhờ từ đấy, người Việt, tiếng Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng chính sách Hán hóa của Trung Hoa đã đô hộ nước ta trong suốt gần 1000 năm.
Học sinh trường Công giáo tỉnh Nam Định

Tinh thần sĩ phu (Nho giáo) xưa, ít nhiều bị lệ thuộc chẳng những Nho giáo mà cả văn hóa Trung Hoa.  Việc bãi bỏ Nho học và thay đổi chữ viết từ chữ Nho (chữ Hán ) sang Quốc ngữ, đã giúp Việt Nam chấm dứt vĩnh viễn giai đoạn lệ thuộc chữ Hán và văn hóa Trung Hoa.

Vì đắm chìm lâu đời trong văn hóa Trung Hoa, nên có người lầm tưởng rằng văn hóa Trung Hoa là văn hóa dân tộc, và những anh hùng, liệt nữ Trung Hoa là khuôn vàng thước ngọc cho văn hóa Việt, lịch sử Việt. Các tác giả chữ Nho xưa thường dùng điển tích về những vua quan, anh hùng, thần thánh, phong tục, tập quán của Trung Hoa để làm mẫu mực cho người Việt.

Nhưng từ khi có chữ Quốc ngữ, dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi văn hóa Trung Hoa, nhiều người mới có cơ hội tìm thấy lại cội nguồn, trở lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Từ đấy,  nền văn hóa dân tộc càng ngày càng được đề cao trong nền văn học Quốc ngữ, trong Sử sách giáo khoa: Hai Bà Trưng, Triệu Nữ Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung mới là những anh hùng đích thực, những tấm gương sáng trong lịch sử của người Việt Nam.

Nhưng bất hạnh thay cho đất nước Việt Nam ngày hôm nay, (Hiểm Họa Mất Nước) mà mọi người Việt Nam khắp nơi đang phải lên tiếng báo động khi nhìn thấy cầm quyền cộng sản Việt nam đã và đang đưa dân tộc ta trở về vòng u tối của lịch sử. Nhiều lễ hội trang trí với hình thức, màu sắc nặng tính chất Trung Hoa, những phim ảnh Trung Hoa 24/24 giờ tràn ngập trên truyền hình, lập "viện nghiên cứu Khổng Tử", mưu tính để chính thức đưa chương trình tiếng Hoa (Hán ngữ) vào trường phổ thông toàn quốc nhằm mục đích Hán hóa người Việt trong nước hiện nay cùng với nhiều hình thức khác. Song song là việc "Bộ giáo dục" cho xuất bản, in ấn  trên "Sách Giáo Khoa Lịch Sử" với những hình ảnh bôi bác, bất kính, miệt thị, xúc phạm các bậc tiền nhân,tổ tiên của dân tộc Việt. Và còn nhiều chuyện đã xảy xa mới đây trong chủ trương Hán hóa, mà những ai đang quan tâm đến vận mệnh đất nước đều biết rõ. 

Lễ Gọi hồn Mã Viện chứng giám Hai Bà Trưng sang chuộc tội ở Quảng Tây(Buổi lên đồng của đoàn văn công Việt nam biểu diễn tại Quảng Tây, Trung quốc) 
Hai Bà Trưng dâng rượu chuộc tội với Mã Viện
(Buổi lên đồng của đoàn văn công Việt nam biểu diễn tại Quảng Tây, Trung quốc)
  
Trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam

Trường Trung học Adran (Collège d'Adran) (3) Là trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở ở Sài gòn từ năm 1861 - 1887.
Trường ADRAN Sài Gòn, đến năm 1954 được chia thành 2 Trường Trung Học : Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương.

Hình một lớp học trong buổi thực nghiệm ngoài trời.
Chấm dứt  thời kỳ của nền giáo dục chữ Hán, chữ Nôm: Lối học từ chương.

 Một lớp học trong giờ Địa lý.
Hình Thầy đồ và các học sinh ngày xưa.

Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912)


Giấy Khai Sinh năm 1938 còn sử dụng 4 ngôn ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ và Pháp)




Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ lần đầu tiên phát hành tại Sài Gòn, ngày 15/4/1865.

Trương Vĩnh Ký - Pétrus Ký (1837-1898)

Khi nói đến chữ Quốc ngữ, và Báo Chí Việt Nam thì cũng không thể quên công lao của Ông Trương Vĩnh Ký, ông là người đầu tiên sáng lập,khai sinh nền Báo Chí Quốc ngữ của Việt Nam, ông là Tổng biên tập tờ Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên: 
Ông Pétrus - Trương Vĩnh Ký đã viết một bài khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, trong đó có đoạn như sau:
“…Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo (văn phạm) dạy tiếng Lang Sa (Pháp), có làm ra chữ Quốc ngữ (sic) để người ta dễ học. Những người ký lục (thư ký) giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ (khó dễ) cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ Quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết…”
Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, và chuyên khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.Với tri thức uyên bác, am tường và nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên ông được: - Tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp.- Được nêu tên trong Bách khoa Tự điển Larousse http://www.larousse.fr/archives/pages/recherche.aspx?keyword=Truong%20Vinh%20Ky- Đứng vào vị trí " Toàn Cầu Bác Học Thập Bát Quân Tử"  tức là một trong 18 nhà bác học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 19.- Đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới, ông viết và đọc thông thạo 27 ngoại ngữ, một nhà thông thái biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam... (4) Ông đã để lại cho kho tàng Văn học Việt Nam hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật. ...
Tượng đài lịch sử, vinh danh ông Trương Vĩnh Ký cạnh Nhà Thờ Đức Bà trước 1975.
Mãi đến thời gian gần đây, phần tượng lịch sử còn lại của ông được đem ra triển lãm "mỹ thuật" trong Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM. 
Các nhà khoa bảng, trí thức, cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, kết hợp với nhiều nhà trí thức cấp tiến thời đó, khởi xướng ra các phong trào Duy Tân, Đông Du nhằm vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho (Hán) học, kêu gọi việc học Quốc ngữ để nâng cao dân trí, với lý do đơn giản: Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho (Hán). Các ông đã vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (Trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục,1907). Trong một bài thơ khuyến khích việc học quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết:“… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước, Phải đem ra tỉnh trước dân ta, Sách các nước, sách Chi-na, Chữ nào nghĩa ấy, dịch ra cho tường…”
Các sĩ phu của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Khi phong trào Duy Tân, và Đông Kinh Nghĩa Thục ngày càng lớn mạnh, khiến cầm quyền thuộc địa Pháp lo ngại tinh thần yêu nước và chống thực dân Pháp của đồng bào Việt Nam. Việt Nam Vong Quốc Sử của nhà ái quốc Phan Bội Châu xuất hiện lúc bấy giờ là một trong những tiếng chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc. Làn sóng yêu nước nổi lên khắp nơi, làm thực dân Pháp phải lo sợ, nên đã ngưng trợ cấp và đóng cửa một số trường.

Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu. 

4 thg 6, 2019

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH BÀI THƠ "MƯA ĐÊM NAY" CỦA TRƯỜNG ANH/ Nguyễn Cang

MƯA ĐÊM NAY
Trường Anh
Thăm thẳm đường trường, tôi, người cô độc.
Mòn gót giày cắm trọ quán đêm nay.
Mưa Cẩm Giang như niềm đau ai khóc.
Đường sụt sùi trong mấy nẻo truông lầy.
Cho cốc cà-phê, cô hàng xanh tóc!
Tôi uống đắng cay,hay mắt em say?
Nghe đâu đây ai cười lên vỡ ngọc
Thấy đau chúng mình một kiếp trắng tay
Cố tri mấy đứa giờ đâu… lăn lóc.
Ở chực nằm chờ, hay giạt đó đây?
Tiền thân chúng mình có là con cóc
Thơ nghiến răng cho trời chuyển mưa bay?
Ta không phải chán đời mà trách móc
Khi những thằng hề không biết múa may.
Cô hàng xanh tóc, cà-phê đầy cốc,
Miệng em cười, nhạc đắng chở màu cay.
Cẩm-Giang ôi ! đây, ngày xưa tang tóc,
Xiềng khua chân rổn- rảng kiếp đi đày.
Lớp hưng phế xô nghiêng nhà tróc nóc
Mồ những ai nằm trăng lạnh gió lay?
Cổng biên thuỳ, lòng tham luôn dời cọc,
Rồi, với thời gian, người chết, xanh cây!
Cho thêm nữa cà-phê, sao em khóc ?
Ta hiểu rồi, lòng đã cảm thương vay.
Nhầu nát áo xanh mờ tràn bụi mốc
Chung một thuyền, thơ tâm sự dâng ai.
Nước sông Vàm Cỏ nguồn xuôi, trong lọc,
Có chắc mang hoa về quán ngày mai?
Cho thêm nữa đi, và em đừng khóc !
Trời hết đêm, rồi nắng sẽ dâng ngày.
Tôi, tôi là khách lữ hành cô độc
Vỡ lệ nằm nghe mưa quán đêm nay.
   TRƯỜNG ANH.

Bài thơ được sáng tác ở thời điểm nào?
Khó xác định thời điểm sáng tác bài thơ. Ông biết làm thơ rất sớm lúc học trung học. Năm 1959 ông đưa thơ cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương đọc, như vậy ông sáng tác bài thơ nầy trước 1959, lúc đó ông đang dạy học tại Trung học Tây Ninh. Bài thơ được thi sĩ Vũ Hoàng Chương đề tựa và tác giả xuất bản năm 1964. Thơ cũng được nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ nhạc và ca sĩ Hoàng Oanh trình bày năm 1965. Bài thơ  được nhiều người ca ngợi khen hay nhưng chưa thấy ai phân tích cặn kẽ.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Trường Anh tên thật là Nguyễn Văn Trường sinh năm 1936, tuổi Tý trong gia đình nhà nông nghèo,  tại Rạch Sơn thuộc Quận Gò Dầu ( Hiếu Thiện) Tỉnh Tây Ninh. Ông sống trong sự yêu thương và đùm bọc của người mẹ kế như mẹ ruột của mình. Ông là học sinh giỏi của trường Gò Dầu, cũng chính nơi đây mối tình đầu chớm nở sau trở thành người bạn đời của ông. Phải nói ông là một người hạnh phúc vì bút danh Trường Anh là tên ghép của ông và người vợ tên là Lê Thị Ngọc Anh cùng năm sinh với ông. Nhưng cuộc đời về sau của ông không được may mắn, con đường sự nghiệp gặp nhiều trắc trở, khiến ông bất mãn. Ông xuất thân là nhà giáo, sau khi tốt nghiệp Sư phạm, về dạy học tại Tây Ninh (1958),  được vài năm do bất đồng ý kiếnvới cấp trên, ông bị đổi lên Bình Long, mãi mấy năm sau ông mới được đổi về dạy học tại trung học Hiếu Thiện, quận Gò Dầu Hạ, tỉnh Tây Ninh, là quê nhà của ông. Bút hiệu Trường Anh nổi danh với bài thơ Mưa Đêm Nay và cũng là tựa đề chính của tập thơ Mưa Đêm Nay do thỉ sĩ Vũ Hoàng Chương đề tựa bằng chính thủ bút của mình và được tác giả xuất bản năm 1964 tại Sài Gòn.
Trường Anh mất tại Gò Dầu ngày 19/11/ 2005.
PHÂN TÍCH VÀ NHỮNG LỜI BÌNH:
Đọc cái tựa “Mưa đêm nay” của bài thơ, người đọc chắc sẽ cảm thấy nó chứa đựng một nổi buồn man mác, sâu thẳm, phảng phất, ẩn hiện trong suốt nội dung bài thơ, người viết xin được phân tích theo thiển ý mình, thử tìm hiểu xem, cái nỗi buồn đó của tác giả như thế nào ?
Người lữ khách trong cuộc hành trình dài bằng nỗi cô đơn trong sương gió lạnh chiều mưa.  Chàng , nhân vật chính trong câu chuyện, đi về đâu, trên đường dài cô lẻ, xuất thân từ một tổ chức nào hay chỉ là lãng tử ngược xuôi tìm cuộc sổng mới an lành? Cũng có thể chàng trai chính là hình ảnh của tác giả lúc dạy học ở trung học Tây Ninh niên khóa 1958-1959. Lúc đó ông sống ở Gò Dầu, sáng đón xe đò lên Tây Ninh dạy học chiều đón xe  về lại Gò Dầu, cả hai lần đi và về đều phải qua Cẩm Giang. Thuở đó con đường Sài Gòn -Tây Ninh thỉnh thoảng bị đắp mô, mất an ninh nên ông phải tạm dừng chân đêm nay? Cuộc hành trình dài và liên tục như vậy nên ông dùng chữ "Mòn gót giày"? Đây chỉ là giả thiết chứ tác giả không nói ra mà để tự người đọc suy nghĩ tìm hiểu. Có thể đây là dụng ý của tác giả trong nghệ thuật sáng tác thi ca. Vì màn đêm buông xuống  nên phải "cắm trọ quán đêm nay", tìm một nơi nghỉ tạm để sáng hôm sau tiếp tục cuộc hành trình. Địa điểm dừng chân chính là xã Cẩm Giang thuộc tỉnh Tây Ninh. Mưa Cẩm Giang trong mùa hè, một màn trắng đục bao phủ dòng sông Vàm Cỏ Đông bát ngát, gợi nhớ những hình ảnh đau thương, mất mát của dân tộc nói chung và của xã Cẩm Giang nói riêng. Chàng trai trong bài thơ rất quen thuộc với vùng đất nầy, từng băng ngang qua khu rừng  rậm có khoảng đất trống, con đường hẹp xuyên qua đó gọi là đường truông. Con truông nầy bị mưa ngập nên trở thành lầy lội khó đi:
"Thăm thẳm đường trường, tôi, người cô độc.
Mòn gót giày cắm trọ quán đêm nay.
Mưa Cẩm Giang như niềm đau ai khóc.
Đường sụt sùi trong mấy nẻo truông lầy".
Cụm từ "mòn gót giày" sử dụng thật khéo léo, phép đảo ngữ thật linh động chứa nội dung tiềm ẩn, cho biết chàng trai là ngưởi lang bạt giang hổ xuôi ngược đó đây tìm nguồn sống mới hay liên lạc với người cùng chí hướng làm cách mạng? Vế thứ hai: "cắm trọ quán đêm nay" chứa  từ "cắm" diễn tả sự cương quyết, dứt khoát, để nhấn mạnh điểm dừng chân đêm nay tại lữ quán nầy! Động từ "cắm " nầy phải hiểu theo nghĩ bóng mới hợp lý mà không dùng ở nghĩa đen. Nó tương tự như "cắm chốt nơi nầy" ! 

Một câu hỏi khác khiến người đọc phải suy nghĩ: Tại sao "Mưa Cẩm Giang như niềm đau ai khóc"? Câu trả lời là thời Pháp thuộc, ở Cẩm Giang có một nhà tù giam những người làm chánh trị  hay những người kháng chiến chống Pháp. Họ, có một số bị bị bắn bỏ trước cầu ván bên bờ sông Vàm Cỏ Đông, còn một số khác bị dãn đi xử tử trong rừng trên những con truông nhỏ ít người qua, tác giả ám chỉ con truông cũng  là nơi nhiều người bị giết, máu chảy lầy lội hòa cùng nước mưa trong khu rừng vắng. Có thể nói câu thơ: "Đường sụt sùi trong mấy nẻo truông lầy", chứa đựng phép ẩn dụ thật đặc sắc, nói lên ý nghĩa đặc biệt nầy. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đề cập tới sự tàn ác của quân Pháp đối với các nhà tranh đấu Việt Nam trong giai đoạn đó : "Biết bao nhiêu biến cố khủng hoảng đã kéo lê vết máu:"sụt sùi qua mấy nẻo truông lầy" rồi, biết mấy "niềm đau ai khóc"và bao nhiêu lần "Mưa đêm nay"? ( trích lời giới thiệu Mưa đêm nay của thi sĩ Vũ Hoàng Chương). Cho nên bài thơ "Mưa đêm nay" ( cũng là Mưa Cẩm Giang)  tác giả mô tả ở đây khác hẳn với những cơn mưa nơi khác là vậy. Ngày nay ( thời điểm 1958) giặc Pháp không còn hiện diện trên đất nước Việt Nam nhưng hình ảnh: đường truông, khám đường, gông cùm , xích sắt, vẫn còn ám ảnh trong tâm khảm người dân Cẩm Giang. Tác giả đã trải lòng mình qua tâm sự não nề, uất hận: Những người lớn tuổi, những ai hiểu biết về lịch sử đấu tranh giành độc lập trong giai đoạn chống Pháp, khi đi ngang qua Cẩm Giang, ắt sẽ ngậm ngùi, khóc thương cho những người anh hùng đã hy sinh cho đất nước. Về mặt nghệ thuật, từ ghép "sụt sùi" sử dụng rất tài tình, nó đứng sau danh từ "đường"; nhưng con đường tự nó không thể sụt sùi mà phải nhân cách hóa như một con người. Một cách khác để hiểu là "Con đường, mưa sụt sùi"( lúc nầy động từ sụt sùi biến thành trạng từ chỉ trạng thái). Về ý nghĩa, "sụt sùi" có nghĩa đen và bóng. Nghĩa đen chỉ con đường lầy lội, mưa rơi sụt sùi kéo dài không dứt. Nghĩa bóng chỉ tiếng  khóc sụt sùi của ai đó trong không gian u tịch !mà hẳn tiếng khóc đó chính là tiếng khóc của những người có tấm lòng thương cho các anh hùng vị quốc vong thân!
Trong ca dao tình yêu, ta bắt gặp từ ngữ "sụt sùi"  được sử dụng thật khéo léo đầy cảm xúc:
"Trời chuyển mưa, ba bốn đám sụt sùi
Nhái bầu kêu, trống chùa đánh, dạ em ngùi ngùi nhớ anh".
Trong bài thơ,  "đường" được nhân cách hóa như một con người biết than khóc, sầu khổ, tạo thành  hình ảnh và âm thanh thật đặc sắc khiến lời thơ thêm sinh động, gợi buồn:
"Đường sụt sùi trong mấy nẻo truông lầy".
Tác giả mở bài bằng bốn câu thơ thật ý nghĩa và sinh động.
Mưa dứt hạt, chàng bứơc vào quán cà phê kêu một cốc nhỏ, bất chột nhìn lên thấy cô hàng cà phê sao đẹp quá! Cô hàng "xanh tóc" nói lên vẻ tươi tắn, xinh đẹp, trẻ trung của cô nàng. Chàng ngắm say sưa đôi mắt và hình dáng ấy, cảm thấy ấm trong lòng, chàng tự hỏi: Ta đang say nhan  sắc của nàng hay đang uống nỗi đắng cay của cuộc đời? "Nỗi đắng cay" và "say đôi mắt" đột nhiên hòa quyện vào nhau khiến chàng trai không còn phân biệt được thực và mộng. Chàng nghe như đâu đây có tiếng cười cợt của người đẹp chuốc rượu cho công tử qúi tộc ở một nơi sang trọng hòa lẫn tiếng cười vui rộn rã, tiếng cụng ly khua vang như vỡ ngọc.
Hình ảnh người con gáí đẹp thường hiện diện trong thơ văn Việt Nam. Nó là đặc trưng ước lệ không thể thiếu khiến cho bài thơ trở nên lãng mạn, lâng lâng niềm nhớ hay đau khổ dật dờ. Tác giả Trường Anh tả người con gái đẹp dễ thương qua mái tóc xanh, đôi mắt biếc, còn thi sĩ Quang Dũng  tả đôi mắt người đẹp Sơn Tây bằng những từ ngữ thật đặc sắc qua đó ông gởi gấm tâm sự nhớ thương người "em gái" cũng là người mà tác giả yêu mến:
"Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây..."  
Chỉ vài từ ngữ mà lột tả được vẻ đẹp của đôi mắt và nét kiêu sa của người con gái.
             Tiếng mưa rơi tí tách ngoài hiên đưa chàng trai về thực tại, chàng nói cho chính mình nghe: Cô nàng cà phê ơi! Chúng mình đầu thay lầm thế kỷ, sự nghiệp chẳng ra gì, ta bôn ba khắp chốn rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay! Bạn bè ta bây giờ nơi đâu ? Đứa góc bể đứa chân trời hay lăn lóc chợ đời, chờ cơ hội?
"Cho cốc cà-phê, cô hàng xanh tóc!
Tôi uống đắng cay,hay mắt em say?
Nghe đâu đây ai cười lên vỡ ngọc
Thấy đau chúng mình một kiếp trắng tay
Cố tri mấy đứa giờ đâu… lăn lóc.
Ở chực nằm chờ, hay giạt đó đây"?
Tới đây, tác giả, cũng là chàng trai kia tỏ vẻ bất mãn thế sự tình đời , bèn mượn hình ảnh con cóc trong huyền thoại dân gian để noi lên khả năng làm thơ "con cóc" nhưng đừng tưởng thơ con cóc là dở, vô dụng! bởi con cóc là cậu ông trời, khi nghiến răng thì nổi sóng gió, uy lực đáng nể! ( tác giả vùa vừa khiêm nhượng lại vừa tự tin khả năng của mình).
Rồi ông tự biện hộ: không phải ta chán đời, thua thiệt rồi trách móc thói đời, bởi thực tế có lắm kẻ tài hèn trí mọn nhưng nhờ nịnh hót mà được trọng dụng, trờ nên giàu sang sung sướng, bọn họ chẳng khác chi những thằng hề bất tài,  đóng vai diễn tuồng một cách vụng về. Đoạn thơ nầy phản ảnh cuộc sống của tác giả, ông ông khinh rẻ bọn a dua nịnh hót, bất mãn với bất công xã hội, nạn bè phái ỷ quyền. Ông ra mặt chống đối. Về Tây Ninh dạy học chưa được bao lâu thì bị chèn ép, ông bất đồng ý kiến với cấp trên, lên tiếng phản đối nên bị đày đi Bình Long vùng đất nguy hiểm vì chiến cuộc  ác liệt nơi nầy. Sau 75, một lần nũa vì tánh bộc trực, bất phục ban lãnh đạo nhà trường, ông xin nghĩ hưu về sống thanh bần, nghèo khổ bên ruộng rẫy với bầu rượu túi thơ, hai món nầy làm bạn với ông cho đến cuối cuộc đời!
"Tiền thân chúng mình có là con cóc
Thơ nghiến răng cho trời chuyển mưa bay?
Ta không phải chán đời mà trách móc
Khi những thằng hề không biết múa may ."
    Nầy cô hàng cà phê ơi! hãy rót thêm nữa đi cho đầy cốc để ta bày tỏ niềm tâm sự! Sao em cười mà như khóc vậy?  Ta thấy trên môi em chứa niềm cay đắng ngập tràn! Chàng kể tiếp: Ngày xưa Cẩm Giang chịu nhiều tang tóc, bao chiến sĩ hy sinh, nhiều nhà chánh trị bị đày đọa thân xác, khi họ đứng lên chống Pháp, chân mang cùm lê gót khua rổn rảng không biết ngày nào ra, hay phải chết trong ngục tù! Khi chinh chiến đi qua, khi triều đại suy tàn, cộng thêm sự tàn phá của thời gian và thiên nhiên, các miếu mạo đền đài, di tích lịch sử bị sụp đổ hoang phế, ngã nghiêng. Nhà cửa trốc nóc do chiến tranh bom đạn, điêu tàn lại nối điêu tàn. Mồ lạnh gió lay không ai thăm viếng. Cổng biên thùy vắng ngắt, cột móc bị dời, mất thêm đất. Thời gian đi qua chôn vùi tất cả, xác chết bón phân cây, xanh màu lá tốt:
"Cô hàng xanh tóc, cà-phê đầy cốc,
Miệng em cười, nhạc đắng chở màu cay.
Cẩm-Giang ôi ! đây, ngày xưa tang tóc,
Xiềng khua chân rổn- rảng kiếp đi đày.
Lớp hưng phế xô nghiêng nhà tróc nóc
Mồ những ai nằm trăng lạnh gió lay?
Cổng biên thuỳ, lòng tham luôn dời cọc,
Rồi, với thời gian, người chết, xanh cây!"
C:\Users\Cang Nguyen\Documents\layhinh\hinh852.jpg
Ô kìa ! Cô hàng cà phê, sao em lại khóc? Ta hiểu rồi, em đồng cảm với ta, thương cho những anh hùng hy sinh cho tổ quốc mà nay mồ xiêu mả lạc, hoang phế điêu tàn, thời gian chôn vùi mọi thứ vào cát bụi. Ngoài kia nứơc sông Vàm Cỏ vẫn xuôi dòng bất chấp đổi thay của thời cuộc. Còn em, tuổi thơ bị che lấp,  vì chiến cuộc mà khổ cực,  tuổi xuân bị nhàu nát trong tình cảnh tang thương, cái áo xanh mang hình hài tuổi xuân đó cũng bị phủ mờ bụi mốc , phí một thời tuổi nhỏ đáng yêu.   Ta không biết mai nầy đời em sẽ ra sao?
"Cho thêm nữa cà-phê, sao em khóc ?
Ta hiểu rồi, lòng đã cảm thương vay.
Nhầu nát áo xanh mờ tràn bụi mốc
Chung một thuyền, thơ tâm sự dâng ai.
Nước sông Vàm Cỏ nguồn xuôi, trong lọc,
Có chắc mang hoa về quán ngày mai?"
Thôi, em đừng khóc nữa, theo luật tuần hoàn "thế cùng tắc biến biến tắc thông" hết đêm sẽ tới ngày, thì cũng có ngày vận mạng em sẽ hanh thông! Còn ta người lữ hành cô độc, đã bao năm rồi ta vẫn đi trong cô đơn giữa cuộc đời. Và đêm nay ta dừng chân nằm ngủ, nghe tiếng mưa rơi ngoài hiên!
"Cho thêm nữa đi, và em đừng khóc !
Trời hết đêm, rồi nắng sẽ dâng ngày.
Tôi, tôi là khách lữ hành cô độc
Vỡ lệ nằm nghe mưa quán đêm nay."
Đề tài MƯA cũng được nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng sáng tác thật truyền cảm, nghe nhẹ nhàng mà thắm đậm tình yêu quê hương đất nước. Người "em gái hậu phương", đêm nằm nghe tiếng mưa rơi trên phố vắng mà chạnh lòng thương người chiến sĩ ngày đêm canh gác giặc, chịu lạnh gió mưa, ướt đẫm áo trận. Hy vọng có một lúc nào đó mưa ngừng rơi, chinh chiến không còn, thanh bình trở lại, mời anh về thăm quê em:
          "Trời đã khuya rồi đây, trăng chênh chếch xuyên ánh qua mành.
Trời đã khuya rồi đây, mưa trên xóm xa ánh đô thành.
Đường ngoài kia không xôn xao, không đẹp vì đèn màu.
Ôi! Đường dài hun hút với đêm sâu.
Bước chân ai qua mau, dưới mưa nghe nao nao lẫn tiếng còi tàu thét lâu.
Nằm giữa đêm ngoại ô, nghe mưa rớt trên khóm tre già.
Thầm nhớ ai ngoài xa, đang tranh đấu cho nước non nhà.
Người anh tôi không quen ơi!
Mưa rừng về ngợp trời, mưa làm chi cho ướt áo anh tôi?
Đến mai khi nơi nơi, gió im mưa thôi rơi mời anh qua làng tôi."
(Mưa Đêm Ngoại Ô/ Đỗ Kim Bảng)
          Ở đây có sự tương đồng giữa bài thơ và bài hát: một đàng mưa đêm gợi nhớ những chiến sĩ đã hy sinh vì đại nghĩa , một đàng nghe tiếng mưa đêm thấy thương cho những người chiến sĩ chịu lạnh, đứng gác giặc, giữ gìn quê hương bờ cõi.
            Theo tài liệu của Nguyễn Đức Đông, April 17, 2019 thì:
"Mưa Đêm Nay xuất bản tháng 5 năm 1964, gồm 1000 bản, 900 bản trên giấy thường và 100 bản trên giấy croquis đặc biệt dành cho tác giả, chi phí hơn 10,000 dồng , tính ra tương đương với hai tháng lương dạy học của ông trong thời điểm đó.
Trong đặc san TNMY năm 2005, có trích đăng 2 bài thơ của Trường Anh. Đó là bài Mưa Đêm Nay và Hoa Trang Buổi Sáng.
Mưa Đêm Nay là bài thơ đầu tiên trong thi tập. Có thể nói đây là bài thơ diễn đạt sâu sắc trọn vẹn mọi ngõ ngách tâm tình của nhà thơ hơn tất cả các bài thơ còn lại trong thi tập".
         "Mưa đêm nay" là một bài thơ hay nhưng không hoàn toàn. Tác giả  gởi gấm tâm sự nhân thế của mình trong cơn mưa ở một quán cà phê nhỏ vủng Cẩm Giang. Tiếng mưa rơi gợi buồn trong lòng người lữ khách và trong lòng cô hàng cà phê, nó lại tẩy sạch lớp bụi tang tóc phủ trên những ngôi mồ vô chủ, những cay đắng của cuộc đời trong đó hai phạm trù đối lập cùng hiện hữu: mọt đằng  là tiếng khóc một đằng là tiếng cười vỡ ngọc. Người con gái do xúc động mà khóc, được tác giả nhắc lại hai lần trong điệp khúc: "Cho thêm nữa cà phê, sao em khóc? Cho thêm nữa đi, và em đừng khóc" làm rung lên cảm xúc rất thật, xoáy vào lòng tác giả và người đọc như để chia sẻ nỗi niềm. Mưa Cẩm Giang ! Mưa ngoài trời hay mưa trong lòng đều gieo vào tâm tư người lữ  khách nỗi buồn miên man bất tận!
Bài thơ còn có những đoạn thật hay, như tám câu đầu. Việc sử dụng từ ngữ cũng có nhiều ưu điểm được trình bày ở phần phân tích. Bài thơ được nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ nhạc với giọng ca ngọt ngào truyền cảm của Hoàng Oanh khiến nó như được chấp cánh thăng hoa đến đỉnh cao của nghệ thuật.Tuy nhiên ngoài ưu điễn kể trên, khi đọc kỹ bài thơ, tôi nhận thấy còn vài mảnh vụn , xin được trình bày để các bạn tham khảo.
Thứ nnất: Đem ví dụ "cóc nghiến răng"(Tiền thân chúng mình có là con cóc/Thơ nghiến răng cho trời chuyển mưa bay.) để minh họa cho tính khiêm nhường của tác giả, thật không thích hợp.  Từ "con cóc" nghe thô kệch, thêm vào đó, chữ “nghiến răng” cũng không chuẩn, chữ này ông Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Lê Thánh Tông, dùng thì hay hơn (thơ châm biếm, tự trào ). Ví dụ bài vịnh Con cóc  của vua Lê Thánh Tông:
"Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi,
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi.
Chép miệng nuốt ba con kiến gió,
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời."
Hay:
"Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành
Mắt thời lơ láo mặt thời xanh
Vuốt râu nịnh vợ con bu nó
Quắc mắt khinh đời cái bộ anh."
(Tự trào /Trần Tế Xương)
            Trong câu “Miệng em cười, nhạc đắng chở màu cay”,  chữ "nhạc " này sai, chắc là “nhạt” tức là nhạt nhẽo, chữ T cuối chứ không là chữ C vì ý TA muốn liên kết với cà phê, và miệng môi thì làm gì có âm nhạc ở đó (rất tiếc tôi không có bản gốc  in năm 1964 để đối chiếu). Hay tác giả muốn nói: Miệng em cười như là những nốt nhạc chuyển niềm cay đắng? (tôi thấy cũng không ổn!)
Thứ hai: Gieo vần trắc liên tiếp cuối câu cùng âm vận "OC" trong toàn bài, là điều tối kỵ trong luật hòa âm thi ca  (hòa âm trong câu, đoạn). Trích: ( ai khóc, xanh tóc, lăn lóc, con cóc, trách móc, đầy cốc, tang tóc, tróc nóc, em khóc, bụi mốc, đừng khóc...) vì âm vực cao, nghe chỏi tai, đơn điệu một âm vận.  Âm vận OC còn được lập lại ở giữa câu, như: "Cô hàng xanh tóc, cà phê đầy cốc."
Toàn bài chỗ nào cũng nghe âm thanh LỐC CỐC liên hồi , hỗn độn!
Thứ ba: Vài câu tối nghĩa
a. Câu “Lớp hưng phế xô nghiêng nhà tróc nóc” tối nghĩa quá, không hiểu tác giả muốn nói gì.
b. Câu “Nhầu nát áo xanh, mờ tràn bụi mốc” khó hiểu và tối nghĩa, nó không ăn khớp hay liên kết gì với câu trên “ta hiểu rồi lòng đã cảm thương vay”.
Những mảnh vụn khó hiểu trong bài thơ nầy liệu có làm suy giảm giá trị bài thơ  không ? Nếu có thì ở mức độ nào? Câu trả lời xin dành cho bạn đọc.
Nguyễn Cang (30/5/2019)
   (ảnh: Google )


.