Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Lâm Phát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Lâm Phát. Hiển thị tất cả bài đăng

20 thg 10, 2025

18-8_Ngày Giỗ Cô _PTL

 

Cô Khưu Sĩ Huệ

Cựu Giáo sư Đại Học Sư Phạm Sài gòn

18-8 Ngày Giỗ Cô

Mười ba năm trước Cô về tiên cảnh
Giã biệt dương trần thanh thản ra đi
Nhìn thấy Cô mà chẳng nói được gì
Mắt đẩm lệ nghẹn ngào không thành tiếng

Đông đủ chật người vào ra thăm viếng
Với những lời tiếc nuối lẫn nhớ thương
Con nhìn Cô, đau đớn luống đoạn trường
Chân khập khễnh, lần đi ra ngoài cửa

Từ hôm đó thầy trò không gặp nữa
Nhớ những lời Cô dạy để thành danh
Giúp đỡ tha nhân cuộc sống an lành
Biết tha thứ khi chọn nghề nhà giáo

PTL
18-8-2025

Mời Xem Thêm ;

2 thg 3, 2025

Nhớ ba_Trần-Văn Phét

 

NHỚ BA


Năm bảy chín tiển ba về quê cũ
Rồi vượt biên với áo vũ cơ hàn
Bước đường đầu sao tránh khỏi lầm than
Nơi đất khách không thân bằng quyến thuộc
 
Nhìn tuyết phủ mà lòng con não nuột
Để cha già ở lại với nhớ thương
Rồi một hôm con ủ dột đoạn trường
Nghe ba mất mà đầu không khăn trắng
 
Nhìn di ảnh mà bờ môi đăng đắng
Hơn năm mươi năm chẳng bớt nguôi ngoai
Hằng năm vào ngày cuối của tháng hai
Mắt con đo đỏ lệ dài hai bên
Feb. 2025
Trần-Văn Phét

áo vũ cơ hàn 襖羽飢寒: biểu tượng của sự nghèo khổ. Thuở xưa người ta dùng lông chin để làm áo chống lại sự rét mướt

Trong bài Phụng hoàng đài 鳳凰臺 của Đổ Phủ 杜甫 có câu:

Khủng hữu vô mẫu sồ 恐有無母鶵 : Sợ chim con không có mẹ

Cơ hàn nhật thu thu 飢寒日啾啾: Ngày ngày đói khác kêu ti tỉ

22 thg 10, 2024

Cầu Kiều_Trần-Lâm Phát

 

Cầu Kiều

Đã hơn 30 năm không một ai hỏi tôi về ca dao tục ngữ, một nền văn học bình dân truyền khẩu của dân tộc ta ra đời trước nền văn chương bác học; bổng dưng vào tháng 11 năm 2009, một giáo chức ở huyện Đất đỏ, tỉnh Bà rịa-Vũng tàu, cũng là cựu học sinh trường Trung Học Công lập Đất đỏ gọi điện cho tôi và xin giảng nghĩa từ “cầu kiều” trong hai câu ca dao:
Muốn sang thì bắt cầu kiều
Muốn cho hay chữ phải yêu kính thầy
1. Đây là hai câu ca dao mà các nhà giáo và học sinh luôn luôn được nghe phụ huynh nhắc nhở.
Theo lễ giáo ngày xưa “tôn sư trọng đạo” là 1 trong những điều mà xã hội ép buộc phải tuân theo . Phần lớn dân ta thất học cho nên văn học “bình dân truyền khẩu” là khí giới bén nhạy để giáo dục nhân dân; do đó, hai câu ca dao trên được quảng bá để giáo dục hậu sinh, bảo trì lễ giáo theo truyền thống “quân sư phụ”.
Kiều 喬 là cao và cong
Ngày xưa các nhà quyền thế và quí phái đều có thuỷ tạ . Cây cầu để bắt qua các thuỷ tạ đều xây theo kiểu hình cong và cao cho nó đẹp và biểu lộ sự sang trọng:
Muốn sang thì bắt cầu kiều
Có người cho rằng cầu Kiều lấy từ điển tích trong thời Tam Quốc (220-264) . Tào Tháo ra lịnh xây đài trên bờ sông Chương ở quận Nghiệp (nay thuộc huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam) để dưỡng tuổi già. Trong lúc đào móng, thợ bắt gặp một con chim sẻ bằng đồng nên Tào Tháo đặt tên đài là “Đồng Tước 銅雀”. Đồng Tước gồm một đài chính và 2 đài phụ ở phía tây và phía đông gọi là Ngọc Long 玉龍 và Kim Phượng 金鳳. Đài chính và 2 đài phụ được nối với nhau bằng 2 cây cầu vòng rất nguy nga tráng lệ. Con trai TàoTháo là Tào Thực ( một thi tài lỗi lạc trong nhóm “Kiến An thất tử” thời đó) làm một bài phú để ca ngợi vẻ đẹp của đài này. Tào Thực làm bài “Đồng Tước đài phú”, trong đó có câu:
“Liên nhị kiều ư đông tây hề, nhược trường không chi đế đông.”[1]
連二橋於東西兮,若長空之蝃蝀。

Nghĩa là bắt 2 cây cầu nối từ đông sang tây, như cầu vòng ở trời cao
Tóm lại câu lục để mở đầu và câu bát nói lên sự tôn sư trọng đạo
2. Thực ra không ai có thể khẳng định về ý nghĩa thực sự của người làm ra 2 câu ca dao đó . Phần lớn sinh viên Đại Học Sư Phạm dùng tự điển Hán Việt của nhà sư Thiều Chửu làm tài liệu tham khảo chính.
Kiều 橋 là cây cầu cong và cao (Tự điển Thiều Chửu và Nguyễn quốc Hùng) là danh từ không phù họp với lối cấu trúc của câu thơ vì phải đọc "muốn sang thì phải bắt cầu cầu cong và cao (kiều)" cho nên chữ kiều là danh từ không thể bổ túc cho chữ cầu là danh từ đứng trước.
Chữ Kiều 喬 là tính từ, nghĩa là cao mà cong (Tự điển Thiều Chửu, tự điển Nguyền quốc Hùng và tự điển của Bửu Kế).
Chữ kiều 喬 nghĩa là cao mà cong là tiếng tính từ, nó bổ túc cho danh từ cầu và đọc “muốn sang thì phải bắt cây cầu cao”. Ngoài ra nó cũng phù hợp với điển tích Tào Tháo xây cầu.
Kinh Thi có câu : Xuất tự u cốc, thiên vu kiều mộc 出自幽谷, 遷于喬木 (Từ hang tối ra, chuyển lên cây cao.) Ý nói chim nó còn biết chọn chỗ cao, huống chi người. Nay dùng hai chữ kiều thiên 喬遷 để tỏ ý lên chốn cao thượng sáng láng.
Trần-Lâm Phát
23-07-2013

Tử Vi Lang dịch bài phú đài Đồng Tước:

Phú đài Đồng Tước  

Noi đức sáng thánh quân rực rỡ,
Lên lầu đài hớn hở lòng xuân.
Xem công Thái Thú chăn dân,
Đức cao vời đã thấm nhuần nơi nơi.
Dựng lên giữa lừng trời xanh ngắt,
Đài nguy nga bát ngát không trung.
Mỹ quan nào kém non Bồng,
Gác cao, tây vực nhìn thông nẻo đoài.
Dòng Chương Thuỷ chảy dài trong suốt,
Tưới nhuần vườn cây tốt quả tươi...
Hai bên tả hữu hai đài:
Ngọc Long, Kim Phượng sáng ngời ánh dương
.
Bắc hai cầu tây đông nối lại
Như cầu vồng sáng chói không gian.
Ngồi cao nhìn xuống cõi trần,
Đế đô mây ráng xoay vần nổi trôi...
Mừng rỡ thấy anh tài qui tụ,
Ứng mộng hùng chuyện cũ Văn Vương.
Gió xuân đầm ấm đưa hương,
Muôn chim đua hót du dương hài hoà.




Cao đẹp tựa trời mây muôn thủa,
Phúc nhà may chất chứa dài lâu.
Khắp cùng vũ trụ nhiệm mầu,
Đề cao nhân hoá, kính chầu thượng kinh.
Noi Tề, Tấn nghĩ mình hưng thịnh,
Phò thánh minh cùng sánh công lao.
Xinh tươi bền vững biết bao!
Ơn sâu nước ngấm, đức cao xa đồn.
Phò tá đấng Chí Tôn gìn giữ
Xây thái bình thịnh trị bốn phương.
Phép trời khuôn đất đo lường.
Ánh trăng cùng với ánh dương điều hoà.
Tôn quý ấy truyền xa mãi mãi,
Thọ vô cùng, thọ với chúa Xuân!
Ngự long kỳ buổi an nhàn,
Hoặc khi vội vã, xe loan trở về.
Ơn giáo hoá tràn trề bốn biển
Vui mầng thay vật kiện dân khang!
Đài nầy đứng mãi hiên ngang,
Điểm tô kim cổ, son vàng thắm tươi...
                                       Tử Vi Lang

Bài chữ Hán Đồng Tước đài phú 銅雀台賦 sau đây được lưu truyền rộng rãi, đăng trong web site: http://zh.wikipedia.org/wiki/%E9%8A%85%E9%9B%80%E8%87%BA%E8%B3%A6


銅雀台賦

Đồng Tước Đài Phú

從明后以嬉遊兮,
登層臺以娛情。

Tòng minh hậu dĩ  hi du hề,
 đăng tằng đài dĩ ngu tình.
見太府之廣開兮,
觀聖德之所營。

Kiến Thái phủ chi quảng khai hề,
quan thánh đức chi sở doanh. 
建高門之嵯峨兮,
浮雙闕乎太清。

Kiến cao môn chi tha nga hề,  
phù song khuyết hồ Thái Thanh.
立中天之華觀兮,
連飛閣乎西城。

Lập trung thiên chi hoa quan hề,
liên phi các hồ Tây thành. 
臨漳水之長流兮,
望園果之滋榮。

Lâm chương thủy chi trường lưu hề,
vọng viên quả chi tư vinh. 
立雙臺於左右兮,
有玉龍與金鳳。

Lập song đài ư tả hữu hề,
hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng.
連二橋於東西兮,
若長空之蝃蝀。

Liên nhị kiu ư đông tây hề,
nhược trường không chi đế đông.
俯皇都之宏麗兮,
瞰雲霞之浮動。

Phủ hoàng đô chi hoành lệ hề,
khám vân hà chi phù động.
欣群才之來萃兮,
協飛熊之吉夢。

Hân quần tài chi lai tụy hề,
hiệp phi hùng chi cát mộng.
仰春風之和穆兮,
聽百鳥之悲鳴。

Ngưỡng xuân phong chi hòa mục hề,
thính bách điểu chi bi minh.
雲天亙其既立兮,
家願得乎雙逞。

Vân thiên cắng kỳ ký lập hề,
 gia nguyện đắc hồ song sính.
揚仁化於宇宙兮,
盡肅恭於上京。

Dương nhân hóa ư vũ trụ hề,
tận túc cung ư thượng kinh.
惟桓文之為盛兮,
豈足方乎聖明?

Duy hoàn văn chi vi thịnh hề,
khởi túc phương hồ thánh minh?
休矣美矣!
惠澤遠揚。

Hưu hĩ mỹ hĩ!
huệ trạch viễn dương.
翼佐我皇家兮,
寧彼四方。

Dực tá ngã hoàng gia hề,
ninh bỉ tứ phương.
同天地之規量兮,
齊日月之輝光。

Đồng thiên địa chi quy lượng hề,
tề nhật nguyệt chi huy quang.
永貴尊而無極兮,
等君壽於東皇。

Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề,
đẳng quân thọ ư đông hoàng.
御龍旂以遨遊兮,
迴鸞駕而周章。

Ngự long kỳ dĩ ngao du hề,
 hồi loan giá nhi chu chương.  
恩化及乎四海兮,
嘉物阜而民康。

Ân hóa cập hồ tứ hải hề,
gia vật phụ nhi dân khang.
願斯臺之永固兮,
樂終古而未央!

Nguyện tư đài chi vĩnh cố hề,
nhạc chung cổ nhi vị ương!



Bài chữ Hán sau đây trích từ Tam quốc diễn nghĩa, quyển 44:


銅雀台賦   

Đồng Tước Đài Phú

從明後而嬉游兮,
登層臺以娛情。

Tòng minh hậu nhi hy du hề,
 đăng tằng đài dĩ ngu tình.
見太府之廣開兮,
觀聖德之所營。
Kiến Thái phủ chi quảng khai hề,
 quan Thánh đức chi sở doanh.

建高門之嵯峨兮,
浮雙闕乎太清。
Kiến cao môn chi tha nga hề,
phù song khuyết hồ Thái thanh.

立中天之華觀兮,
連飛閣乎西城。
Lập trung thiên chi hoa quan hề,
liên phi các hồ Tây thành.
  
臨漳水之長流兮,
望園果之滋榮。
Lâm Chương thủy chi trường lưu hề,
vọng viên quả chi tư vinh. 

立雙臺於左右兮,
有玉龍與金鳳。
Lập song đài ư tả hữu hề,
hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng.

攬二喬於東南兮,
樂朝夕之與共
Lãm nhị kiều ư đông nam hề,
nhạc triêu tịch chi dữ cộng.
  
俯皇都之宏麗兮,
瞰雲霞之浮動。
Phủ hoàng đô chi hoành lệ hề,
khám vân hà chi phù động.
  
欣群才之來萃兮,
協飛熊之吉夢。
Hân quần tài chi lai tụy hề,
 hiệp phi hùng chi cát mộng.
  
仰春風之和穆兮,
聽百鳥之悲鳴。
Ngưỡng xuân phong chi hòa mục hề,
thính bách điểu chi bi minh.

雲天亙其既立兮,
家願得乎雙逞。
 Vân thiên cắng kỳ ký lập hề,
 gia nguyện đắc hồ song sính

揚仁化於宇宙兮,
盡肅恭於上京。
Dương nhân hóa ư vũ trụ hề,
tận túc cung ư thượng kinh.
  
惟桓文之為盛兮,
豈足方乎聖明!
Duy hoàn văn chi vi thịnh hề,
khởi túc phương hồ thánh minh!

休矣!美矣!
惠澤遠揚。
Hưu hĩ ! mỹ hĩ !
 huệ trạch viễn dương.
  
翼佐我皇家兮,
寧彼四方。
Dực tá ngã hoàng gia hề,
 ninh bỉ tứ phương.
  
同天地之規量兮,
齊日月之暉光。
Đồng thiên địa chi quy lượng hề,
tề nhật nguyệt chi huy quang

永貴尊而無極兮,
等年壽於東皇。
Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề,
đẳng niên thọ ư đông hoàng.
  
御龍旂以遨遊兮,
迴鸞駕而周章。
Ngự long kỳ dĩ ngao du hề,
 hồi loan giá nhi chu chương.
  
恩化及乎四海兮,
嘉物阜而民康。
Ân hóa cập hồ tứ hải hề,
 gia vật phụ nhi dân khang.
  
願斯臺之永固兮,
樂終古而未央!

Nguyện tư đài chi vĩnh cố hề,
lạc chung cổ nhi vị ương! 

8 thg 10, 2024

Hồi hương _Trần-Lâm Phát

Hồi hương _Trần-Lâm Phát

 

Hoàn cảnh ra đời:

Sau 34 năm lìa xứ, năm 2018 tác giả về lại quê nhà gặp lại đồng môn Việt Hán 1972 ĐHSP Sài gòn nhưng một vài bạn không nhận ra. Tác giả nhớ bài thơ của Hạ Tri Chương nên phóng tác.

回 鄉 Hồi hương 

中 少 離 家 老 大 回  Tam thập ly hương lục thập hồi

鄉 音 不 變 樣 身 Hương âm bất biến dạng thân thôi  

朋 友 相 逢 無 知 識 Tương phùng bằng hữu vô tri thức

邀 請 同  門 飲 酒 杯 Yêu thỉnh đồng môn ẩm tửu bôi 

陳 林 發 Trần Lâm Phát

Dịch nghĩa:

Về quê 

Ba mươi tuổi ra đi, sáu mươi tuổi trở về

Giọng nói không đổi nhưng cao hơn

Bạn bè gặp mặt mà không nhận ra

Đón mời bạn cũ , xin cùng nâng ly

Dịch thơ:

Ra đi lúc tuổi ba mươi

Sáu mươi trở lại tiếng cười không thay

Bạn bè không nhận ra ngay

Vui cười nâng chén đưa tay lên mời

Xuất xứ bài thơ:

Bài thơ phóng tác bài Hồi hương ngẫu thư 回鄉偶書  nghĩa là Về quê tự dưng viết của Hạ Tri Chương 賀知章. Bài thơ này sáng tác vào thời Thịnh Đường (626-755).

Hồi hương ngẫu thư 回鄉偶書  là bài thứ 261 trong quyển Đường thi tam bách thủ 唐 詩 三 百 首. 

回鄉偶書                 Hồi hương ngẫu thư 

少小離家老大迴 Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi

鄉音無改鬢毛摧 Hương âm vô cải, mấn mao tồi

兒童相見不相識 Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

笑問客從何處來 Tếu vấn khách tùng hà sở lai

賀知章 Hạ Tri Chương 

Dịch thơ:


Bé đi, già mới về nhà,
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.
Trẻ con trong thấy hững hờ,
Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.
Trần Trọng Kim

Dịch nghĩa:

Lúc trẻ ra đi, khi già trở về,

Giọng nói không đổi nhưng tóc râu rụng hết.

Trẻ con nhìn thấy mà không nhận ra,

Cười hỏi, khách từ đâu đến?

Virginia Oct. 27, 2018

Trần-Lâm Phát


 

18 thg 9, 2024

Tai nạn ở nhà máy điện nguyên tử Three Mile Island năm 1979, USA_Trần-Lâm Phát


Bối cảnh tai nạn ở nhà máy điện nguyên tử Three Mile Island, tiểu bang Pennsylvania, năm 1979, USA
Bài viết căn cứ vào tài liệu Backgrounder của NRC Hoa kỳ vào 11 tháng 2 năm 2013.

NRC là ai ?
NRC (Nuclear Regulator Commission) là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang Hoa kỳ do quốc hội lập ra năm 1974 để bảo đảm an toàn cho dân chúng và môi trường trong việc sử dụng chất phóng xạ. NRC qui định luật cho các nhà máy điện nguyên tử và các cơ quan dân sự dùng nhiên liệu nguyên tử như y học.
NRC cấp giấy phép cho xây, giấy phép đóng cửa, giấy phép gia hạn thời gian hoạt động nhà máy điện nguyên tử.
Ngoài trung tâm đầu nảo của NRC ở Rockville, Maryland , NRC có văn phòng ở 4 vùng khác nhau:
Vùng 1 trụ sở King of Prussia, Pennsylvania.
Vùng 2 trụ sở Alanta, Georgia.
Vùng 3 trụ sở Lisle, Illinois.
Vùng 4 trụ sở Arlington, Texas.
NRC thanh tra thường xuyên nhà máy và chỉ chổ sơ hở về an toàn cho nhà máy để sửa chửa.
NRC cảnh cáo vi phạm luật an toàn. Nhà máy không khắc phục kịp thời sẽ bị phạt tiền rất nặng. Nhà máy tái phạm hay vi phạm nghiêm trọng sẽ bị NRC tạm thời đình chỉ sản xuất điện cho đến khi lỗi đươc khắc phục.
NRC là cơ quan kiểm tra, duyệt, chấm bài thi và cấp bằng điều khiển nhà máy cho thí sinh thi đậu viết và thực hành. Mỗi nhà máy có nhân viên NRC thường trú để kiểm tra về an toàn.
Cứ 2 năm NRC thanh tra 1 lần. Nhân viên không được tiết lộ sự hiện diện của thanh tra; ai vi phạm sẽ bị kỷ luật (tối đa là sa thải), phạt tù và tiền theo luật liên bang. Ai đe dọa, lừa dối NRC thanh tra sẽ bị nghiêm trị theo luật liên bang: tù và tiền.
Khi NRC đến thanh tra hay chấm thi, NRC không bao giờ tham dự các bửa ăn do công ty thết đãi.
Bên cạnh NRC, INPO (Institute of Nuclear Power Operations) là 1 tổ chức thanh tra và chấm điểm thứ tự nhà máy điện nguyên tử ở Hoa kỳ.
Sau khi tai nạn xảy ra ở Three Miles Island, INPO đuợc thành lập năm 1979 bởi những nhà máy điện nguyên tử ở Hoa kỳ. Trung tâm đầu nảo ở thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia. INPO đưa ra tiêu chuẩn, kiểm tra chương trình huấn luyện và sự hoạt động của nhà máy điện nguyên tử . INPO giúp các đơn vị nhà máy điện nguyên tử sửa chửa khuyết điểm và tăng cường sự an toàn. INPO được yểm trợ tài chánh bởi các nhà máy điện nguyên tử ở Mỹ . INPO là cơ quan độc lập không trực thuộc hay bị ảnh hưởng của NRC nhưng dựa theo luật lệ của NRC để kiểm tra nhà máy hạt nhân.

Bối cảnh tai nạn ở nhà máy Three Mile Island thuộc tiểu bang Pennsylvania, USA
Trong bài này gồm:
1. Sơ đồ nhà máy TMI-2
2. Tóm lược sự việc
3. Sơ đồ hoạt họa của diễn tiến tai nạn
4. Tác dụng đến sức khỏe
5. Ảnh hưởng của tai nạn
6. Tình trạng hiện thời
7. Tin tức thêm
8. Chú giải
Tóm lược:
Lò phản ứng số 2 (TMI-2) gần thành phố Middletown, quận Dauphin, tiểu bang Pennsylvania xảy ra một phần nóng chảy vào ngày 28 tháng 3 năm 1979. Đây là lịch sử tai nạn nghiêm trọng do nhà máy điện nguyên tử mặc dù 1 số lượng nhỏ chất phóng xạ lan ra ngoài và không hề gây ảnh hưởng đến sức khoẻ dân chúng. Sau tai nạn này, chính phủ Hoa kỳ thay đổi toàn diện sự kiểm tra về chương trình phản ứng khẩn cấp, huấn luyện về lò phản ứng, vai trò kỹ sư, kiểm soát & bảo vệ nhiễm phóng xạ và những lĩnh vực khác trong cơ chế vận hành, điều khiển nhà máy điện nguyên tử. Đó là lý do NRC nghiêm khắc kiểm tra chính sách giám sát. Những thay đổi này nâng cao sự an tòan của lò phản ứng.
Kết họp giữa máy móc hư hỏng, vấn đề kiến trúc và phán đoán sai lầm của nhân viên đưa đến một phần nóng chảy của lò phản ứng TMI-2 và 1 số lượng mỏng manh chất phóng xạ đưa ra ngoài vùng kế cận.

1.Sơ đồ nhà máy:





2. Tóm lược sự việc:

Tai nạn bắt đầu vào 4 giờ sáng (giờ địa phương) ngày thứ tư, 28 tháng 3 năm 1979 khi hệ thống thứ 2 (secondary) không dính líu tới lò phản ứng của 1 trong 2 lò phản ứng bị trục trặc. Sự hư hỏng về cơ khí hay điện làm cho máy chủ yếu bơm nước không đưa nước tới bộ phận sản suất áp suất để làm giảm nhiệt độ lò phản ứng. Lý do này làm cho máy phát điện và lò phản ứng tự động tắt. Ngay lập tức áp suất trong hệ thống thứ nhất (primary) (1 phần của lò nguyên tử) bắt đầu tăng lên. Để kiểm soát áp lực này, cái van (valve) giảm áp suất nằm trên đầu của hệ thống tạo áp suất mở ra. Cái van này sẽ đóng lại khi áp suất giảm xuống đến mức qui định nhưng nó bị nghẽn không tự đóng lại được. Hệ thống kiểm tra trong phòng điều hành (control room) cho biết cái van này đã đóng lại. Kết cuộc nhân viên điều khiển nhà máy không hề biết nước làm lạnh đã đổ ào ạt xuống cái van bị kẹt ở vị trí mở.
Lượng nước làm nguội chảy từ hệ thống thứ nhất (primary system) qua cái van, những dụng cụ đo lường, báo hiệu của bộ phận khác không cung cấp đầy đủ tin tức cho người điều hành nhà máy. Không có dụng cụ nào cho biết bao nhiêu nước đã vô trong lò phản ứng. Như vậy ban điều khiển nhà máy giả sử rằng khi áp suất lên cao, lò phản ứng được bao che bởi lượng nước qui định . Khi chuông báo động vang lên và đèn báo hiệu nhấp nháy, nhân viên điều hành không biết họ đã gặp tai nạn mất nước làm nguội. Họ đã quyết định phản ứng nghiêm trọng nhưng họ làm cho điều kện trở nên xấu hơn. Nước thoát ra từ van bị kẹt làm giảm quá nhiều áp sất của hệ thống thứ nhất khiến cho máy bom làm nguội tắt đi để tránh rung động (vibration). Để tránh tình trạng mất hết áp suất, ban điều hành giảm lượng nước khẩn cấp làm nguội đưa vào hệ thống thứ nhất . Hành động này làm giảm sự làm nguội lò phản ứng và đưa đến tình trạng quá nóng.
Không có đủ lượng nước chảy vào, nhiên liệu nguyên tử quá nóng đến mức độ zirconium bị vở và nhiên liệu nguyên tử bắt đầu nóng chảy. Sau này người ta khám phá 50% nhiên liệu bị nóng chảy trong giai đoạn bắt đầu tai nạn. Mặc dù TMI-2 bị thiệt hại nặng về lò phản ứng nóng chảy, tai nạn khủng khiếp trong ngành điện nguyên tử, nhưng ảnh hưởng đến bên ngoài không đáng kể.
Không như thảm hoạ Chernobyl ở Nga và Kukushima ở Nhật, lò phản ứng ở TMI-2 đứng vững như bàn thạch và khóa kín chất phóng xạ bên trong.
Ban đầu chính quyền tiểu bang và liên bang e ngại về số lượng phóng xạ nhỏ nhen đo bên ngoài vào cận trưa ngày 28 tháng 3 và tỏ ra quan ngại nhiều hơn về chất phóng xạ có thể xảy ra vùng dân cư quanh nhà máy. Họ không biết lò phản ứng đã nóng chảy nhưng họ lập tức lập giai đoạn để kiểm soát lò phản ứng và bảo đảm luợng nước làm nguội cho lò phản ứng. Văn phòng NRC ở King of Prussia được thông báo lúc 07:45 sáng ngày 28 tháng 3. Trung tâm đầu nảo NRC ở Hoa thịnh đốn được báo cáo và trung tâm điều khiển của NRC ở Bethesda bắt đầu phân công. Văn phòng khu vực bắt đầu gởi đoàn thanh tra đầu tiên đến nơi tai nạn. Nhân viên của bộ năng lượng và môi trường cũng bắt đầu vận chuyển nhân viên đến nơi để giúp đở . TMI mướn trực thăng và bộ năng lượng lấy mẫu để đo chất phóng xạ trên không vào giữa trưa. Đội ngũ từ phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven cũng phái nhân viên đến giúp đo lường chất phóng xạ . Tòa bạch ốc được thông báo lúc 9:15 sáng và 11 giờ những nhân viên không cần thiết được lịnh về nhà.
Vào chiều 28 tháng 3, lò phản ứng có đầy đủ lượng nước làm nguội và bắt đầu ổn định . Tuy nhiên nỗi lo ngại mới bắt đầu sáng thứ 6, ngày 30 tháng 3. Số lượng phóng xạ đáng kể từ tòa nhà phụ được thải ra để giảm áp suất của hệ thống thứ nhất và cắt bớt lượng nước làm nguội vào lò phản ứng gây ra sự hiểu lầm và kinh ngạc. Trước sự bất ổn của nhà máy, thống đốc bang Pennsylvania, ông Richard L.Thornburg, hỏi ý kiến NRC về sự di tản dân xung quanh nhà máy . Thống đốc và chủ tịch NRC, ông Joseph Hendrie đồng ý kế hoạch đưa dân ra khỏi vùng để bảo đảm an toàn. Thống đốc Thornburg yêu cầu phụ nữ mang thai và thiếu niên trước tuổi đi học cư ngụ trong vòng bán kính 5 mile (8 km) phải di tản.
Trong thời gian ngắn, phản ứng hóa học nơi nóng chảy tạo ra lượng lớn hydrogen trong vòm cao (cái mũ) của nơi tạo áp suất, nơi chứa lò phản ứng. Trong trường họp này bong bóng của hygrogen rơi vào trong toà nhà lò phản ứng và có thể tạo ra lổ thủng của tòa nhà lò phản ứng. Bong bóng hygrogen là nỗi âu lo lớn cho chánh quyền và dân chúng trong ngày chú nhật 31 tháng 3. Cơn khủng hoảng chấm dứt khi chuyên viên cao cấp xác định rằng bong bóng của hygrogen không thể gây ra cháy hay bùng nổ khi thiếu lượng oxygen trong bầu tạo áp suất. Hơn nữa lúc ấy nhà máy đã thành công làm giảm diện tích của bong bóng hydrogen.
 

3. Sơ đồ hoạt hoạ của diễn tiến tai nạn:
Sau đây là sơ đồ hoạt hoạ diển tiến của tai nạn ở nhà máy TMI-2

Chú thích: Bạn hãy kiên nhẫn xem vì có lúc tưởng như đã xong (không có hoạt họa) nhưng thực ra thời gian ngừng 1 vài giây trước khi bắt đầu sự kiện mới
 

4. Tác dụng đến sức khỏe:
NRC với bộ tài nguyên và môi trường, bộ y tế, bộ giáo dục và trợ cấp cùng với chánh quyền tiểu bang Pennylvania nghiên cứu kỹ càng về hậu quả của tai nạn gây ra bởi chất phóng xạ. Nhiều cơ quan độc lập cũng thực hiện nghiên cứu. Khoảng 2 triệu người xung quanh nhà máy TMI-2 trong lúc tai nạn, phỏng đoán đã nhiễm phóng xạ khoảng 1 mili rem hơn chất phóng xạ bị nhiễm bởi môi trường thiên nhiên (background radiation như nhà gạch, ánh nắng mặt trời, nước, không khí, tia cosmic, dụng cụ y khoa, thuốc lá, du lịch bằng máy bay v.v.) Đây là thí dụ đễ dễ so sánh: Khi chụp x ray ngực con người nhận 6 mili rem và môi trường thiên nhiên gây ra phóng xạ vào người từ 100-125 mili rem mỗi năm.
Chú thích: REM là đơn vị đo chất phóng xạ ở Mỹ. Vì lượng nhiểm rất nhỏ nên người ta dùng mili rem cho chính xác hơn
Vài tháng sau khi tai nạn xảy ra, những câu hỏi được nêu lên về ảnh hưởng chất phóng xạ thải ra từ nhà máy TMI-2 đối với con người, súc vật, cây cối xung quanh. Không có 1 chứng minh nào cho thấy tai họa gây ra bởi tai nạn này. Vài ngàn mẫu thí nghiệm về không khí, nước, sữa, đất, rau cỏ, thực phẩm được thu thập bởi những cơ quan khác nhau. Một lượng rất nhỏ chất phóng xạ thải ra trong tai nạn. Tuy nhiên sự điều tra và nghiên cứu kỹ càng của các tổ chức danh tiếng như viện đại học Columbia, viện đại học Pittsburg kết luận rằng: mặc dù có sự hư hại của lò phản ứng nhưng chất phóng xạ lan ra ngoài không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ dân chúng và môi trường.
 

5. Ảnh hưởng của tai nạn:
Sự phối họp giữa sai lầm của con người, kiến trúc không đúng mức và trục trặc máy móc đã đưa đến tai nạn nhà máy TMI-2 và là động lực thay đổi về kỹ nghệ điện nguyên tử và cơ quan điều khiển nguyên tử của chánh phủ Hoa Kỳ NRC. Trước sự sợ hải và không tin cậy gia tăng, NRC kiểm tra và quan sát chặt chẽ hơn và ban quản lý nhà máy điện nguyên tử càng thận trọng hơn. Nghiên cứu và phân tách kỹ càng về tai nạn đưa đến 1 sự hoàn toàn đổi mới vĩnh viễn về sự kiểm tra của nhà máy có giấy phép để giảm đi ảnh hưởng về sức khoẻ và an toàn cho dân chúng.
Sau đây là những thay đổi lớn kể từ tai nạn:
· Nâng cấp và cường độ của thiết kế nhà máy và máy móc. Nó bao gồm chương trình cứu hỏa, hệ thống ống dẫn, máy bơm nước phụ, cô lập lò phản ứng, độ tin cậy bền bỉ của từng bộ phận (van thả áp suất, những ngắt điện và khả năng tự động tắt của nhà máy.)
· Xác định vai trò chủ yếu về cách làm việc an toàn. Bắt buộc huấn luyện liên tục người đều khiển nhà máy và nhân viên quản lý. Tăng cao phẩm chất máy móc đo đạc và điều khiển nhà máy . Xây dựng cho nhân viên nhà máy chương trình “ phù hợp cho nhiệm vụ” về nồng độ cồn, lạm dụng thuốc men.
· Tăng cường chương trình phản ứng khẩn cấp, bao gồm việc báo cáo cho NRC về những điều kiện xảy ra bất thường 24/24 giờ mỗi ngày. Thực tập chương trình hành động khẩn cấp vài lần trong năm có sự tham gia của chánh quyền địa phương, tiểu bang , liên bang và NRC.
· Tăng cường nhiệm vụ của NRC như quan sát, tìm ra sai sót, thẩm định về khả năng vận hành nhà máy trong chu kỳ ấn định và tường trình cho công chúng.
· Nhân viên cao cấp của NRC thường xuyên phân tích khả năng vận hành của những nhà máy cần thêm chú ý đáng kể.
· Tăng thêm NRC thanh tra thường trực tại nhà máy, lần đầu năm 1977, phải có 2 thanh tra cư ngụ gần và làm việc trực thuộc mỗi nhà máy ở Hoa kỳ để quan sát nhà máy tuân theo luật chính phủ.
· Tăng cường thực hiện: định hướng về an toàn cũng như kiểm tra và dùng sự đánh giá rũi ro để xác định sự thiệt hại cho đến tai nạn hiểm nghèo.
· Tăng thêm và tổ chức lại cơ cấu nhân viên thuộc văn phòng khác nhau trong hệ thống NRC.
· Thiết lập cơ quan INPO, kỹ nghệ điện nguyên tử cùng nhau thiếp lập qui chế của chính mình, tin tức của Viện năng lượng cung cấp thống nhất về qui lật và tác động qua lại với cơ quan NRC và những cơ quan khác.
· Nhà máy điện nguyên tử gắn thêm dụng cụ để giảm nhẹ điều kiện tai nạn, theo dõi cường độ phóng xạ và tình trạng của nhà máy.
· Nhà máy điện nguyên tử ban hành chương trình để sớm khám phá sự trở ngại của những dụng cụ an toàn quan trọng, và thu nhặt những tin tức, dữ liệu để chia xẻ kinh nghiệm nhanh chóng.
· Tăng cường sinh hoạt quốc tế của NRC để chia xẻ kiến thức về an toàn nguyên tử với những quốc gia khác trong lĩnh vực kỹ thuật quan trọng.
 

6. Tình trạng hiện thời:
Ngày nay lò phản ứng của TMI-2 vĩnh viễn đóng cửa và nhiên liệu đã được tháo gỡ. Hệ thống nước làm nguội lò phản ứng đã tháo cạn và nước có chất phóng xạ dược trừ khử và bốc hơi. Những rác rưỡi có phóng xạ đã được chở đến nơi hủy bỏ và những mảnh vỡ của nhiên liệu và lò phản ứng được đưa đến phòng thí nghiệm quốc gia của bộ năng lượng ở Idaho. Năm 2001 công ty First Energy mua TMI-2 từ công ty GPU. First Energy có họp đồng theo dõi TMI-2 từ công ty Exelon, công ty Exelon hiện là chủ và điều hành TMI-1. Công ty dự trù giữ nguyên trạng thái TMI-2 trong thời gian lâu dài, theo dõi khu lưu trử cho đến khi giấy phép hoạt động của TMI-1 hết hạn. Lúc đó cả hai nhà máy sẽ được tháo gỡ.
Sau đây là niên đại tổng quát của công trình làm sạch TMI-2 từ 1980 đến 1993:
Tháng 07 năm 1980: Lần đầu tiên nhân viên vào trong lò phản ứng sau tai nạn.
Tháng 11 năm 1980: Ban điều hành tháo gỡ TMI-2 lần đầu tiên nhóm họp với dân chúng, nhà khoa học, chính quyền địa phương và tiểu bang tại Harrisburg, Pennylvania.
Tháng 07 năm 1984: Cái chụp lò phản ứng (reactor vessel head) được tháo ra.
Tháng 10 năm 1985: Bắt đầu tháo gỡ nhiên liệu.
Tháng 07 năm 1986: Chở những mảnh vỡ của lò phản ứng ra khỏi khu vực nhà máy.
Tháng 08 năm 1988: Công ty GPU đệ trình đề xuất tu chính giấy phép hoạt động TMI-2 thành giấy phép sở hữu và cho phép công ty giám sát lâu dài nơi lưu trữ .
Tháng 01 năm 1990: Nhiên liệu hòan tòan được tháo gỡ .
Tháng 07 năm 1990: Công ty GPU đệ trình ngân sách 229 tỷ để tháo gỡ phóng xạ của nhà máy.
Tháng 01 năm 1991: Bắt đầu cho bốc hơi nước tai nạn
Tháng 04 năm 1991: NRC ra bố cáo về sự yêu cầu sửa giấy phép của công ty GPU.
Tháng 02 năm 1992: NRC công bố tường trình sự an toàn và cho chuyển giấy phép.
Tháng 08 năm 1993: Công trình tháo gở nước chấm dứt: 2,23 triệu gallon nước đã tháo ra.
Tháng 09 năm 1993: NRC cấp giấy phép sở hữu.
Tháng 09 năm 1993: Ban điều hành tháo gỡ TMI-2 họp lần cuối cùng.
Tháng 12 năm 1993: Lưu trử theo dõi bắt đầu.
 

7. Tin tức thêm:
Muốn biết thêm tin tức về tai nạn của TMI-2 xin liên lạc bằng Anh ngữ:
NRC phòng hồ sơ công cộng: 301-415-4733 hoặc 1-800-397-4209 hay email pdr@nrc.org
địa chỉ : 11555 Rockville Pike, Rockville, MD 20852.
Nên nhớ: hồ sơ bằng micro fiche và phải trả lệ phí .
8. Chú giải:
Những từ sau đây bằng Anh ngữ để rộng bề dư luận:
Auxiliary feedwater ‑ (see emergency feedwater)
Background radiation ‑ The radiation in the natural environment, including cosmic rays and radiation from the naturally radioactive elements, both outside and inside the bodies of humans and animals. The usually quoted average individual exposure from background radiation is 300 millirem per year.
Cladding ‑ The thin‑walled metal tube that forms the outer jacket of a nuclear fuel rod. It prevents the corrosion of the fuel by the coolant and the release of fission products in the coolants. Aluminum, stainless steel and zirconium alloys are common cladding materials.
Emergency feedwater system ‑ Backup feedwater supply used during nuclear plant startup and shutdown; also known as auxiliary feedwater.
Fuel rod ‑ A long, slender tube that holds fuel (fissionable material) for nuclear reactor use. Fuel rods are assembled into bundles called fuel elements or fuel assemblies, which are loaded individually into the reactor core.
Containment ‑ The gas‑tight shell or other enclosure around a reactor to confine fission products that otherwise might be released to the atmosphere in the event of an accident.
Coolant ‑ A substance circulated through a nuclear reactor to remove or transfer heat. The most commonly used coolant in the U.S. is water. Other coolants include air, carbon dioxide, and helium.
Core ‑ The central portion of a nuclear reactor containing the fuel elements, and control rods.
Decay heat ‑ The heat produced by the decay of radioactive fission products after the reactor has been shut down.
Decontamination ‑ The reduction or removal of contaminating radioactive material from a structure, area, object, or person. Decontamination may be accomplished by (1) treating the surface to remove or decrease the contamination; (2) letting the material stand so that the radioactivity is decreased by natural decay; and (3) covering the contamination to shield the radiation emitted.
Feedwater ‑ Water supplied to the steam generator that removes heat from the fuel rods by boiling and becoming steam. The steam then becomes the driving force for the turbine generator.
Nuclear Reactor ‑ A device in which nuclear fission may be sustained and controlled in a self‑supporting nuclear reaction. There are several varieties, but all incorporate certain features, such as fissionable material or fuel, a moderating material (to control the reaction), a reflector to conserve escaping neutrons, provisions for removal of heat, measuring and controlling instruments, and protective devices.
Pressure Vessel ‑ A strong‑walled container housing the core of most types of power reactors.
Pressurizer - A tank or vessel that controls the pressure in a certain type of nuclear reactor.
Primary System ‑ The cooling system used to remove energy from the reactor core and transfer that energy either directly or indirectly to the steam turbine.
Radiation ‑ Particles (alpha, beta, neutrons) or photons (gamma) emitted from the nucleus of an unstable atom as a result of radioactive decay.
Reactor Coolant System ‑ (see primary system)
Secondary System ‑ The steam generator tubes, steam turbine, condenser and associated pipes, pumps, and heaters used to convert the heat energy of the reactor coolant system into mechanical energy for electrical generation.
Steam Generator ‑ The heat exchanger used in some reactor designs to transfer heat from the primary (reactor coolant) system to the secondary (steam) system. This design permits heat exchange with little or no contamination of the secondary system equipment.
Turbine ‑ A rotary engine made with a series of curved vanes on a rotating shaft. Usually turned by water or steam. Turbines are considered to be the most economical means to turn large electrical generators.
nguồn: http://www.nrc.gov/reading-rm/doc-collections/fact-sheets/3mile-isle.html

Xem Thêm :

Tai nạn nơi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở liên bang Sô viết năm 1986  

17 thg 8, 2024

Tai nạn nơi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở liên bang Sô viết năm 1986

Bài viết này dựa theo tài liệu Backgrounder của NRC Hoa kỳ vào tháng 5 năm 2013

NRC là ai ?
NRC (Nuclear Regulator Commission) là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang Hoa kỳ do quốc hội lập ra năm 1974 để bảo đảm an toàn cho dân chúng và môi trường trong việc sử dụng chất phóng xạ. NRC qui định luật cho các nhà máy điện nguyên tử và các cơ quan dân sự dùng nhiên liệu nguyên tử như y học.
NRC cấp giấy phép cho xây, giấy phép đóng cửa, giấy phép gia hạn thời gian hoạt động nhà máy điện nguyên tử.
Ngoài trung tâm đầu nảo của NRC ở Rockville, Maryland , NRC có văn phòng ở 4 vùng khác nhau:
Vùng 1 trụ sở King of Prussia, Pennsylvania.
Vùng 2 trụ sở Alanta, Georgia.
Vùng 3 trụ sở Lisle, Illinois.
Vùng 4 trụ sở Arlington, Texas.
NRC thanh tra thường xuyên nhà máy và chỉ chổ sơ hở về an toàn cho nhà máy để sửa chửa.
NRC cảnh cáo vi phạm luật an toàn. Nhà máy không khắc phục kịp thời sẽ bị phạt tiền rất nặng. Nhà máy tái phạm hay vi phạm nghiêm trọng sẽ bị NRC tạm thời đình chỉ sản xuất điện cho đến khi lỗi đươc khắc phục.
NRC là cơ quan kiểm tra, duyệt, chấm bài thi và cấp bằng điều khiển nhà máy cho thí sinh thi đậu viết và thực hành. Mỗi nhà máy có nhân viên NRC thường trú để kiểm tra về an toàn.
Cứ 2 năm NRC thanh tra 1 lần. Nhân viên không được tiết lộ sự hiện diện của thanh tra; ai vi phạm sẽ bị kỷ luật (tối đa là sa thải), phạt tù và tiền theo luật liên bang. Ai đe dọa, lừa dối NRC thanh tra sẽ bị nghiêm trị theo luật liên bang: tù và tiền.
Khi NRC đến thanh tra hay chấm thi, NRC không bao giờ tham dự các bửa ăn do công ty thết đãi.
Tai nạn nơi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl
Bài nầy có 5 phần:
Bối cảnh
Ảnh hưởng sức khỏe từ tai nạn
Lò phản ứng ở Mỹ và phản ứng của NRC
Thảo luận
Sarcophagus: Quan tài

1. Bối cảnh:
Ngày 26 tháng 4 năm 1986, thình lình điện tăng quá mức trong lúc thử nghiệm lò phản ứng số 4 của nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ở Ukraine, nguyên là Liên bang Sô Viết. Tiếp theo tai nạn và hỏa hoạn, nhà máy đã thả ra số lượng khổng lồ chất phóng xạ vào môi trường.
Đội ngũ cứu cấp cho tai nạn đã dùng trực thăng trút cát và boron vào nơi đổ nát của lò phản ứng. Cát ngăn chặn lửa và kiềm chế chất phóng xạ trong khi boron dùng để ngăn chận phản ứng hạt nhân . Vài tuần sau tai nạn, đội ngũ đã hoàn toàn bao phủ đơn vị hư hại với cấu trúc tạm thời bằng ci men, được gọi là sarcophagus để giới hạn chất phóng xạ lan ra ngoài. Chánh phủ Sô Viết cũng cắt và chôn vùi 1 dặm vuông cây thông gần nhà máy để tránh lan tràn chất phóng xạ vùng xung quanh. 3 lò phản ứng còn lại của Chernobyl bắt đầu hoạt động lại nhưng cuối cùng đóng cửa vĩnh viễn và lò phản ứng cuối cùng đóng cửa vào năm 1999. Cơ quan điều hành nhà máy hạt nhân Sô Viết tường trình lần đầu về tai nạn cho ủy ban năng lượng nguyên tử quốc tế ở thanh phố Vienna, nước Úc vào tháng 8 năm 1986.
Sau tai nạn, chánh quyền đóng cửa khu vực 30 cây số xung quanh nhà máy, ngoại trừ nhân viên có trách nhiệm thẩm định, đương đầu với tai nạn và điều khiển lò phản ứng không hư hại. Liên bang Sô Viết (sau này là Nga) ra lịnh di tản 115 ngàn người ra khỏi nơi có nhiều chất phóng xạ trong năm 1986 và 220 ngàn người vào những năm sau đó (Nguồn UNSCEAR 2008, trang 53)

2. Ảnh hưởng sức khỏe từ tai nạn:
Tai nạn nguyên tử khốc liệt của Chernobyl đã giết 28/600 nhân viên trong 4 tháng đầu sau tai nạn. 106 nhân viên nhiễm phóng xạ nặng và sẽ bị bịnh hiểm nghèo. 2 nhân viết chết trong vòng 1 tiếng sau khi lò phản ứng nổ tung nhưng cái chết của họ không liên can đến phóng xạ. Ngoài ra 200 ngàn người thu dọn trận mạc trong năm 1986 và 1987 đã tiếp thu lượng phóng xạ từ 1 đến 100 Rem (Rem là dơn vị đo lường chất phóng xạ ở Mỹ. Trung bình dân Mỹ nhiễm phóng xạ 6/10 Rem mỗi năm). Công việc dọn dẹp Chernobyl cần thêm 600 ngàn người và họ bị nhiễm số lượng rất nhỏ. Cơ quan chánh phủ tiếp tục theo dõi sự dọn dẹp và sự phục hồi sức khỏe của họ (nguồn: UNSCEAR 2008, trang. 47, 58, 107, và 119.)
Tai nạn Chernobyl lan tràn phóng xạ ra nhiều khu vực như Belarus, Liên bang Sô Viết, Ukraine và ảnh hưởng cuộc sống của hàng triệu người. Tổ chức sức khỏe thế giới (World Health Organization) lo ngại về sự nhiễm phóng xạ của những người bị tản cư. Đa số 5 ngàn người sống trong khu vực nhiễm phóng xạ nhận 1 số lượng phóng xạ rất nhỏ nhen so với mức phóng xa, của thiên nhiên (1/10 rem mỗi năm) ( Nguồn: UNSCEAR 2008, trang. 124-25).
Ngày nay những bằng chứng cho thấy sự nhiễm phóng xạ không có tăng thêm mức độ bịnh leukemia hay ung thư chắc chắn, ngoại trừ ung thư tuyến giáp (thyroid cancer). Nhiều trẻ em và thanh niên thanh nữ trong khu vực năm 1986 uống nước nhiễm chất phóng xạ iodine đã bị bịnh ung thư tuyến giáp. Đến hôm nay khoảng 6 ngàn bịnh nhân ung thư tuyến giáp đã được khám phá trong giới trẻ em. 90% trẻ em này đã được điều trị thành công. 15 trẻ em và thanh thiếu niên ở 3 nước chết vì ung thư tuyến giáp. Những chứng cớ này không có thấy ảnh hưởng những người mang thai như sanh khó, chết khi sanh hay nói chung sức khoẻ trẻ em của những gia đình sống trong khu vực nhiễm phóng xạ ( Nguồn:UNSCEAR 2008, trang. 65)
Các chuyên gia kết luận rằng chết vì ung thư có thể do ảnh hưởng Chernobyl mang theo suốt đời của những đội cấp cứu, những người di tản và dân chúng sống trong khu vực nhiễm xạ . Ảnh hưởng sức khoẻ rất thấp so với dự đoán ban đầu của 10 ngàn người chết vì bức xạ.

3. Lò phản ứng ở Mỹ và phản ứng của NRC:
Cơ quan NRC kết luận rằng nhiều yếu tố bảo đảm lò phản ứng ở Mỹ không dẫn đến sự kết họp sai lầm dẫn đến ra tai nạn như Chernobyl. Sự khác biệt về thiết kế nhà máy, khả năng tự động tắt và cấu trúc mạnh mẽ để giữ chất phóng xạ giúp bảo đảm lò phản ứng ở Mỹ an toàn cho dân chúng. Khi NRC định giá trị những tin tức mới mà họ xem nó có thể gây ra tai nạn lớn lao, những thẩm định này coi sự an toàn có thể bảo đảm được đời sống dân chúng và môi trường hay không.
Sau khi nhiên cứu tai nạn Chernobyl, cơ quan NRC nhấn mạnh nhiều yếu tố quan trọng như sau:
· Xây dựng lò phản ứng đúng theo bản vẽ và thực hiện chính xác trong khi xây cất và bảo trì.
· Duy trì đúng cách hướng dẫn và điều khiển vận hành thông thường và trường họp khẩn cấp.
· Có trình độ và động lực điều hành nhà máy và nhân viên
· Bảo đảm hệ thống dự trữ, sẵn sàng cung cấp cho hệ thống an toàn trong trường họp xảy ra tai nạn.
Sau biến cố Chernobyl, NRC kiểm tra lại luật lệ để tu bổ qui định của NRC hay hướng dẫn về tai nạn liên quan đến phản ứng dây chuyền, tai nạn khi lò phản ứng không có công suất hay công suất thấp, huấn luyện nhân viên điều khiển nhà máy và kế hoạch khẩn cấp.

Phản ứng của NRC về Chernobyl gồm 3 phần:
1. Xác định sự thật của tai nạn.
2. Đánh giá sự quan hệ mật thiết của tai nạn để tạo qui luật cho nhà máy điện nguyên tử ở Mỹ.
3. Tiến hành nghiên cứu dài hạn được đề xuất bởi đánh giá.
NRC phối họp sự thật tìm thấy trong giai đoạn này với những cơ quan khác của chánh phủ và tư nhân. NRC công bố bản tường trình của công việc này vào tháng 1 năm 1987 như điều lệ NUREG-1250.
NRC công bố kết quả bản tường trình giai đoạn 2 vào tháng 4 năm 1989 như điều lệ NUREG-1251.
Ảnh hưởng của tai nạn Chernobyl tạo qui chế an toàn cho nhà máy điện nguyên tử Mỹ. Cơ quan NRC kết luận rằng bài học từ Chernobyl không đủ thời gian thay đổi lập tức luật lệ hiện thời .
NRC ấn hành sự nghiên cứu về Chernobyl cho nhà máy điện nguyên tử vào tháng 6 năm 1992 như điều lệ NUREG-1422.
Trong khi báo cáo đóng cửa tức thì các nghiên cứu Chernobyl, 1 vài đề tài tiếp tục được NRC chú ý trong sinh hoạt bình thường. Chẳng hạn NRC tiếp tục khảo sát sau trận Chernobyl về bài học trừ khử phóng xạ của kiến trúc, đất liền cũng như người dân trỏ lại nơi trước đây bị nhiễm phóng xạ. NRC cũng suy xét kinh nghiệm của Chernobyl là một thông tin để suy xét cho sự an toàn của lò phản ứng trong tương lai.

4. Thảo luận:
Lò phản ứng Chernobyl được gọi là RBMK’s, là lò phản ứng công suất cao. Nó dùng than chì để duy trì phản ứng dây chuyền, làm nguội lò phản ứng với nước. Trong khi tai nạn xảy ra, Liên bang Sô viết có 17 RBMKs và Lithuania có 2 đơn vị. Từ khi tai hoạ, 3 lò phản ứng khác của Chernobyl, cộng thêm 17 cái của liên bang Sô viết và 2 cái của Lithuana dược đóng cửa vĩnh viễn. Chernobyl 2 đóng cửa năm 1991 sau khi hoả hoạn ở tòa nhà turbine. Đơn vị số1 đóng cửa trong tháng 11 năm 1996 và đơn vị 3 đóng cửa trong tháng 12 năm 1999 như lời hứa của Tổng thống Ukraine, Leonid Kuchma. Ở Lithuania, đơn vị Ignalina đóng cửa trong tháng 12 năm 2004 và đơn vị số 2 đóng cửa năm 2009 là điều kiện để vào liên hiệp Âu châu.
Đóng cửa những lò phản ứng Chernobyl là sự kết họp mạnh mẽ từ 7 nước có nền kinh tế lớn trên thế giới (G-7), ủy ban Âu châu và Ukraine. Sự nổ lực này là hổ trợ nâng cấp đơn vị Chernobyl 3, ngưng hoạt động toàn diện khu Chernobyl, phát triển phương pháp giải quyết tình trạng những nhân viên và gia đình họ khi nhà máy đóng cửa và xác định đầu tư cần thiết để đáp ứng cho nhu cầu về điện trong tương lai của Ukraine.
Trên kỷ niệm 10 năm của tai họa, Ukraine chính thức thành lập trung tâm Chernobyl cho an toàn điện nguyên tử, rác phóng xạ và đài phát thanh sinh thái ở thành phố Slavutych. Trung tâm cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho kỹ nghệ điện nguyên tử, cộng đồng khoa học và nhà quản lý về nguyên tử.

5. Sarcophagus: Quan tài
Giới thẩm quyền Sô viết bắt đầu đổ hòm bê tông để bao phủ lò phản ứng bị hủy hoại vào tháng 5 năm 1986 và hòan tất công việc đầy thách đố sau 6 tháng. Chính quyền xem việc đổ hòm bê tông là cách thức tạm thời để lọc phóng xạ ra khỏi chất khí từ lò phản ứng bị hủy hoại trước khi chất khí lan ra môi trường. Sau vài năm, những chuyên gia bắt đầu lo ngại cường độ cao của phóng xạ có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của hòm bê tông.
Năm 1997, nhóm G-7, Ủy ban châu Âu và Ukraine đã đồng ý cùng nhau tài trợ cho kế hoạch thực hiện chỗ che đậy Chernobyl để giúp Ukraina biến hòm bê tông hiện có thành một hệ thống ổn định và an toàn với môi trường. Ngân hàng Âu châu cho tái thiết và phát triển quản lý tài trợ cho kế hoạch, bảo vệ nhân viên, dân cư kế bên và môi trường cho nhiều thập kỷ vì 1 số lượng to lớn của phóng xạ vẫn còn trong quan tài. Hòm bê tông hiện tại phải được ổn định trước khi công việc thay thế bằng quan tài ổn định, an toàn vào cuối năm 2006. Thiết kế mới bao gồm vòng cung bằng thép và nó sẽ trượt qua hòm cũ bằng đường rầy. Hệ thống kiến trúc này bền vững tối thiểu100 năm.

Nguồn: http://www.nrc.gov/reading-rm/doc-collections/fact-sheets/chernobyl-bg.html
Trần-Lâm Phát

10 thg 8, 2024

Ô môi_Trần-Lâm Phát

Sau chuyến về quê năm 2011, cây ô môi sau nhà cũng theo cha mẹ tôi ra đi từ lúc nào không ai còn nhớ. Các cháu tôi nay ngoài 30 nhưng không có ấn tượng gì về cây ô môi. Năm mươi năm về trước, tôi thường ngắm hoa ô môi vào giữa xuân, rồi khi nó có trái, tôi leo lên cây hái trái, đem xuống phơi khô vài ngày rồi bắt đầu thưởng thức. Khi mùa lúa xong, gió bấc bắt đầu thổi, cây ô môi tưởng như đã chết, trơ trụi lá, để lộ những cành giữa bầu trời.
Tôi có email và gọi điện cho các cựu học sinh Đất đỏ nhưng không ai tìm thấy nó ở miền đông nam hay tây nam. 
Cây ô môi tên khoa học là Cassia grandis L. F.(Bactyrilobium molle Schrader, C. brasiliana Lam., C. mollis Vahl.), thuộc họ Vang ( Caesalpiniaceae). Người Hoa gọi là đại quả thiết đao mộc 大果鐵刀木. Nó cao khoảng 10-20 m, có võ nhẵn và cành màu sét rĩ khi còn non và có màu nâu đen khi già . Lá nó thành đôi dài từ ½ tấc đến hơn 1 tấc, màu xanh và có gân. Hoa nó màu hồng. Cây ô môi thường mọc hoang trong rừng, ít khi người ta trồng nó ở nhà . Dân quê ngâm trái ô môi với rượu để làm thuốc trị bịnh tiêu hoá. Hột ô môi ngâm nước sôi đến khi nở ra, nấu chè với đậu xanh là món ăn đạm bạc, đậm tình quê hương.
Cây ô môi trổ bông khi trụi lá giống như các cây ở Hoa kỳ trổ bông vào mùa xuân. Thời gian từ lúc đơm bông cho đến khi có trái có thể ăn được gần 8 đến 9 tháng.


Muốn ăn ô môi, để đầu có cuống xuống thớt, róc ngược 2 đường gân chạy dài từ nơi cuối trái đến đầu có cuống. Sau đó dùng tay ép cho nó xêu vẹo và bóc lấy từng miếng như đồng tiền 5 xu rồi bỏ vào miệng nhai. Càng nhai càng thấy mùi hăng hăng, khăm khắm, vị ngọt bùi bùi và miệng thì dính đầy sáp ô môi (môi đen).

Những buổi trưa hè đi trên bờ ruộng, văng vẳng từ xa tiếng hát Tấn Tài vọng lại, không ai không cảm thấy buồn man mác:
"Bến nước năm xưa chỉ còn cội đa già chơ vơ rũ bóng, gió đông ơi lòng tôi đà ớn lạnh sao gió đông còn thổi làm chi cho bông ô môi rũ cánh rụng tơi ….bời"
Nay ở xứ người, nghe bài vọng cổ này càng thêm thắt ruột:
"Kể từ đó như cánh bèo mặt nước
Trôi bập bềnh trên bốn mặt trường giang
Rồi một chiều lòng chạnh nhớ quê hương
Tôi về thăm lại xóm làng quen thuộc. 
Tôi ngồi dưới rặng ô môi nhìn cánh hoa rụng rơi trên mặt nước theo trận gió tàn đông lướt thướt bay…. về."

Virginia ngày 3 tháng 5 năm 2013
Trần-Lâm Phát

(Chú thích: Những hình ảnh, bài ca lấy từ những nguồn trên Internet. Cám ơn các tác giả đã đăng)