***
Tập tục xưa
Ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An vẫn còn giữ tập tục từ cả ngàn năm về trước: Người chết được chôn theo thế ngồi xổm, họ bị trói trong tư thế này trước khi đem đi chôn
Đó là tập tục mai táng xưa, thể hiện hai mặt với người chết:
Mặt thứ nhất vì sợ người chết hiện hồn về quấy phá nên trước khi chôn phải trói lại. Khi khâm liệm, bao giờ người ta cũng lấy một miếng vải liệm, xé ra làm dây để buộc hai ngón chân cái và hai ngón tay cái của người chết. Mặt thứ hai là thương nhớ người chết nên không lỡ chôn ở xa mà chôn ngay trong vườn.
Bùi Xuân Phái vẽ tranh
theo thơ Hồ Xuân Hương
Tát nước
Đang cơn nắng cực chửa mưa tè
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,
Nhấp nhỏm bên bờ đít vắt ve.
Mải miết làm ăn quên cả mệt,
Dang bang một lúc đã đầy phe.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Anh em như thể dao phay
Cái hay cái dở của Bùi Giáng
Phương cách luận thơ của ông cũng theo lối bình giải văn học, với nội dung và hình thức độc nhất vô nhị. Và, như Hoài Thanh – Hoài Chân làm Thi Nhân Việt Nam, cách tuyển chọn, bình giải ở đây không qui luật, hoàn toàn "phê bình cảm thụ hồn nhiên theo thị hiếu cá nhân". Phong cách của Hoài Thanh thì sang cả, nhẹ nhõm mà tinh vi.
Còn với Bùi Giáng "nhiều khi đọc lên thật bàng hoàng. Với nhận xét tinh tế, độc sáng về một khía cạnh nào đó của một tác giả thơ nào đó.". Tôi còn nhớ, khi đọc lần đầu, các bài như những đoản kiếm khi đâm thẳng lúc lao xiên vào nỗi ham biết về thơ ca, vào cái tò mò về Bùi Giáng của tôi. Trong bài về Hoài Thanh, Bùi Giáng đã viết về người thày cũ của ông, rằng phong cách phê bình Hoài Thanh tạo ra "không biết bao nhiêu con đường cho những thi sĩ và phê bình gia đi sau".
Xin được nói thêm: Bùi Giáng là một. Người sau nên và có thể đi theo Hoài Thanh được; và người sau không nên mà cũng không thể đi theo Bùi Giáng được.
Bài đầu tiên của cuốn Một, về Tuệ Sỹ, là một áng phê bình không thể nào quên. Làm ta hiểu đúng và hiểu hay về Tuệ Sỹ, nhà sư-nhà thơ mà theo tôi có thơ hay nhất trong giới tu hành.
(Đỗ Quyên)
Góp nhặt cát đá
Mộng
Giã từ cõi mọng điêu linh
Ta về buôn bán với mình phôi pha
Làm báo văn học ở hải ngoại
Như thế, với nhiều công sức tài lực của nhiều anh chị em, Hợp Lưu ra mắt số đầu tiên đầu tháng 10 năm 1991.
Tám năm trôi qua. Bao nhiêu sóng gió. Nhất là giai đoạn đầu, gần như tuần nào, tháng nào, trên hầu hết các tờ báo, Hợp Lưu và nhóm chủ trương, nhất là tôi... cũng bị đem ra làm bia tập bắn. Nhẹ, lời lẽ ôn hoà xây dựng; nặng, bỉ thử thô lỗ, có khi mang cả đời tư của tôi và những hệ luỵ ra bêu rếu. Nhiều tháng liền, cách vài ba đêm, giữa khuya, một cú điện thoại từ đâu đó gọi tới, đòi "đốt nhà, ném lựu đạn, bắn bỏ". Gọi mãi, chửi mãi, hăm dọa mãi, vẫn thấy Hợp Lưu xuất hiện đều đặn, đúng kỳ trên các sạp báo ở các nhà sách. Những cú điện thoại thưa dần, rồi dứt hẳn.
Nhiều năm trôi qua, Hợp Lưu không chết, trái lại, mỗi ngày thêm vững vàng, nhờ lực lượng sáng tác được bổ sung đều, và nhờ độc giả tìm đọc ngày thêm đông. Cơn hấp hối của Hợp Lưu thực sự đã bị đẩy lùi. Tờ báo đang sống, tờ báo sẽ sống, bình thường, như rất nhiều anh em đồng nghiệp khác.
Viết về những tình cờ định mệnh đẩy đưa một người cầm cọ đến cầm bút, và viết về kinh nghiệm đã trải qua trên mười năm "tắm gội" trong nghiệp báo. Nhiều lúc không dằn được bức xúc do mọi sức ép tăm tối bên ngoài, tôi đã thả lỏng ngòi bút của mình, mặc cho những cơn giận dữ cuốn đi. Thuở còn sinh tiền, nhà văn Mai Thảo thỉnh thoảng vẫn bảo: "Chữ nghĩa đẹp đẽ lắm. Còn sống với chữ nghĩa thì phải cố mà nuôi dưỡng nó cho đàng hoàng. "Sống đàng hoàng với chữ nghĩa, tôi cho là điều khó khăn nhất, và cũng là điều cần nhiều nỗ lực nhất, đối với một người cầm bút.
(Khánh Trường)
Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...
Nhiềungười cho rằng vị tiền bối của nghềđóng xe ngựa ở Thủ Dầu Một là cụ TrầnVăn Ký, sinh năm 1883. Nhưng người sắm xe thổmộ sớm nhất tại vùng đất này là ôngHương quản Luốc ở xã Định Hòa (gầnchợ Bưng Cầu, thị xã Thủ Dầu Một).
Ngườicũng nổi danh về nghề đánh xe ngựa mà còn nhiềunơi đều biết tiếng không ai khác hơn làngười con trai của vị tiền bối TrầnVăn Ký nói trên: đó là ông Sáu Xích, đã có hơn 40 tuổinghề. Theo ông Sáu, nghề đóng xe ngựa từ xưakhông có trường đào tạo mà chỉ là nghề truyềnthụ trong gia đình: cha dạy con, con dạy cháu. Cũngtheo ông Sáu, phần gay go nhất trong các công đoạnđóng xe vẫn thuộc về phần gia công bánh xe và cácbộ phận chịu lực tải, phần thân xe và gọngkéo thì đơn giản. Bánh xe là phần chịu tảichính phải tuyệt đối bảo đảm trong quátrình chế tạo. Một bánh xe ngựa có 6 miếngđà, 12 thanh căm phải làm bằng gỗ giánghương hoặc gỗ chò. Khó khăn nhất đòi hỏitay nghề cao là khâu làm sao cho vành đai đế niềng6 miếng vỏ khít mí.
Hiệnnay, nghề xe thổ mộ không còn hoạt động nữa,nhưng Bình Dương vẫn còn là nơi hiếm hoi ởmiền Đông Nam bộ có khả năng phục chếđược nhiều kiểu xe ngựa trước đâyđể phục vụ cho nhu cầu của một sốcơ sở, trung tâm điện ảnh, du lịch ởphía Nam.
Riêngông Sáu Xích vừa nói ở trên, nhờ vào kinh nghiệm taynghề và uy tín cá nhân, ông nhận được hợpđồng tái tạo xe ngựa cho các khu du lịch trongnước và khách nước ngoài. Nhiều loại xe ngựanhư xe kính (xe ngựa chở khách có hai cửa), xe lá liễucó mui đều được ông chế tác theo yêu cầucủa nơi đặt hàng. Giá một chiếc xe thổmộ ít nhất cũng trên mười mấy triệuđồng, xe lá liễu thì còn cao giá hơn. Ông Sáu cũngcho biết xu hướng thẩm mỹ của khách mua xehiện nay: “Chừng mấy năm gần đây yêu cầuthẩm mỹ trong cách trang trí cũng bắt đầu cóxu hướng cổ chuộng xưa, cho nên tôi cũng sảnxuất theo đơn đặt hàng những chiếc xe thổmộ, xe lá liễu thu nhỏ để trang trí...”.
(Hiếu Học - Hoàng Anh)
Mộng
Ngày mai mơ mộng làm chi
Sẽ tàn sẽ mất còn gì nữa đâu
Sài Gòn một thóang vãng lai
Vĩnh biệt người đội mũ Dương Nghiễm Mậu
Người ngồi đội mũ là nhân vật của một truyện ngắn cùng nhan đề như vậy trong Cũng Đành, tập truyện ngắn đầu tay của Dương Nghiễm Mậu. Từ lúc quen biết Dương Nghiễm Mậu tới nay đã trên nửa thế kỷ, tôi chưa thấy ông đội mũ bao giờ. Đặc biệt những lúc ngồi trên xe xích-lô, ông lại càng không đội mũ. Thuở trước, Dương Nghiễm Mậu di chuyển nơi này nơi kia bằng xe xích-lô, hoặc đi bộ hoặc ai đấy chở ông trên xe gắn máy.
Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã từ trần ngày 2-8-2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Ông là một tác giả nổi tiếng của 20 năm văn học miền Nam với 21 tác phẩm vừa truyện ngắn, vừa tiểu thuyết, vừa ký sự và nhiều bài báo đăng trên các tạp chí có giá trị.
Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phi Ích Nghiễm, sinh ngày 19-11-1936, ở quê nội làng Mậu Hòa, huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Ðông. Bút hiệu là tên thật của ông ghép với hai chữ đầu của quê nội và quê ngoại.
Lần nào tới thăm ông tại nhà hoặc rủ ông đi uống cà-phê ở quán, đang chuyện trò vui vẻ thú vị, ông ngưng ngang, bảo: “Thôi Đạt về nhé, anh phải làm việc.” Một lần tôi đặt ông làm phiên bản bức tranh Le Christ Jaune của Gauguin bằng chất liệu sơn mài, hẹn nửa tháng tới lấy. Hơn nửa tháng sau, tôi tới thăm ông, chỉ tới thăm ông mà thôi, tôi quên khuấy đã đặt ông làm phiên bản bức tranh. Ông hỏi tôi đến lấy bức tranh phải không. Tôi giật mình thốt nhớ, ngượng nghịu hỏi ông “đã làm xong rồi hả anh?” Dương Nghiễm Mậu lắc đầu, nói: “Anh đang bận làm bức tranh cho một ông Việt kiều đặt trước, chưa có thì giờ làm cho anh chàng hứng chí nói chơi”.
Từ lâu tôi đã dè chừng sự tinh quái của một nhà văn “sắc và nhọn” như hoạ sĩ Tạ Tỵ nhận xét về Dương Nghiễm Mậu. Đôi mắt tinh anh của ông nhìn thấu vô số thứ. Ngay lúc tôi đặt ông làm phiên bản bức tranh của Gauguin, ông cho rằng thế nào cũng bị “trật đường rầy” nếu ông thực hiện.
Lần gặp Dương Nghiễm Mậu gần nhất cách đây một năm, ông vẫn khoẻ mạnh, vẫn tươi trẻ ở một người trọng tuổi. Thật ngỡ ngàng nghe tin ông mất, dù tuổi thọ của ông cũng không là mỏng. Có lòng tham yêu mến tôi cũng chẳng ngại, để được thấy nhà văn Dương Nghiễm Mậu còn ở trên đời, nên ông mất đi tôi rất tiếc thương. Cầu mong linh hồn ông an vui chốn vĩnh hằng.
(Nguyễn Đạt)
Mộng
Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng
Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không
Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy
Năm 1954 cả hai còn nhỏ chưa nhớ gì mấy. Nhưng năm 1970, 1971, rồi Mùa hè đỏ lửa 1972, rồi Tết hoà bình Quí Sửu, và nhất là 1975, thì từng ngày một, sâu đậm trong lòng. Ngày 10 tháng Ba năm 75 tôi ở đâu, Huy ở đâu. Ngày 26 tháng Ba, 29 tháng Ba... Ngày 30 tháng Tư. Buổi trưa hôm ấy, tôi vào Tân Sơn Nhất, còn Huy thì trong trại tù binh ngoài Quảng Trị. Vỡ trận ở cửa Thuận An, anh cùng với hầu hết đồng ngũ thuộc lữ đòan Thuỷ quân lục chiến bị bắt ngay từ cuối tháng Ba. Và vì là sĩ quan, cấp trung uý, nên cứ thế một mạch hết trại này qua trại khác ra Bắc vào Nam cho tới năm 1981.
Tôi, những năm đó, " ba lô lộn ngược xuôi tàu Bắc Nam ", thỉnh thoảng dừng các ga xép, cũng trông thấy ở đường ray kế bên đậu dài một dãy toa chở " ngụy đi học ". Nhưng nhìn vậy thôi, bàng quan, hầu như chẳng nghĩ ngợi gì. Về quãng đời mình Huy nói lướt đi, chỉ điều gì tôi muốn biết rõ hơn thì anh mới chậm lại, kể kỹ, nhưng một cách dửng dưng ơ hờ, như thể đời một ai khác. Tôi nghe. Tôi muốn cảm nhận, dù là không thể, tâm thế của con người ta trong cảnh ngộ ấy, nhất là của người như Cao Xuân Huy, người mà hẳn rằng khi ấy đã là một nhà văn tiềm ẩn.
Những năm đầu sang Mỹ, anh kiếm sống qua nhiều nghề khác nhau. Cũng ổn, nhưng không ham. Những người bạn từng cùng anh chung sức thuở ban đầu do vẫn tiếp tục với nghề sửa xe hơi, nghề sửa đồ điện, nghề tư vấn pháp lý v.v. đều đã dần phát đạt, một số trở nên giàu có, nhưng anh thì đã bỏ hết để theo cái nghiệp nhọc nhằn viết văn làm báo. Nhưng làm báo, qua nhiều tờ, anh chỉ chân trợ lý biên tập: gõ máy chữ, sửa bài, lên trang. Lặng thầm anh dồn tâm lực cho việc viết văn, cái việc mà anh nói là " để được sống lại một lần nữa những chặng đời đã qua ".
Nhưng sống lại trong tâm tưởng đã chẳng dễ dàng gì, trải được ra trên giấy lại càng khó. Đòi hỏi phải rất kỳ khu. Rất chậm, đầy cay cực, viết rồi xoá, viết rồi xé. " Mất công tự đày ải mình, cho vui " - anh bảo vậy.
(Bảo Ninh)
Mộng
Mình ta đi một mình ta
Bao nhiêu giấc mộng gần xa xa gần
Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.
Minh Thùy: Văn học trong nước hiện nay theo nhận định của chị thế nào, có người viết mới và có luồng văn học mới không?
Trần Thị NgH.: Cũng có đấy, nhưng hình như chưa để lại dấu ấn nào sâu đậm. Chẳng hạn như Vệ Tuệ của Trung Quốc; bây giờ bà mới bắt đầu viết về sự sống buông thả hay tư tưởng tự do của phụ nữ và được đánh giá là đang mang lại luồng gió mới cho văn học Trung Quốc bấy lâu nay vốn rất kỷ cương.
Tôi cho cái mới như vậy chỉ là sự trở lại cái thời Françoise Sagan của Pháp ngày xưa. Cái mới của Trung quốc là Vệ Tuệ lại giống như cái mới cách đây 50 năm của Pháp. Quay lại cái mới của Việt Nam, hiện thời cũng có nhiều cây bút trẻ có tâm hồn, yêu chữ nghĩa, có năng khiếu, hoặc có lửa trong cách viết nhưng cũng chưa có gì đậm; giống như lửa phừng lên rồi leo lét.
Về bên thơ có nhóm nữ gần đây mới ra tác phẩm Dự Báo Phi Thời Tiết, trong đó có Phương Lan, Lynh Bacardi… rất có nét, rất cách mạng trong cách cố ý dùng những chữ không thanh, những từ tự đặt để nói lên cái mới của mình nhưng theo tôi cái mới đó na ná nhiều cái mới khác nên chưa đặc biệt mới.
Minh Thùy: Như người ta nói thì dòng văn học hải ngoại đang bị lão hóa, không có những tác phẩm gây ấn tượng, theo chị có gì sáng sủa cho dòng văn học hải ngoại?
Trần Thị NgH.: Dòng văn học hải ngoại có nhiều chuyện để nói. Riêng tôi rất trân trọng những anh chị đang tiếp tục hoặc mới bắt đầu viết sau 75 trong đó có những bạn cao niên lẫn những bạn trẻ trên dưới 30. Việc duy trì tờ báo Văn, Hợp Lưu, Đất Nước, Trăm Con… là điều hết sức đáng trân trọng.
Vô hình chung mà các anh chị đó đã làm nên cái gọi là “luồng văn học hải ngoại”. Nhưng lớp trẻ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài không đọc tiếng Việt nữa và các anh chị dần dần cũng cao niên hơn, văn chương của họ vì thế cũng có tuổi theo.
Tuy nhiên, không có gì đáng bi quan vì đây là một dòng văn học mới lạ, do các anh chị được tiếp thu kiến thức văn học nước ngoài, có được không khí sáng tác tự do,cuộc sống kinh tế ổn định, do vậy sáng tác của họ có khí hậu riêng trong mỗi truyện.
Đây là một nét rất độc đáo, cho dù có lão hóa vẫn khác với những người viết trong nước. Đó là những cây bút cũ và mới, những cây bút đã và đang nuôi dưỡng chữ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
Minh Thùy: Cám ơn chị đã trả lời buổi phỏng vấn hôm nay.
(Minh Thùy phỏng vấn)
Thế hệ hậu chiến khước từ thân phận mồ côi - 1
Việt Nam ở thập niên 1940-1950 đối diện với sự khánh chung của chế độ đô hộ Pháp, sự hiện diện của quân đội Nhật, và sự can thiệp của Mỹ. Người dân đã phải thường xuyên chạy loạn, tránh bom tránh đạn, và lưu lạc ở các nước lân cận. Hiệp định Geneva được ký kết năm 1954 là một biến cố gây nhiều xáo trộn, và hơn hai triệu người đã rời Bắc đi vào Nam. Sáu mươi năm sau, nhiều gia đình vẫn còn thất lạc nhau hay sống trong ngăn cách cho đến ngày hôm nay. Những biến cố khác cũng đẩy người Việt vào kinh nghiệm tỵ nạn ngay trên quê hương mình, như cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Tác phẩm “Giải Khăn Sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca ghi lại những kinh hoàng và tuyệt vọng của người dân trong biển chết.
(Trangđài Glassey Trầnguyễn)
Giai thoại về Lãng Nhân Phùng Tất Đắc
Bút danh của Lãng Nhân, rất đặc biệt. Lãng Nhân là phiên âm một từ ngữ Nhật Bản: Ronin, có nghĩa là một samurai mất chủ, đi lang bạt. Lãng Nhân Phùng Tất Đắc nguyên quán ở Nam Định, thân phụ là thương gia buôn bán nhỏ nhưng giao du rộng.
Lãng Nhân vừa theo Tây học, vừa am hiểu Nho học, ông được xem là đệ tử ruột và bạn vong niên của học giả Trần Trọng Kim.
Tôi nghĩ có lẽ lúc chọn bút danh cho nghề văn, ông đã có khí tiết của một samurai mất chủ, mang tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản đi lang bạt kỳ hồ. Lãng Nhân từng xuống tàu của Bạch Thái Bưởi ở Hải Phòng, định vượt biển. Thân phụ ông biết tin, buộc ông trở lại quê nhà. Lãng Nhân bắt đầu làm báo khi Hoàng Tích Chu chủ trương Nhật báo Đông Tây.
(Nguyễn Đạt)
Thế hệ hậu chiến khước từ thân phận mồ côi - 2
Từ cái đứt đoạn Bắc Nam năm 1954, đến cái vỡ nát của miền Nam 1975, tâm thức của người dân Việt bị phân tán ở hai mức độ: quốc gia. Nếu nhà văn quá cố Mai Thảo, qua tâm tình của Phượng trong “Đêm Giã Từ Hà Nội,” đã cảm thấy xa Hà Nội dù chưa rời Hà Nội, thì người Việt tỵ nạn sau Tháng Tư 1975 đã cảm thấy xa quê hương đến chừng nào khi đã phải lìa bỏ đất nước trong cấp bách và đau đớn.
Chúng ta cùng nghe lại tâm tình của cố nhà văn Mai Thảo trong truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, do Người Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1955: “…Phượng nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội ở dưới ấy. Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.
Dưới những hàng mái cong trũng, ngập đầy lá mùa kia, đang xảy ra những tâm trạng, những biến đổi gì mà ở bên này đường Phượng không đoán hiểu được. Hà Nội đang đổi màu. Đứng bên này bờ đường nhìn sang, Phượng bắt đầu tiếp nhận với một thứ cảm giác ớn lạnh, cách biệt, anh đã đứng trên một bờ vĩ tuyến mà nhìn về một vĩ tuyến bên kia. Bên ấy, có những hình ảnh chia cắt, đứt đoạn. Bên ấy, có những hình chiến lũy, những hàng rào dây thép gai, những đoạn đường cấm, những vùng không người.
Phượng cũng không hiểu tại sao nữa. Giờ này anh còn là người của Hà Nội, thở nhịp thở của Hà Nội, đau niềm đau của Hà Nội, mà Hà Nội hình như đã ở bên kia.”.
20 năm văn học hải ngoại
Viên Linh: Cùng trải qua hai thời điểm ấy, tôi thấy những năm đầu tiên sau 1954 và những năm đầu tiên sau 1975, người cầm bút ở miền Nam và người cầm bút ở hải ngoại có một tâm trạng chung: mất quê hương, lạc loài, lưu vong. Sau 54, những người này đã khiến văn học miền Nam tương phản rõ rệt với văn học miền Bắc (dù miền Nam lúc đó vẫn đang có những Bình Nguyên Lộc, Tam ích, Hồ Hữu Tường, Sơn Nam, Thanh Nam...).
Sau 1975, cũng chính tâm trạng này đã khiến văn học hải ngoại tương phản rõ rệt với văn học quốc nội (dù ở hải ngoại từ trước đã có những Thi Vũ, Nhất Hạnh, Phạm Công Thiện, Đặng Tiến, Võ Đình, Linh Bảo...
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (cả giai đoạn ở miền Nam lẫn giai đoạn đã rời miền Nam) các tác giả tiêu biểu của miền Nam vẫn là các tác giả tiêu biểu ở hải ngoại, cộng thêm một vài người mới nổi ở ngoài như Nguyễn Ngọc Ngạn, nhưng những Nguyễn Ngọc Ngạn ở hải ngoại cũng vẫn có tâm trạng chung nói trên. Các tác giả của miền Nam nếu bị kẹt lại, phần lớn bị tù đày. Ra khỏi nước sau đó, họ nhập chung vào dòng văn học hải ngoại, không một chút xa lạ. Vậy thì theo tôi, văn học hải ngoại thời chiến tranh lạnh chính là văn học miền Nam.
(Viên Linh)
Nguyễn Bá Trác, Sở Cuồng
Lê Dư (? - 1967), tên thật là Lê Đăng Dư, hiệu Sở Cuồng (người Cuồng nước Sở, là nhà nghiên cứu lịch sử và văn học Việt Nam. Lê Dư cũng là người Quảng Nam như Nguyễn Bá Trác (Lê Dư ở xã Nông Sơn, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) .
Khoảng năm 1900, ông cùng với Nguyễn Bá Trác, Phan Khôi ra Hà Nội học tiếng Pháp, rồi tham gia công tác tại trường Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Đông Du. Khoảng năm 1905, ông và Nguyễn Bá Trác sang Nhật Bản trong các đoàn du học sinh, đến năm 1908, phong trào Đông du bị khủng bố tại Tokyo, Pháp và Nhật cấu kết nhau, trục xuất tất cả du học sinh và các nhà cách mạng Việt Nam ra khỏi đất Nhật. Từ đó ông và Nguyễn Bá Trác sang Trung Hoa. Năm 1918 ông về nước.
Dư luận đương thời cho rằng ông về nước là do sự móc ngoặt của Nguyễn Bá Trác.
Năm 1925, Lê Dư về nước, vào làm việc ở phủ toàn quyền Bắc Kỳ, rồi làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội, là chuyên gia về văn học sử và lịch sử Việt Nam. Trong khoảng 10 năm ông công bố thêm gần 30 công trình vừa Hán văn vừa Quốc văn.
Với vốn học vấn Hán học uyên thâm, với công phu tìm kiếm tư liệu trong kho lưu trữ của Trường Viễn Đông Bác cổ, đặc biệt là những phát hiện của ông về tác giả Cung oán ngâm khúc, về tiểu sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Thái, Trần Tế Xương.
Các tác phẩm của Lê Dư: Lịch sử Bằng Quận Công, tức lịch sử Nguyễn Hữu Chỉnh, Tây Sơn ngoại sử: Ngoại sử về Tây Sơn, Phổ Chiêu Thiền sư, tức Phạm Thái, v..v..
Trong thời gian ở nước ngoài, Lê Dư có đến Triều Tiên. Ở đây, ông là người đầu tiên phát hiện ra dòng họ Lý, hậu duệ của Hoàng tử Lý Long Tường, con thứ của vua Lý Anh Tông vượt biển sang bắc Triều Tiên.
Lê Dư mất ngày 31 tháng 8 năm 1967.
Ông không bị VM giết như Nguyễn Bá Trác, có thể vì người bạn đời của Vũ Ngọc Phan là nhà thơ Hằng Phương, là con gái nhà văn Sở Cuồng Lê Dư?
(nguồn Wikipedia: Tiểu sử và sự nghiệp Vũ Ngọc Phan
Tiết mục “Gia đình”)
Chữ nghĩa làng văn
Theo nguồn từ văn học trong nước: tập Lưu Hương ký do một ông cử người làng Hành Thiện phát hiện trong tủ sách gia đình có đề tên Hồ Xuân Hương. Qua đấy họ mới hay chữ “Lưu” là huyện Qùynh Lưu và Xuân Hương là tên hiệu. Cũng theo gia phả có hai ba dấu tích của Hồ Phi Diễn, trong tập Lưu Hương ký ghi chú năm 1772 có người con gái sinh ở phường Khán Xuân (làng Nghi Tàm bây giờ) tên Hồ Xuân Hương.
Cho đến nay ai cũng hay biết bà là con gái của ông đồ Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, Nghệ An. Sau khi cha mất, bà và mẹ về ở thôn Tiên Thị, làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương đề biển là Cổ Nguyệt đường, nhà dưới làm cửa hàng bán giấy bút và sách.
Tiếp đến qua sử nhà Nguyễn, bà theo chồng làm quan tại Quảng Yên, sau khi chồng mất, bà vào tu chùa Hoa Yên núi Yên Tử. Sau đó bà trở về Cổ Nguyệt Đường và mất năm 1822. Năm 1842, Thiệu Trị ra Bắc thành tiếp sứ nhà Thanh, Tùng Thiện vương theo anh thăm Tây Hồ làm bài thơ “Viếng mộ Xuân Hương”
Tên phố, tên đường
Cũng có tên một vài danh nhân ta được đặt tên phố. Nhưng mỉa mai thay, chỉ càng lộ cái coi khinh cố tình của họ. Phố bảng nhãn Lê Quý Đôn ở một ngõ ngách, nay lấy lại tên xưa là phố Hàng Cháo, Nguyễn Bỉnh Khiêm bị đưa vào ngõ cụt (ngõ Trạng Trình), phố Nguyễn Trãi dài...180 mét.
Tên phố Hà Nội có những thay đổi lớn từ 1945. Đảo chính 9/3/1945, Nhật đánh đổ Pháp, trên toàn cõi Đông Dương lập chính quyền thân Nhật. Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai, thị trưởng thành phố của chính quyền Nhật dựng đã làm được hai việc đáng kể, là huy động người phá bỏ các tượng đài “kể công” của thực dân Pháp - riêng tượng nhà bác học Pátxtơ (Pasteur) và tên phố bác sĩ Yêcxanh (Yersin) vẫn được giữ nguyên.
Các tên phố và tên vườn hoa khác đều được bác sĩ Trần Văn Lai đặt lại. Sau đó, hơn một năm đầu Hà Nội Tổng khởi nghĩa (19/8/1954 - 19/12/1946), chính quyền cách mạng đặt lại tên phố, chủ yếu là xóa các tên vua quan và các tay sai thời nhà Nguyễn.
Rồi Hà Nội bước vào thời kỳ kháng chiến toàn quốc chiếm lại Hà Nội (1947-1954), cũng chỉ đổi một số tên phố. Lập lại phố có tên vua nhà Nguyễn, như phố Gia Long...
Từ 1954, khoảng 10 năm đầu (1954-1964) Sở văn hóa đã thành lập “Ban tên phố” đặt lại một số tên phố. Bỏ tên phố mang tên vua quan thời Nguyễn, đặt mới một số tên tượng trưng truyền thống, sự kiện lịch sử và cách mạng (các phố và đường Hùng Vương, Trần Phú, Hoàng Hoa Thám, Bắc Sơn, Điện Biên Phủ...). Ngoài ra, hầu hết những phố khác vẫn do tên phố từ tháng ba 1945 của bác sĩ Trần Văn Lai.
(trích "Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè" – Tô Hòai)
Văn hóa ẩm thực
Thịt cầy Sài Gòn: 36 nẻo
Ngày nay, sau khoảng 20 năm (kể từ 1985) thịt chó Sài Gòn đã bắt đầu tìm cho mình được bản sắc, cái bản sắc đó có khác với những khu như Chương Dương, Nhật Tân… ngoài Hà Nội, hay tại Nam Định, Hải Phòng… Cái khác đầu tiên là ở cung cách chế biến, thịt cầy miền Nam thường kèm theo nhiều rau lạ, món lạ như quay, lẩu; thứ hai là ở cung cách phục vụ, cũng những người từ Bắc vào, có những phục vụ còn rất trẻ, có người sinh sau năm 1990, nhưng đã học được cái cung cách phục vụ tao nhã, cởi mở, lễ độ và lịch sự.
Cuối cùng, thịt cầy Sài Gòn trên hết 36 nẻo đường (một kiểu ước đoán tượng trưng) của mình, cũng trả lời được câu hỏi là tại sao ngày càng có nhiều người ăn thịt chó! Bởi chó đã không còn được ngồi trong địa vị kiêng cữ, thờ cúng, và cũng không còn giữ vai trò trong công việc đi săn, hay giữ nhà. Ngày nay, nhà phải giữ chó còn nhiều hơn chó phải giữ nhà. Và cũng bởi ở đó – các quán thịt chó, còn có một góc đời sống được diễn ra, mà người dân Sài Gòn thì thường sống bằng mánh mung tại quán; còn có một nếp văn hoá ẩm thực và sự chung đụng của các thói quen sinh hoạt khác nhau. Quan trọng hơn, ăn thịt chó là vì chó nuôi dễ. Mà quan niệm trong ẩm thực mới, khá văn minh là con nào nuôi được thì ăn, còn những động vật hoang dã, dù có bổ bằng trời, đặc sản hiếm quý, thời trân, cũng xin miễn, vì chúng ta chưa nuôi được nó, sao được phép ăn. Và nếu ai cũng tôn trọng quy tắc này, thì đâu có cảnh 'con người mỗi ngày mỗi cô đơn' như ngày nay, vì ở những nước, những xứ sở càng văn minh, các loài vật và cây cối càng hết đất sống, càng có nguy cơ tuyệt chủng. Sự tồn vong của bất kỳ một nền văn hoá, hay văn minh nào… cũng phụ thuộc rất nhiều vào cái ăn của con người. Mà cái ăn đó, dù bạn có kiêng cữ hay không, thì cũng phải biết chấp nhận sống chung với nó.
(Lý Đợi)
Chuyện dân gian xưa 1
Một anh hà tiện thuộc loại vắt cổ chày ra nước, không bữa cơm nào mà dám mua thức ăn. Anh ta treo một con cá gỗ lơ lửng ở cột nhà, dặn các con khi ăn cơm thì nhìn lên cá gỗ, chép miệng một cái rồi và cơm, coi như là đã được ăn cơm với cá rồi.
Đứa con út mới lên bốn tuổi, háu ăn, nhìn lên con cá gỗ chép miệng luôn mấy cái mới và cơm. Thằng lên sáu trông thấy liền mách bố:
– Thằng này nó chép miệng mấy cái liền mới và cơm đó bố ạ.
Anh ta mắng yêu con:
- Thằng này hư. Mày ăn mặn thế, cho mày chết khát, con nhá...
Thú vui tao nhã của người Sài Gòn
Hãy cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi. Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nửa thế kỷ trước. Đường Richaud Phan Đình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát từ Anh Vũ, Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi.
Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành “Hầm Gió”, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở Đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do.
Đêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đã đổi tên. Người Sài Gòn đã bay xa, lập thành bao nhiêu Sàigòn khác rải rác khắp hải ngoại . Và người Sàigòn năm xưa, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già.
Bởi vậy nói như thi sỹ Thanh Tâm Tuyền ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ. Hỡi những Đêm Mầu Hồng, quán Anh Vũ…Những đêm thắp sáng kỷ niệm, những ngày mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi. Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau.
(Khuyết danh)
Chuyện dân gian xưa 2
“Cá gỗ” là câu chuyện anh học trò nghèo Nghệ An, ở nhà đến bữa, cũng chỉ có mo cơm trắng. Khi ra Bắc Hà ứng thí để thành ông Cống, anh ta đẽo gọt một con cá gỗ được sơn phết trông như cá thật. Con cá làm như được “nấu” trong nồi đất, mỗi bữa nhá nhem tối, anh ta bỏ cá vào cái đĩa, rồi sang hàng xóm xin nước mắm, bảo "về kho cá, vì lỡ quên mua nước mắm". Anh ta xin nước mắm để có nước mắm ăn cơm với cá.
Bị người ta phát hiện và trở thành giai thoại.
(Văn Thành)
Don Quixote
Tượng đồng hai thầy trò Don Quijote
và Sancho Panza tại Madrid, Tây Ban Nha
Thật tình Don Quixote không phân biệt được đâu là thực đâu là ảo, mà chỉ đắm chìm trong “thế giới hiệp sĩ” mà mình tưởng tượng ra. Câu chuyện được diễn tiến theo bước chân của chàng, với những chuyện hoang đường phi lý về các hiệp sĩ rất thịnh hành hồi thế kỷ thứ 15.
Đầu óc Don Quixote lúc nào cũng đầy những ý tưởng về sự mê hoặc, đánh nhau, thách đấu, thương vong, oán trách, tình tứ, dằn vặt, những người khổng lồ, những lâu đài tráng lệ, những thiếu nữ bị bắt cóc và các cuộc giải cứu người đẹp hào hùng.
Mọi sự tầm thường trong con mắt mọi người bỗng trở thành “thi vị” với Quixote: mỗi chủ quán là một vị đại thần, mỗi người cưỡi la là một chàng hiệp sĩ, mỗi có gái điếm trở thành công nương và quán trọ là lâu đài tráng lệ…
Vì danh dự bản thân và vì nhiệm vụ đối với dân chúng, Quixote quyết định trở thành hiệp sĩ lang thang, chu du khắp bốn phương trời để cứu khốn phò nguy, diệt trừ yêu quái và những lũ khổng lồ hung bạo, thiết lập trật tự và công lý, thử thách mình bằng các hiểm nguy như trong các truyện kiếm hiệp.
(Nguyễn Ngọc Chính)
Truyện Kiều
Mấy chú ơi, cho Lạc hỏi, trong truyện Kiều có câu:
"Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi."
Thiều Quang là gì, và câu đó có nghĩa là gì vậy?
Cám ơn các chú.
***
Thiều quang là quang cảnh đẹp của mùa xuân hay ánh mặt trời của mùa xuân. Còn có nghĩa mùa xuân một cách chung chung.
Câu trên có nghĩa mùa xuân có 90 ngày thì hôm đó đã là sáu mươi mấy ngày rồi...
Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm
Tôi yêu mến nhà văn Thanh Tịnh. Mỗi lần đạp xe thể dục ngang qua cầu chợ Dinh là tôi nhớ ông, nhớ cái bến đò ngày xưa mẹ ông ngồi bán hàng nước. Đạp xe vô Tây Thượng lại nhớ con đường Thanh Tịnh.
Những bài này tôi đã đăng trên báo Giáo Dục Thời Đại.
***
Giữa mùa Phật Đản tôi bỗng nhớ Thanh Tịnh. Cái bút danh dịu dàng ấy đã nói lên tất cả vì sao mà nhớ?
Thanh Tịnh tên thật là Trần Văn Ninh, sau đổi là Trần Thanh Tịnh. Năm sinh 1911 ( có sách ghi 1913, 1917) tại làng Dương Nổ, Thừa Thiên Huế. Làng Dương Nổ có 7 họ. Trong đó 3 họ lớn nhất là Nguyễn, Trần, Đoàn. Thanh Tịnh gốc họ Trần, nhưng không ở chánh quán. Ông sinh trưởng ở Tây Thượng, một vùng đất cũng thuộc làng Dương Nổ, nhưng nằm trên địa phận xã Phú Thượng. Tương truyền, những ngài khai canh từ Bắc vào, ban đầu định cư ở Tây Thượng. Nơi đây vẫn còn đền thờ. Sau đó họ mới về Dương Nổ thành lập ngôi làng trù phú hiện nay. Thanh Tịnh đã đưa địa danh làng Mỹ Lý (? ) đi vào văn học sử trong truyện “Tôi đi học” ( Tập Quê mẹ), tương tự như Vỹ Dạ nổi tiếng nhờ Hàn Mặc Tử ( Đây thôn Vỹ Dạ ).
Thanh Tịnh được biết khá sớm với tập thơ đầu tay “Hận Chiến Trường”. Truyện ngắn đầu tay của ông là “Cha làm trâu, con làm ngựa” đăng trên Thần kinh tạp chí 1934. Bắt đầu nổi tiếng ở nửa cuối những năm 30 của thế kỷ XX. Từng đoạt giải nhất cuộc thi Thơ do Hà Nội Báo tổ chức năm 1936. Thơ văn của ông đăng trên các báo Phong Hóa, Ngày nay, Tinh Hoa, Tiểu thuyết thứ Năm…Văn nghiệp của ông gồm nhiều mãng như Khảo luận, Văn hóa, 5 tập truyện sáng tác hồi 1936 – 1941, 2 tập thơ, 1 tập truyện xuất bản hồi 1954 – 1980…
Gia cảnh nghèo, ông chỉ học đến bằng thành chung 1933. Rồi làm đủ nghề dạy học, viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo. Do vốn sống rộng, đi nhiều, biết nhiều, nhờ làm nghề đạc điền và nghề hướng dẫn du lịch, ông khẳng định mình bằng các tập truyện ngắn Quê mẹ, Chị và em, Ngậm ngải tìm trầm (1941-1943). Phong trào cách mạng mùa thu năm 1945, Thanh Tịnh tham gia cướp chính quyền ở Huế. Toàn quốc kháng chiến (1946), ông lên đường kháng chiến chống Pháp.
(Nguyễn Thanh Huệ)
Tác giả: Thanh Tịnh (1911-1988), tên thật là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh), là một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ông sinh ngày 12-12-1911 tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế. Thanh Tịnh mất ngày 17- 7-1988 tại Hà Nội. Hiện phần mộ ông đặt tại núi Thiên Thai phía Tây thành phố Huế.
Tác phẩm: Quê mẹ (truyện ngắn, 1941), Ngậm ngải tìm trầm (truyện ngắn, 1943), Thanh Tịnh đời và văn (1996).
Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm
Những năm sống và làm việc ở tạp chí Văn nghệ quân đội, ông sống đạm bạc, lẻ loi, trong khi nhiều người cùng hoàn cảnh tập kết như ông đã “đi bước nữa” . Năm 1975, đất nước thống nhất, ông trở về Huế, gia đình ly tán.
Thanh Tịnh đã sống đến những ngày cuối đời tại mảnh đất thủ đô và mất vào ngày 17/7/1988. Đến năm 1991, ông đã được những anh em đồng đội ở Nhà số 4 đưa về an nghỉ dưới chân núi Thiên Thai, phía tây thành phố Huế.
(Đồng đội đưa di hài Thanh Tịnh từ Hà Nội về quê ông ở Huế)
Ngày 17 tháng 7 năm 1988 ông mất đi, vẫn không gặp mặt vợ con. Mấy năm sau, người con trai biết tin về cha minh trở về tìm… nhưng đã quá muộn.
(Nguyễn Thanh Huệ)
Đừng tưởng
Đừng tưởng cứ uống là say..
Cứ chân là bước cứ tay là sờ
(Bùi Giáng)
Đám ma Lý Toét
Vào khỏang mười giờ đên, Lý Toét qua đời. Đến sáng hôm sau thì khâm liệm xong xuôi, trong nhà đã sẵn sàng cả. Con mèo tam thể đã bị nhốt chặt trong cũi. Mờ mờ sáng, bác Ngọ đã cho khiêng cỗ ván đến, một cỗ ván gỗ dổi, hai đầu có chữ thọ bôi đen. Rồi cả bọn tuần phiên kéo đến. Lúc nhập quan là lúc thê thảm nhất; bà Lý và cô Ba Vành khóc vang, tiếng đập thình thình làm hàng xóm cũng thương xót. Thằng Toe chẳng hiểu gì, thấy người nhớn khóc cũng khóc theo, và xán quanh chỗ bàn thờ.
Suốt ngày tấp nập những người đến viếng. Họ mang theo vàng hương, nến, rượu hay những câu đối bằng vải trắng viết chữ lơ. Họ lễ trước linh sàng, phường kèn cử những bài thê thảm. Bà Lý ở dưới bếp vội chạy lên đáp lễ, khóc hu hu kêu ông Lý. Lễ xong, bà lấy vạt áo chùi mắt rồi chạy xuống bếp sửa sang mâm cơm rượu đãi người đến giúp.
Họ sang giường bên nói chuyện với Xã Xệ ngồi chĩnh chện, đầu quấn khăn và cái tóc vẫn lắc lư. Bây giờ Lý Toét chết, ai cũng thương xót. Họ nhắc lại khi sinh thời, ông đã hết lòng với hàng xóm. Họ khen ông tinh nhanh, thông minh, lanh lợi, thôi thì đủ các đức tính. Xã Xệ kể lại hàng trăm lần bệnh tình ông Lý, lúc nguy kịch, khi lâm chung.
Sáng hôm sau đưa đám, trời lại mưa. Người ta nói trời mưa là vì cô Ba Vành, lúc rửa ráy cho ông Lý lần cuối cùng xong, không sẽ đổ úp chậu nước xuống gậm giường, mà lại đem hắt tung tóe ra sân. Trong xóm đủ các người tai mặt đến đưa ông Lý ra đồng. Trẻ con theo cũng đông. Đám ma chẳng có gì lạ, đại khái như mọi đám ma ở nhà quê. Linh xa, bộ đòn sơn son có nhà táng sặc sỡ, và ít câu đối, một phường kèn. Đằng sau bộ đòn có treo lủng lẳng một cái gậy, biểu hiện một người con trai vắng mặt: thằng đi Tân Thế Giới. Cô Ba Vành lăn đường lấm như vùi.
Lúc hạ huyệt, không có điếu văn, không có hoa. Họ lấp đất cho nhanh, đốt nhà táng cho chóng, vì trời mưa nặng hạt. Bà Lý, cô Ba Vành kể lể, khóc bù lu bù loa. Mấy viên hương chức che ô đứng ở bờ ruộng, đứng đắn và trầm ngâm. Thằng Toe, không ai để ý đến, đã chạy ra chỗ đốt nhà táng nhặt mặt kính. Bọn đô tùy hắt từng xẻng đất xuống huyệt, chẳng mấy lúc đã đầy. Họ vội vàng, vì về còn rửa chân tay để đi uống rượu.
(Đỗ Đức Thu)
Tác giả: Đỗ Đức Thu sinh ngày 28-12-1909 tại Thái Bình, nguyên quán quê ông ở làng Mọc, huyện Thanh Trì, Hà Đông. Thuở nhỏ, ông học ở Thái Bình, ở Hà Nội, rồi bỏ học sau lần bãi khóa để tang chí sĩ Phan Châu Trinh. Từ đó, ông viết văn. Ông gia nhập nhóm Tự lực văn đoàn năm 1936, sau lần truyện ngắn của ông được tặng giải khuyến khích của văn đoàn này và viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo Ngày Nay.. Sau 1954, ông vào Sài Gòn. Ông mất ngày 5-3-1979 tại Tân Định, Sài Gòn, thọ 70 tuổi.
Tác phẩm: Vỡ lòng (tiểu thuyết) NXB Đời Nay, Hà Nội 1940, Nhà bên kia (tập truyện ngắn) NXB Công Lực, Hà Nội, 1943, Đứa con tạp chí Thanh Nghị 1943
Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ
Sầu đông chẳng phải của riêng
Bóng chiều tà nhạt, Phố đêm hững hờ
Đò chiều chở mấy lá thơ
Nửa đêm ngoài phố nhuốm màu thê lương
(Sưu tầm từ VMQH)
Phở Dậu
Biết được phần nào tin tức về bà Uy ở hải ngoại, tôi bỗng thấy thương bà. Qua đồng đất nước người, tuổi đã cứng, bà truyền nghề cho con cháu. Nhưng trong một khung cảnh khác, một thời đại khác, phở phải theo thời. Thêm rau thêm giá, thêm tương đen tương đỏ, phở Dậu đã mất gốc. Cũng trong bài viết Hà Đình Huy, ông kể một chi tiết đau lòng khi ông chủ tiệm Dũng tâm sự với ông: “Về nghề nghiệp, tôi rất buồn nếu như người khách nào vào tiệm phở của tôi cũng nêm đầy tương và ném đủ thứ rau vào tô phở rồi mới bắt đầu ăn. Lúc ấy, họ đã “giết chết” tô phở của tôi!”.
Tô phở Dậu đã bị “giết chết” vì hoàn cảnh. Cũng vì hoàn cảnh, quán phở Dậu cũ ở Sài Gòn, nay do ông Bình, con trai của bà Dậu chính tông, người khai sanh ra phở Dậu, cũng đã chuyển mình xa cách với phở Dậu xưa. Còn đâu “phở Dậu của chúng tôi” khi đi lối nào cũng chui vào góc kẹt, tôi chẳng tìm đâu ra quán phở tuyệch toạc thân tình ngày xưa. Dù sao chúng tôi cũng đã có một thời tình nghĩa giữa những người trước lạ sau quen. Cứ kể là một may mắn. May mắn hơn nửa thế kỷ sau, chúng tôi vẫn còn rơi rớt lại trên cõi đời này để nhớ về một nơi rất thân và rất xưa. Nói như nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, “ở một nơi ai cũng quen nhau”
(Song Thao)
Bát phở không người lái
(Kỷ niệm về thời bao cấp)
Tôi đã hiểu cái nháy mắt kín đáo lúc nãy của chị. Cảm động đến đờ người, tôi lặng lẽ quay đầu quan sát xung quanh.. Lác đác mấy người nông dân áo bạc, cả đám bạn tôi, ai nấy cũng đều đang cúi đầu sì soạp trước những bát phở không người lái của mình. Không một ai biết cái kết tuyệt vời trong bát phở của tôi, đang hiện hữu ngay trước mặt tôi… Ôi miếng thịt dấu dưới đáy bát phở không người lái…
Về sau này mỗi khi tập tọe viết truyện ngắn, tôi đều nhủ rằng cố viết sao cho có một cát kết... có hậu. Cũng như bát phở không người lái kia, dù phía trên chỉ toàn nước với bánh, thì cũng nên cố dấu ở dưới đáy, dẫu chỉ là một mẩu thịt...
(Phạm Lưu Vũ)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
"Người ta nói sáu mươi tuổi thì tính năm, bẩy mươi tính tháng, tám mươi tính ngày... "
(Nhà văn Nguyễn Khải)
Lệ Thu, chim oanh về cõi thiên thu
Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Về bản thân, Lệ Thu chia sẻ:
“Trước năm 1945, bố làm một chức quan nhỏ ở Hải Phòng. Mẹ là vợ lẽ, sống dưới quyền của bà vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Bà bắt mẹ cô làm đủ thứ việc. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng như đổ lửa, phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa cho đến khi trời xế bóng. Rồi đủ thứ việc, chả bao giờ được nghỉ tay.
Mẹ cô sinh tám người con, cứ đến 3 tuổi thì mất, duy nhất có cô còn sống. Năm 1953, khi mẹ cô vào Sài Gòn, bố cô không đi vì tiếc của cải.
Năm 1954, một ngày nọ tôi đi học về, mẹ cô gọi vào và chỉ nói một câu ngắn gọn: “Thầy con mất rồi!”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó cô không hay tin tức gì ngoài đó nữa. Hai mẹ con tôi sống ở chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng”.
Vì là đứa con gái duy nhất nên được nuông chiều, cũng thích chơi các trò chơi của nam sinh, đánh đáo, u mọi… Theo Lệ Thu “Tôi nhớ lúc 14 tuổi, đã có ngực, mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực…” như con trai.
Lệ Thu học đàn piano từ nhỏ, khi vào Sài Gòn học đàn guitar và hát với vị thầy cận nhà và được nhạc sĩ Đức Quỳnh chỉ dẫn thêm về ca nhạc. Theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers. Vào đầu thập niên 50, trường Les Lauriers ở Tân Định, giảng dạy chương trình Pháp Việt song song với nhau. Năm 1959, trường dời về đường Đinh Công Tráng, đổi tên là trường Tân Thịnh. Nhạc sĩ Lam Phương đã học ngôi trường nầy. Sau năm 1975 đổi tên trường Đuốc Sống.
(Vương Trùng Dương)
Đạo
Chở bao nhiêu đạo thuyền không thẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Chữ nghĩa làng văn
Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.
Minh Thùy: Theo Minh Thùy được biết trước đây chị được xem là nhà văn ngổ ngáo nhất trong số các nhà văn nữ thì lý do tại sao, và tên gọi có đúng với phong cách viết văn của chị không?
Trần Thị NgH.: Ngổ ngáo là chữ của người khác đặt cho người viết, còn người viết trong người như thế nào cứ… xịt ra như thế ấy, chả biết có phải là ngổ ngáo không, nhưng mà không thích điệu, thích cắt tóc tém, đi nhanh, ăn mặc gọn; trong văn chương thì không thích uốn éo, không tráng men, chắc vì vậy nên được coi là ngổ ngáo.
Năm 1997, một người bạn về Việt Nam thăm nhà – anh Phạm Việt Cường, làm biên tập trong báo Hợp Lưu cùng với anh Khánh Trường, do có sẵn vài truyện ngắn nên tôi để anh mang đi.
Thế là sau 22 năm truyện của tôi xuất hiện lại trên Hợp Lưu.
Tiệm nước
(Viễn Lạc, Phan Đình Phùng, Cần Thơ)
Bảng hiệu của người Tàu thì nghiêm chỉnh hơn. Thường có chữ Ký hay chữ Lạc. Chữ Việt lớn bên trên, còn chữ Hoa nhỏ hơn bên dưới sơn chữ đỏ, màu hên. trên nền vàng cũng hên.
‘Ký’ là ghi nhớ. Ghi nhớ cái gì? Ghi nhớ đồ ăn, thức uống của bổn tiệm ngon lành nên ghé vô mà hẩu xực nhe! ‘Lạc’ là chỗ mọi người vui vẻ dừng chân tụ tập, chủ tiệm mong tạo ra một không gian dễ chịu cho khách hàng. Trước chữ Ký, chữ Lạc, là tên của ông chủ. Ở Cần Thơ có Hoạt Ký là tiệm của chú Hoạt và Viễn Lạc (nơi dừng chân gặp chú Viễn) ở đường giữa, Phan Ðình Phùng.
Tiệm nhỏ thì ông chủ làm tổng khậu (đầu bếp) nấu mì, hủ tiếu. Thím Xẩm, vợ chú Ba; bữa thì Á Xẩm, con gái chú Ba thâu tiền. Em trai chú Ba pha cà phê kiêm thêm rửa ly, tô, dĩa muỗng. Thằng Từng (con trai chú Ba) phổ ky chạy bàn. Mở một tiệm nước, cả nhà chú Ba không ai bị thất nghiệp. Là nơi bán thức ăn điểm tâm bình dân nên tiệm nước mở cửa từ 4, 5 giờ sáng, đèn đuốc đã sáng choang.
(Đoàn Xuân Thu)
***
Phụ đính
Vợ nhà văn
Nhà văn Thanh Tịnh
Thanh Tịnh ở ngoài Bắc, không lấy vợ. Ông vẫn chung thuỷ với bà di cư trong Nam năm 54. Sau 1975, ông vào Nam, bà đã lấy chồng khác, con ông thì đi ngụy quân, cũng không tha thiết gì với ông cả. Ông lại quay trở về Hà Nội, sống độc thân ở số 4 Lý Nam Đế như cũ. Ông có câu thơ cám cảnh thân phận của mình:
Ra đi mấy chục năm trường,
Ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân
Cuộc đời buồn thế mà ông hay nói chuyện vui, nói đùa. Có lẽ chính vì đời buồn quá nên ông phải cố cười cho quên đi.
Ông đùa ngay với nỗi đau của mình. Khi về quê, người ta bảo ông về làng mà ở.
Ôngnói: “Bây giờ nhà thờ tổ không còn, nhà ở cũng không, “nhà tôi” cũng không, đã thành “nhà” người ta mất rồi!”
Ông đọc cho tôi nghe một vế câu đối, không biết do ông đặt ra hay người ta thách ông. Vế câu đối chưa có ai đối lại: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo
nhà thơ, cả bốn nhà đều không nhà ở
Thanh Tịnh đúng là làm bốn “nhà” ấy mà không có nhà cửa gì.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Chữ nghĩa làng văn
Từ nguyên mẫu đến nhân vật truyện của Nam Cao
Chí Phèo không phải là người cùng thời với Nam Cao. Đó là một nhân vật truyền thuyết của làng. Ngày xưa có một anh Chí Phèo, làm nghề mổ lợn, giỏi bắt phèo nên người ta gọi là Chí Phèo. Anh ta thường uống rượu say, đi trên đường làng, chửi trời chửi đất lung tung. Vậy là nhân vật Chí Phèo hư cấu.
Còn Thị Nở có người nói có, có người nói không.
Cô Hồng, con Nam Cao, thì nói dứt khoát: “Ông ấy bịa”.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)