Chữ nghĩa làng văn
***
Chữ nghĩa làng văn
Địa danh Vĩnh Tường, thuộc Vĩnh Yên trước đó vào thời Gia Long được gọi là huyện Tam Đái. Dựa vào Đại Nam nhất thống chí quyển Sơn Tây chép: Năm 1822, Minh Mạng thấy chữ “đái” thô tục nên đổi là huyện Tam Đa.
Năm 1832 Minh Mạng thứ 12 đổi thành…phủ Vĩnh Tường.
Thời gian này bà Hồ Xuân Hương đã mất 10 năm trước rồi (1822). Vì vậy ai đó sống vào thập niên 20 hay 30 làm bài thơ “Khóc ông phủ Vĩnh Tường” không hay thời bà Hồ Xuân Hương chưa có cái tên…“phủ Vĩnh Tường”.
Câu đối Tết
Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết
Sáng mùng một, rượu tràn quý tỵ, ấy là Xuân
(Nguyễn Khuyến)
Cái say
Nguyễn Tuân thường say nhưng có điều thật lạ là ông đã làm một bài hát ả đào nói về cái say của mình - cả mưỡu và hát nói - vào năm 1931 mà ít người được biết:
Hạnh Hoa thôn đã đây rồi,
Chơi đi cho thỏa một đời thông minh.
Nợ men gấp mấy nợ tình,
Cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng?
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm em thương hơn nhiều
Cục cứt và con chó…
Trước năm 75, miền Nam có câu thơ:
Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó chạy rông trên bờ
Hai câu thơ trên xuất xứ từ văn chương bình dân truyền khẩu:
Em đẹp như phân lạc giữa dòng
Anh như chú khuyển đứng bên sông
Dòng sông nước chảy em trôi mãi
Anh đứng trên bờ rỏ dãi trông
Bùi Xuân Phái vẽ tranh
theo thơ Hồ Xuân Hương
Tranh hai Tố nữ
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...
Từnăm 1990, ông Hai đã được mời xuống Long Xuyên đóng phim: “Thời thơ ấu” đi bằng chính chiếc xengựa do ông chế tác. Sau đó, ông lại xuống CầnThơ tham gia phim “Chân trờinơi ấy" (đạo diễn Trần Vịnh), tiếptheo là các phim “Trường xưa kỷ niệm” (tạiBình Dương), “Giai điệu quê hương”, “Mùi đuđủ xanh”, “Người Bình Xuyên”... Cũng trong năm1990, một hãng phim truyền hình Pháp mời ông hỗ trợcho 9 chiếc xe ngựa (theo yêu cầu của hãng) đểthực hiện bộ phim “Người tình”. Thành công củaphim này có những đóng góp không nhỏ của ông.
Nhờchiếc xe ngựa Bình Dương và tài năng của mình,ông đã nghiễm nhiên thành “diễn viên đánh xe ngựa”đặc biệt và quý hiếm vì đồng thời lànhà cung cấp đạo cụ cho các hãng phim trong và ngoàinước ở các cảnh quay có sử dụng ngựahoặc xe ngựa.
Ngoàiviệc “đóng phim”, ông còn đem ngựa, xe ngựa thamgia các lễ hội lớn như Festival Huế và thườngnhận đóng vai phục chế các kiểu xe theođơn đặt hàng của các hãng phim, các khu du lịchnhư: Bình Quới, Văn Thánh...
Sở dĩ ông làm được nhiều việc chung quanh cái nghề (chế tác và sử dụng ngựa) tưởng chừngnhư đã đi dần vào sự quên lãng vì ông cóđược vốn hiểu biết sâu sắc về nghềnày. Nhất là nhờ ông có được lòng say mê và cả sự quý trọng nghề truyền thống của cha ông.Được biết, khi nghề sản xuất và chạyxe thổ mộ ở Bình Dương đã không thể tồn tại và phát triển nữa, các đồng nghiệp củaông đều chuyển nghề...
(Hiếu Học - Hoàng Anh)
Cái hay cái dở của Bùi Giáng
Và cũng chính từ hai bàn tay ấy có biết bao lời bình rất... chán:
– Sáo tai, nhàm mắt: "Nghĩ tới Nguyễn Trãi, không còn can đảm đâu viết nên một lời gì cả" (trang 64, cuốn Một).
– Đại ngôn, tếu táo: "Đọc ông Nguyễn Du mãi cũng chán. (...) Thơ Nguyễn Công Trứ là một con zéro. Thơ Cao Bá Quát là một con zéro rưỡi (...) Hàng vạn bài na ná giọng điệu giống nhau. Chỉ còn mấy bài của Ngân Giang nữ sĩ và Vân Đài nữ sĩ là có linh hồn" (trang 30, cuốn Hai); "Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia (bài Rằm Tháng Giêng) của Hồ Dzếnh" (trang 36, cuốn Hai).
– Không thuyết phục: "Thơ Nguyễn Thị Hoàng trang nhã như thơ Bà Huyện Thanh Quan, mà lại cũng cay đắng như thơ Hồ Xuân Hương, nhiều lúc nghe thống thiết như thơ bà Đoàn Thị Điểm" (trang 124, cuốn Một).
Họ Bùi bình chọn không ít các nhà thơ chưa, đang thành danh, nhưng tôi thấy hiếm có bài nào thành công. Không phải vì tên tuổi không rạng rỡ như các vị thành danh, mà chính là ở chất lượng bài viết. Chúng làm dở một tác phẩm quí hiếm như Đi Vào Cõi Thơ. Dễ có cảm giác ông có các bài ấy vì thù tạc, hoặc vì ẩu! Có những bài tệ tới độ không phải bình thơ mà là bàn tán loạn! Như các bài Mai Vân Thu, Phạm Quang Bình...
Võ Phiến cũng nhận xét: "Nói về một thi sĩ khác, ông bảo khỏi cần trích thơ, chỉ cần nên ra các tên bài cũng đủ. Và ông liệt kê một loạt tên bài tùm lum; chỉ có tên bài thôi.
Có nhiều thi sĩ, ông "đi vào cõi thơ" của người ta một hồi mà không thấy ông chọn được bài nào, thậm chí một ý hay một câu hay, một chữ đẹp cũng không! Như thể bận tâm chứng minh là một bận tâm nhỏ mọn quá, ti tiểu quá, không đáng lí đến."
(Đỗ Quyên)
Võ Phiến: Bùi Giáng, Văn học miền Nam - Thơ, Văn Nghệ, California 1999
Đừng tưởng
Đừng tưởng cứ gió là mưa..
Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
(Bùi Giáng)
Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy
Đọc tác phẩm của nhà văn Cao Xuân Huy, thú thực, tôi luôn nhìn thấy lại trước mắt mình cảnh tượng quân sĩ đôi bên giao tranh quyết liệt vào những thời khắc cuối cùng của cuộc chiến, ở Lăng Cha Cả, ở cửa số 5 sân bay Tân Sơn Nhất, ở Bộ Tổng Tham mưu. Về phía quân ta, đồng đội của mình thì cố nhiên tôi hiểu, không hiểu hết nhưng hiểu. Đây là tôi muốn nói về phía đồng đội của Huy. Vào thời khắc cuối cùng ấy, khi ông Minh đã đầu hàng, khi đám Thiệu Kỳ Khiêm với bầy đoàn tướng tá, lũ ăn trên ngồi trốc béo trục béo tròn hưởng lộc chiến tranh đã cao chạy xa bay, còn lính tráng tốt đen thì đã quăng súng tan hàng, nhưng rất nhiều sĩ quan cấp thấp, thiếu uý, trung uý lại nhất định kháng cự đến cùng, để tiếp tục bị giết, bị thương, bị bắt. Tại sao ? Có nhiều sự giải thích, đều đúng, nhưng không giúp tôi quên hẳn đi được cái bi kịch đau xót, thảm thương và điên rồ đó.
Họ là ai, những thiếu uý, trung uý ấy. Đọc và gặp Cao Xuân Huy, tôi nghĩ họ là lớp thanh niên có số phận đặc biệt bi kịch. Theo một nghĩa nào đó, họ đứng giữa hai làn đạn. Xong tú tài, vào trường võ bị rồi ra trận, Cao Xuân Huy và hầu hết các sĩ quan trẻ bạn hữu của anh (trong Tháng Ba Gãy Súng) chọn binh chủng " lính bốn chữ " hạng nhất dữ dắn. Tại sao ? Anh chẳng thù hận gì những người anh phải quyết liệt đối đầu. Thù gì chứ, ông già tôi, các em tôi, họ hàng, đồng hương tôi cả mà - anh bảo vậy. Còn cái chính thể mà anh phải đưa thân, thậm chí xả thân bảo vệ, thì anh đâu có ưa gì. Không ưa, là nói nhẹ, trong tác phẩm của anh cái chính thể đó, đặc sệt xấu xa tồi bại phản trắc. Vậy thì tại sao ?
Nhưng tác phẩm văn học không bao giờ hàm trong nó một sự lý giải chủ quan của tác giả về ngay chính cái hiện thực mà ông ta viết ra. Nhà văn không phải là chính trị, không phải nhà sử học, không phải nhà đạo đức, không phải ông thầy giáo, và cuốn tiểu thuyết nhà văn viết ra chỉ diễn đạt những điều chỉ có thể diễn đạt bằng tiểu thuyết. Một nhà phê bình đã viết đại ý như vậy.
(Bảo Ninh)
Thương nhớ thầy Nguyễn Đăng Mạnh
Đầu những năm 2000, tôi dạy ở Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc. Trường thường xuyên đón các thầy nổi tiếng ở Hà Nội về dạy: Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Chu Văn Sơn…
Những buổi dạy của thầy Mạnh (cho cả HS giỏi và GV tổ Văn) có vẻ không thu hút lắm so với những người vừa trẻ lại vừa có cách giảng mượt mà, như anh Chu Văn Sơn chẳng hạn. Với giáo viên thì chia hẳn hai loại: loại rất thích và loại không thích. Ông tổ trưởng của tôi là người không thích. Ông thường kêu thầy dài dòng lan man quá. Tôi hiểu: ông này không thích văn chương, cũng không nhiều chữ để cảm nhận, nhưng lại cần thực dụng. Tức là dạy thế nào để HS của ông ta đoạt giải cao, chứ không phải là kiến thức hay năng lực gì hết. Anh ta đặc biệt sợ phải ngồi “hầu rượu” thầy Mạnh, bảo thầy “rề rà” quá, mệt! Tôi bảo: “Thế sao bác không “nhờ” em. Rượu thì em uống ít thôi nhưng chuyện thì em có thể tiếp thầy Mạnh không bao giờ dứt”. Khốn nỗi, tôi là dân “bạch đinh”, tiếp đãi các thầy Hà Nội phải từ tổ trưởng trở lên.
Tôi về Nhà xuất bản Giáo dục, đang chiến dịch làm sách giáo khoa, thầy là tác giả “ruột” của Nhà xuất bản nên tôi thỉnh thoảng có dịp gặp thầy. Cũng không nhiều. Vì tôi làm ở Ban Tiểu học, thầy thì làm việc với Ban Ngữ văn. Những cuộc gặp chỉ là tranh thủ trước giờ họp của thầy.
Có lần thấy thầy đang đọc soát bản thảo Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh. Thầy dừng lại ở trang ảnh có chú “GS. Nguyễn Đăng Mạnh và phu nhân”, có vẻ băn khoăn lắm. Thấy tôi, thầy bảo: “Này, chỗ này sao lại là phu nhân nhỉ?”. Tôi cầm bản thảo xem và nói: “Chỗ này nên dùng là người bạn đời thầy ạ”. Thầy gật gù: “Phải đấy. Chứ ai lại phu nhân. Nghe cứ như Trần Đức Lương, Phan Văn Khải vậy”. Mãi đến khi in Người và nghề mới thấy với lời chú: “Với cô giáo Nguyễn Thị Thoại – bạn đời”).
(Đào Tiến Thi)
Đạo
Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Vòng tử sinh trong văn học
Lan Khai
Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm 1906 tại xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Năm 12 tuổi, ông bắt đầu tập làm thơ, viết văn và sớm bộc lộ năng khiếu hội họa. Năm 18 tuổi, ông về Hà Nội theo học trường Bưởi. Sau khi học xong bậc thành chung, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau, vì tham gia vào tổ chức bí mật kháng Pháp do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, Lan Khai bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội).
Năm 1938, ông bắt đầu viết cho Tiểu thuyết thứ Bảy, đồng thời còn cộng tác với các báo: Loa, Ngọ báo, Đông Tây, Phổ thông bán nguyệt san…Tác phẩm thành danh của ông là Truyện đường rừng, Ai lên Phố Cát, Cái hột mận, Trăng nước Hồ Tây. Lan Khai để lại một tác phẩm có thể sánh ngang với Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. Ấy là cuốn Lầm than.
Trong một ngày gần cuối năm 1945, Lan Khai bị VM thủ tiêu tại Tuyên Quang. Nhà văn của những người lầm than Lan Khai chết thật mờ ám. Đang ăn trưa cùng gia đình, ông được giấy của ủy ban xã kêu lên có việc. Ông bỏ bữa ra đi, đi mãi, đi luôn đến 60 năm sau thân nhân mới tìm được hài cốt ở một vực sâu con suối giữa rừng Tuyên Quang.
Lan Khai bị xô xuống vực chỉ vì ông là đảng viên Quốc dân đảng!
(Những cái chết tức tưởi của nhà văn,
chuyện bây giờ mới kể - Thái Doãn Hiếu)
Đạo
Đạo là nếp sống tùy duyên
Đói ăn, mệt nghỉ an nhiên tâm hồn.
Chữ là nghĩa
Vào một cái nhà, nếu chỉ biết lác đác vài tiếng cột, kèo, rui mè thì chưa hiểu biết mấy về cái nhà. Một chữ “chết” có bao nhiều chữ cùng nghĩa: tạ thế, chầu giời, về quê, xuống suối vàng, ngoẻo, tử, héo, tỏi, thẳng cẳng, ngẳng, toi, mất, khuất núi, hy sinh và còn biết bao chữ nữa.
Một chữ “ăn’, bao nhiêu chữ cùng nghĩa: xơi, đưa cay, đớp, hốc, xực, đả, nhậu....Chúng ta nên tỉ mỉ để ý cả. Này các thứ khoá: khoá ngang, khoá dọc, khoá tây, khoá sáu tua, khoá đuôi chuột, bạn đã biết thứ khoá nào chưa? Ví dụ: khoá cửa đình ngày trước thì khoá gì? Nếu chưa biết thì nghề viết văn đòi bạn phải biết.
Người viết văn cũng như cái cửa hàng bách hoá. Càng có nhiều mặt hàng càng hay. Rồi thì đọc Kinh Thánh, kinh Phật. Trong sách Phật tả cái tai ông Thích Ca: ông Thích Ca có 32 tướng quý, tai to dày mà nhiều thành quách...còn phép đánh chuông thì: đánh mạnh, tiếng rẳng, đánh khẽ tiếng nghe trầm trệ. Ta đem tiếng tả hình thù cái tai nhiều thành quách dùng dùng ra ngoài cái tai ông Thích Ca cũng rất được. Mà tiếng rẳng, tiếng nghe trầm trệ rõ ràng là tiếng để chỉ tiếng chuông rồi.
(Chữ và tiếng nói - Tô Hòai)
Giai thọai làng văn
Thích người trẻ, thân người già
Nguyễn Tuân từng là người ăn mặc diện, thường com lê, cà vạt, đĩnh đạc. Nhưng khi cả nước khó khăn, nhà văn cũng ăn mặc giản dị như các ông già với bộ quần áo nâu. Ngày tết, nhà văn ăn mặc trang trọng hơn nhưng vẫn hết sức bình dị.
Vốn là người đông bạn, nên tết là dịp để Nguyễn Tuân gặp gỡ bạn bè như Văn Cao, Bùi Xuân Phái… Họ qua nhà ông ngồi uống rượu và “nhấm nháp chút gì đó”. “Bố tôi không tổ chức nhậu nhẹt ở nhà vì ngày trước điều kiện khó khăn, thêm nữa làm vất vả vợ nhưng bạn thân đến vẫn có rượu để uống, mẹ tôi lại làm cho cái gì đó để nhắm, có khi chỉ là tí dưa hay quả trứng hoặc chả cốm”.
GS Nguyễn Xuân Đào kể tiếp: “Bố tôi là người rất mở. Cụ rất thân với lớp trẻ. Một người bạn sống đến bây giờ là nhà văn Đoàn Minh Tuấn. Anh rất tốt với ông cụ. Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy là lớp trẻ sau này.
Sau thống nhất đất nước, tôi đi đường bộ từ Bắc tới Nam, bố tôi bảo cầm chai rượu đã được đóng bao cẩn thận để đến Huế đưa cho Trịnh Công Sơn. Đó là chai rượu Sấu Giá, rượu lậu nổi tiếng của Sơn Tây khi đó. Nhưng khi đến Huế, Trịnh Công Sơn đi Sài Gòn nên tôi gửi lại người nhà, Sơn hơn tôi một tuổi”.
***
Tuy không biết vẽ, nhưng Nguyễn Tuân cảm nhận hội họa cũng tinh như cảm nhận về âm nhạc. Nhận xét của nhà văn thường chuẩn, cho nên được danh họa Bùi Xuân Phái tin tưởng. Mỗi lần vẽ xong tác phẩm, Bùi Xuân Phái thường mang khoe với Nguyễn Tuân. Sau nhiều lần xem tranh Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân đưa ra tổng kết sau này người ta vẫn quen dùng nhưng không biết nguồn gốc từ đâu: Phố Phái.
Song không phải với ai, nhà văn cũng chơi tận tình và thoải mái như với Bùi Xuân Phái, Văn Cao… Có những người có chức vị cao hẳn hoi, đến thăm ông bằng xe Volga sang trọng khi đó, ngó từ cửa sổ trên tầng ba nhìn xuống, biết là khách không ưa tới thăm, ông lấy tấm bìa cứng, đề “Nguyễn Tuân đi vắng” treo ngay ở cửa phòng đã đóng lại.
“Đông bạn nhưng cụ kỹ tính và thấu đáo lắm”, GS Nguyễn Xuân Đào tổng kết.
Vòng tử sinh trong văn học
Nam Cao
Qua bài viết “Cuộc trò chuyện cuối cùng với nhà văn Kim Lân”, tác giả Bá Kiên kế chuyện Kim Lần tọa đàm với Nguyễn Công Hoan, Văn Cao. Nguyễn Công Hoan hỏi:
- Thế còn truyện ngắn Con chó xấu xí?
- Tớ viết “Con chó xấu xí” là viết sau khi xảy ra chuyện Nhân văn Giai phẩm. Tuy tớ không bị liệt vào nhóm Nhân văn Giai phẩm nhưng lúc bấy giờ Tố Hữu xướng ra việc đấu tố Nhân văn Giai phẩm. Tớ không viết bài “đánh”…vì cho rằng đó đều là anh em mình cả. Nhưng chính vì không tham gia, nên người ta ghét tớ.
- Con chó xấu xí viết để tự bạch tâm trạng ông lúc bấy giờ?
- Đúng thế! Tớ chỉ muốn nói tuy tôi có là con chó xấu xí nhưng vẫn trung thành với chủ.
Thực ra mình chỉ muốn làm kẻ đội đơn quỳ dưới công đường nói rằng: Tôi bị oan.
Nguyễn Công Hoan bảo: “Thằng này ngu bỏ mẹ, tự nhận mình là con chó”. Ông Văn Cao nói: “Gớm cậu đánh võ kín quá làm tôi sợ”. Một lúc sau Kim Lân rầu rầu:
- Để tớ kể chuyện về Nam Cao cho mà nghe. Hồi năm 1951, các đồng chí trung ương nói phải lột xác, cải tạo triệt để, chứ lý lịch lập trường hôi hám quá. Một hôm đúng cái ngày Tố Hữu từ trung ương xuống chủ tọa, ông Nam Cao đọc bản thảo để tổ văn nghệ góp ý. Đang đọc đến chương ba, Nguyên Hồng cười phá lên: “Nam Cao lột xác bịa hay quá”, cả phòng ai cũng nghe thấy. Thế là chỉ sau đó vài tháng, Nam Cao nhận công tác vào Nam Hà khu III làm thuế nông nghiệp do các đồng chí của Mao sang dậy: Nam Cao bị Pháp bắn chết trên thuyền. Sau này có một lần Tô Hoài bảo tớ: “Nam Cao nếu còn sống thì không vướng vào Nhân Văn cũng sa vào xét lại như các cậu”.
Ấy thế mà Nam Cao chết, Tố Hữu lại bảo Kim Lân lên đường…Thì tớ lên đượng.
May mà tớ nhát vì nghĩ đến Nam Cao, thuyền sắp đến bến, tớ bảo anh giao liên hãy cho thuyền ghé vào dưới bến một quãng xem sao. Đang bò lên thì tớ nghe thấy lính Tây đang đợi sẵn xuỵt chó, tiếng chó đánh hợi tiếng đạn lên nòng xoành xoạch. Hãi quá, tớ vội tụt xuống đám bèo, thò cái mũi lên chờ. Khoảng nửa giờ, lính Tây bật lửa châm thuốc hút rồi kéo nhau đi. Thế là thoát. Hú vía! Không thì lại như Nam Cao.
Tớ họp hay ngồi dưới cùng, một hôm ông ấy xuống hỏi sao không sáng tác. Này, ông Lành có con mắt ghê ghê nhìn tớ lạnh toát cả người.
Tố Hữu đến chỗ tớ, nói: “Dạo này viết ít quá đấy!”..
Tớ buột miệng “Bác lại phê bình em rồi!”. Có vậy thôi nghĩ sợ quá. Nhớ trong truyện Tam quốc, có hai anh bạn thân, một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về kỷ niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu. Sợ quá!”
Chế Lan Viên
Bài viết của cố nhà văn Xuân Sách , do con trai ông - anh Ngô Nhật Đăng gửi tới Phongdiep.net .
Xin trân trong giới thiệu cùng bạn đọc
***
Chúng tôi, Nguyễn Khải,Vương Trí Nhàn và tôi (Xuân Sách) ngồi trong căn phòng nhỏ vốn là toilet của ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế.Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội được ở ngôi nhà này là một đặc ân. Hệ thống cấp nước đã hỏng nên phòng được cải tạo thành phòng văn mùa hè thật mát mẻ. Được hai ông bạn vàng thách đố, tôi đã ứng tác ngay bài thơ chân dung về Chế Lan Viên. Nghe xong anh Khải nói ngay :
- Ông Sách đã chuốc lấy kẻ thù số một rồi.
Vương Trí Nhàn lập tức ghi bài thơ ra giấy, và chắc chắn ngay ngày mai bài thơ sẽ được lan truyền. Tôi biết anh Khải không dọa suông, anh hiểu Chế Lan Viên rất rõ. Có lần anh kể ông Chế nói chuyện gì đó ở hội, ông Khải biết là nói sai, đêm về ông Khải chuẩn bị mọi lý lẽ để hôm sau cãi với nhà hùng biện.
Nhưng hôm sau vừa gặp nhau ông Chế đã nói ngược lại những điều hôm qua cũng bằng những lý lẽ rất sắc sảo không thể bác bỏ. Tôi cũng được nghe có người nhắc một câu của ông Chế : “Mỗi người cần có một cái “Ô” rồi sẽ có Autorité (quyền lực) rồi sẽ có Automobile (xe ô tô). Tôi tất nhiên gặp ông nhiều lần nhưng thật ra chưa bao giờ nói chuyện với nhau. Tôi có cái tật rất ngại gặp những người danh tiếng. Ông ở căn phòng nhỏ ở cái biệt thự số 51 Trần Hưng Đạo, nơi ở của ông cố vấn Vĩnh Thụy thời VNDCCH. Bây giờ ngôi nhà trở thành cái tổ ong của làng văn nghệ. Vừa là trụ sở vừa là nơi ở của cán bộ của các nhà văn,nhà nhạc, nhà họa, nhà nhiếp ảnh vv…
(Xuân Sách)
Tiểu sử : Chế Lan Viên tên thật: Phan Ngọc Hoan. Bút danh khác: Thạch Hãn. Sinh ngày 20.10.1920 tại Quảng Trị. Mất ngày 19.6.1989 tại Sài Gòn.
Tác phẩm : Tập thơ Điêu tàn, Tập văn xuôi Vàng sao, Hoa ngày thường, Hoa trên đá
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa
Ngũ phụng tề phi :
Những ai ? Nơi đâu ?
Ngũ Phụng xứ Quảng
Khoa thi năm Mậu Tuất 1898, niên hiệu Thành Thái, triều đình Huế tuyển được 8 tiến sĩ (TS) cùng 9 phó bảng (PB). Trong tổng số 17 vị này, nếu phân định theo sinh quán thì: Thái Bình, Hà Nam, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị - mỗi tỉnh có 1 người; Bắc Ninh và Thừa Thiên - mỗi nơi có 2 người; Nghệ An có 3 người; đặc biệt tỉnh Quảng Nam có tới 5 người đỗ đạt. Dân Quảng tôn vinh thành tích bằng mấy chữ 五鳳齊飛 / ngũ phụng tề phi.
Vậy 5 nhân vật ấy là ai? Thành tích và công trạng ra sao?
Về 5 vị đại khoa đang xét, thư tịch bấy lâu ghi chép hoặc thiếu tường minh, hoặc chưa thống nhất. Thậm chí ngay trong một cuốn sách cũng chứa những mâu thuẫn đáng ngờ. Công trình sưu khảo Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn do Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế chủ trì đều ghi "chưa rõ hành trạng" đối với hầu hết nhân vật được gọi "ngũ phụng" xứ Quảng.
(Phanxipăng)
Ngôi chùa thiêng lưu giữ
“Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du
Nhưng, cho tới đầu của thế kỷ XX, ngoài một vài vị cao tăng và số ít Phật tử, đa số dân chúng không biết đến tác phẩm “Văn chiêu hồn” này...
Điều may mắn lớn lao của di sản văn học - văn hóa dân tộc là: bản khắc gỗ có thể là duy nhất còn lại của tác phẩm này lại được lưu giữ tại một ngôi chùa quê - chùa Diệc. Nhưng ngẫu nhiên nào của lịch sử mà tác phẩm lớn “Văn Chiêu hồn” đã được lưu giữ ở một ngôi chùa đầy huyền thoại, cách Tiên Điền - Nghi Xuân, quê cha Nguyễn Du hơn 15 cây số? Đó là một vấn đề lý thú đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu văn học, sử học.
Lần đầu tiên được nghe kể về ngôi chùa này qua một thiên bút ký của nhà văn Võ Văn Trực người Nghệ An, phải hơn chục năm sau chúng tôi mới đến được với ý định làm phim nằm trong dự án “Ký sự chùa Việt”, nhưng khi đó chùa đang chuẩn bị trùng tu.
Đó là ngôi chùa lớn nhất ở thành phố Vinh. Được khởi dựng từ cuối thời Trần, chùa Diệc có kiến trúc bề thế, từng là trung tâm văn hóa tín ngưỡng quan trọng ở xứ Nghệ, có giá trị lớn về kiến trúc và lịch sử. Nhưng nay chỉ còn cổng tam quan và hai bia đá phủ đầy rêu phong…
Chùa Diệc còn gọi là Diệc Cổ Tùng Lâm, hay Diệc Cổ Tự. Người sáng lập chùa chắc có ý mượn ý trong Kinh Phật để đặt tên: diệc (亦) – trong cụm từ “diệc bộ diệc xu”, nghĩa là cùng bước theo, cùng chạy theo các bậc tu hành đắc đạo để lên cõi Niết Bàn (Như Lai pháp thân diệc vô trụ xứ - Đại Bát Niết bàn kinh). Cũng có thể từ câu của Trang Tử: “Phu tử bộ diệc bộ, phu tử xu diệc xu” - thầy đi trò cũng đi, thầy chạy trò cũng chạy (亦步亦趋).
Tên phố, tên đường
Hà Nội mở đầu cuộc kháng chiến (1946- 1954), thế mà chỉ có tên đặt cho một cái chợ, là chợ “19/8”, cái chợ xép cạnh tòa án thành phố, mà người ta gọi tên lóng là “Chợ Âm Phủ” (vì thời Pháp chiếm là bãi tha ma chôn xác những người vô thừa nhận).
Còn các sự tích trước kia thì quá nhiều, đã có đường Hoàng Hoa Thám lại có thêm ngõ Yên Thế, có đường Nguyễn Thái Học lại có thêm phố Yên Bái... Các phố mang tên những nhân vật thời kỳ cận đại, cũng là cần, nhưng có những tên phố mang tên các nhân vật rất ít tác dụng gợi nhớ: Ấu Triệu, Cao Đạt, Cao Thắng, Lữ Gia, Khúc Hạo, Lý Đạo Thành, Nguyễn Phạm Tuân, Triệu Quốc Đạt...
Nêu thêm một so sánh trong phạm vi mà tôi có am hiểu.
Những phố lớn và nhỏ được đặt tên các danh nhân văn học: Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự, Trần Tế Xương, Tản Đà... đều được đặt từ 1945 do sáng kiến của bác sĩ Trần Văn Lai. Bác sĩ là một nhà khoa học, ông am hiểu vì yêu quý văn học. Nhưng tình cảm và sự quan tâm của Trần Văn Lai chỉ dừng lại ở Tản Đà mà thôi.
Quanh vấn đề tên phố ở Hà Nội, còn có những mặt khác phải quan tâm. Nhiều phố vẫn giữ tên bằng con số như thời Pháp (phố 215 chẳng hạn) ít người biết là ngày ấy người Pháp lấy con số làm tên phố, chỉ vì phố mới quá chưa được đặt tên. Chẳng lẽ ta cứ giữ những con số chỉ đặt tạm từ thời Pháp?
Lại nhiều phố có tên mà không rõ nguồn gốc do người phố ấy tự đặt ra từ bao giờ như các phố, các ngõ An Sơn, Đồng Tâm, Tân Ấp, Thiên Hùng... Có phố đáng lẽ dùng tên thông thường, dễ hiểu, lại vẫn theo như từ khi mới đặt: những Thái Tổ, Nhân Tông, Thánh Tông đáng lẽ gọi tòan bộ tên mới chính xác.
(trích "Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè" – Tô Hòai)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Chim rừng bóp cái chết ngay
Chim nhà mà bóp càng ngày càng to
Thằng người có đuôi
Một cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Ðôi mắt có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn.
Trong phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá, mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò liếc tôi. Gã trai húng hắng ho. Như để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi «e hèm» đánh tiếng, quay mặt đi chỗ khác.
(Thế Giang)
Từ họ hàng hang hốc bắt qua…mắm
Lang thang như thần hoàng làng khó từ Bắc chí Nam chỉ thấy cua. Họ nhà cua có con bà khía (Gò Công, Cà Mau), con cù kỳ (Khánh Hòa, Quảng Ninh), con chù ụ (Trà Vinh), con cà na (Hải Dương). Gia dĩ là người có tinh thần ăn uống, từ khi sa đà với chữ nghĩa ăn thì ăn “hàm thụ” mắm cáy (Thái Bình), mắm còng Gò Công, mắm tôm chua của bà Từ Dũ, mắm và rau, mắm bò hóc, mắm Thái Châu Đốc.
Tiếp đến theo…con “cù kỳ” ở Quảng Ninh lạc hoa lưu thủy tới Nghệ An gặp anh thầy đồ đi ứng thi mang theo con cá gỗ ăn cơm với mắm không chanh, đường, ớt, tỏi. Nước mắm không, các cụ ta xưa gọi là mắm mộc là nước mắm nguyên chất, hay nước mắm cốt người Bắc gọi là nước mắm nhĩ. Hoặc nước mắm chắt, chắt (ủ) đến độ chín.
Trong cái đầu đậu phụng nhão nhoẹt của tôi lúc này chỉ toàn…mắm không thôi.
Don Quixote
Hiệp sĩ cao kều Don Quixote cùng “người hầu” Sancho Panza lùn tịt cưỡi lừa lẽo đẽo theo sau. Tất cả cũng chỉ vì “ông thầy” hứa hẹn sẽ giao cho “đệ tử” cai trị vùng đất mà Quixote… sẽ chiếm được vào một ngày nào đó từ tay bọn “địa chủ” trong tương lai!
Trận đối đầu quan trọng nhất của hiệp sĩ là cuộc chiến với những cối xay gió nhưng trong mắt Don Quixote là bọn người khổng lồ hung ác! Chàng nói với những cối xay gió: "Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cánh tay, các ngươi cũng sắp phải đền tội!".
Vừa dứt lời, hiệp sĩ lăm lăm ngọn giáo, thúc ngựa thẳng tiến tới tấn công cối xay gió. Ngọn giáo đâm vào cánh quạt cối xay gió bị gãy tan tành còn người và ngựa của Don Quixote bị văng ra xa!
(Don Quixte đánh nhau
với cối xay gió)
Gặp đám kỵ binh hộ tống một chiếc xe chở một phu nhân chàng nghĩ ngay đến chuyện một nàng công chúa bị bắt cóc đang cần giải cứu. Gặp một đàn cừu, chàng cho rằng đây là đoàn hùng binh của vị hoàng đế oai quyền nhất thiên hạ, lập tức chàng kêu Sancho Panza dừng lại để tiễn!
Chàng tiếp tục ra đi và chợt gặp một đám tang nhà quý tộc thuộc dòng họ Segovia. Nghĩ ngay tới việc một hiệp sĩ bị tử thương và chàng phải có bổn phận thay mặt đám hiệp sĩ trả thù cho bạn, chàng đi theo tiễn đám một đoạn mới đi tiếp.
(Nguyễn Ngọc Chính)
Chuyện gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử
Nhà Lê chiếm Đồ Bàn, Gia Long đổi Đồ Bàn thành
Bình Định với nghĩa…“bình định” được đất đai
hai miền Nam Bắc…từ năm 1802.
Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm
Bài 2
Hàng năm, cứ đến ngày khai trường, nhiều người bồi hồi nhớ đến bài văn xuôi đẹp như thơ “Tôi đi học” của Thanh Tịnh. Trong sách giáo khoa, nhiều thời kỳ, bài văn ấy được chọn cùng những tác phẩm kinh điển khác được nhiều thế hệ học trò, thuộc nằm lòng…
Nỗi buồn ấu thơ
Một ngày tháng 7 âm lịch, mưa ngâu rơi nhẹ trên những cành phượng vỹ nở hoa lần cuối bên bờ sông Hương, tôi đi tìm nơi Thanh Tịnh đã sống thời niên thiếu. Con đường vào nhà ông bây giờ đổi thay nhiều. Đường láng nhựa, nhà cửa san sát. Khi Thanh Tịnh trở lại Huế sau 30/4/1975, ông kể: Nhà mình ở sát bên phủ Định Viễn, gần bến đò chợ Dinh. Thanh Tịnh là con trai “độc đinh” của một người thợ mộc nghèo. Giòng tộc “độc đinh”, nội ông chỉ có cha ông là con trai duy nhất, sau này ông có một người con trai tên là Trần Thanh Vệ, anh này cũng chỉ sinh cho ông một cháu nội trai duy nhất. Ông tâm sự: “Anh có biết câu hò ru em mà các bà mẹ Huế hay ru “À ơ… ờ ru con cho théc cho muồi/ Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/ Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh” không? Chợ Dinh là quê tôi. Qua Đập Đá về Vỹ Dạ, rồi về một đoạn ngắn nữa, làng Dương Nỗ đó.
Sinh ra trong một gia đình lao động nghèo, sống gần những gia đình quyền quý “danh gia vọng tộc” ở kinh đô Huế, ông có mặc cảm do đó nuôi chí học thật giỏi. Những lúc rảnh rỗi, ông được mẹ dẫn ra chơi nơi hàng nước của bà ở bến đò chợ Dinh, cách nhà khoảng 200 mét. Bến đò chợ Dinh thời ấy tấp nâp khách, sang sông Hương lên buôn bán ở các chợ Dinh, chợ Bao Vinh, chợ Đông Ba…Phương tiện duy nhất là chiếc đò chèo tay, trể chuyến đò, khách thường vào hàng của mẹ ông uống nước chè xanh, ăn quà vặt đợi đò. Ông kể: Tôi còn bé, nhưng ngồi say mê hóng chuyện. Và ngày qua ngày cái khiếu kể chuyện phát triển khi nào không biết. Một số truyện ngắn của tôi ở tập “Quê mẹ” và “Chị và em” được lấy cái cốt cái sườn, nhân vật thực từ cái “trạm đó” . Tôi chỉ bịa đặt, thêm thắt hư cấu ít nhiều…
Ông nói đơn giản thế, nhưng tôi tin rằng, những điều trong bài “Tôi đi học” là những cảm xúc rất thật, in đậm dấu ấn vào tâm hồn cậu bé nhà quê trong sáng như tờ giấy trắng, để mãi mãi làm người đọc rưng rưng xúc động như thể tâm trạng buổi đầu đi học của mình. Bởi tuổi thơ của ông được hun đúc bằng những hình ảnh đẹp của người cha thợ mộc cần cù, người mẹ tần tảo chịu thương chịu khó.
(Nguyễn Thanh Huệ)
Tác giả: Thanh Tịnh (1911-1988), tên thật là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh), là một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ông sinh ngày 12-12-1911 tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế. Thanh Tịnh mất ngày 17- 7-1988 tại Hà Nội. Hiện phần mộ ông đặt tại núi Thiên Thai phía Tây thành phố Huế.
Tác phẩm: Quê mẹ (truyện ngắn, 1941), Tôi đi học (trích đoạn), Ngậm ngải tìm trầm (truyện ngắn, 1943),
Chị và em (truyện ngắn, 1942), Thanh Tịnh đời và văn (1996).
Đám ma Lý Toét
Bên trong, người nhớn đứng đắn, ăn uống lâu hơn, vì còn kề cà chén rượu. Câu chuyện bắt đầu từ tốn. Khi chai không xếp bàn bên đã nhiều thì tiếng nói to thêm, rồi thành những cuộc tranh biện hùng hồn của các ông Lý, ông Hương, về việc làng, việc nước, hay việc trời đất. Các ông quên hẳn là đang ở trong nhà có tang. Một người to tiếng, người nữa to tiếng hơn. Trong nhà ồn ào, bà Lý vừa cô Ba chúi ở dưới bếp. Xã Xệ im lìm uống rượu, mặt và đầu đã đỏ hồng như quả táo chín, cái tóc xoắn tròn và vểnh ngược lên.
Mãi đến chiều mới tan. Ai nấy đều say mềm, có người loạng choạng đi không vững. Hương Dần vịn vào vai Xã Quít. Vừa khỏi cổng, có lẽ vì thoáng gió, Dần nôn thốc tháo cả những thức vừa ăn. Hơi rượu sặc sụa, trẻ con xúm lại xem đông. Quít thụt ngay chân xuống rãnh nước, gói phần tung xuống bùn. Dần cũng xuống theo. Nếu không có người giữ thì không hiểu hai người làm sao ra khỏi rãnh nước. Nhiêu Mão đâm vào hàng rào, lưỡi líu lại mà vẫn ba hoa nhất định cãi mình không say. Thỉnh thỏang gió đánh lật cái áo lương lên, bọn trẻ con thấy quần chàng ướt suốt từ đũng xuống gấu.
(Đỗ Đức Thu)
Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ
Cô đơn, Tình nhớ phòng không
Nghìn trùng xa cách nhớ mong ngập trời
Nắng chiều giăng sợi đơn côi
Giọt mưa trên lá khóc đời hợp tan
(Sưu tầm từ VMQH)
Hui nhị tỳ
Mà mủi lòng rồi vạch da cây mà đề thơ cho ma nó hiện lên lôi thôi lắm, tôi xin đưa bạn đến một nhị tỳ vui.
Đó là nhị tỳ của các Hội đồng hương của các tỉnh miền Nam.
Đường đi Bà Quẹo. Khỏi cột dây thép gió một đỗi, bạn quẹo qua tay mặt để vào chùa Ông Tạ. Qua khỏi chùa, cảnh như cảnh quê miền Đông với những con đường mòn núp bóng bờ tre, với các cây rơm phơi giữa đám gốc rạ. Rồi thì tới cửa nghĩa địa.
Bạn ở Sa Đéc trôi nổi lên đây làm ăn mà rủi có mạng hệ nào, bạn đừng lo bỏ thân xứ người. Trong nghĩa địa, bạn sẽ gặp đủ mặt người đồng hương giữa một ô riêng dành cho tỉnh Sa Đéc.
Những đêm mưa dầm, ma ở đây chắc không lạnh bao nhiêu, vì quanh họ đông đúc những gương mặt thân yêu, tha hồ trò chuyện cho ấm lòng.
Tỉnh nầy muốn qua tỉnh kia thăm bạn, chỉ phải bước qua một hàng rào. Gần hai mươi tỉnh sát cánh nhau để dựng lên lên một miền Nam trong cõi âm.
Người sống hay đòi thống nhất nhưng họ lại bắt người chết phân ly: Bắc Việt nghĩa trang, Trung Việt nghĩa trang, và Nam Việt nghĩa trang nầy là ba thế giới riêng biệt không có đường xe lửa nối liền.
(Bình Nguyên Lộc)
***
Phụ đính I
Vợ nhà thơ
Nhà thơ Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi
Bạch Diệp lấy Xuân Diệu. Vì cao tuổi mới lấy chồng nên thiết thực và cảnh giác. Đám cưới tổ chức to nhưng không đăng kí kết hôn. Xuân Diệu chắc do thủ dâm nhiều nên bất lực. Như gà nhẩy lên là tuột ngay. Bạch Diệp bỏ luôn, sau có lấy chồng khác.
Nguyễn Đình Thi lấy vợ sớm, có ba con, hai trai, một gái: Lễ, Chính, Như. Thi ở gửi rể. Vợ chết, gia đình vợ định gả cô em tên là Nghĩa cho. Nhưng cô này bị sốt ác tính chết. Hoà bình lập lại, Thi cần có vợ, định nhằm con gái cụ Ngô Tất Tố hay cô Hồng con Nam Cao. Sau người ta làm mối lấy bà Trường, nhưng không có con. Thi nam tính mạnh, người đen, nói chuyện có duyên, đàn
bà thích. Nhưng Thi là tay bạc tình, ngủ với cô này đã nghĩ đến cô khác. Gia đình Nguyễn Đình Thi như cái địa ngục. Thi hay bồ bịch, còn bà Trường thì ghen ghê gớm. Gia đình cụ Ngô Tất Tố cũng thế, cụ sống với hai bà vợ suốt ngày xung đột...
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Nhà văn Mai Thảo viết về tiếng hát Thái Thanh
Ở một bài giới thiệu ngắn trong một chương trình Nhạc Chủ Đề thực hiện trước đây trên làn sóng điện đài Saigon, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận định về tiếng hát Thái Thanh như một giọng ca không có tuổi. Táng láng, hồng tươi, không quá khứ. Nhận định này chỉ nói đến một sự thực hiển nhiên. Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập.
Nhưng nếu chỉ nói đến cái hiện tượng không có tuổi nằm trong một phía duy nhất là tiếng hát, không đủ. Không có tuổi còn ở phía đối diện, phía người nghe. Nghe Thái Thanh lúc nào cũng vậy, phút rất vui cũng như phút thật buồn. Nghe Thái Thanh ở một nơi chốn nào cũng thế, tiếng hát hàm chứa và phát hiện trong nó một hiệu lực đồng hóa, khiến cho tình yêu của hàng trăm ngàn người gửi cho tiếng hát Thái Thanh có thể thâu tóm toàn vẹn trong một người, trở thành cái có một. Trên dàn nhạc một phòng trà kín bưng mịt mùng khói thuốc, trên thảm cỏ một chương trình từ thiện ngoài trời, ngày nào dưới cái vòm cao vút của Nhà Hát Lớn Hà Nội, bây giờ dưới những đêm sao rực rỡ miền Nam, trên băng nhạc 1800 “phít” hay trên dĩa nhựa 45 vòng, tiếng hát gửi đến, gián tiếp, hay người hát đối diện trực tiếp với đám đông, bằng nhạc Văn Cao, Phạm Duy hay nhạc Hoài Bắc, Cung Tiến, hiệu năng đồng hóa và hiệu lực dẫn độ của tiếng hát Thái Thanh, vĩnh viễn phát xuất từ một khởi điểm tình cảm cố định. Nó dẫn dắt rung động người nghe hát tới những xúc cảm, những liên tưởng cố định. Không một người nào “lỡ” tiếng hát Thái Thanh. Đã gặp một lần là trùng phùng mãi mãi.
Góp nhặt cát đá bên đàng
Đời Lê Huyền Tông, để xóa bỏ dấu tích nô lệ của nhà Minh, nhà vua quy định lại trang phục cho dân: Cấm mặc áo ngắn, và quần có ống chân (phải về với chiếc váy cổ truyền).
Ai trái lệnh bị phạt 5 quan tiền (5 quan mua được một con trâu).
Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim: Nhà Minh đô hộ ta, Hoàng Phúc bắt dân ta phải thay đổi y phục, ăn mặc theo Tàu: “Con trai không được cắt tóc. Đàn bà con gái mặc quần”.
(Lê Văn Lân)
Lệ Thu, chim oanh về cõi thiên thu
Kể từ đó, Lệ Thu được nổi tiếng cùng với những ca sĩ tên tuổi ở Sài Gòn. Tiếng hát Lệ Thu hút khách đến với các phòng trà như Queen Bee (năm 1969 của Jo Marcel), Ritz… Tháng 4/1970, Lệ Thu đã về với phòng trà Tự Do. Ông Ngô Văn Cường chủ Tự Do đã dùng giá cao để “giựt” Lệ Thu ra khỏi Ritz của Jo Marcel. Trước đó Jo ký với Lệ Thu là 700.000 đồng hát một năm, cộng tiền cát-sê khá cao, còn ông Cường kêu Lệ Thu trả hợp đồng 1 triệu và tiền hát hằng đêm gấp đôi. Lệ Thu thường ký độc quyền với các phòng trà, hát nhạc Việt và ngoại quốc rất hay nên ăn khách. Ngay cả phòng trà Khánh Ly đã có một thời cộng tác với nhau vẫn sòng phẳng. Và, “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam”, nhất là các ca khúc dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic), ca khúc thời tiền chiến.
Giọng ca Lễ Thu được mệnh danh “Giọng Ca Vàng Ròng”, “Tiếng Hát Vàng Mười” nghe không được “bay bổng, sang trọng, lãng mạn” như Thanh Thúy, Thái Thanh… Nếu gọi “Giọng Oanh Vàng Tình Khúc”, vừa mang tên người vừa mang tên loài chim oanh.
Trong thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Chinh Phụ Ngâm của tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) qua bản dịch nhà thơ Đoàn Thị Điểm (1705-1749) có câu
“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca”
Chim oanh biểu trưng cho mùa xuân, trong thơ ca cổ hình ảnh này xuất hiện khá phổ biến nhất là trong Đường thi.
Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, Mẹ Việt Nam, Đài Truyền Hình Việt Nam… và được trung tâm sản xuất băng nhạc mời cộng tác thu âm. Hầu hết ca khúc do Lệ Thu hát, được chọn lọc, ngay cả nhạc sĩ sáng tác. Lệ Thu thường chọn những tình khúc buồn, với tà áo dài, vừa hợp với phong cách trình diễn, âm điệu linh động với giọng alto-contralto và mezzo-alto dễ ru vào lòng người. Từ trong nước đến hải ngoại, trong 6 thập niên qua, Lệ Thu vẫn giữ được sự chọn lọc nầy.
(Vương Trùng Dương)
Nhà giáo Hà Mai Anh &
tác phẩm Tâm Hồn Cao Thượng – 1
Nhà giáo Hà Mai Anh (1905 – 20.8.1975) bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn, tác giả của nhiều sách giáo khoa và dịch giả nhiều cuốn sách phổ biến trong thập niên 50, 60 và giữa thập niên 70 ở Sài Gòn. Năm 1954 cụ di cư vào Nam làm hiệu trưởng trường tiểu học Trần Quý Cáp ở góc đường Trần Quý Cáp và Pasteur, Sài Gòn rồi chuyển sang làm việc trong Ban Tu Thư và Học Liệu thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục của VNCH.
Quyển Tâm Hồn Cao Thượng, bản dịch của nhà giáo Hà Mai Anh đoạt Giải Thưởng Văn Chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943. Sau năm 1975, Tâm Hồn Cao Thượng của dịch giả Hà Mai Anh được tái bản nhiều lần tại Việt Nam, nhưng chưa lần nào thực hiện đúng trong nguyên tác, các nhà xuất bản thiếu tôn trọng tác quyền! Lời NXB Thanh Niên ghi: “Chúng tôi cũng có thay đổi, sửa chữa một vài chi tiết của bản dịch nầy cho phù hợp với tình hình hiện nay…”. Thật khó hiểu “tình hình hiện nay” qua tác phẩm văn học, giáo dục như thế nào mà tự ý làm giảm giá trị nguyên bản qua nhiều thập niên.
(Vương Trùng Dương)
Tiệm nước
Món ăn chánh của tiệm nước ngoài bánh bao, xíu mại, dầu cháo quẩy, mì và hủ tiếu. Xíu mại hình tròn nhân thịt xay sốt với cà hấp hoặc chiên. Bánh bao vỏ bằng bột mì và có nhân thịt và một phần tư cái hột vịt với miếng lạp xưởng bỏ tỏng xương hấp hoai cho nó nóng. Trên đầu cái bánh bao có chấm đỏ như cái ‘nhũ hoa’ trắng phích có điểm hồng rất hấp dẫn, nhìn là muốn cắn. Té ra trong đầu óc chú Ba luôn bị ám ảnh về tình dục. Hèn chi dân Tàu lên tới 1.42 tỉ người đông nhứt thế giới. Nên ở đâu có khói bốc lên trời là ở đó có người Tàu! Thiên hạ nói đâu có sai!
Ông Vương Hồng Sển, người Tiều Sóc Trăng, trong “Sài Gòn năm xưa” gọi hủ tiếu là “củi tíu”. Củi tíu là bánh bột cọng nhỏ. Ngày xưa, củi tíu nấu theo kiểu người Tiều có tôm tươi lột vỏ, chả cá, gan heo, bao tử luộc ram lại gọi là phá lấu, chút thịt gà, thì gọi củi tíu cá gà, hoặc vài miếng thịt heo thì gọi củi tíu thịt.
Hủ tiếu tô lớn thì gọi tố phảnh, tô nhỏ ít bánh thì gọi tái phảnh, tức nửa tô.
(Đoàn Xuân Thu)
***
Phụ đính II
Chuyện bố mẹ vợ bị hành quyết - 1
Lúc gần tới nơi, may sao tôi gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom tìm lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao.
Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai còn sống hay sẽ chết vì đói khát! Tôi nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong lòng vô cùng xúc động. Suy nghĩ rất nhiều, tôi quyết định đem cô ta về quê tôi, rồi bất chấp lệnh cấm, tôi đã lấy cô ta làm vợ. Rất may là sự quyết định của tôi đã không nhầm. Khi xưa, quê tôi nghèo, nhà tôi cũng nghèo, tôi lại còn ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no…Cho đến ngày nay, bà ấy đã cho tôi 10 người con ngoan, 6 trai, 4 gái và cháu nội cháu ngoại hơn 30 đứa.
(Hồi ức Nguyễn Hữu Loan)
Chuyện bố mẹ vợ bị hành quyết – 2
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày hốt đá đi bán, túi dắt theo vài quyển sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi cởi mở, tôi được tụi nó ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm. Năm 1988, tôi “tái xuất” giang hồ sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nhà đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
Dọc đường đất nước trên chuyến đi, tôi đã đọc cho công chúng nghe trong những lần gặp gỡ, bài thơ dài mới nhất tên là “Chuyện tôi về”, một loại bút ký thơ kể về thời gian “Ba mươi năm không phải chuyện / Một sớm một chiều/ Một ngày tù đã dài như thế kỷ / Ấy là tù giữa chợ…” Trong 30 năm đó, kể từ ngày có vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, và 17 năm sau đó nữa, chẳng có ai dám viết…
(Hồi ức Nguyễn Hữu Loan)
Chữ nghĩa làng văn
Một mảnh đời Hồ Dzếnh
Năm 1998 lần đầu tiên tôi về Việt Nam thì chú Dzếnh đã mất được 7 năm (1991). Buổi tối, nằm ngủ chung với thím trên chiếc giường của hai người, nghe thím kể lại: lúc biết mình sắp mất, chú đòi về nhà, mất trên cái giường của vợ chồng.
Câu cuối cùng của chú là lời gọi: Mình ơi! trước khi nhắm mắt.
Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!
(Bài thơ tặng vợ – Hồ Dzếnh)
Chú Dzếnh muốn đi sau để tránh cảnh thương đau cho thím, nhưng chú lại là người đi trước. Trên chiếc giường gỗ ở ngôi nhà 80 phố Hòa Mã, Hà Nội, trong bóng tối mờ mờ của ngọn đèn đêm ngoài phố hắt vào, tôi nằm nhìn lên đình màn, hình dung ra khuôn mặt thanh nhã với nụ cười hiền lành ở bức ảnh trên bàn thờ của một thi sĩ Trung Hoa mang trái tim Việt Nam.
(Trần Mộng Tú - Tháng 7/25/2017)
Tiểu sử: Hồ Dzếnh gốc người Quảng Đông. Tên thật là Hà Triệu Anh, hay Hà Anh. (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồi-Tsìu-Díng, sau đổi thành Hồ Dzếnh). Sinh năm 1916 tại Thanh Hóa. Mất ngày 13.1.1991 tại Hà Nội.
Tác phẩm: Dĩ vãng, Chân trời cũ và tập thơ Quê ngoại ký Hồ Dzếnh, Một chuyện tình mười lăm năm về trước, Những vành khăn trắng. Tập thơ Hoa xuân đất Việt.
Ảnh Đề Thám và con gái
.jpg)
.jpg)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét