Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Nguyễn Hải Thảo. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Nguyễn Hải Thảo. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

9 thg 5, 2023

"CÒN VƯƠNG BỤI PHẤN", TUYỂN THƠ NHIỀU TÁC GIẢ CỦA THÂN HỮU SƯ PHẠM SÀI GÒN "TRÌNH LÀNG" ĐẦU THÁNG 5/2023.

Nguyễn Hải Thảo
 
"CÒN VƯƠNG BỤI PHẤN", TUYỂN THƠ NHIỀU TÁC GIẢ CỦA THÂN HỮU SƯ PHẠM SÀI GÒN "TRÌNH LÀNG" ĐẦU THÁNG 5/2023.
 
Sau những ngày mong đợi, tôi và các đồng môn cũng đã có trong tay Tuyển thơ nhiều tác giả của nhóm Thân Hữu SPSG vào sáng chủ nhật 07.05.2023.
"CÒN VƯƠNG BỤI PHẤN" Tuyển chọn và tập hợp thơ của 39 tác giả nguyên là giáo sinh của trường Sư Phạm Sài Gòn, 01 giáo sư và 01 thân hữu. Hỗ trợ: Trần Tư Bình, Nguyễn Hữu Chí. Tổ chức, biên tập và thực hiện: Lê Hà Thăng, Nguyễn Văn Long, Trần Xuân Lộc. Tuyển thơ dầy 189 trang, bìa dầy, ruột in trên giấy tốt, khổ 13,5 x 20,5 cm, tranh bìa và phụ bản: Trần Xuân Lộc, Võ Đông Điền, trình bày bìa và dàn trang: Công Nguyễn, NXB Hội Nhà văn cấp phép quý 2/2023.
 
Sáng chủ nhật 07.05.2023, nhóm Thân Hữu SPSG đã tổ chức ra mắt Tuyển thơ "CÒN VƯƠNG BỤI PHẤN" tại nhà hàng AGA số 72/24, Phan Đăng Lưu, phường 5, quận Phú Nhuận, TPHCM. Có khoảng 40 khách đến dự, đa số là những cựu giáo viên xuất thân từ Sư Phạm Sài Gòn và thân hữu ở Bình Dương.
Dẫn chương trình có Nhật Quỳnh (Hội nhà văn TPHCM), Trần Đình Chỉnh (khóa 10).
Phụ trách nhạc: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Hoàng và Đặng Văn Viết Triều.
Ngâm thơ: Nhật Quỳnh. Ca nhạc: Cúc Vàng, Đặng Việt Lợi, Vũ Ngọc Hưng, Trăng Khuyết.
 
Nhà thơ Trần Đình Chỉnh mở đầu chương trình với phần giới thiệu về quá trình hình thành nhóm Thân Hữu SPSG từ năm 1973 cho đến nay.
Nhà thơ Lê Hà Thăng giới thiệu những vất vả, khó khăn trong suốt 4 tháng tổ chức tập trung bản thảo từ nhiều nguồn và thực hiện.
Nhà thơ Nguyễn Hải Thảo nêu cảm nhận về Tuyển thơ '"CÒN VƯƠNG BỤI PHẤN" từ hình thức đến nội dung và đọc bài thơ "Tháng bảy".
Giao lưu với tác giả Trần Phong Vũ và nghe anh đọc thơ. Ngoài ra, anh còn hát bài "Hoa cải vườn xưa" do Trần Đắc Thắng phổ thơ.
Ban Tổ chức cũng đã tặng hoa cho các anh góp nhiều công sức trong tuyển thơ: Trần Tư Bình, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Long, Lê Hà Thăng, Trần Xuân Lộc.
Xen kẻ chương trình là các tiết mục văn nghệ: Nhà thơ Cúc Vàng tạo ấn tượng đặc biệt khi biểu diễn ca khúc "Đường chiều" của nhạc sĩ Hồng Duyệt. Nhà giáo Đặng Việt Lợi đã thể hiện tốt bài hát "Khát vọng" do nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ thơ anh.
MC Nhật Quỳnh diễn ngâm tốt một số bài thơ trong tuyển tập: Như bụi phấn hương nồng (Nguyễn Đăng Hà), Tháng 10 trở lại trường (Nguyễn Mộng Hòa Bình), Nhớ xưa (Lê Hà Thăng), Đón con giờ tan học (Nguyễn Quốc Hưng)...
Nhà thơ Vũ Ngọc Hưng cũng đã gây ấn tượng khi anh thể hiện hết mình hai ca khúc nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư: Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu.
Ngoài ra, còn một số khách mời cũng nhiệt tình tham gia ngâm thơ và hát góp vui.
Buổi ra mắt Tuyển thơ "CÒN VƯƠNG BỤI PHẤN" của nhóm Thân Hữu SPSG đã khép lại lúc 11g20 cùng ngày.

23 thg 12, 2015

Ký Ức Về SPSG - Phạm Hòa (K.2-SPSG)

Nơi gợi nhớ và chia sẽ những tình cảm trong veo của một thời áo trắng 



                         Dãy lớp học phía gần cổng SPSG -1963

Chúng tôi đã từng học tại SPSG cách nay  gần 50 năm.
Sau khi tốt nghiệp nhiều người đã tự học để tiến xa hơn mục đích được đào tạo ban đầu là giáo học bổ túc(,là GV dạy lớp cao nhất bậc tiểu học)
Trường Sư pham Sai gòn là nấc thang đầu tiên,vững chắc để các bạn có được sức mạnh để theo nghề""gõ đầu trẻ""với lương tâm và trách nhiệm của 1 thầy ,cô giáo chân chính.
Chúng tôi viết trang tên tuổi  Thầy  Cô đã từng giảng dạy trong 2 năm học từ 1963-1965 như một  Tri ân thầy cô còn sống và tưởng nhớ đến các Thầy Cô đã khuất núi.
Danh sách nầy không có các Thầy Cô phụ trách văn phòng vì những hạn chế bởi thời gian  và thông tin thời đó.
Hiệu Trưởng :Trương Hữu Tước,năm 1964 thầy về hưu và thay thê là thầy Trần Hữu Văn
Giám học : T.Nguyễn Quý Bổng,thầy nầy còn phụ trách môn:Những vấn đề giáo dục.
Tổng giám thị :T. Phạm văn Phúc,kiêm GS Pháp văn.
Các môn học thời đó và GS phụ trách:
Việt văn :  T.Nguyễn Tá Minh,Phạm Hương Tích,Doãn Quốc Sỷ,Đoàn Viết Bửu,Đặng Phúc Xuân.
Pháp :cô Bùi thị Ánh,Lưu thị Kim Vân,Phạm văn Phúc.
SP Lý thuyết và thực hành:cô Nguyễn thị Hạnh,Dương thị Ninh.,thầy Đăng Phúc Xuân
Quản trị học đường: T.Vũ Ngô Xán,Trương văn Đức.,Trần văn Quế
Luân lý Chức nghiệp :cụ Nguyễn Gia Tường.
GD  Công dân :cô Phạm thị Mỷ.
Tâm lý Giáo dục :cô Nguyễn thị Hoa,t.Đoàn Hửu Khánh.
Giáo dục Cộng Dồng:T.Đỗ văn Trần,Nguyễn Duy Linh,Hoàng Trần Hoạch.
Các VĐ GD:T .Nguyễn Quý Bổng,Vũ Ngọc Đại.
Vận dụng khoa học: T.Đoàn Hửu Khải.
Dụng cụ giáo khoa: T.Nguyễn Hửu Tài.,cô Lưu thị Dậu.
Thủ công :cô Lê thi Mão,Cô Võ  Minh Vân.
Dung cụ thính thị:T.Nguyễn Tử Quý.
Vệ sinh: BS Nguyễn Hửu Nam.
Nhạc: T.Huỳnh văn Hóa.Lại Minh Lương
Thể dục: Cô Trần thị Hoa,Trần thị Hương Thủy,T.Trần Quang Minh,Vũ văn Tịch.
Vẽ: T.Trần thanh Thanh,họa sĩ Văn Đen.
Nữ công,gia chánh:cô Phạm thị Thân (nữ học HK1 năm thứ nhất)
Giám thị nữ: cô Nguyễn-t-Lục.GT. Nam:T.Huỳnh Hửu Thanh,T.Xinh,Cô Huỳnh Tư Muối
Ngoài giờ học lý thuyết,chúng tôi thường được dự giờ ở trường Sư pham thực hành,bên cạnh trường SP.Thầy cô dạy ở đây  đều là những nhà giáo giỏi,có kinh nghiệm.

Gs môn Tâm lý GD Nguyễn thị Hoa và các nam GS (1964)
Sau đây là DS các bạn ở 2 lớp nữ (tổng số khoãng 90.
1/ Ngô thị Ngọc Anh    2/ Hà Lê Chân                       3/ Từ thị Cảnh
 4 / Nguyễn thị Cúc       5/ Lê Ngọc Châu                   6/ Nguyễn thị Ngọc Diệp
7 Châu Ngọc Diễm       8/ Nguyễn thị Diễm               9/Trần thị Nghi Dung.
10/ Trần thị Đầm (12/16  11/  Lê Ngọc Rỡ (mất)          12/ Trương-t-Hồ Điệp(mất).
13/ Nguyễn Hồng Điệp   14/ Lê thị Hà                          15/ Võ Hồng Hạnh.
16/Pham-t-Hòa                 17/ Đinh-t Hỏi                        18/ Lê Doãn-t-Hiền.
19/ Hồ Mỷ Hương             20/ Phan-t-Hường                 21/ Tạ thị Huê.
22/ Võ Tuyết Hà                 23 Nguyễn-t-Xuân Hà           24/ Nguyễn -t-Thanh Hương.
25/ Nguyễn Ngọc Khanh    26/ Nguyễn-t-Ngọc Kiêm      27/ Nguyễn-t-Kim Liên.
28/ Trương Hồng Liên        29/ Trần-t-Lê                          30/ Nguyễn-t-Bảo Lộc
31/ Phùng-t-Lang                 32/ Nguyễn-t-Ngọc Lan         33/ Đỗ-t-Lựu
34/Nguyễn-t-Lợi   .                35 Trần-t-Ấu Mai                   36/ Nguyễn-t-Tuyết Mai.
37/ Nguyễn-t-Mười                38/ Phạm-t-Việt Nga             39/ Trần-t-Hoàng Nga.
40/ Lê kim Ngân (mất2016)   41/  Nguyễn Ngọc Nhung      42/ Mai Hồng Nhung.
43/ Trần-t-Nhuần                      44/   Huỳnh-t-Nhường               45/ Trần-t-Phú.
46/ Phạm quý Phi                    47/ Nguyễn-t-Phụng.              48/ Lê-t-Phượng,
49/ Võ-t-Phương(mất)             50/ Vũ-t-Phúc                         51/ Ng.-t-Hồng Phúc.
52/ Huỳnh-t-Thiên Phương      54/ Diệp-t-Phước                  54/  Hồ kiêm  Quang
55/ Trần-t-Sáng                       56/ Vũ-t-Tuấn                           57/ Võ thị Ánh Vân..
58/ Trịnh -t-Vạng                      59/ Nguyễn-t-Liêm (mất 2015)      60/  Phan-t-Quế Phương
61/ Cao thị Hải                         62/ Vỏ thị Trưa                        63/ Đặng thị Hạnh.
64/Nguyễn-t-Quế Hương          65/Ng.-t-Bảo Khanh                66/ Thái -t-Hơn.
67/ Hồ-t-Dung                            68/Nguyễn-t-Chính                  69/ Nguyễn-t-Thái.(1992)



                          thầy Đỗ văn Trần GS GDCĐ và các nữ GS thăm TTGDCĐ Long An 1964

Danh sách nam GS: từ lớp nhất niên 3 đến 8.
1/ Nguyễn tuấn Anh                            2/ Lý tuyết Ánh  ( 2020 )              3/ Nguyễn Ngọc Ẩn
4/ Lê-v-Bầm                                   5/ Lê Minh Châu (mất trước 75            6/ Trần Ngọc Minh Châu.
7/ Lâm Hòa Chiếm (mất )                8/ Lương Trác Cường                9/  Nguyễn-v-Chinh-(BD, mất)
10/ Huỳnh Ngọc Chơn                   11/  Đỗ-v-Cư                                12/  Trần Ninh Cường.
13/ Đặng-v-Di                                  14/ Huỳnh-v-Dĩ  (2021)                          15/ Trần-v-Đại
16/ Nguyễn-v-Điền                         17/ Võ -v-Đởm                             18/ Nguyễn Đình Đức
19/ Nguyễn-v-Đôi  (2022)                         20/ Nguyễn Doãn Đoan              21/ Nguyễn-v-Đúng
22/ Trần-v-Gòn(1996)                     23/ Đào Cẩm Giang                    24/ Ngô Ngọc Hải.
25/ Nguyễn Đức Hảo                    26/  Bùi-v-Hoa                              27/ Võ-v-Hoà
28/Đỗ-v-Hồng (2018)                 29/ Nguyễn phước Hào              30/ Đinh Ngọc Khôi.
31/ Nguyễn Ngọc Khương            32/ Nguyễn Trọng Khoan            33/ Nguyễn Thành Kiên (mất)
34/ Trần Hửu Lễ                              35/ Nguyễn Khắc Lộc(mất)        36/ Nguyễn Lộc
37/ Trần Trung Long                        38/ Nguyễn-v-Môn                      39/ Nguyễn-v-Mum.
40/ Lê Ru Nghi                                 41/ Nguyễn Bá Nghĩa                 42/ Nguyễn Đức Nghĩa(6/17).
43/ Võ Trọng Nghĩa                          44/ Nguyễn Phước Ngọc          45/ Nguyễn Hửu Nhân.
46/ Dương thành Nhơn                            47/ Nguyễn Minh Nhựt         48/ Lợi Quốc Thụy
49/ Nguyễn Ngọc Nưa                      50/ Phạm-v-Phi.                         51/ Nguyễn -v-On
52/Lê Trung Phong(mất 2/16                53 Võ Hửu Phương                 54 Nguyễn đăng Phu.
55 Huỳnh Bá Phước                        56  Phan -v-Quí                          57 Trần-v-Quen.
58 Hà huy Quang                              59/ Ngô tấn Quan                      60/ Ngô-v-Quyến
61 Nguyễn-v-Sâm                             62 Võ-v-Sinh                              63/ Nguyễn-v-Sơn
64 Lê thanh Sơn ( 2018                65 /Trần Ngọc Sơn                         66/ Sơn Soul.
67/Đỗ y Sỉ                                          68/Đoàn Chánh Tâm                 69/ Trần Quang Tấn.
70/ Trần Minh Thấu                            71/ Nguyễn-v-Thế                      72/ Nguyễn Ngọc Thi.
73/ Tô-v-Thiện                                    74/ Trần Đại Thìn                       75/ Võ-v-Thơ.
76/ Nguyễn-v-Thông                           77/ Lê-v-Thuyên (mất )                78/Lê Phước Trần.
79 /Nguyễn-v-Triều                             80/ Huỳnh Nam Triều                 81/ Nguyễn Tất Trúc,
82/ Đỗ đình Trữ ( 2015 )                         83/ Phạm-v-Tư                           84/ Trịnh-v-Tưa.
85/ Đoàn quốc Tuấn.                          86/ Đặng-trần-Hào.                    87/ Lê Duy Quý
88/ Dương xuân Hiếu                        89/ Trần Dũng                            90/ Lê Mạnh Giỏi
91/ Nguyễn-v-Thành                           92/ Nguyễn ngọc Sương            93/ Nguyễn văn Xưởng
94/ Võ mộc Tân                                   95/ Phan văn Xỉ                         96/ Nguyễn Đình Biêm
97/ Nguyễn Rép                                   98/ Hồ châu Bửu                       99/ Tạ Nguyên Hoài
100/. Nguyễn ngọc Phương              101 Nguyễn văn Cang              102 Nguyễn Minh Sao
103 / Nguyễn Hiếu Học                  104/ Nguyễn văn Huy  2/2016).105./ Ng.Thành Thảo (2021 )
106./ Khoan Hồng Hải                      107./ Nguyễn Nho Lưu              108./ Phạm Minh Châu
 109/ Nguyễn Phát Thanh                110/ Trịnh văn On                       111/ Ô Hòang Khanh
112/ Đỗ Quan Dư                              113/ Hồ Thành Tri                       114/ Trần Ngọc Chót.
115/ Nguyễn văn Chức                     116/ Nguyễn văn Khoa                117/ Trần Đình Kỷ.
118./ Lê Thoại Khanh                       119/ Võ văn Thành                     120/ Nguyễn-v-Đông.
121/Dương xuân Tôn                       122/Ng.Thành Bửu                     123/ Ng.Hiền Đức.
124/Nguyễn văn Se                            125/ Nguyễn -v-Lương                 126/ Hà Cẩm Vương.
127/  Nguyễn  Thanh Sơn                   128/Hồ Công Lượng                   129/Ng.Trọng Lương.
130/Nguyễn văn Tập                          131/Nguyễn Ngọc Mỹ                 132/Trần Hưng Long
133/Đào Trung Thung                       134/.Nguyễn văn Bắc                 135/. Huỳnh Hửu Cử( 1/18)
136/Đặng Mỷ Chô                             137/Lê Trung Thành                   138/.Nguyễn Ngọc Chẩn
139/ Nguyễn Thanh Liêm                140/.Nguyễn Thới Chuẩn            141/ Mai văn Vinh
142/ Nguyễn Quang Thục                143 Trương.....Quyền                  144/La Minh Viện
145/ Hà Phước Trọng                      146 / Huỳnh Kim Quang             147./ Nguyễn Hửu Nhân (2022 )

DS nầy lấy từ  trang web SPSG và từ trí nhớ bạn bè.
Tổng số GS ra trường năm 1965 là 360( xem học bạ Việt Nga).Nếu cộng 2 DS lại số người có tên ở đây chỉ  hơn phân nửa.
Các bạn ơi,hiện ở đâu,vui lòng lên tiếng.
Chúng tôi rất vui mừng được các bạn giúp  thêm tên những người năm cũ vào DS

9 thg 12, 2020

Thị Xã Ngày Tôi Về- Thơ Nguyễn Hải Thảo-K11(SPSG )

 

Thị Xã Ngày Tôi Về

Về đây với thị xã buồn hiu
Ngắm lá buồn rơi những buổi chiều
Nhà trọ nhìn ra con hẽm vắng
Quay quắt từng đêm nhớ em yêu!

Về đây chưa có những tình thân
Buổi đầu đứng lớp vẫn còn run
Ngập ngừng… lúng túng trong giọng giảng
Học sinh ngơ ngẩn xoe mắt tròn!

Về đây những buổi sáng bình yên
Hoa cỏ thắm tươi đón trước thềm
Ngõ trúc nồng thơm hương gió mới
Thị xã bừng lên sức sống hiền

Về đây còn có những chân tình
Giấu sau lớp áo vải phong phanh
Của học trò tôi ngoan, thánh thiện
Và những tình người lạ hóa quen

Về đây những tối nằm nghe mưa
Nhớ em và nhớ bạn bè xưa
Nhớ cả một thời vàng son cũ
Nhớ mẹ cha đậm nỗi nhớ nhà…

Nguyễn Hải Thảo-Khóa 11 Sư Phạm Saigon ( KY.60 Năm SPSG )

Trần Xuân Lộc-Nguyễn Thị Kim Hồng-Nguyễn Thị Ba-Nguyễn Thị Phương-Đào Thị Lâm-Trần Thị Nhị-Lê Thị Tuyết-Nguyễn Hải Thảo

 Ảnh  chụp nhân ngày Đào Thị Lâm ( Red Pull )-Lớp Nhất 13-Nhị 5-K11 SPSG về thăm quê hương

15 thg 11, 2022

BÉ ĐI QUA CẦU - Thơ Nguyễn Hải Thảo (SPSG )

 
BÉ ĐI QUA CẦU
 
Bé đi qua cầu
Anh theo lẽo đẽo
Bàn tay ngượng nghịu
Giấu một tờ thư
Bé cứ tỉnh bơ
Vờ như không biết
Cái đôi mắt liếc
Chao ơi là tình
Có phải tình yêu
Rơi vào mắt bé
Đôi môi mở hé
Một nụ hoa cười
Bé đi qua rồi
Còn anh đứng lại
Bàn tay vụng dại
Ấn một tờ thư...
NGUYỄN HẢI THẢO
***
 
  Bé : Vì anh ... tóc đã đổi mầu
Bé thì tin thế
Thư anh.... mang về
 
Mời Xem :
 
 


16 thg 12, 2018

TIẾN SĨ HÁN HỌC NGUYỄN THỊ DUỆ LÀ MỘT SẢN PHẨM HƯ CẤU

 

Tượng nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ trong khám thờ ở hậu cung Văn miếu Mao Điền 
(Hải Dương). Ảnh: Hà Vũ Trọng Blog.

TIẾN SĨ HÁN HỌC NGUYỄN THỊ DUỆ LÀ MỘT SẢN PHẨM HƯ CẤU CỦA ÔNG TĂNG BÁ HOÀNH 

Đặng Văn Sinh

Từ mấy chục năm trước, một phi tần của vua Mạc Kính Cung (cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII) là Nguyễn Thị Duệ, được nhà sử học Hải Dương Tăng Bá Hoành, nguyên Trưởng ban Thông sử Tỉnh ủy Hải Hưng, tôn vinh là "nữ Tiến sĩ Hán học đầu tiên của Việt Nam".

Nhân "phát minh" này, hàng loạt bài viết xuất hiện trên các báo, đài phát thanh, tạp chí văn nghệ Hải Hưng (sau khi chia tách tỉnh là Hải Dương và Hưng Yên) nhằm cổ xúy cho người phụ nữ tài danh, vốn sinh ra từ vùng đất Chí Linh làm rạng rỡ nền văn hiến Xứ Đông. Chiến dịch quảng cáo rầm rộ đến mức, trang "Từ điểm mở" (Wiki Pedia) cũng nhanh chóng nhập cuộc bằng những lời có cánh như sau:

"Nguyễn Thị Duệ 阮氏叡 là người ở Kiệt Đặc (nay là phường Văn An), Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Vốn là người thông minh, có nhan sắc nên mới hơn 10 tuổi, bà đã được nhiều nhà quyền quý đến xin hỏi cưới, nhưng gia đình không thuận. Năm 1592, chúa Trịnh Tùng đem quân đánh chiếm kinh đô Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng. Nguyễn Thị Duệ cùng gia đình đi theo.

Là một người hiếu học, song luật lệ bấy giờ không cho phép con gái được học hành thi cử, Nguyễn Thị Duệ phải giả trai để dự việc đèn sách. Khoa thi Hội năm Giáp Ngọ (1594)[4] bà mang tên giả là Nguyễn Du đi thi và đỗ đầu khi tuổi vừa 20. Đến khi mở yến tiệc chiêu đãi các tân khoa, vua Mạc Kính Cung thấy vị Tiến sĩ trẻ dáng vẻ mảnh mai, mặt mày thanh tú... nên dọ hỏi. Khi đã rõ chuyện, Nguyễn Thị Duệ không bị khép tội mà còn được vua khen ngợi...

Sau đó, vua nhà Mạc vời bà vào cung để dạy các phi tần, rồi được tuyển làm phi: Tinh Phi (Sao Sa) và người ta quen gọi là "Bà Chúa Sao" (hết trích).

Cùng với trang "Từ điển mở", hàng loạt bài viết ca ngợi trí thông minh, nhân cách cao đẹp của vị nữ thủ khoa trên các báo Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Phụ Nữ Việt Nam, Nông nghiệp Việt Nam, website của Đảng CSVN v.v... của các tác giả Đỗ Thị Hảo, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Nguyễn Lân Dũng...

Trang Wiki Pedia còn dẫn cả tư liệu về văn thơ Nguyễn Thị Duệ trong "Công dư tiệp ký" của Vũ Phương Đề, thơ ca ngợi bà Tinh Phi trong "Chí Linh bát cổ" và nhất là, Nguyễn Thị Duệ là một trong tám vị đại khoa được đúc tượng đồng thờ ở Văn miếu Mao Điền, Hải Dương.

Vậy sự thật có đúng là Nguyễn Thị Duệ, một nữ sĩ tài danh đã từng đỗ đầu (Hội nguyên) khoa thi Hội năm Giáp Ngọ (1594) với cái tên giả Nguyễn Du?

Trước khi làm rõ vấn đề này, chúng tôi xin có đôi lời về lịch sử khoa cử thời phong kiến. Nhìn chung, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi trọng khoa cử, vì khoa cử chính là nơi tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Vì thế, trên tấm bia "Tiến sĩ đề danh" đầu tiên dựng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám vào năm Giáp Thìn (1484) về khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) có khắc những dòng chữ của Tiến sĩ Thân Nhân Trung :"...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...".

Trong lịch sử khoa cử 844 năm (1075 - 1919) của Việt Nam, bất cứ thuộc triều đại nào, kể cả nhà Hồ, nhà Mạc, luôn được coi là "ngụy triều", nếu điều kiện thuận lợi, các Tiến sĩ đều được ghi tên vào bia đá như một nghĩa cử vinh danh lưu truyền hậu thế. Về mặt lịch sử, hầu hết các bộ chính sử của Quốc sử quán triều đình cũng như của các nhà biên khảo đều ghi chép khá đầy đủ nội dung các khoa thi cũng như danh sách những người đỗ đại khoa. Đó là các bộ "Đại Việt sử ký toàn thư", "Đại Nam thực lục", "Đại Việt thông sử" của Lê Quý Đôn hay các cuốn biên khảo "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, "Đại Việt lịch triều đăng khoa lục" của nhóm tác giả Nguyễn Hoãn, Uông Sĩ Lãng, Phan Trọng Phiên, Võ Miên v.v...

Căn cứ vào những thư tịch trên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu lịch sử các khoa thi triều Lê và triều Mạc vào giai đoạn cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI nhưng đều không thấy có KHOA THI HỘI NĂM GIÁP NGỌ (1594) dưới triều vua Mạc Kính Cung.

1 - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển XVII chép:

"Nhâm Thìn (1592), Thi Hội các cử nhân trong nước. Cho Trịnh Cảnh Thuỵ và Ngô Trí Hoà đỗ Tiến sĩ xuất thân; Ngô Trí Tri đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho bọn Phạm Hữu Năng 4 người đỗ Tiến sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Hữu Đức 13 người đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Ất Mùi, (Quang Hưng) năm thứ 18 (1595),

Tháng 3, thi Hội các cử nhân trong nước ở bến Thảo Tân. Cho Nguyễn Thực và Nguyễn Viết Tráng đỗ tiến [50b] sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Đức Mậu 4 người đỗ Tiến sĩ đồng xuất thân.

Như vậy, cùng năm Nhâm Thìn (1592) "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi chép hai khoa thi và danh tính các Tiến sĩ của cả triều Lê lẫn triều Mạc. Cũng năm Nhâm Thìn (1592), nhà Mạc mất, Mạc Mậu Hợp bị bắt, nhà Lê chiếm lại Thăng Long, và phải đến năm Ất Mùi (1595) mới mở khoa thi Tiến sĩ.

Trong khi ấy, "Đại Việt thông sử" của Lê Quý Đôn, ngoài việc ghi chép tất cả các khoa thi Tiến sĩ triều Lê, phần "Liệt Truyện - Nghịch Thần Truyện" ông cũng ghi đầy đủ các kỳ thi của triều Mạc: "Mùa hạ năm này (1592), Mậu Hợp mở khoa thi Cử nhân ở bến Bồ Đề, lấy bọn Phạm Hữu Năng cộng 17 người trúng tuyển". Tuy nhiên, sau đó không thấy có ghi chép về khoa thi năm Giáp Ngọ (1594).

2 - Phan Huy Chú trong "Lịch triều hiến chương loại chí", phần "Khoa mục chí" ghi như sau:

Lê Trịnh: Năm Quang Hưng thứ 15 (1592), lấy đỗ Tiến sĩ 13 người. Đình nguyên Hoàng giáp: Trịnh Cảnh Thuỵ (người xã Chân Bái, huyện Yên Định, Thanh Hoá)

Mạc, năm Hồng Ninh thứ 2 (1592), lấy đỗ Tiến sĩ 17 người. Hội nguyên: Hoàng Đĩnh (người xã Tiên Minh, huyện Tiên Minh - Tiên Lãng). Đình nguyên Hoàng giáp: Phạm Hữu Năng (người xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng).

Năm Quang Hưng thứ 18 (1595), khoa Ất Mùi, lấy đỗ Tiến sĩ 6 người. Hội nguyên: Nguyễn Viết Tráng (người xã Hạ Yên Quyết, huyện Từ Liêm). Đình nguyên Hoàng giáp: Nguyễn Thực (người xã Vân Điểm huyện Đông Ngàn).

3 - Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (大越歷朝登科錄) của nhà biên khảo NGUYỄN HOÃN(1713-1791) chẳng những ghi chép chi tiết từng khoa thi kèm theo danh tính, quê quán, thứ bậc các Tiến sĩ mà công còn nói rõ được chức vụ các vị này từng đảm nhiệm trong triều đình nhà Lê và nhà Mạc.

Để rộng đường dư luận, chúng tôi lại trích dẫn những thông tin chủ yếu của hai khoa thi Nhâm Thìn (1592) và Ất Mùi (1595) mà "Đại Việt lịch triều đăng khoa lục đã ghi chép:
 

Năm Nhâm Thìn (1592)

Niên hiệu Quang Hưng (光興) thứ 15 (Mạc Hồng Ninh thứ 2, - 1592), cho trúng Tiến sĩ 3, trúng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2: Trịnh Cảnh Thụy, người làng Chân Bái, huyện An Định, làm đến Thừa chính sứ, tước Nam, bị truất. Ngô Trí Hòa (吳致 和), người làng Lý Trai, hạt Đông Thành, thi đỗ khi 28 tuổi (...).

Trúng Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân 1: Ngô Trí Tri (吳致 知), người làng Lý Trai, hạt Đông Thành, thi đỗ khi 56 tuổi.

Ngụy Mạc lấy Tiến sĩ: 17:

(Ngụy Mạc tiếm ngôi, mở khoa thi từ niên hiệu Minh Đức đến niên hiệu Hồng Ninh thứ 2, khoa Nhâm Thìn, cộng 21 khoa).

Trúng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 4:

Phạm Hữu Năng (范有能), người làng Cẩm Sơn, hạt Cẩm Giang, thi đỗ khi 30 tuổi, xin hiệu thuận, làm đến Hiến sát sứ. Nguyễn Tảo (阮藻), người làng Thời Mại, hạt Bảo Lộc, thi đỗ khi 40 tuổi, làm đến Thị lang (...). Nguyễn Dụng (阮用), người làng Cổ Vũ, hạt Thọ Xương, trú ở hạt Đường An, Hoa Đường, thi đỗ khi 38 tuổi, xin hiệu thuận, có đi sứ, làm đến Binh bộ Tả thị lang, tước Bá. Danh sách còn có Lê Kim Bảng và 13 người khác kèm theo tên tuổi, quê quán, chức tước. 

Đời vua Lê Thế Tông, Nghị tổ Hoàng đế
(Thánh tổ Triết vương Trịnh Tùng)

Năm Ất Vị (Ất Mùi), niên hiệu Quang Hưng (光興) thứ 18 (1595), cho trúng Tiến sĩ 6. Lúc đó Ngụy Mạc đã bị tiêu diệt, xe kiệu vua về đến Kinh thành, hội thi các Cống sĩ tại Hà Tân. Trúng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân 2: Nguyễn Quán (阮貫), người làng Vân Điềm, hạt Đông Ngạn, thi đỗ khi 41 tuổi, có đi sứ, làm đến Tán trị công thần, Tham tụng, Lại bộ thượng thư (...), Nguyễn Nhật Tráng (阮日壯), người làng Hạ An Quyết, hạt Từ Liêm, thi đỗ khi 38 tuổi, Hội nguyên, làm đến Tán lý công thần, Lại khoa cấp sự trung (...). Danh sách còn có Nguyễn Đức Mậu, Đặng Kính Chi, Nguyễn Danh Thế và Nguyễn Đức Trạch.

Như vậy từ "Đại Việt sử ký toàn thư" đến "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, "Đại Việt thông sử" của Lê Quý Đôn, cũng như "Đại Việt lịch triều đăng khoa lục" của Nguyễn Hoãn đều không chép về khoa thi năm Giáp Ngọ (1594) và người đỗ đầu là Nguyễn Thị Duệ giả trai đi thi Hội với danh xưng Nguyễn Du.

Để nhận diện được đầy đủ hơn về khoa cử triều Mạc, chúng ta cũng nên tham khảo bài "Tình hình giáo dục thi cử thời Mạc" (https://sites.google.com/site/trieunhamac2013/tnh-hnh-thi-c-thi-mc) của Nguyễn Hữu Tâm. Trong bài viết của mình, tác giả cho biết, nhà Mạc chính thức tồn tại từ năm 1527 đến 1592 qua 5 đời vua, mở 22 khoa thi với số lượng 499(1) Tiến sĩ và 13 Trạng nguyên. Kỳ thi đầu tiên Năm Minh Đức thứ 3 đời Mạc Đăng Dung (1529) lấy đỗ 27 Tiến sĩ và kỳ thi cuối cùng vào năm Hồng Ninh thứ 2 đời Mạc Mậu Hợp (1592) lấy đỗ 17 Tiến sĩ. Điều rất đáng chú ý là, ông Tâm cũng không nói gì về kỳ thi Hội năm Giáp Ngọ (1594) sau khi nhà Mạc bị đánh bại, Mạc Mậu Hợp bị bắt, tàn quân phải rút khỏi Kinh thành Thăng Long.

Từ những chứng cứ trên, chúng tôi thấy có mấy điều rất khả nghi về việc bà Nguyễn Thị Duệ "đỗ đầu khoa thi Hội năm 1594 lúc mới 20 tuổi" dưới triều vua Mạc Kính Cung.

Thứ nhất, nhà Mạc tiến hành thi Hội các Cử nhân theo lệ 3 năm một lần. Khoa trước đã mở vào năm Nhâm Thìn (1592), vậy khoa kế tiếp phải là Ất Mùi (1595) chứ không thể là Giáp Ngọ (1594). Nên nhớ, năm Ất Mùi, nhà Lê cũng mở khoa thi Hội lấy đỗ được 6 Tiến sĩ.

Thứ hai, theo "Đại Việt sử ký toàn thư", "Đại Việt thông sử" được Wiki Pedia dẫn lại, vào tháng 3 năm 1592, Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn lập Mạc Kính Cung làm vua, lấy niên hiệu là Càn Thống thứ nhất. tháng 4 năm 1593 Lê Thế Tông phải ban chiếu đại xá thiên hạ để tranh lấy lòng người, đồng thời sai Nguyễn Hoàng tổng đốc bản doanh xuất quân đánh lực lượng nhà Mạc còn lại ở vùng Sơn Nam, Hải Dương. Quân Mạc bị thua, Mạc Kính Cung cùng một số tông thất bỏ chạy. Đầu năm 1594, Hoàng Đình Ái được Trịnh Tùng sai đi đánh Mạc Kính Cung ở vùng Đại Từ, Phổ Yên, Thái Nguyên cũng chưa dẹp hết được quân Mạc (hết trích).

Từ những ghi chép trên về Mạc Kính Cung, có thể thấy rất rõ, tàn quân nhà Mạc lúc này đã bị đánh bật khỏi vùng Sơn Nam, Hải Dương (vốn là nơi phát tích của vương triều Mạc) phải chạy lên Phổ Yên, Thái Nguyên nhưng vào năm 1594, Mạc Kính Cung chưa lên đến Cao Bằng, vậy mà đã tổ chức được khoa thi Hội ở vùng địa đầu đất nước này thì quả thật là thần kỳ!

Lúc này chiến tranh Lê - Mạc đang khốc liệt. Quân đội Lê Trịnh đã lấy lại thế thượng phong, quân Mạc liên tục tháo chạy để bảo toàn lực lượng và không có chỗ đóng đại bản doanh lâu dài, vậy thì làm sao dám mở khoa thi Hội trong hoàn cảnh lúc nào cũng bị kẻ thù tấn công?

Thứ ba, những tư liệu mà ông Tăng Bá Hoành đưa ra để chứng minh cho sự kiện Nguyễn Thị Duệ đỗ Tiến sĩ phần lớn là ngụy tạo, kể cả văn thơ được cho là có trong "Chí Linh phong vật chí" hay khắc tại lăng mộ của bà. Theo chúng tôi, tư liệu nói về Nguyễn Thị Duệ đáng tin cậy nhất là bài thơ "Tinh Phi cổ tháp" của Tác giả: Nguyễn Chí Hòa, hiệu Thanh Hiên Khải Phủ (cũng có thể tập thơ có tựa đề "Thanh Hiên khải phủ"), sáng tác: năm 1795 và khắc vào bia "Chí Linh bát cổ" năm 1798. Bia này hiện đang được bảo quản tại Nhà Văn hóa thôn Linh Khê, xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, nơi trước đây đã từng là lỵ sở của huyện Chí Linh. 

星妃古塔
玉手折高枝
鏡顏留古塔
從古此江山
至今幾蓂荚
花草自射開
漁樵相對荅
山色正青蒼
秋聲何蕭颯
Phiên âm

Tinh phi cổ tháp
Ngọc thủ chiết cao chi,
Kính nhan lưu cổ tháp.
Tòng cổ thử giang san,
Chí kim kỷ minh giáp.
Hoa thảo tự tạ khai,
Ngư tiều tương đối đáp.
Sơn sắc chính thanh thương,
Thu thanh hà tiêu táp. Dịch nghĩa

Tay ngọc vin bẻ cành cao
Mặt gương còn lưu trên tháp cổ
Giang sơn từ bấy đến giờ
Đã có bao tấm gương đoan trinh tốt đẹp như vậy
Hoa cỏ tự tàn tự nở
Ngư tiều cùng nhau đối đáp
Sắc núi đã xanh càng thêm xanh
Tiếng thu bao nhiêu độ nghe xào xạc.

Từ nội dung bài thơ, ta chỉ thấy tác giả ca ngợi vẻ đẹp, sự dịu dàng và tấm lòng đoan trinh của Nguyễn Thị Duệ, tuyệt nhiên không nói gì đến việc đỗ đại khoa cũng như việc sau này bà bị bắt đưa về Thăng Long rồi được Chúa Trịnh phong làm nữ quan dạy dỗ cung nữ.

Qua những tư liệu mà chúng tôi đã tìm hiểu từ các thư tịch cổ trong đó có bộ sử "Đại Việt sử ký toàn thư", "Đại Việt thông sử" cũng như các công trình biên khảo của tiền nhân như "Lịch triều hiến chương loại chí", "Đại Việt lịch triều đăng khoa lục", tất cả đều khẳng định KHÔNG CÓ KHOA THI HÔI NĂM GIÁP NGỌ (1594) của triều nhà Mạc. Vì thế đương nhiên cũng không thể có một nhân vật Nguyễn Thị Duệ giả trai thi đỗ Hội nguyên vào năm mới 20 tuổi tại Cao Bằng. Mọi thông tin ông Tăng Bá Hoành đưa ra đều là ngụy tạo. Và cũng chính bởi sự ngụy tạo ấy khiến cho xã hội hiểu lầm dẫn đến tình trạng ngộ nhận tai hại. Môt trong số đó là đúc tượng đồng vị nữ Tiến sĩ tưởng tượng này thờ trong Văn miếu Mao Điền cùng với 7 vị đại khoa vùng đất Xứ Đông.


Tượng nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ trong khám thờ ở hậu cung Văn miếu Mao Điền 
(Hải Dương). Ảnh: Hà Vũ Trọng Blog.

Sau sự kiện Nguyễn Thị Duệ, hàng loạt loại hình ăn theo được các văn nghệ sĩ địa phương sáng tác dưới dạng tiểu thuyết, thơ, chèo chỉ với mục đích quảng bá cho "nền văn hiến" tỉnh nhà. Chưa hết, người ta còn lấy tên Nguyễn Thị Duệ đặt cho một con đường phía tây thành phố Hải Dương để tưởng nhớ đến vị nữ Tiến sĩ Hán học độc nhất vô nhị ở Việt Nam thời trung đại...

Nếu Nguyễn Thị Duệ đỗ Tiến sĩ thật thì việc vinh danh bà là điều rất nên làm, nhưng đây lại là Tiến sĩ rởm, do một nhà sử học địa phương bịa ra thì hậu quả vô cùng tai hại. Chẳng những nó gây ra cái nhìn sai lệch của công đồng dân tộc về đất nước và ông cha mình, mà còn di hại đến nhận thức và tình cảm của các thế hệ mai sau. Ngụy tạo lịch sử là một trọng tội. Các sử thần ngày xưa vướng vào tội này chắc chắn sẽ bị chém đầu, thậm chí còn bị "tru di tam tộc" nữa. Vì vậy, chúng tôi đề nghị chính quyền tỉnh Hải Dương là cơ quan quản lý cao nhất của địa phương, cần làm rõ và xử lý nghiêm minh vụ việc gian lận này, đặng trả lại sự thật vốn có cho lịch sử.

P/S:

Xin được bổ sung thêm tư liệu:

1 - Trong cuốn "Tiến sĩ nho học Hải Dương" do ông Tăng Bá Hoành chủ biên, trang 143 ghi "Nguyễn Thị Duệ, trú quán Kiệt Đặc (nay thuộc xã Văn An, Chí Linh) đỗ "đệ nhất danh" "cuối thế kỷ 16", nhưng không ghi niên hiệu và năm mở khoa thi đã chứng tỏ có sự khuất tất trong quá trình làm sách. 




2 - Dựa vào cuốn sách này, Sở GD&ĐT Hải Dương đã phát hành một số lượng lớn cuốn "Lịch sử địa phương" làm tài liệu dạy học trong các trường THCS và THPT với những tư liệu bịa đặt về Nguyễn Thị Duệ.

3 - Cũng từ cuốn sách ngụy tạo này, tỉnh Hải Dương đã đầu tư kinh phí xây nhà thờ Nguyễn THị Duệ tại xã Văn An để giới thiệu với khách du lịch.

Chí Linh, 13.12.2018
Đ.V.S.
_________________

Ghi chú:

(1) Về số khoa thi trong "Đại Việt lịch triều đăng khoa lục" của nhà Mạc, Nguyễn Hoãn thống kê chỉ có 21 khoa, 485 Tiến sĩ. Theo Nguyễn hữu Tâm là 22 khoa và 499 Tiến sĩ. Ông Tâm đã tìm ra khoa thi bị thiếu và bổ sung chính xác.


13 thg 9, 2024

Ký ức về Khóa 2 SPSG - Phạm Hòa (Cập nhật 13/9/24 )

Nơi gợi nhớ và chia sẽ những tình cảm trong veo của một thời áo trắng 

Ký ức về SPSG
May 21, 2011 10:27 AM

Chúng tôi đã từng học tại SPSG cách nay  gần 50 năm.
Sau khi tốt nghiệp nhiều người đã tự học để tiến xa hơn mục đích được đào tạo ban đầu là giáo học bổ túc.,là GV dạy lớp cao nhất bậc tiểu học
Trường Sư pham Sai gòn là nấc thang đầu tiên,vững chắc để các bạn có được sức mạnh để theo nghề""gõ đầu trẻ""với lương tâm và trách nhiệm của 1 thầy ,cô giáo chân chính.
Chúng tôi viết trang tên tuổi  Thầy  Cô đã từng giảng dạy trong 2 năm học từ 1963-1965 như một  Tri ân thầy cô còn sống và tưởng nhớ đến các Thầy Cô đã khuất núi.

Danh sách nầy thiếu  các Thầy Cô phụ trách văn phòng vì những hạn chế bởi thời gian  và thông tin thời đó.

Hiệu Trưởng :Trương Hữu Tước,năm 1964 thầy về hưu và thay thê là thầy Trần Hữu Văn
Giám học : T.Nguyễn Quý Bổng,thầy nầy còn phụ trách môn:Những vấn đề giáo dục.(mất 4/2014)
Tổng giám thị :T. Phạm văn Phúc,kiêm GS Pháp văn.

Các môn học  và GS phụ trách:

Việt văn :  T.Nguyễn Tá Minh  (6/2018),Phạm Hương Tích,Doãn Quốc Sỷ,Đoàn Viết Bửu,Đặng Phúc Xuân.
Pháp :cô Bùi thị Ánh,Lưu thị Kim Vân,Phạm văn Phúc.
SP Lý thuyết và thực hành:cô Nguyễn thị Hạnh,Dương thị Ninh (2/2015).,thầy Đăng Phúc Xuân
Quản trị học đường: T.Vũ Ngô Xán,Trương văn Đức.,Trần văn Quế
Luân lý Chức nghiệp :cụ Nguyễn Gia Tường.
GD  Công dân :cô Phạm thị Mỷ.
Tâm lý Giáo dục :cô Nguyễn thị Hoa,t.Đoàn Hửu Khánh.
Giáo dục Cộng Dồng:T.Đỗ văn Trần,Nguyễn Duy Linh,Hoàng Trần Hoạch.
Các VĐ GD:T .Nguyễn Quý Bổng mất ,Vũ Ngọc Đại. (mất 8/2023)
Vận dụng khoa học: T.Đoàn Hửu Khánh (7/2014).
Dụng cụ giáo khoa: T.Nguyễn Hửu Tài.,cô Lưu thị Dậu.
Thủ công :cô Lê thi Mão,Cô Võ -t- Minh Vân.
Dung cụ thính thị:T.Nguyễn Tử Quý(7/2020 )
Vệ sinh: BS Nguyễn Hửu Nam.
Nhạc: T.Huỳnh văn Hóa.
Thể dục: Cô Trần thị Hoa 9/2018 ),Trần thị Hương Thủy,T.Trần Quang Minh,Vũ văn Tịch.
Vẽ: T.Trần thanh Thanh (9/2015 ),họa sĩ Văn Đen.
Nữ công,gia chánh:cô Phạm thị Thân (nữ học HK1 năm thứ nhất)
Giám thị nữ: cô Nguyễn-t-Lục.

Ngoài giờ học lý thuyết,chúng tôi thường được dự giờ ở trường Sư pham thực hành,bên cạnh trường SP.Thầy cô dạy ở đây  đều là những nhà giáo giỏi,có kinh nghiệm.

Gs môn Tâm lý GD Nguyễn thị Hoa và các nam GS (1964)

Sau đây là DS các bạn ở 2 lớp nữ (tổng số khoãng 90.
1/ Ngô thị Ngọc Anh    2/ Hà Lê Chân                       3/ Từ thị Cảnh
 4 / Nguyễn thị Cúc       5/ Lê Ngọc Châu                   6/ Nguyễn thị Ngọc Diệp
7 Châu Ngọc Diễm       8/ Nguyễn thị Diễm               9/Trần thị Nghi Dung.
10/ Trần thị Đầm ( x )      11/  Lê Ngọc Rỡ( x )             12/ Trương-t-Hồ Điệp( x ).
13/ Nguyễn Hồng Điệp   14/ Lê thị Hà                          15/ Võ Hồng Hạnh.
16/Pham-t-Hòa                 17/ Đinh-t Hỏi                        18/ Lê Doãn-t-Hiền.
19/ Hồ Mỷ Hương             20/ Phan-t-Hường                 21/ Tạ thị Huê.
22/ Võ Tuyết Hà                 23 Nguyễn-t-Xuân Hà           24/ Nguyễn -t-Thanh Hương.
25/ Nguyễn Ngọc Khanh    26/ Nguyễn-t-Ngọc Kiêm      27/ Nguyễn-t-Kim Liên( x ).
28/ Trương Hồng Liên        29/ Trần-t-Lê                          30/ Nguyễn-t-Bảo Lộc
31/ Phùng-t-Lang                 32/ Nguyễn-t-Ngọc Lan         33/ Đỗ-t-Lựu
34/Nguyễn-t-Lợi   .                35 Trần-t-Ấu Mai                   36/ Nguyễn-t-Tuyết Mai.
37/ Nguyễn-t-Mười                38/ Phạm-t-Việt Nga             39/ Trần-t-Hoàng Nga.
40/ Lê kim Ngân( x )             41/  Nguyễn Ngọc Nhung      42/ Mai Hồng Nhung.
43/ Trần-t-Nhuần                      44/   Huỳnh-t-Nhường               45/ Trần-t-Phú.
46/ Phạm quý Phi                    47/ Nguyễn-t-Phụng.              48/ Lê-t-Phượng,
49/ Võ-t-Phương(mất)             50/ Vũ-t-Phúc                         51/ Võ-t-Hồng Phúc.
52/ Huỳnh-t-Thiên Phương      54/ Diệp-t-Phước                  54/  Hồ kiêm  Quang
55/ Trần-t-Sáng                       56/ Vũ-t-Tuấn                           57/ Võ thị Ánh Vân..
58/ Trịnh -t-Vạng                59/ Nguyễn-t-Liêm ( x  )                  60/  Phan-t-Quế Phương
61/ Cao thị Hảo            62./ Nguyễn Thị Thái ( x )
Thầy Đỗ văn Trần GS GDCĐ và các nữ GS thăm TTGDCĐ Long An 1964

Danh sách nam GS: từ lớp nhất niên 3 đến 8.
1/ Nguyễn tuấn Anh                 2/ Lý tuyết Ánh( x  )                        3/ Nguyễn Ngọc Ẩn
4/ Lê-v-Bầm                              5/ Lê Minh Châu ( x )                6/ Trần Ngọc Minh Châu.
7/ Lâm Hòa Chiếm ( x )                8/ Lương Trác Cường       9/  Nguyễn-v-Chinh-( x )

10/ Huỳnh Ngọc Chơn                   11/  Đỗ-v-Cư                                12/  Trần Ninh Cường.
13/ Đặng-v-Di                                  14/ Huỳnh-v-Dĩ  ( x  )                 15/ Trần-v-Đại
16/ Nguyễn-v-Điền                         17/ Võ -v-Đởm  (x  )                  18/ Nguyễn Đình Đức
19/ Nguyễn-v-Đôi (  x )               20/ Nguyễn Doãn Đoan              21/ Nguyễn-v-Đúng
22/ Trần-v-Gòn (  x )                      23/ Đào Cẩm Giang (k.3)                   24/ Ngô Ngọc Hải.
25/ Nguyễn Đức Hảo                    26/  Bùi-v-Hoa                              27/ Võ-v-Hoà
28/Đỗ-v-Hồng (  x )                        29/ Nguyễn phước Hào              30/ Đinh Ngọc Khôi.
31/ Nguyễn Ngọc Khương            32/ Nguyễn Trọng Khoan        33/ Nguyễn Thành Kiên ( ( x  )
34/ Trần Hửu Lễ                              35/ Nguyễn Khắc Lộc(  x )        36/ Nguyễn Lộc
37/ Trần Trung Long                        38/ Nguyễn-v-Môn                      39/ Nguyễn-v-Mum.
40/ Lê Ru Nghi                        41/ Nguyễn Bá Nghĩa           

42/ Nguyễn Đức Nghĩa( x ).    43/ Võ Trọng Nghĩa                  44/ Nguyễn Phước Ngọc          45/ Nguyễn Hửu Nhân.
46/  Dương  thành Nhơn                            47/ Nguyễn Minh Nhựt           48/ Lợi Quốc Thụy
49/ Nguyễn Ngọc Nưa                      50/ Phạm-v-Phi.                         51/  Trịnh  -v-On
52/Lê Trung Phong  (x )              53 Võ Hửu Phương                 54 Nguyễn đăng Phu.
 
55 Huỳnh Bá Phước                        56  Phạm-v-Quí                          57 Trần-v-Quen.
58 Hà huy Quang                              59/ Ngô tấn Quan                      60/ Ngô-v-Quyến
61 Nguyễn-v-Sâm                             62 Võ-v-Sinh                              63/Nguyễn-v-Sơn
64 Lê thanh Sơn  ( x  )                      65/ Trần Ngọc Sơn                     66/ Sơn Soul.
67/Đỗ y Sỉ                                          68/ Đoàn Chánh Tâm                 69/ Trần Quang Tân.
70/ Trần Minh Thấu                            71/ Nguyễn-v-Thế                      72/ Nguyễn Ngọc Thi.
73/ Tô-v-Thiện                                    74/ Trần Đại Thìn                       75/ Võ-v-Thơ.
76/ Nguyễn-v-Thông                           77/ Lê-v-Thuyên  (  x  )                78/Lê Phước Trần.
 
79 /Nguyễn-v-Triều                             80/ Huỳnh Nam Triều                 81/ Nguyễn Tất Trúc,
82/ Đỗ đình Trữ  ( x )                             83/ Phạm-v-Tư                           84/ Trịnh-v-Tưa.
 
85/ Đoàn quốc Tuấn.                          86/ Đặng-trần-Hào.                    87/ Lê Duy Quý
88/ Dương xuân Hiếu                          89/ Trần Dũng                            90/ Lê Mạnh Giỏi
91/ Nguyễn-v-Thành                         92/ Nguyễn ngọc Sương         93/ Nguyễn văn Xưởng
94/ Võ mộc Tân                                      95/ Phan văn Xỉ  ( x )            96/ Nguyễn Đình Biêm
97/ Nguyễn Rép                                       98/ Hồ châu Bửu                      99/ Tạ Nguyên Hoài
100/. Nguyễn ngọc Phương                101 Nguyễn văn Cang           102 Nguyễn Minh Sao
103/Nguyễn-v-Dũng                              104/Nguyễn Phát Thanh  
105/Huỳnh Hửu Cử ( x  )                106/ Nguyễn Hiếu Hoc             107/Đỗ Quan Dư
108/ Nguyễn Thanh Liêm     109/ Nguyễn Ngọc Chẩn         110/ Nguyễn Phát Thanh
111/ Nguyễn văn Đông                112 Hồ Công Lượng                 113.Nguyễn văn Diên  
114/ Khoan Hồng Hải                      115/ Trần Đình Kỷ             116/   Lê văn Phú
117./Nguyễn Ngọc Mỷ        118./ Trần Ngoc Chót
Thay số 23 Đào Cẩm Giang là Bế văn Long
 
DS nầy lấy từ trang web SPSG và từ trí nhớ bạn bè.
Tổng số GS ra trường năm 1965 là 360 ( xem học bạ Việt Nga).Nếu cộng 2 DS lại số người có tên ở đây chỉ   1/2.
 Danh Sách ra trường là 356
Các bạn ơi,hiện ở đâu,vui lòng lên tiếng.
Chúng tôi rất vui mừng được các bạn giúp  thêm tên những người năm cũ vào DS


Cũng Xin Cáo Lỗi vì có 1 số Thông tin về Các Giái Sư và Giáo Sinh không thể cập nhật được
 
 Câp nhật
💓 tháng 4 /2022
Xem Trên ĐS  Xuân Ất Mão 1975, do Ban Báo Chí k.12+13  1974-75 thưc hiện  và  Xuân Lộc tãi trên FB,thời gian trên tại SPSG có 1 số Thông tin   trong trường như sau:
1. Hiệu Trưởng  :T.Đoàn Viết Bửu
2/ Giám hoc : T.Đinh Ngọc Ẩn 
TGT  :T.Huỳnh văn Ngôn
PT .TGT     :T.Bùi văn Giần 
 
HĐ.GS.Hướng Dẫn: 
Hiệu Đoàn Trưởng :T.Đoàn Viết Bửu
HĐoàn phó : Cô Nguyễn Thị Ngoc Diệp.
Tổng thư ký :T.Trần Quang Minh.
Thủ quỉ:T.Tô Hòa Hiệp.
 
GS.Cố Vấn khối :
 -  Báo Chí T.Doản Quốc Sỷ,Cô Nguyễn Thanh Quang.
 -  Xả hội :  Cô Nguyễn thị Thảo
-  Kỷ  luật : T.Phạm công Ngôn
- Văn Nghệ : T.Nguyễn Ngọc Quan
-Thể Thao : T.Lương Tấn Liêm
- Học tập : Phan Hửu Niệm 
 
Theo thầy Bửu,từ 1/5/1975 trường SPSG coi như chấm dứt hoạt động.Khóa cuối cùng của SPSG là khóa 13
Hiện nay đia điểm nầy là trường Đại Hoc SP TPHCM. 
Bìa báo Xuân  Ất Mão 1975

Sửa và bổ sung 13/9/2024 - Pham Hòa

 Tên Các Bạn đã mất có đánh dâu X
 

XemLại :Gặp lại những người bạn SPSG bị buộc thôi học (k.2 năm 1964).- Nguyễn Cang