4 thg 2, 2026

🌹🌹🌹PHẠM TUẤN HUY🌹🌹🌹🌹 NGƯỜI VN THỨ 2 SAU GS NGÔ BẢO CHÂU NHẬN VINH DỰ MỸ

 

Nguyễn Thị Bích Hậu
Phạm Tuấn Huy là người VN thứ 2 sau gs Ngô Bảo Châu nhận được vinh dự từ Viện Toán Clay của Mỹ. Mà gs Châu nhận Clay Research Awards còn cháu Huy nhận The Clay Fellowship. Giải thưởng như là một học bổng của cháu Huy nhận là dành cho các nhà Toán học có thành tích đang tiếp tục theo đuổi nghiên cứu ngành này. Mà số tiền nhận được trong năm 2023 là 76 ngàn usd, trong kỳ hạn 5 năm, số tiền các năm tiếp theo sẽ tăng lên theo chi phí sinh hoạt thực tế tăng. Ngoài ra mỗi năm nhận chi phí cho nghiên cứu là 16 ngàn usd. Một năm chỉ có 2-3 người xuất sắc trên thế giới nhận được vinh dự này.
Cháu Huy sinh năm 1996, vốn là học sinh đội tuyển Toán của trường PT Năng khiếu TPHCM, hai lần đoạt Huy chương Vàng Toán quốc tế. Sau khi tốt nghiệp trung học, cháu apply thành công và nhận học bổng học đại học tại Stanford. Và sau khi hoàn tất chương trình đại học ở đây, cháu nhận học bổng toàn phần để học lên tiến sĩ Toán.
Tuấn Huy được giới thiệu là một nhà nghiên cứu rất tích cực và sáng tạo, có những đóng góp cơ bản cho tổ hợp, xác suất, lý thuyết số và tin học lý thuyết.
Cháu Huy là một nhân tài, học rất giỏi. Theo tiết lộ của gia đình cháu thì cháu từng từ chối học bổng trung học ở Sing từ năm lớp 9, với mục tiêu ở lại VN học trường PTNK để có thể vào đội tuyển thi Toán quốc tế. Điều này cháu có thể không làm được nếu học ở Sing do không có quốc tịch Sing. Kết quả cháu thi đậu 2 HCV Toán quốc tế năm 2013 và 2014.
Cha cháu cũng cho hay trên báo NLĐ là cháu chưa hề đi học thêm bất cứ môn học nào, từ Toán, Văn, hay Tiếng Anh, nhưng vẫn học rất giỏi. Trong khi đó, cháu tiết lộ rằng cháu rất thích âm nhạc, nghệ thuật và văn chương. Cháu học piano từ nhỏ và thi đậu Nhạc viện TPHCM khoa Piano. Tuy nhiên tới khi vào học tới hệ trung cấp thì cháu xin nghỉ vì không đủ sức theo một lúc cả 2 trường nhạc và trường phổ thông.
Chính vì có sức học, sau khi đậu 2 HCV Toán quốc tế, cháu mới có sức để apply thành công học bổng của Stanford vốn đòi hỏi nhiều tiêu chí khác như các điểm Toefl, SAT 1 cao và bài luận rất hay.
Hiện cháu Huy đang chuẩn bị hoàn tất việc bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Stanford, sau đó sẽ học lên cao hơn để trở thành giáo sư Toán, cũng như tiếp tục nghiên cứu.
Hy vọng cháu Huy sẽ có được các thành tựu mới trong nghiên cứu và theo đuổi Toán học. Một tấm gương cho cháu nào yêu thích Toán có thể học hỏi.
Chúc mừng cháu và gia đình
Tố Ngọc Trần st
Hình cháu chụp năm 2014 và hình chụp cùng ba cháu.

3 thg 2, 2026

Thơ Lê Hà Thăng và Trần Phong Vũ (SPSG

 

VẪN NGHE THƯƠNG
KHĂN ÁO MỘNG BAN ĐẦU.
Thơ Lê Hà Thăng
Chân vẫn bước chắc gì mai sẽ tới
Những con đường thao thức với hàng cây
Và ta biết chẳng còn ai đón đợi
Lá vàng rơi đêm trăng khuyết nơi này.
Mắt vẫn mở chắc gì mai sẽ thấy
Những vòng xe treo kết gởi yêu thương
Em vẫn thế cứ hồn nhiên thơ dại
Có hay đâu sương khói phía vô thường.
Lời đã hẹn chắc gì mai sẽ gặp
Bởi đường đời muôn vạn nẻo phân ly
Tình tha thiết đã ngàn trùng xa khuất
Còn lại chiều một ngọn cỏ Lan Chi.
Nay đã tới chắc gì mai trở lại
Đường dặc dài mấy nỗi gió mưa tuôn
Chân mỏi rã sợ bước lầm ái ngại
Ngang lưng trời một cánh nhạn kêu sương.
Rượu đã rót chắc gì nâng tiễn biệt
Đêm nghiêng buồn rớt lạnh xuống vai nhau
Nên mỗi bận về ngang qua cửa khép
Vẫn nghe thương khăn áo mộng ban đầu.
LÊ HÀ THĂNG
1/2/26
....
Bạn ta, Lê Hà Thăng vừa là bạn học cũ HNC vừa là đồng môn SP Saigon... Dĩ nhiên là đồng... nghiệp godautre. Trong bài thơ VẪN THƯƠNG KHĂN ÁO MỘNG THUỞ BAN ĐẦU có nhắc đến "cỏ Lan Chi" làm chạnh lòng mình nhớ lại những trưa buồn ngồi "gõ nhịp sừng trâu" bên hông nhà thầy Bùi Văn Lại cựu HT trường Nam Tỉnh lỵ nhìn qua con đường đất đỏ heo hút chạy xuyên từ Ng Thiện Thuật vào Lò heo cũ và Đồng Ông Cộ. Ở đó từng có một bông hồng LVD làm xao xuyến tâm hồn mấy chú HNC.
Đến nỗi sau này có người đặt tên cho con hẻm đó là hẻm Lan Chi...
MỘNG CŨ
Có nghĩa là mình cũng chẳng có bao ngày
Khi chạy đuổi theo những tình thơ đầy mộng tưởng
Anh giấu mình trong những bản tình ca ướt át và lãng mạn
Em giấu trái tim em theo gió cuốn mây bay
Ta vá víu lại tháng ngày xanh xưa đã mất
Nhũng mảnh ghép ố vàng theo dấu tích thời gian
Mươi mười lăm năm mộng cũ sắp phai tàn
Ôi thương quá cái lộng giả thành chân...
Và những mối tình hờ nửa hư mà nửa thật...
TRẦN PHONG VŨ
2/2/26
DẶN DÒ NGÀY XUÂN
Còn mấy ngày thôi là hết năm rồi
Nhớ nghe em đừng để dính nước ngọt "ruồi"
Nước đá lề đường hay hàng quán
Cẩn thận dùm anh kẻo mất vui
Bánh mứt lỡ mua coi kỹ date
Giấy tiền vàng bạc đốt ít thôi
Nếu có thắp nhang phòng khói lửa
Điện đóm ngoài trong cả nước sôi
Bạn rủ đi thăm phố đường hoa
Giấy tờ tiền bạc gói kín nha
Điện thoại máy hình đừng lộ liễu
Xung quanh ta kẻ cướp nó đầy ra
Nếu có tất niên cùng bè bạn
Nhớ nhắc anh nhà uống ít thôi
Phòng thủ đường về tay lái chuẩn
Chạy chậm và đi chỗ đông người
Nếu em có phải trực giao thông
Chú ý luồng lạch điều hướng dòng
Đừng có chăm chăm lo bắt phạt
Tết nhất không ai phải chết oan
Có lẽ giao thừa tp đốt pháo hoa
Khỏe thì tranh thủ đi xem với người ta
Yếu yếu như anh thì chung rượu
Mở ti vi xem pháo cũng được mà
Có muốn lên fây xem hội tết
Giải quyết cho xong hết việc nhà
Cơm nước đèn nhang ta chu tất
Mở pad ra ngồi đọc thơ anh nha
Vài dòng nhắn nhủ em gần xa
Chuyện buồn năm cũ nhớ bỏ qua
Sang năm ắt có niềm vui mới
Nhớ lời anh
thôi
.....
chuẩn bị ta dọn nhà
TRẦN PHONG VŨ
3/2/26


Tóm Tắt 1 Số Tin Vui từ nhungnguoibanspsg trước Tết Bính Ngọ

   1./ VUI TẤT NIÊN CÙNG “GIA ĐÌNH NHỎ” Thứ Năm - 29/01/2026 - ĐVL

2./ Hành trình của Thầy Nguyễn Duy Linh về “Mỹ Lồng” - Bến Tre thăm học trò cũ

3./ Phan Trần Đức K.3 SPSG gặp bạn cũ sau 50 năm


4./ Phát Quà Tất Niên tại TTDNTE KT 2926


5./ HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG GĐ SPSG NGÀY 01/01/2026. (LẦN THỨ 29 )

6./ 



2 thg 2, 2026

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN KỲ 1/2 / 2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Chữ nghĩa làng văn


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ Việt cổ


Ruổi: chạy mau - rong ruổi.


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả


“Chầy: chầy chật”

(Ts Hà Quang Năng/ Ths Hà Thị Quế Hương)


HTC: Viết chuẩn là “trầy trật” (trầy da, trật xương).


(Hòang Tuấn Công)


Chữ Việt cổ


Tạ: nhà trống - nhà thủy tạ.


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh:

Trên cái đài mà làm nhà thì gọi là tạ


hoxuanhuong03

Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Quả Mít

Thân em như quả mít trên cây.
Da nó xù xì, múi nó dầy.
Quân tử có thương thì đóng cọc,
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay

Cổ Nhuế


Năm 1469, vua Lê Thánh Tông vi hành tới làng Cổ Nhuế (tên nôm Kẻ Noi) thăm miếu thần hoàng thờ quang gánh và đôi đũa cả gắp phân. Vua ta ban câu đối chữ Hán cho làng:

Thân trụ nhất nhung y, năng đảm thế gian đa năng sự 

Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ trí nhân tâm


Nghĩa Nôm 

Khóac tấm áo bào, giang tay gánh vác thiên hạ

Vung ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian


Bàng Bá Lân: Múc ánh trăng vàng


Năm 1972, một anh bạn rủ tôi đến thăm nhà thơ Bàng Bá Lân ở một cái hẻm lớn trên đường Công Lý. Trước khi gặp ông, tôi cũng đã biết đến ông, một nhà thơ tiền chiến quê Bắc Giang, ông nói với tôi là đồng hương. Ông có vóc người trung bình, nhanh nhẹn, trang phục bình dân, giản dị. Ông nói chuyện với chúng tôi về thời sự, kinh tế, rồi văn học, văn chương truyền miệng, thơ… 
Chờ khi ông ngừng một lát, tôi mới nói chen vào, rằng trong ca dao tôi rất thích hai câu: 
Hỡi cô tát nước bên đàng 
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi


Tức thì nhà thơ ngắt lời tôi. Ông bảo 2 câu thơ đó trích trong một bài thơ lục bát gồm 12 câu của ông. Rồi ông đọc liền một mạch cả bài thơ đó. Nhưng ông sửa lại câu 8 mà tôi vừa dẫn trên là: 
Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi


Và ông giải thích: Người ta không thể "múc ánh trăng vàng" mà là "múc trăng vàng" ở dưới nước. Khi cái gầu của cô gái trong câu ca dao, dìm xuống nước thì mặt trăng tan vỡ ra trong nước, hòa với nước, sóng sánh cùng với nước. 
Thế là cô gái múc nước tát lên ruộng cao cũng đồng thời múc luôn cả vầng trăng tan vỡ trong đó. Nghe nhà thơ giảng nghĩa như vậy, chúng tôi từ chỗ ngỡ ngàng đến khâm phục. Hai câu thơ trên là của nhà thơ Bắc Giang: Bàng Bá Lân; và nguyên văn của nó chắc chắn là: "Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi" chứ không phải "Múc ánh trăng vàng đổ đi". 


Mãi về sau này cũng có một vài người lên tiếng công nhận hai câu trên là của Bàng Bá Lân, trong đó có Giáo sư Huyền Viêm có bài đăng trên "Kiến thức ngày nay". Tuy nhiên, chưa có ai chỉ rõ sự khác nhau giữa: "Múc ánh trăng vàng""Lại múc trăng vàng" như vừa nêu trên. Theo thiển nghĩ của chúng tôi, sở dĩ có sự lầm lẫn trên là do tam sao thất bản. 


Rằng, quyển "Ca dao tục ngữ Việt Nam" của Vũ Ngọc Phan có in hai câu ca dao trên được xuất bản sau năm 1955 ở miền Bắc, còn nhà thơ Bàng Bá Lân lại di cư vào Nam từ năm 1954.

(Nguyễn Đỗ)


Chữ nghĩa của một thời chinh chiến 

ở quán cà phê


Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:

Bastos : Biết anh sầu, tôi ôm sát.


Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè - 1


Sự thật nhiều bạn của Yến vẫn giúp anh trong những ngày đầu.
“Sau hai tháng tạm trú ở khu chung cư, người chủ chung cư yêu cầu cả nhóm phải dọn ra ngoài, bởi vì không thể chấp nhận một chung cư có hai phòng ngủ thôi mà chứa chấp tới 10 người. 

Ðầu năm 1980, gia đình Ðỗ Ngọc Yến dọn vào căn nhà 1005 đường Euclid và có thể gọi đây là trụ sở đầu tiên của báo Người Việt, với tòa soạn được đặt trong garage... Khi con số anh em làm việc trong tòa báo lên đến 10 người thì cái garage của căn nhà 1005 N. Euclid không còn chỗ chứa.
Vẫn theo Hoàng Khởi Phong, trong thời gian củng cố và phát triển kéo dài đến khoảng mười năm đầu, tờ Người Việt đã có nhiều anh em tứ xứ tụ về tiếp tay với Ðỗ Ngọc Yến. Như Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Phước Quan, Võ Thành Ðiểm vượt biển, Lê Ðình Ðiểu từ Pháp qua, Nguyễn Thượng Hiệp từ miền Ðông về..


Hoàng Khởi Phong nhấn mạnh đến một quyết định quan trọng của Ðỗ Ngọc Yến trong trang 138:
“...Ðể có thể tạo ra công ăn việc làm cho hàng chục anh em đến sau, tờ Người Việt ở vào thế phải bành trướng. Từ một tuần báo, tiến thêm một bước là mỗi tuần ra 2 số, và tất nhiên lương thì không thể nào trả đủ cho mọi anh em, rất nhiều lần Ðỗ Ngọc Yến đã phải kêu gọi mọi người đóng góp. Các anh Phan Huy Ðạt, Nguyễn Khả Lộc, Nguyễn Thiện Cơ, Lý Văn Chương, Tống Hoằng... chẳng những đã không được lãnh lương nhưng vì có công việc làm ăn vững chãi nên thỉnh thoảng cũng dốc túi cho tòa báo mượn tiền mà sau đó được tính thành cổ phần của tờ báo... 


(Vũ Ánh)


Vũ Ánh tên thật Vũ Văn Ánh sinh ngày 5 tháng 5 năm 1941 tại Hải Phòng. Từ năm 1964, ông làm phóng viên chiến trường, dần dần lên đến Chánh sự vụ Sở Thời sự Đài Phát thanh Sài Gòn, một chức vụ khiến ông bị bắt và bị giam trong trại cải tạo suốt 13 năm. Ông được xem là nhà báo mẫu mực, có kiến thức thâm sâu, và là người cương trực, thẳng thắn và tôn trọng sự thật. Ông qua đời đột ngột ngày 14 tháng 3 năm 2014.Vu Anh 1


Góp nhặt cát đá


Mộng


Đường về khép bóng trần gian
Lợi danh gói một hành trang vô thường.


Chữ nghĩa của một thời chinh chiến 

ở quán cà phê


Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:

Lucky : Lòng ước có khi yêu.


Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè - 2


Khi một tờ báo phát triển, bành trướng tất sẽ có những thay đổi về nhân sự và sẽ có những ngả rẽ bởi nhiều lý do. Cho nên, vẫn theo Hoàng Khởi Phong, đã có những chủ nhân các tờ báo khác từng đi qua tòa soạn Người Việt. Hoàng Khởi Phong đưa ra những điển hình của những ngả rẽ như việc Nguyễn Thượng Hiệp rời tờ Người Việt để sang điều hành tờ Ðồng Nai, hay Duy Sinh Nguyễn Ðức Phúc Khôi chào tạm biệt tờ Người Việt để ra tờ Việt Nam Tự Do. Yến không phản đối gì, trái lại còn giúp đỡ cho những tờ báo này ra đời, theo lời Hoàng Khởi Phong. 


Riêng đối với tờ Việt Báo, tác giả Hoàng Khởi Phong viết:
“Tờ báo thứ ba (chủ nhân Trần Dạ Từ và Nhã Ca) cũng khởi đi từ tờ Người Việt, Cuối thập niên 1980, Trần Dạ Từ và Nhã Ca được Thụy Ðiển can thiệp và đã thoát ra khỏi Việt Nam với cách của một người cầm bút miền Nam. Qua vài năm sinh sống ở Bắc Âu và cảm nhận được Thụy Ðiển không phải là chỗ dụng võ, Trần Dạ Từ và Nhã Ca đến Mỹ qua ngả Người Việt với thủ tục nhập cảnh như những nhân viên tối cần thiết cho một tờ báo Việt ngữ. Sau đó hai năm với sự hợp tác của các thân hữu khác, Trần Dạ Từ và Nhã Ca cho ra tờ Việt Báo...”

Trong những bài sổ tay vừa qua, với mục đích giới thiệu tuyển tập “Ðỗ Ngọc Yến giữa bạn bè”, tôi cố gắng đưa ra một số trích đoạn của một số tác giả trong 53 tác giả đã góp phần hoàn tất cuốn sách. Ðọc tuyển tập của 53 tác giả, cái cốt lõi trong sự thành công khi làm báo của Ðỗ Ngọc Yến chính là lòng nhân từ của anh. Người điểm cuốn sách này vẫn hy vọng ít ra nó cũng giúp quý vị độc giả tự giải đáp những thắc mắc của mình về một nhà báo, một người làm báo Việt ngữ ở hải ngoại.


(Vũ Ánh)


Chữ nghĩa của một thời chinh chiến 

ở quán cà phê


Trước 75, miền Nam có những câu “thành ngữ” 

về thuốc lá xuất xứ từ quán cà phê, như:

Cravena : Chơi rồi anh về, nhớ anh.


Trịnh Công Sơn với những khuất lấp


Lời bạt cho tập nhạc "Em còn nhớ hay em đã quên"


Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra. Van Cao - TCS432


(Văn Cao và Trịnh Công Sơn

tại căn gác 2 số 108 Yết Kiêu)


Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, "Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra". Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là ở chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi. Từ cái đêm ấy, tôi biết mình đã gặp một - tâm - hồn - chị - em xẻ chia Một cõi đi về

Và tôi (Văn Cao) viết lời bạt "Em còn nhớ hay em đã quên" này cho tập nhạc của Sơn như giữ một lời hẹn thầm chưa ngỏ, lời hẹn của một tri âm với tri âm...


Thấy tôi vẽ mà thiếu sơn, vì Sơn cũng vẽ nên hẹn khi trở lại Sài Gòn sẽ gửi ngay cho tôi. Mấy tháng sau, tôi tự thán (Văn Cao): ‘Sơn về rồi nhưng mãi không thấy…sơn đâu!


(Văn Cao)


Đọc Kiều của Trương Vĩnh Ký, nghĩ về ngôn ngữ Việt & 

vài khía cạnh biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa trong tiếng Việt 


Xin được trở lại với những đoạn giới thiệu truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký. 

* Trong đoạn đầu, “Đời Gia tĩnh nhà Minh, có họ Vương làm quan viên ngoại, sinh được ba đứa con, con út trai là Vương quan, con đầu lòng hai đứa gái là Túy kiều vuối Túy vânhai gã nhan sắc đẹp đẽ xinh tốt quá chừng, lại thêm học hành thông minh, lịch sự đủ đều, cầm, kì, thi, họa chẳng thua ai. (…)”, ta thấy TVK gọi Kiều và Vân là “hai gã”. Chúng ta chắc cảm thấy lạ. Nhưng, trong chữ Nôm, chữ 妸 , với bộ “nữ”,được dùng để phiên âm cho cả hai chữ “ả” (“cô ả”) và “gã”. Nó có dị thể là 婀. 

Câu 15 của Truyện Kiều: “Đầu lòng hai ả tố nga”, có bản chữ Nôm viết là “ 頭弄𠄩婀素娥”. Chữ “ả”, ở đây, viết theo lối dị thể, 婀. Còn bản phiên âm của Nguyễn Quảng Tuân viết là “頭𢚸𠄩妸素娥” , tức theo lối bình thường, 妸. Câu 805, “Chẳng là gã Mã Giám Sinh”, theo phiên âm cũng của Nguyễn Quảng Tuân, viết là: “拯罗妸馬監生”. Ta thấy, chữ “gã”, 妸, được viết giống như chữ “ả”.

Như vậy là, ngày xưa, trong tiếng Nôm, “gã” có thể được dùng để chỉ cả nữ và nam. Sau này, “gã” mới được dùng để chỉ một người đàn ông nào đó


Trở lại với cách viết “An Nam ròng” của cụ Trương Vĩnh Ký. Vậy thì “gã” có thể được chỉ cho cả trai và gái, cả nam và nữ. Từ cách gọi này, ta cũng có thể để ý đến các từ như hắn, cậu, va, y, v.v… Hiện nay, người Huế vẫn dùng chữ “hắn” để nói về một người nữ. 

Còn con gái Bắc, trong những câu chuyện thân tình, vẫn có thể gọi nhau là “cậu”. Chữ “va” (một từ thuần Nôm) ta sẽ nói ở dưới. Chữ “y”, một từ Hán, có nghĩa là “ấy, người ấy” (Hán-Việt TĐ, Đào Duy Anh), mang nét trung tính, gần như chữ “bỉ” (kia, người kia; “bỉ thử”: cái kia, cái này, hay người kia, người này). Đôi khi, ta thấy người ta dùng “y ta” để chỉ cho cả nam lẫn nữ. Nếu nhấn mạnh là nữ, người ta dùng “y thị.”.


(Bùi Vĩnh Phúc) 


Sử gia Nguyễn Đình Đầu buồn vì sách Petrus Ký bị thu hồi


Gs Nguyễn Đình Đầu buồn vì cuốn "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ" do ông chủ biên bị cấm.


image018

Cuốn "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ" do nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Đình Đầu chủ biên, một công trình tập hợp các bài viết của nhiều tác giả xưa và nay, nói về học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), hiện đang bị thu hồi khỏi các hiệu sách và bị cấm phát hành ở Việt Nam


Sách vốn được Cục Xuất bản cấp giấy phép với đầy đủ các thủ tục giấy tờ và đã qua thời hạn lưu chiểu theo luật định đủ một tháng rưỡi, tức được phép lưu hành, được dự trù ra mắt tại Đường Sách Sài Gòn vào sáng Chủ nhật 8-1-2017.

Thế nhưng buổi ra mắt sách này đã bị hủy theo "một chỉ thị miệng" và báo chí được tin nhận cảnh báo không đưa tin về cuốn sách này. Trước hết ông (Nguyễn Đình Đầu) cho biết ông không biết l‎ý do của việc thu hồi và ngưng phát hành này và cho tới nay cũng không hề có một văn bản hay giải thích chính thức nào.

Ông nói: "Tôi nghĩ có lẽ do một hiểu lầm nào đó, cho là cuốn sách cần phải có một sự điều chỉnh nào đó mà tôi cũng không biết."


Được biết cuốn sách đã được giới thiệu rộng rãi tại thành phố Sài Gòn và nhà xuất bản cũng cho biết đã làm đầy đủ các thủ tục nhưng ông Nguyễn Đình Đầu nói thêm "có lẽ chính nhà xuất bản cũng không rõ nội dung cuốn sách có gì không hợp ý cho nên mới có chỉ thị ra miệng là tạm không cho phát hành" như vậy.

Được biết Mặt trận Tổ quốc thành phố Sài Gòn cho tới phút cuối còn nói với nhà nguyên cứu rằng sẵn sàng giúp đỡ ông trong ngày ra mắt sách nếu cần giúp đỡ gì.


Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho biết ông rất buồn trước việc này vì ông là người bắt đầu nghiên cứu về Petrus Ký, tức Trương Vĩnh Ký, từ năm 1960 khi là Hội viên Hội nghiên cứu Đông Dương (nay là Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Sài Gòn).

Phần lớn các nhà nghiên cứu Việt Nam hay nước ngoài thường dựa vào cuốn tiểu sử Trương Vĩnh Ký, xuất bản vào các năm 1925-27, của Jean Bouchot, Giám đốc lưu trữ của Nam Kỳ, một người rất có cảm tình với Trương Vĩnh Ký nên đã viết khá đầy đủ "về cuộc đời con người có rất nhiều cống hiến cho Việt Nam, chứng tỏ ông Trương Vĩnh Ký là một người yêu nước Nam Kỳ, một nhà bác học", ông Đầu nói.


(Đoàn Lê Giang)

Văn học miền Nam 1954-1975: đường về gian nan


Sự phổ cập hóa của Internet bắt đầu từ những năm 90 đóng một vai trò không nhỏ trong việc lưu trữ tư liệu văn học Việt Nam. Công cuộc số hóa các tác phẩm thuộc Văn học miền Nam và Văn học hải ngoại ngày càng phổ biến trên liên mạng. Ở những năm sau này, bạn đọc có thể tìm thấy một số tác phẩm của nhiều tên tuổi quen thuộc của Văn học miền Nam trên các trang mạng Đặc Trưng, Viet Mesenger v.v…


Trong số các công trình lưu trữ và phổ biến các tác phẩm của Văn học miền Nam trên liên mạng phải kể đến chương trình Sách xuất bản tại miền Nam trước 1975” do nhà văn Phạm Thị Hoài, người chủ trương Tủ sách talawas thực hiện. Đây là một công trình khá dài hơi, kéo dài 4 năm trời từ 2004-2008 với 95 đầu sách của một số các tác giả quan trọng của nền văn học này.


Ngoài ra cũng có thể kể thêm các chuyên đề về Văn học miền Nam 54-75 của tạp chí Da Màu, Gió-O, chuyên đề Võ Phiến và toàn bộ “Văn học miền Nam: tổng quan” của Võ Phiến trên tạp chí Tiền Vệ, và vô số các tác phẩm đủ thể loại thuộc thời kỳ 54-75 trên các trang mạng, blog cá nhân trong và ngoài nước.


(Phùng Nguyễn)


Cái đinh của vua chúa 


Mời các bạn cùng xem mấy cái đinh, cái đanh được vua biết mặt, chúa biết tên. Đinh, đanh giống nhau, là đồ làm bằng sắt, đồng hay tre, mình tròn, đầu nhọn, dùng để đóng vào vật gì (Từ điển Khai Trí Tiến Đức, 1931).  
Từ điển Alexandre de Rhodes (1651) chỉ có cái đanh, không có cái đinh. 
Tự vị Huỳnh Tịnh Của (1895) ngược lại chỉ có cái đinh, không có cái đanh.  
Từ điển Génibrel (1898) có cả đanh lẫn đinh (tiếng Pháp là cloupointecheville) Génibrel ghi chú là người miền Bắc gọi cái đinh là cái đanh.
Người Đàng ngoài sợ kị huý tên vua Đinh Tiên Hoàng, nên gọi đinh là đanh chăng?

 

(Nguyễn Dư)


Sài Gòn thời Gia Long - 1 


Theo ông Trương Vĩnh Ký thì trung tâm thành 1790 ở nhà thờ lớn Đức Bà hiện nay, nơi đây thuở xưa có dựng một cây cờ lịnh to lớn. Cũng trong tập B.S.E.I năm 1935 này, tác giả kể khi xưa lúc đào nền móng để xây nhà thờ Đức Bà có gặp một lớp tro, cây, gạch và đá cháy lụn vụn dày trên ba tấc tây (0m30), định chừng đó là di tích kho lương mễ của giặc Khôi bị binh lính Minh Mạng đốt năm 1835 khi phá Quy Thành. Trong đống tro này, thợ đào đất đã gặp lềnh kềnh ngổn ngang nào xác tiền điếu, tiền kẽm bị lửa cháy ra khối kẹo quánh lại, nào đạn súng to bằng gang sắt, bằng đá khối, nào hài cốt trẻ con còn đựng trong hũ trong vò.


Cứ theo tài liệu Trương Vĩnh Ký thì bốn vách Quy Thành, ám theo bốn hướng:

1. Đông: đường Lê Thánh Tôn (d ' Espagne cũ).

2. Tây: đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ).

3. Bắc: đường Đinh Tiên Hoàng (Albert ler cũ) nối dài qua Cường Để (Luro cũ).

4. Nam: đường Công Lý (Mac Mahon sau là Général de Gaulle). 


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Nước trong quá thì không có cá

người câu nệ quá thì không có bạn

Kinh Dịch


Sài Gòn thời Gia Long - 2 


Theo Gia Định thông chí thì năm 1777 Gia Long thâu phục được Sài Gòn, năm 1779 sai tu định địa đồ lập địa giới dinh Phiên Trấn. Năm 1790 đắp thành bát quái trên gò cao gọi đó là Gia Định kinh. Gia Long thứ nhất năm 1802, cải tên Phủ Gia Định làm Trấn Gia Định. Qua năm thứ 7, cải làm Gia Định Thành, gọi trấn Phiên An gồm luôn Biên Hòa, Định Tường, Hà Tiên.


Năm 1789, Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, ra lịnh xây đắp thành trì thêm kiên cố do Oliver de Puymanuel, ông này Việt danh là “Ông Tín”, xây theo kiểu Vauban: thành xây tám góc theo Bát Quái, chữ gọi “Quy Thành”. Vách cao mười lăm thước mộc, tính ra lối 4m80, toàn bằng đá ong Biên Hòa kiểu “lục lăng”. Năm 1926, khi thợ đào móng cất nhà chọc trời góc đường Tự Do và Gia Long (building Catinat), thì gặp dưới đất cát lối năm thước sáu tấc tây bề sâu (5m60) một mớ đá ong lục lăng, định chắc đó là chưn cũ vách Thành Sài Gòn đời Gia Long xây năm 1790. 

Một di tích khác cũng của "Quy Thành" lại đào thấy năm 1935 tại nhà thương Đồn Đất, góc đường Lagrandière (Gia Long) và LaFont (Chu Mạnh Trinh). Theo ông Charles Lemire thì đường Lagrandière cũ là con đường đắp trên hào thành xưạ. Hiện mớ đá lục lăng tìm được năm 1926 còn lưu trữ tại kho của Viện Bảo Tàng trong vườn Bách Thảo để làm dấu tích.


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Sài Gòn thời Minh Mạng


Năm 1832 (Minh Mạng thứ 13) vua sai đổi tên là Phiên An Thành.

Năm 1833, Lê Văn Khôi làm phản, chiếm thành được ba năm.

Năm 1835 (Minh Mạng thứ 16), binh triều hạ thành Phiên An.


Minh Mạng đốt Quy Thành năm 1835, trong đống tro này, thợ đào đất đã gặp di tích kho lương mễ của Lê Văn Khôi, v…v… Minh Mạng vì giận giặc Khôi chiếm cứ mấy năm nên dạy phá bỏ Quy Thành của Gia Long xây cất năm 1790. Qua năm thứ 17 (1836), Minh Mạng ra lệnh xây thành khác ở về hướng đông bắc Quy Thành. Chiếu theo bộ Gia Định thông chí Trịnh Hoài Đức thì thành 1836 nằm tại làng Nghĩa Hòa.


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Phố phuờng Hà Nội


Hà Nội xưa kia không có các huyện ngoại thành. Lên đến Bưởi đã là ngoại ô. Ra Cầu Giấy, nói đầy đủ là ra đến Ô Cầu Giấy đã hết địa phận thành phố. Cau Giay 1884


(Cầu Giấy 1884)


Người Pháp định đưa huyện Hoàng Long, hầu hết quận Đống Đa bây giờ, làm ngoại thành gọi là đại lý Hoàn Long. Tri huyện Đặng Vũ Niết, vừa nhậm chức quan đại lý thì đảo chính Nhật 9-3-1945, thế là tong. 


Tỉnh Hà Đông, tỉnh Bắc Ninh bọc quanh, Hà Nội hẹp toen hoẻn ở giữa. Xuống cuối đường Huế đã hết đất thành phố. Làng Yên Phụ bờ hồ tây thuộc Hà Đông. Đường lên Bưởi, qua cửa trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) đã gặp làng Thụy Khuê ngoại ô rồi. Bãi giữa dưới cầu Long Biên giữa sông Hồng thuộc đất huyện Gia Lâm tỉnh Bắc NinhCau Long Bien


Đầu phố Khâm Thiên đằng này, chỗ cái Bari-e chắn đường xe lửa là hết đất Hà Nội. Xem tay bánh sắt, gọi là xe ngoại, cu li kéo hết phố Khâm Thiên, phải đổi sang xe bánh cao su mới được vào thành phố. Vùng Khâm Thiên còn gọi là Hà Đông

Các phố hàng Bài, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Hùng Vương bây giờ là khu vực phố Tây-phần đông chỉ người Pháp hoặc nhà người "An Nam" giàu có. Nhà vườn, tường hoa cổng sắt riêng ô tô ra. Phố Tây vắng, loáng thoáng người qua lại, phần nhiều chỉ là người đi làm đầu bếp, chị Hai giữ trẻ nhà Tây.
Người như tôi lúc ấy, những thanh niên chân xỏ đôi guốc mộc, áo dài thâm, bước thất thểu, qua cửa nhà sang trọng hay nhớn nhác nhòm ngó. Thế nào cũng có đội xếp rõi mắt xem có phải kẻ gian "chú trích" không. Chẳng ai dại gì lai vãng qua phố Tây. 

(Tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường – Tô Hòai)


Văn hóa ẩm thực

Bánh chưng, bánh tét, bánh dày, xôi và cốm


Người Thái đồ xôi có nhuộm màu: xôi đỏ tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt Trăng (Tết Cầu mùa: Xíp Xì). Người Nùng làm xôi bảy màu để “tượng trưng cho chặng đường lịch sử bảy tháng đầy ý nghĩa trong một năm đất trời xoay chuyển, nhưng gắn liền với lịch sử dân tộc” (mỗi màu tượng trưng một tháng, từ tháng Giêng đến tháng Bảy). 


Cơm cúng đơm vào chén, bát, thậm chí còn nèn, gọi “chén cơm in”. Còn xôi đơm ra đĩa hay mâm, phổ biến từ “mâm xôi”, luôn gợi cho ta hình ảnh của một sự vun cao lên tròn trịa và sung mãn, biểu thị cho sự phồn thực.


(Huỳnh Ngọc Trảng)

Các món ăn rùa

 

Rùa rang muối

Rùa rang muối phải dùng nồi đất. Cho vào nồi đất một lớp dầy muối hột, (không dùng muối bọt vì độ nóng và nổ ít). Sau đó, để nguyên rùa sống vào đậy thật kín. Nếu rùa được cắt cổ lấy huyết thì rang muối xong thịt rùa sẽ trắng như thịt gà, nhìn rất đẹp. Còn để nguyên con rùa còn sống vô nồi muối thì khi chín thịt rùa sẽ có màu đỏ bầm.


Đợi muối trong nồi nổ hết, nhắc xuống. Đem con rùa ra khỏi nồi, để trên một cái dĩa lớn, một tay dùng cái khăn giữ chặt, một tay cầm dao nhỏ sắc và cứng tách cái yếm ra trước. Thịt rùa rang muối ăn kèm với khế, chuối chát, rau rừng các loại.

 

Nước mắm ăn thịt rùa, bắt buộc là phải nước mắm me mới là người sành điệu. Me chín tách hột ra cho vào tô, chén, đổ nước chín để nguội vào. Dầm me lấy nước chua, có thể để luôn cả xác me hoặc bỏ đi tùy theo ý thích của mỗi người. Rót nước mắm nhỉ vào khuấy đều cho thêm tỏi, ớt đâm nhuyễn, đường cát trắng hoặc một ít bột ngọt. Nước mắm me ăn rùa mà quên món sả phi vàng là một điều thiếu sót vì nó sẽ làm giảm cái ngon của nghệ thuật ẩm thực.

 

(Trần Minh Thương)


Sài Gòn chốn cũ đường xưa 


Mai này, người Sài Gòn có thể chỉ còn biết đến cái tên Chợ Cũ qua tác phẩm của Vương Hồng Sển hay một vài tư liệu nào đó về Sài Gòn xưa. 
Sau Tết Đinh Dậu (2017), Chợ Cũ Tôn Thất Đạm sẽ bị giải tỏa. Phiên chợ Tết cuối cùng chứa đựng nhiều lưu luyến, không chỉ bởi đồ ở Chợ Cũ xưa nay nổi tiếng ngon nhất xứ, mà còn vì chợ đi cùng đời sống thăng trầm của những người vào đất phương nam lập nghiệp từ trăm năm trước. 

Rắn trong văn hoá ẩm thực

 

Cách làm rắn

Rắn có thể cắt cổ, lấy máu pha rượu, cũng có thể đập đầu cho rắn chết, kế đó người ta thường làm rắn bằng một trong các cách sau: Dùng than hoặc rơm rạ khô hơ nhẹ cho lớp vảy tróc ra, không để quá lâu, lửa sẽ làm thịt chín lúc ấy khó làm, và rắn cũng mất ngon.


Hoặc trụn nước sôi: cũng làm tương tự như cách hơ lửa, chỉ có khác là nhúng rắn vào nồi nước đang sôi để dễ làm vảy. Cạo vảy xong, rửa sạch rồi mổ bụng, chú ý, phải lấy mật trước, sau đó mới lấy bộ đồ lòng. Gan, đặc biệt là mỡ rắn rất ngon và béo, nếu gặp rắn có trứng thì trứng rắn ngon hơn cả trứng gà, bởi nó vừa ngọt, vừa bùi. Mật rắn quý hiếm số một. Ai mà làm rắn, nhất là rắn mà làm bể mật coi như chưa phải là “cao thủ” trong “nghề ăn chơi!”

 

Trong những bữa nhậu thịt rắn, người ta lấy mật rắn hòa với rượu đế, mỗi người uống một ít khi mở đầu tiệc nhậu. Không ai dám nuốt nguyên một cái mật rắn hổ cả, vì như thế rất nguy hiểm, mật rắn hổ là vị thuốc quý nhưng nếu uống quá liều lượng cũng dễ bị "hàn". Khi làm thịt nó, trước hết người ta chặt bỏ cái đầu, lấy một cây que vót nhọn đâm vào và đem chôn ngay, không thì phải dùng dao bằm nát, hoặc bỏ vào lửa đốt đi. Tránh chuyện mãi mê lo làm rắn, quên cái đầu ấy (thực ra nọc độc vẫn còn, tay chân trầy xước, tróc da, vướng vào răng nó lúc ấy vẫn an nguy đến tính mạng như thường). 

Ngay cả khi ăn thịt rắn hổ phải chú ý tách xương ra, xương cũng phải chôn cẩn thận vì nếu ai đạp phải xương rắn hổ, chân sẽ bị làm độc, sưng nhức khó chịu.

 

(Trần Minh Thương)


Chợ Cũ thời vang bóng. 

Cái tên Chợ Cũ đã được học giả Vương Hồng Sển nhắc tới ngay ở phần tựa của tác phẩm “Sài Gòn năm xưa” (năm 1960). Nhưng đoạn ký ức về Chợ Cũ của Vương Hồng Sển có từ những năm 1919, năm mà người cha đưa ông lên Sài Gòn học trường lớn. 

Học giả Vương Hồng Sển viết: “Con bắt đầu nếm mùi cháo cá Chợ Cũ, hủ tíu Chợ Mới, xem hát thì Chùa Bà Chợ Lớn, nhai thịt bò kho thằng Lù, có năm cắc leo chuồng gà ngồi coi hát Tây, và cảnh không còn gặp nữa là: bữa bữa hai cha con thượng cao lâu ăn cơm xá xíu”. 


ChoCu02

(Chợ Cũ năm 1968)


Không chỉ có cháo cá, Chợ Cũ còn nổi tiếng bởi cà phê dĩa, cơm thố của những đầu bếp người Hoa di cư. Ngày nay, vẫn còn một tiệm cơm thố ở số 67 Tôn Thất Đạm, với những món ngon nức tiếng như hầm vĩ chưng hột vịt, sườn xào chua ngọt, gà tiềm thuốc bắc… 

(Hà Hương – Bùi Thư) 


Phở


Các gánh xáo trâu đã được các bà học nhau chuyển thành xáo bò. Thịt bò gây mùi khi nguội, nên lò lửa liu riu được cải tiến thêm vào gánh. Chẳng mấy chốc món xáo bò mới lan tràn suốt từ ô Quan Chưởng xuống tới ô Hàng Mắm. Dĩ nhiên quyền bán hàng không thuộc riêng người Việt, thực khách phu phen người Hoa rất đông đảo ở bến sông nên các chú Chiệc cũng tích cực tham gia vào tiến trình phát triển xáo bò, đến nỗi được Henri Oger lưu lại hình ảnh gánh phở rong trong tập “Technique du people Annamite” (Kỹ thuật của người An Nam 1908 - 1909). Các chú Chiệc có ưu thế trong việc thu xếp gánh xáo bò, vì họ vốn có sẵn nền nếp “văn minh mì gánh”, về căn bản rất phù hợp cho món ẩm thực mới.


Từ bãi sông Hồng, trên những đôi vai gầy guộc “phở gánh” đã lan tỏa khắp “ hang cùng ngõ hẻm” Hà Nội rồi lan qua nơi khác. Rầm rộ nhất có lẽ là thành Nam nhằm phục vụ công nhân nhà máy dệt Nam Định mới mở hồi cuối thập kỷ 20 thế kỷ trước.

Rồi phở phát triển mạnh ở đây đến nỗi nhiều người ngộ nhận, muốn gán cái vinh hạnh “Nơi khai sinh ra phở”cho Nam Định. 


Theo tư liệu của các gia đình hành nghề phở ở Vân Cù, khoảng năm 1925, ông Vạn là người Nam Định đầu tiên trong làng ra Hà Nội mở quán ở phố hàng Hành mạn hồ Gươm, song phở Hà Nội đã xuất hiện trước thời điểm đó ít nhất 15 năm. Dẫu sao, không ai có thể phủ nhận công lao to lớn phát triển nghiệp phở của “phở Nam Định”với những gia đình truyền nghề phở đến đời thứ tư và là chủ nhân của thương hiệu “Phở gia truyền” ngày nay.


(Nhiều tác giả)


Chữ là nghĩa


Miền Nam là đất mới đối với người Việt, những địa danh chỉ được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thuỷ đã biến mất theo thời gian.

Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán…còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được

Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Cua cáy phiếm lược – cua (5)


Trước khi vắt qua cua Canada, cua Alaska, ta ra Đại Tây dương với cua “lược sử”: Động vật dạng cua có nhiều tại tất cả các vùng biểnđại dương. Có loài sống trong sôngđồng ruộng, chẳng hạn như các loài trong họ cua núi (Potamidae) hay họ cua đồng (Parathelphusidae) và một số loài sống trên cạn .





Một loài cua cạn tại Trung Mỹ.

(Gecarcinus quadratus)



***

Người Anh gọi cua là crab “flower’: Cua hoa



Với cua cạn, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới, như cua đỏ ở Nam Mỹ, chúng ở trên đảo và sống trên cây trông đỏ rực từ gốc lên đến tàng cây (người tầm khảo cũng đã được xem chương trình 20/20 của đài truyền hình ABC thập niên 80). Vì vậy người tầm khảo không thể không quá khứ vị lai tới đất Gò Công, con ba khía bò lên cây đước, cây mắm đeo chùm để đẻ trứng như sung bám thân cây đặc nghìn nghịt bên bờ ao quê nhà. 


Trở lại với cua cạn, kích thước từ nhỏ xíu (vài milimét) đến khá lớn, như cua nhện Nhật Bản (Japanese spider crab)  với sải chân 4 mét. Loại cua nhện Nhật Bản này có thể sống đến 100 tuổi. Người Nhật gọi là Takaashigani.



Cua nhện Nhật Bản


Loài cua khổng lồ này sống ở đáy biển (khoảng 20 mét) phía nam Nhật Bản. Trọng lượng của cua nhện Nhật Bản lối 20 ký lô. Tên khoa học của cua nhện Nhật Bản là Macrocheira kaempferi thuộc gia đình Inachidae. Các anh chị cua nhện Nhật Bản, mắt lồi rất to, ngoe dài lêu khêu như chân nhện nên gọi là cua nhện. Thôi thì đành phải đụng đũa dụng bát đến cua nhện Seattle.


Ẩm thực miền Bắc


Món bún chả - 1


Bún chả là món ăn đặc trưng của miền Bắc. Bún chả gồm có bún tươi và thịt nướng than hoa, ăn kèm với rau thơm, nước chấm bún chả chua cay mặn ngọt là ngon tuyệt.


Ẩm thực miền Bắc, tinh hoa văn hóa ẩm thực lâu đời  - Ảnh 5.


Bạn có dịp tới Hà Nội thì nhớ phải ghé qua quán bún chả để thưởng thức hương vị thơm ngon, rất riêng mà chỉ bún chả mới có nhé.


(Hằng Nga)


Hữu Loan và Hà Thượng Nhân


Hai nhà thơ Hữu LoanHà Thượng Nhân là bạn cùng lứa tuổi và cùng xuất thân từ quê hương Thanh Hóa, nên rất gắn bó thân thiết với nhau. Hai ông vẫn xưng với nhau là “mày/tao” như cái hồi còn nhỏ tuổi có đến trên dưới 80 năm rồi. Ngày nay cả hai đã ở vào cái tuổi “cửu thập” sắp sửa bước tới “bách niên” rồi.


Trước năm 1945, tại Thanh Hóa người ta vẫn gọi hai ông là Tú Loan (Nguyễn Hữu Loan), Tú Trinh (Hoàng Trinh - Phạm Xuân Ninh sau này) với sự trọng nể kính phục, vì vào thời đó những người có bằng Tú Tài ở địa phương thì rất hiếm, có thể đếm trên đầu ngón tay được.


Sau 1954, thì Hữu Loan ở lại miền Bắc, còn Hà Thượng Nhân thì vào miền Nam. Và cả hai đều có sự nghiệp thơ văn đáng kể, mỗi người mỗi vẻ.

Tôi có cái duyên được gần gũi quen biết với cả hai nhà thơ nổi danh này. Năm ngoái 2008, tôi đã viết về nhà thơ Hà Thượng Nhân, năm nay tôi xin viết về những kỷ niệm vui vui với nhà thơ Hữu Loan.


Vì đã có nhiều tác giả phân tích chi tiết về các bài thơ của Hữu Loan, nên tôi sẽ không lạm bàn về lãnh vực văn chương thơ phú, mà chỉ ghi lại cái kỷ niệm riêng tư khó quên giữa nhà thơ và tôi ở Saigon vào năm 1988-89.


(Ðoàn Thanh Liêm)


Bia - Ha Thuong Nhan

Tiểu sử: Hà Thượng Nhân tên thật: Phạm Xuân Ninh. Bút hiệu Hà Thượng Nhân. 

Sinh năm 1919, tại Hà Thượng, Thanh Hóa.

Mất ngày 11-10-2011 tại San Jose, California.


Tác phẩm: thơ Hà Thượng Nhân, Bên trời lận đận.



Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách


- Ngoài sự đào tạo của nhà trường, về văn chương và tư tưởng, tiên sinh còn chịu những ảnh hưởng nào?

 - Tôi sinh trưởng ở một đất văn vật, ngay từ bé, việc văn chương thi cử là câu chuyện hàng ngày. Khi tôi ở nhà, tuy quốc văn chưa được để ý đến, nhưng những chuyện văn hóa - thứ nhất là những giờ cụ tôi giảng cổ văn cho nghe - có lợi cho tôi nhiều lắm.

Những ngày học trong cái tuổi anh niên đã tạo cho tôi một cái cốt nho học. Xung quanh cái cốt ấy, sau này, trong một trường chuyên về văn chương, chúng tôi xây đắp tư tưởng với những tài liệu nhặt trong văn chương Pháp.


Chúng tôi nhờ có những giáo sư chuyên môn dạy bảo, đọc rất nhiều sách của các văn nhân và thi nhân Pháp. Mà càng học, càng thấy cái rừng học bao la man mác; mình thì như một người trẻ tuổi nhiều trí ham muốn quá, thấy cái gì đẹp, cái gì hay đều muốn vơ lấy cả. Chúng tôi đọc Bourget, Barrès... nhưng thích nhất là những văn gia, thi sĩ về thế kỷ thứ XVIII và XIX : Rousseau, Chateaubriand và bốn thi sĩ mà chúng tôi gọi là “tứ trụ”, tức là : Lamartine, Hugo, Musset và Vigny.


(Lê Thanh)


Năm 1943, nhà phê bình Lê Thanh (1913-1944) có phỏng vấn 8 nhà văn, nhà nghiên cứu vào thời điểm đó, là Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Đôn Phục, Ngô Văn Triện, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Long, Tú Mỡ và Đào Duy Anh. Sau ông in thành cuốn sách có tựa đề “Cuộc phỏng vấn các nhà văn” do Nhà xuất bản Đời Mới, Hà Nội, ấn hành năm 1943.


Đây là cuốn sách không chỉ thể hiện phong cách phỏng vấn hiện đại, chiều sâu của Lê Thanh mà là nguồn tư liệu quý cung cấp những thông tin rất chuẩn xác về cuộc đời, sự nghiệp cũng như nhận định của các nhà văn được phỏng vấn về thế cuộc và văn chương, lịch sử lúc bấy giờ.


Tiếng Việt, dễ mà khó


Chữ "yếu ớt" chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ "yếu nớt". 


"ớt" thì không có nghĩa gì cả. Trong khi "nớt" có nghĩa là sinh thiếu tháng, vẫn còn dùng trong từ "non nớt".


"Yếu nớt", do đó, có nghĩa là yếu đuối, là non nớt. 


(Nguyễn Hưng Quốc - e-cadao.com


Góp nhặt đường văn ngõ chữ


Chân ướt chân ráo


Thành ngữ này do phong tục rước dâu ngày trước tạo nên. Khi cô dâu bước chân về nhà chồng, mẹ chồng ra đỡ nón cho cô dâu, nhúng chân cô dâu vào một chậu nước để rửa làm phép (trong chậu có bỏ mấy đồng tiền ngầm chúc tiền của sẽ vào như nước). Sau đó, cô dâu phải bước qua một chậu than hồng (để trừ ma quỷ) trước khi vào buồng.


Vì vậy, thành ngữ này có nghĩa là : thời gian chưa lâu (cô ấy mới chân ướt chân ráo về nhà chồng).


Chữ nghĩa làng văn


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy – 3


Mỗi khi có bạn từ trong Trung trong Nam tôi thích rủ ra Bờ Hồ, làm vài ly và ngồi ngắm cảnh, như là một nếp quen mà cũng là ẩn chút niềm tự hào của người Hà Nội đối với người phương xa. Nhưng mà Cao Xuân Huy phải đâu người phương xa. Năm 54 anh đang ở Hà Nội, tôi thì tận trong Vinh. Đình chiến, anh vào Sài Gòn, tôi ra Thủ Đô. 

Ngược chiều nhau và đối nghịch nhau, chỉ có điều, vào cái năm cắt đôi đất nước ấy chúng tôi mới là hai đứa bé, tôi 2 tuổi, Huy 7 tuổi. Tôi theo cha mẹ, Huy theo người cậu.


Giờ đây, ngồi bên nhau, cạch ly, chúng tôi  chuyển xưng hô, không anh tôi nữa, mà ông tôi. Anh hơn tuổi, nhưng năm đó chưa là Huy "râu" như về sau này, còn tôi tuy năm nên coi như ngang bằng. Thoạt tiên, bởi tôi hỏi thăm nên anh kể tôi nghe về đời sống và sức khoẻ của nhà văn Khánh Trường, về công việc, sự phát triển xuống lên thăng trầm của tờ Hợp Lưu. Nhưng kể sơ thôi, những gì không biết anh nói không biết. 

Tôi thích những người có cái đức đối ẩm bạt thiệp kiểu như anh. Không nửa vời, sẵn sàng la đà tới bến, nhưng chậm rãi, nhâm nhi, bình thản, không xỉn, không xỉn lộ ra trong hình dong và cử chỉ, nhất là không bao giờ xỉn ra nơi đầu lưỡi.


(Bảo Ninh)


Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh. Từ 1984-1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du. Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997.

Tác phẩm : Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh còn viết một số truyện ngắn về đề tài chiến tranh, trong đó truyện Khắc dấu mạn thuyền đã được dựng thành phim.


Những ca từ “khó hiểu” trong 8 ca khúc của Trịng Công Sơn


3. Một Cõi Đi Về

“Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi”… Câu hát này sử dụng từ ngữ rất… TCS. Nhiều ca sĩ trẻ không biết “con tinh yêu thương” là gì, nên tự ý đổi lại thành “con tim yêu thương” cho nó thơ mộng. Sinh thời, TCS đã rất nhiều lần giải thích cái hay, cái chất Huế độc đáo của từ “con tinh” trong bài này. Theo ông, các cô gái nhỏ, xinh đẹp và nghịch ngợm ở Huế hay bị gia đình, người thân mắng yêu là “đồ yêu tinh”. Cái “con tinh” đó đã đi vào văn học và đi qua dòng nhạc Trịnh trong bài hát mà ông yêu thích nhất, nhưng đa số ca sĩ lại hát là “con tim”, làm cho câu hát không còn gì đặc biệt.


(Nguyễn Mậu Nhân – Sai Gon xua)


Bát canh dưa chiều đông


Cá tép rửa sạch vẩy ráo, đem ướp chút muối tiêu. Lát sau đem rán sơ qua trên chảo mỡ. Mẹ tôi dặn là chỉ rán sơ qua, vừa chớm vàng thôi, chứ đừng rán quá cháy, mà canh sẽ mất nước ngọt.

Cá rán rồi gắp riêng ra chiếc nồi to. Để nguyên chảo mỡ trên bếp, rắc vào mấy nhánh hành khô đã đập giập, phi cho thơm lên, rồi cho mấy nắm dưa chua đã vắt ráo vào xào tiếp với chút mắm muối cho vừa vặn. Đừng cho mắm muối quá tay. Vì dưa đã đậm rồi đấy. Mẹ tôi luôn nhắc như thế. Dưa chín mềm thì cho cả chua vào xào lẫn, thêm mấy miếng tóp mỡ nữa thì nhất.


Lấy nước sôi tráng chảo, chứ đừng cho nước lã mà tanh đấy, mẹ dặn thế Nước tráng chảo dưa xào cà chua, đem đổ vào nồi cá tép đun sôi bùng lên Rồi vặn nhỏ lửa cho cá tép tiết ra nước ngọt. Sau đó mới đổ dưa xào cà chua tóp mỡ vào nồi cá, cùng đun âm ỉ thêm một lát là được. Lúc múc canh ra, thả vào chút rau răm hành hoa thái nhỏ. Có nhà hay quen ăn canh dưa rắc hành hoa thìa là. 


(Vũ Thị Tuyết Nhung)


Vĩnh biệt Đào Mộng Nam


Bài thơ nhiều đọan này về sau được một số bạn hữu đưa vào một CD tuyển thơ của nhiều nhà thơ. Nhưng dấu ấn lớn nhất của Đào Mộng Nam đối với văn học Việt Nam chính là vai trò một nhà Hán học của anh. Rất nhiều sinh viên của các Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh thời trứơc 1975 không thể nào quên về công trình quảng bá chữ Nho của Đào Mộng Nam. Giáo Sư Đào Mộng Nam có một phương pháp dạy và học chữ Hán mới hơn, giúp học sinh tiếp cận văn học chữ Nho nhanh hơn và nhớ hơn các lối học truyền thống. Trước đây, nhà văn Hòang Hải Thủy từng viết rằng chỉ nhờ học chữ Hán theo phương pháp của Đào Mộng Nam trong 5 tháng là đã có thể tự đọc được Tam Quốc Chí bằng Hán ngữ. Hiển nhiên, như thế là phi thường kinh khủng.
Nếu chúng ta hình dung ra cơ sự tương tự mới thấy được cái hay của phương pháp tiếp cận mới đó: chỉ cần học Anh ngữ trong 5 tháng là có thể đọc được văn của Shakespeare hay Charles Dickens". Có lẽ, với Shakespeare thì 5 tháng chưa đủ, nhưng với Charles Dickens thì có thể phần nào, nếu có ai học Anh ngữ với một năng khiếu phi thường.
Thế đấy, hiển nhiên là, Đào Mộng Nam đã để lại những kỷ niệm không thể nào quên nổi với rất nhiều người từng một thời say mê chữ Hán hay cổ học.


(Phan Tấn Hải)


***

Phụ đính I


Hủ tíu kia cũng có ba bảy đường


Trong tuyển tập Hương vị quê nhà, Thuận Lý lập luận rằng thuở tràn vào châu thổ sông Cửu Long để mở cõi vào giai đoạn thế kỷ XVI - XVII, lưu dân từ Đàng Ngoài rất nhớ quê cha đất tổ, nhớ hương vị nhiều món ăn truyền thống, đặc biệt là nhớ phở. Vì thế, gặp món cổ chéo của bà con Minh Hương, khác nào "buồn ngủ gặp chiếu manh", lưu dân tiếp thụ ngay món ăn tương tự phở chỉ cần chế biến với nguyên vật liệu sẵn có ở vùng đất mới như heo/lợn, tôm/ cá, v.v. Đó chính là hủ tíu.

Chưa rõ dựa vào cứ liệu nào mà Trần Phước Thuận khẳng định trên báo Bạc Liêu rằng hủ tíu xuất hiện ở miền Nam muộn nhất cũng từ thời Mạc Cửu, tức đã hơn ba thế kỷ. 


Về phở, giáo sư Phan Ngọc chịu khó lục lọi sách vở và thống kê 17 kiểu cả thảy: hủ tíu Nam Vang, hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Sa Đéc, hủ tíu Lái Thiêu, hủ tíu mì, hủ tíu nui, hủ tíu hoành thánh, hủ tíu xá xíu, hủ tíu thịt băm, hủ tíu sườn heo, hủ tíu lòng heo, hủ tíu cá, hủ tíu cua, hủ tíu tôm, hủ tíu gà ta, hủ tíu gà ác, hủ tíu bò kho, hủ tíu bò viên, hủ tíu bò tái, hủ tíu bò sa tế, hủ tíu nai sa tế, hủ tíu vịt quay, hủ tíu nấm, hủ tíu măng, hủ tíu chay


Nói chung, mỗi kiểu đều chia 2 dòng là khô và nước, do đó nhân đôi lên vị chi món hủ tíu đã có sơ sơ 50 kiểu. Ấy là tôi chưa liệt kê mấy kiểu "độc chiêu" thỉnh thoảng bắt gặp ở các tỉnh miền Tây như hủ tíu chuột, hủ tíu dơi, hủ tíu rắn, hủ tíu rùa. 


(Phanxipăng)


***

Phụ đính II


Chữ nghĩa làng văn


Trăm hoa đua nở trên đất Bắc


Nội dung cuốn sách Trăm hoa đua nở trên đất Bắc là cuộc nổi dậy của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm chống chính sách chỉ huy văn nghệ của đảng Cộng sản. Khi đề cập tới một nhà văn, một nhà thơ hay một nghệ sĩ sáng tác ca khúc, hội họa, nhà biên khảo Hoàng Văn Chí đều cung cấp một tiểu sử tuy ngắn gọn nhưng chính xác. Kèm theo là hình ảnh, hoặc tờ báo, hoặc bìa sách, hoặc chân dung người được nói đến. 


Trong Lời Tựa, chúng ta đã có thể biết phẩm chất của công việc mà học giả Hoàng Văn Chí thực hiện, ít ra là cho cuốn sách đang được nói đến: Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng” là dịch Nôm câu chữ Hán: “Bách hoa tề phóng, Bách gia tranh minh,” trong cổ văn. Ðây là một câu mà học giả đời Hán đặt ra để vừa ca tụng vừa tỏ ý luyến tiếc nền văn học cổ điển Trung Hoa, trong mấy thế kỷ trước, về thời Ðông Chu.


(Người phát giác vụ “Nhân Văn - Giai Phẩm” – Viên Linh) 


Chữ nghĩa làng văn


Phi Lạc sang Tàu


Vốn là khi ở Hà Nội còn học đệ lục, độc giả thiếu nhi có kẻ đã đọc Hồ Hữu Tường. Hàng ngày đi học qua Phố Huế, tôi ghé vào hiệu sách Bình Minh thăm con bà chủ hiệu sách. Hồ Hữu Tường lúc ấy đang rất nổi danh với Phi-Lạc Sang Tầu (1954), Phi-Lạc Náo Hoa Kỳ (1955), hai cuốn trong bộ truyện Ngàn Năm Một Thuở mà cuốn thứ ba đang được bàn tán đón đợi là Phi-Lạc Bỡn Nga. Trần Văn Ân là chủ nhiệm tuần báo Ðời Mới, tờ báo sinh động phong phú, qui tụ được những nhà văn đương thời. 


(Viên Linh)


MỜI XEM :