28 thg 8, 2026

Với Tay Là Đến - Nguyễn Thị Thu Huệ


Với Tay Là Đến



Càng đi càng xa.

Hoá ra. Con đường thân thuộc nhất, gần gũi nhất gắn bó dài tuổi thơ, khi bắt đầu là một bào thai, tấp tểnh tròn co trong bụng mẹ, sấp ngửa lên xuống như sóng biển sáng dâng chiều rút, hay lúc chạy cá ngoài bãi mỗi khi thuyền về.

Thế mà bây giờ.

Đại Dương - bào thai bé bỏng ngày ấy - không nghe, không biết không trông thấy gì.

Vừa đi qua nhà mà cứ như nhà ở hành tinh khác. Bố mẹ ở ngoài biển. Lạc đã dỡ về, phơi chật kín lối vào. Ngóng vu vơ nhà hàng xóm, tịch không có bóng người. Mùa làm ăn, trẻ già lớn bé ra biển tuốt tuột. Cứ ra biển là có tiền.

Chiếc xe Honda Accord đời mới lừ lừ trôi trên con đường nhỏ, phẳng. Kính xe đen. Người trong xe nhìn ra thấy tất. Người ngoài chịu. Đại Dương chăm chăm nhìn chợ chiều riu riu trong những tia nắng quái tai ác sau một ngày nung đốt.

Chợ chiều.

Dương nhớ ngày xưa. Sao bỗng nhiên tất cả lại xếp hàng thẳng trở về trong trí nhớ thế này nhỉ. Hay bị kỷ niệm chi phối, là người uỷ mị, yếu lòng. Hoặc là người gần đất xa trời, hoặc biết mình sắp trắng tay, phá sản. Ngày xưa. Mẹ gánh Dương một bên, gánh tép một bên, đung đưa, đung đưa từ chợ chiều về.

Qua khu chợ. Qua rặng phi lao. Là biển.

Ngày xưa. Lúc mới biết chạy. Mẹ hay thả Dương bập bõm bước trên cát, gần với mép sóng. Thỉnh thoảng, có một con sóng nhẹ nhàng, cố cố chạy vào liếm chân thằng bé một cái. Lúc đầu. Nó sợ. Sau quen. Cứ mỗi khi mẹ cắp nách ra bãi là cậu tụt xuốt, chạy lao ra biển, lăn lộn như một con cá gặp nước. Không có nước. Nó sẽ chết khô.

Đã nghe tiếng biển ì ầm ngoài xa. Nặng nặng một âm thanh muôn thủa, đều đều nhưng quyến rũ, lôi kéo vô cùng. Hàng quán hai bên đường mọc nhanh như cỏ dại sau mưa. Cần thì phục vụ thêm món tự có. Miễn là ra tiền. Nhà nào cũng treo đung đưa trong gió những áo tắm, quần bơi loại rẻ tiền, mạt hạng, mặc một vụ nghỉ là vứt. Vài lốp xe ô tô bơm căng làm phao. Mực khô. Cá khô. Nước mắm. Tôm ghẹ... buộc chặt mắt thao láo, chân đủ tám cái ngọ nguậy chứng tỏ sự sống. Và cạnh đó. Là hàng sống. Những cô gái quê phốp pháp. Ngực to. Bàn tay bàn chân to. Mặt phấn son rẻ tiền không biết trang điểm lem nhem, xanh ra xanh, đỏ ra đỏ. Đánh phấn dày như trát xi măng trứng cá vẫn nghênh ngang ngạo nghễ ngẩng cao đầu... Ngẩn ngơ đần độn ngồi dãi thẻ chả ra bán tôm cua cá mực, nước mắm. Mạnh ai nấy ngồi, mặt ai ngu người ấy chịu. Thấy có chiếc ôtô xịn lừ lừ trôi trên con đường nhỏ, các cô không ai bảo ai, cùng loé lên trong đầu là khách đang đi săn hàng, chạy túa ra vẫy.

Chiếc xe như điếc, như câm, chạy lừ lừ rất quen ra trước biển.

2. Hơi thuốc Vinataba nặng xộc thẳng lên óc một tia chói gắt, đắng nghét. Hai sống mũi cay. Trán bỗng nhức nhối. Mắt hoa và cổ họng khô. Hơi thuốc đầu tiên trong đời luôn để lại những ám ảnh nặng nề, dù cho bây giờ, thuốc lá hạng nặng nhất cũng chỉ giúp cậu tan bớt cơn vật trong lúc đói thuốc, thiếu rượu. Thường thì người ta không ý thức những chuyện,chi tiết đầu tiên của một sự việc kéo dài suốt cuộc đời, nhưng thế quái nào nó lại lù lù trong một góc của bộ não, càng ngày càng rõ nét theo thời gian.

Hôm cô gái dễ hơn mình đến mười tuổi sà gần mặt, thở phì phò sát tai. Em nhờ anh đứng gần bên em vì em say quá, sắp ngã rồi, mà ngã ra đây thì ngượng lắm. Có cái mùi nước hoa gì mà đến bây giờ, ba năm sau mình vẫn thấy nó quanh quẩn.

Hút thuốc phiện không nặng nề như hơi Vinataba đầu tiên.

Có lẽ tại có người hướng dẫn, có bàn tay ve vuốt, lại thơm và mát. Nói chung, mình thấy là đàn bà da phải mát.

3. Người dân làng biển muôn đời vẫn thế. Sóng có thể to. Biển có thể động. Những chính biến thể chế quốc gia này, quốc gia kia họ cũng nghe ngóng từ các bản tin của Đài truyền hình. Tin và ham xem truyền hình, nhưng lại không thấy cần phải vận vào cho mình những trông tin thật cần để tránh cạm bẫy hay rút kinh nghiệm.

Sáng nay. Bố bảo mẹ: Tôi đi sang xóm Cù mua vài thứ, trưa về, chuẩn bị mai đi tàu lớn. Mẹ vừa xếp mấy quả ổi xanh, miếng mít gọt sạch thơm thơm, vài quả thị vẹo, giọng nhập nhèm: Ông đi dễ đến ba ngày. Năm ngày. Ông đáp rồi cun cút đi. Đơn giản thông tin chỉ có thế. Nhưng đủ.

Hai người hai hướng nhưng cuối cùng cũng gặp nhau ở biển.

Biển tung bọt trắng ầm ào. Vào đến bờ, bọt vỡ tung, tan biến, trơ ra những lưng là lưng, rốn là rốn. Đúng là người đẹp bao giờ cũng lợi. Lợi nhất khi ở biển. Xấu đẹp thấy ngay, không gì che được.

Mẹ ngồi cạnh những dãy hàng rong dọc bãi biển. Ngóng khách quen khách lạ như một phản xạ nhiều khi không phải là vì họ sẽ mua hàng của mình. Đơn giản, ngồi không thì nhìn, cho đỡ chán. Vậy thôi.

Bây giờ đã là chiều. Mặt trời lừ đỏ như đốt sóng, như muốn luộc chín lũ người bé tí đang nhảy tưng tưng kia.

4. Chiếc xe đã chọn được chỗ đỗ. Lái xe và Dương cùng đi ra.

Tất cả những ai có đủ hai mắt là nhìn. Dương cũng nhìn lại. Không phải Dương thích nhìn họ, mà là anh muốn tìm mẹ. Đông thế kia, lại chia làm hai phe. Phe thỗn thện phơi bụng phơi rốn chắc chắn không có mẹ trong đó, phe quần áo đủ đầy nhưng giống nhau cứ nhuôm nhuôm, mờ mịt khó nhận quá.

Có một cái mẹt đựng vài quả thị, mấy quả ổi, gói kẹo văng ra chân mình. Tiếng kêu thất thanh. Một thân người đổ lên làm Dương chao đảo. Mẹ. Mẹ. Đúng mẹ rồi. Con về lâu chưa? Sao biết mẹ ở đây mà tìm? Dương cười, da xanh gầy trắng nhởn dù là chiều xuống đỏ lừ nhuộm đến cây còn thẫm. Mẹ cuống cuồng hỏi con về lâu không, ăn gì chưa, uống gì chưa, bao giờ đi tiếp. Con giai chỉ cười, vẻ điềm đạm chững chạc lạ lùng, hiếm thấy. Dương hỏi bố đâu. Mẹ bảo về nhà bây giờ chắc gặp. Con giai bưng mẹt quả lăn lăn, mời mẹ lên xe con đưa về. Mẹ cười bẽn lẽn bảo mẹ chân đất, trèo lên xe của con cho bẩn hết à, với lại mẹ cả đời không đi bao giờ, say chục ngày chưa chắc tỉnh lại. Con cứ về trước đi, mẹ chạy mua cua, mua mực tươi về cha con uống chén rượu.

5. Dùng dằng mãi rồi cũng rứt ra mà đi. Sao bao lần chia tay con lên thành phố học không như lần chia tay này. Lúc bố mẹ vui vẻ thì con lại bịn rịn. Ra đến đường. Tất cả tối đen. Chỉ có gió là hào phóng, mạnh mẽ mang đủ mùi hương vị không thể lẫn vào đâu. Mùi nước mắm, mùi tanh, mùi mặn nồng ấm áp.

Dương tưởng không đi nổi. Đến lúc đi được lại sợ mình không giữ nổi lòng nói ra những điều có thể làm bố hay mẹ đột quỵ. Thế là đi. Như trốn. Như chạy. Như đứa con chẳng ra gì vừa về nhà thấy bố mẹ nghèo bỏ đi. Trong khi bố mẹ thì báo cả xóm đến luộc lạc uống rượu chia vui cho nhà tôi. Con tôi được đi học tận nước ngoài. Con tôi sẽ là anh kỹ sư mai sau về giúp nhiều thì không biết chứ chắc chắn giúp được người vùng mình xây cái nhà máy đông lạnh, bảo quản hải sản, khỏi thiu thối, mất giá. Cả xóm biển rôm rả như sắp có đám lễ. Bố mẹ tần ngần. Vui thế mà con bỏ đi. Con giai nói như nuốt tiếng vào trong, tức ngực quá. Con không thể ở thêm được, bố mẹ cứ coi như con vẫn ở nhà.

Lại một vòng ngang biển.

Biển đêm. Đùng đục mây xa báo hiệu hôm nay trăng muộn và sáng. Bãi tắm vẫn đông, thấp thoáng những dáng người. Dương mở cửa xe bước xuống, bỏ giày đen bóng mũi dài hợp mốt mượn anh công an chưa vợ trót yêu đơn phương cô diễn viên đang học hát chèo. Chân trần. Giẫm lên cát mát dịu dàng. Gió lồng lộng thốc vào mặt, trùm lên đầu. Một lần về với biển. Để đi. Một lần về với mẹ để rời xa vĩnh viễn.

Chui vào trong xe. Chạy chậm, gió thổi thốc tháo. Đại Dương lôi trong chiếc cặp đen mang theo một bơm kim tiêm đầy nước trắng, lấy một tay bóp chặt cánh tay kia, co vào, ruỗi ra cho nổi ven, và cắm phập kim tiêm vào.

Ngoài kia. Biển chỉ còn là tiếng sóng ầm ì.

Đại Dương ngả người ra xe, mắt nhắm lại.

6. Buổi sáng. Trại cai nghiện thức giấc sớm. Công việc của ngày hôm qua như ngày hôm nay. Ngày mai chắc cũng vậy...

Riêng đối với Dương chắc khác. Nằm bệt trên giường, toàn thân như sáp và xương tan biến, còn lại đúng đôi mắt. Dương nhìn ra ngoài những chấn song sắt.

Ngoài kia. Trời tháng chín nắng hanh hao vàng rượi. Nắng chạy rất xa làm cảnh vật như trong hơn. Dương ở đây gần một năm, đủ dài bằng cả quãng thời gian sống từ lúc còn trong bụng mẹ nhấp nha nhấp nhô trên đường.

Hôm qua. Giám thị báo hôm nay trại đón khách. Nếu không nằm thế này chắc chắn mình sẽ hát ít nhất ba bài trong buổi biểu diễn văn nghệ. Dương thở dài. Không nhìn ra ngoài trời nắng hanh hao ong vàng nữa, lại nhìn lên trần nhà.

Dương nhìn thấy biển. Thấy ngày bố mẹ ngậm ngùi thu va hà vén dúi tiền cho con ở bến xe lên tỉnh học đại học. Mẹ còn nhét xuống chân gói cá thu khô, suýt nữa cả can nước mắm nếu anh tài không nhìn thấy bắt mang xuống khỏi xui. Dương thấy hết. Trọn vẹn từng đường gân thớ thịt cảm nhận được hết cuộc đời không phải là dài nhưng có lẽ là đủ với mình. Cảm nhận được sự tan rã thân xác như một con cá còn sống nhưng nhiễm độc chờ chết trương phình giương đôi mắt cá chết nhìn lũ bọ rỉa thịt mình nhấm nháy.

7. Biển hôm nay động. Bãi tắm vắng. Nghe đâu có cơn bão đang về. Bố vẫn ra biển. Mẹ thì sắm nắm đôi quang gánh lấy vài chục cân riu về muối. Bố từ ngày con giai về rồi đi lúc nào cũng cười. Tất tật mọi chuyện từ xa đến giờ có thể làm bố cáu giận muốn hét to hoặc phải đập phá một cái gì thì bây giờ, bố chỉ cười và cho qua. Không ai hiểu điều đó, chỉ mình bố hiểu. đấy là liều thuốc tiên con trai bố hôm nào vừa về tiêm vào người bố. Con trai về chào bố mẹ để đi nước ngoài du học. Trong lúc học con trai sẽ đi làm thêm lấy tiền sau về xây nhà, lấy vợ đẻ con. Con trai bảo dứt khoát sẽ lấy vợ ở quê chứ không dặt dẹo bám lại Hà Nội như bao đứa dặt dẹo khác chết đói chết khát làm thuê làm mướn đủ nghề vẫn không chịu về quê danh giá. Con trai còn bảo lúc con trai về, sẽ giúp huyện xây nhà đông lạnh... Nghe con trai nói, nhìn mắt con trai đầy ánh sáng, ông như được hồi sinh thành người khác. Một thế giới khác không giống thế giới ông đang sống cùng tồn tại và nuôi dưỡng ông. Bà cũng vậy. Từ lúc con trai về rồi đi, bà bỗng có nhu cầu buôn chuyện. Gặp ai cũng chào, cũng hỏi, và nếu ai có thời gian là bà kể về con trai. Ông ngồi trên chiếc tàu lớn đang dong buồm ra khơi.

Phía chân trời, mặt trời lên. Một vầng đỏ tròn cháy bừng trên mặt sóng xanh ngăn ngắt như bừng lên nghìn ánh nắng hy vọng sau những ngày mưa, như niềm tin của ông vào một ngày mai, rất gần, con trai ông trở về cùng ông sống trên miền đất mặn.

Lúc đó. Trong trại. Đại Dương giương đôi mắt đục như có một màn sương che phủ ra để nhìn ra song cửa sắt. Cố nhấc một cánh tay để kéo tấm màng che đang kéo tối dần tất cả những gì gọi là cuộc sống trước mắt. Nhưng cánh tay cũng như tay ai mất rồi. Tay tan đi đằng tay. Chân biến đằng chân. Vừa nặng vừa nhẹ, mà là không có gì.

Bỗng dưng có một luồng ánh sáng chói chang chiếu thẳng vào mặt con trai. Mọi sự bừng lên ánh mặt trời cháy bỏng trên mặt biển xanh. Dương nhìn thấy bố đang dong thuyền về buổi chiều nhuộm nắng. Thấy mẹ cắp chiếc thúng nhỏ chạy ra đựng mực tươi về luộc chấm mắm tôm tươi. Dương thấy hết. Tất cả thật gần. Như thể chỉ cần với tay là đến. Với tay là có. Bố. Mẹ. Tuổi thơ đẹp đẽ, đơn giản trong ngần. Học bổng đi du học. Nhà máy đông lạnh... Chỉ cần. Với tay là đến...

Nguyễn Thị Thu Huệ

Posted by 304Denat 4:43 PM




MỜI XEM THÊM \


27 thg 8, 2026

LỜI CẢM TẠ ( Của Gia Đình Thầy Lê Thanh Hoàng Dân )

 LỜI CẢM TẠ

Thay mặt gia đình và Mẹ chúng con là quả phụ Sophie Lê, chúng con xin thành kính gửi lời tri ân và cảm tạ sâu sắc đến Thầy Đoàn Viết Bửu, Cựu Hiệu Trưởng Trường Sư Phạm Sài Gòn, cùng quý Thầy Cô, quý đồng nghiệp và các thế hệ học trò của Ba chúng con, đã dành tình cảm quý báu tổ chức Lễ Truy Điệu, tưởng niệm và tiễn đưa hương linh Ba chúng con, Nguyên Giáo Sư Lê Thanh Hoàng Dân về cõi an nhiên, thanh thản.
Gia đình chúng con vô cùng xúc động khi biết rằng, dù cách xa nửa vòng trái đất, quý Thầy Cô và các anh chị học trò vẫn cùng hội tụ, dành cho Ba một buổi lễ trang nghiêm và đầy nghĩa tình. Đó không chỉ là lời tiễn biệt dành cho một người Thầy, một người đồng nghiệp, mà còn là minh chứng cho tình đồng môn, nghĩa thầy trò và những kỷ niệm của một thời Sư Phạm Sài Gòn mà Ba chúng con đã luôn trân quý trong suốt cuộc đời.
Ba đã ra đi, nhưng được quý Thầy Cô và bao thế hệ học trò thương nhớ và tiễn đưa bằng tất cả tấm chân tình như vậy là một niềm an ủi vô cùng lớn lao đối với Mẹ và toàn thể gia đình chúng con.
Xin kính chúc Thầy Đoàn Bửu Việt, quý Thầy Cô và tất cả các anh chị học trò của Ba luôn được dồi dào sức khỏe, bình an và nhiều phúc lành.
Gia đình chúng con xin cúi đầu tri ân và thành kính cảm tạ.
Thay mặt quả phụ Sophie Lê cùng toàn thể gia đình
Mỹ Thanh

26 thg 8, 2026

Tiểu Lục Thần Phong: NGÀY NÀO CHO MÁ


                                  Ảnh (Nguồn: tramtue.vn)

Tháng bảy lại về, không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất....)

 Nói vô thần là ngày xưa chứ bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất. Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.

Không biết tự bao giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân văn của hiếu hội Vu Lan.

Hiếu nào chỉ một ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới, ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo của người và vật.

Người Việt là những cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những hình tượng to lớn kỳ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ ràng

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Hoặc là:

Con người có tổ có tông

Như cây có cội như sông có nguồn

Rất hiện thực, rất chí tình, mình không phải từ trời rơi xuống hay từ đất nẻ trồi lên. Mình từ trong bụng mẹ mà ra. Không có ông bà cha mẹ thì làm sao có mình? Công ơn cha mẹ chắc không cần phải nói nữa, ai ai cũng biết rồi, chỉ có điều là đền  đáp như thế nào thôi! có thể nói rằng không thể nào đền đáp đủ công ơn cha mẹ. Núi Thái kia lớn lắm, nước trong nguồn mát trong và không bao giờ cạn, lòng mẹ “như biển Thái Bình”…thì con làm sao báo đáp cho đủ đầy được!

Người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn minh Trung Hoa, bởi vậy nhiều trường hợp hiếu theo kiểu Nho giáo như: Cung bái cha mẹ trong lễ cưới hỏi, thượng thọ, tang chế…nhưng đó là hình tướng, hình tướng nghi thức không quan trọng, nhiều khi chỉ làm màu vì sợ tiếng đời. Quan trọng của hiếu để là phụng dưỡng cha mẹ, làm cho cha mẹ an vui, làm sao cho cha mẹ hướng về việc phước thiện…Bởi vì con người ta không chỉ có một đời này. Tích đức làm thiện là cách tạo tư lương cho thời gian sắp tới, cho những kiếp luân hồi mai sau. Con người ta khi sống thì chung đụng và có thể san sẻ cho nhau, nâng đỡ nhau, còn một khi cách ấm thì “độc sanh độc tử độc khứ độc lai”. Lúc bấy giờ chẳng ai giúp ai được, chỉ có những thiện nghiệp của bản thân mới có thể giúp cho mình. Ông bà, cha mẹ, con cái thương nhau ra rít nhưng khi hết số chẳng ai cứu được ai, phước ai nấy hưởng, nghiệp ai nấy gánh, người thân chỉ có thể làm việc phước thiện và hồi hướng công đức mà thôi! Việc hồi hướng là phụ và rất hạn chế dù con cháu hết lòng hiếu thảo. Vì vậy thương cha mẹ thì nhất định phải giúp cha mẹ hướng về việc phước thiện, tích đức!

Những năm gần đây, văn hóa phương Tây lan tỏa mạnh nhờ vào các mạng xã hội. Giới trẻ nhanh chóng tiếp thu những nét mới như: Tổ chức lễ sinh nhật, lễ tình nhân, lễ Halloween, lễ mẹ, lễ cha…Tuy  nhiên có nhiều điều cần phải nói là sự tiếp thu và bắt chước một cách thiếu hiểu biết, thiếu cái nền văn hóa cơ bản. Có những bà mẹ quê mùa lam lũ, cả đời vất vả mưu sinh, giờ con cháu bắt ôm bó hoa hồng tướng mừng sinh nhật, mừng lễ mẹ…để chụp hình đăng mạng xã hội. Rồi còn nói toàn những lời khách sáo, bóng bẩy chẳng ăn nhập với bà mẹ của mình. Thật tội cho những bà mẹ bị đem ra “diễn”, cái cung cách “phù diễn tắc trách” những tưởng vậy là hiếu, là theo văn minh hiện đại nhưng thật sự là đem mẹ ra làm trò cười. Rất nhiều những trường hợp như thế, đầy trên mạng xã hội, nó vừa kệch cỡm, rởm đời, rất thô…Nó chẳng cho thấy hiếu đễ chi cả, chỉ là sự bắt chước, sự khoe khoang thiếu hiểu biết.

Người phương Tây đặt nặng vấn đề tự do cá nhân. Người phương Tây sống trong nền văn hóa phát triển cao, văn minh công nghiệp tân tiến nên phong cách rất khác với văn minh nông nghiệp lúa nước của mình. Mình tiếp thu cần có chọn lọc, có cải biên cho phù hợp chứ cứ nhắm mắt bắt chước rập khuôn thì rất kệch cỡm. Những bà mẹ Việt phần lớn đều từ nông thôn, cả đời lam lũ nâu sồng, vất vả mưu sinh…giờ tự dưng cầm dao cắt bánh sinh nhật, thổi nến, ôm bó hoa hồng lộng lẫy, mở hộp quà… rất thô kệch, nặng hình thức, trông phản cảm và lố bịch lắm.

Người Âu – Mỹ họ có những ngày lễ rất thiết thực trong đời sống, rất nhân văn, sâu sắc ý nghĩa. Chẳng hạn như: Ngày lễ mẹ, ngày lễ cha, ngày lễ tình nhân…Còn xứ mình đầy những ngày lễ chiến thắng, tấn công hoặc sự kiện nào đó của mấy ông kẹ bà chằng…May thay Phật giáo đã đem lại cho chúng ta một ngày lễ đầy ý nghĩa, rất nhân văn ấy chính là lễ Vu Lan vậy. Có thể xem lễ Vu Lan như ngày hội hiếu, ngày lễ mẹ, lễ cha, lễ ông bà…vì ngày lễ Vu Lan đâu chỉ riêng cho mẹ mà còn mở rộng đến cửu huyền thất tổ. Đó cũng chính là đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam.

Mỗi người trên thế gian này tuy khác nhau về ngôn ngữ, tiếng nói nhưng đều có chung tiếng gọi đầu đời: Má, mama, mamma, maman, mom, mother…Người việt còn phong phú hơn: Má, mẹ, mẫu, mợ, me, bầm, bu, vú…Tiếng nói và ngôn từ khác nhau nhưng đều chỉ chung cho người mang nặng đẻ đau, người vất vả nuôi ta ăn học từ sơ sinh đến lúc trưởng thanh, người quan hoài theo dõi từng bước đường đời mà ta đi qua…

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học mẹ thi trường đời

 Đời này không có mẹ thì không có ta. Những bước đường đời của ta cũng nhờ mẹ cha lót đường, mẹ dắt đi từ khi còn tấm bé cho đến ngày hôm nay. Những thành công hay cuộc sống bình thường của ta cũng nhờ mồ hôi và nước mắt của mẹ. Với người mẹ thì những đứa con có thành công hay thất bại, trí hay ngu, thanh hay trọc…cũng đều là những đứa con yêu mà bà mang nặng đẻ đau.

Những bà mẹ Việt suốt chiều dài lịch sử chịu bao nhiêu khổ nạn thương đau. Chiến tranh giặc giã liên miên, hết tiễn cha, chồng rồi lại tiễn con, cháu ra trận hết lượt này đến lượt khác. Những bà mẹ bồng bế con cái chạy giặc không ngớt. Hai trăm năm Trịnh – Nguyễn Phân tranh. Hai mươi mốt năm nội chiến con ta giết con ta. Cải cách ruộng đất con ta giết cả ta. Ngay cả bây giờ cũng thế, những đứa con tranh danh đoạt lợi truy sát tru diệt lẫn nhau. Những đứa con tàn nhẫn triệt đường sống, bách hại những đứa con khác dám lên tiếng vì tự do – dân chủ – nhân quyền. Mẹ Việt Nam ơi! Kiếp nạn này bao giờ mới hết? những đứa con của mẹ Việt Nam không biết thương nhau thì làm sao biết thương người!

Ngày lễ Vu Lan, cửu huyên thất tổ, ông bà quá vãng có siêu sanh hay không cũng nhờ một phần ở sự thương nhau của những đứa con. Những đứa con còn truy sát tru diệt thì có cầu chi cũng vô ích. Những bà mẹ Việt còn khổ đau, còn vất vả mưu sinh, còn đứt ruột vì những đứa con không biết thương nhau thì có ôm bó hoa hồng kiêu sa hay cắt cái bánh sinh nhật sang cả cũng chẳng phải là hiếu đễ. Màu mè để huyễn hoặc mình, dối người, lòe đời hay khoe khoang trên mạng xã hội không thể đánh đồng với hiếu đễ được!

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0826

25 thg 8, 2026

Chị Người Con Gái Trời Định Phận- Thuyên Huy

Chị Người Con Gái Trời Định Phận



Chị, người con lớn của ba cô con gái trong nhà, nhà có cái tiệm bán hủ tiếu và cà phê pha vợt vải duy nhất ở chợ xã, cái xã không quá nghèo, chừng như ai cũng đủ ăn đủ mặc, năm sáu nhà tạm gọi khá giả, chợ xã có hai dãy phố hai bên, chợ cất chính giữa, mái tôn, cột, nền bằng xi măng cao ráo tuy nhiên nhà lồng chợ không tường che, xa chợ nhà dân cất dọc theo bên này sát đường lộ, bên kia ngó qua là rừng cao su hun hút sâu của người Pháp.

Chị tuổi chừng hơn mười tám mười chín. Chị đẹp nhất trong ba chị em, đều đi học trường tiểu học sau lưng chợ, lên tới lớp Nhất, chị thi rớt đệ Thất trường trung học quận, chị bỏ học, ở nhà phụ bán tiệm.

*
Chị đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ, dạ thưa, từ tốn, vui vẻ nên người ở chợ ở xã đều mến, lớn nhỏ ai chọc ghẹo gì chị cũng cười trừ. Xã có ông sư già, trụ trì cái chùa nhỏ nghèo cũ kỹ cuối ấp chợ, sát bờ sông, ở đó dân trong làng thường tới cúng quảy. Có lần coi tuổi coi tay cho mấy chị em nói chị có số “sát chồng” nhưng ai nấy nghe rồi cười cười, không mấy gì tin vì ông Sư vừa cười vừa nói.

*
Một ngày đầu Hạ, chợ xã rộn rịp, pháo đỏ rượu hồng, mừng đám cưới chị và người sĩ quan, đại đội phó Địa Phương Quân đóng trên đồn lớn, đầu xã ngay ngã ba rẻ ngang rừng cao su đi Cầu Khởi.

Cuối Thu, sau ngày cưới chừng nửa năm, không may, chồng chị tử trận, một đêm mưa dầm lớn khi quân du kích từ mật khu nào đó kéo qua, tấn công đồn ác liệt. Người ta đưa xác chồng chị về chôn ở quê nhà miền tây sông nước. Cả chợ cả xã, ai nấy đều bùi ngùi thương xót cho tình cảnh chị, tiệm đóng cửa mấy ngày, ít khi thấy chị ra ngoài từ đó.

*
Hơn một năm sau, chị vào làm cô đỡ hương thôn cho bệnh xá xã, sau khi học xong khóa huấn luyện dưới quận, vừa làm vừa phụ nhà bán buôn. Tiệm hủ tiếu vẫn đông khách, chị vẫn vui cười không khác gì ngày trước.

Không lâu chị bước thêm bước nữa, lập gia đình với một anh giáo viên lớp Ba trường tiểu học nhà, không phải đi xa, không phải làm dâu. Chợ xã một lần nữa nghe tiếng pháo, rình rang chung vui chúc mừng.

Chiến tranh ngày càng lớn dần, dân xã ấp biết thấp thõm lo thấp thõm sợ hơn trước, một ngày hơn một năm sau, qua Tết, trên đường về thăm nhà dưới Suối Cụt trở lên trường, cũng không may chuyến xe đò sớm cán trúng mìn của quân du kích gài ban đêm trong mấy cái mô đất chặn đường, nổ tung, người đi vừa chết vừa bị thương hơn một chục, có anh giáo viên, chồng chị trong số những người chết đó. Một lần nữa, tuổi xuân chưa quá, lần thứ hai chị chịu thêm cái tang chồng.

*
Người ở chợ, bây giờ mới nhớ tới lời ông sư già ở cái chùa nghèo ngày trước về hai chữ “sát chồng”, họ chưng hửng bảo nhau “chẳng lẽ”, lúc này thì không còn ông sư già nữa, chùa quạnh quẽ khói nhang chuông mỏ, bải đất cỏ quanh chùa, chạy dài tận bờ sông giờ là nơi người dân trong làng thả trâu bò ăn cỏ, ông đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.

Bẳng đi một dạo, vắng chị, tiệm vẫn mở cửa, cũng sáng tới chiều nhưng không thấy chị ra vào nữa. Hai cô em cũng đã lớn, không ai nhắc tới chị.

*
Bốn năm sau, có người ni cô còn trẻ, khăn áo nâu sồng từ xa đâu đó, về chợ xã mừng đám cưới em mình, cô con gái kế của chú thiếm tiệm hủ tiếu. Bà con tại bữa tiệc và chung quanh chợ xã hôm đó, nhận ra, mà buồn, có người muốn khóc, người ni cô kia là chị.

Thuyên Huy

Viết mượn một phần tình tiết thật của một đời người.

Posted by 304Denat 3:59 PM


MỜI XEM ;💗💗💗💗💗💗

Quán 'Lá Thu" - Nguyễn Phan Hách


Quán "Lá Thu"




Cũng lâu mới có dịp trở lại Hà Nội. Cuối thu. Ban đêm đi dọc hàng cây sữa, thấy mùi hương sực nức. Cuối phố này tôi có một địa chỉ quen...

Mấy chục năm xưa, tôi là chú bé nhà quê ra thành phố vừa học vừa kiếm việc làm. Một buổi tối gió bấc đầu mùa, tôi co ro đi lang thang trong mùi hoa sữa. Những hàng ngô nướng đêm sáng lập loè. Gió vi vút mùi cà phê ở đâu toả ra ngoài ngào ngạt. Ngẩng lên, thấy tấm biển "Lá thu cà phê" rọi đèn mờ ấm cúng. Nhẩm tính trong túi còn đủ 5 hào, tôi quyết định bước vào.

Quán nhỏ. Bàn ghế bằng trúc vàng sơ sài. Nhưng giật mình thấy trên vách treo mấy bức sơn dầu của một hoạ sĩ tài hoa tôi hằng ngưỡng mộ mà chưa biết mặt.

- Bác sao có những thứ này - Tôi hỏi chủ quán.

- Cậu cũng thích tranh à - Chủ quán, một người vẻ nho nhã, tóc hoa râm, mỉm cười.

Tôi ngồi vừa ngắm tranh, vừa rung đùi tận hưởng từng ngụm cà phê thơm ngon. Phải công nhận cà phê của ông tuyệt thật. Vào thời kỳ đó, hình như cả thành phố chỉ có vài quán cà phê thì phải.

Đang lim dim mơ màng để khói cà phê phả mờ trên mặt, thì chợt thấy một người vừa bước vào. Chủ quán và ông khẽ gật đầu chào nhau, vẻ quen thân từ lâu. Ông người dỏng cao, gương mặt buồn đẹp, xanh xao. Ngón tay thanh tú trắng muốt nâng ly cà phê, mắt trầm ngâm ông nhìn những chiếc lá vàng bị gió bứt ào ào rơi ngoài cửa sổ. Uống xong, đứng dậy, lặng lẽ đi ra. Không thấy trả tiền.

Chủ quán nháy tôi.

- Cậu biết ai đấy không? Tác giả của những bức tranh kia đấy đấy!

Trời, tôi thảng thốt. Không ngờ vừa gặp được thần tượng của mình. Bất giác nhìn lên, một giây khắc như cảm nhận được tất cả sự huyền bí diệu kỳ của những bức tranh trên vách, mà lúc khác chắc không thể biết được.

- Những bức tranh tuyệt đẹp này - Chủ quán nói - là tặng phẩm của ông ta cho tôi, để trả ơn những tách cà phê thơm ngon mà tôi đã đãi ông suốt bao năm qua...

Lòng tôi rưng rưng. Vụt nhớ giai thoại Van Gốc vẽ lên gỗ mặt bàn quán trọ để trả nợ.

- Hay có thể nói ngược lại - Giọng chủ quán thầm thì - Những tách cà phê thơm ngon trong những giây phút gió bấc đầu mùa như đêm nay, cùng sự cung kính đối với nghệ thuật của tôi, là để trả ơn những bức tranh tuyệt tác...

Từ hôm ấy, tôi thường trở lại quán cà phê Lá thu mỗi khi trong túi tích cóp đủ 5 hào. Và tôi thường được ngắm nhìn người hoạ sĩ tài hoa trong khoảnh khắc ngắn ngủi của một ly cà phê bốc khói.

Thoắt cái, mà những ngày ấy đã trở thành dĩ vãng xa xôi...

... Tôi hồi hộp dừng lại nơi cây sữa cuối cùng của dãy phố. Quán cà phê Lá Thu nhỏ bé, mái ngói rêu mốc đầy lá vàng ngày xưa không còn. Thay vào đấy là một quán bốn tầng sáng choang gương kính và ánh điện màu. Nhưng được cái là vẫn mang tên "Lá Thu cà phê".

Tôi bước vào. Một mình một bàn. Một cô tiếp viên có đôi chân trần trắng muốt mũm mĩm mang chai rượu đắt tiền đến. Tôi hỏi tên người chủ quán cà phê ngày xưa. Cô dẫn tôi lên lầu. Một căn phòng nội thất phương Đông cổ. Cô dẫn tôi lên lầu. Một ông già râu tóc bạc đang ngồi uống trà bên giò lan tím cạnh song cửa. Đôi mắt sau tròng kính chớp chớp, ông nhận ra tôi, vồ vập thân tình.

- Những bức tranh ngày xưa còn không, thưa ông - Tôi nhìn suốt lượt bức tường.

- Không... Ông lắc đầu.

- Chúng đâu rồi?

- Chúng đã biến thành toà nhà nhiều gương kính này.

- Ông có nghĩ thế là với sự biến đổi, ông đã gặp thời, gặp vận, may mắn không?

- Không hẳn thế.

Ông già đưa tôi chén trà ngâu thơm ngát. Tôi bâng khuâng chạnh nhớ mùi cà phê trong cái quán nghèo thuở nào.

- Người hoạ sĩ tài hoa xưa còn đến đây?

- Không. Ông ấy đã mất trước khi được thấy tranh của mình bán được nhiều tiền...

Đêm ấy uống hết nửa chai rượu do cô tiếp viên xinh đẹp nâng tận môi, tôi loạng choạng đứng dậy ra về.
Ông chủ quán tiễn ra cửa, cầm tay hỏi:
- Tôi nghĩ là cậu buồn, và có giận tôi không?
Tôi mơ hồ lắc đầu:
- Không hẳn thế!.

Nguyễn Phan Hách

Nguyễn Phan Hách 1944–2019 là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam.

24 thg 8, 2026

Chờ Người Dưới Mộ Sâu - Thuyên Huy

 


MỜI XEM ;



THẦY GIÁO VÙNG CAO Nguyễn Trần Vỹ


Chứng kiến học sinh vùng cao thiếu thốn từ lớp học đến bữa ăn, thầy Nguyễn Trần Vỹ đã dành 26 năm bám bản, tìm cách cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em nơi đây.

Trong những năm cắm bản, thầy nhiều lần chứng kiến người dân dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành phần gạo ít ỏi để nuôi giáo viên. Từ việc xin sách vở, quần áo và đồ dùng học tập, thầy dần kết nối với các nhóm thiện nguyện và nhà tài trợ. Thầy vận động mọi người chuyển từ những phần quà ngắn hạn sang xây dựng trường học, khu bán trú và các công trình thiết yếu. Đồng thời, thầy huy động người dân địa phương cùng tham gia để giảm chi phí và tăng tính khả thi cho các công trình nằm sâu trong núi.
Sau 26 năm, thầy Vỹ cùng cộng sự đã kết nối xây dựng hơn 40 phòng học kiên cố tại 20 điểm trường, 4 khu bán trú cùng nhiều công trình dân sinh. Người dân địa phương gọi thầy là “Vỹ khùng”, bởi giữa những khó khăn và đường núi cách trở, thầy vẫn kiên trì với công việc đã chọn.

(Theo VNE)

 #chuyentute #thaygiao #vungcao

23 thg 8, 2026

PHẬN BUỒN - Thơ Huỳnh Ngọc Thuận

 Các bạn mình ơi , hôm nay là ngày 20/8/2026 ( mùng 8 ÂL ) , chỉ cò vài ngày nữa là đến ngày Răm tháng bảy (15/7 ÂL) , vào Mùa Lễ Vu Lan , ngày “ Bông Hồng Cài Áo “. Ai còn Mẹ thì cài hoa Hồng đỏ , còn Ai mất Mej thì cài hoa Hồngtrắng .

Thế nên Thuận mất Mẹ từ lúc mới chào đời được 10 ngày tuổi , nên cả đời Thuận chỉ được cài hoa Hồng trắng , Thuận thấy thương quá đi !!!
Thế nên , vào ngày Lễ Vu Lan , Thuận buồn cho Phần Số mình nên viết bài thơ :
PHẬN BUỒN
Khi xưa còn bé , em Vui
Bên Ông Bà Nội thương nuôi , cưng chìu
Đến khi khôn lớn hiểu nhiều
Biết thân côi cút trăm chiều khổ đau
Phận buồn cam chịu biết sao !!!
Lọt lòng mất Mẹ đớn đau “ Cả Đời “
Từ đây em vắng muôn lời
Một mình , lặng lẽ , buồn rơi giọt sầu
Ngắm nhìn ảnh Mẹ , tủi sầu
Cầu xin Con được “ Phép Mầu Trời Ban “
Mẹ hiền bên cạnh hỏi han
Vuốt ve , Âu yếm , Muôn vàn dấu yêu
Thương Thân , phần số hẩm hiu
Rưng rưng khoé mắt , buồn thiu cỏi lòng
Ước gì cài được đóa Hồng
Cánh Hồng đỏ thắm cho lòng Sướng Vui
Đau buồn số phận “ Mình Xui “
Cài hoa trắng mãi Bùi ngùi tủi thân
Cài hoa lòng thấy lâng lâng
Chút buồn , chút tủi ,bâng khuâng lệ sầu
Nén hương Đảnh Lễ Nguyện Cầu
Cầu cho Con được “ Phước Mầu Trời Ban”
Hằng đêm Con Mãi Vái Van
“ Cho Đời Con Được Muôn Vàn Phước Ơn “
Huỳnh Ngọc Thuận
Kỷ niệm Mùa Lễ Vu Lan
15/7 ÂL 2026

BÀ QUẠI (NGOẠI ) - FB.Trúc Đinh

 

BÀ QUẠI (NGOẠI)…!

Người dân xưa xứ Nam Kỳ cứ thấy bà già tóc bạc lớn tuổi cỡ ông bà mình, dù không quen biết thì khi nói chuyện cứ gọi “Bà Quại”…! Chớ ít khi nào kêu là bà Nội…? Bởi gọi "Bà Quại" nghe nó gần gũi thân thương hơn, vì bà Ngoại lúc nào cũng dang tay đón nhận đứa cháu của mình, cho dù nó là đứa con mà cha nó không ai nhìn nhận…! Cháu ngoại thì chắc chắn là con của con gái, là cháu ruột mình…!
Con gái khi lỡ có “mang” hoang sanh con, cũng về Ngoại. Bà Ngoại thương con gái thì cũng thương cháu vì đó là núm ruột của bà. Con gái khi sa cơ, bị phụ tình, khó khăn… bà cũng sẵn sàng cưu mang…! Bà Ngoại là người dành cả một đời gánh vác hai lần làm mẹ: Lần thứ nhất cho con và Lần thứ hai cho cháu…! Bà nuôi mẹ khôn lớn thành người, rồi lại còng lưng nuôi cháu. Một đời làm mẹ chưa kịp nghỉ ngơi, bà lại bắt đầu một đời làm bà, chưa từng than, chưa từng mệt, chỉ sợ… mình lỡ mất đi thì con và cháu không còn chỗ để về…!
*Trong vở kịch “Lá Sầu Riêng”, cảnh Bà Bảy Nam là má ruột của cô Kim Cương lên nhà sui thăm con và cháu ngoại, thấy con gái bị đánh u đầu, bà khóc, vén áo bà ba lấy dầu xức cho con. Con gái sợ bà Hội Đồng về gặp rồi nói xiên xỏ khinh thường nên nói bà về quê. Bà thương con, khóc và hờn mát:
-Tui lên thăm nó..! Nó đuổi tui về…!
Cả hai cùng khóc..!
Nếu mẹ dạy ta cách đứng lên, thì bà dạy ta cách đứng vững. Nếu mẹ cho ta hình hài, thì bà cho ta ký ức…! Lòng thương con và cháu thật vô bờ bến của bà Ngoại là như thế đó..

22 thg 8, 2026

THU SAIGON - Phạm Văn Bắc


 
THU SAIGON

Saigon chỉ có hai mùa mưa nắng, nhưng đôi khi ta gặp được những thời khắc giống như mùa thu ở giữa thành phố này.
Thời còn học ở trường Sư Phạm Saigon trước năm 1975, ngày hai lựợt đi về trên những con đường Nguyễn Văn Thoại, Hồng Bàng, Thành Thái với hai hàng cây cao vút hai bên đường. Gần trường có công viên Văn Lang rợp bóng mát cùng với ngôi nhà thờ Thánh Jeanne d'Arc đứng trầm mặc giữa rừng cây. Vào cuối mùa mưa, một buổi chiều tan học, đạp xe về mà thấy cảnh vật có điều gì khác lạ. Trời không mưa, không khí mát mẻ thật dễ chịu, ánh nắng vàng cuối ngày thắp sáng những ngọn cây hai bên đường. Từng cơn gió lay động những tán cây làm những chiếc lá vàng bay bay, chao liệng trên không rồi rơi xuống, vương trên áo người đi, phủ kín mặt đường. Cái tiết trời dịu mát ấy, những cơn gió nhè nhẹ ấy, những chiếc lá rơi tình cờ ấy, cái màu vàng mênh mang xao xuyến ấy..., làm lòng người bâng khuâng trước cảnh đất trời thi vị.
Thế mà thời gian đã qua đi hơn một nửa thế kỷ rồi. Bây giờ, thỉnh thoảng có dịp, đi trên những con đường ngày xưa để tìm lại cảm giác khó quên của thời xa xôi ấy. Saigon bây giờ ở đâu đó, vào một lúc nào đó, vẫn có những không gian, những cảnh vật mang màu sắc, hương vị và nét riêng của mùa thu... Ngày xưa là cảm giác ngỡ ngàng của tâm hồn trai trẻ trước thiên nhiên dịu dàng, trước những khoảnh khắc thu quyến rũ. Bây giờ là tâm trạng hoài niệm của một con người, đã trải qua bao sóng gió cuộc đời, với trái tim trống vắng cùng một vết buồn khó phai...
(Hình trên internet)

21 thg 8, 2026

XÍ QUÁCH - Song Thao

 


Tôi bén duyên với xí quách khá sớm. Từ thuở chơi đáo đánh khăng tại Hà Nội. Trên vỉa hè trước cửa nhà tôi có cho một ông phở gánh đứng bán. Chúng tôi mải miết chơi trên lề đường trong không gian thơm lừng mùi phở. Cuối ngày khi ông dọn về, ông vét nồi nước phở to đùng, vớt ra vài tô xí quách, cho anh em chúng tôi bồi dưỡng. Gặm xí quách là một thú khám phá đầy hấp dẫn. Thịt mềm, gân dai, sụn giòn. Chúng nằm không theo một thứ tự nào. Hên xui may rủi cho người gặm. Gặp khúc xương ống là thấy hạnh phúc nằm ở đầu lưỡi. Gặm thịt và gân dính ở đầu xương, khới lớp sụn, mút tủy xương béo béo thơm thơm, cuộc đời sao mà vui đến thế.

Niềm vui xí quách của tôi là một niềm vui…cộng đồng. Hình như tụi nhỏ cứ đụng tới xí quách là bay hồn vía. Như tác giả Đinh Trực. Anh còn nhớ mãi những ngày Chủ Nhật hay ngày lễ được bố cho đi chơi Chợ Lớn hay Sài Gòn. Kết thúc buổi đi chơi bao giờ cũng ghé một xe mì và cậu nhỏ Đinh Trực không bao giờ quên gọi một tô xí quách xương heo ngay khi vừa ngồi xuống chiếc ghế xếp mặt gỗ bóng loáng vì dính dầu mỡ thường xuyên. Tô xí quách được bưng ra. “Ôi… mùi thơm bốc lên làm cái bụng cồn cào thêm, đang đói mà ăn món khoái khẩu thì còn gì bằng. Trong tô, nước lèo sóng sánh nước mỡ vàng, hai cục xương heo nằm ngổn ngang, lớp hành xanh nhỏ rải trên mặt thật hấp dẫn. Không ngần ngại, tôi cầm chai dấm và nước tương nêm vào tô ngay, “Đỏ là Dấm-Xanh là Tương”, qui ước hai chai của người Hoa là thế mà. Có món ngon rồi, lại phải biết cách ăn mới thú. Tôi chùi tay, cầm ngay cục xương lên mà cạp, gặm những miếng thịt còn dính trên xương. Xoay tới xoay lui, tìm cái ống có lỗ trống, hút liền một phát, những tinh tuý của tủy xương chạy một cái rột vào miệng: béo, ngọt, thơm, mặn, bao nhiêu cái ngon trên đời đã vào bụng. Cầm cái muỗng múc nước lèo húp liền hai phát kèm theo… đã quá đi thôi.Thời gian chậm chạp trôi, hai cục xương đã được tôi làm sạch, nước lèo trong tô cũng cạn đáy, chỉ còn lại những hạt tiêu đen và những mảnh xương vụn”.

Hình như dân ta thuộc loài gặm nhấm. Già trẻ lớn bé chi cũng thích mang răng ra thi thố với xương hết. Nhà văn Đỗ Duy Ngọc viết: Tuỳ là bò, gà, hay heo, những thứ bám vào xương có thể kể ra nhiều: thịt nạc, thịt mỡ, gầu, nạm, da, sụn, gân, tuỷ. Cục xương to nhất không hơn nắm tay như giò heo hoặc đuôi bò, dài khẳng khiu không hơn cây bút chì như xương chân gà, lại cho ta nhiều thứ để thưởng thức như vậy. Ăn thịt heo luộc thì chỉ có nạc và mỡ, ăn bít tết thì chỉ có thịt, ăn nem thì có thịt có da; không thức ăn nào cho ta hưởng được nhiều thứ như gặm xương. Có lẽ vì sảng khoái như vậy nên dân nhậu thường lấy xương làm mồi. Rỉa một miếng xí quách, chấm vào xì dầu (nước tương) có pha tương ớt, cho vào miệng nhai, rồi ngẫm nghĩ, “Đời cũng còn nhiều thú vui đơn sơ mà đáng sống”. Mà đúng thật, ăn xí quách cũng như sống cuộc đời, đủ mùi vị khi ngọt bùi, khi cay đắng, khi đầy toan tính, khi thực bất ngờ. Ấy là chưa kể nhấm thêm vài lá húng quế hoặc ngò mùi, ngò gai, cắn một tí ớt. Cộng hưởng với men nồng của rượu, thực không có gì tiêu biểu cho cuộc đời lên voi xuống chó cho bằng gặm xương”.

Nhậu mà thiếu xí quách là thiếu một phần hạnh phúc trần gian. Sao mà rượu lại cặp kè với xí quách như đôi bạn tâm đầu ý hợp đến thế. Những ngày nhậu nhẹt với mấy ông nhà báo ở Sài Gòn, trên đường Phạm Ngũ Lão, nay vẫn còn bám vào mảnh ký ức đang dần nhạt nhòa của tôi. Những cuộc nhậu có nem chua, cà ri dê, lẩu bò, thịt rừng và nhiều thứ bắt mồi khác tôi ít nhớ, nhưng những cuộc nhậu những ngày túi vơi bên cạnh một ông phở gánh có thau xí quách làm chuẩn, tôi lại nhớ nhiều hơn. Có lẽ mùi vị của xí quách ngày nhỏ vẫn còn đánh đu trong ký ức của tôi. Có tí rượu vô, chúng tôi phét lác chỉ có dân nhậu chúng tôi mới có đủ trình độ thưởng thức xí quách, tây chỉ pho-ma với thịt nguội làm sao biết gặm xương. Hồi đó chưa có tây ba lô, chừ tây ba lô ngổn ngang khắp nước, tây cũng gặm xương như ta.

Max McFarlin, một anh chàng người Mỹ, là người đã nhiều năm lui tới du lịch bụi tại Việt Nam. Anh có một kênh YouTube được trên 600 ngàn người theo dõi. Trong một video có tới hơn một triệu người vào coi anh đã ca tụng món xí quách, món ăn mà anh gọi là “xương xẩu”. Anh nhắc lại kinh nghiệm ăn món lẩu xí quách tại một cửa hàng tại Quận 9 Sài Gòn. Lẩu xí quách không có trong những ngày lê la ăn xí quách của tôi. Có lẽ đây là một “phát minh” mới của dân ăn nhậu ngày nay. Món này hầu như không có trong các nhà hàng mà chỉ có trong các quán nhậu. Đó là nồi nước xương hầm có bỏ thêm vài loại trái và các loại rau. Nồi lẩu thơm mùi rau quả, có vị thanh thanh cộng với mùi đặc trưng của xí quách, ăn với tàu hũ và bún. Món lẩu xí quách này nghe ra không làm dân nhậu háo hức. Xí quách đã mất đi mùi đặc trưng. Nhưng anh Max vẫn háo hức kể lại: “Mình đã phải lái xe 35 phút, cuối cùng mới tìm thấy quán này. Anh chủ quán còn thắc mắc sao mình đi ăn sớm thế. Thật tuyệt vời. Nhà hàng  còn cho mình kéo để dễ ăn hơn. Trong nồi vừa có xí quách, vừa có xương sườn, rất ngon”. Đọc tới đây tôi khinh thường anh Mẽo này ra mặt. Ăn xí quách mà dùng kéo còn ra cái thể thống chi. Nhưng anh chàng Max này cũng khá bản lãnh. Anh bàn tiếp: “Lấy kéo cắt thịt là cách ăn sạch sẽ, văn minh và lịch sự. Nhưng thành thật mà nói, ăn tay không mới ngon!”. Có thế chứ! Nhập gia tùy tục, đớp xí quách phải dùng tới bàn tay năm ngón kiêu sa. Anh Max đã tìm ra chân lý: “Khi thịt chín, thịt béo ngậy, đậm đà thơm ngon. Chấm với sốt chấm tê tê, cay cay nữa là tuyệt vời. Mùi vị béo ngậy vẫn còn trong miệng mình. Mình cũng rất thích phần huyết bên trong xí quách”.

Tôi vẫn ấm ức vì mình sớm bỏ nước ra đi không biết món “lẩu xí quách” ra sao. May mắn tôi đã tìm ra được bài của tác giả Ngữ Yên, một “chuyên viên” về lẩu xí quách mới rõ ràng nó là cái chi chi. “Tới nơi khi món bưng ra mới biết đó là cái lẩu xí quách. Bợm nhậu Cần Thơ chơi ác đặt tên nó là món MIA, viết tắt ngữ “missing in action”, một từ thông dụng ở Việt Nam sau ngày hai nước ký kết bang giao. Mỹ yêu cầu Việt Nam hỗ trợ tìm kiếm và giao hài cốt quân nhân Mỹ. Xí quách trong con hẻm ấy ngon thiệt. Thịt vừa mềm tới, không quá rục. Mùi tiêu quyện với mùi hành, mùi xương, hình ảnh những cái xương ống, thoạt cảm đã ấn tượng thèm ngay những giây đầu. Lại có bán cả rượu và bia. Chúng tôi chọn bia để còn có thể sống sót đi lê la chỗ khác. Cốt là về Sài Gòn có tư liệu viết bài…Xương hầm lấy nước lèo thay vì là đồ bỏ trở thành đồ được dân nhậu tôn vinh rất mực. Thế rồi những năm 90 thế kỷ trước, ẩm thực tiến hóa dữ dằn, món xí quách không còn là phó phẩm của hủ tíu, mà trở nên hàng chánh phẩm. Một số hàng quán đã cho ra đời món lẩu xí quách hầm trực tiếp để dọn ăn. Pháp này còn ngon và đầy đủ hương vị hơn món phó phẩm. Tôi được ăn món xí quách này trên đường Võ Văn Tần (xưa là Trần Quý Cáp), gần một tòa báo. Món ăn không đạt độ đủ mềm. Nói chung là chưa điêu luyện. Về sau và nhiều năm sau nữa, khi vào quán Rặt Dê trên đường Huỳnh Tịnh Của, kêu món xí quách. Một cái lẩu xí quách dê được dọn lên, kèm nào rau các loại, lại thêm mấy cái ống hút cỡ ngón tay. Té ra, bây giờ Sài Gòn còn biết tận dụng luôn cả tủy trong xương ống bằng ống hút. Hút tủy trở thành một món nhanh ghiền. Lẩu xí quách quán Mưa Rừng, đường Sư Thiện Chiếu, đối diện cổng hông chùa “cách mạng” Xá Lợi, so với các quán tôi và các bạn thường lê la có lẽ “vĩ đại” nhất. Xương vun cao hơn cái lẩu một khúc. Toàn khuỷu xương ống. Phải bốn tên vật mới “toang” cái lẩu và một thùng Tiger có lẻ. Nhưng lẩu chỉ ăn một bữa là ớn. Muốn gặm xương dài hơi, bạn nên đến quán Cẩm Lệ trong một con hẻm nằm trên đường Cao Thắng, đoạn giữa hai đường Điện Biên Phủ và Ba Tháng Hai. Quán nằm gần cái Miếu thờ Lê Văn Khôi như là thành hoàng bổn cảnh. Ở đây có lẩu chưn giò heo. Trời! Gặm chưn giò có đủ mùi vị của những kẻ nghiện xí quách. Da sừn sựt nè, sụn giòn giòn, thịt béo béo, tủy béo ngậy. Lại còn có cô Nga phục vụ nhanh nhẹn, vui tươi hết sức dễ mến. Hỡi ôi, cô Nga hồi đóng cửa do dịch Covid-19 đi nấu cơm từ thiện, lây bịnh và qua đời”.

Xí quách là cách phát âm theo tiếng Quảng Đông chữ “trư cốt”, nghĩa là xương heo. Sau đó, xí quách được dùng rộng ra cho không chỉ xương heo mà xương bò, xương dê cũng…xí quách tuốt. Đó là thứ phó phẩm của hủ tíu, phở và các loại bún. Người ta cốt lấy nước hầm từ xương làm nước chan vào chén hủ tíu, phở và bún. Thứ thịt đã nhả hết chất ngọt ra nước sau đó là thứ vất đi. Không biết từ khi nào xí quách lại được trọng dụng. Ai đã có công biến một thứ vứt đi thành một món ăn ngon miệng, tôi nghĩ người đó chắc phải là một bợm nhậu.

Xí quách đậm đà, béo béo là do chất tủy nằm trong xương ống. Tách riêng ra, tủy là một đặc sản trong ẩm thực của cả ta lẫn tây từ khuya. Nhiều nhà nhân chủng học cho rằng con người nguyên thủy là những kẻ ăn xác thối. Họ dùng đá để đập vỡ xương của những xác thối do những dã thú như sư tử bỏ lại khi bộ hàm của thú ăn thịt không đủ khỏe để gặm vỡ xương. Ngày nay, trong các nhà hàng sang trọng cũng như bình dân, món tủy rất được thực khách chiếu cố. Tủy bò nướng, tủy heo hấp lá chuối, súp cua tủy, lẩu hút tủy, tủy bò chiên giòn, tủy bò nhúng mẻ là vài món thông dụng tại các nhà hàng trong đó món tủy bò nướng được ưa chuộng nhất.

Món tủy bò nướng rất dễ làm. Cưa đôi xương bò, rắc hành lá, ớt và gia vị rồi nướng trên lửa than. Tủy xương sẽ tỏa ra mùi thơm khó cưỡng. Múc phần tủy xương ăn với bánh mì. Có người thích cầm thanh tủy lên húp nhưng cũng có người thích đổ rượu, trộn lên rồi uống. Đây là món ăn phổ biến tại nhiều quốc gia, mỗi nước có cách ăn khác nhau. Pháp, Anh, Philippines ăn khác Trung Quốc. Mỗi địa phương Trung Quốc lại thưởng thức món tủy khác nhau. Có nơi cho thêm chút bơ để tạo mùi thơm kích thích vị giác. Ăn tủy gần giống như ăn thịt mỡ nhưng không béo bằng. Có khi dính trên tủy còn có gân nhai thấy dai dai, có mùi thơm dịu của sữa.

Xí quách là thứ quyến rũ những cái miệng sành ăn sành uống. Ngay học giả Trần văn Khê cũng có bài “Nghĩ về Nghệ Thuật Gặm Xương” viết về xí quách. Ông vốn là một nhà nghiên cứu về văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng quốc tế. Học vị của ông là Tiến sĩ Âm Nhạc Học. Ông là Giáo sư tại trường đại học danh tiếng Sorbonne ở Paris, thành viên danh dự của Hội Đồng Âm Nhạc Quốc Tế và UNESCO. Những gì ông viết ra đều là những nghiên cứu nặng ký mang tầm vóc quốc tế. Tôi không tin ông cất công bỏ thời giờ ra viết về một thứ phàm phu tục tử như vậy nên vào hỏi ông trí tuệ thông minh ChatGPT. Ông “thông minh” này xác định ngay bài viết ngắn có tính cách cà rỡn đó đúng là “tác phẩm” của ông Trần.

Theo ông, gặm xương có triết lý riêng của nó. Thứ nhất là hưởng được những điều bất ngờ khi gặm giò heo, đuôi bò, chân gà hoặc xí quách. “Xương còn dính thịt cho ta cái bất ngờ là lúc đang gặm tí thịt còn lắt léo trong góc kẹt của cục xương thì bỗng sựt một cái, ta cắn được một miếng gân hoặc một miếng sụn giòn. Đang gặm tí da tí mỡ của giò heo thì lại đớp được một mẩu thịt nạc. Khoái hơn nữa là gặm cái sụn giòn tan nằm cuối xương ống chân gà, nhất là loại gà công nghiệp. Những khi ăn đám ăn tiệc, ta buộc lòng phải bỏ mấy cái xương gà loại này vì muốn bảo toàn danh dự, tuy lòng tiếc hùi hụi. Hưởng được những bất ngờ đó khoan khoái như “tha hương ngộ cố tri” hoặc “nắng hạn gặp mưa rào”. Lòng ta phơi phới. Ta nhai nhai một tí, rồi tợp một tợp hoặc tu một tu”. Cái thú thứ hai: gặm xương là đang uống thuốc bổ mà như không phải là uống thuốc mà nhai thuốc một cách hớn hở. “Gặm xương còn là một liều thuốc bổ, Calcium. Không hiểu sao nhiều người phải mua calcium về uống, trong khi xương là nguồn calcium vô tận. Thử hỏi uống một viên Calcium, vừa nhạt nhẽo vừa nóng, sao cho bằng gặm một cục xương, vừa béo vừa bùi? Thế mới biết, người Mỹ người Tây cần uống Calcium vì họ không biết gặm xương!”.

Gặm xương còn tập cho chúng ta biết lập kế hoạch. Gặm chỗ nào trước, chỗ nào sau là cả một kế hoạch cho việc gặm xương trở thành viên mãn. Người gặm xương còn tập được tính kiên nhẫn. Không kiên nhẫn sẽ có chuyện gãy răng. Tính mạo hiểm cũng được phát huy khi phải mò mẫm như vào một hang động hoang vắng “ngậm ngải tìm trầm”. Gặm xương dậy chúng ta tính tùy thời, khi nào gặm khi nào phải ngưng gặm, biết nắn biết buông như người chơi đàn thập lục. Tính chỉ huy cũng được phát huy khi điều hợp miệng, răng, lưỡi chặt chẽ để đạt hiệu quả cao nhất.

Sau khi “nghiêm chỉnh” về triết lý gặm xương, ông Trần văn Khê…phiếm: “Xí quách là gì? Hà, hà. Đơn giản xí quách là trư cốt, là xương heo đọc theo âm Quảng Đông. Hồi đầu mới du nhập Việt Nam, xí quách chỉ là xương heo, nhưng sau xương bò, xương gà, xương gì gì nữa cũng được kêu tuốt là xí quách. Xương heo để nấu nước lèo hủ tiếu (phở thì dùng xương bò). Chiều chiều, các bợm nhậu thường ghé quán hủ tiếu gọi một tô xí quách lai rai. Chừng mà chủ quán kêu hết xí quách rồi thì coi như đời tàn, chẳng còn gì vui hết, lại phải về sớm với bà vợ lắm điều. Mà nhiều khi còn bị vợ hỏi xóc hông “Ông chơi với bạn bè ra sao mà người ta không cho vô bàn nhậu, phải về sớm vậy nè, hả?”.

Hết xí quách về chẳng lẽ lại bảo vợ là hết xí quách. Có khi chuyện này hiểu ra chuyện nọ. Ông Trần phiếm tiếp: “Xương còn cứng thì dáng người thẳng thóm, tướng đi hùng dũng. Xương loãng rồi tướng đi lòm ròm, đầu gối lủng củng còn gì là uy phong. Ngoài ra, xương sống mà nhất là tủy sống là nơi sinh sản ra cội nguồn sự sống. Lớn tuổi rồi, bộ máy sinh học đã mệt mỏi theo năm tháng, phần cần dùng lúc nào cũng nhiều hơn năng lực sản xuất. Không biết cách điều tiết thì nhiều khi phải ăn vào vốn, là nguy cơ đi gặp ông bà sớm. Vậy là hết xí quách rồi”.

Khám phá ra khía cạnh rất dân dã của một bậc khoa bảng chẳng là một thích thú sao? Thích thú nhưng tôi không quên thắc mắc: do đâu ông có được cái xuề xòa của một lão ông quần ống thấp ống cao ngồi rề rà nói chuyện xí quách và chuyện hết xí quách một cách tinh ranh như vậy? Nghĩ riết rồi cũng vỡ lẽ ra: ông là anh của quái kiệt Trần văn Trạch!

SONG THAO

08/2026

 Website: www.songthao.com

Xí quách.

Anh  Max McFarlin đang gặm xương

Lẩu xí quách.

Tô xí quách.