26 thg 7, 2026

Trang Thơ Trần Phong Vũ - SPSaigon :MỘNG...ĐÀO HOA

 


MỘNG...ĐÀO HOA

em ạ chúng mình rồi có lẻ
chẳng thể bao giờ gặp lại nhau
anh biết em không còn trẻ nữa
mà anh thì bạc trắng mái đầu
.....
đâu chỉ đàn ông là háo sắc
nữ nhân ai cũng quý hồng nhan
dẫu là ta có già đi thật
vẫn đẹp đôi như lão tình nhân
ta sẽ gọi em là quý phi
giống như lúc trẻ tuổi xuân thì
còn em cứ réo tên hoàng thượng
ai có trêu ta cứ cười khì
đời chẳng cho ta được đẹp đôi
thì ta... ta cứ ước mơ thôi
cung điện nhà ta đầy mỹ phẩm
Để chị và em ... tô lại mắt môi
ta có bên người hai ái khanh
giang sơn dù khói lửa tanh bành
mặc kẻ tranh ngôi và đọat chúa
ta ngự lầu cao yêu mỹ nhân
ta vẽ lông mày cho hoàng hậu
còn em tô thắm nét son mơ
cung điện nhà ta không tì nữ
ba đứa mình cùng một lầu thơ
ta sẽ dưới trăng ngồi mài mực
hai em dâng rượu ấm hồn thơ
tài hoa nàng vẽ câu lục bát
điệu vũ trầm luân rung tiếng tơ
ta dọn vườn hoa thay ngự uyển
nuôi ong thả bướm để vờn hoa
rồi gieo tiếng địch thu hồn phách
gom gió lùa mây tận núi xa
ta mắc võng tình trên nhánh cây
hai muội nằm lên ta ru đây
ru cho năm tháng cùng nhan sắc
về ở cùng ta giây

phút này
ta đào ao nhỏ thổi nên hồ
thả khói và sương bay lửng lơ
dăm đóa sen hồng thêm hương sắc
các muội và ta đi hái hoa
sẽ sinh cho đời một đống con
toàn là ngọc nữ với tiên đồng
đào tiên không có ta trồng mận
cóc, ổi, khế vàng hay cả sung
cả nhà ta là một hoàng cung
chẳng gác son lầu tía hay thành đồng
chẳng có hào sâu hay đồn lũy
rủ bè bạn chơi đến thật đông
cả một trời thơ cùng bằng hữu
cả một trời yêu với mỹ nhân
cả một dinh cơ đầy mỹ tữu
và cả đời ta say ái ân
...
ta thả hồn mình trong giấc mơ
nào hay nhân ảnh khói sương mờ
quên mất nghìn trùng xa diệu vợi
quên biển đời ta muôn sóng xô
chẳng thể bao giờ gặp lại nhau
cuối đời anh vẫn tương tư sầu
thì thôi đành gửi bao mơ ước
vào mấy vần thơ chưa dứt câu
TRẦN PHONG VŨ


' ÁO LỤA HOÀNG HÔN ' - Thơ Nguyễn Thị Châu


 ÁO LỤA HOÀNG HÔN

🌷🌷
Áo lụa bên anh những chiều tà
Hoàng hôn in bóng lối đi qua
Cho nhau hơi ấm chân trời tím
Sợi nắng còn vươn trên mái nhà
Ta hứa cùng nhau đi hết đời
Con đường hạnh phúc của lứa đôi
Dù cho sóng gió bao cay đắng
Ta vẫn bên nhau suốt cuộc đời
Lời hứa hôm nào vẫn còn đây
Dư âm ngày cũ qua tháng ngày
Chiến tranh cướp mất đời anh đó
Áo lụa chờ anh đã nát nhàu
Hoàng hôn còn lại chỉ mình tôi
Mây tím chờ ai?Ở cuối trời
Sợi nắng không còn vươn mái tóc
Bây giờ hai đứa ở hai nơi
Nhớ nhau giây phút trên trang giấy
Nhạt nhoà nét chữ viết không ngay
Vần thơ kỷ niệm cho anh đó
Áo lụa giờ đây xếp lại rồi…!!!
22-7-2026

TIẾU LÂM LIÊN XÔ

 TIẾU LÂM LIÊN XÔ

Cái ngày Lenin chết, một người thấy dân chúng khóc lóc quá trời buột miệng nói:
- Giá ông ấy đừng chết mà tư tưởng của ông ấy chết thì dân đỡ khổ!
Thế là anh ta bị bắt đi tù.
Mấy năm sau được thả, vừa về tới Moskva thì Stalin chết. Thấy đám ma quá to, anh này lại buột miệng:
- Tốn từng này tiền thì làm đám ma được cho cả thành phố!
Nói xong anh này lại bị tù. Mấy năm sau được thả.
Lần này anh quyết tâm giữ mồm giữ miệng.
Khruschev lên thay Stalin, anh mua ngay ảnh về treo. Breghnev lên thay Khruschev, anh lại đi mua ảnh Breghnev về treo, cạnh ảnh Khruschev.
Công an khu vực tới nhìn vào ảnh Khruschev, bảo:
- Gỡ ngay ảnh con lợn này xuống.
Anh này ú ở hỏi:
- Con lợn này hay con lợn này?
Thế là anh lại bị đi tù.
Chu Vĩnh Hải

24 thg 7, 2026

Hai Nấm Mồ - Thuyên Huy




Rồi anh cũng về, làng nghèo vẫn nghèo như ngày đó, ruộng mùa này đồng hoang trơ trơ gốc rạ. Đứng trước mồ, nhìn ra con đường đất màu bùn, còn in dấu chân trâu loang lở, đã có chút nắng bên kia sông, con sông chưa một lần mưa cuồng sóng lũ, rựng lên, nhưng sương tàn đêm chưa chịu tan vội, trời vẫn còn mù mờ, chập chờn sáng, lác đác mấy cái nhà mái tranh mái lá trên đồng, đèn dầu chưa tắt, vẫn cảnh cũ như xưa.

Hàng Sim dọc theo đường, chạy dài bên bờ đê ruộng mùa này hoa nở muộn, muộn như ngày chị của anh, cũng con đường này ra bến đò theo chồng về làm dâu xứ xa, bỏ lại anh với ngoại, hôm tiễn chị đi, chị vui hay không thì anh không biết nhưng chị cũng như ngoại đều khóc.

*
Nhà nghèo, gạo đong gạo đếm, ba má mất sớm, tai sao và mất bao giờ, hai chị em không nhớ rõ, ngoại cũng không nhắc tới, hai chị em sống với ngoại, miếng cơm miếng cháo bằng số tiền phụ ngoại bắt ốc hái rau, bưng bán ngoài chợ xã, ba bà cháu chắt chiu bên nhau, trong cái nhà mái tranh vách đất trên miếng đất gò cuối ấp trong, ngó ra cái vàm lớn xa. Vậy đó, ngoại cũng ráng dẩn hai chị em đi học trường làng, trên con đường đất xa, cách nhà chừng nửa tiếng đi bộ, ba bà cháu vui với phận mình, chị em lớn lên từ những ngày tháng cơm đong gạo đếm đó.

*
Anh lớn lên rồi cũng như chị, bỏ ngoại đi, lây lất đời tha hương xứ người vì trót mang nợ đời cơm áo, ngoại ở lại một mình, bóng già thui thủi, mắt già trông mong, từ ngày theo chồng, không biết chị có vui không, có “chiều chiều ra đứng ngõ sau, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” không, anh không biết, ngoại cũng như anh, chị ít khi về, dong ruỗi mọi nẻo đường đời anh cũng chưa có lần nào tới xứ xa thăm chị, anh có về nhà đôi ba lần rồi thôi, người trong ấp, trong làng, xầm xì chê trách, cho là hai chị em không tròn hiếu đạo.

*
Ngoại mất hôm anh về, sau Tết năm nào đó, lần này anh ở lại với ngoại cũng lâu hơn, hai bà cháu hủ hỉ, chuyện này chuyện kia, chuyện đời chuyện cơm áo công hầu, cũng cơm cá rô kho mặn, rau mùng tơi luộc như những ngày xưa còn nhỏ, ngoại vui không biết làm sao mà nói, vậy mà ngoại mất, tuổi già bình thản, sau một đêm mưa lất phất về ngang từ ngoài Vàm lớn, anh khóc sướt mướt, buổi sáng hôm đó trời âm mu chắc cũng buồn cho kiếp người của ngoại.

Đám tang ngoại, chị không về, mồ ngoại chôn ở gò đất cao khoảnh vườn chuối, không xa con rạch nhỏ chạy ra vàm lớn, căn nhà trống trơn, đám tang không mấy ai, năm sáu người nhà kế bên, cũng nghèo như ngoại, nói kế bên, nhưng cách nhau một cũng khoảng vài bờ đê ruộng, những gì của ngoại, mà ngoại có gì đâu, mấy bộ quần áo bạc màu nâu, cái lược cũ mèm ngoại chảy tóc già bạc như sương, hai ba cái khăn rằn thưa chấp vá, vậy thôi, anh đã không quên gởi chôn theo, trong đó có cuốn tập, năm anh học lớp nhất trường làng, được cô giáo cho bài viết “tả ngoại em” của anh mười điểm, để ngoại vui dưới đó. Ngoại ở lại, nằm đó một mình.

*
Kiếp đời cứ theo mình, sau mâm cơm cúng, anh lạy ngoại, anh lại ra đi, đi miệt mài, đi biền biệt, anh không biết chị có về lại nhà xưa đó lần nào không. Cũng còn may, còn được người thương tình, anh gởi lại nhà, cái nhà cột xiêu vách ngã, không ai thèm ngó tới, và hết một số tiền dư trong những tháng năm tha phương kiếm được, cho gia đình chú thiếm Dần, hai vợ chồng làm ruộng quanh năm, căn nhà tranh gần nhất, trông nom và lo săn sóc nhang đèn giùm, anh nhất định sẽ về nhưng không dám chắc là khi nào.

*
Bây giờ, bốn năm năm về lại nhà xưa, gò đất cao sau nhà giờ có thêm cái mồ nằm bên cạnh mồ ngoại, mộ chị đó, rồi cuối cùng thì chị cũng về, không biết chị về bao lâu rồi, tại sao chị về, dù cho thế nào đi nửa thì chị cũng đã hết đi.

*
Anh quàng túi xách vải bạc màu lên vai, trời sáng hẳn từ lâu, phía bến đò cuối đường đã có tiếng người gọi nhau ơi ới, đứng chấp tay lạy tạ mấy lần trước mồ ngoại và chị, thêm một lần anh bỏ ngoại đi và lần này chị ở lại.

Bước ra đường, anh bật khóc.

Thuyên Huy

Viết lại từ một câu chuyện cũ thật cũ – thu 2026

Posted by 304Denat 7:44 PM


Mơi Xem :


Chữ Nghĩa Giết Người - Vũ Thế Thành

Chữ nghĩa Giết Người

Đầu đời Thanh, vào thế kỷ 17 có vụ án văn tự khét tiếng. Câu chuyện như sau:

Vũ Thế Thành




Trang Đình Long mua lại bản thảo lịch sử về triều đại nhà Minh. Tác giả từng là quan dưới triều Minh. Khi Long mua bản thảo thì sách vẫn chưa hoàn thành, nên họ Trang thuê nhiều danh sĩ bổ túc thêm, cho đến vị vua cuối cùng nhà Minh. Khi hoàn thành thì Trang Đình Long mất. Gia đình tiếp tục cho khắc in và phát hành, như một chút lòng nhớ về triều đại Minh vừa tiêu vong.

Bộ Minh sử này viết từ cuối đời Minh, và bổ sung vào đầu đời Thanh nên “quen miệng” sử dụng một số từ “tế nhị” như gọi người Mãn Châu là Kiến Di (rợ Kiến Châu), gọi tướng nhà Minh hàng Thanh là bọn phản nghịch. Viên quan huyện Ngô Chí Vinh bèn đem kẽ hở này tống tiền nhà họ Trang. Chuyện không thành, Ngô tố giác về kinh. Vụ án đến tai phụ chính Ngao Bái. Ông này hạ lệnh triệt hạ tận gốc để răn đe giới nho sĩ người Hán.

Hệ quả là gia đình họ Trang bị lăng trì, nhưng người liên quan đến viết bổ sung, hiệu đính, biên tập, thợ khắc chữ, người in ấn, phát hành,.. đều bị chém đầu. Tổng cộng hơn 70 người bị xử tử. Trong chương mở đầu của Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã tái hiện lại thảm án văn tự này, gần khớp với lịch sử. Dĩ nhiên cũng có một chút hư cấu.

Còn ở ta có vụ án văn tự nào không? Có chứ. Đó là vụ án bắt nguồn từ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thành, là bậc khai quốc công thành thời Vua Gia Long.

Thuyên là nho sĩ, tính tình phóng khoáng, thích giao du với các danh sĩ. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa có hai sĩ phu nổi tiếng hay chữ, bèn làm bài thơ, nhờ gửi cho hai danh sĩ này để kết giao. Bài thơ chưa tới tay người nhận thì đã lọt vào tay của kẻ hiềm thù với Nguyễn Văn Thành (khi đó đang là Tổng trấn Bắc thành). Thuyên bị bắt và bị xử chém. Nguyễn Văn Thành bị vua Gia Long đối xử lạnh nhạt, không cho vào chầu. Hiểu ý vua, Nguyễn Văn Thành tự vẫn.

Bài thơ của Thuyên viết gì lại vướng vào vụ án văn tự? Họa sát thân nằm ở hai câu thơ cuối:

“Thử hồi nhược đắc sơn trung tế, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

(Lần này nếu gặp được tể tướng chốn núi rừng, sẽ giúp ta trổ tài kinh luân xoay chuyển cơ trời).

Chẳng ai lạ gì mấy ông thi sĩ đời xưa làm thơ là bốc mọi thứ lên trời, dời non lắp biển, xoay chuyển Trời đất là chuyện bình thường. Nhưng “quan xử án” đã suy diễn (chủ quan), đây là ý đồ mưu phản mới đòi xoay chuyển cơ Trời.

Số của bậc khai quốc công thần, Nguyễn Văn Thành phải chết trước vua. Bài thơ chỉ là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân xa thì ai chịu đợc lịch sử cũng biết.

Đó là hai vụ án văn tự tạm gọi là tiêu biểu từ Tàu sang ta. Thế ở ta còn án văn tự nào nữa không? Còn nhiều lắm chứ.

Mà thôi không nói nữa. Chữ nghĩa nuôi người, cũng có thể giết người.

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc

23 thg 7, 2026

ÁNH TRĂNG NGÀY XA XƯA ẤY - Pham văn Bắc - SPSaigon

 

ÁNH TRĂNG NGÀY XA XƯA ẤY
Năm học 1980-1981, mình đến dạy học tại trường A Đức Hạnh, thị trấn Võ Đắt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Cái nhìn đầu tiên đó là một ngôi trường khang trang, rộng rãi, rợp bóng cây xanh, khác hẳn ngôi trường tranh tre đơn sơ ở Huy Khiêm mà mình vừa từ đó đến.
Khung cảnh sân trường A Đức Hạnh vào những đêm trăng thật yên bình và thơ mộng. Không gian thoáng đãng, hương đêm quyện vào ánh trăng, tràn ngập khắp nơi, len lỏi vào tận nơi sâu thẳm của những tâm hồn cô quạnh. Từng làn gió nhẹ lướt qua những tán cây làm cành lá lao xao, lòng người cũng nao nao lay động. Những đêm đó mình thường đem cây đàn guitar ra cột cờ giữa sân ngồi một mình thả hồn vào những bản nhạc trữ tình. Những lúc như vậy mình lại nhớ đến những đêm trăng ở Huy Khiêm trước đó. Huy Khiêm cách A Đức Hạnh gần 50km đường bộ, là một xã vùng rừng núi hoang vu giáp với tỉnh Lâm Đồng.
Những đêm trăng ở Huy Khiêm rất vắng lặng, cảnh vật đẹp mê hồn như đang ở trong cõi mơ hồ nào đấy. Lòng người lâng lâng trước vẻ huyền ảo, quyến rũ của thiên nhiên, của trời đất. Những đêm trời trong, ánh trăng vằng vặc phủ vàng núi rừng, thấm sâu vào hồn người lữ thứ. Những đêm mây mờ, ánh trăng bàng bạc, thế gian chìm ngập trong một cảm giác u hoài lặng lẽ. Những đêm trăng ngày đó, mình thường cùng với một người bạn đi bộ ngắm cảnh trăng rừng, đến cầu Tàpao cách trường gần 4km rồi quay trở về thì trời đã khuya. Càng về khuya, ánh trăng làm lòng người càng thêm say đắm.
Ánh trăng thơ mộng của những ngày xa xưa đó bây giờ chỉ còn lại trong ký ức xa xôi.
PVB