20 thg 9, 2026

Chờ Người Chiều Sông Vàm - Thuyên Huy


 

Chiếc Ghế Đa Tình - Edogawarampo

 


Sau khi chồng bà đi làm, bà Yoshiko được hoàn toàn tự do. Bà vào thư phòng mà hai vợ chồng bà cùng chia nhau sử dụng, tiếp tục viết một truyện dài cho số đặc biệt mùa hè của tạp chí K.

Bà Yoshiko là một nữ sỹ nổi danh về bút pháp lả lướt. Chồng bà là một nhân viên cao cấp ở Bộ Ngoại giao, nhưng ông có vẻ lu mờ trước tên tuổi đang lên của bà vợ. Hàng ngày, bà nhận được cả chồng thư từ của độc giả bốn phương gửi tới.

Sáng hôm ấy, khi ngồi lại bàn giấy, công việc đầu tiên của bà là đọc mấy xấp thư mới gửi đến. Bà đọc hết tất cả các thư đó.

Bà đọc các thư ngắn trước và ghi chú nội dung. Sau cùng bà đọc các bức thư dài. Một đôi khi bà nhận được cả truyện ngắn mà người viết chịu khó gửi đến để nhờ bà đọc và phê bình. Những truyện ngắn đó thường viết dài dòng, luộm thuộm và gây buồn ngủ.

Hôm ấy, bà Yoshiko cũng nhận được một bản thảo. Nhưng đây là một bản thảo hết sức đặc biệt, không có nhan đề trên đầu.

Có lẽ là một bức thư thì đúng hơn.

“Thưa bà…”

Bà Yoshiko ngừng lại, ngẫm nghĩ. Có thể đây chỉ là một bức thư. Bà liếc nhanh mấy hàng phía dưới, nhưng càng đọc bà càng chăm chú thêm.

Tính hấp dẫn của bức thư khiến bà đọc một mạch.

“Thưa bà,

Tôi mong rằng bà sẽ bỏ qua cho sự đường đột của kẻ không quen biết như tôi mà lại gửi một bức thư quá dài cho bà. Nội dung bức thư của tôi sẽ làm bà xúc động mạnh và xúc động triền miên.

Trong thư, tôi thú nhận tất cả cảm nghĩ sâu kín của tôi và những việc tôi đã làm.

Trong mấy tháng qua, tôi đã trốn xa ánh sáng văn minh, sống lén lút như một con yêu tinh. Cả thế giới không một ai biết được các hành động của tôi. Nhưng gần đây có một sự thay đổi lớn lao xảy ra trong tâm hồn, tôi không thể giữ bí mật được. Tôi cần phải thú nhận.

Đọc đến đây, có lẽ bà phân vân không rõ tôi dẫn bà tới đâu. Tuy nhiên, tôi xin bà nên kiên nhẫn nghe lời thú tội của tôi.

Tôi bối rối không biết phải bắt đầu như thế nào. Vì việc tôi làm rất lạ lùng. Tôi thiếu lời lẽ để ghi lại. Theo tôi nghĩ không có lời lẽ nào của con người có thể diễn tả đúng mức các chi tiết những việc tôi đã làm. Dù vậy, tôi xin cố gắng kể lại theo thứ tự thời gian.

Trước hết, tôi xin nói rõ tôi là một người xấu xí không thể tưởng tượng được. Điều đó là một sự kiện quan trọng. Vì nếu bà thấy mặt tôi, bà sẽ ngất xỉu.

Nhưng bên trong cái mặt xấu xa ghê tởm đó, ác thay, tôi lại có một quả tim biết rung động tha thiết trước vẻ đẹp, một quả tim nóng bỏng đam mê.

Điểm thứ hai tôi là một người thợ tầm thường. Giá như sinh nhằm gia đình quý tộc, tôi có thể dựa vào thế lực, tiền tài để tìm sự an ủi cho cái mặt xấu xí của tôi. Và nếu như tôi là một nghệ sỹ có biệt tài thì tôi cũng có thể quên được nỗi xót xa mà hình hài khác thường đã đem lại cho tôi với vần thơ, điệu nhạn, tôi sẽ tìm được sự lãng quên… nhưng, tôi chỉ là một người thợ đóng bàn ghế, sở trường của tôi là đóng đủ loại ghế.

Nhờ đi sâu vào ngành này nên tôi cũng tạo được một cái tên trong làng. Những khách hàng thích loại ghế cầu kỳ đều đặt hàng ở hiệu tôi.

Từ một anh thợ mộc tầm thường, tôi trở thành một nhà vẽ kiểu và thực hiện đủ loại ghế. Tôi say mê trong công việc sáng tạo, hết kiểu này, tôi vẽ sang kiểu khác.

Và điều thích thú nhất của tôi là ngồi lên trên chiếc ghế vừa hoàn thành. Đó là một sự thoả mãn về nghề nghiệp. Với tư cách là kẻ sáng tạo, tôi có quyền ngồi trước trên các ghế của thân chủ, dù cho họ là bộ trưởng hay tổng thống.

Khi ngồi lên những chiếc ghế đặc biệt đó, tôi thường nghĩ ngợi, trí tưởng tượng của tôi được tự do phát triển… Tôi hình dung các nhân vật sẽ ngồi một cách thoải mái trên chiếc ghế của tôi. Họ là những kẻ quý phái, sống trong những lâu đài nguy nga lộng lẫy.

Tôi cũng hình dung chiếc ghế do tôi sáng tạo được đặt trong một phòng sang trọng, phía sau một bàn giấy to tướng bằng gỗ. Trên bàn có một lọ hoa, hương thơm bay thoang thoảng trong không khí.

Và nghĩ ngợi như vậy, tôi thấy như là chính tôi cũng lạc vào thế giới sang trọng đó, như chiếc ghế mà tôi chế ra. Tôi muốn sống trong không khí thượng lưu quyền quý đó.

Và một hôm, tôi được đặt đóng một chiếc ghế bành vĩ đại, loại đặc biệt cho một khách sạn ngoại quốc ở Yokohama.

Loại này chưa hề có ở Nhật. Lẽ ra thì phải đặt ở ngoại quốc. Nhưng khi nghe tên tuổi của tôi, chủ khách sạn đặt tôi đóng chiếc ghế đó.

Để lấy tiếng với khách hàng ngoại quốc, tôi đem hết tâm hồn một nghệ sỹ đặt vào việc thực hiện chiếc ghế vĩ đại đó. Tôi say mê làm việc, quên cả ăn, ngủ. Khi chiếc ghế hoàn thành tôi vui mừng hơn lúc nào hết. Vì đây có thể nói là một thành công lớn lao nhất của tôi.

Như thường lệ, tôi ngồi lên chiếc ghế trước nhất. Thật là đầy đủ tiện nghi! Thật là sang trọng! Thật là thoải mái!

Lò xo thật vừa vặn, không cứng cũng không mềm. Nệm bọc da êm dịu làm sao.

Tôi cảm tưởng chiếc ghế không những hứng lấy người ngồi mà nó còn mở rộng vòng tay đón nhận và ôm lấy người ngồi.

Tôi gnả người trên chiếc ghế để toàn thân lún sâu vào nệm, vuốt ve hai cánh tay của chiếc ghế, lòng lâng lâng thích thú.

Lúc bấy giờ tôi có một ý nghĩ hết sức kỳ quái. Tôi không muốn tách rời chiếc ghế vừa hoàn thành. Như một người mẹ mang nặng đẻ đau không đủ can đảm để cho người ta cướp đi hòn máu của mình, tôi cũng không chịu được cảnh chia cách giữa tôi và chiếc ghế.

Nhưng không thể không giao hàng cho thân chủ, tôi nảy ra một ý nghĩ kỳ quái là chính tôi phải đi theo chiếc ghế. Có lẽ, bà cho tôi là điên, mà tôi điên thật.

Tôi tháo chiếc ghế ra, xếp đặt bên trong để hai chân có chỗ để phía trước, hai tay có chỗ gác lên hai cánh tay của chiếc ghế. Lưng và đầu có thể tựa vào lưng ghế. Tôi cũng cẩn thận cho lỗ thông hơi để người ngồi bên trong không ngộp và nghe được tiếng động bên ngoài. Tôi còn cẩn thận xếp đặt vài chỗ trống nhỏ để trữ thức ăn và chai nước. Với lương thực tích trữ đó, kẻ nằm trong ghế có thể ở luôn trong đó hai ba ngày.

Sau khi hoàn thành kế hoạch, tôi chui vào trong chiếc ghế và có cảm tưởng là chính tôi đã chôn sống tôi trong nấm mồ đặc biệt này. Bên trong tối đen như một nấm mồ, và đối với những kẻ bên ngoài, tôi là một người đã biến vào cõi hư vô.

Không bao lâu, khách hàng đã đến lãnh chiếc. Anh thợ phụ của tôi không hề hay biết gì về ý định kỳ quái của tôi. Hắn thay mặt tôi giao hàng cho thân chủ.

Khi khiêng chiếc ghế lên xe, bốn người phu đã kêu lên:

– Trời đất quỷ thần ơi! Chiếc ghế nặng cỡ một tấn.

Khi nghe họ la như vậy, tôi tái người, sợ người ta biết là có người trốn trong ghế. Nhưng chiếc ghế tự nó rất nặng. Cho nên không ai thắc mắc.

Chiếc ghế đã được đưa tới khách sạn. Người ta để nó ở một phòng khách, ngay tầng dưới.

Như bà có thể đoán, tôi chờ đêm đến, khi tứ bề im vắng, tôi lẻn ra khỏi nấm mộ.

Có ai nghĩ có người xuất hiện trong một chiếc ghế! Cho nên tôi tha hồ đi lại, lục soát tất cả các phòng trong khách sạn. Hễ bị động, tôi chạy nhanh về nấm mồ của tôi. Vậy là an toàn.

Có lẽ bà đã nghe nói nhiều về loại ốc mượn hồn ở trên bãi bồi. Loại ốc này thích bò đi kiếm ăn mà mỗi khi nghe có tiếng chân người là chạy nhanh vào chiếc vỏ ốc. Tôi cũng là thứ ốc mượn hồn. Thay vì vỏ ốc, tôi có chiếc ghế. ý nghĩ tôi rất độc đáo nên không ai ngờ những hành động kỳ quái của tôi.

Nhờ vậy mà cuộc phiêu lưu của tôi hoàn toàn thành công. Đến ngày thứ ba, tôi gây xáo trộn trong khách sạn. Nhưng tình trạng đó tạo cho tôi nhiều thích thú. Không gì vui sướng bằng khi chui vào căn cứ an toàn vừa đúng lúc để nghe thiên hạ đuổi bắt xôn xao chung quanh. Tôi nghe người ta la trước mũi tôi “Nó chạy hướng này” và kẻ khác lại “Không, nó chạy hướng kia”.

Nhưng ngoài cái thú cút bắt đó tôi phải chịu một vài cực hình trong cái trò chơi ly kỳ và nguy hiểm này. Cực hình lớn nhất là lúc những người Âu Châu to lớn, nặng nề ngồi lên chiếc ghế, sức nặng của các ông này ép sát cái lò xo và trong trường hợp đó, họ ngồi trên mình tôi, chỉ cách có một lớp da.

Lưng ông ta nằm tròn trên ngực tôi và hai cánh tay ông ta đã đặt lên hai cánh tay tôi, khói thuốc xì gà của ông ta bay lọt vào căn cứ an toàn và xông vào lỗ mũi tôi. Tôi muốn hắt hơi nhưng ráng nhịn. Tôi sợ đến toát mồ hôi lạnh. Nếu không nhịn được tôi sẽ hắt xì lên, kể như cơ mưu bại lộ. Nhưng may làm sao, tôi vượt qua được cơn khó chịu.

Kể từ ngày đó, số người chiếu cố đến chiếc ghế vĩ đại đặt giữa phòng có hơi nhiều. Họ thay phiên nhau đến ngồi lên đùi tôi.

Dù vậy, không ai biết họ đã ngồi lên một người đang sống như họ.

Nhưng bà sẽ ngạc nhiên mà hỏi tại sao tôi chịu khó chui rúc trong cái “huyệt mả” tối tăm, nghẹt thở như thế. Có gì thích thú đâu!

Thật ra thì thích thú lắm, thưa bà. Tôi có cảm tưởng như một con vật sống trong một thế giới mới lạ, một thế giới mà dần dần tôi trở nên quen thuộc.

Tôi có thể đoán được những người ngồi trên mình tôi bằng cảm giác mà không cần trông thấy.

Những kẻ mập nằm sát vào người tôi. Còn những kẻ ốm thì nằm hêu hêu ở trên. Tôi có ý nghĩ là tôi đang ôm một bộ xương khô.

Tôi có thể phân biệt được người này với người khác một cách tài tình. Những đường nét trong họ khác xa nhau, cũng như chỉ tay hay gương mặt.

Thường đàn bà chia làm hai loại: Loại xoàng và loại đẹp.

Trong thế giới tối đen của tôi, vấn đề đẹp về gương mặt là vấn đề thứ yếu. Đối với một kẻ ở trong trường hợp đặc biệt như tôi, cái đẹp nằm trong…vóc dáng, tiếng nói và mùi thơm.

Cô gái đầu tiên ngồi lên mình tôi là một thiếu nữ Âu. Tôi nhận ra điều này nhờ nghe tiếng nói của nàng.

Lúc đó, thiếu nữ đang có điều vui trong lòng nên nàng ca hát. Giọng thánh thót của cô lan toả khắp gian phòng. Rồi tôi nghe nàng cười vang lên, tiếng cười thật là trong, đáng yêu làm sao. Tôi nghe nàng vỗ tay một cái thích thú rồi ngồi lên mình tôi.

Trong vòng ba mươi phút, nàng tiếp tục ca hát, cả người lẫn chân đều nhún nhảy theo nhịp hát.

Đây là một sự kiện mới đối với tôi vì từ trước đến giờ tôi luôn luôn xa lánh phái đẹp, lý do rất đơn giản là tôi rất xấu.

ấy thế mà bây giờ đây, một cô gái đẹp ngồi trọn vẹn lên mình tôi. Giữa tôi và nàng chỉ cách một làn da mỏng. Không hề hay biết có kẻ đang nghĩ ngợi về mình, thiếu nữa ca hát một cách vô tư.

Trước diễn biến mới đầy mê ly hấp dẫn đó, tôi quên mất ý nghĩ đầu tiên của tôi là lẻn vào khách sạn để ăn trộm.

Từ một kẻ cắp, tôi biến thành một kẻ si tình. Tôi hy vọng cuộc phiêu lưu của tôi sẽ kéo dài trong sự mê ly hấp dẫn như thế mãi mãi.

Và từ đó, chiếc ghế mà tôi ví là một nấm mồ trở thành một tổ ấm. Tôi đã tìm được tình yêu. Tuy là tình yêu đơn phương nhưng dù sao tôi cũng thấy đời tươi vui hơn trước.

Thoạt tiên tôi dự định lẻn vào phòng vơ vét những vật quý giá rồi trốn đi. Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn ở lì lại đây.

Trong những chuyến dạ hành, tôi luôn luôn thận trọng bước thật nhẹ cố không gây ra tiếng động cỏn con nào. Nhờ sự thận trọng đó, tôi ở yên trong chiếc ghế cả mấy tháng mà không hề bị động ổ.

Những người ở khách sạn đa số là du khách. Họ đến ở một thời gian rồi đi. Chỉ có một số ít là ở dài hạn, lấy khách sạn làm nhà. Cho nên tôi không bao giờ có thể si mê một giai nhân một cách lâu dài. Cô gái đẹp người Âu mà tôi đã “chấm” cũng đã đi từ lâu.

Có khá nhiều giai nhân đến với tôi, và tôi được biết thêm chút ít về phái đẹp.

Dạo nọ có một vũ nữ đến Nhật, ngụ tại khách sạn của tôi. Mặc dù chỉ ngồi lên ghế tôi một lần nhưng nàng đã để lại cho tôi một cảm giác êm đềm mà từ trước đến nay tôi chưa từng biết. Khi nàng ngồi lên người tôi, tôi thấy ngây ngất lạ lùng. Dường như vũ nữ này có một ma lực đặc biệt đối với nam giới.

Nhưng cuộc phiêu lưu của tôi bước qua một giai đoạn mới một cách bất ngờ. Vì một lý do nào đó, ông chủ bắt buộc phải về xứ, bán cơ sở lại cho người Nhật.

Chủ mới có chính sách mới, đó là tăng thu giảm chi. Những trang trí mà ông cho là xa xỉ phẩm đều bị loại, cố nhiên cái ghế của tôi cũng liệt vào danh sách những món đem ra bán đấu giá. Khi nghe được tin này tôi hết sức thất vọng. Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn trở về nếp sống bình thường như mọi người. Tôi đã đánh cắp được một số tiền khá lớn, và nếu sống như người thường, tôi có thể thong dong nhàn hạ. Tuy nhiên khi nhớ đến những cái thú kỳ lạ trong thời gian tự chôn sống trong chiếc ghế, tôi thấy không đủ can đảm từ bỏ cuộc phiêu lưu. Một ý nghĩ mới khiến tôi tiếp tục nếp sống kỳ quái. Trong thời gian ở khách sạn, tôi chỉ được gần gũi với những người đàn bà ngoại quốc. Tôi muốn có cơ hội được so sánh đàn bà Nhật với họ. Thấm thoát đã đến ngày đấu giá. Người mua chiếc ghế là một công chức cao cấp ở Đông Kinh. Nhà ông ta là cả một biệt thự nguy nga. Cuộc di chuyển dằn vặt tôi ghê gớm. Cơ thể tôi có nhiều dấu bầm nhưng tôi cắn răng chịu đựng. Tôi chịu đau với hy vọng sẽ được sống trong gia đình sang trọng của người Nhật. Khi đã về biệt thự, người ta đặt tôi trong thư phòng có lối kiến trúc tây phương. Điều khiến tôi sung sướng nhất là chủ nhân chiếc ghế là một thiếu phụ trẻ đẹp. Nàng rất thích ngồi trên mình tôi. Có thể nói là nàng ngồi cả ngày, trừ những lúc ăn và ngủ. Cho nên cả ngày tôi được ôm ấp tấm thân kiều diễm của nàng. Về sau tôi mới hiểu tại sao nàng chịu khó ngồi trên mình tôi. Thực ra thiếu phụ trẻ đẹp đó là một nữ sỹ và bà thích ngồi trên mình tôi để suy tư, đọc và viết.

Bà không thể hình dung được mối tình của tôi đối với thiếu phụ đó đâu. Nàng là người đàn bà Nhật đầu tiên mà tôi được may mắn gần gũi. Hơn nữa, nàng có một thân hình tuyệt đẹp. Nàng đúng là người đàn bà lý tưởng mà tôi tôn thờ. Nàng đúng là thần tượng của tôi.

Tình yêu đã đến với tôi và đến vời một mức độ thật cao. Tôi không thể xa nàng một phút.

Những lúc vắng mặt nàng tôi thấy nhớ nhung lạ thường. Lòng tôi trống trải không chịu được. Tôi chờ đợi từng phút từng giây để được gần nàng. Mối tình đó có thể so sánh với mối tình của chàng Rômeo và nàng Juliet.

Dần dần, tôi muốn biểu lộ mối tình của tôi đối với nàng. Nhưng biểu lộ bằng cách nào đây? Nếu tôi chường mặt ra thì có lẽ nàng sẽ ngất xỉu vì ngỡ là ác quỷ hiện hình. Hoặc là nàng sẽ kêu ầm lên và chồng nàng cùng bọn gia nhân sẽ xông vào vây bắt.

Không, tôi sẽ không bao giờ chường mặt ra. Tôi phải tìm cách khác. Và cách đó là cố gắng đem lại đầy đủ tiện nghi cho nàng khi nàng ngồi lên chiếc ghế. Tôi muốn làm thế nào đó để nàng thấy chiếc ghế là một người bạn chí thân, một người bạn không thể thiếu được, và như vậy là tôi thoả mãn lắm rồi.

Tôi luôn luôn cố gắng để làm cho nàng thoải mái mỗi khi nàng ngồi lên mình tôi. Khi nàng ngồi lâu và bắt đầu thấy mỏi thì tôi từ từ nhích đùi đi để nàng được dễ chịu hơn, ấm cúng hơn. Khi nàng chợp mắt thì tôi nhẹ nhàng lắc lư để ru nàng đi sâu vào cõi mộng.

Tôi có cảm tưởng là nàng cũng yêu chiếc ghế vì mỗi lần ngồi lên, nàng có cử chỉ sung sướng như một đứa bé được mẹ ôm trong lòng, hay một cô gái âm yếm với tình nhân.

Mối tình câm nín của tôi mỗi ngày một gia tăng và tôi dám chết một cách thoả mãn nếu chỉ được giai nhân nhoẻn cười với tôi một lần thôi.

Thưa bà, đọc đến đây có lẽ bà đã đoán được giai nhân đó là ai rồi! Nói gần nói xa, không qua nói thật, người đó chính là bà.!

Ngay từ lúc ông chủ mua chiếc ghế, vừa đưa vào thư phòng thì tôi đã bắt đầu biết được những sự đau khổ xem lẫn với sung sướng của kẻ dám đắm hồn trong biển tình.

Những lúc được gần bên bà là những lúc sung sướng nhất đời tôi. Nhưng càng sung sướng bao nhiêu, tôi càng xót xa, đau khổ bấy nhiêu, bởi vì tôi là một kẻ xấu xa ghê tởm.

Tôi chỉ xin lỗi bà một điều. Có thể nào bà cho phép tôi được gặp bà một lần chăng? Tôi sẽ không xin hỏi gì thêm. Có lẽ tôi là một kẻ hoàn toàn không sứng đáng cho bà gặp, nhưng tôi hy vọng bà sẽ rộng lượng ban cho tôi một ân huệ vì lòng nhân đạo.

Đêm qua, tôi đã lẻn ra khỏi biệt thự của bà để đem hết tâm tư viết lên những lưòi thú tội này. Bà biết chăng, trong khi bà đọc bức thư này, tôi đang lang thang bên vườn hoa bên ngoài, lòng thấp thỏm lo âu.

Nếu bà chấp nhận lời van nài của tôi, xin bà treo chiếc khăn tay của bà lên trên lọ hoa bên ngoài cửa sổ phòng bà. Khi đó tôi sẽ bước vào biệt thự với tư cách là một người khách nghèo hèn…”.

Bức thư kết thúc ở đó. Trước khi đọc hết bức thư, linh tính báo cho bà Yoshiko biết trước bà là nhân vật chính trong chuyện quái đản này. Mặt bà tái xanh không còn giọt máu.

Như một lò xo, bà đứng lên, chạy ra khỏi phòng. Bà tránh xa chiếc ghế mà trong mấy tháng qua, bà đã ngồi lên đó hàng giờ, ngồi một cách thoải mái.

Có lúc bà muốn ngừng lại giữa chừng, xé nát bức thư, nhưng bà lại đổi ý, cố gắng đọc hết câu chuyện. Khi đã đọc xong, bà thấy linh tính đã báo rất đúng chiếc ghế “ưng ý nhất” của bà có chứa một người thật chăng? Nếu đúng như vậy thì thật là một chuyện quái đản rùng rợn.

Và càng nghĩ bà càng nổi da gà, lạnh buốt xương sống, dường như có ai đó đổ nước lạnh vào lưng.

Bà nhìn sững lên trời như người lên đồng. Một lúc sau bà mới bình tĩnh để suy nghĩ.

Có nên xem xét chiếc ghế để tìm hiểu thực hư chăng? Bà tự thấy không đủ can đảm bước gần chiếc ghế ma quái đó.

– Thưa bà, có thư…

Bà Yoshiko giật nảy mình trước tiếng nói bất ngờ đó. Quay lại, bà nhận ta có người đang đứng trước cửa, tay cầm một phong thư.

Bà cầm lấy phong thư và kêu lên một tiếng hãi hùng.

Lại một bức thư của con người ghê ghớm ấy!

Tên của bà hiện rõ trên phong bì, cùng với nét chữ như cua bò quen thuộc.

Bà do dự một lúc thật lâu, phân vân không biết nên bóc thư ra không.

Sau cùng, cố thu hết can đảm, bà xé phong bì, bóc thư ra đọc.

Bức thư thứ hai rất ngắn:

“Xin bà bỏ qua cho sự đường đột của tôi khi gửi thêm cho bà một bức thư thứ hai. Tôi xin nói ngay cho bà an tâm. Tôi là một trong những người ái mộ văn tài của bà. Bản thảo mà tôi gửi đến bà dưới hình thức một bức thư, đó chỉ là một chuyện hoàn toàn tưởng tượng.

Tôi sáng tác câu chuyện quái đản này khi biết ông nhà mua chiếc ghế đó…

Đây là tác phẩm đầu tay của tôi, nếu được bà phê bình thì thật là vạn hạnh cho tôi.

Bà nhận xét nó thế nào? Nếu bà thấy nó lý thú phần nào thì đó là một phần thưởng lớn lao cho cố gắng viết văn của tôi.

Trong thư đầu, tôi không nêu tên truyện ngắn của tôi vì tôi muốn bà nghĩ đó là một bức thư.

Bây giờ tôi xin phép được đặt cho nó một nhan đề là” Chiếc ghế đa tình”, không biết bà có đồng ý hay không?”.

Trân trọng kính chào bà và chúc bà được vạn sự như ý!”.

Edogawarampo

Posted by 304Denat 5:20 PM

19 thg 9, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 8)

 BIỆN ĐẠO (BÀI 8)


NHÂN NGHĨA KHÔNG THỂ BAO TRÙM HẾT ĐẠO KHỔNG 


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

BÀI 8


Chủ trương nhân nghĩa có thể tổng quát hết cả đạo Khổng là do hiểu sai của hậu Nho

Nhiều người cho rằng con người có nhân nghĩa giống như trời có âm dương (1). Để rồi họ cho rằng nhân nghĩa là bao trùm hết cả đạo. Đó là nội dung giảng giải đạo tiên vương tức đạo Khổng của các Nho gia đời sau. Vào thời đại của các tiên vương và thời đại của Khổng tử nhất quyết không có việc đòi hỏi việc dùng 1 lời mà nói hết được tất cả nội dung của đạo (tiên vương). Xét cho cùng thì việc muốn dùng 1 lời nói mà có thể diễn tả hết được nội dung của đạo là muốn được người đời chú ý và phân biệt đạo tiên vương khác với các học thuyết khác. Vào thời đại của các tiên vương và thời đại của Khổng tử không thể nào có việc như vậy. 


Mạnh tử là người đầu tiên nói nhân nghĩa đi đôi để đả phá học thuyết của Dương Chu và của Mặc Địch

Ở cổ đại (thời xưa) người ta chỉ nói lễ nghĩa đi chung để đối chiếu với nhau (đối ngôn ) (2). Nhân đức lớn của bậc thánh nhân. Chắc chắn không có việc lễ nghĩa đi ngang hàng với nhân. Bởi vì nội dung giáo dục của Khổng môn đặt nhân trên hết. Cho đến thời Mạnh tử, Mạnh tử mới nói nhân, nghĩa đi đôi với nhau để làm rõ chỗ sai của 2 học thuyết của họ Dương và họ Mặc. Việc nói nhân nghĩa đi đôi để làm rõ chỗ sai trong học thuyết của Dương và Mặc thì được nhưng lấy cách nói này để giảng dạy đạo tiên vương thì không nên làm. Tương tự như trường hợp của cách nói nhân, nghĩa, lễ, trí đi chung với nhau đã không có ở thời đại của Khổng tử. Mạnh tử là người đầu tiên dùng cách nói này (3). Mục đích của Mạnh tử dùng cách nói này chỉ là để làm rõ việc trong 2 học thuyết của họ Dương và của họ Mặc đều không có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí trong khi đạo Khổng thì có đủ cả 4 thứ này. Trong thực tế, lễ nghĩa là 1 khía cạnh trọng đại của con người (đại đoan) (4), nhưng nhân thì to lớn hơn. Đối với trí, con người thì vui thích tự cao khi có được tài trí, đó là tình cảm tự nhiên của con người. Do đó, thánh nhân chưa bao giờ dạy trí. Trường hợp nói trí giả hoặc nhân giả là tên gọi khi đã có được đức (thành đức) (5), bởi vì kết quả thành tựu tùy theo bản tính bẩm sinh trời cho của mỗi người. Chưa hề nghe nói người nào có được cả nhân, nghĩa, lễ, trí. 


Tuân tử phê phán việc Tử Tư và Mạnh tử đặt ra thuyết ngũ hành

Nho gia đời Hán (6) lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín ghép với ngũ hành, lấy trí tương ứng với thổ, tín tương ứng với thủy hoặc lấy trí tương ứng với hỏa hoặc thủy, không có học thuyết nhất định. Điều này cho thấy chủ trương này không phải nội dung của đạo tiên vương. Sách Luận Ngữ thường dùng từ hảo nhân (yêu thích nhân), hảo nghĩa, hảo lễ, hảo đức, hảo thiện, hảo học, hảo cổ chứ chưa có lần nào dạy hảo trí hoặc hảo tín. Do đó việc xem trọng trí hoặc xem trọng tín không phải là chủ trương của Khổng môn lúc xưa. Tuân tử phê phán việc Tử Tư và Mạnh tử đặt ra thuyết ngũ hành không thể nói là lời nói xấu không có căn cứ.


Tóm tắt ý quan trọng

- Chủ trương nhân nghĩa có thể tổng quát hết cả đạo Khổng là do hiểu sai của hậu Nho.

- Mạnh tử là người đầu tiên nói nhân nghĩa đi đôi để đả phá học thuyết của Dương Chu và của Mặc Địch.

- Tuân tử phê phán việc Tử Tư và Mạnh tử đặt ra thuyết ngũ hành.


Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 26/7/2026

Xem lại và bổ sung ngày 17~18/8/2026


Nhận xét tổng thể

(1) Theo người dịch điểm độc đáo của Sorai là giúp cho chúng ta thấy được những nội dung giải thích sai lầm về đạo Khổng của các học giả khác, ngay cả Mạnh tử, người được xem là á thánh của đạo Khổng! Do đó chúng ta không nên quá vội tin vào các giải thích của người khác mà nên cố gắng suy nghĩ và đối chiếu với kinh nghiệm của bản thân và các sự kiện lịch sử và đọc nhiều tài liệu để có nhiều thông tin; việc này không phải là việc dễ làm.

Nguyên nhân gây ra việc hiểu sai có nhiều nguyên nhân: 1) Ý nghĩa chữ Hán thời Khổng tử khác nhiều với hiện nay, 2) Các sách cổ điển chứa cả những nội dung không phải của Khổng tử mà do người đời sau thêm vào và mượn danh của ông, 3) Chữ Hán có nhiều nghĩa và có nhiều trường hợp ý nghĩa của cùng 1 chữ có 2 ý nghĩa trái ngược với nhau, 4) Hán văn rất cô động ngắn gọn làm khó hiểu đúng ý muốn truyền đạt của tác giả. 

(2) Đúng là trong việc học, sau khi tìm hiểu, xem xét sâu và rộng nên tóm tắt tổng kết lại để dễ nhớ. Số lượng các điểm hoặc hạng mục hoặc nội dung tổng kết lại càng ít càng dễ nhớ. Nhưng chớ nên có thói quen mà nghĩ rằng điều tổng kết tóm tắt được bao trùm được hết nội dung đã xem xét, tìm hiểu được. Nói cụ thể cho dễ hiểu, thí dụ nhân nghĩa là 2 điều căn bản và rất quan trọng của đạo Khổng nhưng thể nói nhân và nghĩa bao trùm hết đạo Khổng. Tương tự như vậy đối với từ trung thứ 忠恕của Tăng tử. 

(3) Giải thích về nhân, nghĩa, lễ, trí Sorai thường nói: nhân trí đức, lễ nghĩađạo. Kinh Thư và kinh Thi là kho chứa nghĩa. Lễ là chế độ an dân của các tiên vương. Học lễ, tức học đạo tiên vương để thành tựu được đức.

Trong bài này Sorai cho rằng nhân= an dân là đức lớn nhất nên không nên đặt nghĩa ngang hàng với nhân. Tuy nhiên trong Luận Ngữ Trưng khi giảng giải ý nghĩa chương 1 thiên 2 Vi Chính sách Luận Ngữ Sorai dẫn chứng lời của Khổng tử nói tríbiết người hiền (người có tài và đức) và cho rằng trí luôn đứng trên nhân bởi vì nếu không biết người tài đức để dùng quản trị dân thì không thể an dân. Giải thích này của Sorai cũng không vô lý. Có lẽ chúng ta không nên hiểu ý nghĩa từ “cao nhất”, “to lớn nhất” là tuyệt đối mà chỉ có tính tương đối, “nhất” của Sorai chỉ để nhấn mạnh ý quan trọng mà ông muốn truyền đạt mà thôi.

(4) Như chúng ta biết trong sách Mạnh Tử, Mạnh tử chỉ nói nhân, nghĩa, lễ, trí nghĩa là tứ đoan không có đề cập đến tín. Ngày nay, người ta cho rằng Khổng Dĩnh Đạt (TCN 176 ~ TCN 104, đời tiền Hán) là người thêm tín vào, dựa theo thuyết ngũ hành (theo Nhật Bản Đại Bách Khoa Toàn Thư, nhà xuất bản Shogakukan, 2004). Ngoài ra, trong thiên 6 Phi Thập Nhị Tử sách Tuân Tử, Tuân tử phê phán việc Tử Tư lập ra thuyết ngũ hành và Mạnh tử hòa đồng theo. Tuy nhiên, trong các tác phẩm hoặc ngôn lục của Tử Tư không xác nhận được việc này.


Ghi chú

(1) Trong đoạn sau, phần bắt đầu chương 1 thiên 1 Lương Huệ Vương thượng sách Mạnh Tử:

孟子見梁惠王,王曰:叟!不遠千里而來,亦將有 以利吾國乎?孟子對曰:王何必曰利?亦有仁義而已矣。

Mạnh Tử kiến Lương Huệ Vương. Vương viết: “Tẩu, bất viễn thiên lý nhi lai, diệc tương hữu dĩ lợi ngô quốc hồ?” Mạnh Tử đối viết: “Vương hà tất viết lợi? Diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hỹ.

Tạm dịch

Mạnh tử gặp Huệ vương nước Lương. Vua nói: “ Tiên sinh đến từ ngàn dậm rất xa xôi, chắc có lẽ tiên sinh chỉ dẫn cho nước ta điều lợi ích gì”.  Mạnh tử trả lời: “Vua cần gì phải nói đến lợi ích? Vua cũng như các thánh hiền ngày xưa, chỉ có thực hành điều nhân nghĩa. Chỉ cần suy nghĩ điều nhân nghĩa”.

Trong sách Mạnh Tử Tập Chú Đại Toàn chú giải như sau: 

問人所以為性者五。獨舉仁義何也。曰。天地所以生物。不過隂陽五行。而五行實一隂陽也。人性雖有五。然曰。仁義。則大端已舉矣。

“Xin được phép hỏi. Tại sao đối với 5 đặc tính của con người (nhân, nghĩa, lễ, trí tín) mà chỉ nêu lên 2 đặc tính: nhânnghĩa? Trả lời: trời đất sinh ra không ngoài âm dương và ngũ hành, mà ngũ hành thật ra thể hiện cụ thể của âm dương. Mặc dù đặc tính có 5 nhưng nêu ra nhânnghĩa là nêu ra 2 đầu mối to lớn của 5 đặc tính.”

Trong Điều thứ 5 mục Nhân Nghĩa Lễ Trí sách Ngữ Mạnh Cổ Nghĩa của Itô Jinsai viết như sau:

仁義二者。実道徳之大端。万善之総脳。智礼二者。皆從此而出。猶天道之有陰陽。地道之有剛柔。

Nhân nghĩa nhị giả. Thật đạo đức chi đại đoan. Vạn thiện chi tổng não. Trí lễ nhị giả. Giai tùng thư nhi xuất. Do thiên đạo chi hữu âm dương. Địa đạo chi hữu cương nhu.

Tạm dịch

Nhân nghĩa thật sự là 2 đầu mối to lớn của đạo đức, quan trọng lớn nhất của mọi điều thiện. Trí lễ đều có từ nhân nghĩa. Cũng như đạo trời có âm và dương, đạo đất có cương và nhu.

Trong Điều thứ 6 Jinsai viết:

仁与義。猶陰陽之相済。而不可相勝。

Nhân dự nghĩa. Do âm dương chi tương tế. Nhi bất khả tương thắng.

Tạm dịch

Nhân và nghĩ giống như âm và dương trợ giúp lẫn nhau mà không có cái nào thắng cái nào.

Chúng ta có thể thấy cả 2 giải thích của Tống Nho và Jinsai đều trừu tượng không thực tế!


(2) Thí dụ trong chương 13 thiên 1 Học Nhi sách Luận Ngữ viết:

有子曰:信近於義,言可復也;恭近於禮,遠恥辱 也。因不失其親,亦可宗也。

Hữu Tử viết: “Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục dã; cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã. Nhân bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Hữu tử nói: “Lời ước hẹn phải hợp nghĩa thì mới giữ được. Cung kính phải hợp lễ thì mới tránh được nhục. Thân cận với người đáng cho mình thân cận (tức người có đức nhân) thì người đó mình có thể tôn kính được (hoặc nương nhờ người đáng cho mình thân cận – người có đức nhân – thì người đó có thể làm chủ mình được).

Trong chương 17 thiên 15 Vệ Linh Công sách Luận Ngữ viết:

子曰:君子義以為質,禮以行之,孫以出之,信以 成之,君子哉! 

Tử viết: “Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi. Quân tử tai!”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Người quân tử lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc, như vậy thật là người quân tử.”


(3) Trong chương 6 thiên 11 Cáo Tử thượng sách Mạnh Tử viết:

仁義禮智,非由外鑠我也,我固有之也,弗思耳矣。故曰:求則得之,舍則失之。或相倍蓰而無算者,不能盡其才者也。詩曰:“天生蒸民,有物有則。民之秉彝,好是懿 德。”孔子曰:“為此詩者,其知道乎!故有物必有則,民之秉彝也,故好是懿德。”

Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại thước ngã dã; ngã cố hữu chi dã. Phất tư nhĩ hỹ. Cố viết: “Cầu, tắc đắc chi; xả, tắc thất chi.” Hoặc tương bội, tỷ, nhi vô toán giả; bất năng tận kỳ tài giả dã. “Thi viết: ‘Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc; dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức.’ Khổng Tử viết: ‘Vi thử thi giả, kỳ tri đạo hồ!’ Cố hữu vật, tất hữu tắc. Dân chi bỉnh di dã. Cố hiếu thị ý đức.”

Tạm dịch

Nhân nghĩa lễ trí không phải là vật lấy từ bên ngoài rồi nung nóng  tô mạ lên, mà vốn đã có sẵn từ trước trong con người của chúng ta, chỉ tại chúng ta không nghĩ đến chúng mà thôi. Nếu tìm đến chúng thì chúng ta có được chúng còn nếu như không tìm đến chúng thì chúng ta sẽ mất chúng. Ai cũng đều có sẵn chúng trong người nhưng do có quan tâm để ý đến và nỗ lực tập luyện hay không mà trình độ nhân nghĩa lễ trí khác biệt đến 2, 5 lần hoặc đến mức độ không thể tính ra được. Kinh Thi nói “Trời sinh ra con người, mỗi thứ đều có quy luật, quy tắc, người tuân theo quy tắc làm người (di 彝: quy tắc làm người, đạo thường) thì yêu thích đức tốt đẹp (ý đức).” Khổng tử cũng nói “Người làm bài thi ca này thật hiểu rõ đạo! Bởi vì mỗi thứ (vật) đều có quy luật, quy tắc. Người tuân theo quy tắc làm người thì yêu thích đức tốt đẹp.”


(4) Trong thiên Lễ Vận của sách Lễ Ký viết:

夫禮必本於天,動而之地,列而之事,變而從時,協於分藝,其居人也曰養,其行之以貨力、辭讓、飲食、冠昏、喪祭、射御、朝聘。

禮義也者,人之大端也,所以講信脩睦而固人之肌膚之會、筋骸之束也。所以養生送死、事鬼神之大端也。所以達天道、順人情之大竇也。

Phu lễ tất bản ư thiên, động nhi chi địa, liệt nhi chi sự, biến nhi tùng thời, hiệp ư phận nghệ, ký cư nhân dã viết dưỡng kỳ hành chi dĩ hóa lực, từ nhượng, ẩm thực, tang tế, xạ ngự, triều sính. Cố lễ nghĩa dã giả, nhân chi đại đoan dã, sở dĩ giảng tín tu mục nhi cố nhân chi cơ phu chi hội, cân hài chi thúc dã

Tạm dịch

Lễ lấy quy luật của trời làm cơ sở, dựa theo đạo nuôi dưỡng của đất để  vận hành cụ thể, xem xét đến thứ tự sắp đặt của sự vật, thay đổi của thời tiết, khác biệt của thân phận và tài nghệ khi thực hiện để giúp con người sinh hoạt an lành nên gọi là dưỡng. Lễ được thực hiện theo khả năng tài chánh, thông qua lời nói nhún nhường, trong ăn uống, trong lúc mừng con người trưởng thành, cưới hỏi, chôn cất người mất, thờ cúng tổ tiên, thần thánh, bắn cung, lái xe, làm việc trong triều đình và ngoại giao. 

Do đó, lễ nghĩa là rường mối quan trọng của con người, là cơ sở để thực hiện sự tin cậy, thân mật với người khác trong đời sống, giống như sự kết nối chặt chẽ da thịt và xương cốt của con người

(Takeuchi Terao không dịch sát nguyên văn nên người dịch tham khảo nội dung dịch của ông và cố gắng dịch sát hơn nhưng chưa đủ tự tín. Xin quý độc giả chỉ tham khảo để xem xét thêm.)


(5) Thí dụ, chương 2 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ viết:

子曰:不仁者,不可以久處約,不可以長處樂。仁者安仁;知者利仁。 

Tử viết: “Bất nhân giả bất khả dĩ cửu xử ước, bất khả dĩ trường xử lạc. Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Người không có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốn cùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh hoan lạc. Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân.” 

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Chữ an nhân và chữ lợi nhân ở đây, nghĩa cũng như “an nhi hành chi, lợi nhi hành chi” trong sách Trung dung.

Chương 21 thiên 6 Ung Dã sách Luận Ngữ viết:

子曰:知者樂水,仁者樂山;知者動,仁者靜;知者樂,仁者壽。 

Tử viết:“Trí giả nhạo thủy; nhân giả nhạo sơn; trí giả động; nhân giả tĩnh; trí giả lạc; nhân giả thọ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Người trí thích nước, người nhân thích núi. Người trí thì hoạt động, người nhân thì trầm tĩnh, người trí vui sống, người nhân sống lâu.”

Chương 27 thiên 9 Tử Hãn sách Luận Ngữ viết:

子曰:知者不惑,仁者不憂,勇者不懼。 

Tử viết: “Trí giả bất hoặc; nhân giả bất ưu; dũng giả bất cụ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Người trí thích nước, người nhân thích núi. Người trí thì hoạt động, người nhân thì trầm tĩnh, người trí vui sống, người nhân sống lâu.”


(6) Trong Thiên Văn Chí của Hán Thư viết:

星曰東方春,於人五常也,五事也。

熒惑曰南方夏也,也。

辰星曰北方冬也,聽也。

填星曰中央季夏也,思心也。

Tuế tinh viết Đông phương xuân mộc, ư nhân ngũ thường nhân dã, ngũ sự mạo dã.

Quỳnh hoặc viết Nam phương hạ hỏa, lễ dã, thị dã.

Thần tinh viết Bắc phương đông thủy, trí dã, thính dã.

Trấn tinh viết Trung ương quý hạ thổ, tín dã, tư tâm dã.

Tạm dịch

Sao Tuế (Mộc tinh)nhằm vào hướng Đông, tương ứng với mùa xuân của 4 mùa, mộc của ngũ hành, là nhân trong ngũ thường của con người, là mạo (hình dáng bên ngoài) trong ngũ sự.

Sao Quỳnh (Hỏa tinh) nhằm vào hướng Nam, tương ứng với mùa hạ, hỏa của ngũ hành, là lễ trong ngũ thường, là thị (nhìn thấy, thị giác) trong ngũ sự.

Sao Thần (Thủy tinh) nhằm vào hướng Bắc, tương ứng với mùa đông, thủy của ngũ hành, là trí trong ngũ thường, là thính (nghe thấy, thính giác) trong ngũ sự.

Sao Trấn (Thổ tinh) nhằm vào trung tâm (chính giữa), tương ứng với cuối hạ, thổ của ngũ hành, là tín trong ngũ thường, là tâm (suy nghĩ và tinh thần) trong ngũ sự.

Trong mục Tình Tính của sách Bạch Hổ Thông viết:

五性者何?謂仁、義、禮、智、信也。仁者,不忍也,施生愛人也;義者,宜也,斷決得中也;禮者,履也,履道成文也;者,知也,獨見前聞,不惑於事,見微者也;信者,誠也,專一不移也。

肝所以者何?肝,之精也;仁者,好生。

心所以為何?心,之精也。

腎所以何?腎者,之精。

脾所以何?脾者,之精也。

Ngũ tính giả ha? Vị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín dã. Nhân giả, bất nhẫn dã. Thí sinh ái nhân dã; nghĩa giả, nghi dã, đoán quyết đắc trúng dã; lễ dã, lý dã, lý đạo thành văn dã; trí dã, tri dã, đọc kiến tiền văn, bất hoặc ư sự, kiến vi giả dã; tín giả, thành dã, chuyên nhất bất di dã.

Can sở dĩ nhân giả hà? Can, mộ chi tinh dã; nhân giả, hiếu sinh.

Tâm sở dĩ vi lễ hà? Tâm, hỏa chi tinh dã.

Thận sở dĩ vi trí hà? Thận, thủy chi tinh dã.

Tỳ sở dĩ vi tín hà? Tỳ, thổ chi tinh dã.

Tạm dịch

Năm đặc tính (bản tính) của con người là gì? Là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhân là không đành lòng để người chết, là thương yêu người. Nghĩa là thích hợp, quyết đoán đúng. Lễ là việc làm, hành động theo đạo làm người để cho tốt đẹp. Trí là 1 mình biết trước sự việc, không bị sự việc thấy trước mắt làm sai lầm, không bỏ qua điều nhỏ nhặt. Tín là thành (trước sau như một), chuyên nhất không đổi thay.

Tại sao gan tương ứng với nhân? Bởi vì gan là nội dung tốt nhất của cây; nhân yêu thích sự sống.

Tại sao tâm tương ứng với lễ? Bởi vì tâm là nội dung tốt nhất của lữa.

Tại sao thận tương ứng với trí? Bởi vì thận là nội dung tốt nhất của nước.

Tại sao tỳ tương ứng với tín? Bởi vì tỳ là nội dung tốt nhất của thổ.

(Nên lưu ý nội dung giải thích nhân, nghĩa, lễ, trí, tín tùy theo mỗi người, mỗi học phái không hẳn là ý nghĩa muốn nói nguyên thủy của đạo Khổng. Thí dụ giải thích của Mạnh tử không giống như trong Bạch Hổ Thông! Tống Nho cũng khác Hán Nho! 

Ngoài ra, việc lập tương ứng giữa ngũ tạng - ngũ hành - ngũ thường như can-mộc- nhân v.v...không biết có lợi ích gì?

Dịch giả giới thiệu chi tiết ở trên để quý độc giả tham khảo vì ít khi thấy trong tài liệu tiếng Việt.)


Nguyên văn

多謂人有仁義。猶天有陰陽也。遂以仁義為道之総。是後世之言也。当先王孔子之時。豈求一言以尽乎道焉。求一言以尽乎道者。務標異聖人之道者也。先王孔子之時。豈有是哉。古者礼義対言焉耳矣。仁者聖人之大徳。豈礼儀之倫乎。故孔門之教。仁是為上。至於孟子並言仁義。以是而弁楊墨之非。可也。以教学者。不可也。如仁義礼智。亦孔子時所無。孟子始言之。亦備楊墨所不有者。以見吾道之備。其実礼儀人之大端。而仁於斯為大。知如者。人喜以才智自高。是其情也。故聖人未嘗以知為教矣。如曰知者仁者。成徳之名。各因其性所稟殊焉。若夫仁義礼智就一人之身言之者。未之嘗聞也。漢儒以属五行。或智為土。信為水。或智為火為水。未有定説。可見非古道已。論語屡以好仁好義好礼好徳好善好学好古為言。而未嘗以好知好信為教。故其非孔門之旧也。荀子識子思孟子造五行。豈誣乎哉。


Âm Hán Việt của nguyên văn

Đa vị nhân hữu nhân nghĩa. Do thiên hữu âm dương dã. Toại dĩ nhân nghĩa vi đạo chi tổng. Thị hậu thế chi ngôn dã. Đương tiên vương Khổng tử chi thời. Khởi cầu nhất ngôn dĩ tận hồ đạo yên. Cầu nhất ngôn dĩ tận hồ đạo dã. Vụ tiêu dị thánh nhân chi đạo giả dã. Tiên vương Khổng tử chi thời. Khởi hữu thị tai. Cổ giả lễ nghĩa đối ngôn yên nhĩ hỹ. Nhân giả thánh nhân chi đại đức. Khởi lễ nghĩa chi luân hồ. Cố Khổng môn chi giáo. Nhân thị vi thượng. Chí tận Mạnh tử tịnh ngôn nhân nghĩa. Dĩ thị nhi biện Dương Mặc chi phi. Khả dã. Dĩ giáo học giả. Bất khả dã. Như nhân nghĩa lễ trí. Diệc Khổng tử thời sở vô. Mạnh tử thủy ngôn chi. Diệc bị Dương Mặc sở bất hữu giả. Dĩ kiến ngô đạo chi bị. Kỳ thật lễ nghĩa nhân chi đại đoan. Nhi nhân ư tư vi đại. Tri như giả. Nhân hỷ dĩ tài trí tự cao. Thị kỳ tình dã. Cố thánh nhân vị thường dĩ trí vi giáo dã. Như viết trí giả nhân giả. Thành đức chi ngôn. Các nhân kỳ tính sở bẩm thù yên. Nhược phù nhân nghĩa lễ trí tựu nhất nhân chi thân ngôn chi giả. Vị chi thường văn dã. Hán Nho dĩ thuộc ngũ hành. Hoặc trí vi thổ. Tín vi thủy. Hoặc trí vi hỏa vi thủy. Vị hữu định thuyết. Khả kiến phi cổ đạo dĩ. Luận Ngữ lũ dĩ hảo nhân hảo nghĩa hảo lễ hảo đức hảo thiện hảo học hảo cổ vi ngôn. Nhi vị thường dĩ hảo trí hảo tín vi giáo. Cố kỳ phi Khổng môn chi cựu dã. Tuân tử thức Tử Tư Mạnh tử tạo ngũ hành. Khởi vu hồ tai.


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten. 

  3. Mời Xem ;


  4. BIỆN ĐẠO (BÀI 7)