25 thg 9, 2026

MỘT THUỞ HỌC TRÒ .- Hiệp Nguyễn - SP. Phước Tuy

 MỘT THUỞ HỌC TRÒ .


Thời gian nghỉ hè của học sinh sắp sửa kết thúc. Nhìn hai cháu nhỏ háo hức mong chờ ngày trở lại trường, lòng tôi không khỏi bâng khuâng nhớ về kỷ niệm một thuở học trò. Lướt xem những hình ảnh cũ xưa ngày ấy, một dòng ký ức ngọt ngào được gợi nhớ lại. Xem bức chân dung đứa trẻ lần đầu tiên được chụp hình làm thẻ học sinh Đệ Thất, ẩn sâu trong đôi mắt hồn nhiên ấy là tâm hồn thơ ngây của cậu học trò nhỏ. Những tấm ảnh khác trông có chút lớn khôn khi học lên các lớp cao hơn cho đến khi tốt nghiệp, hoàn tất 14 năm đèn sách.
Có lẽ trong suốt cuộc đời của mỗi chúng ta, sẽ không có quãng thời gian nào nên thơ và xanh ngát như thuở còn đi học. Một hành trình dài của những tiếng cười trong trẻo, những bước chân chập chững và cả những cuộc chia ly đầy lưu luyến.
Ký ức bắt đầu từ một buổi sáng tinh sương, khi tôi vừa đủ tuổi đi học. Bàn tay nhỏ xíu của tôi lúc đó được nắm gọn trong bàn tay ấm áp của ba mình, dắt đến một lớp học vỡ lòng, gửi gắm đứa con thơ cho một người thầy, mà sau đó đã dạy cho tôi tập viết, đánh vần và đếm số. Những chữ cái đầu tiên ấy qua nét bút chì, mở ra cả một bầu trời tri thức.
Thời điểm ấy, khởi đầu bậc tiểu học là Lớp Năm, cuối bậc là Lớp Nhất. Cứ thế mỗi năm học trôi qua, tôi lại bước thêm một bậc thang mới với những thầy cô khác nhau. Ngày cầm tấm bằng Tiểu Học trên tay, nhìn nụ cười rạng rỡ của ba má mình chan chứa một niềm vui bao la, mà lúc đó tâm hồn vô tư của tôi chưa thể cảm nhận được hết.
Ngày trúng tuyển vào lớp Đệ Thất, tôi sung sướng được ba mình thưởng chiếc xe đạp. Ngồi trên chiếc xe mới, tôi thấy mình thêm chững chạc. Những vòng quay của bánh xe đưa tôi đi xa hơn khỏi luỹ tre làng, đến tỉnh lỵ Tây Ninh, nơi có ngôi trường trung học mà tôi thường xuyên đi về hàng ngày, cách nhà hơn ba cây số, chở theo bao ước mơ của tuổi mới lớn.
Bảy năm trung học lần lượt trải qua trong bối cảnh thời chiến, không cho phép những nam sinh chúng tôi xao lãng học tập, sẽ ảnh hưởng đến việc hoãn dịch. Những năm tháng ấy, biết bao kỷ niệm thuở học trò đã khắc sâu trong ký ức của tôi. Từng giờ học với mỗi thầy cô đều mang một sắc thái riêng biệt, tô vẽ nên một bức tranh đa sắc.
Nhưng rồi mùa hè năm ấy, xong kỳ thi Tú Tài II, tiếng ve sầu dường như cũng nhuốm màu ly biệt. Bạn bè buộc phải nói lời chia tay, giã biệt ngôi trường thân yêu ấy, mỗi đứa một ngả rẽ. Có bạn xếp bút nghiên gia nhập quân ngũ. Có bạn tiếp tục dấn thân vào các giảng đường đại học với những phân khoa khác nhau. Tôi cùng nhiều bạn nữa chọn khoa sư phạm, để có cơ hội nâng niu những mầm non, như cách mà thầy cô đã nâng niu chúng tôi ngày trước.
Mấy năm học hành ở trường Sư Phạm có lẽ là chương rực rỡ nhất trong cuốn nhật ký tuổi thanh xuân của tôi. Không giống như thời Trung Học, không còn những đêm thức khuya để học thuộc làu những bài Sử Địa hay Vạn Vật. Không phải cố nhớ những hằng đẳng thức toán học, những hoá trị kim loại hay nguyên tử khối chất đơn. Cũng không còn mệt óc giải những phương trình lượng giác phức tạp. Thay vào đó là những môn học thực dụng : Tâm lý giáo dục, Phương pháp sư phạm, Luân lý chức nghiệp, Giáo dục cộng đồng.
Sang năm thứ nhì, ngoài các môn học nhằm mở rộng kiến thức phổ thông, văn học, toán và sinh ngữ ở lớp. Còn có những giờ thực hành, rèn luyện các kỹ năng vận dụng khoa học, kỹ thuật nông nghiệp, âm nhạc, tập vẽ và thủ công. Đặc biệt còn một môn học có lẽ ai cũng yêu thích : môn Hoạt động thanh niên !
Ngày nhận bằng tốt nghiệp cũng là một ngày của những cảm xúc trái ngược. Mừng vừa đạt được ước mơ, nhưng không khỏi luyến tiếc khi hiểu rằng từ nay cánh cửa đời học sinh sẽ khép lại mãi mãi.
Lúc cầm sự vụ lệnh đi nhận nhiệm sở, tôi biết mình đang phải đoạn tuyệt cái lứa tuổi học trò đẹp nhất, để bước vào đời với một tâm thế mới.
Thuở học trò của tôi không chỉ có sách vở, sân trường. Mà còn có cả tình cha, nghĩa thầy, và những người bạn đã từng cùng nhau trải qua một thời thơ mộng !




VENEZUELA TÁI SINH ? TRẦN PHONG VŨ

 

.
VENEZUELA TÁI SINH ?
Tại kỳ họp thứ 81 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 23/9/2026, người phát biểu đại diện Venezuela là Tổng thống lâm thời Delcy Rodríguez tuyên bố :
- Cam kết sẽ tổ chức bầu cử: Bà nói rõ “Venezuela sẽ có bầu cử”, đồng thời cho biết chính quyền đã bắt đầu đối thoại với một số thành phần đối lập nhằm tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Tuy nhiên, bà chưa công bố ngày bầu cử cụ thể.
- Tuyên bố Venezuela đang chuyển đổi dân chủ: Quá trình thay đổi sẽ diễn ra có trật tự, thông qua các cơ quan nhà nước hiện hành, thay vì phá bỏ toàn bộ hệ thống cũ. Chính phủ sẽ cải cách tư pháp, tăng bảo đảm pháp lý và hạn chế việc sử dụng quyền lực tùy tiện.
- Kêu gọi chấm dứt chia rẽ: Bà cho rằng thời kỳ người Venezuela đối đầu trong những “chiến hào chính trị” phải khép lại để xây dựng một “nước cộng hòa mới, hòa bình với chính mình”.
- Cảm ơn Tổng thống Mỹ Donald Trump vì khôi phục quan hệ ngoại giao và hợp tác giữa hai nước. Bà xác nhận hai bên đang hợp tác về năng lượng, an ninh, chống tội phạm xuyên quốc gia và phục hồi kinh tế.
- Ca ngợi thỏa thuận dầu mỏ Mỹ–Venezuela, xem đây là một thỏa thuận kinh tế đặc biệt quan trọng. Đây là sự thay đổi rất lớn so với đường lối chống Mỹ quyết liệt dưới thời Hugo Chávez và Nicolás Maduro.
- Đề cao chủ quyền: Mặc dù xích lại gần Washington, bà vẫn yêu cầu quốc tế tôn trọng quyền tự quyết của Venezuela, không can thiệp hay áp đặt từ bên ngoài.
- Kêu gọi hỗ trợ tái thiết sau các trận động đất tháng 6/2026, đồng thời phản đối các biện pháp trừng phạt kinh tế vì cho rằng chúng làm chậm phát triển và gây tổn hại đời sống người dân.
Tóm lại, thông điệp chính của bà Rodríguez là: “Venezuela đang tái sinh”, sẽ chuyển dần sang dân chủ và tổ chức bầu cử, đồng thời hòa giải trong nước và hợp tác sâu hơn với Mỹ. Tuy nhiên, vì chưa có lịch bầu cử và cơ chế giám sát cụ thể, những cam kết này hiện vẫn cần được kiểm chứng bằng hành động.

TRẦN PHONG VŨ
25.9.26

BIỆN ĐẠO (BÀI 9)

 BIỆN ĐẠO (BÀI 9)


NHÂN CỦA ĐẠO KHỔNG LÀ NUÔI DƯỠNG ĐỂ PHÁT TRIỂN


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

Lời thưa trước

Bài này tuy ngắn nhưng nội dung cho chúng ta hiểu được điểm trọng yếu đạo tiên vương, tức đạo Khổng mà các Nho gia về sau đặc biệt Tống Nho đã hiểu không đúng và giải thích sai lầm theo ý riêng của họ sinh ra sự hà khắc khó khăn trong việc học đạo thánh hiền.


BÀI 9


Nhân 仁là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh

Nhân仁là đạo nuôi dưỡng(a). Khi áp dụng nhân vào việc quản lý quốc gia thì tích cực dùng người “thẳng” (trực直) chung với người “cong” (uổng枉) để sửa người “cong” thành ra người “thẳng” (1). Khi áp dụng nhân vào việc tu thân thì nuôi dưỡng, khuyến khích việc làm điều tốt để các tật xấu tự nhiên mất đi. Đó là thuật (cách làm thực tế) quản lý quốc gia và giáo dục dân của các tiên vương.


Giải thích sai của Tống Nho gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội

Các Nho gia đời sau không thấu hiểu đạo tiên vương nên tự ý lấy trí tuệ riêng của bản thân họ và giải thích đạo tiên vương là làm thiện trừ ác, phổ biến lan rộng lẽ trời và ngăn cấm lòng ham muốn (2). Trong khi xã hội thực tế đương thời không phải như thời đại Nghiêu Thuấn, và con người không phải là thánh nhân (mà có thể diệt hết lòng ham muốn), do đó tất nhiên xấu nhiều tốt ít. Do đó, một khi giải thích này trở thành mục tiêu để họ theo đuổi thì trong xã hội dưới ảnh hưởng của họ trở nên đầy sát khí (không khí sát phạt). Do đó, đối với việc quản lý quốc gia thì đưa đến tình trạng Chu Hy biên soạn lại sách ghi chép lịch sử tựa Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang theo quan điểm (danh phận luận và chính thống luận) của riêng ông thành sách Tư Trị Thông Giám Cương Mục (3). Đối với việc tu thân thì vua Thái Tông nhà Minh đã ra chiếu chỉ sai Hồ Quảng và các người khác biên soạn sách Lý Tính Đại Toàn theo quan điểm của Tính Lý học của Tống Nho (4). Chủ trương này đòi hỏi mức độ hà khắc (độc dữ khắc khổ) mà cả người (người được lấy làm đối tượng) lẫn ta (người chủ trương) đều không chịu đựng nỗi. Kết quả đưa đến việc người đời cho rằng các Nho gia yêu thích việc công kích người khác. Không phải là việc đáng buồn lắm sao?

Từ thời Thương Ưởng (5) về sau, không những ở triều đình mà ngay cả trong các trường học ở địa phương phương pháp nghiêm khắc và độc ác này được áp dụng (tức chủ trương về Khổng học của Tống Nho nói trên được dùng để giảng dạy). Việc quản lý quốc gia và giáo dục dân này không thể sánh kịp với 3 thời Hạ, Ân và Chu! 


Tóm tắt ý quan trọng

- Nhân 仁là đạo nuôi dưỡng mọi vật, không gây ra giết hại, chiến tranh.

- Do hiểu sai nên giải thích sai đạo Khổng của Tống Nho nên gây ra bầu không khí sát phạt trong xã hội làm cho người đời nghĩ rằng đạo Khổng là khắc nghiệt (hà khắc).


Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 6/8/2026

Xem lại và bổ sung ngày 30/8/2026


Nhận xét

(a) Ngay khi bắt đầu mục Nhân trong Biện Danh, Sorai viết “Nhân giả. Vị trưởng nhân an dân chi đức dã. Thị thánh nhân chi đại đức dã.仁者、謂長人安民之徳也。是聖人之大徳也”, nghĩa là: “Nhân là đức an dân của người đứng đầu. Là đại đức của thánh nhân”. Thế tại sao ở đây ông là nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng”? 

Khi bắt đầu mục Đức của Biện Danh Sorai viết “Đức giả đắc giả. Vị nhân các sở đắc ư đạo dã”, nghĩa là: 徳者得也。謂人各有所得於道也。Đức là được (đạt). Đức để gọi những phần nội dung của Đạo có được ở mỗi người. Hơn nữa, Nhân là đức quan trọng nhất của đạo tiên vương và thống lãnh, tổng hợp mọi thứ đức nên có thể nói nhân là đại diện của của đạo tiên vương nên ở bài này Sorai nói “Nhân là đạo nuôi dưỡng” chăng? Tuy nhiên, đây chỉ là suy đoán của người dịch. Bởi vì Sorai rất nhiều lần viết trong Biện Đạo, Biện Danh và Luận Ngữ Trưng rằng “lễ và nghĩa” không phải là đức mà là đạo. Như nói ở trên có lẽ vì nhân là đứng đầu trên mọi thức đức và tiêu biểu cho đạo tiên vương nên chỉ có Nhân là được xem vừa là đạo vừa là đức chăng?


Nhận xét tổng thể

(1) Chính trong thời đại chiến tranh đang xảy ra nhiều nơi trên thế giới hiện nay càng cho chúng ta thấy phương châm nhân = nuôi dưỡng để phát triển càng thêm quan trọng. Phải nói để thực hiện phương châm này trong việc quản trị quốc gia đối với đối tượng tích cực (những cá nhân, tổ chức làm điều tốt) thì dễ và được nhiều quốc gia áp dụng. Tuy nhiên, đối với đối tượng tiêu cực (những cá nhân, tổ chức làm điều xấu) thì rất khó vì cần phải mất nhiều công sức, tài chánh cùng nhẫn nại chịu đựng cho đến khi có hiệu quả. Tuy nhiên, không nên vì vậy mà hoàn toàn bỏ qua không thực hiện thử. Chúng ta có thể thấy những nước tiên tiến đã thực hiện trong vài lãnh vực và đã thành công. Để xây dựng thế giới hòa bình thật sự, tất cả mọi người cần gắng sức trong phạm vi có thể của mình là điều quan trọng. Ít nhất cần triệt đễ phương châm này trong lãnh vực giáo dục.


Ghi chú

  1. Trong chương 19 thiên 2 Vi Chính sách Luận Ngữ viết:

哀公問曰:何為則民服?孔子對曰:舉直錯諸枉, 則民服;舉枉錯諸直,則民不服。 

Ai Công vấn viết: “Hà vi tắc dân phục?” Khổng Tử đối viết: “Cử trực thố chư uổng, tắc dân phục. Cử uổng thố chư trực, tắc dân bất phục.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Vua Ai công hỏi: “Làm thế nào thì dân phục tòng?” Khổng tử đáp: “Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục tòng, đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục tòng.” 

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Ai công là vua nước Lỗ, con Định công, lên ngôi năm TCN 494. Bài này có thể hiểu hai cách: chữ thố [錯] là bỏ, chữ chư [諸] là hết thảy, như vậy “cử trực thố chư uổng” nghĩa là: Dùng người ngay thẳng, bỏ hết những người cong queo. Chúng tôi hiểu theo Triệu Thông (Luận ngữ dịch chú – Hữu Liên xuất bản): thố [錯] là đặt lên, chư [諸] là hai chữ chi ư [之於] hợp lại (như từ ảnh = anh ấy của ta, hoặc từ Smog = Smoke + fog của Anh) mà dịch như trên. Triệu Thông cho rằng hiểu như vậy mới hợp với câu “cử trực thố chư uổng, năng sử uổng giả trực” trong bài 20 thiên XII (Nhan Uyên): cứ đề cử người ngay thẳng lên trên người cong queo thì người cong queo cũng tự ý rút đi, nếu không tự sửa mình, không cần phải đuổi hết bọn họ đi.


Chú thích của người dịch: Giải thích của Sorai cũng giống như Triệu Thông. Đón xem bản dịch Luận Ngữ Trưng của người dịch.

Trong chương 22 thiên 12 Nhan Uyên sách Luận Ngữ viết:

樊遲問仁。子曰:愛人。 問知。子曰:知人。 樊遲未達。子曰:舉直錯諸枉,能使枉者直。 樊遲退,見子夏曰:鄉也,吾見於夫子而問知。子 曰:“舉直錯諸枉,能使枉者直。”何謂也? 子夏曰:富哉言乎!舜有天下,選於眾,舉皋陶, 不仁者遠矣;湯有天下,選於眾,舉伊尹,不仁者 遠矣。 

Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: “Ái nhân.” Vấn trí. Tử viết: “Tri nhân.” Phàn Trì vị đạt. Tử viết: “Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.” Phàn trì thối, kiến Tử Hạ viết: “Hướng dã ngô kiến ư Phu tử nhi vấn trí. Tử viết: ‘Cử trực, thố chư uổng, năng sử uổng giả trực.’ Hà vị dã?” Tử Hạ viết: “Phú tai ngôn hồ! Thuấn hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Cao Dao; bất nhân giả viễn hỹ. Thang hữu thiên hạ, tuyển ư chúng, cử Y Doãn; bất nhân giả viễn hỹ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Phàn Trì hỏi về đức nhân. Khổng tử đáp: “Yêu người”. Hỏi về đức trí, đáp: “Biết người”. Phàn Trì chưa hiểu rõ, Khổng tử giảng thêm: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Phàn Trì lui ra, kiếm Tử Hạ hỏi: “Mới rồi, tôi vô yết kiến thầy, hỏi về trí. Thầy bảo: “Đề bạt người chính trực lên trên người cong queo thì có thể khiến cho người cong queo hoá ra chính trực”. Như vậy nghĩa là sao?” Tử Hạ đáp: “Lời thầy hàm súc lắm. Ông Thuấn khi có thiên hạ (lên ngôi thiên tử) tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Cao Dao, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh. Ông Thang khi có thiên hạ, tuyển chọn trong dân chúng mà đề bạt ông Y Doãn, mà những kẻ bất nhân đều xa lánh.” 

Chú thích (Nguyễn Hiến Lê)

Cao Dao là hiền thần vua Thuấn. Y Doãn là hiền thần vua Thang.


(2) Trong Chu Tử Chương Cú của chương 6 phần Truyện của sách Đại Học viết:

言欲自脩者、知為善以去其惡、則當實用其力而禁止其自欺、使其惡惡則如惡惡臭、好善則如好好色。

Ngôn dục tự tu giả, tri vi thiện dĩ khứ kỳ ác, tắc đương thực dụng kỳ lực nhi cấm chỉ kỳ tự khi, sử kỳ ố ác tắc như ố ác xú, háo thiện tắc như háo hảo sắc

Tạm dịch

Ý nói người muốn tự rèn luyện bản thân thì cần phải biết thực hiện điều thiện (tốt) từ bỏ điều ác (xấu), cấm tự lừa dối mình, bắt bản thân ghét điều ác như ghét mùi hôi thúi, yêu thích điều thiện như yêu thích màu sắc đẹp.

Trong Chu Tử Chương Cú của chương 1 phần Kinh của sách Đại Học viết:

蓋必其有以盡夫天理之極,而無一毫人欲之私也

 Cái tất kỳ hữu dĩ tận phu thiên lý chi cực, nhi vô nhất hào nhân dục chi tư dã.

Tạm dịch

 Chắc chắn cần phải hết sức đạt đến điểm cao nhất của lẽ trời và không có 1 chút nhỏ nào lòng ham muốn riêng tư.

Trong Tứ Thư Đại Toàn khi chú giải câu Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm人皆有不忍人之心 (con người ai cũng có lòng không nỡ bỏ qua người đang bị khốn khổ) trong chương 6 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng sách Mạnh Tử viết:

新安陳氏曰…. 此章亦在於遏人欲擴天理也

Tân An Trần thị viết…..thử chương diệc tại ư át nhân dục khuếch thiên lý dã.

Tạm dịch

Trần Lịch (1252-1334, thời Nguyên) của Tân An nói: .....Chương này lại  nói cấm lòng ham muốn của con người và làm rộng lớn lẽ trời.


(3) Tư Trị Thông Giám Cương Mục thường được gọi là Thông Giám Cương Mục do Chu Hy biên soạn lại sách sử Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quan (1019~ 1086) theo lập luận danh phận và chính thống của ông chứ không có thông tin lịch sử mới. Sách gồm có 59 quyển.

Tư Trị Thông Giám vốn có tên là Thông Chí通志, vua Tống Thần Tông đã đổi thành Tư Trị Thông Giám. Sách gồm có 294 quyển.


(4) Lý Tính Đại Toàn. Thời Minh, Chu tử học trở thành môn học của quan lại nên Vĩnh Lạc đế (1360~1424) đã ra lệnh cho Hồ Quảng胡広 và nhiều học giả khác biên soạn Tứ Thư Đại Toàn, Ngũ Kinh Đại Toàn, Lý Tính Đại Toàn, gọi là Vĩnh Lạc Tam Đại Toàn. 

Lý Tính Đại Toàn gồm 70 quyển. Theo Quốc Ngữ Đại Từ Điển (tiếng Nhật) , quyển 1 ~ 25 biên tập các nguyên điển của Chu tử周子(Chu Đôn Di), Trương tử張子(Trương Tái), Chu tử朱子(Chu Hy) và chú giải chi tiết; quyễn 26 ~70 biên tập các giải thích của các học giả khác trong Chu tử học theo phân loại của 13 hạng mục. 


(5) Thương Ưởng商鞅 (TCN 390 ~ TCN 338) là nhà chính trị, Tướng quân, thuộc học phái chủ trương pháp luật và hình phạt là quan trọng trong việc quản lý quốc gia (pháp gia), binh gia của nước Tần thời Chiến Quốc của Trung quốc.


Nguyên văn

仁者養之道也。故治国家之道。挙直錯諸枉。能使枉者直矣。修身之道。亦養其善而悪自消矣。先王之道之術也。後世儒者不識先王之道。逎逞其私智。以謂為善而去悪。拡天理而遏人欲也。此見一立。世非唐虞。人非聖人。必悪多而善少。則殺気塞天地矣。故通鑑之於治国。性理之於修身。人与我皆不勝其苛刻焉。遂使世人謂儒者喜攻人。豈不悲哉。大氐商鞅之後。不啻朝廷。雖庠序亦用其法。宜其不及三代矣。


Âm Hán Việt của nguyên văn

Nhân giả dưỡng chi đạo dã. Cố trị quốc gia chi đạo. Cử trực thác chư uổng. Năng sử uổng giả trực hỹ. Tu thân chi đạo. Diệc dưỡng kỳ thiện nhi ác tự tiêu hỹ. Tiên vương chi đạo chi thuật dã. Hậu thế Nho giả bất thức tiên vương chi đạo. Tù sính kỳ tư trí. Dĩ vị vi thiện nhi khứ ác. Khuếch thiên lý nhi át nhân dục dã. Thử kiến nhất lập. Thế phi Đường Ngu. Nhân phi thánh nhân. Tất ác đa nhi thiện thiểu. Tắc sát khí hàn thiên địa hỹ. Cố Thông Giám chi ư trị quốc. Tính lý chi ư tu thân. Nhân dữ ngã giai bất thắng kỳ hà khắc yên. Toại sử thế nhân vị Nho giả hỹ công nhân. Khởi bất bi tai! Đại để Thương Ưởng chi hậu. Bất thí triều đình. Tuy tường tự diệc dụng kỳ pháp. Nghi kỳ bất cập tam đại hỹ.


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.



  3.  MỜI XEM :



23 thg 9, 2026

‎VẾT THỜI GIAN - Pham văn Bắc = SPSaigon

 

‎VẾT THỜI GIAN
‎
Một ngày tháng chín, bước chân mình tìm về chốn cũ là hai huyện miền núi Đức Linh và Tánh Linh tỉnh Bình Thuận. Năm 1975, rời trường Sư phạm Saigon, mình đến dạy học tại miền cao này bảy năm rồi trở lại Saigon năm 1982.
‎ Sau hơn bốn mươi năm, cảnh vật giờ đây đã thay đổi thật nhiều. Những hình ảnh, sắc màu và thanh âm của cuộc sống hiện tại đã làm cho thiên nhiên không còn cái vẻ hoang sơ quyến rũ của ngày nào. Thời gian đã xoá nhoà những dấu chân của mình một thời phiêu lãng nơi vùng rừng núi này. Mình chợt thấy trong lòng bồi hồi vô hạn...
‎ Nhưng bằng cảm nhận của con tim và sự lắng đọng của thời gian, mình vẫn thấy sông dài in bóng núi, chiều mênh mang trên đồi vắng êm đềm, những đêm trăng huyền diệu chốn thâm sơn, và những nhánh phong lan một thời khoe hương sắc... Mình vẫn nghe đâu đây tiếng gió lùa qua khe núi, tiếng mưa rừng rền rĩ vọng từ xa, tiếng chim kêu, vượn hú, suối ngân nga, và vẫn thấy tiếng lòng đang thổn thức...
‎ Thời gian! Thời gian! Có bao giờ trở lại?

Còn Một Nửa Chuyện Đời - Thuyên Huy



Trước ngày bãi trường nghỉ hè vài hôm, thằng nhỏ đến tìm tôi ngoài cổng ký túc xá. Trời lấp xấp về chiều, bọn tôi tụm năm tụm ba dọc theo hành lang nhà ăn chờ cơm. Ve kêu rộn rã trên hàng cây Sao cao lớn quanh sân từ mấy ngày trước, nhất là vào những buổi chiều rạng nắng. Tiếng ve kêu buồn thật buồn, cái buồn khó nói. Con đường sỏi đỏ dốc lên ký túc xá, hai bên phượng nở rực một màu đỏ bầm, vài cánh hoa đầu mùa rụng ngỡ ngàng bên lề đâu đó.

*
Tôi mở cánh cổng nhỏ bên hông cửa chính đi ra, thằng nhỏ trông có vẻ bảnh trai, đứng vịn chiếc xe “vê lô xô lết” đen chờ, tròn mắt nhìn tôi. Cả hai nhìn nhau là lạ vì tôi thật không quen biết nó và chắc rằng nó cũng chẵng quen biết tôi. Tôi đến gần bên, gật đầu chào làm quen:

- Em tìm anh Ngữ phải không? Anh là anh Ngữ đây.

Nó gật đầu dạ thật nhỏ, chưa kịp nói gì thì tôi hỏi tiếp:

- Em tên gì, tìm anh có chuyện gì không?

- Dạ, em tên Phúc.

Phúc vừa trả lời vừa nhìn tôi chờ đợi. Tôi mở cánh cổng rộng hơn một chút nữa, bảo Phúc dắt xe vào sân, tôi bỏ đi vô, chờ Phúc trước cửa phòng khách.

Đám hoa huệ trắng cắm trong cái bình bông màu xanh lục, đặt trên thành khung cửa sổ có vẻ héo từ mấy ngày qua, cô năm Vân, người quản lý ký túc xá, không buồn thay hoa mới, vì hai ba ngày nữa, ở đây không còn ai đâu mà ngắm mà nhìn.

Cô sẽ ra vào một mình, lặng thinh như những mùa hè năm trước, hết rồi tiếng cô la cô hét đám học trò đệ thất đệ lục về chuyện xả rác và xài nước lung tung. Không còn ai để cô kể chuyện đời xưa, chuyện của những ngày cô còn son trẻ của bốn chục năm đi qua, sau giờ cơm ồn ào, khi bên kia sông mặt trời chầm chậm xuống.

*
Tôi ngồi xuống kế bên Phúc, thằng nhỏ nhoẻn miệng cười, không nói gì, ôm khư khư gói giấy trong tay, tôi đoán không lầm, dù tôi chưa hỏi, Phúc giỏi lắm chắc đang học cở mấy thằng Biểu, thằng Long, đệ lục là cao lắm. Nó vẫn không chịu nói gì, tôi cũng hơi tức cười, thôi cứ hỏi nó trước cho xong việc. Tôi đứng dậy kéo cái ghế trống, ngồi xuống trước mặt Phúc:

- Phúc tìm anh có chuyện gì hay không?

Vừa hỏi tôi vừa nghĩ tới mấy đứa từ xã ấp xa lên tỉnh học, đang ở trong ký túc xá, học trò của mấy cô Thu, cô Quyên, đệ thất đệ lục, hễ gặp rắc rối hay thiếu điểm trong kỳ thi lục cá nguyệt cuối năm, hớt hơ hớt hãi tìm tôi, nhờ nói mấy cô giùm một tiếng, vì bọn nó biết tôi chơi thân với mấy cô và nói gì mấy cô cũng nghe, nếu không thì bị ở lại lớp, ba má vừa buồn vừa la rầy, sợ tá hỏa.

Cho nên hễ xong thi lục cá nguyệt cuối năm thì trong ký túc xá tôi là người bận rộn nhất, không phải vì mấy cái bài thi tú tài hóc búa mà bận rộn vì mấy cậu ấm nhà quê này.

Phúc nhỏ nhẹ đáp lời:

- Dạ, má em là cô tư Hòa, bên chợ bảo tìm anh, mời anh qua nhà em chơi, má em muốn hỏi thăm anh chút chuyện, má cũng bảo đưa cho anh cái này. Phúc vừa nói vừa đưa gói giấy mà nó đã cầm trong tay từ lúc mới vào đây.

*
Tôi nhận lấy gói giấy mà trong lòng hơi hồi hộp. Nghe Phúc nói thì nghe vậy, tôi chưa biết cô tư Hòa là ai, có liên hệ gì với mình. Vã lại từ nhỏ lớn lên, gần hơn mười tám năm rồi, đâu có nghe ba má tôi nhắc nhở gì tới cô tư này, ngay cả bà con hai bên nội ngoại cùng khách khứa cũng không thấy ai tên đó. Tôi vồn vã cám ơn, mở vội gói giấy ra xem, bên trong là hai hộp bánh ngọt hiệu LU nhập cảng của Pháp, thứ bánh này ngon và hơi mắc tiền, hình như phải mua từ Sài Gòn chớ chợ tỉnh ít khi có bán. Tôi vừa cám ơn Phúc vừa hỏi thêm:

- Làm sao má em, biết anh ở đây mà bảo em vô đây tìm.

- Em cũng không biết nữa.

Tôi đứng dậy, Phúc đứng theo, tôi nhìn nó.

- Rồi anh sẽ qua nhà em chiều mai, vì ngày mốt bãi trường rồi, nói với má là anh cám ơn nhiều.

Phúc dẫn xe “vê-lô” ra cổng, miệng cười vô tư, tôi quên hẳn hỏi thăm nó kết quả thi lên lớp cuối năm ra sao. Phúc đẩy cái cần phía trước cho xe nổ máy chầm chậm xuống dốc, đầu ngoãnh lại và vẫy vẫy tay chào. Tôi đứng nhìn theo, chờ bóng nó khuất hẵn khỏi dãy nhà ngoài đường. Khu nhà ăn bắt đầu có đèn và có tiếng chén đủa khua lao xao. Tiếng ve sầu thưa dần theo nắng chiều chợt tắt.

*
Tôi xuống xe lôi máy ngay ngã ba cuối chợ, thả bộ dọc theo đường Nguyễn Duy Dương, băng ngang khu xóm có vẻ không lấy gì giàu có cho lắm. Theo chỗ mà thằng Phúc chỉ, tôi tìm đến nhà nó không gì khó.

Mới bốn giờ chiều mà thiên hạ lớn nhỏ đứng chật ních trước rạp chiếu bóng, nói nói cười cười. Tiếng máy quay của cái xe nước mía bên hông rạp kéo dài mệt mỏi. Nắng từ miệt Cao Xá, Phước Ninh trải dài, nhạt dần xuống chợ tỉnh. Hàng ô môi dọc hai bên đường rộn ràng khua lá theo chiều gió từ hướng sông lên, trời mát rượi.

*
Tôi vừa tới trước nhà, thằng Phúc đã đứng chờ ngay ngoài cái cổng cây lỏng lẻo. Phúc gật đầu chào rồi đi vào trước, tôi thật tình hồi hộp theo sau. Trong nhà rất đông người, ai nấy lạ ngắt, ngoại trừ thằng Phúc. Tôi bối rối phút đầu, cúi đầu chào tất cả rồi ngồi xuống cái ghế xa-lông bằng gỗ cẩm lai nâu xậm. kế bên cô tư. Đối diện là bà bác và một người cô trạc tuổi cô tư, tôi nghe trước đó, họ trong nhà gọi là bà ngoại và dì ba, số người còn lại, vài người đứng gần tường, vài người ngồi quanh cái bàn ăn dài kê cận bên cửa sổ ngó ra hông nhà láng giềng.

Chừng bốn năm người hàng xóm, thập thò ngoài sân trước nhìn vô, tiếng xe lôi máy chở khách nặng nề trên đường từ Cao Xá xuống, không át nổi tiếng người xì xào trong nhà. Tôi còn chưng hửng chưa biết chuyện gì thì bà ngoại đã nắm lấy tay tôi, mắt bà đỏ hoe, hình như tôi thấy cô tư và dì ba cũng rưng rưng. Thằng Phúc đứng lặng thinh trong góc phòng. Bà ngoại nhìn thẳng vào tôi rồi buột miệng:

- Cha thằng Ngữ đây hả?

Cô tư Hòa không hỏi tôi nhiều, chỉ nhìn, cười một mình. Anh chị của thằng Phúc thì thôi khỏi nói, họ thay phiên nhau hỏi tôi đủ thứ chuyện, chuyện của những ngày tôi còn nhỏ và chuyện của đời tôi bây giờ, họ gọi ba má tôi bằng tiếng cô cậu ba, thân thiết ngọt ngào chừng như là đã quen nhau từ lâu lắm. Phía ngoài sân trước, mấy người hàng xóm tụ quanh nhau, vừa nhìn vô trong vừa bàn qua tán lại.

*
Tôi ở lại ăn cơm chiều với gia đình cô tư Hòa hôm đó, trong bữa ăn, cô tư cho biết lý do tại sao gia đình biết tôi và biết cả chỗ tôi đang ở mà sai Phúc đến tìm. Thì ra, ba má tôi từ Gò Dầu lên tỉnh thăm tôi, thỉnh thoảng có ghé qua nhà cô tư chơi. Mỗi lần như vậy, gia đình cô tư đều được ba má tôi kể chuyện về tôi, từ học hành tới tính nết. Ba má tôi cũng nói cái bộ bàn ghế sa lông bằng gỗ mun nâu đỏ, mà cô cho tôi hồi còn nhỏ, ngồi chơi hay ăn cơm cũng còn giữ nguyên đó.

Cô tư nghe ba má tôi nói, cuối năm nay sau khi thi Tú tài Một, tôi sẽ xuống Sài Gòn học đệ Nhất, chớ không học ở tỉnh. Sợ là sẽ không có dịp gặp tôi thường trong năm tới, nhất là bãi trường sắp tới nơi, nên cô quyết định, sắp xếp cho cả nhà gặp tôi một lần cho bằng được. Ba má tôi không hề nói với tôi về sự quen biết của ông bà và gia đình cô tư Hòa từ đó đến giờ. Ăn cơm xong, trời cũng vừa tối, cô tư bảo thằng Phúc lấy xe “vê-lô” đưa về, không quên dặn tôi là nếu có rãnh thì qua chơi. Tôi cám ơn cô đã cho hai hộp bánh lần nữa. Cho đến lúc này cô tư hay ai đó trong nhà, không ai nói gì về sự liên hệ giữa họ với tôi ra sao, tôi cũng ngại, dù biết chắc có cái gì đó trong chuyện này nhưng, không hỏi.

*
Phúc dắt xe”vê-lô” ra trước đứng chờ, đường lên đèn, đám người tụ trước sân nhà vẫn còn đó. Tôi chào mọi người ra về, hai anh em chạy đi một khoảng khá xa, họ vẫn còn đứng nhìn theo.

Qua ngang phố Gia Long, vài ba tiếng đại bác vọng, lẻ loi đâu đó trên miệt trời biên giới. Phố tỉnh chập chững vào đêm.


Thuyên Huy

Viết mở đầu cho một chút thật của một chuyện đời có thật



MỜI XEM ;