3 thg 10, 2017

12 câu nói thể hiện rõ khí chất của một người cao quý, từng chữ đều rung động tâm can

Sinh ra trên đời, người ta vốn chỉ là một hạt bụi. Số kiếp ngắn ngủi vô cùng, vòng xoay cuộc sống cứ dẫn ta đi mãi. Lạc bước trăm năm rồi cũng đến lúc dừng chân. Mộng đẹp thì không bền, tỉnh giấc sẽ tàn phai, họa chăng chỉ còn tiếng thở dài trong đêm hư tĩnh… 
1. Đừng khóc vì mọi thứ đã kết thúc. Hãy cười vì nó đã xảy ra. Tiếc nuối chỉ đào sâu phiền não, mỉm cười bước qua, ngẩng mặt lên ắt sẽ thấy cầu vồng chiếu rọi trên đầu.
2. Có những người không đợi được, chỉ có thể bỏ đi. Có những thứ không thể nào có được, chỉ có thể từ bỏ. Có những chuyện đã qua, hạnh phúc hay đau xót, chỉ có thể chôn xuống đáy lòng. Có những muộn phiền, bất lực chỉ có thể tự mình tiêu tan. Có những nhớ nhung không thể nào giải tỏa, nói ra chi bằng giữ lại trong lòng… Trên đời thực ra có rất nhiều việc không cần để tâm, có để tâm cũng chẳng thể làm gì được. Chi bằng hãy buông xả, tùy duyên.
3. Hoa nở, ta sẽ vẽ hoa. Hoa tàn, ta sẽ vẽ chính mình. Người đến bên thì ta đương nhiên vẽ người. Người đi rồi, ta lại vẽ một bức tranh hồi ức.
4. Nhân sinh vô thường, thế sự vốn là khó đoán. Người bạn thân thiết nhất hôm nay còn khỏe mạnh nhưng rất có thể ngày mai đã rời bỏ ta đi, người yêu hôm nay còn tha thiết chẳng rời nhưng rất có thể ngày mai sẽ quay lưng, thay lòng đổi dạ. Kiếp người nhỏ bé, yếu mềm biết bao nhiêu. Trăm năm qua đi, bạn chẳng giữ lại được gì, càng không giữ lại được một trái tim đã thay đổi.



5. Cuộc đời ta đi qua ngàn vạn người nhưng thế giới này chỉ có một người sinh ra là để dành cho bạn. Bạn cũng là vì người đó mà sinh ra. Gặp được nhau rồi thì chính là may mắn. Hãy biết trân quý phúc phận của nhau. Buông tay rất dễ, cùng nhau bước qua đoạn đường dài ôi sao thật khó khăn!
6. Đời người ta giống như tấm cửa kính nhuộm màu. Họ bừng sáng và lấp lánh khi trời nắng. Nhưng khi mặt trời lặn, vẻ đẹp thực sự chỉ hiển lộ nếu có ánh sáng hắt ra từ bên trong.
7. Sinh ra mà đã biết là bậc trên, học rồi mới biết là bậc thứ. Gặp cảnh khốn rồi mới chịu học lại còn thấp hơn nữa. Thấp nhất là gặp cảnh khốn rồi mà vẫn không chịu học (Khổng Tử).
8. Ta có thể giữ đồng hồ cát trong tay nhưng không thể ngăn nhịp chảy đều đặn, vô tình của thời gian. Đắm chìm trong giấc mộng phồn hoa, hỏi mấy ai dám cởi bỏ chiếc áo khoác hư vinh kia mà nhìn thấu lòng mình? Hỏi mấy ai có thể dửng dưng trước danh lợi, sống đạm bạc mà vẫn hành thiện, trong gian khó mà vẫn lạc quan giữa chốn đô hội, hoa lệ kia đây?
9. Lòng tin giống như một tờ giấy, một khi đã bị nhàu thì dù có vuốt cho phẳng mấy cũng không thể khôi phục vẻ ban đầu.
10. Điều đáng bi ai nhất của người phụ nữ không phải là tuổi xuân già đi, mà là đánh mất chính mình. Điều đáng tiếc nhất của người của phụ nữ không phải là má hồng không còn, mà là lòng tự tin không có. Một người phụ nữ có tâm hồn là một người có sức quyến rũ từ bên trong. Một người phụ nữ có tín ngưỡng là một người có năng lượng tích cực.
Một người phụ nữ có tín ngưỡng, là một người phụ nữ năng lượng tích cực (Ảnh minh họa)
Một người phụ nữ có tín ngưỡng là một người có năng lượng tích cực (Ảnh DKN)

11. Giữa người với người chính là một loại duyên phận. Giữa lòng với lòng chính là một loại giao lưu. Giữa yêu thương và yêu thương chính là một loại tình cảm. Giữa tình cảm và tình cảm chính là một con tim chân thành. Giữa lỗi lầm và lỗi lầm chính là một sự tha thứ.
12. Tri kỷ trong đời thực khó kiếm? Quen biết khắp thiên hạ, tri kỷ không mấy người. Nhưng tìm được rồi thì đúng là niềm vui bất tuyệt, chính là như bất ngờ gặp được một mảnh tâm hồn còn thiếu của ta. “Rượu gặp bạn hiền nghìn chén ít. Lời không hợp ý nửa câu nhiều“. Người tri kỷ và ta ngồi dưới bóng trăng rằm, thưởng một chén trà thơm, bàn bàn luận luận chuyện cổ kim, nói nói cười cười tỏ tình tri ngộ. Người đi, dặm hồng bụi cuốn, áo bào phôi pha. Ta đưa người ngàn dặm cũng phải dừng bước biệt ly. Chân trời góc bể, hôm sớm sau này, lấy ai mà tỏ lòng tri âm tri kỷ nữa?

Văn Nhược (daikynguyen.com )

VỀ LẠI BIÊN HÒA - THơ Hà Thu Thủy



Về lại Biên Hòa thăm sông Đồng Nai
Bến cũ ngày xưa hoàng hôn ráng đỏ
Bên đây dòng sông nhin sang bên ấy
Mùa thu trôi trôi theo bóng con đò.
Về lại Biên Hòa đi qua đường xưa
Con dốc học trò mang tên Kỷ Niệm
Chiều sang thu lá vàng mang nỗi nhớ
Em tan trường nối con dốc dài thêm.
Về lại Biên Hòa thăm ngôi trường xưa
Vào lớp cũ nhìn ghế bàn thân thuộc
Chút bụi phấn còn vương trên khung cửa
Thầy cô ơi ! Bao thương nhớ bồi hồi.
HÀ THU THỦY

Vanuatu khẩn cấp sơ tán người dân vì núi lửa

Bộ Quốc phòng và Ngoại giao Úc đã gửi tàu HMAS Choules tới Ambae, Vanuatu, Thái Bình Dương vào hôm chủ nhật (1/10) nhằm giúp chính quyền địa phương sơ tán tất cả 11.000 cư dân do lo ngại núi lửa phun trào, ABC đưa tin. 
Hôm thứ 6 (29/9), Chính phủ Cộng hòa Vanuatu đã thông báo toàn thể 11.000 cư dân trên đảo di tản. Một phần dân cư đã bay sang các vùng khác, hàng ngàn người đã đi đến các khu trú ẩn khẩn cấp để chờ di tản toàn bộ, theo Reuters. Chính phủ liên bang Úc đã cử tàu Hải quân cùng với các chuyên gia và vật tư và các tàu thuyền nhỏ để hỗ trợ.
Radio New Zealand dẫn lời nhà nghiên cứu núi lửa Brad Scott cho biết khí dung nham được quan sát đang bay khoảng 300 feet (khoảng 0,9 km) trong vài giây. Sự phun trào núi lửa đã gây ô nhiễm nguồn nước trên đảo, khiến hàng ngàn người thiếu nước sạch.
“Nước là điều quan trọng nhất, được đặt lên hàng đầu tại ngay thời điểm này”, Reuters dẫn lời đại diện Tổ chức Chữ Thập đỏ cho biết.
Tàu HMAS Choules tới Vanuatu để cứu trợ cư dân chạy nạn núi lửa (Ảnh: abc)
Chính phủ Liên bang Úc đã hỗ trợ 250.000 USD để chi tiêu cho các vật dụng khẩn, bao gồm thực phẩm, nước, lều trú ấn và thiết bị vệ sinh. Lực lượng phòng vệ cũng chuẩn bị máy bay và trực thăng trong trường hợp cần thêm hỗ trợ.
Núi lửa Manaro Voui đã bắt đầu sôi ùng ục từ tháng 9, Reuters cho biết. Các núi lửa Ambrym và Lopevi trên đảo Vanuatu cũng đang sôi, theo Radio New Zealand.
Hàng hóa cứu trợ từ quỹ Australia Aid (Ảnh: abc)
Núi lửa Manaro hoạt động ngày càng tăng trong tuần qua và vẫn tiếp tục xu hướng, làm gia tăng quan ngại về một vụ phun trào lớn. Đảo Ambae có diện tích khoảng 400 km vuông và là 1 trong khoảng 65 hòn đảo có người sinh sống tại các quốc gia thuộc Thái Bình Dương.
Núi lửa Ambae, (Ảnh: New Zealand Defense Force via Associated Press)
An Thanh

2 thg 10, 2017

SỨC MẠNH CỦA HIỆN TẠI

SỨC MẠNH CỦA HIỆN TẠI 
(The Power Of Now) 
Tác giả: Eckhart Tolle 
Dịch giả: Diện Mục Nguyễn Văn Hạnh
LỜI GIỚI THIỆU
 
Tôi rất vui mừng khi được tham gia biên dịch và hiệu đính tác phẩm “Sức Mạnh của Hiện Tại” này vì đây là cuốn sách của tác giả Eckhart Tolle mà tôi rất yêu thích. Ngay từ khi mới đọc qua lần đầu bằng nguyên bản tiếng Anh khi sách mới phát hành, tôi cảm thấy như mình vừa được ai cất đi một gánh nặng ở nội tâm. Có một cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát ở trong tôi vì rõ ràng có rất nhiều điều bế tắc ở trong lòng vừa được đả thông. Trong thời gian qua, cuốn sách này đã giúp tôi hóa giải những vấn đề xảy ra trong gia đình, khám phá rất nhiều điều thú vị về bản thân và xây dựng được những quan hệ thân thiện với những người bạn và ở nơi làm việc.
 
Tiếp xúc với năng lực của Hiện tại chính là cách sống sâu sắc với những gì đang có mặt trong Phút Giây Hiện Tại (Hiện Pháp Lạc Trú) mà Đức Phật đã dạy. Quả thực đời sống của chúng ta chỉ có thể xảy ra trong phút giây này. Tôi còn nhớ lần đầu khi trực nhận được điều này bỗng dưng trong tôi như có một chấn động lớn: Vì hai mươi năm, ba mươi năm cuộc đời của tôi có thể trôi qua trong quên lãng, nếu ngay trong phút giây này, tôi đang bị những ám ảnh của quá khứ hay những lo lắng về tương lai lôi kéo sự chú tâm của tôi. Tôi có thể dễ dàng đánh mất cuộc đời mình trong lối “sống say, chết mộng”.
 
Trong từng chương, Eckhart Tolle chỉ ra những sai lầm căn bản trong nhận thức của chúng ta. Một trong những sai lầm đó là đồng hóa mình với những khổ đau của quá khứ, hay những suy tư, lo sợ vẩn vơ về tương lai ở trong đầu mình. “Sức Mạnh của Hiện Tại” được viết một cách súc tích và thâm thúy nên nhiều khi ta chỉ cần đọc một câu hay một đoạn ngắn thì đã cảm thấy vừa đủ, vì quả thực chúng ta cần có không gian để chiêm nghiệm những điều sâu sắc mà tác giả đã đưa ra. Nhờ sử dụng ngôn ngữ đương đại nên “Sức Mạnh của Hiện Tại” dễ dàng đi vào lòng độc giả. Cuốn sách này có năng lực rất lớn để giúp bạn chuyển hóa khổ đau và đưa bạn đến giải thoát. Có nhiều lúc tôi không đọc nhưng chỉ muốn cầm cuốn sách này trên tay những khi đang ngồi trên xe điện ngầm trên đường đến sở làm, và tôi có thể cảm nhận được năng lượng chuyển hóa kỳ diệu của cuốn sách. “Sức Mạnh của Hiện Tại” sẽ rất hữu ích và thực dụng nếu bạn đang có những khó khăn trong đời sống cá nhân, hay đời sống vợ chồng; cuốn sách này sẽ giúp bạn vượt qua những khó khăn đó, xây dựng lại mối quan hệ ngày một tốt đẹp hơn. Thậm chí quyển sách này còn có khả năng giúp bạn thực hiện những ước mơ, hoài bão sâu kín ở trong bạn bấy nay. Và xa hơn nữa, “Sức Mạnh của Hiện Tại” có thể giúp bạn thực hiện được mục đích tối hậu của một con người là nhận thức được bản chất chân thực của mình là gì.
 
Tôi cảm thấy rất may mắn đọc được tác phẩm đầu nổi tiếng của Eckhart Tolle. Dù còn khá trẻ, ông đã được xem là một trong những vị thầy lớn trong lĩnh vực tâm linh. Cái quý của người phương Tây là khả năng truyền đạt, cho nên khi đọc Eckhart Tolle, chúng ta dễ dàng nhận ra những chân lý sâu sắc và thâm diệu của Đạo học phương Đông qua sự diễn bày rất mạch lạc, rõ ràng của một vị thầy phương Tây.
 
Nhờ sự giúp đỡ tận tâm và chân tình của các anh,chị ở Trí Việt – First News, những đóng góp của cô Nguyễn Ngọc Thủy và anh Đỗ Tâm Tuy, bản dịch của cuốn sách này đã được hoàn thành tốt đẹp. Hy vọng rằng khi độc giả để tâm chiêm nghiệm những điều ông Eckhart Tolle chia sẻ và thực hành những bài tập được đề ra trong cuốn sách này, những tình huống thử thách trong đời sống sẽ trở thành cơ hội để chúng ta thực tập và khám phánhững viên ngọc quý vốn sẵn có trong mỗi người.
 
DIỆN MỤC NGUYỄN VĂN HẠNH(*)
---------------------------
(*) Diện Mục Nguyễn Văn Hạnh: Giám đốc và là người sáng lập Trung Tâm Khám Phá Chính Mình (Virginia, Hoa Kỳ).







Bản tiếng Anh có phụ đề:



Gửi kèm 2 bản dịch

 
Vũ Thất
neo

Mừng Sinh Nhật Anh Nguyễn Hiếu Học K.2 -SPSG

Anh Nguyễn Hiếu Học K.2-SPSG mừng SN lần thứ 80 (tuổi ta ) ,trong bạn bè k.2,dù lớn tuổi,năm qua sức khỏe suy yếu  anh Học cũng say mê nghiên cứu,viết lách và  đang  là HV hội Văn học Nghệ Thuật Bình Dương
Ngày 1/10/2017 anh tổ chức mùng SN 80 tuổi tại nhà riếng ở Bình Dương,Có 1 số bạn bè SPSG k.2 tham dự: Vợ chồng anh Đoàn Quốc Tuấn,anh Nguyễn văn Xưởng từ Thủ Đức,Ngân Triều từ Hậu Nghĩa-LA.,Trịnh văn On từ Biên Hòa,Nguyễn Minh Sao từ Đồng Tháp.
Buổi tiệc diễn ra rất ám cúng,thân mật, có những tiết mục thơ nhạc rất hay ,các bạn k.2 mang đến tặng anh 1 bộ ấm trà Minh Long kỷ niệm.Anh Đoàn quốc Tuấn ghi lại những giây phút đáng nhớ.
 Đường vào nhà anh Học
Bánh mừng SN (cho thấy CN rất thich thơ nhạc )
Ảnh dưới là bạn bè.



5 đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại


Biên dịch: Trung Hiếu
Trong tất cả các đế chế từng nổi lên và thịnh vượng trên Trái Đất này, đâu là 5 đế chế hùng mạnh nhất? Làm thế nào có thể lựa chọn ra 5 đế chế trong hàng trăm đế chế từng ngự trị trong 5.000 năm qua? Bất cứ công thức nào về “5 đế chế hùng mạnh nhất” đều luôn tiềm ẩn yếu tố chủ quan, bởi lẽ tất cả các đế chế đều có thời vinh quang và có tầm ảnh hưởng theo cách riêng của mình.
Nhưng nếu xét trên nhiều tiêu chí thì có một số đế chế nổi bật hẳn lên vì chúng rất mạnh, lớn và có ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn của lịch sử nên xứng đáng được gọi là vĩ đại nhất.
Cây bút Akhilesh Pillalamarri trên tạp chí National Interest (Mỹ) đã lựa ra 5 đế chế như thế. Tác giả Pillalamarri đã loại Trung Quốc và Ấn Độ ra khỏi “top 5 đế chế” này, bởi theo tác giả, tầm ảnh hưởng của đế chế Trung Hoa và Ấn Độ chỉ ở mức khu vực:
Đế chế Ba Tư thứ nhất

Đế chế Ba Tư của triều đại Achaemenid được Cyrus Đại đế thành lập vào khoảng năm 550 trước Công nguyên. Vị vua này có tước hiệu Vua của các Vua (Shahanshah). Mặc dù Đế chế Ba Tư có kết thúc bi thảm trong tay Alexander Đại đế (của Vương quốc Macedonia) vào năm 330 trước Công nguyên, đế chế này vẫn để lại di sản dài lâu cho sự phát triển sau này của các nền văn minh thế giới và các đế chế tương lai. Đế chế Ba Tư là một đế chế chủ chốt trong lịch sử loài người, bởi lẽ đây là đế chế thực sự đầu tiên – nó đã đặt ra các chuẩn mực về thế nào là đế chế cho các đế chế tương lai.
Đế chế Ba Tư nói trên tồn tại vào một thời điểm độc nhất vô nhị trong lịch sử, khi phần lớn thế giới văn minh có người sinh sống đều tập trung ở Trung Đông hoặc gần Trung Đông. Kết quả là, Đế chế Ba Tư khi thống trị hầu hết Trung Đông thời điểm đó thì cũng đồng thời cai trị một tỷ lệ dân số thế giới lớn hơn bất cứ đế chế nào khác trong lịch sử. Cụ thể, vào năm 480 trước Công nguyên, đế chế này có dân số xấp xỉ 49,4 triệu người, bằng 44% dân số toàn thế giới lúc đó.
Đế chế Ba Tư là đế chế đầu tiên kết nối nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á, Ấn Độ, châu Âu và vùng Địa Trung Hải. Đế chế này đã khơi mào cho khái niệm đế chế ở những nơi như Hy Lạp và Ấn Độ.
Một đế chế lớn như vậy chỉ có thể quy tụ lại được nhờ vào sức mạnh quân sự. Các thành tựu quân sự của Đế chế Ba Tư là rất đáng nể, dù rằng chúng hay bị lãng quên do thất bại bất ngờ của đế chế này trước các đội quân của Alexander Đại đế. Các chiến dịch khác nhau của Ba Tư đã chinh phục được nhiều nền văn minh tiên tiến của thế giới khi ấy như là Babylon, Lydian, Ai Cập, và khu vực Hindu của Gandhara nằm ở nước Pakistan ngày nay.
Loại bỏ các yếu tố phóng đại và diễn giải sai thì người Ba Tư vẫn tin rằng họ đã đạt được các mục tiêu của mình ở Hy Lạp và rằng có nhiều người Hy Lạp sống trong Đế chế Ba Tư hơn là sống bên ngoài. Đế chế Ba Tư đã mở ra cả một thời kỳ hòa hợp và hòa bình ở Trung Đông trong 200 năm – một chiến tích hiếm khi được lặp lại.
Xét về mặt khái niệm đế quốc thì di sản của Đế chế Ba Tư để lại cho thế giới bao gồm việc sử dụng một mạng lưới đường bộ, hệ thống bưu chính, một ngôn ngữ hành chính thống nhất (tiếng Aramaic dùng trong toàn đế chế), chế độ tự trị dành cho các dân tộc thiểu số, và một chế độ quan liêu. Tôn giáo Ba Tư – Bái Hỏa giáo – có ảnh hưởng đến sự phát triển của các khái niệm chính yếu như tự do ý chí, thiên đường và địa ngục trong các tôn giáo Abraham cho tới đạo Do Thái.
Đế chế La Mã

Đế chế này thì rõ ràng có tầm ảnh hưởng lớn. Đế chế La Mã đã từ lâu là đế chế tinh hoa tiêu biểu cho thế giới phương Tây. Nhưng tầm quan trọng của nó không phải là do phương Tây tự nhận như vậy: Đế chế La Mã thực sự là một trong những đế chế lớn nhất của lịch sử nhân loại. Người La Mã đã thể hiện một năng lực đáng kinh sợ trong việc chinh phục và giữ được một vùng lãnh thổ vô cùng rộng lớn trong khoảng thời gian tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm nếu tính cả Đế chế Đông La Mã (Đế chế Byzantine). Điều đáng chú ý là đế chế này được cố kết lại không chỉ bằng sức mạnh bạo tàn. Một khi đã bị chinh phục, người dân trong đế chế đó đều mong ước trở thành người La Mã – điều này đồng nghĩa với việc tham dự vào một nền văn hóa tinh tế, tao nhã kinh điển.
Thế giới hiện đại có một số đặc điểm kế thừa từ Đế chế La Mã. Người La Mã chiếm lấy rồi phát huy nền văn hóa bản địa của Hy Lạp, truyền lại cho các thế hệ sau nền kiến trúc, triết học và khoa học của Hy Lạp. Người La Mã sau khi theo Kitô giáo đã nâng tôn giáo này từ một giáo phái nhỏ thành một trong các tôn giáo lớn của thế giới.
Luật La Mã cũng ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống pháp lý sau này của thế giới phương Tây. Các thể chế La Mã cũng truyền cảm hứng cho hệ thống chính quyền của nhiều quốc gia hiện đại. Mặc dù Hy Lạp nổi tiếng là nơi “khai sinh chế độ dân chủ”, những người sáng lập ra nước Mỹ chủ yếu chịu ảnh hưởng của thực tiễn ở nước Anh và La Mã. Trên thực tế, nhiều vị trong số đó thường bày tỏ mình không thích cuộc thử nghiệm dân chủ ở Athens, đồng thời bày tỏ ngưỡng mộ hình thức quản trị hỗn hợp của La Mã nơi các thành phần quân chủ, quý tộc và dân chủ chia sẻ quyền lực. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập của Mỹ gần gũi với sự phân chia thể chế của La Mã. Khi Cộng hòa La Mã chuyển thành Đế chế La Mã, ý tưởng và quyền hành của Caesar đã truyền cảm hứng cho các bậc cai trị sau này.
Người La Mã là một dân tộc kiên cường. Họ có khả năng hồi phục sau vô số bước thụt lùi, tập hợp lại rồi đánh bại kẻ thù. Mặc dầu vị tướng Carthage là Hannibal gần như phá hủy hoàn toàn La Mã sau trận chiến Cannae năm 216 trước Công nguyên, người La Mã cuối cùng vẫn có thể phái một đội quân tới Carthage để để đánh bại thành bang này vào thời điểm 14 năm sau đó. Về mặt quân sự, các đội quân lê dương của La Mã thống trị trong nhiều thế kỷ, giúp La Mã thống trị gần như tất cả các dân tộc văn minh khác ở Địa Trung Hải và Cận Đông (ngoại trừ đế chế Ba Tư) trong hàng trăm năm, và chỉ phải đối mặt với một số cuộc đột kích nhỏ của các bộ lạc kém tổ chức.
Khi Đế chế La Mã thực sự sụp đổ, thì đó chủ yếu là do khủng hoảng bên trong và nội chiến hơn là do cuộc xâm chiếm của các bộ tộc German. Đế chế Đông La Mã kéo dài tới năm 1453, mang lại cho lịch sử chính trị của nhà nước La Mã một tuổi thọ lớn tới hai thiên niên kỷ.
Vương quốc Caliphate

Đế chế Arab, còn được biết đến với cái tên Caliphate, là một thể chế chính trị do nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad sáng lập. Đế chế này bao gồm hầu hết bán đảo Arabia vào thời điểm Muhammad qua đời vào năm 632. Gọi nó là Đế chế Arab sẽ hợp lý hơn gọi là Đế chế Hồi giáo, bởi lẽ trong khi đạo Hồi có gốc gác và lan truyền rộng ra từ đế chế này, về sau có thêm nhiều đế chế của người Hồi giáo và do người Hồi giáo thống trị nhưng không phải là Arab.
Muhammad được kế vị bởi 4 vị Caliph được lựa chọn qua cơ chế đồng thuận cho đến năm 661. Sau đó triều Caliphate Umayyad cha truyền con nối thống trị tiếp cho đến năm 750, kế tiếp là triều Caliphate Abbasid, mặc dù các cuộc chinh phục đã kết thúc vào thời điểm này.
Đế chế Arab về thực chất chấm dứt tồn tại vào khoảng năm 900, mặc dù triều Abbasid duy trì vai trò tôn giáo với tư cách là các Caliph ở Baghdad cho đến tận khi thành phố này bị người Mông Cổ phá hủy vào năm 1258. Sau năm 900, đế chế này bị tan rã về chính trị, với sự trỗi dậy của nhiều triều đại đối nghịch, trong đó có nhiều đối thủ gốc Turk và Ba Tư, cũng như các Caliphate kình địch ở Tây Ban Nha và Ai Cập.
Tuy nhiên, trong thời của mình, Đế chế Arab vẫn là phi thường, với các chiến công và di sản của nó. Điều ngưỡng mộ là, một dân tộc kiểu bộ lạc, có tổ chức lỏng lẻo nằm ngoài rìa của văn minh thế giới lại có thể đánh bại Đế chế Byzantine và lật đổ Đế chế Ba Tư triều Sassanid – hai đế chế này đều có dân số và nguồn lực khổng lồ áp đảo so với Sa mạc Arabia.
Các cuộc chinh phục của Arab là một ví dụ tiêu biểu chứng minh sự nhiệt tình về hệ tư tưởng có thể bù đắp cho sự yếu kém về công nghệ và tổ chức. Các vị tướng Arab thuộc thời kỳ này xứng đáng được xếp vào hàng các thiên tài quân sự vĩ đại nhất của thế giới, đặc biệt là vị Caliph thứ 3, Omar, người đã chinh phục khu vực từ Ai Cập tới Ba Tư trong 10 năm. Trong 100 năm, Đế chế Arab đã phát triển lên quy mô lớn gấp vài lần Đế chế La Mã ở giai đoạn đỉnh cao.
Nhờ vị trí của mình mà Đế chế Arab, cũng như Đế chế Ba Tư trước đó, đã kết nối các trung tâm văn minh thế giới ở châu Phi, châu Âu, Trung Á, Ấn Độ và Trung Quốc. Kết quả, lần đầu tiên hàng hóa và tri thức từ tất cả các vùng này có thể kết hợp với nhau, mang lại các khái niệm mới như là algebra (Đại số).
Di sản cuối cùng của Đế chế Arab, đương nhiên, chính là đạo Hồi, mà ngày nay có hơn một tỷ tín đồ.
Đế chế Mông Cổ

Đế chế Mông Cổ là một đế chế khác nằm ở ngoại vi. Đế chế này gây bất ngờ lớn khi nó đánh bại được các kẻ thù mạnh và đông dân hơn rất nhiều. Đây là đế chế có lãnh thổ liên tục lớn nhất thế giới và là đế chế sử dụng đòn khủng bố với tất cả các kẻ thù.
Đế chế do thủ lĩnh Mông Cổ Temujin lập ra. Thủ lĩnh này nắm tước hiệu Thành Cát Tư Hãn vào năm 1206. Đế chế Mông Cổ đầu tiên mở rộng bằng cách “tỉa dần” từng phần của lãnh thổ Trung Hoa như các bộ lạc thảo nguyên từng làm trước đó.
Nhưng khoảnh khắc bước ngoặt của Đế chế Mông Cổ là khi các sứ giả của họ bị các lãnh đạo của Đế chế Khwarazmian láng giềng (bao gồm Iran, Afghanistan, và Central Asia) giết chết. Thành Cát Tư Hãn coi đây là một sự sỉ nhục lớn và sự trả thù sau đó của Mông Cổ đã phá hủy hoàn toàn Trung Á, chấm dứt kỷ nguyên vàng của nó. Các cuộc xâm lược do Mông Cổ tiến hành cộng với việc thiết lập các tuyến hàng hải châu Âu sau đó (giúp tránh phải đi qua Con đường Tơ lụa) đã đặt dấu chấm hết cho vài trò quan trọng của khu vực Trung Á.
Mặc dù chỉ có khoảng 2 triệu người Mông Cổ trên toàn thế giới khi ấy, họ vẫn chính phục được hầu hết Trung Đông, Nga, và Trung Quốc. Vào thời đỉnh cao, họ chỉ vấp phải một số thất bại nhỏ ngoại trừ cuộc xâm lược Nhật Bản không thành công và trận chiến Ain Jalut năm 1260 chống lại người Mamluk cầm quyền ở Ai Cập.
Làm thế nào mà người Mông Cổ lại có thể đạt được các chiến tích này? Bất chấp dân số nhỏ, người Mông Cổ có thể tung ra trận các đội quân lớn và cơ động bởi họ mang theo các đàn gia súc và duy trì năng lượng cho binh sĩ bằng thịt ngựa. Vào kỷ nguyên chưa có công nghệ đông lạnh, về mặt hậu cần, người Trung Quốc rất khó tung ra trận một đội quân tương xứng.
Các cuộc chinh phục của Mông Cổ đã lấy đi mạng sống của hàng triệu người. Nhưng sau đó Mông Cổ đã mở ra một kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng khi thương mại mở rộng trên lãnh thổ rộng lớn của họ. Tuy nhiên về lâu dài, người Mông Cổ tỏ ra kém hiệu quả trong việc quản lý đế chế của mình – đế chế này cuối cùng bị chia tách thành 4 vương quốc khan, rồi sau đó mỗi vương quốc này lại bị tan rã hoặc chia nhỏ hơn.
Đế chế Anh

Người Anh thực sự góp phần quan trọng tạo nên thế giới hiện đại. Các thể chế dân chủ đại diện của Anh truyền cảm hứng cho các triết gia khai sáng Pháp như là Montesquieu sáng tạo ra các học thuyết chính trị hiện đại có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia châu Âu hiện đại.
Các đặc điểm chính của Mỹ – sự gắn bó chặt với chủ nghĩa tự do, tư tưởng pháp trị, quyền dân sự và thương mại – được kế thừa từ người Anh và đã lan rộng ra thế giới. Hầu hết các đặc điểm này đều tiến hóa một cách hữu cơ qua lịch sử dài lâu của nước Anh hơn là nhờ vào kết quả của một kế hoạch tổng thể nào đó.
Cũng chính các đặc điểm trên đã giúp Đế chế Anh phát triển, thịnh vượng và giữ được lãnh thổ do nó kiểm soát. Hơn nữa, tấm gương của nó được học tập rộng rãi, cho dù là vì sức mạnh tài chính hay hải quân của đế chế này.
Vào thời đỉnh cao của mình trong thế kỷ 20, Đế chế Anh trải dài qua 1/4 thế giới – đế chế lớn nhất (về diện tích) trong lịch sử. Chiến tích này đạt được phần lớn là nhờ các thắng lợi về mặt tổ chức và sức mạnh tài chính của nước Anh, rồi mới đến vai trò của một quân đội lớn. Chẳng hạn việc Anh chinh phục Ấn Độ chủ yếu được tiến hành bởi những người lính Ấn Độ nhận lương và bổng lộc của người Anh để phục vụ Anh. London cũng thể hiện khả năng xuất sắc trong việc xử lý nhiều cuộc chiến cùng một lúc. Người Anh hiếm khi thua trận.
Kết luận
Vậy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ so với các gã khổng lồ này thì như thế nào? Mỹ chắc chắn là quốc gia mạnh nhất thế giới hiện nay xét về mặt quân sự. Mỹ kết hợp tài năng thương mại của người Anh với chủ nghĩa tự do và các nguồn lực cấp độ lục địa. Giống người La Mã, người Mỹ có nền văn hóa hấp dẫn. Giống người Mông Cổ, Mỹ có thể tung ra các đòn hủy diệt. Tương tự người Arab, Mỹ đã lan truyền một ý thức hệ phổ quát ra toàn cầu. Như Đế chế Ba Tư, Mỹ kết hợp các nền văn hóa khác nhau và kết nối các khu vực lại.
Với tất cả các lý do này, Mỹ có một tương lai dài phía trước với tư cách một cường quốc lớn. Thế nhưng Mỹ cần phải nhớ lại các bài học của các đế chế xưa nếu không muốn lặp lại các sai lầm của chúng.
Bất chấp việc có một đội quân hùng mạnh, thành La Mã vẫn thất thủ. Sự chia rẽ và lục đục trong nội bộ có thể tiêu diệt cả những đế chế mạnh nhất. Người Ba Tư bị chinh phục không phải do họ yếu mà là do giới lãnh đạo của họ đã thất bại. Mặc dù người Mông Cổ giành chiến thắng trong chiến tranh, họ lại không thể giành thắng lợi trong thời bình và cuối cùng đã không thể duy trì lâu dài chế độ của mình ở bất cứ đâu. Người Arab tạo ra một nền văn minh rực rỡ, nhưng những kẻ mới đến đã hấp thụ các mặt tích cực của họ rồi đẩy họ xuống “chiếu dưới”. Cuối cùng, người Anh đã kiệt sức khi ôm đồm làm nhiều thứ cùng một lúc, cố gắng giương cao lợi ích của họ, trật tự toàn cầu, và hệ thống châu Âu…

Xem thêm : Đế chế có thời hạn

1 thg 10, 2017

Điều trị Tây y nguy cơ khủng hoảng vì siêu khuẩn kháng thuốc, Đông y có giải pháp gì hay?

Tình trạng lạm dụng kháng sinh đã làm xuất hiện siêu vi khuẩn kháng thuốc, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo đây là một trong những đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu.
Theo WHO, có khả năng tốc độ gia tăng sự kháng thuốc của vi khuẩn sẽ vượt quá tiến trình điều chế thuốc kháng sinh vốn đang diễn tiến rất chậm.
Nguy cơ ‘ngày tận thế’ của kháng sinh
Cha đẻ của kháng sinh, người phát hiện ra Penicillin , ông Alexander Fleming ngay từ năm 1946 đã từng cảnh báo: Lạm dụng kháng sinh có thể dẫn tới tính kháng thuốc của vi khuẩn. “Những người không ngần ngại sử dụng penicillin một cách tùy tiện sẽ phải chịu trách nhiệm cho những người bị giết bởi vi khuẩn kháng penicillinTôi hy vọng chúng ta có thể tránh được loại bất hạnh này phát sinh”, ông nói với Thời báo Newyork.
Alexander Fleming (Ảnh dẫn theo entornointeligente.com)

Nhưng bất hạnh vẫn cứ phát sinh. Hiện nay nhiều khu vực đã phát hiện sự xuất hiện siêu vi khuẩn. Một báo cáo nghiên cứu cho biết, nếu các quốc gia toàn cầu vẫn không vì vấn đề lạm dụng kháng sinh… mà hành động, ước tính đến năm 2050, cứ mỗi 3 giây siêu vi khuẩn lại cướp đi sinh mạng của 1 bệnh nhân.
BBC Anh quốc ngày 31/10/2016 có bài viết “Kháng sinh đã đến tận thế chưa?”, lo âu trước nguy cơ ngày tận thế của kháng sinh, trong đó có đoạn: “Ở Ấn Độ, Trung Quốc, Papua New Guinea và Nga, số người nhiễm lao phổi kháng thuốc hiện đang gia tăng với tốc độ đáng sợ”.
Lạm dụng kháng sinh dẫn tới sự xuất hiện của khuẩn kháng thuốc. (Ảnh dẫn theo scoop.it)

Theo đà kháng sinh bị sử dụng một cách rộng rãi, nhân loại đã bị đi lệch sang một hướng cực đoan; lạm dụng kháng sinh dẫn tới sự xuất hiện của khuẩn kháng thuốc. Điều này có nghĩa là nhân loại sẽ trở về thời đại chưa có kháng sinh, chính là nhiễm khuẩn nhẹ đều có thể mất đi tính mạng. Vấn đề này thực sự nghiêm trọng hơn, bởi lẽ các chủng vi khuẩn đã được rèn luyện và nay trở nên mạnh mẽ, độc hại hơn gấp nhiều lần.
Năm 2012 đã xuất hiện ước tính khoảng 450.000 trường hợp lao kháng thuốc. Trước mắt bệnh lao kháng thuốc đã xuất hiện tại 92 quốc gia và khu vực, những bệnh nhân xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc này không thể không đối diện với liệu trình kéo dài hơn và hiệu quả điều trị tương đối kém hơn. Những bệnh tật đã từng bị đánh bại có khả năng một lần nữa lại trở thành chứng vô phương cứu chữa của nhân loại.
Nhân loại sẽ trở về thời đại chưa có kháng sinh, chính là nhiễm khuẩn nhẹ đều có thể mất đi tính mạng? (Ảnh dẫn theo baomoi.com)

Chuyên gia cảnh báo, một khi các siêu vi khuẩn này mất kiểm soát, bệnh tật của nhân loại sẽ không có thuốc chữa, mà tất cả nguyên nhân đều là do chúng ta đã lạm dụng kháng sinh.
Tây y dùng thuốc tiêu diệt bệnh khuẩn, Đông y dùng thuốc nâng cao sức đề kháng
Trước mắt, các nhà nghiên cứu của Tây y đang cố gắng tìm ra phương án giải quyết nguy cơ kháng sinh, nhưng lại đúng là đang ‘bó tay’. Ngoài hy vọng nghiên cứu chế tạo ra kháng sinh mạnh hơn, họ cũng đang thử dùng phương án cấp tiến hơn, như là virus có thể diệt vi khuẩn – phage (thực khuẩn thể). Nhưng nếu dùng virus diệt vi khuẩn, cuối cùng có thể bị tổn hại do chính virus này không? Không có ai biết trước được. Vậy thì nhân loại còn lối thoát nào khác chăng?
Đông y dùng thuốc nâng cao sức đề kháng. Ảnh dẫn theo Soha.vn

Bác sỹ nổi tiếng Đài Loan Hồ Nãi Văn khi được phỏng vấn đã bày tỏ, Trung y và y học Tây phương hiện đại khác biệt rất lớn.
Ông nói: “… Kháng sinh là có tính chuyên nhất, vi khuẩn A chỉ có thể dùng kháng sinh A, vi khuẩn B chỉ có thể dùng kháng sinh B, hiện nay khi đang vẫn chưa biết là loại vi khuẩn nào, lập tức sử dụng ngay kháng sinh rồi, đây là việc làm rất vô trách nhiệm. Kháng sinh nếu mà không tức khắc diệt được vi khuẩn, vi khuẩn này có thể do kháng sinh mà sản sinh đột biến, thì sẽ có thể hình thành vi khuẩn kháng thuốc càng mạnh”.
Ông giải thích: “Đông y trị bệnh và Tây y trị bệnh hoàn toàn không giống nhau. Tây y là dùng kháng sinh để diệt vi khuẩn, Trung y cũng dùng thuốc để diệt vi khuẩn, nhưng Đông y tương đối gián tiếp. Đông y là dùng thuốc để bổ sung năng lực, năng lượng của cơ thể, để diệt vi khuẩn, virus, do đó phương pháp là hoàn toàn  không giống nhau”.
Ảnh dẫn theo inchincloser.com

Kháng sinh khi diệt vi khuẩn gây bệnh, có thể đồng thời giết chết vi khuẩn có ích của cơ thể, tế bào. Đông y dùng thuốc chủ yếu là  nâng cao sức đề kháng của tự thân, cơ thể người có thể có thể tự động tiến hành tiêu diệt những vi khuẩn xâm nhập kia”.
Chính khí tồn nội tà bất khả can (chính khí tồn tại, tà khí không thể xâm nhập được)
Sách y học Trung quốc cổ đại “Hoàng đế nội kinh – Tố vấn” trong  “Thứ pháp luận” trang thứ 72 có ghi chép rằng: Hoàng Đế trách trời thương dân hỏi thăm Kỳ Bá, như thế nào có thể tại thời điểm dịch lệ lưu hành tránh không lây. Hoàng Bá nói: “Bất tương nhiễm giả, chính khí tồn nội, tà bất khả can, tị kỳ độc khí, thiên tẫn tòng lai, phục đắc kỳ vãng, khí xuất vu não, tức bất tà can”. Ý nói, con người nếu có chính khí, thì không thể bị tà khí xâm nhiễu. Cũng chính là nói, “chính khí” nếu mà rất mạnh, ngoại tà là không thể xâm phạm thân thể được.
Vậy thì cái gì được gọi là chính khí đây?
Chính khí tồn nội tà bất khả can. (Ảnh dẫn theo Tmall.com)

Bác sỹ Hồ giải thích nói, khi hành vi và tư duy của con người phù hợp chính đạo, thần kinh giao cảm và phó giao cảm của cơ thể ở trong trạng thái cân bằng, sức đề kháng của cơ thể tăng cao, khí âm tà kia khắc không thể xâm phạm cơ thể. Nguồn gốc y học phương Đông chính là bắt nguồn từ Trung Hoa cổ xưa, gắn liền với âm dương của Đạo gia, coi con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ rộng lớn, vần xoay cùng với đất trời. Nếu cơ thể người sinh hoạt thuận theo tự nhiên, theo Đạo thì sẽ đạt được trường thọ và khỏe mạnh.
Theo BS Hồ Nãi Văn, cổ nhân cho rằng “Ôn dịch” hay chính là do bệnh tật, là do Ôn thần gieo rắc. Những người phẩm hạnh đoan chính, tức là những người sở hữu chính khí, Ôn thần không thể vào nhà họ được, không thể tùy tiện mà gây bệnh cho họ.
Ông lấy một ví dụ: Đời Thuận Trị triều Thanh tháng 3 năm Giáp ngọ, tại Tấn Lăng, có một người gọi là Cố Thành, con dâu là thị Tiền. Một lần khi đang về nhà mẹ đẻ thị Tiền, Cố Thành bị ôn dịch, tình trạng nghiêm trọng. Cố Thành và con trai, con dâu tổng cộng 8 người, đều lần lượt nhiễm bệnh, đột nhiên hấp hối. Sau khi biết chuyện, Tiền thị vội vàng lập tức trở về nhà chăm sóc, nhưng mà song thân ngăn cản.
Những người phẩm hạnh đoan chính, tức là những người sở hữu chính khí, Ôn thần không thể vào nhà họ được, không thể tùy tiện mà gây bệnh cho họ. (Ảnh dẫn theo nguồn dajiyuan.eu)

Tiền thị nói: “Nếu tôi biết rõ họ bị bệnh nguy mà lại nhẫn tâm không trở về, vậy thì tôi có khác gì loài cầm thú? Tôi nhất định phải trở về chăm sóc cho họ, kể cả có chết cũng không có gì phải hối tiếc cả”; thế là, cô nhanh chóng vội vàng trở về. Vừa đến nhà, thì nghe thấy tiếng nói: “Chúng thần hộ vệ hiếu phụ Tiền thị đã đến, chúng ta tức tốc  tránh đi thôi!” Không bao lâu sau đó, cả nhà Cố Thành quả nhiên bình phục trở lại.
Một số khái niệm trong Đông y có thể có chút lạ lẫm đối với những người chỉ quen tiếp cận Tây y từ trước đến nay. Nhưng thực tế cho thấy trong Đông y truyền thống không bàn về virus hay vi khuẩn, cũng không có kháng sinh… tuy nhiên Đông y cũng rất thành công trong việc chữa trị các chứng bệnh nhiễm trùng. Phương pháp chữa trị cũng không dựa trên nền tảng kháng khuẩn của thuốc, mà vẫn là quân bình âm dương, bồi dưỡng khí, hạn chế thất tình (7 trạng thái cảm xúc cực đoan)… để tăng cường chính khí, tăng cường sức chống chọi của toàn thân thể đối với bệnh tật (tà khí).
Theo Epoch Times
Liên Hoa