8 thg 7, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 6)


 BIỆN ĐẠO (BÀI 6)

LỄ LÀ NHỮNG ĐIỀU THÍCH ĐÁNG MÀ MỌI NGƯỜI ĐỀU CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

BÀI 6

Phần đông hậu Nho bắt ép học những thứ không thể thực hiện được

Các hậu Nho (1) phần lớn bắt ép người học học những thứ mà họ cho là cao xa, mầu nhiệm được chọn lọc kỹ càng (cao diệu tinh vi), những thứ mà người thường không thể thực hành được, và cho rằng các thánh nhân lấy những thứ này để đặt ra cực. Thật là bậy bạ. 


Lễ là thứ để dạy người dân những việc thích đáng nên làm theo

Các tiên vương đặt ra lễ và gọi đó là cực (2).(những thứ mà người dân ai cũng có thể thực hiện được để làm chuẩn mực trong cuộc sống). Các Nho gia đời Hán (3) giải thích cựctrung (trung có thể hiểu là thích đáng, không thừa không thiếu, vừa đủ; cũng có thể hiểu là trúng, là đúng). Lễ là thứ dùng để dạy trung (nghĩa là lễ dùng để dạy những điều thích đáng) (4). Và khi chú giải sách Trung Dung, các Hán Nho cho rằng Tử Tư viết Trung Dung để giải thích ý nghĩa của lễ (5). Chú giải này không thích đáng trọn vẹn nhưng không cách xa nhiều với nội dung của cổ đại (tức thời của các tiên vương). Nội dung ở cổ đại được thầy truyền trực tiếp cho trò nên ý nghĩa ở cổ đại còn lại như trên. 


Lễ là thứ mà các tiên vương đặt ra để cả người giỏi và người dở đều có thể thực hiện được 

Các tiên vương đặt ra lễ để cho người giỏi cúi xuống (phủ, hạ thấp mình xuống) mà thực hành, người không giỏi vói lên ( gắng sức) mà làm cho được (cập) nên mới gọi là cực (tiêu chuẩn mà mọi người đều thực hiện được) (6). Cực là thứ mà người thông thường cũng có thể thực hiện được. Nếu không phải như vậy (nghĩa là người dân thường không thể thực hiện được) thì có nghĩa là cưỡng ép người dân thường thực hiện những nhiệm vụ (vụ: đem hết sức ra làm) mà họ không thể thực hiện, thế chẳng phải là bắt người dân phải tuyệt vọng với điều tốt, việc thiện hay sao? Nếu như vậy thì đó có thể gọi là đạo an dân của các tiên vương sao?


Những chủ trương của Tống Nho không phải của đạo Khổng

Do đó những chủ trương cho rằng “cực của lý lẽ đương nhiên của sự việc” (Tống Nho chủ trương đạo trong khi theo Sorai đạo lễ nhạc hình chính để an dân), “có thể làm thay đổi khí chất con người”, “học có thể thành thánh nhân” tất cả đều là không phải chủ trương nguyên thủy của Khổng tử và của các tiên vương. 


Giải thích của Itô Jinsai cũng không hợp lý

Vào thời gần đây, Itô Jinsai là người hiểu rõ đúng sai của các chủ trương nói trên (của Tống Nho) nhưng ông lại gọi hiếu, đễ, nhân, nghĩa là mẫu mực (quy củ chuẩn thằng). Nếu điều này đúng, thì mọi người sẽ lấy ý tưởng của riêng mình để quyết định thế nào là hiếu, đễ, nhân, nghĩa. Như vậy thì lấy gì làm mẫu mực, tiêu chuẩn đây? Suy nghĩ như vậy thì chẳng khác thước đo, cân đo không có các con số quy định cụ thể của chiều dài và trọng lượng. (Ý Sorai là cần phải theo nội dung của đạo tiên vương tức đạo Khổng để quy định thế nào là hiếu, đễ, nhân, nghĩa. ) (a) 


Tóm tắt ý quan trọng

- Lễ là thứ để dạy những việc thích đáng nên làm theo, cũng là trung, cũng là cực của đạo tiên vương (đạo Khổng). Cựccó nghĩa là mẫu mực, tiêu chuẩn.

- Lễ là thứ mà các tiên vương đặt ra để cả người giỏi và người dở đều có thể thực hiện được. Những mẫu mực, tiêu chuẩn của các tiên vương đặt ra để an dân đều là những điều mà người bình thường cũng có thể thực hiện được.

- Các chủ trương như “cực của lý lẽ đương nhiên của sự việc”, “có thể làm thay đổi khí chất con người”, “học có thể thành thánh nhân” tất cả đều là không phải chủ trương nguyên thủy của Khổng tử và của các tiên vương.


Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 24/6/2026

Xem lại và bổ sung ngày 1/7/2026


Nhận xét

(a) Sorai hơi quá đáng khi chỉ căn cứ vào nội dung Jinsai viết trong tác phẩm mà phán quyết như thế! Có lẽ bởi vì Jinsai nghĩa rằng không cần phải nói ra dài dòng mà ai cũng hiểu. Người dịch nghĩ rằng Jinsai không nói ra cụ thể nhưng chắc chắn ông không hề nghĩ như Sorai nói, bởi vì Jinsai cũng chủ trương học Luận Ngữ để xem cần phải thực hiện như thế nào mới gọi là hiếu. Nếu tự mình giải thích hiếu theo ý của mình thì cần gì phải học.


Nhận xét tổng thể

(1) Nhận xét của Sorai rằng lễ là nội dung ai cũng có thể thực hiện được dù khôn hay không khôn, dù giàu hay nghèo. Nhận xét này thật là chí lý xác đáng. Nếu không thì làm sao cho mọi người dân có thể áp dụng trong cuộc sống như mục đích của các tiên vương là dùng lễ để an dân. Hơn nữa nội dung này là lời nói của Tử Tư để phản biện lại với Tăng tử được ghi chép lại trong thiên Đàn Cung thượng của sách Lễ Ký. Nên nhớ Tử Tư là học trò của Tăng tử . Do đó, đạo Khổng không chủ trương trò không được trình bày ý kiến khác với thầy. Chúng ta nên tìm hiểu học kỹ lại nội dung đúng của người xưa và kèm theo suy nghĩ và phán đoán của bản thân chớ nên tin rằng “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu” là chủ trương của đạo Khổng. Xin đọc bài “Xuất xứ của câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung”” của người dịch.


(2) Trước nay người chỉ hiểu cực là đỉnh cao nhất như Chu Hy đã giải thích là chí cực至極. Khi đọc bài nói về cực trong Biện Danh của Sorai mới biết trong kinh Thi, Đại Học, Chu Lễ, thiên Hồng Phạm của kinh Thư, thiên Tế Nghĩa của Lễ Ký cho thấy ý nghĩa của cựctrung, là mẫu mực, tiêu chuẩn mà mọi người có thể thực hiện được. Quả thật không nên dùng ngay ý nghĩa của ngôn ngữ hiện tại để hiểu nội dung của sách xưa.


(3) Nhờ biên dịch và tra cứu thêm các sách được trích dẫn, người dịch càng thấm thía thêm tầm quan trọng của lễ trong cuộc sống của bản thân và xã hội. Matsushita Kônosuke, nhân vật được người Nhật Bản xem là bậc thánh của kinh doanh,  giải thích lễ như sau:

https://diendankhaiphong.org/y-nghia-coi-nguon-cua-le-la-gi/

https://diendankhaiphong.org/le-va-tu-than/



Ghi chú

  1.  Thí dụ trong Lời Tựa của sách Đại Học Chương Cú, Chu Hy viết:

大學之書、古之大學、所以敎人之法也。蓋自天降生民、則莫不與之以仁義禮智之性矣。然其氣質之稟、或不能齊。是以不能皆有以知其性之所有、而全之也。一有聰明睿智、能盡其性者、出於其閒、則天必命之以爲億兆之君師、使之治而敎之、以復其性。此伏羲・神農・黃帝・堯・舜所以繼天立極、而司徒之職、典樂之官所由設也。

Đại Học chi thư, cổ chi đại học, sở dĩ giáo nhân chi pháp dã. Cái tự thiên giáng sinh dân, tắc ký mạc bất dự chi dĩ nhân nghĩa lễ trí chi tính hỹ. Nhiên kỳ khí chất chi bẩm, hoặc bất năng tề. Thị dĩ bất năng giai hữu dĩ tri kỳ tính chi sở hữu, nhi toàn chi dã. Nhất hữu thông minh duệ trí, năng tận kỳ tính giả, xuất ư kỳ văn, tắc thiên tất mệnh chi dĩ vi ức triệu chi quân sư, sử chi trị nhi giáo chi, dĩ phục kỳ tính. Thử Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn sở dĩ kế thiên lập cực, nhi tư đồ chi giáo, điển nhạc chi quan sở do thiết dã.

Tạm dịch

Sách Đại Học là sách thuật lại cách giáo dục con người ở cổ đại (có lẽ ý nói trong 3 thời đại nhà Hạ, nhà Ân và nhà Chu. Thời đại mà các Nho gia xem là thời hoàng kim của họ) trong trường đại học. Tôi nghĩ rằng khi trời sinh ra con người, trời đã bẩm sinh cho mọi người bản tính (tính) có nhân, nghĩa, lễ, trí. Tuy nhiên, đồng thời trời cũng bẩm sinh cho mọi người khí chất (khí chất) nhưng khí chất này của mọi người không giống như nhau. Do đó, không phải tất cả mọi người đều có thể biết được và phát huy được hết toàn thể bản tính thiện tốt mà trời đã bẩm sinh cho (do sự cản trở của khí chất). Một khi có người được trời bẩm sinh cho thông minh duệ trí xuất hiện trong xã hội con người tức là trời đã sai người đó làm vua làm thầy để quản trị và dạy cho mọi người trở lại với bản tính có nhân, nghĩa, lễ, trí. Các vị vua Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn đã theo mệnh trời lập ra cực (tiêu chuẩn của phép làm người) và đặt ra các chức quan Tư Đồ (phụ trách lễ) và Điển Nhạc (phụ trách nhạc). 


Ghi chú

Không hiểu tại sao trong các sách dịch tiếng Việt của Đại Học Chương Cú không thấy phần Lời Tựa này! Trên chỉ là phần đầu của Lời Tựa. Chúng ta có thể thấy nội dung giải thích về đạo Khổng rất trừu tượng và khó hiểu! Trong khi nội dung truyền dạy của Khổng tử cho các đệ tử không trừu tượng khó hiểu.


(2) Chi tiết xin đón xem mục Cực trong tác phẩm Biện Danh của Sorai (người dịch sẽ giới thiệu sau). Đặc biệt ông trích dẫn các chứng cứ trong kinh Thi, Đại Học, Chu Lễ, thiên Hồng Phạm của kinh Thư, thiên Tế Nghĩa của Lễ Ký cho thấy ý nghĩa của cựctrung, là mẫu mực, tiêu chuẩn.


(3) Trong Ngụy Khổng An Quốc Truyện (ngày nay được xem là sách giả tạo nên viết “Ngụy” ở tựa sách) chú giải câu “Kiến dụng hoàng cực建用皇極”, Khổng An Quốc chú giải “Cực, trung dã極、中也 (Cực trung)

Khi chú giải câu “Duy vương kiến quốc...dĩ vi dân cực 惟王建国...以為民極, Trịnh Huyền viết “Cực, trung dã極、中也。(Cực trung)


  1.  Trong thiên Trọng Ni Yến Cư của sách Lễ Ký viết:

Tử viết “Lễ hồ lễ! Phu lễ sở dĩ chế trung dã”.

子曰:「禮乎禮!夫禮所以製中也。」

Tạm dịch

Khổng tử nói: “Là lễ đó sao, đúng là lễ rồi! Chính lễ định ra trung (không vượt quá và cũng không thiếu), là vật dừng lại ở chỗ thích đáng của hành động, việc làm”.


(5)  Khi chú giải câu “Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã中也者,天下之大本也 (Trung là căn bản lớn của thiên hạ) trong chương 1 sách Trung Dung, Trịnh Huyền viết:

中為大本者,以其含喜怒哀樂,禮之所由生,政教自此出也。

Trung dĩ đại bản giả, dĩ kỳ hàm hỹ nộ ai lạc, lễ chi sở do sinh, chính giáo thử xuất dã.

Tạm dịch

Trung là căn bản quan trọng của thiên hạ, là mức độ mà con người nên có khi vui vẻ, giận dỗi, đau buồn, sung sướng; lễ được đặt ra để có được trạng thái này (tức trạng thái của trung), chính trịgiáo dục cũng xuất phát từ căn bản này.


  1. Trong thiên Đàn Cung thượng của sách Lễ Ký viết:

子思曰:「先王之制禮也,過之者俯而就之,不至焉者跂而及之。」

Tử Tư viết: “Tiên vương chi chế lễ dã, quá chi giả phủ nhi tựu chi, bất chí yên giả kì nhi cập chi.”

Tạm dịch

Tử Tư nói: “Các tiên vương đặt ra lễ, tất cả mọi thứ lễ đều theo nguyên tắc là người quá cao cúi thấp xuống, người quá thấp thì nhón chân lên cao để thực hiện được.”

Đó là lời của Tử Tư (học trò của Tăng tử) đáp lại lời của Tăng tử khi Tăng tử nói về việc để tang cha ông.


Nguyên văn

後儒多強学者。以高妙精微凡人所不能為者。而曰聖人以是立極也。妄矣哉。先王立極。謂礼也。漢儒訓極為中。礼者所以教中也。又解中庸書而謂子思礼意矣。其雖未当。要之去古未遠。師弟所伝授。古義猶存者爾。蓋先王制礼。賢者俯而就之。不肖者企而及之。是所謂極也。是凡人所能為者也。不爾。務以凡人所不能為者強之。是使天下之人望於善也。豈先王安天下之道哉。故所謂事理当然之極。及化気質。学為聖人類。皆非先王孔子之教之旧矣。近世伊氏能知其非是。而酒以孝弟仁義謂為規矩準繩。果若是乎。則人人自以其意為孝弟仁義也。亦何所準哉。可謂無寸之尺。無星之称已。


Âm Hán Việt của nguyên văn

Hậu Nho đa cưỡng học giả. Dĩ cao diệu tinh vi phàm nhân sở bất năng vi giả. Nhi viết thánh nhân dĩ thị lập cực dã. Vong hỹ tai. Tiên vương lập cực. Vị lễ dã. Hán Nho huấn cực vi trung. Lễ giả sở dĩ giáo trung dã. Hựu giải Trung dung thư nhi vị Tử Tư thuyết lễ ý hỹ. Kỳ thuyết tuy vị đương. Yếu chi khứ cổ vị viễn. Sư đệ sở truyền thụ. Cổ nghĩa do tồn giả nhĩ. Cái tiên vương chế lễ. Hiền giả phủ nhi tựu chi. Bất tiêu giả xí nhi cập chi. Thị sở vị cực dã. Thị phàm nhân sở năng vi giả dã. Bất nhĩ. Vụ dĩ phàm nhân sở bất năng vi giả cường chi. Thị sử thiên hạ chi nhân tuyệt vọng ư thiện dã. Khởi tiên vương an thiên hạ chi đạo tai. Cố sở vị sự lý đương nhiên chi cực. Cấp biến hóa khí chất. Học vi thánh nhân loại. Giai phi tiên vương Khổng tử chi giáo cựu hỹ. Cận thế Y thị năng tri kỳ phi thị. Nhi tù (逎・逎) dĩ hiếu đễ nhân nghĩa vị quy cụ chuẩn thằng. Quả nhược thị hồ. Tắc nhân nhân tự dĩ kỳ ý vi hiếu đễ nhân nghĩa dã. Diệc khả sở chuẩn tai. Khả vị vô thốn chi xích. Vô tinh xứng dĩ.


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten. 


  3. MỜI XEM :


7 thg 7, 2026

XUẤT XỨ CỦA CÂU “QUÂN SỬ THẦN TỬ, THẦN BẤT TỬ BẤT TRUNG”


 XUẤT XỨ CỦA CÂU “QUÂN SỬ THẦN TỬ, THẦN BẤT TỬ BẤT TRUNG”


Nguyễn Sơn Hùng

***

Lời mở đầu

Có người lấy câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” để đánh giá đạo Khổng là hủ lậu. Trong quá trình tìm hiểu người Nhật Bản lý giải đạo Khổng như thế nào, người viết chưa bao giờ thấy các học giả Nhật Bản đề cập đến câu này. Mặc dù chưa nắm bắt hết nội dung của các sách như Luận Ngữ, Hiếu Kinh, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử nhưng chính người viết cũng chưa bao giờ gặp. Không chính xác lắm, nhớ lúc trước có lần người viết tra xuất xứ câu này trên Internet nhưng chưa gặp được tài liệu nào cho biết. Tuy nhiên đã tìm ra xuất xứ của câu: “Trung thần bất sự nhị quân” không phải là câu nói của Khổng Mạnh và đã viết bài “Động cơ gì đã thúc đẩy tôi tìm hiểu nội dung lý giải của Khổng Mạnh học của Nhật Bản (1).

Mấy hôm nay nhân dịp tìm hiểu nội dung của Tuân tử phê phán Tử Tư và Mạnh tử, người viết nhớ lại việc trên và đã tra lại trên Internet. Lần này khác với lần trước, có thông tin bằng tiếng Trung quốc cho biết xuất xứ của câu trên nên muốn giới thiệu ngay đến quý độc giả. Lần này cũng như lần trước, không có thông tin bằng tiếng Nhật nào về câu nói này, cho thấy sự khác biệt to lớn về nội dung lý giải đạo Khổng giữa Trung quốc (cũng như Việt Nam) và Nhật Bản, một điều đáng để suy ngẫm.


1.Xuất xứ theo Internet tiếng Trung quốc 

Trang web của baike.baidu.com cho biết trong 3 tiểu thuyết sau có trích dẫn câu nói lên ý nghĩa “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung(2):

  1.  Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân (đời Minh)

  2.  Phong Thần Diễn Nghĩa (đời Minh) (không biết chính xác ai là tác giả, trong Wikisource ghi là Trần Trọng Lâm陳仲琳. Sách dịch tiếng Việt đề Hứa Trọng Lâm.

  3.  Tùy Đường Diễn Nghĩa của Chử Nhân Hoạch褚人穫 (đời Thanh).

Hai tác phẩm đầu có thể nói là được nhiều người bình dân của Trung quốc và Việt Nam biết đến, ngay người viết cũng có đọc qua Phong Thần Diễn Nghĩa và nghe kể sơ về Tây Du Ký. 


  1. Tây Du Ký

Wikisource có giới thiệu nguyên văn tiếng Trung quốc của Tây Du Ký, theo hướng dẫn của baike.baidu.com, người viết đã xác nhận trong Hồi thứ 78, trong câu nói của Bát Giới nói với Đường tăng Tam Tạng như sau, khi Đường tăng buồn rầu thương xót chủ thành Tiểu Tử (trước tên thành là Tỳ Khưu) nghe lời đạo sĩ ăn thịt trẻ em để được trường sanh:

常言道:『君教臣死,臣不死不忠;父教子亡,子不亡不孝。』 (3)

   Thường ngôn đạo: “Quân giáo thần tử, thần bất tử bất trung; phụ giáo tử vong, tử bất vong bất hiếu”.

Tạm dịch như sau: Tục ngữ nói: “ Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung; cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu”. 

Nên lưu ý, “thường ngôn” là lời của người đời thường nói, nói ngắn gọn là “tục ngữ”; “đạo” nghĩa là “nói” chứ không có nghĩa của “đạo” của từ “đạo đức”.

Một điều đáng ngạc nhiên là trong bản dịch tiếng Việt của Tây Du Ký (4), người viết thấy trên Internet, không có dịch câu trên. Ngoài ra, nguyên văn tiếng Trung quốc của Tây Du Ký có trích dẫn của kinh Thi như không được biên dịch.

Bát Giới là nhân vật như thế nào chắc quý vị độc giả đều biết rõ không cần nói thêm ở đây.


  1. Phong Thần Diễn Nghĩa

Trong Hồi 22 Phong Thần Diễn Nghĩa của Wikisource viết như sau trong lời nói của Văn vương:

所以『君叫臣死,不敢不死;父叫子亡,不敢不亡。』(5)

Sở dĩ “Quân khiếu thần tử, bất cảm bất tử; phụ khiếu tử vong, bất cảm bất vong”.

Tạm dịch như sau: Lý do: “Vua kêu bề tôi chết, (bề tôi) không dám không chết; cha kêu con chết, (con) không dám không chết.”

Giống như bản dịch tiếng Việt của Tây Du Ký, trong bản dịch tiếng Việt của Phong Thần Diễn Nghĩa (6) cũng không ghi rõ câu này chỉ phóng dịch ý.


  1. Tùy Đường Diễn Nghĩa

Trong Hồi 94 Tùy Đường Diễn Nghĩa của Wikisource viết như sau trong lời nói của Nghiêm Trang nói với Khánh Tự:

俗諺云:君要臣死,不得不死;父要子亡,不得不亡。(7)

Tục ngạn vân: Quân yêu thần tử, bất đắc bất tử; phụ yêu tử vong, bất đắc bất vong.

Tạm dịch như sau: Ngạn ngữ nói “Vua muốn/cầu bề tôi chết, (bề tôi) không được không chết; cha muốn/cầu con chết, (con) không được không chết.

Nên lưu ý “ngạn” có 2 nghĩa: 1) Tục ngữ, cách ngôn, 2) Thô tục.

Khác với 2 bản dịch tiếng Việt của 2 tiểu thuyết đã nói trên, bản dịch tiếng Việt của Tùy Đường Diễn Nghĩa (8) dịch câu trên như sau:

“Ngạn ngữ có câu: “Vua bảo bầy tôi chết, không thể không chết, cha bảo con chết, không thể không chết.”

Tóm lại, trong 3 tiểu thuyết trên cách dùng chữ có khác một ít nhưng đại ý gần giống như nhau.


2. Xuất xứ theo Internet tiếng Việt

Sau khi tra cứu trên Internet tiếng Nhật ngày 15/12/2025 người viết tra cứu thêm trên Internet tiếng Việt, xin giới thiệu tóm lược dưới đây bởi vì không có trình bày xuất xứ tư liệu cụ thể! Tuy nhiên, người viết ngạc nhiên và vui mừng vì có nhiều học giả Việt Nam cũng biết câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” không phải là của Khổng tử.

Nội dung trả lời cho câu hỏi của 1 độc giả trên báo Sài Gòn Online ngày 13/9/2025 của Phó giáo sư- Tiến sĩ Lê Trung Hoa trên báo như sau (9):

Trong tác phẩm Cơ cấu Việt Nho (Sài Gòn, 1973), Kim Định cho rằng câu này là của thái tử Phù Tô, con trưởng của Tần Thủy Hoàng. Còn Nguyễn Đăng Thục trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I (NXB TPHCM, 1998, tr.678) cho rằng của Tống Nho. Tuy nhiên, cả hai tác giả đều không nêu ra tư liệu xuất xứ nào. Do đó, cả hai ý kiến đều chưa được chấp nhận.

Tài liệu lịch sử Trung quốc thời xưa thì có lẽ sách Sử Ký của Tư Mã Thiên là đáng tin cậy nhất nên người viết đã tra nguyên văn của Sử Ký qua Wikisource thì thấy trong thiên thứ 27 Lý Kỳ Liệt Truyện của sách có câu nói như sau của Phù Tô trả lời cho tướng Mông Điềm khi ông này can Phù Tô chớ vội tin thư của Tần Thủy Hoàng được đem đến từ triều đình là thư thật của vua. Thư này bảo Phù Tô là bất hiếu và Mông Điềm là bất trung vì đã hơn 10 năm mà chưa hoàn thành được nhiệm vụ mà ông đã giao phó nên phải tự xử. Sau khi nghe lời can gián của Mông Điềm, Phù Tô nói:

父而賜子死,尚安復請!” (Phụ nhi tứ tử, thượng an phục thỉnh!(10)

Tạm dịch “ Người cha đã ban cái chết cho con mình thì còn gì có thể thỉnh nguyện thu hồi lại được!” (Ý của Phù Tô có thể hiểu như sau: Bảo con chết là việc xấu nhất của một người cha đối với con. Thế mà người cha đã quyết định như vậy rồi thì làm sao người cha đó có thể đổi ý được!)

Không hiểu tại sao trong sách dịch tiếng Việt của dịch giả Phạm Hồng (ghi ở bìa sách, nhưng bên trong lại ghi Nhữ Thành (Phan Ngọc)!) không có dịch đoạn này!


Như vậy có thể thấy ông Kim Định giải thích rộng thêm câu nói của Phù Tô hoặc ông căn cứ vào tiểu thuyết hay sách giả sử nào khác.

Trên Internet người viết cũng thấy trong Hồi 9 của sách Tần Triều Dã Sử秦朝野史 của黄士衡 (1889~1978) viết câu của Phù Tô nói với Mông Điềm như sau:

父命子死,不得不死,何用再請?” (Phụ mệnh tử tử, bất đắc bất tử, hà dụng tái thỉnh?

Còn giả thuyết hoặc suy đoán của ông Nguyễn Đăng Thục thì có thể đúng nhưng theo tìm hiểu Nho giáo ở Nhật Bản từ trước đến nay thì chưa bao giờ gặp. Trong buổi trò chuyện qua Zoom mỗi chủ nhật với 7 người bạn Nhật Bản vong niên, họ cũng đã cho biết chưa từng nghe câu ““Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung”.

Qua sách Sử Ký, điều ngạc nhiên của người viết trong khi Tần Thủy Hoàng bị người đời đánh giá là bạo chúa nhưng Phù Tô (con trưởng) là nhân hậu. 

Trong thiên 27 nói trên trước câu trích dẫn câu nói trên của Phù Tô, ông Tư Mã Thiên viết : “扶蘇為人仁” (Phù Tô vi nhân nhân). Tạm dịch: Phù Tô là người nhân hậu.

Trong thiên 6 Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ có ghi câu sau:

始皇長子扶蘇諫曰:「天下初定,遠方黔首未集,諸生皆誦法孔子,今上皆重法繩之,臣恐天下不安。唯上察之。」

Thủy Hoàng trưởng tử Phù Tô gián viết: “Thiên hạ sơ định, viễn phương kiềm thủ vị tập, chư sinh giai tụng pháp Khổng tử, kim thượng giai trọng pháp thằng chi, thần khủng thiên hạ bất an. Duy thượng sát chi.”

Tạm dịch: Con trưởng của Tần Thủy Hoàng tên Phù Tô can gián: “Thiên hạ mới được ổn định, dân chúng ở địa phương xa còn chưa quy thuận, các học giả còn ngưỡng mộ lời dạy của Khổng tử (tức nhân trị). Nếu bây giờ thượng hoàng tất cả đều lấy luật pháp trên hết (tức pháp trị) thần e rằng thiên hạ sẽ không ổn định, mong thượng hoàng suy xét lại.”

Nên lưu ý trong phiên bản dịch tiếng Việt của Sử Ký Tư Mã Thiên 


3. Quan niệm của Khổng Mạnh về quan hệ quân thần

Về quan hệ giữa vua và các quan lại của đạo Khổng sẽ viết chi tiết vào dịp khác ở đây chỉ giới thiệu sơ lược quan điểm của Khổng tử trong sách Luận Ngữ và của Mạnh tử trong sách Mạnh Tử.

Trong chương 19 của thiên 3 Bát Dật, khi Định công hỏi Khổng tử “Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà?” (Nguyễn Hiến Lê dịch: Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua, phải như thế nào?). Khổng tử đáp: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung.” (Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi thờ vua phải trung (hết lòng).”

Người viết nhận thấy cụ Lê giải thích “trung” là “hết lòng” đúng theo cách hiểu của các học giả Nhật Bản. Nghĩa là “trung” không phải “vua bảo chết là phải chết”. Tuy nhiên, “sự” nên dịch là “phục vụ”, dịch “thờ” là hơi quá!

Trong chương 3 của thiên 8 Ly Lâu hạ, Mạnh tử nói với Tề Tuyên vương như sau:

Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù.

 Tạm dịch như sau: “Vua mà xem bề tôi như tay chân thì bề tôi xem vua như tâm phúc (quan trọng như tim và bụng của mình). Vua mà xem bề tôi như chó ngựa thì bề tôi xem vua như người thường dân trong nước. Vua mà xem bề tôi như bùn rác thì bề tôi xem vua như cừu địch.”


3. Tình hình dịch sang tiếng Nhật của 3 tiểu thuyết trên

Viết đến đoạn trên, người viết chợt nghĩ: không biết các tiểu thuyết trên có được dịch sang tiếng Nhật không? Biết đâu đây là lý do câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trungkhông hoặc ít được biết ở Nhật Bản chăng?

Tra trên Internet qua Wikipedia tiếng Nhật của 3 tiểu thuyết trên, kết quả cho thấy như sau:

  • Tây Du Ký được dịch và xuất bản vào năm 1960 trong Trung Quốc Cổ Điển Văn Học Toàn Tập 13 &14, nhà xuất bản Heibonsha do太田辰夫 鳥居久靖dịch.

  • Phong Thần Diễn Nghĩa do安能務 dịch và Kodanshabunko xuất bản vào năm 1988~1989 (3 quyển).

  • Tùy Đường Diễn Nghĩa: không thấy giới thiệu sách dịch trong Wikipedia.

Như vậy các kinh sách cổ điển của Trung quốc được nhiều học giả Nhật Bản quan tâm, nghiên cứu, chú giải hoặc dịch sang tiếng Nhật nhưng loại tiểu thuyết như 3 tác phẩm trên đã không được quan tâm. Gần đây các phim ảnh hoặc truyện tranh phóng tác của 3 tiểu thuyết trên lại lại có nhiều. Đây là triệu chứng tốt hay xấu của Nhật Bản?


Nhận xét

  1. Ở Nhật Bản sách chú giải hoặc dịch thuật các kinh điển về Nho giáo của các học giả, nhà nghiên cứu rất nhiều trong khi sách dịch các tiểu thuyết liên quan hầu như không có. Khuynh hướng này hoàn toàn khác ở Việt Nam, tiểu thuyết dịch thì được phổ biến rộng rãi rất sớm trong khi sách dịch ở mặt học thuật thì rất giới hạn, chỉ đếm trên đầu ngón tay!

  2. Khuynh hướng nói trên có phải là nguyên chính yếu gây ra sự hiểu lầm về Nho giáo, đặc biệt trong đó là đạo Khổng, và đã gây ra kết quả khác trong xã hội so với ở Nhật Bản.

  3. Người viết lấy làm lạ tại sao trong 2 sách dịch tiếng Việt của Tây Du Ký và Phong Thần Diễn Nghĩa không có ghi Hán văn câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung” ngay cả nội dung cũng không được dịch sang tiếng Việt (không biết có phiên bản nào khác không?) nhưng câu Hán văn này được nhiều người biết đến và thuộc lòng?! Phải chăng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đã đọc nguyên văn và truyền dạy cho các học trò và từ đó truyền bá rộng trong xã hội.

  4. Người viết cảm thấy ảnh hưởng của tiểu thuyết rất đáng sợ! 

  5. Cách dùng chữ của 3 tiểu thuyết trên đều khác nhau: giáo, khiếu, yêu sử trong tiếng Việt một phần nào minh chứng rằng xuất xứ của câu này không phải của Khổng tử. Vì như chúng ta đã biết, khi các đệ tử của phu tử ghi chép lại lời nói của ông, không dám tự ý sửa. Vã lại trong 3 tiểu thuyết nói trên cũng có ghi lại là “ngôn thường” hoặc “tục ngạn” nói.


Nguyễn Sơn Hùng

Ngày 13/12/2025


Ghi chú

  1.  Nguyễn Sơn Hùng: ĐỘNG CƠ GÌ ĐÃ THÚC ĐẨY TÔI TÌM HIỂU NỘI DUNG LÝ GIẢI KHỔNG MẠNH HỌC CỦA NHẬT BẢN?

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Dong-Co-V2-12272023.htm


  1. 君教臣死,臣不死不忠;父教子亡,子不亡不孝

https://baike.baidu.com/item/%E5%90%9B%E6%95%99%E8%87%A3%E6%AD%BB%EF%BC%8C%E8%87%A3%E4%B8%8D%E6%AD%BB%E4%B8%8D%E5%BF%A0%EF%BC%9B%E7%88%B6%E6%95%99%E5%AD%90%E4%BA%A1%EF%BC%8C%E5%AD%90%E4%B8%8D%E4%BA%A1%E4%B8%8D%E5%AD%9D/23108811

君叫臣死,不敢不死;父叫子亡,不敢不亡

https://baike.baidu.com/item/%E5%90%9B%E5%8F%AB%E8%87%A3%E6%AD%BB%EF%BC%8C%E4%B8%8D%E6%95%A2%E4%B8%8D%E6%AD%BB%EF%BC%9B%E7%88%B6%E5%8F%AB%E5%AD%90%E4%BA%A1%EF%BC%8C%E4%B8%8D%E6%95%A2%E4%B8%8D%E4%BA%A1/22940082


  1. 呉承恩:西遊記 (Wikisource tiếng Trung quốc)

https://zh.wikisource.org/wiki/%E8%A5%BF%E9%81%8A%E8%A8%98

Hồi thứ 78

https://zh.wikisource.org/wiki/%E8%A5%BF%E9%81%8A%E8%A8%98/%E7%AC%AC078%E5%9B%9E


  1. Bản dịch tiếng Việt của Tây Du Ký

https://www.sachhayonline.com/tua-sach/tay-du-ky

Hồi thứ 78

https://www.sachhayonline.com/tua-sach/tay-du-ky/hoi-78/2172


  1. 陳仲琳: 封神演義 (Wikisource tiếng Trung quốc)

https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%B0%81%E7%A5%9E%E6%BC%94%E7%BE%A9#%E7%9B%AE%E9%8C%84

Hồi thứ 22

https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%B0%81%E7%A5%9E%E6%BC%94%E7%BE%A9/%E5%8D%B7022


  1. Bản dịch tiếng Việt của Phong Thần Diễn Nghĩa

https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%B0%81%E7%A5%9E%E6%BC%94%E7%BE%A9#%E7%9B%AE%E9%8C%84

Hồi thứ 22

https://zh.wikisource.org/wiki/%E5%B0%81%E7%A5%9E%E6%BC%94%E7%BE%A9/%E5%8D%B7022


  1.  褚人穫: 隋唐演義 (Wikisource tiếng Trung quốc)

https://zh.wikisource.org/wiki/%E9%9A%8B%E5%94%90%E6%BC%94%E7%BE%A9#%E7%9B%AE%E9%8C%84

Hồi thứ 94

https://zh.wikisource.org/wiki/%E9%9A%8B%E5%94%90%E6%BC%94%E7%BE%A9/094


  1. Bản dịch tiếng Việt của Tùy Đường Diễn Nghĩa

http://vietnamthuquan.eu/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn1nnnqnmn31n343tq83a3q3m3237nvn


(9) Lê Trung Hoa (2005): Câu “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu” là của ai?

https://www.sggp.org.vn/cau-quan-su-than-tu-than-bat-tu-bat-trung-phu-su-tu-vong-tu-bat-vong-bat-hieu-la-cua-ai-post129853.html


(10) 司馬遷 (TCN Thế kỷ 91):史記 (Wikisource tiếng Trung quốc)

https://ja.wikisource.org/wiki/%E5%8F%B2%E8%A8%98