Quán cà phê Sân Ga đầy hoa lá
nhungnguoibanspsg.
Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
30 thg 6, 2026
Quán cà phê Sân Ga đầy hoa lá , Bay Lên - Hathuthuy
Quán cà phê Sân Ga đầy hoa lá
29 thg 6, 2026
Nguyễn Thị Cẫm Giang - Thuyên Huy
Một chiều đầu hè năm đệ Thất, ba tôi đi đâu đó về, dắt theo đứa bé gái trạc chừng năm tuổi, má tôi chưng hửng nhưng nhìn cười, không có gì ngạc nhiên cho lắm, có lẽ bà vui, chắc là một cái vui bất chợt. Nó biết chào biết dạ thưa, chừng như đã quen rồi với mấy chuyện này. Từ hôm đó, nhà tôi có thêm người và tôi có đứa em gái, và cũng từ hôm đó, nhà tôi có thêm tiếng cười. Ba đặt cho em tên “Nguyễn thị Cẫm Giang”, vì ông xin nó ở Cẫm Giang, rồi dẫn ra trụ sở xã, bên kia đường, nhờ chú tư Bình, xã trưởng làm cho cái giấy “thế vì khai sanh” với tên mà ba đã đặt, để có giấy tờ đi học trường xã nay mai.
2.
Trên tỉnh về, thấy trời còn sớm, mới lưng chừng giữa trưa, ba tôi xuống xe ở Cẫm Giang, sẳn tiện đường, ghé nhà anh chị năm Thiết, hỏi chuyện thu hoạch vườn dừa bên Bến Cầu của nhà mà ông giao khoán cho vợ chồng anh ta lo từ bao nhiêu năm qua mùa này, ghe cộ, chi phí đủ thiếu ra sao. Nhà anh năm Thiết, nằm dọc theo bờ sông, cách cái quán cơm trên dốc, ngó xuống ngay bến tàu đò, chị năm dẫn thằng con lớn đi đâu đó trên chợ chưa về, hỏi qua hỏi lại, chợt anh năm nhắc chuyện muốn kiếm một đứa con về nuôi cho vui nhà vui cửa, hỏi ông có còn ý định đó không, ba cười vẫn còn.
Anh năm đưa ba tôi đi qua cái nhà mái tôn nhỏ, cách nhà anh ba bốn căn, chị năm vừa về tới cũng nhanh chân chạy qua theo. Tới ngạch cửa, có tiếng đọc kinh trong nhà, chị năm nhanh miệng gọi trước, ba và anh năm đứng sau chờ. Không lâu, một bà bác khá già, chậm yếu, mặt phúc hậu bước ra, bà cười gật đầu chào, có đứa bé gái đi theo sau lưng, chị năm quay qua, không biết nói nho nhỏ gì đó với bà, bà mĩm cười gật gù xem ra có gì vui trên mặt, che chút lằn nhăn, làm quen ba, một người khách lạ. Cũng đã quá trưa, chuyến tàu đò về lại Bến Cầu đi từ lâu, bến vắng khách, cái quán cơm cũng vắng người, chờ chuyến tàu qua sáng mai, nước con sông Vàm, sóng gập ghềnh đưa từng mảng lục bình đi xuôi, về ngược, nắng vẫn nắng, rớt từng mảnh, lấp lánh màu ửng hồng của trời mùa hạ.
*
Bà bác già, bà con hàng xóm ở đây ai cũng biết, người ta quen gọi bà là bà Ba chay trường và bà tu tại gia, hiền từ, nhân đức, giúp người không nề hà, thằng con trai anh năm thường chạy qua chơi với đám bạn cùng trang lứa trước nhà, khi nắng chiều bên kia sông buông xuống, lúc đó bà thường ra ngồi trên cái ghế cây trước ngạch cửa, nhìn cười, dặn hết đứa này tới đứa kia,”coi chừng té, coi chừng té”. Chị năm chắc cũng thường qua lại nên tự động đứng dậy, lấy ấm trà nóng trong cái bình bằng vỏ dừa khô, nấp đậy cũng của trái dừa đó, đem tới, rót ra cái tách sành, thay bà, bà cầm lấy mời ba tôi và anh năm ngồi ở đầu bên này bộ ván gõ, đứa bé gái nấn níu, bẻn lẻn, bên bà ngồi đầu đằng kia, bà gọi tên nó là bé, vậy thôi, chị năm chào ba tôi rồi về bên nhà, ba tôi nóng lòng nghe chuyện, cầm tách trà trên tay mà chưa uống, chờ.
*
Đầu năm ngoái, phía bên Long Chữ, Long Giang, mấy chỗ sát biên giới Miên bị cuồng phong bão dữ dội từ hướng Miên kéo về, thổi ngang, đất trời tối đen, mưa trút như thác đổ, lụt lủ dâng cao hơn nóc nhà, kèm theo gió hú rùng rợn suốt hai ba ngày, nhà cửa, gió thổi tróc nóc, cây cối bật gốc, trôi lềnh bềnh khắp chỗ, người ta réo, người ta kêu, hớt hơ hớt hãi, chèo ghe, chèo xuồng kiếm nhau, mạnh ai nấy lo thân, không đủ sức chịu đựng trước những trận mưa cuồng sóng lũ có một không hai đó.
Nước rút, giông gió dịu đi, trời bắt đầu sáng, nhà cửa không còn gì, mái tranh, mái tôn, cửa cây cửa lá dồn lại từng đống chỗ này chỗ kia. Có người chết chưa tìm thấy xác, bà Ba chỉ con bé, dân làng cứu được nó nằm co ro trên mảng lực bình dày đặc, lớn hơn cái nhà, nằm lắc lư dính vào bờ tường rào trụ sở ấp, người quen biết nó là con gái của hai vợ chồng anh hai Tằn, chuyên làm ruộng mướn, ở căn nhà tranh nhỏ cuối triền dốc ấp, không xa cái truông nứa, và không may đã chết, dân trong ấp đem xác vợ chồng về chôn ở nghĩa địa làng cùng với một số người chết khác. Chú trưởng ấp đem nó tới gởi cho gia đình ông bác giữ đình Long Chữ tạm trông nom rồi tính sau.
Bà Ba đi Bến Cầu sau đó vài hôm, rồi qua Long Chữ, nhờ người bà con giúp trả tiền công cho mấy người gặt đám ruộng năm rồi, người bà con đó là ông bác vai anh, lo trông nom trong ngoài cái đình. Ở lại đó, hôm sau bà rời Long Chữ, xuống tàu đò Bến Cầu về lại Cẫm Giang với con bé gái, mặt mài dễ thương và bộ quần áo cũ rộng thùng thình.
*
Cẫm Giang, em tôi đẹp lắm, hai má lúm đồng tiền, miệng cười rạng rỡ, bà con quen ở phố chợ, ai cũng trầm trồ “con nhỏ đẹp quá chừng”, Cẫm Giang gặp ai cũng chào cũng dạ, sáng theo má tôi ra chợ thì ôi thôi, bạn hàng, bất kể chị cô thiếm bác, đều phải chận lại nựng một cái mới được, nó cười luôn miệng đáp lễ, Cẫm Giang dễ dạy, và sáng dạ, ba tôi dạy đánh vần, tập viết chữ, cái nào nó cũng thuộc nhanh làm giỏi. Cẫm Giang dễ hòa đồng với đám con nít nhà trong chợ dù mới về không bao lâu, chiều nào tan trường về ngang nhà, tụi nó cũng xúm xa xúm xích ngoài cổng, ơi ới Giang hởi Giang ơi. Em tôi mới chừng đó tuổi đầu, mà thấy má giặt đồ, nấu cơm, phơi củi thì khỏi nói, cứ quấn quít theo hỏi “má cho con làm má cho con làm”.
Suốt hè năm đó, bây giờ là “anh hai”, tôi thường dắt em đi theo, chỉ em chỗ này chỗ nọ, dường như chỗ nào có tôi thì có em. Mỗi tối ngồi học bài, em cũng ngồi kế bên, nhìn sách nhìn vở, hỏi cái nọ cái kia, mấy lúc đó, như ba, tôi dạy em chữ này chữ kia cho vui. Có Cẫm Giang, không chỉ ba má tôi vui hơn trước nhiều, vắng nó một chút là “Cẫm Giang ơi con đâu rồi”, mà tôi cũng vậy. Ba tôi thì mỗi tháng, tới ngày lảnh lương dưới văn phòng hảng về thế nào em tôi cũng có, áo mới hay món này món nọ như tôi đã có từ ngày còn nhỏ, mỗi lẩn có đồ chơi hay bánh kẹo gì, nó cũng gặn hỏi “của anh hai đâu của anh hai đâu”, ba má tôi xoa đầu “anh hai lớn rồi, mai mốt ba cho anh hai cái khác”, nó nủng nịu, nắm tay tôi cười khoái chí.
*
Tựu trường năm sau, tôi lên đệ Lục, em vào lớp năm trường xã, vì ở nhà đã dạy, biết đọc biết viết, nên chưa mấy ngày thì cô Hiền cũng như bác hiệu trưởng, đều biết ba má tôi, gặp ba cho biết cho em nhảy lên lới tư, Cẫm Giang siêng học, chăm chỉ, biết nghe lời thầy cô nên, gặp ba má tôi ai nấy đều khen hết. Bạn bè trong lớp, trong trường, nhứt là đám con nhà giàu phố bên kia chợ đều khoái chơi với em, cứ tìm em “đánh đôi đánh đọ”, bày đủ thứ trò chơi con gái ở mấy sạp bán hàng, khi chợ chiều không nhóm cho tới góc sân trường.
Buổi sáng, khi tôi đi ra bến xe lam đi học sớm, lúc nào cũng đi theo ra tới cổng nhà, cái cổng cây so le cao chừng hơn đầu gối người lớn một chút, nhìn theo, chiều nào tan trường về cũng kêu ba dẫn ra bến xe đón “anh hai” cho được, tung tăng cười toe cười toét nắm tay tôi về nhà. Lên lớp ba, Cẫm Giang đã biết phụ má nhúm lửa bếp than, biết vo gạo cho má nấu cơm, biết phụ má đem quần áo giặt ra phơi ngoài sân sau, biết dọn chén dọn đủa, làm cái nào cũng đàng hoàng, ngăn nắp.
Tết nào ba má tôi cũng dắt Cẫm Giang đi Cẫm Giang, tôi ít khi đi theo, thăm bà Ba và vợ chồng anh năm Thiết, biếu bà Ba chút quà trà bánh cùng ít tiền lì xì, chúc bà vui khỏe, gặp lại em, ba Ba tròn mắt, ôm nó hun đầu hun trán không biết bao nhiêu lần, em cũng rờ chân rờ tay bà “bà khỏe hông hả bà, bà ngủ môt mình buồn hông…”, nghe em hỏi mà bồi hồi xúc động, bà muốn rơi nước mắt, anh chị năm cứ ôm nó mà trầm trồ, con đẹp quá vậy, ba má tôi cười mà sung sướng trong lòng. Ở chơi tới hơn quá trưa, bà Ba chậm chậm theo ra đường tiễn, không quên ôm hôn Cẫm Giang mấy lần, mới để cho nó lên xe.
*
Rồi hết năm này tới năm kia, năm nào Cẫm Giang cũng lảnh phần thưởng hạng Nhứt trong trường. Cuối năm lớp Nhất em đậu vào đệ Thất trường quận cùng với hai ba đứa khác cùng lớp nhưng họ lại lên trường tỉnh, tôi xuống Sài Gòn vào năm đầu Đại học. Chưa có thứ Bảy chủ Nhật nào mà tôi ở Sài Gòn, có anh có em, chuyện này chuyện nọ, vậy đó như thói quen, chuyến xe đò sớm đầu ngày về tới nhà, xe chưa ngừng đã thấy Cẫm Giang bên đường lộ chờ. Ba má tôi thương em lắm, có khi thương còn hơn tôi nữa, tôi cũng thương em không khác gì ổng bả.
3.
Tôi ra trường, lên Lái Thiêu làm cũng hơn một năm, Cẫm Giang lên đệ Nhị rồi đậu Tú Tài Một hạng cao, cả trường quận đều biết, người phố chợ đồn lan ra, tiệm quán, cha mẹ học trò, nhất là cha mẹ đám học lớp đệ Nhị đệ Nhất. Đoán chừng cũng đúng, làm việc ngồi ở văn phòng, hôm nào cũng vậy nhớ ngày em thi, tôi đứng ngồi không yên, tôi nghỉ phép vài ngày, nhờ một anh nhân viên đưa từ Lái Thiêu về Sài Gòn, bằng xe Honda, không quên mang theo cái đồng hồ Seiko con gái dây bạc đã mua từ trước đó, dành quà cho em khi có dịp, đón xe về kịp buổi trưa, ngay hôm ở nhà làm bữa ăn, không dám gọi là bữa tiệc vì dân nhà quê mà tiệc với tùng cái gì trừ nhà ai đó có đám cưới đám hỏi. Nhà có thêm mấy cô, mấy cậu chung lớp từ dưới quận lên chung vui, bữa ăn không có gì, gỏi cuốn, cà ri gà, canh chua cá lóc, đám bạn giờ biết tôi, nên cũng tự nhiên, vui cười “anh hai anh hai”.
Để ý một chút, có một cậu, khá đẹp trai, cười nhiều nói ít, tên Trọng, hỏi ra biết nhà Trọng, có tiệm bán tạp hóa đầu ngã ba xuống chợ quận, là con một, học giỏi nhất trong lớp, xem ra được cô em tôi lăng xăng lo cho hơn mấy người khác, thỉnh thoảng Trọng lén nhìn tôi ra chiều e ngại, nhìn sơ qua, ngay cả ba má tôi cũng như tôi đều biết trong bụng là, chắc hai đứa này có gì đây, mà nếu có thì cũng mừng.
Bữa ăn xong, trời cũng còn sớm, mới lưng lửng trưa, nắng hè vẫn là nắng của trời giữa Hạ, rưng rung đổ một trời hồng. Rồi cũng chia tay, tôi theo đưa bọn họ ra đón xe lam chuyến chiều của bác tư cuối phố chợ ra về, bác tư nổ máy xe chờ, thấy đám nhỏ bịn rịn không chịu lên cho trọn, nhìn tôi lắc đầu cười, xe chạy ra đường, đứa nào cũng vẫy tay “anh hai ơi, anh hai hởi”. Hôm sau, buổi sáng ra đầu chợ đón xe đò về lại Lái Thiêu, chuyện của cô ta với anh chàng Trọng, hai anh em nói nhau nghe đêm qua rồi, tôi không hỏi thêm gì trước khi xe tới, cười dặn dò mấy câu, ráng học và phụ giúp ba má, vây thôi, em cười hứa chắc.
3.
Nửa năm em học đệ Nhất, tôi về nhà ăn Tết. Anh em bên nhau, thấy em lo học cho mùa thi, nên không cần hỏi gì, cứ kể chuyện trường, chuyện đời cho vui nhà vui cửa, tôi an tâm, yên lòng và thương Cẫm Giang, em tôi, không biết bao nhiêu mà nói, ba má cũng vậy, xem ra má cưng cô nàng hết sức, nhắc ăn nhắc ngủ mỗi ngày. Vậy đó, cả nhà vui theo ngày tháng đi qua.
Mùa thu tới, thi xong, chờ kết quả, một ngày em cảm thấy mình mệt mỏi, bần thần, ăn uống qua loa, chóng mặt, dù trong người không nóng, mới đầu ba má nghỉ chắc lo học thi quá nên như vậy, má bắt em nằm nghỉ, chuyện nhà để má lo, ba đưa em mấy thứ thuốc cảm, thuốc nhức đầu hình viên trứng nhện, nhưng không thấy có hiệu quả gì cả.

Gần tới sáng, má vào phòng, em ngất xỉu hồi nào, bà la hoáng lên, ba chạy xuống nhà bác tư, lấy xe lam chở em xuống bệnh viện quận, bác sĩ làm đủ thứ, thử nghiệm máu, chụp hình quang tuyến, đo tâm biểu đồ, chích thuốc trợ tim, kháng sinh cũng không có kết quả, thay vì chuyển lên tỉnh, ba quyết định mướn xe hơi tư ngay trong ngày đưa em xuống bệnh viện St Paul, theo lời giới thiệu và kết quả kiểm nghiệm, định bệnh của bệnh viện quận. Cẫm Giang nằm đó, nhờ hai bác sĩ mình và sự trợ giúp của một vị bác sĩ người Pháp, hôm sau em tỉnh lại, nói chuyện nhiều, ăn uống được chút đỉnh.
Được tin, tức tốc tôi bỏ nhiệm sở, mượn xe Honda chạy ngay xuống Sài Gòn. Lên tới phòng em nằm trên lầu, ba má tôi có đó, nhìn tôi lắc đầu, thấy tôi em cười thật tươi một cách bình thường, bình thường như cái cười mà em vẫn có từ ngày còn nhỏ. Tôi ở lại Sài Gòn hai ba hôm, gần như ngày nào cũng trong bệnh viện cả ngày, ba má tôi thì thay phiên nhau, đêm về ngủ ở nhà ông cậu bên Gò Vấp, tuổi già rồi làm sao thức suốt ngày này qua ngày kia nổi.
4.
Em nằm bệnh viện gần hai tuần, hôm về lại chỗ làm, Cẫm Giang còn cười tươi nhắc nhớ về thăm em, yên lòng, xoa đầu em tôi đi. Buổi chiều, chiều thứ Bảy, ông bác sĩ người Pháp và hai anh bác sĩ người mình, hai người đã ngày đêm lo cho em tôi, mời ba má ra ngoài hành lang, cho biết tin buồn, em đã bị ung thư tủy sống thời kỳ cuối, chắc không còn sống bao lâu nữa, má khóc òa lên “trời ơi, con tôi”, họ bắt tay chào, rồi bỏ đi, ba đứng chết lặng, nhìn vào trong, em tôi nằm ngủ như mơ, bấy giờ ba mới bật khóc nhưng nghẹn không thành tiếng.
Vậy mà, chưa kịp sáng, chập chửng vào thu, em tôi mất, ra đi một cách thanh thản sau khi cố ngồi lên gượng cười gọi “má ơi ba ơi”, và cũng cùng hôm đó, bảng niêm yết danh sách đậu kỳ thi Tú Tài Hai ở trường Trưng Vương, ai cũng thấy nét mực in rõ chữ “Nguyễn thị Cẫm Giang” ở vần N. Trước đó năm sáu ngày, bà Ba chay trường ở bến tàu Cẫm Giang cũng qua đời.
*
Sau hôm đám cúng 49 ngày “thất tuần”, buổi sáng, trước khi đón xe đò trở lại Lái Thiêu, trời rựng hồng, nắng cuối thu về khá sớm, hong chút hơi ấm đầu ngày, chơ xã nhóm từ lâu. Đi ra chưa gần tới cổng vào nghĩa địa, tôi bật khóc, như lần đám tang Cẫm Giang tôi đã khóc, từ xa nhìn, ai đó đang ngồi trước mộ em, đầu gục xuống, có mùi nhang thơm thoang thoảng theo chiều gió sớm về ngang, tôi chậm bước tới sau lưng, Trọng ngồi đó, vội vàng đứng dậy gật đầu “anh hai”, nước mắt lưng tròng, đỏ hoe, không kìm lòng được, tôi ôm lấy Trọng, cả hai cùng khóc sụt sùi, dù cho trong hình mộ bia, em tôi đang cười tươi thật tươi, nụ cười mà cả phố chợ, cả trường quận đều thương đều mến, hai anh em ngồi nói với Cẫm Giang nhiều lắm, một lúc lâu vì sợ trễ chuyến xe, để Trọng ở lại, tôi bỏ đi xa rồi, quay lại Trọng vẫn còn ngồi đó.
5.
Từ đó, từ ngày em mất đi, những tiếng cười vui của nhà tôi đã theo em vào nơi ngàn năm yên nghỉ và tôi cũng không còn tìm đâu được nữa một buổi chiều hè đầu năm đệ Thất. Bây giờ thì ba má, tôi chắc rồi sẽ gặp lại em ở một nơi xa xăm và một ngày nào đó. Em tôi đó, Nguyễn Thị Cẫm Giang.
Thuyên Huy
Chuyện tưởng tưởng từ tình tiết tới tên người
MỜI XEM THÊM :
Tống Biệt - Tản Đà
Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi …
Tản Đà
28 thg 6, 2026
Đỗ Hoàng Diệu – Vẻ đẹp phụ nữ Việt sắp tuyệt chủng
Chuyện này nhiều người nói lắm rồi, nhưng tôi vẫn muốn góp thêm vài câu để chị em cân nhắc.
Sống đến từng này, từ tỉnh lẻ đến thủ đô, từ Việt Nam ta ra tới nước ngoài, yêu cũng nhiều, tôi có thể khẳng định gần như không người đàn ông tử tế nào thích nhan sắc đã qua chỉnh sửa. Đàn ông thường bị kích thích bởi mùi hương, ánh mắt, điệu cười... quyến rũ. Ít ai rạo rực bởi một con búp bê. Có thể anh ta vẫn yêu bạn vẫn lấy bạn vẫn tôn trọng bạn song không phải bởi mũi giả ngực giả mà vì trí não và tâm hồn của bạn, những thứ rất khó chỉnh trang.
Có cần bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ không ? Cần chứ. Để cứu hình thức của con người trong các vụ tai nạn, bom đạn, bệnh tật và những khiếm khuyết nặng nề.
Khiếm khuyết nặng nề. Bạn người Việt, sống mũi bạn thấp và mặt tròn, đó không phải khiếm khuyết chứ đừng nói đến khiếm khuyết nặng nề. Đấng tạo hóa ban hình hài khác nhau cho từng chủng người, cho từng con người giống như tự nhiên đã sinh ra cỏ gấu hình quả trứng còn cỏ mần trầu dài nhọn thẳng tưng.
Đàn bà Việt mình giờ chỉnh sửa nhiều quá. Xăm lông mày thành thường trực. Nâng mũi, cắt mắt thành đại trà. Bơm ngực, căng da thành phổ biến. Đẽo cằm, gọt má, chẳng khó tìm. Đàn bà Việt mặt chữ điền mặt Hằng Nga, mắt lá răm mắt hạnh nhân, da bánh mật mũi Á đông đang dần khó kiếm ngoài đường. Thay vào đó là nhan nhản những gương mặt khiếm khuyết do phẫu thuật chỉnh sửa tự tin lướt qua.
Để tôi nói bạn nghe. Bạn thân nhất của chồng tôi là bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ. Anh từng tái tạo nhiều gương mặt do tai nạn giao thông hay bom đạn, từng thực hiện hàng trăm ca làm ngực cho bệnh nhân ung thư vú và tất nhiên rất nhiều ca căng da mặt nâng mũi độn ngực ở Los Angeles.
Đã nhiều lần tôi nửa đùa nửa thật hỏi xem anh có thể làm gì đó để kéo lại tuổi trẻ cho tôi không. Ảnh nhìn tôi như nhìn sinh vật lạ và nói không bao giờ. "Tôi biết bạn đùa, nhưng thành thật mà nói sẽ không bao giờ tôi thực hiện bất cứ phẫu thuật nào kiểu đó cho bạn hay người thân của mình". Và "Thú thực tôi chẳng mấy khi tôn trọng những bệnh nhân đến phòng mổ để phá đi hình hài tự nhiên của họ".
Để tôi nói bạn nghe, ngực to rất dễ kém sang khi mặc áo quần. Nhiều ngôi sao đã phải lên bàn mổ bỏ ngực giả để trở lại xinh đẹp như xưa.
Để tôi nói bạn nghe, theo khảo sát thì chín mươi chín phần trăm phụ nữ có vẻ đẹp dao kéo sẽ bị người đàn ông của mình phản bội.
Mỗi con người đều có một vẻ đẹp riêng. Xin đừng phá đi vẻ đẹp đó của mình. Nếu không bị hở hàm ếch, nếu mũi nằm giữa khuôn mặt và thở đều, nếu hai gò má cân nhau gần thái dương, nếu cằm ở dưới miệng có thể há ra để ăn để nói...xin bạn hãy để nguyên.
Bao nhiều gương tày liếp trong giới nghệ sĩ, các bạn thấy rồi đó.
Có chiến dịch cứu tê giác cứu voi cứu đại bàng này kia khắp thế giới. Tôi thì thấy vẻ đẹp phụ nữ Việt sắp tuyệt chủng rồi. Chúng ta phải làm gì để cứu ?
ĐỖ HOÀNG DIỆU 05.11.2025
27 thg 6, 2026
BIỆN ĐẠO (BÀI 5)
ĐẠO KHỔNG KHUYÊN HỌC TẬP TỐT ĐỂ PHỤC VỤ XÃ HỘI AN VUI, KHÔNG BẮT PHẢI THÀNH THÁNH NHÂN
Tác giả:Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng
Ở cổ đại không có chủ trương: Học có thể thành thánh nhân
Đức thông minh duệ trí của các tiên vương là do trời ban phú cho, người thường không thể có được. Do đó, ở cổ đại không có học thuyết (hoặc chủ trương) cho rằng bằng việc học có thể trở thành thánh nhân.(1)
Tiêu chuẩn ở cổ đại để gọi thánh là việc chế định ra lễ nhạc
Tôi nghĩ rằng các tiên vương có nhiều thứ đức tốt đẹp nên rất khó có tên gọi để diễn tả hết được. Việc gọi các tiên vương là thánh căn cứ vào việc họ đã chế định ra những thứ chưa có trước đó (chế tác). Các tiên vương đã sáng lập ra triều đại mới (khai quốc)(2)và chế định ra lễ nhạc(3). Hai việc này chỉ là 1 phần trong các công việc của các tiên vương đã thực hiện. Nếu như chỉ lấy đức của cá nhân làm tiêu chuẩn cho thánh, thì không bao gồm được thân phận thiên tử (nghĩa là chức phận an dân, lo hạnh phúc ấm no của mọi người). Nếu như lấy việc quản trị quốc gia bằng đức nhân (nghĩa là đức trị) thì các vị vua tài đức sau vị vua khai sáng triều đại mới, tất cả đều là thánh (như vậy không làm nổi bậc được sự vĩ đại của thánh). Tác dụng ích lợi đặt ra lễ nhạc đối với quản trị quốc gia là to lớn, và việc đặt ra lễ nhạc cũng là 1 thứ đức cụ thể của các tiên vương nên do đó có thể lấy làm tiêu chuẩn để đặt tên gọi cho thánh.
Thí dụ, trong kinh Thư viết: “Đây mới đúng là thánh, đây mới đúng là văn文”(4), và trong kinh Thi viết: “Thánhvà kính敬càng ngày càng tăng”(5). Ngoài ra, thánh là đức đứng thứ 3 trong 6 đức của Chu Lễ (6). Như vậy chắc chắn thánh nào có thể nói lên được tất cả các đức của các tiên vương. Tuy nhiên, một khi đã lấy từ thánhđể biểu hiện tầm mức vĩ đại của các tiên vương thì sau đó không còn có tên gọi nào cao hơn thánh (7).
Tiêu chuẩn gọi thánh của Tử Tư: thành誠
Tử Tư muốn đưa Khổng tử lên làm thánh nhưng Khổng tử không có sáng tác ra thứ mới chưa từng có trước đó, thêm vào đó Tử Tư nhất quyết nói “đạo được lập ra theo bản tính bẩm sinh của con người”, do đó ông bắt buộc phải nóibằng việc học có thể thành thánh nhân. Từ đó, Tử Tư lấy thành誠 làm thánh (8).
Tiêu chuẩn gọi thánh của Mạnh tử thật ra chỉ là nhân仁
Đến Mạnh tử, bởi vì ông muốn khuyên Tề Lương vương thay đổi nhà Chu (cách Chu mệnh) (9) nên tự cho mình là thánh nhân (10).Tuy nhiên sợ người đời cho mình không bằng vua Nghiêu, vua Thuấn, Văn vương và Võ vương (mà cho mình là thánh)nên kéo thêm ông Bá Di, Liễu Hạ Huệ cùng làm thánh(a) (11).
Thời đại của Tử Tư và Khổng tử không cách xa nên dư âm của Khổng tử vẫn còn lại, do đó lời của Tử Tư còn e dè không thể tự tiện muốn gì nói nấy. Do đó, ý nghĩa của từ “thánh nhân” hàm ý “thánh nhân là người giống như thần minh, người thường không thể đoán biết được.” (a)(12)
Trường hợp của Mạnh tử thì tiêu chuẩn để gọi thánh nhân, ông dừng lại ở việc “để có được thiên hạ (nghĩa là để làm vua) 1 điều bất nghĩa cũng không làm, 1 người vô tội cũng không giết hại”(13). Tuy nhiên, tiêu chuẩn này thật ra chỉ là tiêu chuẩn để gọi nhân nhân仁人 (người có đức nhân) chứ không đủ để gọi thánh nhân. Tóm lại, bởi vì thời Mạnh tử không cách quá xa thời Khổng tử, nên lời nói, chủ trương của Mạnh tử còn có chỗ cân nhắc như trên. Có điều cả 2 ông đều muốn cấp bách thuyết phục chủ trương của mình, anh dũng sửa sai trào lưu tư tưởng đương thời để cứu đời,nên trong lời nói câu văn có lúc đè nén có lúc giương cao đưa đến kết quả ý nghĩa ở cổ đại của từ thánh nhân không còn truyền đạt đúng. Thật là đáng tiếc thay.
Khổng tử chỉ khuyên dạy con người nên cố gắng học tập tốt để phục vụ xã hội được an vui chứ chưa hề bắt phải thành thánh nhân.
Tôi nghĩ rằng các vị vua và quân tử đời sau kính tuân theo lễ nhạc của các tiên vương mà thực hành không dám làm trái lại. Chế độ bao gồm lễ nhạc, luật pháp, chính sách (lễ nhạc hình chính) là đạo mà các tiên vương đã áp dụng để an dân, và (tác dụng, hiệu quả này) được gọi là nhân仁. Các vị vua và quân tử đời sau thuận theo nội dung dạy lễ nhạc của các tiên vương thì có thể trở thành người nhân (nhân nhân). Điều này có nghĩa là, bằng việc học tập không thể trở thành thánh nhân nhưng có thể trở thành người có đức nhân. Mặc dù Khổng tử dạy đức nhân cho người đời nhưng chưa hề bắt ép con người phải trở thành thánh nhân là bởi lý do này. (Thật vậy! Đọc sách Luận Ngữ, chúng ta có thể thấy Khổng tử chưa bao giờ dạy hay khuyên các đệ tử phải trở thành thánh nhân). Nói chung, người đời sau tin tưởng vào Tử Tư, Mạnh tử, Trình tử, Chu tử hơn các tiên vương và Khổng tử, thật là sai lầm!
Tóm tắt ý quan trọng
-Ở cổ đại không có chủ trương: Học có thể thành thánh nhân
– Tiêu chuẩn ở cổ đại để gọi thánh là việc chế định ra lễ nhạc. Thánh chỉ là 1 trong nhiều thứ đức của các tiên vương. Thánh đứng thứ 3 của 6 đức trong lễ đời nhà Chu: trí, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa.
– Tiêu chuẩn gọi thánh của Tử Tư là thành誠, của Mạnh tử là “Không làm điều bất nghĩa và không giết người vô tội để có thiên hạ” và theo Sorai đó chỉ là tiêu chuẩn của đức nhân.
– Đạo Khổng là chế độ bao gồm lễ nhạc, luật pháp, chính sách (lễ nhạc hình chính) là đạo mà các tiên vương đã áp dụng để an dân và được gọi là đạo của đức nhân.
– Khổng tử chỉ khuyên dạy con người nên cố gắng học tập tốt để phục vụ xã hội được an vui chứ chưa hề bắt phải thành thánh nhân.
– Nói chung, người đời sau tin tưởng vào Tử Tư, Mạnh tử, Trình tử, Chu tử hơn các tiên vương và Khổng tử, thật là sai lầm!
Nguyễn Sơn Hùng – Dịch xong ngày 21/6/2026
Xem lại và bổ sung ngày 22~23/6/2026
Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng
Nhận xét
- Thiết tưởng phải nói những nhận xét này của Sorai tinh tế và độc đáo.
Nhận xét tổng thể
(1) Trước nay người dịch không nắm được điểm sai lầm chính yếu của Tống Nho là gì! Tuy nhiên, hôm nay sau khi biên dịch xong bài này người viết rất thấm thía và tâm đắc khi dịch câu: “Khổng tử chỉ khuyên dạy con người nên cố gắng học tập tốt để phục vụ xã hội được an vui chứ chưa hề bắt phải thành thánh nhân.” Thêm vào đó, câu sau: “Nói chung, người đời sau tin tưởng vào Tử Tư, Mạnh tử, Trình tử, Chu tử hơn các tiên vương và Khổng tử, thật là sai lầm !” Lại nhớ nhận xét chí lý của Itô Jinsai, đại ý như sau: Con người thường hay quý trọng những gì cao xa khó vói tới hoặc trừu tượng, và xem thường những thứ gần gũi có bên cạnh trong hàng ngày hoặc cụ thể trước mắt.
Tóm lại, sai lầm và khuynh hướng trên không những của Tống Nho mà phải nói là của chung của người đời chúng ta. Thật sự luôn luôn cần nên lưu ý để tránh!
(2) Theo người dịch việc có thể thành thánh nhân hay không, thật sự không quan trọng lắm. Cốt là học thuyết, chủ trương hoặc đạo có đem ích lợi đến cho xã hội con người sống hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng không. Không nên phí nhiều thời giờ vào đề tài này. Tuy nhiên, cảnh tỉnh của Sorai cũng có ích, bởi vì nhờ bài này mà người dịch thức tỉnh được nội dung (1) nói trên, mặc dù đã đọc bài này nhiều lần trước đây. Người dịch cũng ngạc nhiên vì ngay cả Tuân tử cũng chủ trương “học có thể thành thánh nhân”. Tuy nhiên nếu điều này khích lệ người đời cố gắng học tập thì cũng không phải là việc xấu.
(3) Nghĩa của chữ đức徳 là gì? Để giải thích dễ hiểu vào bao quát hết được ý nghĩa của chữ đức thật sự rất khó! Người dịch đã cố gắng nhiều lần nhưng vẫn chưa được! Khi dịch bài này phát hiện ra điều sau: loại của đức và mức quan trọng của các loại đức hình như thay đổi theo thời đại, đương nhiên cũng thay đổi theo học thuyết. Thí dụ, trong thiên Nghiêu Điển của sách Thượng Thư (tức kinh Thư) viết:
直而溫,寬而栗,剛而無虐,簡而無傲。
Trực nhi ôn, khoan nhi lật, cương nhi vô ngược, giản nhi vô ngạo.
Trên là lời của vua Nghiêu, gồm có 3 loại đức.
Nhưng trong thiên Cao Dao Mô cũng của kinh Thư lại viết:
寬而栗,柔而立,愿而恭,亂而敬,擾而毅,直而溫,簡而廉,剛而塞(㥶),彊而義。
Khoan nhi lật, nhu nhi lập, nguyện nhi cung, loạn nhi kính, nhiễu nhi nghị, trực nhi ôn, giản nhi liêm, cương nhi tắc, cường nhi nghĩa.
Trên là lời của ông Cao Dao, bề tôi thời vua Nghiêu và vua Thuấn phụ trách về luật pháp và xét xử tội, gồm có 9 loại đức. Số đức mục tăng lên và nội dung cũng hơi khác đi.
Trong mục Đại Tư Đồ của Địa Quan của Chu Lễ lại viết:
六德,知、仁、聖、義、忠、和
Lục đức: tri, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa.
Nhưng trong mục Cửu Tần của Thiên Quan của Chu Lễ lại viết thêm:
九嬪掌婦學之灋,以教九御婦德、婦言、婦容、婦功,各帥其屬而以時御敍于王所。
Cửu tần chưởng phụ học chi pháp, dĩ giáo cửu ngự phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công, các soái (suất) kỳ thuộc nhi dĩ thời ngự tự ư vương sở.
Người đời sau gọi “phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công” là tứ đứcnên trong đức lại có đức, ngôn(lời nói), dung(hình dạng),công(thành quả của việc làm), trở thành khó hiểu và rối loạn! Ngoài ra còn gọi là tứ hạnh hoặc tứ giáo. Thiết nghĩ từ “tứ giáo” thích hợp hơn để tránh hỗn loạn trong ngôn từ.
(Người dịch chưa hiểu rõ hết ý nghĩa các nội dung trên nên xin sẽ giới thiệu chi tiết hơn trong dịp khác)
Ngay cả trong ngôn ngữ cũng khó! Thí dụ, nghĩa của từ đức tínhlà bản tính tốt, nghĩa là đức=tốt. Thế tại sao lại có từ “ác đức”? Đã là xấu thì sao gọi là đức? Phải suy nghĩ như thế nào mới hợp lý và dễ hiểu?
(4) Trong thiên Nhạc Ký của sách Lễ Ký quả thật có ghi “Chế tác giả vị thánh, thuật giả chi vị minh, minh thánh giả, thuật tác chi vị dã.”Nhưng người dịch có nghi vấn như sau: 1) Chắc gì các vị vua như vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ…đã tự họ đặt ra lễ nhạc? Chẳng phải họ giao cho những nhà chuyên môn đặt ra sao. 2) Ngoài ra, với 1 cá nhân khó đủ tài năng cả 4 lĩnh vực nhạc, lễ, hình, chính hoặc cả lễ và nhạc (bởi vì Sorai thường nhấn mạnh lễ nhạc).3) Ông Quỳ夔, sách Xuân Thu Tả Truyện viết là Hậu Quỳ后夔 rất giỏi về âm nhạc và làm quan phụ trách âm nhạc cũng là bậc thánh sao?
Ghi chú
(1) Khi chú giải câu“Mạnh tử đạo tính thiện” trong chương 1 thiên 5 Đằng Văn Công thượng sách Mạnh Tử, Chu Hy viết “Thánh nhân khả học nhi chí”聖人可学而至 (Bằng việc học có thể thành thánh nhân).
Khi chú giải câu “Ai Công vấn: “Đệ tử thục vi hiếu học?”” (Ai Công hỏi (Khổng tử): “Trong các đệ tử của ngài, ai là người hiếu học?”trong chương 2 thiên 6 Ung Dã sách Luận Ngữ, Chu Hy viết “Trình tử viết, học dĩ chí hồ thánh nhân chi đạo giả” (Trình tử nói: “Học là đạo (con đường, phương pháp) để thành thánh nhân”.
(2) Trong Sư Quái (quẻ Sư) kinh Dịch viết
大君有命、開国承家。小人勿用。
“Đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia. Tiểu nhân vật dụng. ”
Tạm dịch
Vị vua vĩ đại có nhiệm vụ sáng lập triều đại mới và chọn người hiền đức có công lao để bổ nhiệm để con cháu họ thừa kế về sau. Không nên dùng người không hiền đức dù có công lao. Đối với những người này thì chỉ ban thưởng cho họ tiền bạc bổng lộc không nên để họ quản trị quốc gia.
(3) Trong thiên Nhạc Ký sách Lễ Ký viết:
故知禮樂之情者能作,識禮樂之文者能述。作者之謂聖,述者之謂明;明聖者,述作之謂也。
“Cố tri lễ nhạc chi tình giả năng tác, thức lễ nhạc chi văn giả năng thuật. Chế tác giả vị thánh, thuật giả chi vị minh, minh thánh giả, thuật tác chi vị dã.”
Tạm dịch
“Chỉ có người hiểu rõ bản chất (tình情) của lễ nhạc mới có thể chế tác ra phương pháp biểu hiện lễ nhạc, chỉ có người hiểu đầy đủ phương pháp biểu hiện lễ nhạc (văn文) mới có thể tiếp thừa phương pháp biểu hiện lễ nhạc của tiên hiền (người tài đức đi trước) để truyền đạt đúng lại cho đời sau. Người mới chế tác ra lễ nhạc gọi làthánh, người truyền thuật lại đúng lễ nhạc cho đời sau gọi là minh. Minh và thánh lần lược theo thứ tự để chỉ người truyền thuật lại đúng và sáng tác ra lễ nhạc.”
(Biên dịch theo nội dung của Takeuchi Terao, 1910~1982,giáo thụ danh dự của đại học Hokkaidô)
(4) Trong thiên Đại Vũ Mô (được xem là giả tạo) kinh Thư viết:
都,帝德廣運。乃聖乃神,乃武乃文。皇天眷命,奄有四海為天下君。
“Đô, đế đức quảng vận. Nãi thánh nãi thần, nãi vũ nãi văn.Hoàng thiên quyến mệnh, yểm hữu tứ hải vi thiên hạ quân.”
Tạm dịch
“(Ông Bá Íchca ngợi đức của vua Nghiêu): “Ôi, đức của vua lan rộng khắp nơi. Là thánh. là thần,cả võ, cả văn. Trời cao thương yêu ngài nên khiến làm vua thiên hạ bốn biển”.
(5) Trong bài Trường Phát của Thương tụng trong kinh Thi viết:
湯降不遟,聖敬日躋。
“Thang giáng bất trì, thánh kính nhật tê.”
Tạm dịch
“Vua Thang xuất hiện đúng lúc, đức thánh và sự được tôn kính của vua càng ngày càng cao”.
(6) Trong mục Đại Tư Đồ của Địa Quan trong Chu Lễ viết:
以鄉三物教萬民而賓興之:一曰六德,知、仁、聖、義、忠、和;二曰六行,孝、友、睦、姻、任、恤;三曰六藝,禮、樂、射、御、書、數。
“Dĩ hương tam vật giáo vạn dân nhi tân hưng chi: nhất viết lục đức: tri, nhân, thánh, nghĩa, trung, hòa; nhị viết lục hạnh:hiếu, hữu,mục, nhân, nhiệm, tuất; tam viết lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, thư, số.”
Tạm dịch
Ở trường dạy học của thôn làng (địa phương) thì dạy dân 3 nội dung giáo dục sau và chọn ra người giỏi để tiến cử lên học ở kinh đô (quốc học) bằng lễ đối đãi khách quý.
Một là 6 thứ đức: trí(kiến thức, sáng suốt, phân biệt được phải trái, đúng sai của sự việc), nhân (lòng thương yêu quý trọng người và vật, tinh thần phục vụ xã hội),thánh (biết quan sát, phán đoán việc tương lai, nhìn xa thấy rộng),nghĩa (làm việc đúng, bênh vực kẻ yếu), trung (hết lòng hết sức với công việc, không dối trá), hòa (không tranh cãi vô ích, biết nhường nhịn, giữ tình đoàn kết).
Hai là 6 thứ hạnh: hiếu, hữu (tình bạn), mục (hòa thuận, thân tình, tin nhau), nhân(cách ứng xử với bên vợ, bên ngoại),nhiệm (cách ứng xử công việc được giao phó), tuất (cứu giúp kẻ yếu, người hoạn nạn).
Ba là 6 thứ kỹ năng:lễ(cách ứng xử với người khác trong cuộc sống), nhạc(âm nhạc, thi ca),xạ(bắn cung),ngự(cách đánh xe, cưởi ngựa),thư(viết chữ, đọc sách), số(tính toán). (Các giải thích không hẳn đúng với ý nghĩa của nguyên văn, người dịch chỉ dựa theo ý nghĩ của cá nhân. Trong tương lai sẽ tìm hiểu cặn kẻ hơn, nhất là quý độc giả nên tham khảo các giải thích nghĩa của chữ hoặc từ quan trọng trong tác phẩm Biện Danh của Ogyu Sorai.)
Nên lưu ý, trong Chu Lễ xem trí, nhân, nghĩa (trong nhân nghĩa lễ trí tín) là đức, và lễ, nhạc là nghệ.
(7) Cách dùng từ “mạc dĩ thượng”莫以尚 có trong chương 6 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ (tuy nhiên, chữ vô được thay bằng mạc, với nghĩa là “không có”):
子曰:我未見好仁者,惡不仁者。好仁者,無以尚之;惡不仁者,其為仁矣,不使不仁者加乎其身。有能一日用其力於仁矣乎?我未見力不足者。蓋有之矣,我未之見也!
Tửviết: “Ngãvịkiếnhiếunhângiả, ố bấtnhângiả. Hiếunhângiả, vôdĩthượng chi. Ố bấtnhângiả, kỳvinhânhỹ, bấtsửbấtnhângiảgiahồkỳthân. Hữunăngnhấtnhậtdụngkỳlực ư nhânhỹhồ?Ngãvịkiếnlựcbấttúcgiả.Cáihữu chi hỹ, ngãvị chi kiếndã.”
Dịch(NguyễnHiếnLê)
Khổngtửnói: “Ta chưathấyaithật ham điềunhânvàaithậtghétđiềubấtnhân, Ngườithật ham điềunhânthìkhôngchođiềugìhơnđiềunhân; ngườithậtghétđiềubấtnhânthìkhilàmđiềunhânkhôngđểchođiềubấtnhânvướngvàomình. Cóaitrọnngàytậnlựclàmđiềunhânchăng? Ta chưathấyaikhôngđủsứclàmđiềunhâncả. Hoặccóchăngmà ta chưathấy.”
(8) Trong chương 20 sách Trung Dung viết:
“誠者,天之道也;誠之者,人之道也。誠者,不勉而中,不思而得,從容中道,聖人也;誠之者,擇善而固執之者也。
“Thànhgiả, thiên chi đạodã; thành chi giả, nhân chi đạodã.Thànhgiả, bấtmiễnnhitrúng; bấttưnhiđắc; thung dung trungđạo; thánhnhândã;thànhchi giả, trạchthiệnnhicốchấp chi giảdã.”
Tạm dịch
“Thành là đạo của trời, làm cho thành là đạo của người.Người thành, không cố gắng mà vẫn trúng, không suy nghĩ mà vẫn được, thong thả thư thái trong đạo; đó là thánh nhân. Để có đượcthành, thì phải chọn điều tốt lành mà nắm chắc lấy.”
Trong chương 31 viết:
唯天下至聖,為能聰明睿知,足以有臨也.
“Duy thiên hạ chí thánh, vi năng thông minh duệtrí, túc dĩ hữu lâm dã.”
Tạm dịch
“Chỉ có thiên hạ chí thánh mới có được thông minh duệ trí đủ để ứng đối sự việc.”
(9)Từ “cách mệnh” có xuất xứ từ kinh Dịch. Trong phần sau Soán truyện của Cách Quái (quẻ Cách) trong kinh Dịch viết:
文明以說,大亨以正,革而當,其悔乃亡。天地革而四時成,湯武革命,順乎天而應乎人,革之時大矣哉!
“Thiên địa cách nhi tứ thời thành, Thang Võ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân, cách chi thời đại hỹ tai”.
Tạm dịch
“Trời đất thay đổi nên có 4 mùa. (Tương tự,) cách mệnh của vua Thang và vua Võ (vua Thang nhà Ân thay thế vua Kiệt nhà Hạ, vuaVõ nhà Chu thay thế vua Trụ nhà Ân) thuận với trời và ứng hợp với người, do đó đúng lúc của thay đổi quan trọng thay.”
(Không hiểu tại sao trong Wikisource của Trung quốc giữa 2 chữ thời và đại có thêm chữ nghĩa義, trong khi các phiên bản thường gặp không có)
(10) Trong chương 14 của thiên 4 Công Tôn Sửu hạ viết:
夫天,未欲平治天下也,如欲平治天下,當今之世,舍我其誰也?吾何為不豫哉?
“Phù, thiên vị dục bình trị thiên hạ dã. Như dục bình trị thiên hạ, đương kim chi thế, xả ngã, kỳ thùy dã? Ngô hà vi bất dự tai?”
Tạm dịch
“Nếu như trời muốn thiên hạ được quản trị thái bình thì hiện nay người có thể giúp vua làm được việc này có lẽ chỉ có ta.”
Do đó, Sorai cho rằng Mạnh tử tự cho mình là thánh nhân.
(11) Trong chương 1 của thiên 10 Vạn Chương hạ viết:
孟子曰:伯夷,聖之清者也;伊尹,聖之任者也;柳下惠,聖之和者也;孔子,聖之時者也。
“Mạnh Tử viết: “Bá Di thánh chi thanh giả dã. Y Doãn thánh chi nhiệm giả dã. Liễu Hạ Huệ thánh chi hoà giả dã. Khổng Tử thánh chi thời giả dã.”
Tạm dịch
“Mạnh tử nói:“Bá Di là vị thánh đặc biệt trong sạch liêm khiết trong các thánh nhân. Y Doãn là vị thánh có tinh thần trách nhiệm mạnh mẽ trong các thánh nhân. Liễu Hạ Huệ là vị thánh có tinh thần hài hòa với người đời trong các thánh nhân. Khổng tử là vị thánh không thiên lệch, sống đúng theo những cái chính đáng của đương thời trong các thánh nhân.”
Trong chương 15 thiên 14 Tận Tâm hạ viết:
孟子曰:聖人,百世之師也,伯夷,柳下惠是也。
“Mạnh Tử viết: “Thánh nhân bách thế chi sư dã. Bá Di, Liễu Hạ Huệ thị dã…””
Tạm dịch
“Mạnh tử nói “Thánh nhân là bậc thầy trăm đời (lâu dài) của thiên hạ. Đó là Bá Di, Liễu Hạ Huệ….””
(12) Đọc các chương viết về chí thành (chương 24) hoặc thiên hạ chí thành(chương 22, 23, 31, 32) trong sách Trung Dungchúng ta có thể thấy khuynh hướng này.
(13) Trongchương 2 thiên 3 Công Tôn Sửu thượng viết:
“伯夷,伊尹於孔子,若是班乎?曰:否,自有生民以來,未有孔子也。曰:然則有同與?曰:有,得百里之地而君之,皆能以朝諸侯有天下;行一不義,殺一不辜而得天下,皆不為也。是 則同。
“Bá Di, Y Doãn ư Khổng Tử, nhược thị ban hồ?” Viết: “Phủ. Tự hữu sinh dân dĩ lai, vị hữu Khổng Tử dã”
Viết: “Nhiên, tắc hữu đồng dư?”
Viết: “Hữu. Đắc bách lý chi địa nhi quân chi, giai năng dĩ triều chư hầu, hữu thiên hạ. Hành nhất bất nghĩa, sát nhất bất cô, nhi đắc thiên hạ, giai bất vi dã. Thị tắc đồng.”
Tạm dịch
(Công Tôn Sửu hỏi): “Bá Di, Y Doãn so với Khổng Tử, có ngang hàng không?”
Mạnh tử đáp: “Không. Từ khi con người sinh ra đến nay, chưa có ai như Khổng Tử.”
Công Tôn Sửu hỏi: “Vậy các vị ấy có chỗ giống nhau chăng?”
Mạnh tử đáp: “Có. Nếu được làm vua một khoảnh đất trăm dặm, đều có thể khiến các chư hầu vào chầu, thu phục thiên hạ. Làm một điều bất nghĩa, giết một kẻ vô tội mà được thiên hạ thì đều không làm. Đó là chỗ giống nhau.”
Nguyên văn
先王聡明睿知之徳、稟諸天性。非凡人所能及焉。故古者無学為聖人之説也。蓋先王之徳、兼備衆美、難可得名。而所命為聖者、取諸制作之一端耳。先王開国、制作礼楽。是雖一端、先王之所以為先王、亦唯是耳。若唯以其在己之徳、則無天子之分矣。若以平治天下之仁命之、則後賢王皆爾。制作礼楽、是其大者、故以命先王之徳爾。其実聖亦一徳。如書曰乃聖乃文、詩曰聖敬日躋、及周礼六徳、聖居其三、是豈先王の徳之全哉。然既已以命先王之徳、自此之後、聖人之名、莫以尚焉。
・至於子思推孔子之為聖、而孔子無制作之迹、又極言道率人性、則不得不言聖人可学而至矣。故以誠語聖也。至於孟子勧斉梁王、欲革周命、則不得不以聖人自処矣。以聖人自処、而尭舜文周嫌於不可及矣。故旁引夷恵、皆以為聖人也。子思去孔子不遠。流風未泯。其言猶有顧忌。故其称聖人、有神明不測之意。若孟子即止言行一不義殺一不辜而得天下不為也。是特仁人耳。非聖人也。要之孟子亦去孔子不甚遠。其言猶有斟酌者若此。祇二子急於持論、勇於救時、辞気抑揚之間、古義藉以不伝焉。可嘆哉。
・蓋後王君子、奉先王礼楽而行之、不敢違背。而礼楽刑政、先王以是尽於安天下之道。是所謂仁也。後王君子、亦唯順先王礼楽之教、以得為仁人耳。是聖人不可学而至焉、仁人可学而能焉。孔子教人以仁、未嘗以作聖強之、為是故也。大氐後人信思孟程朱、過於先王孔子。何其謬也。
Âm Hán Việt của nguyên văn
Tiên vương thông minh duệ tri chi đức. Bẩm chư thiên tính. Phi phàm nhân sở năng cập yên. Cố cổ giả vô học vi thánh nhân chi thuyết giả. Cái tiên vương chi đức. Kiêm bị chúng mỹ. Nan khả đắc danh. Nhi sở mệnh vi thánh giả. Thu chư chế tác chi nhất đoan nhĩ. Tiên vương khai quốc. Chế tác lễ nhạc thị tuy nhất đoan. Tiên vương chi sở dĩ vi tiên vương. Diệc duy thị nhĩ. Nhược duy dĩ kỳ tại kỷ chi đức. Tắc vô thiên tử chi phận hỹ. Nhược dĩ bình thiên hạ chi nhân mệnh chi. Tắc hậu hiền vương giai nhĩ. Chế tác lễ nhạc. Thị kỳ đại giả. Cố dĩ mệnh tiên vương chi đức nhĩ. Kỳ thật thánh diệc nhất đức. Như Thư viết Nãi thánh nãi văn. Thi viết Thánh kính nhật tê. Cập Chu lễ lục đức. Thánh cư kỳ tam. Thị khởi tiên vương chi đức chi toàn tai. Nhiên ký dĩ dĩ mệnh tiên vương chi đức. Tự thử chi hậu. Thánh nhân chi danh. Mạc nhĩ thượng yên.
Chí ư Tử Tư thôi Khổng tử chi vi thánh. Nhi Khổng tử vô chế tác chi tích. Hựu ngôn đạo suất nhân tính. Tắc bất đắc bất ngôn thánh nhân khả học nhi chí hỹ. Cố dĩ thành ngữ thánh dã. Chí ư Mạnh tử khuyến Tề Lương vương, dục cách Chu mệnh. Tắc bất đắc bất dĩ thánh nhân tự xử. Dĩ thánh nhân tự xử. Nhi Nghiêu, Thuấn Văn, Chu hiềm ư bất khả cập hỹ. Cố bàng dẫn Di, Huệ giai dĩ vi thánh nhân dã. Tử Tư khứ Khổng tử bất viễn. Lưu phong vị mẫn. Kỳ ngôn do hữu cố kỵ. Cố kỳ xứng thánh nhân. Hữu thần minh bất trắc chi ý. Nhược Mạnh từ tắc chỉ ngôn hành nhất bất nghĩa sát nhất bất cô nhi đắc thiên hạ bất vi dã. Thị đặc nhân nhân nhĩ. Phi thánh nhân đã.Yếu chi Mạnh tử diệc khứKhổng tử bất thậm viễn. Kỳ ngôn do hữu châm chước giả nhược thử. Chi nhị tử cấp ư trì luận. Dũngư cứu thời. Từ khí ức dương chi gian. Cổ nghĩa tịch dĩ bất truyềnyên.Khả thán tai.
Tiên vương dĩ thị tân ư an thiên hạ chỉ đạo. Thị sở vị nhân dã. Hậu vương quân tử. Diệc duy thuận tiên vương lễ nhạc chi giáo. Dĩ đắc vị nhân nhân nhĩ. Thị thánh nhân bất khả học nhi chỉ yên. Nhân nhân khả học nhi năng yên. Khổngg tử giáo nhân dĩ nhân. Vị thường dĩ tác thánh cưỡng chi. Vi thị cố dã. Đại để hậu nhân tin Tư, Mạnh, Trình, Chu quá ư tiên vương, Khổng tử. Hà kỳ mậu dã.
Tài liệu tham khảo
- Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
- Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.





.jpg)
