26 thg 9, 2026

VTM 196_ Tự Tình_Tâm Quã


Xướng:


Tự tình

Gió nhẹ se lòng khách lãng du
Cung hằng nguyệt quế phủ mây mù
Từ khi Thạch Hản ngăn dòng chảy
Lối rẽ Trường Sơn rợp lá thu
Nửa cuộc buồn đau rời cố quận
Cả đời đượm nhớ mãi lời ru
Tề Thiên cũng có nơi sinh nở
Há dễ quên Thầy chẳng nhớ U.

Tâm Quã

Họa 1:

Mơ màng

Tâm thần một thuở bị ngao du
Giấc ngủ lim dim tựa mắt mù
Thấp thỏm trong mơ theo nước chảy
Lâng lâng với gió nhẹ đêm thu
Ngọt bùi ngày tháng nơi quê mẹ
Thánh thót bên thềm vọng tiếng ru
Ai óan âm thanh như nức nở
Chợt đầu chạm cột trán sưng u

THT

Họa 2:


Ngao du

Tâm hồn thanh thản bước ngao du
Lạc lỏng sương khuya trắng mịt mù
Nổi bật sắc màu nhìn sặc sỡ
Bâng khuâng lữ khách lạc rừng thu
Lâng lâng tiềm thức còn lưu luyến
Trầm bổng âm thanh tiếng Mẹ ru
Hồi tưởng cội nguồn thời cố quốc
Trưa hè trốn nắng rặng mù u

Hương Lệ Oanh VA

Họa 3:

Luân chuyển

Cuối hè nghĩ đến chuyện chu du
Sáng sớm sương rơi phủ mịt mù
Vàm cỏ lững lờ theo ngọn gió
Núi Bà sừng sững cả ngàn thu
Bốn mùa luân chuyển theo ngày tháng
Xa cách quê nhà nhớ tiếng ru
Văng vẳng xa đưa bài Dạ cổ
Tâm tư khắc khoải tưởng lời U

PTL
Dạ cổ: dạ cổ hòai lang 夜鼓懷郎 (đêm nghe tiếng trống, nhớ chồng) của ông Sáu Lầu sáng tác năm 1919 tại Bạc liêu.


Họa 4:

Tâm Sự 

Nay thời buồn lắm kiếp lãng du
Quanh đây trời đất phủ mây mù.
Thương về đất nước hồng hoa phượng
Nhớ đến quê nhà vàng lá thu.
Đẹp lắm vườn nhà hoa rợp nở
Thương hoài tiếng võng mẹ luôn ru.
Dù xa bìên biệt ta tâm nguyện:
Luôn nhớ ơn Thầy thương mãi U!

Hàn Thiên Lương

Họa 5:

Một thoáng ưu tư

Ngắm xem thiên hạ, trí phiêu du
Vạn quốc đảo điên, loạn rối mù.
Giành đất tiến binh mùi thế chiến,
Tranh vương đoạt bá kiểu Xuân Thu.
Tai nghe thảm thiết trời bom nổ,
Lòng ước êm đềm tiếng mẹ ru.
Soi cổ luận kim buồn thế sự,
Bao giờ quả đất hết âm u ?

Minh Tâm

Họa 6:

Tha hương

Tha hương lữ khách mộng ưu du
Mấy độ xa quê phủ bóng mù
Cố quốc nghìn trùng lòng khắc khoải
Tha phương vạn nẻo lệ sầu thu
Quê xưa cách trở tình hoài vọng
Đất khách lưu vong nhớ tiếng ru
Dẫu bước phong trần thân viễn xứ
Xa xôi vạn nẻo nhớ lời U

AI


MỜI XEM :


 Vườn Thơ Mới Kỳ 195- Bài Xướng : SINH NHẬT TỰ TRÀO - Minh Tâm

25 thg 9, 2026

MỘT THUỞ HỌC TRÒ .- Hiệp Nguyễn - SP. Phước Tuy

 MỘT THUỞ HỌC TRÒ .


Thời gian nghỉ hè của học sinh sắp sửa kết thúc. Nhìn hai cháu nhỏ háo hức mong chờ ngày trở lại trường, lòng tôi không khỏi bâng khuâng nhớ về kỷ niệm một thuở học trò. Lướt xem những hình ảnh cũ xưa ngày ấy, một dòng ký ức ngọt ngào được gợi nhớ lại. Xem bức chân dung đứa trẻ lần đầu tiên được chụp hình làm thẻ học sinh Đệ Thất, ẩn sâu trong đôi mắt hồn nhiên ấy là tâm hồn thơ ngây của cậu học trò nhỏ. Những tấm ảnh khác trông có chút lớn khôn khi học lên các lớp cao hơn cho đến khi tốt nghiệp, hoàn tất 14 năm đèn sách.
Có lẽ trong suốt cuộc đời của mỗi chúng ta, sẽ không có quãng thời gian nào nên thơ và xanh ngát như thuở còn đi học. Một hành trình dài của những tiếng cười trong trẻo, những bước chân chập chững và cả những cuộc chia ly đầy lưu luyến.
Ký ức bắt đầu từ một buổi sáng tinh sương, khi tôi vừa đủ tuổi đi học. Bàn tay nhỏ xíu của tôi lúc đó được nắm gọn trong bàn tay ấm áp của ba mình, dắt đến một lớp học vỡ lòng, gửi gắm đứa con thơ cho một người thầy, mà sau đó đã dạy cho tôi tập viết, đánh vần và đếm số. Những chữ cái đầu tiên ấy qua nét bút chì, mở ra cả một bầu trời tri thức.
Thời điểm ấy, khởi đầu bậc tiểu học là Lớp Năm, cuối bậc là Lớp Nhất. Cứ thế mỗi năm học trôi qua, tôi lại bước thêm một bậc thang mới với những thầy cô khác nhau. Ngày cầm tấm bằng Tiểu Học trên tay, nhìn nụ cười rạng rỡ của ba má mình chan chứa một niềm vui bao la, mà lúc đó tâm hồn vô tư của tôi chưa thể cảm nhận được hết.
Ngày trúng tuyển vào lớp Đệ Thất, tôi sung sướng được ba mình thưởng chiếc xe đạp. Ngồi trên chiếc xe mới, tôi thấy mình thêm chững chạc. Những vòng quay của bánh xe đưa tôi đi xa hơn khỏi luỹ tre làng, đến tỉnh lỵ Tây Ninh, nơi có ngôi trường trung học mà tôi thường xuyên đi về hàng ngày, cách nhà hơn ba cây số, chở theo bao ước mơ của tuổi mới lớn.
Bảy năm trung học lần lượt trải qua trong bối cảnh thời chiến, không cho phép những nam sinh chúng tôi xao lãng học tập, sẽ ảnh hưởng đến việc hoãn dịch. Những năm tháng ấy, biết bao kỷ niệm thuở học trò đã khắc sâu trong ký ức của tôi. Từng giờ học với mỗi thầy cô đều mang một sắc thái riêng biệt, tô vẽ nên một bức tranh đa sắc.
Nhưng rồi mùa hè năm ấy, xong kỳ thi Tú Tài II, tiếng ve sầu dường như cũng nhuốm màu ly biệt. Bạn bè buộc phải nói lời chia tay, giã biệt ngôi trường thân yêu ấy, mỗi đứa một ngả rẽ. Có bạn xếp bút nghiên gia nhập quân ngũ. Có bạn tiếp tục dấn thân vào các giảng đường đại học với những phân khoa khác nhau. Tôi cùng nhiều bạn nữa chọn khoa sư phạm, để có cơ hội nâng niu những mầm non, như cách mà thầy cô đã nâng niu chúng tôi ngày trước.
Mấy năm học hành ở trường Sư Phạm có lẽ là chương rực rỡ nhất trong cuốn nhật ký tuổi thanh xuân của tôi. Không giống như thời Trung Học, không còn những đêm thức khuya để học thuộc làu những bài Sử Địa hay Vạn Vật. Không phải cố nhớ những hằng đẳng thức toán học, những hoá trị kim loại hay nguyên tử khối chất đơn. Cũng không còn mệt óc giải những phương trình lượng giác phức tạp. Thay vào đó là những môn học thực dụng : Tâm lý giáo dục, Phương pháp sư phạm, Luân lý chức nghiệp, Giáo dục cộng đồng.
Sang năm thứ nhì, ngoài các môn học nhằm mở rộng kiến thức phổ thông, văn học, toán và sinh ngữ ở lớp. Còn có những giờ thực hành, rèn luyện các kỹ năng vận dụng khoa học, kỹ thuật nông nghiệp, âm nhạc, tập vẽ và thủ công. Đặc biệt còn một môn học có lẽ ai cũng yêu thích : môn Hoạt động thanh niên !
Ngày nhận bằng tốt nghiệp cũng là một ngày của những cảm xúc trái ngược. Mừng vừa đạt được ước mơ, nhưng không khỏi luyến tiếc khi hiểu rằng từ nay cánh cửa đời học sinh sẽ khép lại mãi mãi.
Lúc cầm sự vụ lệnh đi nhận nhiệm sở, tôi biết mình đang phải đoạn tuyệt cái lứa tuổi học trò đẹp nhất, để bước vào đời với một tâm thế mới.
Thuở học trò của tôi không chỉ có sách vở, sân trường. Mà còn có cả tình cha, nghĩa thầy, và những người bạn đã từng cùng nhau trải qua một thời thơ mộng !




VENEZUELA TÁI SINH ? TRẦN PHONG VŨ

 

.
VENEZUELA TÁI SINH ?
Tại kỳ họp thứ 81 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 23/9/2026, người phát biểu đại diện Venezuela là Tổng thống lâm thời Delcy Rodríguez tuyên bố :
- Cam kết sẽ tổ chức bầu cử: Bà nói rõ “Venezuela sẽ có bầu cử”, đồng thời cho biết chính quyền đã bắt đầu đối thoại với một số thành phần đối lập nhằm tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Tuy nhiên, bà chưa công bố ngày bầu cử cụ thể.
- Tuyên bố Venezuela đang chuyển đổi dân chủ: Quá trình thay đổi sẽ diễn ra có trật tự, thông qua các cơ quan nhà nước hiện hành, thay vì phá bỏ toàn bộ hệ thống cũ. Chính phủ sẽ cải cách tư pháp, tăng bảo đảm pháp lý và hạn chế việc sử dụng quyền lực tùy tiện.
- Kêu gọi chấm dứt chia rẽ: Bà cho rằng thời kỳ người Venezuela đối đầu trong những “chiến hào chính trị” phải khép lại để xây dựng một “nước cộng hòa mới, hòa bình với chính mình”.
- Cảm ơn Tổng thống Mỹ Donald Trump vì khôi phục quan hệ ngoại giao và hợp tác giữa hai nước. Bà xác nhận hai bên đang hợp tác về năng lượng, an ninh, chống tội phạm xuyên quốc gia và phục hồi kinh tế.
- Ca ngợi thỏa thuận dầu mỏ Mỹ–Venezuela, xem đây là một thỏa thuận kinh tế đặc biệt quan trọng. Đây là sự thay đổi rất lớn so với đường lối chống Mỹ quyết liệt dưới thời Hugo Chávez và Nicolás Maduro.
- Đề cao chủ quyền: Mặc dù xích lại gần Washington, bà vẫn yêu cầu quốc tế tôn trọng quyền tự quyết của Venezuela, không can thiệp hay áp đặt từ bên ngoài.
- Kêu gọi hỗ trợ tái thiết sau các trận động đất tháng 6/2026, đồng thời phản đối các biện pháp trừng phạt kinh tế vì cho rằng chúng làm chậm phát triển và gây tổn hại đời sống người dân.
Tóm lại, thông điệp chính của bà Rodríguez là: “Venezuela đang tái sinh”, sẽ chuyển dần sang dân chủ và tổ chức bầu cử, đồng thời hòa giải trong nước và hợp tác sâu hơn với Mỹ. Tuy nhiên, vì chưa có lịch bầu cử và cơ chế giám sát cụ thể, những cam kết này hiện vẫn cần được kiểm chứng bằng hành động.

TRẦN PHONG VŨ
25.9.26

BIỆN ĐẠO (BÀI 9)

 BIỆN ĐẠO (BÀI 9)


NHÂN CỦA ĐẠO KHỔNG LÀ NUÔI DƯỠNG ĐỂ PHÁT TRIỂN


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

Lời thưa trước

Bài này tuy ngắn nhưng nội dung cho chúng ta hiểu được điểm trọng yếu đạo tiên vương, tức đạo Khổng mà các Nho gia về sau đặc biệt Tống Nho đã hiểu không đúng và giải thích sai lầm theo ý riêng của họ sinh ra sự hà khắc khó khăn trong việc học đạo thánh hiền.


BÀI 9


Nhân 仁là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh

Nhân仁là đạo nuôi dưỡng(a). Khi áp dụng nhân vào việc quản lý quốc gia thì tích cực dùng người “thẳng” (trực直) chung với người “cong” (uổng枉) để sửa người “cong” thành ra người “thẳng” (1). Khi áp dụng nhân vào việc tu thân thì nuôi dưỡng, khuyến khích việc làm điều tốt để các tật xấu tự nhiên mất đi. Đó là thuật (cách làm thực tế) quản lý quốc gia và giáo dục dân của các tiên vương.


Giải thích sai của Tống Nho gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội

Các Nho gia đời sau không thấu hiểu đạo tiên vương nên tự ý lấy trí tuệ riêng của bản thân họ và giải thích đạo tiên vương là làm thiện trừ ác, phổ biến lan rộng lẽ trời và ngăn cấm lòng ham muốn (2). Trong khi xã hội thực tế đương thời không phải như thời đại Nghiêu Thuấn, và con người không phải là thánh nhân (mà có thể diệt hết lòng ham muốn), do đó tất nhiên xấu nhiều tốt ít. Do đó, một khi giải thích này trở thành mục tiêu để họ theo đuổi thì trong xã hội dưới ảnh hưởng của họ trở nên đầy sát khí (không khí sát phạt). Do đó, đối với việc quản lý quốc gia thì đưa đến tình trạng Chu Hy biên soạn lại sách ghi chép lịch sử tựa Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang theo quan điểm (danh phận luận và chính thống luận) của riêng ông thành sách Tư Trị Thông Giám Cương Mục (3). Đối với việc tu thân thì vua Thái Tông nhà Minh đã ra chiếu chỉ sai Hồ Quảng và các người khác biên soạn sách Lý Tính Đại Toàn theo quan điểm của Tính Lý học của Tống Nho (4). Chủ trương này đòi hỏi mức độ hà khắc (độc dữ khắc khổ) mà cả người (người được lấy làm đối tượng) lẫn ta (người chủ trương) đều không chịu đựng nỗi. Kết quả đưa đến việc người đời cho rằng các Nho gia yêu thích việc công kích người khác. Không phải là việc đáng buồn lắm sao?

Từ thời Thương Ưởng (5) về sau, không những ở triều đình mà ngay cả trong các trường học ở địa phương phương pháp nghiêm khắc và độc ác này được áp dụng (tức chủ trương về Khổng học của Tống Nho nói trên được dùng để giảng dạy). Việc quản lý quốc gia và giáo dục dân này không thể sánh kịp với 3 thời Hạ, Ân và Chu! 


Tóm tắt ý quan trọng

- Nhân 仁là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh.

- Do hiểu sai nên giải thích sai đạo Khổng của Tống Nho nên gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội làm cho người đời nghĩ rằng đạo Khổng là khắc nghiệt (hà khắc).


Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 6/8/2026

Xem lại và bổ sung ngày 30/8/2026


Nhận xét

(a) Ngay khi bắt đầu mục Nhân trong Biện Danh, Sorai viết “Nhân giả. Vị trưởng nhân an dân chi đức dã. Thị thánh nhân chi đại đức dã.仁者、謂長人安民之徳也。是聖人之大徳也”, nghĩa là: “Nhân là đức an dân của người đứng đầu. Là đại đức của thánh nhân”. Thế tại sao ở đây ông là nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng”? 

Khi bắt đầu mục Đức của Biện Danh Sorai viết “Đức giả đắc giả. Vị nhân các sở đắc ư đạo dã”, nghĩa là: 徳者得也。謂人各有所得於道也。Đức là được (đạt). Đức để gọi những phần nội dung của Đạo có được ở mỗi người. Hơn nữa, Nhân là đức quan trọng nhất của đạo tiên vương và thống lãnh, tổng hợp mọi thứ đức nên có thể nói nhân là đại diện của của đạo tiên vương nên ở bài này Sorai nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng” chăng? Tuy nhiên, đây chỉ là suy đoán của người dịch. Bởi vì Sorai rất nhiều lần viết trong Biện Đạo, Biện Danh và Luận Ngữ Trưng rằng “lễ và nghĩa” không phải là đức mà là đạo. Như nói ở trên có lẽ vì nhân là đứng đầu trên mọi thức đức và tiêu biểu cho đạo tiên vương nên chỉ có Nhân là được xem vừa là đạo vừa là đức chăng?


Nhận xét tổng thể

(1) Chính trong thời đại chiến tranh đang xảy ra nhiều nơi trên thế giới hiện nay càng cho chúng ta thấy phương châm nhân = nuôi dưỡng để phát triển càng thêm quan trọng. Phải nói để thực hiện phương châm này trong việc quản trị quốc gia đối với đối tượng tích cực (những cá nhân, tổ chức làm điều tốt) thì dễ và được nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, đối với đối tượng tiêu cực (những cá nhân, tổ chức làm điều xấu) thì rất khó vì cần phải mất nhiều công sức, tài chánh cùng nhẫn nại chịu đựng cho đến khi có hiệu quả. Tuy nhiên, không nên vì vậy mà hoàn toàn bỏ qua không thực hiện thử. Chúng ta có thể thấy những nước tiên tiến đã thực hiện trong vài lãnh vực và đã thành công. Để xây dựng thế giới hòa bình thật sự, tất cả mọi người cần gắng sức trong phạm vi có thể của mình là điều quan trọng. Ít nhất cần triệt đễ phương châm này trong lãnh vực giáo dục.


Ghi chú

  1. Trong chương 19 thiên 2 Vi Chính sách Luận Ngữ viết:

哀公問曰:何為則民服?孔子對曰:舉直錯諸枉, 則民服;舉枉錯諸直,則民不服。 

Ai Công vấn viết: “Hà vi tắc dân phục?” Khổng Tử đối viết: “Cử trực thố chư uổng, tắc dân phục. Cử uổng thố chư trực, tắc dân bất phục.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Vua Ai công hỏi: “Làm thế nào thì dân phục tòng?” Khổng tử đáp: “Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục tòng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục tòng.” 

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Ai công là vua nước Lỗ, con Định công, lên ngôi năm TCN 494. Bài này có thể hiểu hai cách: chữ thố [錯] là bỏ, chữ chư [諸] là hết thảy, như vậy “cử trực thố chư uổng” nghĩa là: Dùng người ngay thẳng, bỏ hết những người cong queo. Chúng tôi hiểu theo Triệu Thông (Luận ngữ dịch chú – Hữu Liên xuất bản): thố [錯] là đặt lên, chư [諸] là hai chữ chi ư [之於] hợp lại (như từ ảnh = anh ấy của ta, hoặc từ Smog = Smoke + fog của Anh) mà dịch như trên. Triệu Thông cho rằng hiểu như vậy mới hợp với câu “cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực” trong bài 20 thiên XII (Nhan Uyên): cứ đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì người cong queo cũng tự ý rút đi, nếu không tự sửa mình, không cần phải đuổi hết bọn họ đi.


Chú thích của người dịch: Giải thích của Sorai cũng giống như Triệu Thông. Đón xem bản dịch Luận Ngữ Trưng của người dịch.

Trong chương 22 thiên 12 Nhan Uyên sách Luận Ngữ viết:

樊遲問仁。子曰:愛人。 問知。子曰:知人。 樊遲未達。子曰:舉直錯諸枉,能使枉者直。 樊遲退,見子夏曰:鄉也,吾見於夫子而問知。子 曰:“舉直錯諸枉,能使枉者直。”何謂也? 子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶, 不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者 遠矣。 

Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: “Ái nhân.” Vấn trí. Tử viết: “Tri nhân.” Phàn Trì vị đạt. Tử viết: “Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.” Phàn trì thối, kiến Tử Hạ viết: “Hướng dã ngô kiến ư Phu tử nhi vấn trí. Tử viết: ‘Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.’ Hà vị dã?” Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả viễn hỹ. Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Phàn Trì hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Yêu người”. Hỏi về đức trí, đáp: “Biết người”. Phàn Trì chưa hiểu rõ, Khổng tử giảng thêm: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Phàn Trì lui ra, kiếm Tử Hạ hỏi: “Mới rồi, tôi vô yết kiến thầy, hỏi về trí. Thầy bảo: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Như vậy nghĩa là sao?” Tử Hạ đáp: “Lời thầy hàm súc lắm. Ông Thuấn khi có thiên hạ (lên ngôi thiên tử) tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Cao Dao, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh. Ông Thang khi có thiên hạ, tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Y Doãn, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh.” 

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Cao Dao là hiền thần vua Thuấn. Y Doãn là hiền thần vua Thang.


(2) Trong Chu Tử Chương Cú của chương 6 phần Truyện của sách Đại Học viết:

言欲自脩者、知為善以去其惡、則當實用其力而禁止其自欺、使其惡惡則如惡惡臭、好善則如好好色。

Ngôn dục tự tu giả, tri vi thiện dĩ khứ kỳ ác, tắc đương thực dụng kỳ lực nhi cấm chỉ kỳ tự khi, sử kỳ ố ác tắc như ố ác xú, háo thiện tắc như háo hảo sắc

Tạm dịch

Ý nói người muốn tự rèn luyện bản thân thì cần phải biết thực hiện điều thiện (tốt) từ bỏ điều ác (xấu), cấm tự lừa dối mình, bắt bản thân ghét điều ác như ghét mùi hôi thúi, yêu thích điều thiện như yêu thích màu sắc đẹp.

Trong Chu Tử Chương Cú của chương 1 phần Kinh của sách Đại Học viết:

蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也

 Cái tất kỳ hữu dĩ tận phu thiên lý chi cực, nhi vô nhất hào nhân dục chi tư dã.

Tạm dịch

 Chắc chắn cần phải hết sức đạt đến điểm cao nhất của lẽ trời và không có 1 chút nhỏ nào lòng ham muốn riêng tư.

Trong Tứ Thư Đại Toàn khi chú giải câu Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm人皆有不忍人之心 (con người ai cũng có lòng không nỡ bỏ qua người đang bị khốn khổ) trong chương 6 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử viết:

新安陳氏曰…. 此章亦在於遏人欲擴天理也

Tân An Trần thị viết…..thử chương diệc tại ư át nhân dục khuếch thiên lý dã.

Tạm dịch

Trần Lịch (1252-1334, thời Nguyên) của Tân An nói: .....Chương này lại  nói cấm lòng ham muốn của con người và làm rộng lớn lẽ trời.


(3) Tư Trị Thông Giám Cương Mục thường được gọi là Thông Giám Cương Mục do Chu Hy biên soạn lại sách sử Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quan (1019~ 1086) theo lập luận danh phận và chính thống của ông chứ không có thông tin lịch sử mới. Sách gồm có 59 quyển.

Tư Trị Thông Giám vốn có tên là Thông Chí通志, vua Tống Thần Tông đã đổi thành Tư Trị Thông Giám. Sách gồm có 294 quyển.


(4) Lý Tính Đại Toàn. Thời Minh, Chu tử học trở thành môn học của quan lại nên Vĩnh Lạc đế (1360~1424) đã ra lệnh cho Hồ Quảng胡広 và nhiều học giả khác biên soạn Tứ Thư Đại Toàn, Ngũ Kinh Đại Toàn, Lý Tính Đại Toàn, gọi là Vĩnh Lạc Tam Đại Toàn. 

Lý Tính Đại Toàn gồm 70 quyển. Theo Quốc Ngữ Đại Từ Điển (tiếng Nhật) , quyển 1 ~ 25 biên tập các nguyên điển của Chu tử周子(Chu Đôn Di), Trương tử張子(Trương Tái), Chu tử朱子(Chu Hy) và chú giải chi tiết; quyễn 26 ~70 biên tập các giải thích của các học giả khác trong Chu tử học theo phân loại của 13 hạng mục. 


(5) Thương Ưởng商鞅 (TCN 390 ~ TCN 338) là nhà chính trị, Tướng quân, thuộc học phái chủ trương pháp luật và hình phạt là quan trọng trong việc quản lý quốc gia (pháp gia), binh gia của nước Tần thời Chiến Quốc của Trung quốc.


Nguyên văn

仁者養之道也。故治国家之道。挙直錯諸枉。能使枉者直矣。修身之道。亦養其善而悪自消矣。先王之道之術也。後世儒者不識先王之道。逎逞其私智。以謂為善而去悪。拡天理而遏人欲也。此見一立。世非唐虞。人非聖人。必悪多而善少。則殺気塞天地矣。故通鑑之於治国。性理之於修身。人与我皆不勝其苛刻焉。遂使世人謂儒者喜攻人。豈不悲哉。大氐商鞅之後。不啻朝廷。雖庠序亦用其法。宜其不及三代矣。


Âm Hán Việt của nguyên văn

Nhân giả dưỡng chi đạo dã. Cố trị quốc gia chi đạo. Cử trực thác chư uổng. Năng sử uổng giả trực hỹ. Tu thân chi đạo. Diệc dưỡng kỳ thiện nhi ác tự tiêu hỹ. Tiên vương chi đạo chi thuật dã. Hậu thế Nho giả bất thức tiên vương chi đạo. Tù sính kỳ tư trí. Dĩ vị vi thiện nhi khứ ác. Khuếch thiên lý nhi át nhân dục dã. Thử kiến nhất lập. Thế phi Đường Ngu. Nhân phi thánh nhân. Tất ác đa nhi thiện thiểu. Tắc sát khí hàn thiên địa hỹ. Cố Thông Giám chi ư trị quốc. Tính lý chi ư tu thân. Nhân dữ ngã giai bất thắng kỳ hà khắc yên. Toại sử thế nhân vị Nho giả hỹ công nhân. Khởi bất bi tai! Đại để Thương Ưởng chi hậu. Bất thí triều đình. Tuy tường tự diệc dụng kỳ pháp. Nghi kỳ bất cập tam đại hỹ.


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.



  3.  MỜI XEM :