2 thg 3, 2016

Tiếng Lóng Sài Gòn - Tác giả Lê Văn Sâm ( từ Hửu Nguyên Blog )



                
Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời 'tiếng lóng' khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.
Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành một chùm tiếng lóng 'sức mấy' để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố "Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám."
Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn nhiễu nhương, quê hương chiến tranh buồn phiền;'sức mấy' đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt 'tính tính tè tè, tè ti tè ti té', làm cho đường phố càng náo loạn hơn.
Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra cụm từ tiếng lóng 'xưa rồi Diễm ơi', mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe muốn gạt phăng đi.
Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng bóng 'Cai gà', gọi cảnh sát là 'mã tà', vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành 'mã tà'. Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: 'gác dan' tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dan. Cũng như nói 'de cái đít' tức lùi xe arriere; tiền bồi dưỡng người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi 'tiền boa', sau này chế ra là 'tiền bo'.
Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi ngân hàng là nhà băng, gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là 'con cò', còn nếu gọi 'ông cò' là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi 'thầy cò' tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói 'cò mồi' là tay môi giới chạy việc, 'ăn tiền cò' thì cũng giống như 'tiền bo', nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.
Thời kinh tế mới phát triển, đi xe auto gọi là đi 'xế hộp', đi xe ngựa gọi là đi 'auto hí', đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là 'xe điếc', đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là 'đi Cấp', đi khiêu vũ gọi là 'đi bum', đi tán tỉnh chị em gọi là đi 'chim gái', đi ngắm chị em trên phố gọi là 'đi nghễ', gọi chỉ vàng là 'khoẻn', gọi quần là 'quởn', gọi bộ quần áo mới là 'đồ día-vía'. Đi chơi bài tứ sắc các bà gọi là 'đi xòe', đi đánh chắn gọi là 'múa quạt', đi chơi bài mạt chược các ông gọi là 'đi thoa', đi uống bia gọi 'đi nhậu', đi hớt tóc gọi đi 'húi cua'. Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 – 1950 du nhập Sài Gòn, đó là 'đi đầu dầu', tức các chàng trai ăn diện 'đi nghễ' với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là 'hết sẩy', quê mùa chậm chạp gọi là 'âm lịch', hách dịch tự cao gọi là 'chảnh'.
Tiền bạc gọi là 'địa', có thời trong giới bụi đời thường kháo câu 'khứa lão đa địa' có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là 'xù', 'xù tình', tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là 'bắt địa', ăn cắp là 'chôm chỉa', tương tự như 'nhám tay' hay 'cầm nhầm' những thứ không phải của mình.
Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng 'hia mão', có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi 'kép chầu', có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được nhập biên chế gánh hát, đêm đêm họ cũng xách valyse trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì 'kép chầu' thay thế vào ngay. 'Kép chầu' phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.
Đào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là 'đào thương', kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là 'kép độc'. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là 'café à la… ghi' tức uống café thiếu ghi sổ…
Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi 'nhật trình'. Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là 'tin kho tiêu', các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là 'tin chó cán xe', tin quan trọng chạy tít lớn gọi là'tin vơ-đét' vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là 'luộc bài', chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là 'xào bài', truyện tình cảm dấm dớ gọi là 'tiểu thuyết 3 xu', các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là 'báo lá cải'. Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là 'tin phịa', nhưng trong 'tin phịa' còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là 'tin ballons' tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là 'tin Cá tháng Tư'.

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Đó là 'tịch', 'hai năm mươi', 'mặc chemise gỗ', 'đi auto bươn', 'về chầu diêm chúa', 'đi buôn trái cây' hay 'vào nhị tỳ'; 'nhị tỳ' thay cho nghĩa địa và 'số dách' thay cho số một… đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.
Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là 'vòng vo Tam Quốc', ai nói chuyện phi hiện thực gọi là 'chuyện Tề Thiên', tính nóng nảy gọi là 'Trương Phi'. M ột số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là 'Nhạc Bất Quần' tức ám chỉ người ngụy quân tử, gọi là 'Đoàn Chính Thuần' tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé…
Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng 'ăn theo' mà ra đời.
Thời Mỹ đến thì một tiếng 'OK Salem', mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là 'sén' hay'chó lửa', dân chơi miệt vườn gọi 'công tử Bạc Liêu' còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ 'dân chơi cầu ba cẳng' thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi 'dân chơi cầu ba cẳng'? Đó cũng là lúc các tiếng lóng như 'dân xà bát', 'anh chị bự', 'main jouer' tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là 'anh hùng xa lộ', bị bắt gọi là 'tó', vào tù gọi là 'xộ khám'. Bỏ học gọi là 'cúp cua', bỏ sở làm đi chơi gọi là 'thợ lặn', thi hỏng gọi là 'bảng gót'. Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó 'đi ăn chè' trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.
Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như 'chà đồ nhôm' tức chôm đồ nhà, 'chai hia' tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với 'cưa đôi'. Lóng thời sự loại này có 'tô ba lây đi xô xích le' tức Tây ba lô đi xe xích lô. Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than 'buồn như chấu cắn', hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng 'lu bu' để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm 'lu xu bu' nại lý do không rõ ràng để trốn việc.

Để tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành 'quả tó', gọi chiếc xe Honda là 'con rim', gọi tờ giấy 100 USD là 'vé', đi ăn cơm bình dân gọi là 'cơm bụi', xuống phố dạo chơi gọi là 'đi bát phố', gọi người lẩm cẩm là 'dở hơi'…

Nhưng lý thú nhất là nhờ cụ cố nhà văn Nguyễn Tuân mà Sài Gòn nay có một tiếng lóng hiện đại thay cho cụm từ đi ăn nhà hàng theo American style – tiền ai nấy trả. Đó là cụm lóng KAMA, ghép bốn chữ tắt của 'không – ai – mời – ai'. Đi KAMA phở một cái, tức cùng đi ăn phở mà không ai mời ai, món ăn cổ truyền nhưng ứng xử là thoải mái. Vào thời văn minh hiện đại, ngôn ngữ tiếng Anh trở thành phổ biến, giới trẻ đã chế ra một tiếng khá văn hoa, như chê một ai đó chảnh, các cô nói 'lemon question' tức chanh hỏi – chảnh - (mở ngoặc: hoặc nói chệch đi: lê-mông-wét-trần! )



Những Đoạn Kè Gành Hào và Giải Oscar của Leonardo Di Capricio





FB.Vũ Kim Hạnh
Sáng đầu tuần, tôi lên đường về một tỉnh miền Đông mang theo nỗi ám ảnh về hình ảnh những đoạn kè Gành Hào nứt toác do bị sóng lớn đánh, xoáy sâu gây hư hỏng và nước biển tràn vào nhà dân. Triều cường cùng sóng to, gió lớn gây sạt lở nghiêm trọng cả đoạn đê dài, cả huyện báo động đỏ chờ ứng cứu.
Sáng thứ hai tôi cũng quan tâm một sự kiện mà đông đảo người yêu điện ảnh hồi hộp theo dõi, sự kiện này quan trọng mà chẳng ăn nhập gì chuyện sạt lở bờ kè Gành Hào: liệu chàng tài tử tài hoa, đáng nể phục Leonardo Dicaprio có giành được tượng vàng Oscar sau 21 năm thất bại, trượt giải đến sau 6 lần đề cử.
Có mấy người dân đô thị Việt Nam biết và quan tâm đến thực trạng “biến đổi khi hậu”? Dù mấy từ khô khan đó chắc chắn ảnh hưởng, làm thay đổi chính mâm cơm, cuộc sống họ và cả nền kinh tế đất nước. Mấy người biết rằng đồng bằng sông Cửu Long, nơi tạo ra 40% GDP nông nghiệp cả nước, 50% sản lượng lương thực vùng, 70% thủy sản, đang là điểm nóng quan tâm của giới chuyên gia về môi trường, nông nghiệp, kinh tế trên thế giới vì là nơi chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất của khu vực Đông Nam Á cả về sinh thái, hệ canh tác và cơ cấu xã hội.
Từ 6 năm trước, năm 2009, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã công bố đánh giá, nước mặn ở mức 10-40 phần ngàn đã xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long từ 50-70km. 62 dự án ứng phó biến đổi khí hậu do chính phủ đưa ra, có 17 dành cho đồng bằng sông Cửu Long để củng cố nâng cấp hệ thống kè sông, kè biển, hệ thống cung cấp nước ngọt những vùng khô hạn nhiễm nặng. Còn bây giờ, tháng 2/2016, cả đồng bằng sông Cửu Long đã và đang bị hạn, xâm nhập mặn kỷ lục nhất so 100 năm qua. Nước mặn vào sâu 70km và độ mặn gấp 8 lần tiêu chuẩn. Từ khu vực sông Vàm Cỏ cho đến sông Tiền, sông Hậu, rồi khu vực biển Tây, nước mặn vào sâu từ 30-50km, độ mặn đến 8g/lít. Cà Mau có 18.400 ha lúa – tôm bị thiệt hại, lúa chết hoàn toàn. Kiên Giang, hơn 36.000 ha lúa mùa, lúa đông xuân bị nhiễm sâu bệnh, thiệt hại. Tiền Giang, nước mặn xâm nhập 50 km. Bến Tre, 1.300 ha lúa đông xuân ở hai huyện Ba Tri, Bình Đại bị nhiễm mặn kỷ lục nhất so 100 năm qua ở tỉnh này. Và nguy hiểm nhất, Gành Hào, Gành Hào thân thương của tôi, nơi tôi đã đến 4 lần trong 4 phiên chợ nông thôn gần đây, được người dân hiền hòa đón nhận chân tình và nhiều đêm, họ cùng chúng tôi ngồi ca vọng cổ và cùng hát rỉ rả bài “Đêm Gành Hào nhớ điệu Hoài Lang”.
Tình hình nguy cấp do biến đổi khí hậu đang diễn biến nhanh, nghiêm trọng, cấp bách như những đợt sóng lớn cùng triền cường điên cuồng quật ngã mọi vách đá, bờ đê, công trình con người tự bảo vệ.
10g sáng, nghe tin Leo giành được tượng vàng! Wow, xứng đáng và thật cảm động! Một tình yêu nghề nghiệp kiên trì bền bỉ đến khó tin cuối cùng cũng chiến thắng. Câu chuyện anh kể trong phim The Revenant (Người về từ cõi chết) cũng là chuyện khá thời thượng, về sự chiến đấu sinh tồn của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt. Phim quay tại Bắc Canada, âm 30 độ C, trong vùng không có ánh sáng, dàn diễn viên bỏ cuộc dần dần… Anh phải để râu dài suốt một mùa hè cho giống dân vùng băng tuyết, đeo đuổi 9 tháng trong rừng sâu, phải bơi trong dòng sông băng, ngủ trong xác động vật chết, phải trực tiếp ăn gan bò rừng sống. Anh kể, đạo diễn muốn anh phải ăn thật để diễn tả phản ứng tự nhiên, thật nhất, như là phản ứng bản năng vậy. Có nhữngcảnh hoàn toàn sửng sốt và gây sốc giống như các nhà thám hiểm quay phim tài liệu. Chiến đấu với một con gấu, Leo nói, cảnh này phải chịu rất đau đớn, là cảnh khó khăn nhất suốt cuộc đời diễn xuất, một trải nghiệm mà khán giả không thể tưởng tượng nổi khi đối mặt một động vật khổng lồ cực kỳ hoang dã.
Và kỳ lạ thay, ở một phương trời khác, bối cảnh hoàn toàn khác, khi nhận tượng vàng, ai ngờ anh lại phát biểu về… biến đổi khí hậu: “The Revenant là bộ phim nói về sự liên kết của con người với thiên nhiên, là sản phẩm từ sự hi sinh không mệt mỏi của dàn diễn viên và đội ngũ sản xuất tuyệt vời. Chiến thắng này là cơ hội quan trọng để mọi người chú ý nhiều hơn đến tình trạng biến đổi khí hậu và thúc đẩy hành động của chính chúng ta.
Chúng ta đều cảm nhận được năm 2015 là năm nóng nhất trong lịch sử trái đất. Đoàn làm phim đã phải lặn lội tới Nam Cực để quay cảnh tuyết.
Biến đổi khí hậu là một vấn đề có thật. Nó đang diễn ra ngay lúc này. Đó là mối đe dọa ngay trước mắt mà loài người phải đối mặt. Và chúng ta cần phải cùng nhau tìm cách ngăn chặn mối hiểm họa này, không thể tiếp tục trì hoãn nữa.
Chúng ta cần phải ủng hộ những người đang tiên phong trên khắp thế giới. Đang có hàng tỉ những số phận khốn khó ngoài kia. Những người sẽ phải chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, đời này và cả cho con cháu chúng ta, và cho những tiếng nói bị lu mờ bởi các mục đích chính trị tham lam.
Tất cả chúng ta, xin đừng coi nhẹ an nguy của hành tinh này, bởi chính bản thân tôi cũng không coi nhẹ thành tựu đã đạt được hôm nay”.
Vậy đó, đó là những gì anh đã “học thuộc” 21 năm, vì đã nhiều lần chuẩn bị rồi out. 21 năm chiến đấu cho sự công nhận nghề nghiệp cao nhất. Anh lại lấy giải thưởng làm cơ hội kêu gọi chién đấu tiếp cho hàng tỉ số phận khốn khó đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Nỗi lo của Leo, và nỗi bức bối cho sự an nguy của hàng vạn người đang sóng dập gió vùi bên trong bờ kè sạt lở Gành Hào.
Tượng vàng Oscar của Leo, như anh nói, là thành tựu của lòng hy sinh cao cả vì nghề nghiệp của đoàn phim, là sự trải nghiệm đến thành bản năng của anh, người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật để cứu hành tinh này trước thảm họa BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.
Phải chăng cần phải hiểu sâu, phải trải nghiệm để hiểu nỗi khốn khó của bà con mình ở đồng bằng sông Cửu Long, và nhiều vùng đất nước? Chúng ta cũng làm được, nếu quan tâm đúng mức. Các nhà báo, các tác giả, nhà làm phim, các diễn viên làm sao truyền sự đồng cảm sâu sắc nhất đến mỗi đồng bào mình bằng sự tự trải nghiệm thực tế đang diễn ra khốc liệt từng ngày. Hiểu, chia sẻ, trải nghiệm và chung tay thích ứng, cứu giúp đồng bằng sông Cửu Long, các vùng đất tươi đẹp của đất nước đang chết vì thiên tai, thiếu nước, nhiễm mặn…
Leo ở xa mà gần như đang sống trong chính những giây phút sống này của chúng ta. Lời kêu gọi và trải nghiệm của anh sao nghe như anh đang nói chuyện Gành Hào, Hòn Đất, Cà Mau… vậy
 Leonardo Di Capricio

Mark Zuckerberg Tiết Lộ Lý Do Thực Sự Tạo Ra Facebook




Dân trí  

Facebook là mạng xã hội lớn nhất thế giới với hơn 1,5 tỷ người dùng và đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của nhiều người. Tuy nhiên bạn có biết lý do thực sự Mark Zuckerberg sáng lập ra Facebook là gì? Vị CEO của Facebook vừa có những tiết lộ về điều này.

Trong bộ phim “The Social Network” được ra mắt vào năm 2010 nói về Mark Zuckerberg và sự ra đời của mạng xã hội Facebook, chàng sinh viên Mark Zuckerberg đã sáng lập ra Facebook như một công cụ để tìm kiếm bạn gái.
Trên thực tế, đó chỉ là sự tưởng tượng của đạo diễn bộ phim, còn lý do thực sự Zuckerberg thành lập ra Facebook thì hoàn toàn khác hẳn.
Trong bài trả lời phỏng vấn với nhà báo Mathias Dopfner, CEO của hãng tin Axel Springer (Đức), Mark Zuckerberg đã tiết lộ lý do thực sự mà mình xây dựng Facebook. Zuckerberg cho biết vào thời điểm Facebook được xây dựng, trên thực tế anh đã có bạn gái, đó chính là Priscilla Chan, người hiện nay là vợ của Zuckerberg, do vậy không hề có chuyện Zuckerberg xây dựng Facebook để tìm kiếm bạn gái như được đề cập trong bộ phim.
Những ngày đầu mới thành lập, bản thân Zuckerberg cũng không ngờ rằng Facebook có thể đạt được thành công như hôm nay
Những ngày đầu mới thành lập, bản thân Zuckerberg cũng không ngờ rằng Facebook có thể đạt được thành công như hôm nay

Lý do thực sự đó là Mark Zuckerberg cảm thấy bị ám ảnh với Internet. Mark Zuckerberg cho biết Google là một công cụ tuyệt vời cho việc tìm kiếm tin tức còn Wikipedia là công cụ tuyệt vời cho việc tìm kiếm các tài liệu tham khảo, nhưng vẫn Zuckerberg nhận thấy vẫn có một khoảng trống trên Internet.
“Không có một công cụ nào mà bạn có thể để bạn có thể tìm hiểu về người khác. Tôi không biết làm thế nào để xây dựng một công cụ như vậy nên tôi bắt đầu xây dựng những công cụ nhỏ hơn”, Zuckerberg chia sẻ.
Ban đầu Zuckerberg đã xây dựng một công cụ nhỏ với tên gọi Coursematch, cho phép các sinh viên Harvard có thể lên danh sách những lớp học mà họ đã tham gia. Zuckerberg cũng xây dựng một công cụ với tên gọi Facematch để so sánh gương mặt các sinh viên trong trường, giống như trong bộ phim “The Social Network” đã từng nhắc đến, tuy nhiên Zuckerberg cho biết công cụ này chỉ nhằm mục đích vui đùa.
Cuối cùng, Zuckerberg cho biết “gốc rễ” của việc hình thành Facebook đó là một chàng sinh viên dành nhiều thời gian vào việc lập trình và không có thời gian để tập trung trong lớp học.
“Trong lớp học lịch sử nghệ thuật có tên gọi “Rome of Augustus”, các sinh viên phải viết một bài luận về những tác phẩm nghệ thuật trong lớp học. Tôi đã không giành nhiều sự tập trung trong lớp học vì bận lập trình những thứ khác nên khi đến bài thi, tôi đã hoàn toàn “mù tịt” về những thứ trong lớp”, Mark Zuckerberg chia sẻ. “Do đó tôi đã xây dựng một công cụ học tập cho phép hiển thị những tác phẩm nghệ thuật ngẫu nhiên và người dùng có thể điền vào những cảm nghĩ của mình về góc độ lịch sử của tác phẩm nghệ thuật đó. Tôi đã gửi công cụ này cho các bạn khác trong lớp thông qua email và mọi người đã điền vào đó những thông tin có ý nghĩa về các tác phẩm nghệ thuật và cuối cùng tôi đã có được một công cụ học tập mang tính xã hội. Điều này giúp tỷ lệ sinh viên vượt qua bài thi lớp học này trong năm đó cao hơn những năm trước”, Zuckerberg chia sẻ.
“Tôi đã thực hiện khoảng 10 dự án khác nhau như vậy trong khi đang học tại Harvard. Sau đó tôi nghĩ mình nên liên kết những công cụ như vậy lại với nhau để tạo thành một công cụ mới mà người dùng có thể chia sẻ những gì họ muốn với những người xung quanh. Và đó là thời điểm phiên bản đầu tiên của Facebook được ra đời”, Zuckerberg chia sẻ thêm.
Cũng trong bài trả lời phỏng vấn của mình, Zuckerberg tiết lộ rằng chỉ mất 2 tuần để anh xây dựng xong phiên bản đầu tiên của Facebook vì Zuckerberg đã xây dựng những công cụ nhỏ lẻ trước đó, giờ chỉ việc kết nối chúng lại với nhau.
Từ phiên bản sơ khai, giờ đây sau 12 năm, Facebook đã trở thành mạng xã hội lớn nhất thế giới với hơn 1,5 tỷ người và có giá trị lên đến hơn 300 tỷ USD. Bản thân Zuckerberg cũng thừa nhận rằng vào thời điểm xây dựng Facebook, anh cũng thể ngờ rằng mạng xã hội này có được thành công như ngày hôm nay.

T.Thủy

BÂNG KHUÂNG - vkp đạm phương


Sống gần đến ba phần tư thế kỷ
Ngẫm nghĩ được gì để lại mai sau?
Dòng đời xuôi ngược, lận đận lao đao
Thế hệ cháu con có còn tưởng nhớ?
                        *
Phần cuối kiếp người vẫn luôn trăn trở
Ngược về quá khứ, nhớ đến mẹ cha
Biết bao lỗi lầm chưa được thứ tha
Đấng sanh thành đã vui miền miên viễn...
                      *
Người đã khuất nhưng bóng luôn hiển hiện
Giúp đôi tay mềm chống chỏi phong ba
Gối chăn lạnh lẽo rồi cũng mau qua
Như giấc mộng... mười ba năm cô quạnh
                     *
Thương nhớ người xưa , lòng luôn canh cánh
Món nợ ân tình nặng trĩu đôi vai
Lỡ một khi mình nhắm mắt xuôi tay
Ai nhỏ giọt vắn giọt dài than khóc?
                     *
Đêm khuya vắng nỗi niềm càng cô đọng...

Saigon 23/2/2016

1 thg 3, 2016

Khám phá những địa danh nổi tiếng trên thế giới bị lãng quên

(Dân trí) - Đừng ngạc nhiên nếu bạn thấy trên tivi những vùng đất, những công trình rêu phong không một bóng người. Ở đâu đó trên thế giới vẫn còn những nơi như vậy, chúng tồn tại song song, ngay trong lòng những thành phố hiện đại nhất.

1. Đường sắt bỏ hoang, Paris
Một đường hầm ít được biết đến dài gần 20 dặm - đây là tuyến đường sắt bị bỏ rơi được xây dựng hơn 150 năm trước đây ở trung tâm của Paris. Vào thời điểm khi quỹ đất ở thành phố ngày càng hạn hẹp thì sự tồn tại của đường hầm này là một điều ngạc nhiên. Ngày nay tuyến đường này thu hút rất nhiều người ưa khám phá.
2. Nhà thờ bỏ hoang ở “Rừng đen”, Đức
Từ thế kỷ 10, tu viện này là trung tâm của khu Rừng đen, nó đã từng có vị trí rất quan trọng trong đời sống cộng đồng và tôn giáo. Ngày nay nó chỉ còn là một di tích thu hút du khách.
3. Các đường trượt phục vụ Olympic Sarajevo 1984
Nằm trên núi Trebević nhìn ra thành phố Sarajevo, nơi đây đã từng có hàng chục ngàn khán giả theo dõi những môn thi Olympic ở đường trượt này. Cuộc chiến tranh Nam Tư 1991 đã biến nó trở thành như ngày nay. Hiện giờ nó là lãnh địa của thiên nhiên hoang dã và graffiti.
4. Trung tâm công nghiệp đường sắt Czestochowa, Ba Lan
Từng là một phần của Vương quốc Phổ hùng mạnh, thành phố Czestochowa bước vào thế kỷ 20 là một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu của Ba Lan. Thành công của nó một phần là do việc mở đường sắt Warsaw-Vienna năm 1846, nối thành phố với phần còn lại của châu Âu. Ngày nay, Czestochowa là một trung tâm du lịch thu hút hàng triệu du khách mỗi năm nhưng đường sắt thì không còn như xưa, hoạt động mờ nhạt đã biến một phần các tuyến đường và nhà ga trở nên hoang phế.
5. Công viên giải trí “Six Flags” New Orleans, Mỹ
Đã hơn một thập kỷ các đường lượn trong “Six Flags” không còn hoạt động. Nó vẫn chưa hồi phục, giống như vài khu vực khác của bang Louisiana. Lần cuối cùng người ta thấy nước được bơm là vào thời điểm cơn bão Katrina năm 2005. Ngày nay thậm chí vẫn còn cá sấu trong công viên nhưng chủ sở hữu của công viên đã không mở cửa trở lại và các kế hoạch để phát triển khu đất 150 mẫu anh này chưa thể trở thành hiện thực. Ta chỉ có thể thấy công viên này trên một vài bộ phim của Hollywood.
6. Thung lũng của Mills, Italia
Cái tên “Thung lũng của Mills” xuất phát từ sự tồn tại của một nhà máy phục vụ việc sản xuất lúa mỳ đã từng hoạt động ở đây, tuy nhiên nước biển mang hơi mặn và độ ẩm tăng đã khiến nó bị bỏ hoang như ngày nay.
7. Tháp làm lạnh của nhà máy điện IM, Bỉ
Được xây dựng vào năm 1921, khi hoàn thành đây là một trong những nhà máy nhiệt điện lớn nhất tại Bỉ. Nước được cho vào tháp làm mát, nơi nó sẽ được làm mát bằng gió và thải ra hàng cột cuồn cuộn không khí nóng. Tháp có thể hạ nhiệt cho 480.000 gallon nước mỗi phút. Tuy nhiên việc nhà máy này chịu trách nhiệm về 10 phần trăm của tổng lượng khí thải carbon dioxide tại Bỉ nên năm 2007 nó đã bị đóng cửa.
8. Nhà hát Lawndale, Chicago – Mỹ
Ngày 14 tháng 2 năm 1926 đánh dấu việc công bố xây dựng nhà hát 3.000 chỗ ngồi trên giao lộ Roosevelt Road và Crawford Avenue ở Chicago. Năm mươi năm sau, nhà hát Lawndale trở thành một khối khổng lồ màu trắng. Những buổi biểu diễn hoành tráng giờ đây đã chìm vào dĩ vãng. Bên trong nhà hát giờ đây là nơi lưu trữ cho các đồ nội thất khách sạn.
9. Kadykchan, thành phố của các giấc mơ tan vỡ, Nga
Đây không phải là Chernobyl, không hề có phóng xạ nguy hiểm, ô nhiễm hay chất độc hại. Bạn thậm chí có thể sống trong thị trấn này. Nhưng cũng như nhiều khu định cư công nghiệp của Liên Xô khác, nơi đây đã trở nên hoàn toàn vô dụng sau sự sụp đổ của Liên Xô, các trung tâm công nghiệp sụp đổ kéo theo các thành phố vệ tinh của nó.
10. Đảo Hashima, Nhật Bản
Phục vụ công nghiệp khai thác than, trong năm 1959 hòn đảo là một trong những khu vực đông dân cư nhất trên trái đất. Trên hòn đảo nhỏ (400 x 160 mét) có hơn 5000 người đã sống và làm việc. Cho đến năm 1974 các mỏ than bị đóng cửa do ô nhiễm thì tất cả đã rời bỏ hòn đảo và nó trở nên hoang phế. Ngày nay các bạn có thể chiêm ngưỡng hòn đảo này trên bộ phim Skyfall (2012). Nơi đây chính là lãnh địa của Silva, kẻ thù của điệp viên James Bond nổi tiếng.
Hữu Nguyên (Tổng hợp )