11 thg 6, 2026

NGHE MƯA NƠI NÀY LẠI NHỚ MƯA XA...Phạm Văn Bắc -SPSagon

 

NGHE MƯA NƠI NÀY LẠI NHỚ MƯA XA...
Saigon đã vào mùa mưa với những cơn mưa bất chợt như trong một bài hát có câu : "nhớ Saigon mưa rồi chợt nắng". Những cơn mưa đó làm lòng người thành phố cũng chợt vui chợt buồn, chợt nhớ về những cơn mưa dĩ vãng.
Ngày xưa, mỗi khi trời mưa, trẻ con thường háo hức tắm mưa. Từng bọn trai gái vô tư trần truồng chạy long nhong dưới mưa, la hét cười đùa khắp xóm đến khi lạnh tím môi mới chịu về. Lớn lên một chút thì có những trò như thả thuyền giấy, đắp cát chặn dòng nước trên đường, đạp xe dưới mưa… Thời gian cứ qua đi theo những mùa mưa cho đến một chiều nào ngồi bên cửa sổ, nhìn những giọt mưa rơi bên ngoài mà suy nghĩ vẩn vơ. Có những đêm chợt thức giấc nghe tiếng mưa rơi mà lòng bâng khuâng xen lẫn một cảm xúc mơ hồ khó tả. Rồi những mùa mưa đến cùng mùa hoa phượng vĩ, mùa chia tay đầy lưu luyến của tuổi học trò. Bao nhiêu lớp bạn bè đã chia xa và những mối tình thơ cùng với cánh phượng hồng đã theo mưa trôi vào dĩ vãng. Ngày ra trường Sư phạm, bạn bè ngậm ngùi chia tay nhau giữa cơn mưa tầm tã. Những cái xiết tay, những vòng tay ôm, đầu gục vào vai nhau. Những giọt nước mắt hòa lẫn nước mưa bên hành lang trường, bên tai văng vẳng câu hát của một anh bạn đồng môn cùng khóa sáng tác : "từ độ mùa mưa sang, hai đứa cùng ra đi, anh về bờ sông Bé, nhớ em Cửu Long Giang".
Rồi khi ra trường về huyện miền núi Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, những cơn mưa ở đây cũng gieo vào lòng người nhiều cảm xúc khác nhau. Đầu tiên là những cơn mưa ở Gia An, thật khác những cơn mưa thành phố vì ở đây ta có thể nhìn và nghe thấy những cơn mưa từ xa mưa đến. Mưa mịt mờ trên đỉnh núi Cà Toong đơn độc, mưa mênh mang trên dòng sông La Ngà lặng lẽ, mưa âm thầm trong bóng chiều nhạt nhòa phía tây sau trường thôn 2, và nhiều đêm, mưa vỗ về lòng người trai trẻ khi vừa đến vùng đất vừa lạ lẫm, vừa thân thương này. Rồi tiếp đến là những cơn mưa rừng rả rích ở Tà Pao, Huy Khiêm. Những cơn mưa ở đây thật buồn vì cảnh núi rừng hoang vu vắng vẻ. Có những đêm nằm nghe tiếng mưa từ trên dãy núi phía sau trường vọng về mà nghe lòng khắc khoải, tái tê. Và nhớ nhất là những buổi chiều mưa dầm ngồi trong căn nhà tranh tre trống trải, lạnh lẽo, ôm cây đàn guitar chơi những bản nhạc mưa mà lòng buồn miên man, da diết. Rồi tiếp theo là những cơn mưa ở Võ Đắt, những cơn mưa mang những nét riêng của một thị trấn đất đỏ vùng cao. Mưa rải trên những con đường đất thẳng tắp, vắng vẻ và những căn nhà im lìm, khuất sau những vườn cây um tùm hai bên đường, mưa trên phố chợ đìu hiu, mưa trên ngôi thánh đường trầm mặc cũ kỹ, mưa làm cho đất giữ chặt chân người vào sân trường. Những cơn mưa ở đây không thanh bình hiền hòa như ở Gia An, không não nề như ở Tà Pao, Huy Khiêm, mà nó đem đến cho tâm hồn một nỗi buồn đã chín khi lòng đang mang nhiều nỗi vấn vương.
Từ giã Đức Linh về lại Saigon đã hơn 40 năm, trải qua bao mùa mưa tại thành phố này, nhưng sao chiều nay có điều gì đó khác lạ. Ngoài trời đang mưa, lòng tự hỏi lòng rằng trong cơn mưa ngoài kia, có hạt mưa nào là của cơn mưa hôm ấy?...
Trời còn làm mưa mãi, cho nhớ thương dâng đầy vơi...
(Hình st trên internet)

Món Quà Buồn Trước Mộ - Thuyên Huy

 

 Món Quà Buồn Trước Mộ



Anh ngồi đó, giữa trời, nắng cuối hạ chang chang đổ, cái nghĩa địa cuối làng khô cằn, nứt nẻ. Mấy cây Sao già cao trụi lá, cành nhánh khẳng khiu, vẫn còn cố đứng dưới trời nhưng chẳng cho người một chút gì gọi là bóng mát. Con quạ đen, tự lúc nào, đậu trên đầu ngọn một cây cao nhất nhìn xuống anh, kêu từng tiếng kêu kéo dài, rời rã, buồn nảo nuột. Anh lặng thinh ngồi giữa hai nấm mộ, khói nhang quyện lờ mờ màu khói bếp chiều quê, anh cố dằn không khóc, vì hôm nay là một ngày vui mà ba má, đã mong đã chờ, cơm vắt cơm nấm cho anh từ những ngày còn sống.
*

Ba mất sớm vì một tai nạn ngoài đồng, lúc anh còn quá nhỏ, nghe má nói lại khi anh vừa vào lớp năm trường làng, ba cuốc đất bùn, đấp chận nước ở khúc cuối gò thấp trũng, ông cuốc nhầm trúng ngay ổ rắn độc, bị cắn, bắp chuối ra máu nhiều quá, ba cổi áo cột chặt, ráng đạp xe về, bà con trong xóm, người đở người ôm, phụ má, nhờ xe lôi máy chú tám quen nhà bên, chở ba ra trạm y tế xã, nhưng không kịp cứu, má đem ba chôn ở nghĩa địa làng, khu đất nằm chơ vơ ven bờ ruộng, ngó ra cái truông nứa chằng chịt. Không biết gì hơn, má ở vậy, một thân một mình nghèo xơ nghèo xác, lầm lũi chắt chiu, làm công lựa thóc lựa gạo cho một nhà máy xay lúa trong xã. Nhà tranh, vách đất, cột ngã cột xiêu, mái lành mái rách, má con cứ vậy chấp vá mà sống mà vui với phận người trời đã định.
*

Rồi ngày cũng qua ngày anh lớn lên, với hơi ấm áo bà ba sờn vai bạc màu bùn của má, tay dắt tay mang má dẫn anh tới trường tiểu học xã, rồi trường trung học quận, từ đó cũng cơm chiều cá kho khô, rau mồng tơi luộc, nhưng má vui không biết làm sao mà nói, không nói ra nhưng chắc má mơ sẽ có một ngày, cây đèn dầu cũng vui lây, được ngồi bên anh lâu hơn hơn trước, nhắc lại niềm mơ ước mà ba má ấp ủ trong lòng, ngày nào đó sẽ nhìn được anh “công thành danh toại”.
*

Vậy đó, má lại theo ba, bỏ anh ở lại, vừa qua ngày đưa ông Táo về trời, ngấp nghé tới Tết, năm anh học đệ Nhị, chuẩn bị mùa thi, chưa kịp nghe tiếng trống đình, chưa kịp nhìn gốc Mai già, sát hàng rào nhà chú tám xe lôi máy, trổ nụ đầu xuân, má mất vì cơn bạo bệnh, phổi đã nám nhiều cộng thêm sức người cứ lao tâm lao lực, sáng đội nắng chiều dầm mưa, cũng chú tám, cũng mấy người hàng xóm tốt bụng, cũng như ngày đó với ba, họ đưa má ra bệnh viện quận rồi bệnh viện tỉnh nhưng cũnh đành theo số mạng, ngồi bên giường bệnh, dưới ánh đèn vàng vỏ, lạnh lùng ma quái, anh khóc như mưa, khóc mà không nói được tiếng nào. Bà con đưa má về chôn bên cạnh ba, trong cái nghĩa địa làng nghèo vẫn nghèo như từ đó tới giờ.
*

Từ đó, anh ở lại một mình, thui thủi một mình với cây đèn dầu khi mờ khi tỏ, với cái bàn thờ ba má giữa nhà, có những đêm ngồi học bài, buồn khóc rấm rứt, nói chuyện mình, chuyện bây giờ với ba má cũng tạm nguôi ngoai, may mà biết nấu cơm nấu nước nên không lo chuyện ăn chuyện uống, vợ chú tám nhà bên thấy thương nên thường thường chạy qua, đem cho tô cá kho, tô thịt ram mặn, chợ làng rồi cũng biết anh, khi lặng lẻ ra chợ, tay xách tay cầm bó rau bó cải, mấy trái dưa leo, cà chua ửng chín, nhờ số tiền làm công ở tiệm bán đồ xây cất, gạch ngói dưới chợ quận, ngày thứ bảy, chủ nhật, mà bác chủ thương tình mướn.
*

Chong đèn thức trắng, với lời hứa trước bàn thờ ba má, sẽ không làm ba má dưới mộ sâu thất vọng, như ba má muốn khi còn sống. Ngày thi, nhờ bác chủ quản nhà thờ Cao Đài xã giới thiệu, xuống Sài Gòn ở nhờ tại nhà người em bà con, cũng cùng họ đạo, cách trường thi cũng không mấy xa, có xe buýt ngừng xế trước nhà nên đở lo, anh không quên qua bên nhờ chú thiếm tám dòm ngó giùm nhà mình, dù nhà không có cái gì đáng giá.



Anh đậu Tú Tài Một, chú thiếm tám xe lôi máy, qua phụ dọn bữa cơm, vừa chung vui vừa cúng ba má anh bữa cơm báo tin, thấy anh rấm rức khóc, thiếm tám cũng ngậm ngùi khóc theo. Và cũng từ hôm đó, cô bác bán hàng trên chợ xã đều nhớ tên anh, cũng không quên cho anh thêm cọng hành bó rau, trái cà trái dưa, chẳng những tiền bớt đồng một đồng hai mà còn hỏi “đủ chưa con đủ chưa anh, đủ chưa em”.
*

Con quạ trên ngọn cây không còn ở đó, tiếng mất tiếng còn, tạ từ bay đi, chắc phải lâu lắm mới gặp lại, cơn gió nhẹ bất chợt về ngang từ phía truông nứa, lùa bó nhang thơm, nấn níu chút lửa muộn rực sáng, sửa lại cho ngay ngắn, anh lấy tờ giấy chứng chỉ Tú Tài Một, còn thơm mùi con dấu Nha Khảo thí đỏ, cẩn thận để trước đầu hai nấm mộ, chỗ anh ngồi, chấp tay xá rưng rưng thì thầm “ba má ơi, con thi đậu rồi”. Giờ thì anh mới bật khóc lớn thành tiếng giữa cái nắng cuối hạ chang chang đổ.

Thuyên Huy

Viết cho những người giống như anh trong chuyện dù là chuyện tưởng tượng

Posted by 304Denat 1:43 AM

Mời Xem 


10 thg 6, 2026

THÁNG SÁU MÙA THI - Pham văn Bắc SPSaigon

 


THÁNG SÁU MÙA THI

Ngày xưa, trước khi bước vào cái tuổi dạt dào cảm xúc cùng tháng sáu với những cơn mưa phong kín đường về, để đêm dài vô tận, để nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa, để anh vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc, để da em trắng anh chẳng cần ánh sáng... thì hầu hết ai cũng trải qua một thuở học trò với mùa thi cuối cùng của thời trung học gọi là thi tú tài thường vào tháng sáu.
Ở những lứa tuổi trước chúng mình, học xong lớp 11 phải thi tú tài 1, đậu mới được lên lớp 12, học xong lớp 12 phải thi tú tài 2 còn gọi là tú tài toàn phần, đậu mới được ghi danh hoặc thi vào đại học. Nhưng ở lứa tuổi chúng mình không phải thi tú tài 1, cứ học đến hết lớp 12, thi một kỳ thi gọi là "tú tài phổ thông". Kỳ thi này, lần đầu tiên áp dụng hình thức trắc nghiệm cho tất cả các môn thi, mỗi câu hỏi sẽ có 5 đáp án để thí sinh chọn 1. Học sinh phải thi các môn : Triết, Vạn Vật, Công dân. Sử, Địa, Toán, Lý, Hoá, Anh, Pháp và chỉ thi trong hai buổi sáng 26 và 27/6/1974. Bài thi sẽ được chấm bằng hệ thống máy tính điện tử IBM nên người ta còn gọi đùa là kỳ thi tú tài IBM. Đó là kỳ thi tú tài IBM có một không hai, đầu tiên và cũng là cuối cùng của nước VNCH, vì niên khóa sau 1974-1975 chưa kịp thi thì xảy ra biến cố 30/4/1975.
Đã 52 năm rồi mà những cảm xúc của kỳ thi đó vẫn còn mãi cho đến bây giờ. Hôm nay mình viết lại những dòng này "để nhớ một thời ta đã... thi"

MỜI XEM :Vị TT.Của Nước Mỷ Vỉ Đai

Ảnh Thật Hay Ghép Đây /
 ( Từ Diển Đàn Khai Phóng )

Nhớ “bố già” Sơn Nam - Bùi Chí Vinh ( VĂN VIỆT )

 
Hình chụp ở phi trường Nội Bài Hà Nội năm 1994 dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ Toàn Quốc. Từ trái qua phải: Một nhà văn, Sơn Nam, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn, Phan Hoàng. Người ngồi là Lê Minh Quốc.

Bùi Chí Vinh

Đối với tôi, hai chữ BỐ GIÀ dành cho nhà văn Sơn Nam không cần đóng khung trong ngoặc kép. Thuở ông còn sinh tiền, mỗi lần hai chú cháu đi chơi riêng hoặc cùng chơi trong đám đông tôi vẫn luôn luôn gọi nhà văn Sơn Nam là “bố” một cách trìu mến.

Còn xét về mặt chuyên môn trong làng văn và trưởng thượng trong làng đời thì tôi hằng kính trọng ông như một… bố già.

Buổi trưa ngày 13 thứ Tư năm 2008, đang ngồi cụng ly với Cung Tích Biền, Nguyễn Đạt, Đoàn Thạch Biền, Phạm Viêm Phương, Nguyễn Tôn Nhan… nhằm ăn mừng vụ bán bức tranh của Lê Thị Kim thì bất ngờ chúng tôi nhận được hung tin “bố già” đã mất.

Cho dù tất cả gần như được chuẩn bị về cái chết được báo trước của bậc tiền bối hôn mê nằm liệt giường, nhưng cái tin sét đánh ấy đã làm ai nấy bàng hoàng.

Bàn tiệc đang vui bỗng như đưa đám. Trong đầu tôi hình dung “con khủng long cuối cùng còn sót lại của miệt vườn Nam Bộ” một con khủng long oằn vai chở nặng chữ nghĩa của ruộng đồng bát ngát như một bộ tự điển bách khoa biết đi.

Đúng vậy, Sơn Nam là một pho tự điển bách khoa sống động mà mỗi bước chân của con người đi bộ quanh năm ấy, đi đến đâu là gieo và gặt vô số mùa màng dụ ngôn dân gian đưa vào tác phẩm của mình…

Khi về đến nhà, điện thoại di động của tôi nhận được liên tiếp 10 tin nhắn, mọi tin nhắn đều thông báo cho tôi về cái chết của Sơn Nam. Họ báo cho tôi như báo với một người thân trong gia đình bố già, trong đó có tin nhắn của Tư Thuyết.

Tư Thuyết chính là người đem tôi đến với Sơn Nam đầu tiên ngay từ năm 1975, khi đó anh là một cán bộ Thành Đoàn từ trong rừng ra, làm báo Giải Phóng và là con trai của một người bạn cố tri từng hoạt động chung với Sơn Nam những năm kháng Pháp.

Kể từ đó tôi và “bố” gắn bó với nhau một cách kỳ lạ như một đồ thị parabol chịu đựng đủ mọi thăng trầm. Những năm đầu sau 75 khi còn công tác ở báo Tuổi Trẻ tôi thường đăng thơ trong mục Mái Nhà Thơ của báo Tin Sáng do nhà thơ Kiên Giang phụ trách.

Lần nào lên lãnh nhuận bút tôi cũng gặp bố Sơn Nam, chú Kiên Giang và hai già một trẻ thường đàm đạo với nhau tương đắc. Dân Nam Bộ chơi với nhau không cần dè dặt đúng với câu “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã – Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng”.

Lúc chú Kiên Giang đề nghị tôi khôi phục truyền thống Kịch Thơ đã bị mất tích từ thời tiền chiến thì bố Sơn Nam ủng hộ hết mình.

Niềm tin tưởng của hai vị tiền bối khiến tôi trả giá bằng suốt một năm xâm nhập hai trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới Xuyên Mộc và Vĩnh An nhằm tìm kiếm ý tưởng về vở kịch thơ Thành Taberd từ những nhân vật và sự kiện có thật.

Để ra đời được Thành Taberd hai vị tiền bối đã nuôi cơm tôi bằng lon “guigô” hơn nửa tháng trời tại chùa Phụng Sơn Tự tức chùa Gò tọa lạc trên đường 3 Tháng 2 (đường Trần Quốc Toản cũ). Tại chùa Gò, ngoài chú Kiên Giang đưa đón, thỉnh thoảng bố già Sơn Nam lại đến thăm tôi động viên ủy lạo tinh thần.

Và chưa hết, khi bản thảo Thành Taberd hoàn thành bằng… bút chì (vì chú Kiên Giang quá nghèo không có bút nguyên tử) hai tiền bối lại đưa tôi đến gõ cửa Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Dương Đình Thảo để chú Sáu Thảo hỗ trợ phần đánh máy cho vở kịch lịch sự hơn.

Sở dĩ tôi phải dông dài một chút trong “chuyện nhỏ” này vì đó là phần tốt đẹp nhất của con người mà ít ai biết về bố Sơn Nam trong trách nhiệm lo cho một thằng cháu hoàn toàn là người dưng nước lã.

Đối với tôi đó là bài học vỡ lòng nhân quả như truyện ngắn Tình nghĩa giáo khoa thư, nhân quả như “một tấm lòng” của Con Bảy đưa đò hành nghề bán cháo lòng đưa tráng sĩ qua sông từ các truyện ngắn lừng danh của bố.

Bố Sơn Nam ơi, hai chú cháu mình đã gắn bó suốt 10 năm, suốt thập niên 1985-1995 từ thời nhiều vị Mạnh Thường Quân giúp đỡ chúng ta còn sống. Trên chiếc xe đạp cọc cạch và sau này trên chiếc xe gắn máy thổ tả, tôi đã chở bố già đi gõ cửa tìm kiếm niềm vui hoặc hứng chịu nỗi buồn thê thảm từ những cái lắc đầu.

Nhớ những lần đến nhà ông Võ Văn Kiệt, tôi thấy mắt bố già Sơn Nam sáng lên khi khoe tôi một cái bì thư dẹp lép hoặc năm món “căm đùm sên dĩa lốp” phụ tùng xe đạp mới toanh có thể đi bán chợ trời kiếm tiền nhậu lai rai.

Rồi những lần ghé báo Công An thăm Huỳnh Bá Thành, lúc trở ra hai chú cháu nhìn nhau vừa hạnh phúc vừa ngậm ngùi trước chút lòng hào kiệt đối với kẻ sĩ mạt lộ.

Bố già ơi, đất nước chúng ta nghèo quá, ai giàu đâu chẳng biết nhưng chỉ thấy muôn đời kẻ sĩ có lòng tự trọng lại quá nghèo. Đại bi kịch là một kẻ sĩ đóng góp quá nhiều tác phẩm lẫn công sức cho đời như bố mà đến chết trên báo vẫn còn kêu gọi lòng từ thiện giúp đỡ của nhân dân để chữa bệnh.

Trong vòng 10 năm vừa kể, một phần đời giang hồ của tôi gắn liền với nhà văn Sơn Nam. Mỗi ngày sáng sớm đón bố già lên đường, tối khuya lại chở bố về đến nơi đến chốn tại căn nhà trong ngõ hẻm ngó xéo qua Lăng Ông Lê Văn Duyệt.

Nhắc đến Lăng Ông và những di tích đình miếu khác, không thể không kể đến công trạng của bố già trong việc khôi phục và trùng tu truyền thống đạo lý cổ truyền. Tôi chỉ tạm thời chia tay việc chuyên chở bố già kể từ lúc sanh con trai đầu lòng. Nỗi lo cơm áo làm hai chú cháu ít còn dịp gần nhau.

Bố Sơn Nam ơi, trong đời bố chỉ làm một bài thơ in trên sách nhưng đó lại là bài thơ bất tử. Bất tử bởi khẩu khí giang hồ mang mùi vị Lương Sơn Bạc của người đi mở đất.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chép lại bài thơ của bố như một nén nhang ngưỡng mộ hương hồn bậc dị sĩ kỳ nhân:

Trong khói sóng mênh mông

Có bóng người vô danh

Từ bên này sông Tiền

Qua bên kia sông Hậu

Mang theo chiếc độc huyền

Điệu thơ Lục Vân Tiên

Vài câu chữ:

Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã

Từ Cà Mau, Rạch Giá

Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng

Muỗi, vắt nhiều hơn cỏ

Chướng khí mù như sương

Thân không là lính thú

Sao chưa về cố hương?

Chiều chiều nghe vượn hú

Hoa lá rụng buồn buồn

Tiễn đưa về cửa biển

Những giọt nước lìa nguồn

Đôi tâm hồn cô tịch

Nghe lắng sầu cô thôn

Dưới trời mây heo hút

Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút

Điệu hò ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua

Ray rứt mãi đời ta

Nắng mưa miền cố thổ

Phong sương mấy độ qua đường phố

Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

BCV

9 thg 6, 2026

Thơ Đặng Việt Lợi ; VỀ NHỮNG GÃ “CỬU VẠN” SÁNG NAY., CHỢ SỚM , NỖI NIỀM CHUNG

 


VỀ NHỮNG GÃ “CỬU VẠN” SÁNG NAY.

Chuyện tiếp chuyện - miên man dài
bất tận
Dường như không tìm được điểm dừng
Bởi ai cũng chẳng khác nào cửu vạn
Lắm sự đời nặng trĩu vác trên lưng
Ai cũng cố khoe ra từng kỉ niệm
Tuy cũ mèm nhưng vẫn đủ tinh khôi
Khi phục dựng, thêm vào phần nhuận sắc
Kể nhau nghe là rộ những tràng cười
Với cái tuổi quen dùng thì quá khứ
Thường vẫn thèm nhắc nhớ chuyện ngày xưa
Có cơ hội là đến đây quần tụ
(Cho tới khi nào nghe tiếng… “Diệu Cơ”)
Sẽ thức tỉnh quay trở về… hiện tại
Cùng với ai kia tiếp chuyện… “bây giờ”
SG_030626
ĐVL

CHỢ SỚM.
“Sơ” bước vào phiên chợ sớm
Mãi chưa quen chỗ đông người
Hồn vía dường như khá nhẹ
Mối quen níu kéo gọi mời
Đi chợ nhưng không “chạy chợ”
Chỉ mua các thứ cần dùng
Ngại phải trả treo. Rõ khổ!
Thường thì vội vã, quay lưng
Rời chợ mà lòng mở hội
Bởi thừa biết mình còn… duyên
Người “đưa” chờ làm kẻ “đón”
Đều là… “Hắn” cả - mình ên!
Không muốn làm dân kẻ chợ
Về An Phú Đông, được không?
Ngồi sau xe ôm - hát nhỏ
“Đi đâu cho thiếp theo cùng”
Thế là cũng xong buổi chợ
Khỏi lo no đói cả tuần
Đỡ phải bon chen, vất vả
Để vui với nhịp đời thường
Cứ vậy năm này tháng nọ
Mùa nào cũng ngọt ngào xuân!
SG_070626
ĐVL
NỖI NIỀM CHUNG…
Chỉ cần một cuộc gọi thôi
Các đồng môn cũ lại ngồi ở đây
Lắng trong mạch chuyện vắn dài
Vẫn là nỗi nhớ Ông Thầy Cali (1)
Nhớ tháng 3, tiễn Thầy đi
Tưởng mong Thầy trở lại quê tháng 10 (2)
Để ôn từng quãng đời vui
Về “ngôi trường” có một thời… hiển vinh (3)
Mười ba năm biết bao tình (4)
Năm mươi năm “biển xanh thành ruộng dâu” (5)
Ông Thầy già dẫu nơi đâu
Vẫn mang theo ký ức mầu nhiệm kia
Nên sáng nay, rảo bước đi
Nôn nao ghé quán cũ “Mi - La - Nồ”(6)
Uống cà phê, nhớ “nước dừa” (7)
Món “thanh bạch thuỷ” Thầy ưa thich dùng (😎
Và rồi khoe nỗi niềm chung
Rằng: trò nào cũng ngóng trông… Thầy về ….
SG_060626
ĐVL
Note:
(1) Mọi người vẫn hay gọi GS Nguyễn Duy Linh là “Ông Thầy Cali” - Nơi Thầy đang định cư
(2) Lần gần đây nhất, Thầy NDL về VN đầu tháng 10/2025, và trở lại Mỹ vào ngày 13/3/26
(3, 4 &5) Trường SPSG tồn tại 13 năm (1962-1975); Tính đến nay, trường đã “mất” hơn nửa thế kỷ một chút (thương hải tang điền).
(6) Quán Cà phê ở đầu đường PVĐ, nơi Thầy Trò thường ngồi uống cà phê tán gẫu trong lần về VN mới đây
(7 &8) Thầy hay uống nước dừa trái - t/g ví von đó là “Thanh bạch thuỷ”

8 thg 6, 2026

Vỉnh Biệt Bạn TRẦN VĂN SỬU (SPSG K.1 )

 Bài đăng lại nhằm thương nhớ bạn Trần Văn Sửu, khóa 1 SPSG 1962-1964, đã từ trần cách nay hơn 1 tháng tại Sanjose.

Cầu xin Bạn Trần Văn Sửu an giấc ngàn Thu bình an.
[R.I.P]
*
Bài [100] Nhớ Quê
Thơ Trần Văn Sửu, k1 SPS; lời bình Ngân Triều, K2 SPS.
Đăng ngày: 08:19 20-03-2012
Xin giới thiệu một chút, bài thơ nầy từ 1 cựu giáo sinh SPSG khóa 1, ly hương, bày tỏ lòng mình khi mơ về quê cũ và một bài bình thơ của một thân hữu, nguyên là CGS.SPS, khóa 2.
Mời các bạn xem... tâm trạng và nỗi niềm của một người khách phải rời xa quê hương... NT.
*
Nhôù Queâ (Nhớ Quê)
Toùc roái bay bay, chieàu thöông nhôù,
Raùng vaøng giaêng luïa, cuoái trôøi xa.
Khoùi söông röøng nuùi, chim bay moûi,
Queâ cuõ, vôøi troâng, moät maùi nhaø.
Chiều buồn Sanjosé (1997)
Traàn Vaên Söûu, (Trần Văn Sửu , CGS K1 SPS 62-64)
--> Chép lại bài thơ nguyên tác viết bằng font thư pháp bên trên:
Nhớ Quê
Tóc rối bay bay, chiều thương nhớ,
Ráng vàng giăng lụa, cuối trời xa.
Khói sương rừng núi, chim bay mỏi,
Quê cũ, vời trông, một mái nhà.
Chiều buồn Sanjosé (1997)
Trần Văn Sửu , CGS K1 SPS 62-64
***
Lời Bình Ngân Triều:
Bài thơ nầy được sáng tác trong thời điểm tác giả vừa mới rời xa quê hương, sống nơi xứ lạ quê người. Cuộc sống bước đầu, chắc là khó khăn và gieo neo lắm! (1997).
Tóc rối bay bay chiều thương nhớ, câu 1, không những là chi tiết chọn lọc, trữ tình, cảm khái, còn đượm phong cách thơ chữ Hán của Nguyễn Du, (1766- 1820), hoàn cảnh sống lúc ấy cực kỳ khó khăn khi ở quê vợ Quỳnh Côi:
Sinh vị thành danh thân dĩ suy [1]
Tiêu tiêu [2] bạch phát mộ phong xuy
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri.
Tự thán kỳ 1, Nguyễn Du, (1765- 1820)
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹.
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知.
Chưa có danh gì, thân yếu hẳn,
Gió chiều tóc bạc gió miên man.
Tính thành chân hạc sao đành ngắn?
Mệnh tựa lông hồng chẳng biết thân.
Ngân Triều dịch thơ
Như vậy, có thể hiểu những khó khăn trong vạn sự khởi đầu nan ở xứ người đã được gỡ rối dần dần. Kết hợp với “khói sương’’ không sáng sủa, còn mờ mịt của cuộc sống tương lai phía trước và hình ảnh “chim bay mỏi’’là rã rời, đuối sức …để ta hình dung tâm trạng và sự phấn đấu vượt bậc của tác giả, nơi xứ lạ, quê người.
Ráng vàng giăng lụa cuối trời xa câu 2, là một câu tả cảnh, một bức tranh ngoạn mục, đậm nhạt về màu sắc, hình ảnh cổ điển như 2 câu thơ trong bài Đằng Vương các tự của Vương Bột, (650–676), một trong tứ kiệt đời Sơ Đường:
Lạc hà dữ cô vụ tề phi [3]
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色.
Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,
Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.
Đằng Vương các tự, Vương Bột, (650–676).
Ở đây, tác giả hạ bút “Ráng vàng giăng lụa” vừa nhân hoá, vừa tạo một hình ảnh thẩm mỹ, tổng hợp được tính chất vừa cổ điển vừa tân kỳ. Cũng có thể hiểu mục đích và hoài bảo phải lìa xa quê hương, còn quá xa vời.
Về nhịp thơ, tác giả sử dụng 3 câu nhịp 4/3 đều đặn, dịu êm…để câu kết, bất ngờ đổi nhịp 2/2/3 như nức nở, nghẹn ngào của tâm trạng bâng khuâng, ray rứt, ai hoài của một con người cô lữ.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy dụng ý kín đáo của tác giả về nỗi lòng và tâm tình thương nhớ quê hương qua 2 nhóm từ “chiều thương nhớ’’ (cuối câu 1) và “một mái nhà” (cuối câu 4). Đó là một tấm lòng hoài mong vời vợi về quê hương ở một phương trời, nơi có hình bóng cha mẹ già, những người thân trong gia đình, những bạn bè quen thuộc…
Vời trông, câu 4, là nhìn ra thật xa, xa tít, xa vô cùng, xa tận cuối chân trời. Quê cũ bây giờ đường đi diệu vợi, muôn trùng xa cách. Nhìn thấy “một mái nhà”, nơi “quê cũ’’ là những hình ảnh không có thực, đó chỉ là hình ảnh trong tâm tưởng để lòng khát khao một mái ấm nơi làng quê xa xăm, vút cao những giây phút chạnh lòng trong nỗi niềm thương nhớ quê hương một cách thiết tha; đồng cảm:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁.
Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu, (704 – 754) [4]
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
Tản Đà, (1889 - 1939) dịch
Mặt khác, ý thơ thể hiện chỉ là những cái nhìn tuy bình thường nhưng gợi cảm: nhìn lại bản thân, nhìn tận cuối trời xa, nhìn qua rừng núi nhạt nhoà trong sương, thấy những cánh chim bơ vơ, lạc loài, bạt gió, mỏi cánh bay về đâu…và nhìn thấy một mái nhà trong tâm tưởng … chắc là rất buồn để ao ước một hạnh phúc sum họp đơn sơ của gia đình trong mỗi buổi chiều tà…nỗi niềm đó, chỉ một mình mình biết, một mình mình hay… như một tâm tình:
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta
Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan, (1805 – 1848)
Tôi lúc nhỏ, cùng học chung, chơi chung với tác giả, thời êm đềm tuổi mộng Bào Trai.[5] Khi lên trung học thì mỗi đứa cầu học theo mỗi hướng khác nhau. Tôi học TrườngTrung Học Tây Ninh, tác giả học Trường Trung Học Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn. Ở chặng cuối đời học trò áo trắng, chúng tôi lại gặp nhau ở Trường Sư Phạm Sài Gòn (Sửu, khoá 1 và Triều, khoá 2).
Khi ấy, sau những lần lãnh học bổng xong, được 200 đồng/tháng, hoặc được trả thù lao đi dạy kèm ban đêm, chúng tôi thường rủ rê nhau đi ăn nghêu luộc sả ớt ở đường Nguyễn Tri Phương, có 2 đồng/ thau nhỏ = 1 tô lớn, uống bia trâu Larue 5 đồng/ chai <quá rẻ>; hoặc sang trọng hơn, ghé mấy quán bia 33 ướp lạnh đường Bùi Viện; thường thì kèm món bò lúc lắc, vài miếng fromage “La vache qui rit” cùng với một dĩa đậu phộng da cá “Hưng Ký’’.
Nhiều lúc, sau khi xem phim ở Rex, Đại nam, Eden, Lê Lợi…chúng tôi vào Thanh Bạch ở đường Lê Lợi, thưởng thức món Pâté chaud, càfé đá…thư giãn, chuyện khào và ngắm những “bóng hồng … nhác thấy nẻo xa’’ để cùng liếc mắt, để cùng lòng ưa…
Sau nầy, khi có gia đình riêng, chúng tôi ở cùng một khu phố, nhà cách nhau chừng một trăm mét, lại cũng thường rủ rê, cà phê cuối tuần. Nối nghiệp nhà, ngoài việc đi dạy, nhà thơ còn có mở một tiệm may, tên Bảo Tịnh. Đến bây giờ, dù đã không còn tiệm may đó nữa nhưng người ta vẫn gọi con hẻm dọc hông nhà tác giả là Hẻm Bảo Tịnh, rồi tên đường mới lại là Đường Hẻm Bảo Tịnh. (Nào ai biết, con đường đó, nguồn gốc do chính tác giả đã đặt tên cho tiệm may của mình).
Chúng tôi đã từng là Hiệu Trưởng và sau nầy dạy lớp Trung Học. Tác giả dạy Toán rất hay, nổi tiếng ở trường, vì trường đó có rất nhiều học sinh giỏi Toán. (Ngay cả khi giải những bài toán nâng cao, các giáo viên trẻ thường xính vính, nhưng khi đến tay tác giả, thì được giải liền, một cách thông suốt như nước chảy)
Tôi muốn nói dông dài như vậy để cho các bạn biết thêm phần nào về mối quan hệ thân thiết của chúng tôi và nhận ra ý nầy: giáo viên dạy Toán, hay những môn tự nhiên khác, không phải không thể làm thơ mà còn có thể làm thơ hay. Thơ hay thì một bài cũng được nhiều người ngưỡng mộ, và cũng có thể nổi tiếng.
“Nhớ quê’’, một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, với nhiều hình ảnh, thủ pháp nghệ thuật chọn lọc, cân nhắc, ý tứ mạch lạc, đậm nhạt ý tưởng cổ điển-tân kỳ.
Quả là một bài thơ hay. Vì sao bài thơ nầy hay? Bởi lẽ, nhà thơ đã suy nghĩ trong bối cảnh chân thực của mình, cảm xúc trái tim, đậm đà những tình cảm quê hương tha thiết và chọn lọc hài hoà những giai điệu thi tứ chặt chẽ, trữ tình vì “Thơ là tiếng lòng sâu thẳm, mênh mông, bao la, tuôn trào qua ngôn ngữ dạt dào, cảm xúc của trái tim”.
Tôi đọc đi đọc lại bài thơ để ngưỡng mộ, khâm phục, khẳng định và xin giới thiệu:
Đây là một bài thơ hay đến ngỡ ngàng.
Ngân Triều
***
Chú thích:
[1] Nguyên văn chữ Hán:
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹。
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知
Danh chưa thành thân đà xơ xác,
Ngọn gió chiều tóc bạc phất phơ.
Lẽ nào chân hạc đem cưa,
Mệnh kia ai biết lửng lơ lông hồng.
Quách Tấn, (1910 – 1992) dịch.
Nguyễn Du (1766- 1820), tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Đó là một gia đình có truyền thống yêu chuộng văn chương và nghệ thuật.
[2] tiêu tiêu là âm thanh tiếng gió thổi.
[3] Nguyên văn chữ Hán:
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色.
Lạc hà dữ cô vụ tề phi [3]
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Nghĩa là:
Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,
Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.
Vương Bột (王勃) (650–676), tự Tử An, người Long Môn, Giáng Châu (ngày nay là Hà Tân, Sơn Tây) thời nhà Đường. Vương Bột được xem là một trong "Sơ Đường tứ kiệt" (bốn nhà thơ kiệt xuất giai đoạn đầu của nhà Đường), 3 nhà thơ còn lại là: Dương Quýnh (杨炯), Lư Chiếu Lân (卢照邻) và Lạc Tân Vương (骆宾王).
[4] Nguyên văn chữ Hán:
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu, 崔顥, (704 – 754)
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
Tản Đà (傘沱, 1889 - 1939) dịch
Thôi Hiệu, 崔顥, (704 – 754), quê ở Biện Châu, phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, ông đỗ tiến sĩ năm 723, sau đó làm quan đến chức Tư huân viên ngoại lang. – Ông sáng tác rất nhiều thơ với những đề tài khác nhau, nổi tiếng nhất là bài Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc) được truyền tụng rộng rãi qua hàng ngàn năm.
[5] Trường làng Bào Trai, ngày ấy tên trường với chữ “Bào” viết o là vậy.
***