26 thg 5, 2026

BIỆN ĐẠO (BÀI 1)- Diển Đàn Khai Phóng

 


NGUYÊN NHÂN ĐẠO KHỔNG TRỞ NÊN NHỎ HẸP VÀ

BỊ HIỂU SAI

Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

***

Lời mở đầu

Tác phẩm chính yếu của Ogyu Sorai về đạo tiên vương tức đạo thánh nhân hay đạo Khổng gồm có 1) Học Tắc, 2) Biện Đạo, 3) Biện Danh, 4) Luận Ngữ Trưng.

Học Tắc có thể hiểu là các nguyên tắc hoặc quy tắccăn bản để học đạo tiên vương. Gồm có 7 bài.

Biện Đạo có thể hiểu là cần phải phân biệt cho rõ thế nào mới là đúng đạo tiên vương dùng để an dân, nghĩa là làm thế nào để quản trị xã hội con người sống được hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng.

Tại sao vậy? Bởi vì các Nho gia đời sau ngay cả Tử Tư Mạnh tử vì tranh cãi với các học phái khác như Đạo giáo của Lão tử, học thuyết kiêm ái của Mặc tử…nên đã làm cho người học đời sau hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ trọn vẹn nội dung của đạo tiên vương. Thêm vào đó, Tống Nhovì không hiểu ngôn ngữ cổ đạiý nghĩa khácnhiều với ngôn ngữ đương thời nên họ dùng ngôn ngữ đương thời mà giải thích đạo tiên vương theo ý riêng của họ.Ngoài ra, đương thời Đạo giáoPhật giáo được xã hội yêu chuộng hơn, nên Tống Nho cũng có khuynh hướng giải thích đạo Khổng theo lý luận của 2 phái này.Biện Đạo gồm có 25 bài.

Do ý nghĩa ngôn từ của cổ đại khác với đời sau nên cần phải hiểu ý nghĩa chính xác các tên gọi, ngôn từ trong các kinh sách cổ điển được truyền lại như đạo, đức, nhân, trí, thánh,lễ, nghĩa, hiếu đễ, trung tín, thành, cung kính, dũng, tính tình, vật, quân tử tiểu nhân…mới có thể đúng nội dung của đạo tiên vương (đạo Khổng).Biện danh là tác phẩm Sorai giải thích ý nghĩa cổ đại của các từ vựng trọng yếu nói trên.

Như chúng ta đã biết sách Luận Ngữ là sách ghi lại các lời của Khổng tử về đạo tiên vương.Bởi vì ông ngưỡng mộ đạo tiên vương và không muốn thất truyền nên ông truyền lại cho các đệ tử của ông để họ áp dụng giúp ích xã hội và truyền đạt cho đời sau. Chính ông cũng đã nói ông chỉ truyền ylại nội dung của các tiên vương để lại chứ không phải ông tự đặt ra(1).

Trưng徴có nghĩa chứng cớ. Sorai soạn Luận Ngữ Trưng để giải thích ý nghĩa của Khổng tử muốn truyền đạt trong sách Luận Ngữ bằng các dẫn chứng các ý nghĩa đã được truyền giảng trong lục kinh (kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ, kinh Nhạc, kinh Dịch, kinh Xuân Thu) mà Khổng tử đã thu thập biên soạn.

Người dịch đã giới thiệu tác phẩm Học Tắc gồm có 7 bài.Kế tiếp sẽ cố dịch tác phẩm Biện Đạo và Luận Ngữ Trưng. Biện Danh có rất nhiều từ vựng nên sẽ chọn những từ quan trọng biên dịch trước để giới thiệu.

Bài 1 này là 1 trong những bài trọng yếu của 25 bài của Biện Đạo cho chúng ta biết nguyên nhân đã gây ra sự suy yếu của đạo Khổng do chính người trong môn phái tạo ra, không kể đến nguyên nhân bên ngoài là sự phát triển mạnh mẽ của các môn phái khác như đạo Lão và đạo Phật.

Các cụ như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thông cũng như nhiều nhà trí thức Việt Nam khác thường chỉ trích Tống Nho là không thực dụng, từ chương v.v…nhưng hình như chưa ai đưa ra khuyết điểm cụ thể và phân tích nội dung cụ thể như Sorai. Người dịch mong rằng loạt bài Biện Đạo này giúp cho quý độc giả có thấy nội dung cụ thể của phương diện này. Biết để sửa sai những điều mà chúng ta đã học được, và đã thành thói quen với mục đích để tiến bộ và phát triển hơn là niềm mong ước của người biên dịch.

BÀI 1

Đạokhó hiểu, lại khó giải thích cho người khác hiểu bởi vì đạo rất rộng lớn mênh mông. Nội dung hiểu biết (sở kiến) đạo của các Nho gia đời sau đều chỉ là một phần của đạo mà thôi.

Sai lầm của Tử Tư

Đạo nói ở đây là đạo của các tiên vương (các thánh vương cổ đại). Thời đại trôi qua cho đến đời của Tử Tư (2) Mạnh tử(3) phái Nho họcđược hình thành và bắt đầu cạnh tranh xung đột với các học phái khác (bách gia). Việc làm này có thể nói là tự mình làm bản thân mình và đạo của mình theo trở nên nhỏ hẹp lại.

Thí dụ Tử Tư viết ra sách Trung Dung là để đề kháng lại với Lão tử (nguyên văn Lão thị). Bởi vì Lão tử cho rằng đạo thánh nhân (tức đạo Khổng) là ngụytạo (giả tạo không có thật, là do con người tự đặt ra, không phải có một cách tự nhiên). Do đó, trong sách Trung Dung中庸, Tử Tư viết đạo Khổng (đạo thánh nhân) là tuân theo bản tính bẩm sinh của con người để cho thấy rõ đạo của ông tức đạo Khổng (đạo Nho) không phải là ngụy tạo (phi ngụy). Cách giải thích này đưa đến điểm cuối của đạo là thành誠 (thành thật, không giả dối). Tuy nhiên, trung dungtên gọi của đức hạnh(德行之名). Do đó, trong sách Trung Dung cũng viết “chọn(trạch擇) trung dung(4).

Tử Tư đã mượn trung dung để làm rõ đạo Khổng và chê học thuyết của Lão tử khôngtrung dung. Từ việc làm này của Tử Tư làm cho đời sau hiểu sai và lấytrung dunglàm đạo (thật ra như Sorai đã nói, trung dung chỉ là đức hạnh chứ không phải là đạo. Lấy trung dung làm đạo làm cho đạo trở nên rất hạn hẹp, nhỏ lại. Hiểu đúng thế nào là đạo, thế nào là đức rất quan trọng! Do dó ý nghĩa của từ vựng đặc biệt tên gọi rất quan trọng, sai 1 ly đi xa 1 dặm là như vậy.)

Ở cổ đại (thời xa xưa) người ta gọi tác giả作者 (người làm ra vật mới mà trước đó chưa có) là thánh聖, và Khổng tử không phải là thánh. Do đó, Tử Tư mới lấy chí thành至誠 làm đức của thánh nhân, và lại đặt ra thuyết tam trọng三重(3 điều trọng yếu)(5). Việc này rõ ràng cho thấy chủ ý của Tử Tư là để biện minh cho việc các học phái khác cười nhạo cho rằng Khổng tử không phải là thánh nhân, là không đúng. Tuy nhiên, thành chỉ là 1 trong nhiều thứ đức của thánh nhân để diễn tả hết tất cả nội dung đạocủa thánh nhân thì làm sao có thể đầy đủ trọn vẹn được!

Sai lầm của Mạnh tử

Đến học thuyết của Mạnh tử chủ trương bản tính con người vốn thiện lại là cùng 1 phái của Tử Tư. Việc Cáo tử lấy cây kỷ liễu làm ví dụ để diễn tả bản tính con người là 1 ví dụ hoàn toàn đúng. Mạnh tử biện luận phá bỏ chủ trương của Cáo tử là việc sai lầm.

Tôi nghĩ rằng bản ý của Tử Tư muốn nói làthánh nhâncăn cứtheobản tínhcủa con người mà đặt ra đạo. Điều này không có nghĩa là, nếu mỗi người hành động theo bản tính của mình thìtự nhiên là phù hợp với đạo.

Tương tự như vậy, bởi vì các loại cây khác không có đặc tính bị uốn cong mà không gãynên cây kỷ liễu có đặc tính thích hợp dùng để uốn cong làm đồ vật để chứa đựng nhưng không thể vì vậy mà cho rằng uốn cong làm đồ vật chứa đựng là hình dạngtự nhiên phải nên có của cây kỷ liễu.

Lý do mà Mạnh tử lấy lòng trắc ẩn(lòngkhông nỡ bỏ người lâm nạn mà không cứu giúp) vàlòng biết xấu hổlàm trọng yếu hơn lên là do muốn chứng minh rằng nhân nghĩa tất cả đều do bản tính của con người. Tuy nhiên, thật sự mà nói nếu chỉ lấy lòng trắc ẩn thì không thể giải thích rõ ràng hết được đức nhân仁, và cũng có trường hợp biết xấu hổ chưa hẳn là việc nghĩa. Một khi đặt ra 1 học thuyết hoặc 1 nội dung giải thích thiên lệch (sai lệch) thì một chút sai lầm nhỏ của 1 ly cuối cùng có thể đưa đến 1 cách biệt xa rộng của 1 dặm. Các học thuyết tâm học (6) của đời sau này xuất phát từ mầm mống này.

Sửa sai của Tuân tử

Tuân tử không chấp nhận thuyết tính thiện của Mạnh tử là điều đúng. Do đó, Tử Tư và Mạnh tử là người trong Khổng môn đã bảo vệ môn phái mình và chống lại việc chê xấu của các học phái khác. Tuân tử tu sửa những điểm giải thích sai lầm của Tử Tư và Mạnh tử, là người có công lao và trung thật của 2 ông (trung thần).

Tuy nhiên vào thời đại của các nhân vật này không cách quá xa với thời đại của Khổng tử (từ Khổng tử đến Tuân tử khoảng 250 năm) nên còn có dư âm của Khổng tử. Do đó, tên gọi thật chất của sự vật không có khác biệt hoặc cách xa lớn (ý nói ý nghĩa ở đời sau này của các ngôn từ chưa khác biệt nhiều với ý nghĩa ở cổ đại). 

 Đến khiHàn Dũ(768~ 824) của đời Đường (cách Khổng tử trên 1300 năm) xuất hiện thì có một sự biến đổi to lớn trong giới văn chương từ đó về sau(a). Những nhân vật như Trình Hạo, Trình Di(1033~1107) hoặc Chu tử(1130~1200) là những người xuất sắc hơn người (hào kiệt) nhưng họ không thông hiểu cổ văn từ (ngôn từ ở cổ đại), họ không thể đọclục kinh để hiểu nội dung, họ chỉ đọc và vui vẻ với những sách dễ đọc như sách Trung Dung, sách Mạnh Tử (b). Để rồi kết quả là họ lấy những lời tranh cãi với các học phái khác (của Tử Tư và của Mạnh tử) để làmnền tảng cơ sở chođạo thánh nhân! Ngoài ra, họ còn lấy ý nghĩa lúc đương thời của ngôn từ để đọc ngôn từ trong kinh sách cổ đại nêntên gọi nội dung thật sự của sự vật cách rời nhau đưa đến việc không thể hiểu được chân tướng của sự vật, họ chỉ hiểu theo cách giải thích lý thuyết, lập luận riêng của họ mà không liên quan gì đến nội dung của nguyên văn. Do lý do trên (nghĩa là với phương pháp học hoặc nghiên cứu như trên) không thể nào có thể hiểu biết lại được các quy phạm mà các tiên vương và Khổng tử đã truyền đạt lại.

Khuyết điểm của Itô Jinsai

Gần đây có họ Y (tức Y Đằng Nhân Trai (Itô Jinsai)), ông cũng là nhân vật xuất sắc hơn người (hào kiệt) hiểu thấu được phần nào đâu là trọng yếu của đạo. Tuy nhiên, ông lấy nội dung của sách Mạnh tử để giái thích nội dung của sách Luận Ngữ (nghĩa là các lời truyền đạt lại của Khổng tử) và ông cũng lại dùng ý nghĩa hiện tại của ngôn từ để đọc cổ văn. Do đó, học thuyết của ông cũng không khác với học thuyết của họ Trình và họ Chu bao nhiêu.Không những vậy, ông còn phân biệt đạo tiên vươngđạo Khổng làm 2 thứ khác nhau. Ông gạt bỏlục kinh qua 1 bên và chỉ đánh giá cao sách Luận Ngữ. Ông lại chưa thoát khỏi việc lấy ngôn ngữ Nhật để đọc ngôn ngữ Trung Hoa. Tôi đã đọc tác phẩm mà ông cho đó là cổ nghĩa (ý nói Luận Ngữ Cổ Nghĩa Ngữ Mạnh Cổ Nghĩa của Jinsai). (Hai tác phẩm đó) làm sao có thể gọi là cổđược,thật đáng tiếc, đáng thương làm sao!

Nguyên nhân đạo Khổng càng ngày càng trở nên nhỏ hẹp

Than ôi, theo dòng thời gian trôi qua,đạo tiên vươngtrở thànhhọcphái Nho gia, kế đến nào là phái Mạnh tử (chủ trương tính thiện),phái Tuân tử (chủ trương tính ác) rồi lại đến phái Chu tử (chủ trương tính),phái Lục Tượng Sơn (chủ trương tâm). Không ngừng lại ở đây, lại có thêm phái Itô Jinsai. Các Nho gia càng phân liệt ra nhiều phái thì tranh luận càng thêm nhiều lên, càng phân ra nhiều cành, nhiều lá thì nội dung của mỗi học phái càng nhỏ hẹp đi. Chẳng phải thật đáng đau buồn lắm sao?

Được ơn trời ban cho cơ hội gặp được cổ văn từ

Bản thân tôi may mắn được ơn trời linh diệu ban cho việc đọc được sách của Vương Thế Trinh王世貞(1526~1590, văn nhân và chính trị gia cuối đời Minh) và Lý Phàn Long(1514~1570, thi nhân đời Minh) nên biết được có cổ văn từ(ngôn ngữ cổ đại) trên đời này. Từ đó tôi bắt đầu đọc lục kinh, và sau nhiều năm tôi bắt đầu có được sự nhất trí giữa sự vật thực tếtên gọi của chúng viết bằng cổ văn từ và dần dần hiểu rõ được ý nghĩa của lục kinh(d) và có thể nói (luận bàn) về chúng.

Lục kinh là các tác phẩm viết về các sự vật cụ thểlàm nguồn gốc, căn nguyên của sự việc (lục kinh kỳ vật dã六経其物也: nghĩa đen: lục kínhvật cụ thể, ý nói không phảilý lẽhay lý luận mà là cử chỉ,hành động hoặc việc làm cụ thể).

Sách Lễ Ký, sách Luận Ngữ là các sách giải thích ý nghĩa của lục kinh. Giải thích ý nghĩa chắc chắn phải phụ thuộc vào sự vật (có lẽ nên dịch “giải thích ý nghĩa chắc chắn chỉ là phần phụ thuộc đi kèm theo sự vật hoặcnội dung cần phải thực hiện cụ thể mà thôi” mới nói lên hết ý của Sorai, vì ông đã đề cập đến ý này ở một nơi khác trong tác phẩm ông viết). Sau đó (có như vậy) đạo mới thành lập (ý nói đạo quy định các việc làm cụ thể chớ không phải chỉ là những giải thích hoặc lý lẽ suông. Khi nói về lễ, Sorai nói trước hết phải làm, thực tiễn rồi dần dần sau đó tự nhiên hiểu ra ý nghĩa của lễ).

Nguyên nhân khuyết điểm của các Nho gia từ đời Đường về sau

Nếu như bỏ quasự vật cụ thể mà chỉ lấy riêng nội dung giải thích ý nghĩa thì rất hiếm khi tránh được khuyết điểm tự mình giải thích hoặc lập ra học thuyết theo ý tưởng phóng đãngriêng của bản thân. Đó là khiếm khuyết của Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên (773-819, thi văn nhân, chính trị gia đời Đường), Trình tửChu tử và những Nho gia sau đó (c).

Viết Biện Đạo để thực hiện thiên mệnh

Tuổi tôi đã quá 50, nếu từ bây giờ không bắt đầu cố gắng thực hiện sứ mệnh trời giao phó để rồi nếu có chết đi thì làm sao có thể thực hiện được. Do đó, khi có thời giờ rảnh tôi viết ra thành quả nghiên cứu và nhận xét (luận論) của bản thân để đền đáp lại ơn huệ linh diệu của trời (đã cho tôi cơ hội biết có cổ văn từ trên đời). Trước hết tôi ghi lại nội dung trọng yếu thành vài chục bài để cho những người vào học xem.

Tóm tắt ý quan trọng

  • Lấytrung dung để minh chứng đạo Khổng không ngụy tạo của Tử Tư với mục đích phản biện lại chủ trương của Lão tử, đã làm nhỏ hẹp đạoKhổng lại và gây ra hiểu sai đạo cho người học đời sau bởi gì trung dung chỉ là một thứ đức hạnh của thánh nhân không thể nào diễn tả hết nội dung hoặc công dụng an dân của đạo Khổng, tức đạo của các tiên vương.
  • Mạnh tử đưa ra thuyết bản tính con người vốn tốtkhông đúng và đã gây cho người sau hiểu sai nội dung giải thích đạo thánh nhân tuân theo bản tính con người của Tử Tư.
  • Thuyết bản tính con người vốn xấucủa Tuân tử là tu sửa sai lầm của Tử Tư và Mạnh tử.
  • Kiến giải của Itô Jinsai về đạo Khổng có chỗ đúng hơn Chu tử nhưng không khác bao nhiêu. Giống như Tống Nho, Jinsai có khuyết điểm là không biết cổ văn từ (ngôn ngữ cổ đại) nên xem thường gạt bỏlục kinh (kinh Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu) mà xem trọng sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử. Trong khi chính lục kinhmới chứa đựng nội dung các việc cụ thể cần thực hiện của đạo tiên vương,và sách Luận Ngữ Mạnh Tử chỉ là sách giải thích ý nghĩa của đạo tiên vương.
  • Từ thời Tử Tư, Mạnh tử đạo Khổng trở thành học thuyết của Nho giáo và phân chia làm nhiều chi phái có chủ trương khác nhau như phái tính thiện của Mạnh tử, tính ác của Tuân tử, phái lấy tính làm lý củaNhị TrìnhChu Hy, phái lấy tâm làm lý của Lục Tượng SơnVương Dương Minh, phái cổ nghĩa chỉ xem trọng Luận Ngữ và Mạnh Tử của Itô Jinsai…làm cho đạo Khổng tức đạo tiên vương trở nên nhỏ hẹp và cách xa dần với mục đích an dân ban đầu của các thánh vương.
  • Các Nho gia đời từ đời Đường không chịu nghiên cứu học cổ văn từ nghĩa là ý nghĩa của ngôn từ cổ đại nên không hiểu được nội dung của lục kinh đưa đến việc khinh thường chúng và gạt bỏ chỉ biết đọc sách dùng để tranh cãi với các học phái khác là sách Trung Dung và Mạnh Tử. Bởi vì cách sách này không đi kèm với nội dung việc làm cụ thể mà các tiên vương đã lập ra nên càng ngày càng chỉ chú trọng vào lý lẽ trừu tượng nên làm mất tính thực dụng và hiệu quả trong thực tế của đạo, và phạm vi của đạo càng ngày càng nhỏ hẹp hơn.
  • Sorai may mắn gặp các tác phẩm của Vương Thế Trinh Lý Phàn Long nên biết được ý nghĩa của ngôn từ cổ đại khác nhiều với ý nghĩa của ngôn từ đời sau mặc dù cùng là chữ Hán nên đã bỏ công hơn 10 năm nghiên cứu mới đọc hiểu được lục kinh theo nghĩa của ngôn từ cổ đại. Và ông đã bỏ công viết Biện Đạo, Biện Danh, Luận Ngữ Trưng để truyền lại cho môn đệ và người học đạo thánh nhân của đời sau.

Nguyễn Sơn Hùng Dịch xong ngày 3/5/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Nhận xét

(a) Đúng như Sorai nói trong việc học hoặc nghiên cứu văn học, tư tưởng, triết học của các thời đại cổ xưa cần phải suy xét những sự vật, sự kiện cụ thể trong lịch sử để tránh những suy luận hoặc diễn dịch sai lầm. Ý nghĩa của các tên gọi hoặc ngôn từ trong khoảng thời gian trên 1000 năm chắc chắn có 1 sự thay đổi lớn.

(b) Đánh giá của Sorai có phần quá đáng chăng? Trong Luận Ngữ Trưng có những trường hợp Sorai công nhận cách giải thích của Chu tử là đúng hoặc hợp lý.

(c) Trong bài 25, bài cuối cùng của Biện Đạo, Sorai cho rằng bởi vì nội dung của lục kinh đã bị thất thoát không còn nguyên vẹn nên việc dùng (lý lẽ) để suy luận là cần thiết nhưng đáng tiếc là lý luận của Tống Nho chưa được tinh mật mà họ lại quá câu nệ vào nên gây ra sai lầm đáng tiếc.

(d) Thực ra Sorai dùng từ lục kinh ở đây không chính xác bởi vì kimh Nhạc đã mất, nội dung còn lại không biết chính xác được đến đâu. Trong bài 25 Biện Đạo, Sorai cũng có nói điều này và cho rằng đó là thiên mệnh.

Ghi chú

  •  Chương 1 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ:

子曰:述而不作,信而好古,竊比於我老彭。

Tử viết:“Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ; thiết tỷ ư ngã Lão Bành.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Ta truyền thuật (đạo của cổ nhân) mà không sáng tác, tin và thích (kinh điển của) cổ (nhân); ta trộm ví với ông Lão Bành của ta.”

(2) Tử Tư (TCN 492~TCN 431) là cháu nội của Khổng tử theo học Tăng tử , học trò của Khổng tử.

(3) Mạnh tử (TCN 372 ~ TCN 290) theo học học trò của Tử Tư, được người đời xem là á thánh của đạo Khổng.

(4) Trong Trung Dung của Lễ Ký viết:

“子曰:「人皆曰:『予知』,驅而納諸罟擭陷阱之中,而莫之知辟也。人皆曰:『予知』,乎中庸,而不能期月守也。」

Tạm dịch: Khổng tử nói: “Mọi người đều nói “Tôi biết” (ý nói tôi khôn ngoan) nhưng khi bị rượt đuổi vào lưới hoặc rơi xuống hố mà không biết làm sao tránh khỏi. Mọi người đều nói “Tôi biết”, thế mà khi chọn trung dung lại không kiên trì được trong 1 tháng”.

子曰:「回之爲人也:乎中庸,得一善,則拳拳服膺,而弗失之矣。」

Tạm dịch: Khổng tử nói: Con người của trò Hồi (tức Nhan Hồi), khi chọn trung dung, gặp được 1 điều tốt là 2 tay ôm lấy khắc sâu vào lòng không bao giờ bỏ đi.

(5) Trong Trung Dung của Lễ Ký viết:

王天下有三重焉,其寡過矣乎!焉者雖,無徵。無,不信。不信,民弗從。焉者雖善,不。不尊,不信。不信,民弗從。故君子之道,本諸身,徵諸庶民。

Giải thích ý nghĩa của tam trọng ở trên có nhiều thuyết khác nhau.

Trong tác phẩm Trung Dung Giải của Sorai, ông giải thích như sau: “Trọng trong câu của Trung Dung có nghĩa là trọng của thận trọng, tam trọng là 3 thứ phải thận trọng là thiện (nghĩa là đức), trưng徴 (thực hiện chính sách hữu ích cho dân), và tôn尊 (địa vị). Theo giải thích này thì nội dung trên có thể tạm dịch như sau:

Tạm dịch: Đối với địa vị làm vua có 3 điều cần phải thận trọng gìn giữ, nếu giữ được có lẽ sẽ ít bị sai lầm.Người cấp trên dù tốt (có đức) nhưng không thực hiện các chính sách hữu ích cho dân thì dân không tin. Mà không tin thì không tùng phục theo. Người cấp dưới dù tốt (có đức) mà không có địa vị tương ứng thì người dân không tin. Mà không tin thì không tùng phục theo. Do đó, đạo của người quân tử là lấy đức tính và việc làm của bản thân làm căn bản, và thực hiện các chính sách hữu ích cho dân chúng.

(6) Thông thường tâm học là chỉ học thuyết của Vương Dương Minh đời Minh chủ trương tâm là lý tức hành động theo lương tâm của mình là hợp với đạo thánh nhân. Nhưng ở đây Sorai muốn nói bao gồm cả học thuyếtlý học của Tống Nho tức Chu tử học chủ trương tính là lý tức hành động theo bản tính của mình là hợp với đạo thánh nhân.

Nguyên văn

道難知亦難言。為其大故也。後世儒者。各道所見。皆一端也。夫道。先王之道也。思孟而後。降為儒家者流。乃始与百家争衡。可謂自小已。

観夫子思作中庸。与老氏抗者也。老氏謂聖人之道偽矣。故率性之謂道。以明吾道之非偽。是以其言終帰於誠焉。中庸者。德行之名也。故曰択。子思借以明道。而斥老氏之非中庸。後世遂以中庸之道者誤矣。古之時。作者之謂聖。而孔子非作者。故以至誠為聖人之德。而又有三重之說。主意所在。為孔子解嘲者可見焉。然誠者。聖人之一德。豈足以尽之哉。

至於孟子性善。亦子思之流也。杞柳之喻。告子尽之矣。孟子折之者過矣。蓋子思本意。亦謂聖人率人性以立道云爾。非謂人人率性。自然皆合乎道也。它木不可為格格。則杞柳之性有栖倦。雖然。杨梅豈杞柳之自然乎。惻隠羞恶。皆明仁義本於性耳。其実惻隱不足以尽仁。而羞恶有未必義者也。立言一偏。毫釐千里。後世心学。胚胎于此。荀子非之者是矣。故思孟者。聖門之禦侮也。荀子者。思孟之忠臣也。

然当是時。去孔子未遠。風流尚存。名物不爽。及乎唐韓愈出。文章大変。自此而後。程朱諸公。雖豪傑之士。而不識古文辞。是以不能読六経而知之。独喜中庸孟子易読也。遂以其与外人争者言。為聖人之道本然。又以今文視古文。而昧乎其物。物与名離。而後義理孤行。於是乎先王孔子教法不可復見矣。

近歳伊氏亦豪傑。頗窺其似焉者。然其以孟子解論語。以今文視古文。猶之程朱学耳。加之公然岐先王孔子之道而二之。黜六経而独取論語。又未免和語視華言。我読其所為古義者。豈古哉。

吁嗟。先王之道。降為儒家者流。斯有苟孟。則復有朱陸。朱陸不已。復樹一党。益分益争。益繁益小。豈不悲乎。

不佞藉天寵霊。得王李二家書以読之。始識有古文辞。於是稍稍取六経而読之。歷年之久。稍稍得物与名合矣。物与名合。而後訓詁始明。六経可得而言焉。六経其物也。礼記論語其義也。義必属諸物。而後道定焉。乃舎其物。独取其義。其不泛濫自肆者幾希。是韓柳程朱以後之失也。予五十之年既過焉。此焉不自力。宛其死矣。則天命其謂何。故暇日輒有所論著。以答天之寵霊。且錄其網要者数十。以示入門之士者乎爾。

Tài liệu tham khảo

  • Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.

Gò Dầu Mới Đó Mà Đã Quen - Thuyên Huy

 

XEM THE7M :

25 thg 5, 2026

TƯỞNG NHỚ !-Thơ Trân Công Phú -73 KHAD9



 Bài thơ do Bạn cùng khóa 73 - 78 Khoa Học Áp Dụng, ĐHSPKT Thủ Đức viết để tặng các Bạn và tưởng nhớ đến hai bạn đã sớm bỏ cuộc chơi Dương Anh Kiệt, Bùi Minh Lạc!

TƯỞNG NHỚ !
Có những bước chân đi khỏi đời nhau.
Mang theo lớp rêu bộn bề lòng phố
Có những người đã xa khỏi đời nhau.
Cuốn ngọn cỏ khô về nằm đáy mộ.
Thưa với người một lần ơn tri ngộ
Là nghìn lần nhớ nhớ với thương thương
Là bóng ai qua,là những con đường.
Là cọng cỏ khô,là cành lá mục.
Mưa tí tách có làm ai thao thức?
Nửa đêm. Ngồi soi bóng quái ngả nghiêng
Tiếng thở dài ,mọc trên nhánh ưu phiền.
Trăm năm ,thuỷ chung là lời hờn tủi
Ngày gấp ruổi,lòng nấy hạt ngậm ngùi
Trên cây cô đơn, một màu rất tối
Gió ngàn xưa,một hôm về rất vội.
Thổi hoang tàn ,hạt rụng xuống tịch liêu
Mãi mãi nơi đây,là những buổi chiều...
Tháng chạp,cuối Đông trời không thắp lửa
Vài năm nữa hay là trăm năm nữa.
Biển sẽ xa,những lớp sóng muôn trùng.
Người phố cũ, hồn rong rêu, bật khóc .
Rồi cười buồn cùng nỗi nhớ xa xưa.
Những viên ngói thâm đen cùng mưa nắng
Đan kết lại thành một màu lưu cữu
Bóng thời gian, đọng trên tóc đã vừa.
Những sợi trắng đong đưa buồn ủ rũ.
Con đường xưa chỉ về trong giấc ngủ
Người là hồn bóng quế cuối nghĩa trang
Là nhớ thương,và thương nhớ vô vàn!
Trần Công Phú - 73 KHAD

tIN BUỒN và PHÂN ƯU (Hiền Nội Bạn Đặng Trần Hào Qua Đời Tại Mỷ



 Chúng Tôi Nhận Được TIN BUỒN ;\Hiền Nội Ban Đặng Trần Hào Đã Qua đời Tại Cali (Mỷ -t.6/2026 )

Chúng tôi Xin Thành Thưc Chia Sẽ Trước Nỗi Mất Mát To Lớn của Gia Đình

Cầu Nguyện Cho Hương Hồn Người Quá Cố Được PHIÊU DIÊU MIỀN CỰC LẠC

Bạn Bè CGS,SPSAIGON K.2

Thông tin từ Hồng Điệp Nguyễn

20 thg 5, 2026

Trang Thơ Hathuthuy : CUỐI THÁNG 3 RỒI , HỒN THƠ AN VÀO NƯỚC, KHÚC HẠ CA Ở BIẾN



CUỐI THÁNG 3 RỒI...

Có một ngày như vậy
Để thấy đời vui hơn
Để nhìn gió lay cây
Nhìn nắng vàng ngoài cửa
Nhắc lại chuyện ngày xưa
Để quên tuổi đã già
Để thấy mình vẫn trẻ
Quanh tình bạn nồng nàn.
hathuthuy

HỒN THƠ TAN VÀO NƯỚC

Người thả thơ lên trời
Tôi cho thơ xuống nước
Trôi theo dòng chơi vơi
Sông lớn ròng xuôi ngược.
Thơ xanh ngời ban mai
Sóng vỗ về yêu dấu
Nồng ấm dòng Đồng Nai
Ôm giữ hương tình đầu.
Thơ rực vàng nắng lụa
Đôi bờ gió lao xao
Đưa ngọt ngào hương lúa
Hồn thơ thêm ngọt ngào.
Thơ tím theo Lục Bình
Nhuộm hoàng hôn lênh đênh
Mang mang hồn cổ tích
Đọng nốt trầm buồn tênh.
Thơ đẫm ướt dòng trăng
Nồng nàn hương Nguyệt Quế
Đêm lành lạnh sương giăng
Thơ chung thủy hẹn thề.
Thơ thức cùng sao Mai
Đợi bình minh rạng rỡ
Mượn Thuyền nhỏ bờ vai
Tựa đầu nghiêng dáng Cỏ.
hathuthuy

KHÚC HẠ CA Ở BIẾN
Sóng gió đệm đàn cho biển hát
Khúc hạ ca ấm áp nắng vàng
Giọt dịu dàng trầm lan vào cát
Ru êm êm ghềnh đá nồng nàn.
Giọt râm ran gửi tàng phượng vỹ
Triệu nến hồng rực rỡ lập lòe
Giọt thì thầm ngàn năm bền bĩ
Giúp dã tràng kiên nhẫn xây nhà.
Giọt nâng niu chảy vào tóc lá
Hàng dừa xanh nghiêng dáng đợi chờ
Giọt yên lành hoà vào biển cả
Đàn hải âu đón gió chiều tà.
Giọt yêu thương lặng vào đá núi
Chờ khói mây viễn xứ tìm về
Giọt nhớ nhung tựa lời an ủi
Gửi mây trời dong ruổi sơn khê.

hathuthuy

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “TIẾN SĨ” (BÀI 2) - Nguyễn Sơn Hùng (DIỂN D(ÀN KHAI PHÒNG )

 QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI Ý NGHĨA CỦA TỪ “TIẾN SĨ” Ở TRUNG QUỐC

Nguyễn Sơn Hùng

Lời mở đầu

Khi biên dịch Luận Ngữ Trưng của Ogyu Sorai người viết tình cờ biết được từ tiến sĩ xuất hiện trong thiên 5 Vương Chế của sách Lễ Ký và đoán đây có thể là tài liệu xưa nhất dùng từ này. Để xác nhận ý tưởng này người viết đã ra thư viện gần nhà tra Đại Hán Hòa Từ Điển do Morohashi Tetsuji 諸橋轍次(1883~1982) biên soạn và công tyTaishukan Shoten xuất bản. Một trong nhiều đặc sắc của từ điển này là thường trích dẫn những tài liệu đầu tiên dùng từ đang giải nghĩa hoặc ít nhất cũng trong thời kỳ đầu mà từ xuất hiện trên văn tự.

Từ điển trên quả không phụ lòng tin tưởng của người viết đã ghi chép rất chi tiết và có lẽ gần đầy đủ lịch sử của từ tiến sĩtrong các tài liệu văn tự quan trọng. Để giải thích từ tiến sĩ, từ điển đã chia làm 4 nhóm. Nhóm đầu tiên là nội dung ý nghĩa của tiến sĩ trong thiên 5 Vương Chế sách Lễ Ký. Soạn giả còn cho biết thêm đây là nội dung của thời nhà Chu. Người viết không biết soạn giả căn cứ vào tài liệu nào để biết là thời Chu, có lẽ căn cứ vào sách Chu Lễ chăng. Nhóm 2 giới thiệu nội dung thicủakhoa tiến sĩ và tên gọi dành cho những người thi đậu ở đời Tùy,rồi đời Đường, sau đó đời Tống. Nhóm 3 giới thiệu nội dung từ tiến sĩ từ đời Minh về sau. Nhóm 4 giới thiệu ý nghĩa tổng quát của tiến sĩ tiến cử người (người có học để ra phục vụ xã hội hoặc làm quan).

Dưới đây người viết cố gắng biên dịch hết nội dung giải thích của từ điển trên để quý độc giả thấy được phần nào những điểm độc đáo của từ điển này, mặc dù biên dịch phần trích dẫn Hán văn rất khó đối với khả năng hiện có của người viết mong được tha thứ nếu có sai sót.

Trong nội dung biên dịch người viết cố ý ghi thêm chữ Hán để quý độc giả có thể biết các từ Hán ngày xưa được dùng khác với ngày nay như thế nào. Người viết cũng ghi chép lại nguyên văn chữ Hán của các tài liệu trích dẫn để khi quý độc giả khi nghi ngờ biên dịch không đúng có thể kiểm tra và tu sửa lại cho đúng.

Nội dung giải nghĩa của Đại Hán Hòa Từ Điển

Nhóm 1

Vào thời nhà Chu, Đại Nhạc Chính chọn lựa người giỏi (tú giả) trong các tạo sĩ để báo cáo lên vua, với mục đích tiến cử (thăng) những người này làm quan tư mã, (việc làm này) gọi là tiến sĩ.

Nguồn

1) Thiên 5 Vương Chế sáchLễ Ký:

大楽正論造士之秀者、以告于王而升諸司馬、曰進士。(Nội dung như trên nên không dịch lại.)

〔注)進士、可進受爵祿」

Tạm dịch: (Chú giải)Tiến sĩ được đứng ra nhận lấy tước lộc (quan chức và lương bổng).

Nhóm 2

Sau khi Dương đế煬帝(trị vì từ năm 605~618)đờiTùy đặt ra khoa tiến sĩ thì việc bổ nhiệm quan lại tất cả đều được căn cứ vào khoa này. Đời Đường (năm 618~ 907) cũng theo chế độ này. Người có tư cách ứng thí (dự thi) phân chia làm 3 loại: sinh đồ生徒, hương cống鄉貢, chế cử制擧. Những mụccủa khoatiến sĩnày (khoa mục科目) gồm có: tú tài秀才, minh kinh明經, tiến sĩ進士, minh pháp明法, minh tự明字, minh toán明算.

Sinh đồ để gọi những người xuất thân từ các trường (học quán學館) từ cấp Quốc tử giám trở xuống. Hương cống để chỉ những người không học ở các trường học (học quán) được châu hoặc huyện (州縣)tuyển chọn (để dự thi). Chế cử để gọi việc đăng dụng登用(cất nhắc lên chức vị cao hơn để dùng) các người có tài năng trác tuyệt thông qua chiếu lệnh của vua khi cần thiết.

Người được cử擧(đưa lên, tiến cử lên) gọi là cử tiến sĩ; người thi đậu gọi là thành tiến sĩ成進士; người thuộc loại hương cống được tiến cử lên khoa tiến sĩ gọi là hương cống tiến sĩ. Thông thường người được thí試vào bộ Lễ gọi là tiến sĩ(như vậy chưa biết đậu hay không cũng gọi là tiến sĩ ?Hoặc sử dụng theo trình độ của khả khả năng, không có việc đậu hay rớt? Tại sao bộ Lễ được đặt biệt như vậy?).

Nguồn

1)Tuyển Cử Chí thượngsách (Tân) Đường Thư (1):唐制、取士之科、云云、其科之目有秀才、有明經、有俊士、有進士。

Tạm dịch: Đời Đường đặt ra khoa thủ sĩ取士(thủ sĩ:chọn người có học để dùng)v.v… Khoa này gồm cótú tài, minh kinh, tuấn sĩ, tiến sĩ.

2) Hậu Chấp Cửu Nhật Phục Thượng Tể Tướng Thư後廿九日復上宰相書sách Hàn Dũ của Hàn Dũ (2):(Văn bản đệ trình ý kiến lần thứ hai sau 29 ngày lên Tể tướng) 前貢進士韓愈,謹再拜.Tạm dịch: Tiềnhương cống tiến sĩHàn Dũ, kính trọng cúi lạy lần thứ hai.

3) Tuyển Cử Chí Nhất, phần Chísách Tống Sử(3): 宋之科目有進士、有武舉、常選之外、又有制科、有童子科、而進士得人爲盛。Tạm dịch:Khoa mục đời Tống gồm có tiến sĩ, võ cử.Ngoài tuyển chọn định kỳ còn có chế khoa,đồng tử khoa, nhưng khoa tiến sĩ là thịnh hành nhất có nhiều người dự thi.

4) Nhật Tri Lục (Nhật Tri Lục Tập Thích) (4) mục Tiến sĩ: 進士、即舉人中之一科、其試於禮部者、人人皆可謂之進士、試畢放榜、其合格者、曰賜進士及第、後又廣之曰賜進士出身・賜同進士出身(a)、然後謂之登科、所以異於同試之人者、在乎賜及第・賜出身、而不」在乎進士也、宋政和三年五月乙酉、臣僚言、陛下罷進士、立三舍之法、今賜承議郎徐禋進士出身(b)、於名實未正、乞改賜同上舍出身(a)、從之。

Tạm dịch: Tiến sĩ là 1 khoa của cử nhân. Những người dự thi của bộ môn Lễ đều được gọi là tiến sĩ.Sau khi đậu và được thông báo trên bảng, gọi là được ban (tứ)tiến sĩ cập đệ(cập đệ: đạt tiêu chuẩn, nghĩa là thi đậu). Sau đó có thêm các tên gọi được ban (tứ) tiến sĩ xuất thân (xuất thân: có xuất xứ từ),được ban (tứ)đồng tiến sĩ xuất thân (đồng: cũng, cùng, giống như) (2 tên gọi sau vào đời Minh để gọi người thi đậu đứng thứ 2 và thứ 3). Sau đó gọi là đăng khoa (nghĩa là được ghi chép vào sổ sách lưu lại, tức thi đậu). Lý do của 3 tên gọi được đặt thêm để phân biệt người đạt tiêu chuẩn với mức độ cao thấp hay không đạt tiêu chuẩn (bởi vì trước đó người nào dự thi đều được gọi là tiến sĩ, với ý nghĩa, người có học được tiến cử ra làm quan). Vào ngày Ất Dậu tháng 5 niên hiệu Chính Hòa năm thứ 3 (năm 1113) nhà Tống, các quan lại trình tấu lên vua “Bệ hạ nên bãi bỏ chế độ tiến sĩ mà lập ra chế độ Thái học tam xá (太学三舎法) (c); tiến sĩ xuất thân Từ Nhân 徐禋được ban chức Thừa Nghị Lang承議郎là trường hợp tên gọi và nội dung không đúng, thỉnh xin bệ hạ đổi thành tứ đồng thượng xá xuất thân”. Vua chấp thuận nội dung tấu trình trên.

5) Cai Dư Tùng Khảo陔餘叢考mục Tiến Sĩ (5):

進士之、見于王制、秦漢以來未有此名目也、至隋煬帝始設此科、唐因之、其初雖有諸科、然大要以明經・進士二科爲重、其後又專重進士、此後世進士所始也、唐初制試時務策五道、帖一大經、經策全通爲甲第、策通四、帖過四以上爲乙第、永隆二年以劉思立言進士惟誦舊策皆無實材、乃詔、進士試雜文二篇、通文律者然後試策、此進士試詩賦之始、開元二十五年詔、進士以聲韻為學、多味古今、自今加試大經十帖、建中二年、中書舍人趙贊權知貢舉、又以箴論表讚代詩賦、太和八年、仍復詩賦、此唐一代進士試藝之大略也、然唐制有與後世、不同者後世三歲一會試、唐則毎歲皆試、後世放進士多至三四百人、少亦百餘人、唐則每歳放進士不過三四十人、見通考所載登科記、宋初猶每歲一試、仁宗至和二年、始定令閒歲一科舉、英宗二年、又定令三歲一科、此後世三年一鄉會之始也、南宋又有類省試、蓋因兵興路遠、舉子難赴、即就本路」權省試、如「紹興二年、川陝宣撫使類試陝西、發解進士得周謨等十三人、以便宜賜進士出身、紹興五年、又詔川陝類試進士、合格第一人依殿試、第三人例推恩、餘並賜同進士出身、度宗在諒闇、命宰執」類試、阮登炳以下、依例賜出身、則類試并行之於朝廷、此又因理宗之喪、而權爲之制也。

Tạm dịch:

Tên (danh 名) gọi tiến sĩ xuất hiện trong thiên Vương Chế (sách Lễ Ký) (đời nhà Chu). Từ thời TầnHán chưa códanh mục名目(e) này. Đến đời vua Dương đế nhà Tùy mới đặt ra khoa này (tức khoa tiến sĩ). Đời Đường cũng theo lệ này. Trong thời kỳ đầu mặc dù còn có nhiều khoa khác nhưng 2 khoa minh thư(chuyên môn về kinh sách cổ điển) và tiến sĩ được xem quan trọng hơn hết. Sau đó bắt đầu chỉ chuyên trọng vào khoa tiến sĩ.

Vào thời kỳ đầu nhà Đường(618 ~907) bài thi gồm 5 câu hỏi về chính sách đương thời quan tâm và một câu về hiểu biết nội dung của các kinh sách cổ điển quan trọng, Đậu hết cả các câu hỏi về chính sách và kinh sách thì đậu bậc giáp đệ(bậc nhất), đậu được 4 câu về chính sách hoặc trên 4 câu có thể xem như đậu thì đậu bậc ất đệ(bậc 2).

Đến Vĩnh Lục năm thứ 2 (năm 681, vua Đường Cao tông) Lưu Tư 劉思đưa ra ý kiến cho rằng các tiến sĩ chỉ thuộc lòng các chính sách cũ tất cả đều không phải tài năng thật sự. Do đó, vua ra lệnh khoa tiến sĩ thi 2 bài thuộc đề tài đa dạng, những người đậu phần viết và hiểu cách hành văn của pháp luật (văn luật文律)mới được thi phần chính sách, và khoa tiến sĩ bắt đầu quy định thi thi phú.

Theo chiếu lệnh vào Khai Nguyên năm thứ 25 (năm 737, vua Đường Huyền tông), khoa tiến sĩ phải học thanh vận (ngữ âm và vần điệu) và tinh túy văn học của xưa và nay, 10 bộ kinh sách cổ điển quan trọng được thêm vào.

Kiến Trung năm thứ 2 (năm 781, vua Đường Đức tông), quan Trung thư xá nhânTriệu Tán 趙贊 được giao chủ trì cuộc thi. Ông lấy bài khuyên răn (châm luận箴論) và biểu dương ca tụng (biểu tán表讚) để thay thế cho thi phú.

Thái Hòa năm thứ 8 (năm834, vua Đường Văn tông), thiphú được áp dụng trở lại.

Nội dung trên là sơ lược về nội dung thi tài nghệ của khoa tiến sĩ đời Đường. Tuy nhiên thi tiến sĩ đời Đường và các đời sau có điểm khác biệt. Các đời sau tổ chức thi tiến sĩ 3 năm 1 lần, trong khi đời Đường tổ chức thi hàng năm. Số lượng tiến sĩ đời sau nhiều nhất lên đến 300 hoặc 400 người, ít nhất là hơn 100 người. Căn cứ theo tài liệu ghi chép trong sổ đăng khoa, số tiến sĩ đời Đường hàng năm không quá 30 hoặc 40 người.

Đến đời Tống thi tiến sĩ lại bắt đầu tổ chức hàng năm lại. Thời vua Tống Nhân tông,Chí Hòa năm thứ 2 (năm1055, Bắc Tống), bắt đầu quy định cách năm tổ chức thi 1 khoa (2 năm 1 khoa). Thời vua Tống Anh tông(Trị Bình) năm thứ 2 (năm1065) lại quy định 3 năm tổ chức 1 khoa. Việc này đưa đến việc các đời sau tổ chức thi Hương, thi Hội 3 năm 1 lần.

Thời Nam Tống (năm 1127~1279) có tổ chứctỉnh thí省試 (cuộcthi tổ chức ở tỉnh, sau trở thành thi Hội) tương tự (đời Bắc Tống),có lẽ bởi vì thời chiến hoặc do đường đi đếnnơi thi (như kinh thành) quá xa nên thí sinh (cử tử舉子)rất khó khăn đi đến nơi. Thí dụ, vào Thiệu Hưng năm thứ 2 (năm 1132, vua TốngCao tông), quan trấn thủ địa phương Tứ Xuyên Thiểm Tây tổ chức thi tương tự. Kết quả đã tuyển chọn ra và gửi lên vua xem xét (phát giải發解) 13 tiến sĩ trong đó có Chu Mô周謨.Không phải do vua chính thức chủ trì cuộc thi nhưng được vua chấp nhận ban ho tiến sĩ xuất thân.

Vào Thiệu Hưng năm thứ 5 (năm 1135, vua TốngCao tông) lại có chiếu chỉ ra lệnh địa phương Tứ Xuyên Thiểm Tây tổ chức thi giống như thi tiến sĩ, người đậu đứng đầu (đệ nhất nhân) được xem giống như đậu điện thí (thi ở cung đình tức thi Đình), người đậu hạng thứ 3 (đệ tam nhân) và những người đậu còn lại được vua ân đãi ban cho đồng tiến xuất thân (không có viết trong nguyên văn nhưng có thể hiểu người đậu thứ 2 làtiến sĩ xuất thân).

Khi vua Tống Độ tông (tại vị từ năm 1264 đến năm 1274) đã ra lệnh cho Tể tướng tổ chức thi thay vua. Những người đậu thấp hơn Nguyễn Đăng Bính阮登炳theo thông lệ được vua ban cho tiến sĩ xuất thân.Việc này cho thấykỳ thi tổ chức ở địa phương giống như (có giá trị tương đương) với kỳ thi ở triều đình. Do có tang lễ của vua Tống Lý Tông (tại vì từ năm 1224~1264, vua trước Độ tông) mà chế độ thay thế nói trên được thành lập.

Nhóm 3

Sau đời nhà Minh tiến sĩlà tên gọi đặc biệt dành cho những người đậu(cập đệ) kỳ thi điện thí(thiĐình, do vua chủ trì và thi trong cung điện). Đời nhà Minh và nhà Thanh vua ban (tứ) cho những người thi đậu thi cử nhân, tiến sĩ xuất thâncho người đậu nhị giáp, đồngtiến sĩ xuất thân cho người đậu tam giápkỳ thiĐình(d);tên gọi chung thông thường là tiến sĩ.

Chế độ khoa cử 3 tầng được xác lập vào đời Tống nhưng vào đời Tống còn đặt căn bản trên chế độ cũ nên đặt làm 3 khoa: tiến sĩ, minh kinh, minh pháp. Tiến sĩ chỉ là tên gọi của khoa mục. Vào đời nhà Minh vừa dùng chế độ 3 tầng, vừa gọi những người thi đậu thi hươngcử nhân, đậu thi Hội hương cốngvà đậuthi Đìnhtiến sĩ. Từ đó, tiến sĩ trở thành tên gọi của học vị.

Nguồn

1) Minh Hội Điển明會典:凡殿試、洪武三年定、殿試、時務策一道、惟務直述限一千字以上、其出身第一甲、第一名、從六品、第二名・第三名、正七品、賜進士及第、第二甲正七品、賜進士出身、正八品賜同進士出身。

Tạm dịch:Theo quy định của thi Đình (điện thí)vào Hồng Vũ năm thứ 3 (1730) thí sinh phải viết 1 bài luận về chính sách của vấn đề có tính cách thời sự. Thí sinh phải viết thẳng thắn vào trong giới hạn 1,000 chữ.

Người thi đậu thuộc cấp đệ nhất giáp(cấp hạng cao nhất)và đứng đầu bảng (đệ nhất danh) được làm quan tùng lục phẩm(phẩm thứ 6-tùng, mỗi phẩm có chínhtùng, chínhcao hơn tùng), thuộc đệ nhất giáp nhưng thứ 2 trong số người đệ nhất giáp gọi là đệ nhị danh, người thứ 3 là đệ tam danh được làm quan chính thất phẩm (phẩm thứ 7- chính) được vua phong ban tiến sĩ cập đệ.(f)

Người thi đậu thuộc cấp đệ nhị giáp(cấp hạng thứ 2) đượcchính thất phẩm (phẩm thứ 7- chính) được vua phong ban tiến sĩ xuất thân.

Người thi đậu thuộc cấp đệ tam giáp(cấp hạng thứ 3) (không có trong nguyên văn!) đượcchính bát phẩm (phẩm thứ 8- chính) được vua phong ban đồng tiến sĩ xuất thân.

  • Minh Hội Điển:

凡舉人出身、洪武二十六年定、第一甲第一名從六品、第二名正七品、賜進士及第、第二甲從七品、賜進士出身、第三甲正八品、賜同進士出身。

Tạm dịch: Theo quy định về xuất thân cử nhân vào Hồng Vũ năm thứ 26 (1753), người đậu đệ nhất giápđệ nhất danh (tức đầu đứng đầu của kỳ thi) được làm quan tùng lục phẩm, đệ nhị danh (đậu cao thứ 2) làm quanchính thất phẩm, cả 2 được vua ban (tứ) tiến sĩ cập đệ; đậu đệ nhị giáp được làm quan tùng thất phẩm và được ban tiến sĩ xuất thân; đậu đệ tam giáp được làm quanchính bát phẩm và được ban đồngtiến sĩ xuất thân.(Khác với trước đó là không có đệ tam danh của đệ nhất giáp).

Nhóm 4

Tiến sĩ là tiến cử người(người có học).

Nguồn

  1. Hà Vũ Truyện sách Hán Thư:武爲人仁厚、好進士、獎稱人之善。

Tạm dịch: Hà Vũ là người nhân hậu và yêu thích việc tiến cử người sĩ ra phục vụ quốc gia và tán thưởng việc làm tốt của người khác.

2) Chú thích trong Tuân Úc Truyện荀彧傳sách Ngụy Chí:彧別傳曰、云云、荀攸後爲魏尙書令、亦推賢進士。Tạm dịch:Úc Biệt Truyện viết: v.v…Tuân Tu (157~214, cuối thời Hậu Hán) sau khi làm Thượng thư lệnh nhà Tùy lại tiến cử ngườihiềnngười(thôi hiền tiến sĩ).

Nhận xét

(a) &(b): Ở sau của chữviết曰(nói, gọi) hoặc cải 改 (đổi thành)đều có viết chữ tứ 賜ở các nơi ghi chú (a)nhưng trong lời trình tấu, nơi ghi chú (b) lại không có chữ tứ nên người viết không rõ tên gọi chính thức đương thời có kèm theo chữ tứ hay không. Điều này cho thấy danh hiệu tiến sĩ là do vua ban cho.

(c) Theo tài liệu của giáo thụ宮崎市定, luật Thái học tam xá do Tể tướng Vương An Thạch đời Tống Thần tông đề xướng. Vương An Thạch cho rằng bởi vì thời hạn thi chỉ có vài ngày nên không thể xem biết hết nhiều mặt về con người và học vấn của thí sinh do đó lập ra trường Thái học để giáo dục và xem xét học sinh đầy đủ hơn. Học sinh được nhận vàongoại xá. Sau đó nếu thi đậu sẽ được lên nội xá. Nếu có thành tích tốt và kết quả thi tốt nghiệp tốt thì được ưu đãi như đệ nhất giáp tiến sĩ. Những người khác được lên cấp thượng xá. Sau đó được thi tỉnh thí (sau gọi làhội thí, tức thi Hội), điện thí (thi Đình, do vua chủ trì và thi trong cung điện). (Nguồn: Thế Giới Đại Bách Khoa Sự Điển, Heibonsha xuất bản)

(d) Giải nghĩa còn khó hiểu! Tại sao không thấy giải thích nhất giáp gọi là gì? Đột nhiên đề cập đến nhị giáptam giáp.

(e) Từ danh mục thường cũng được hiểu là tên gọi như từ danh. Theo giải thích nghĩa của Nhóm 1, tên gọi tiến sĩ đã có từ đời Chu và xuất hiện trong Lễ Ký, tại sao Cai Dư Tùng Khảo lại nói từ đời Tần và Hán không có danh mục? Có 2 khả năng: 1) Chưa được dùng lại, 2) Danh mục ở đây được được dùng với nghĩa là tên của môn học, môn thi. Khả năng 2) cao hơn và cho thấy ý nghĩa của từ vựng thay đổi theo thời đại!

(f) Theo mục Trạng Nguyên– Bảng Nhãn-Thám Hoa trong Cái Dư Tùng Khảo của Triệu Dực, trạng nguyên狀元có từ thời Đường lúc hoàng hậu Võ Tắc Thiên lần đầu tiên chấm thi ở trước điện. Còn từ bảng nhãn榜眼vàthám hoa探花có xuất xứ phức tạp hơn, có dịp sẽ giới thiệu nội dung này sau.

Tóm tắt

Mặc dù Đại Hán Hòa Từ Điển trích dẫn chi tiết nhưng phải nói còn khó hiểu, chắc do chế độ thi cử thời xưa rất phức tạp và thường thay đổi. Các trích dẫn không chứng minh hết được nội dung giải thích của soạn giả. Dưới đây người viết tạm tóm tắt nội dung giải thích về từ tiến sĩ của soạn giả Morohashi Tetsuji trong từ điển trên.

  • Thời nhà Chu (tức nội dung trong thiên Vương Chế sách Lễ Ký), từ tiến sĩ để chỉ những người tài giỏi trong các người học ở trường học kinh đô được hiệu trưởng của trường tiến cử lên vua để vua bổ nhiệm làm quan tư mã(Nhóm 1).
  • Trong truyện Hà Vũ của Hán Thư và truyện Tuân Úc trong Ngụy Chí từ tiến sĩ để chỉ việc giới thiệu người tài đức lên cấp trên (Nhóm 4). Triệu Dực trong Cái Dư Tùng Khảo cũng viết thời Tần và Hán chưa có khoa thi tiến sĩ.
  • Đến đời Tùy Dương đế chế độ khoa cử mới đặt ra khoa tiến sĩ. Đời Đường tiếp tục chế độ nhà Tùy. Năm khoa khác là tú tài (giỏi tổng quát), minh kinh(giỏi về sách cổ điển), minh pháp (giỏi về luật pháp), minh tự (giỏi về viết chữ, lời văn hành chính) , minh toán (giỏi về tính toán). Nhưng 2 khoa được xem trọng là minh kinhtiến sĩ.

Trong Tuyển Cử Chí của Tân Đường Thưcó ghi đời Đường đặt khoa thủ sĩ 取士. Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu có giải thích “thủ sĩ: chọn lấy học trò mà dùng”. Có lẽ từ thời Tùy hoặc Đường từ thủ sĩ được thay thế cho từ tiến sĩ của các đời trước đó được dùng để nói “chọn người học giỏi ra làm quan phục vụ xã hội” bởi vì từ tiến sĩ đã được dùng để chỉ tên 1 khoa thi.

Đầu đời Đường bắt đầu có phân biệt giáp đệ (đậu cao cấp 1) và ất đệ (đậu cao cấp 2) trong khoa tiến sĩ. Khoa tiến sĩ tổ chức thi hàng năm và do vua chủ trì (Nhóm 2). Đến đời Tống, bắt đầu có việc thi tiến sĩ không nhất thiết phải do vua chủ trì mà vua có thể ủy nhiệm cho quan chức thực hiện, và không nhất định chỉ tổ chức trong cung điện nhà vua mà có thể tổ chức ở địa phương; các từ tiến sĩ xuất thân, đồng tiến sĩ xuất thân cũng bắt đầu được dùng đến.

  • Đến đời nhà Minh thì từ tiến sĩ trở thành tên gọi của học vị để chỉ người thi đậu thi Đình. Đậu đệ nhất giáp được gọi là tiến sĩ cập đệ. Đậu đệ nhị giáp được gọi là tiến sĩ xuất thân, và đậu đệ tam giáp được gọi làđồng tiến sĩ xuất thân(Nhóm 3). Ngoài ra, từ cử nhân để gọi người thi đậu thi Hương, hương cống để gọi người thi đậu thi Hội được phân biệt rõ ràng từ đời Minh.

Ghi chú

(1) Tên sách chính xác là Tân Đường Thư để phân biệt với sách Cựu Đường Thư. Tân Đường Thư do Âu Dương Tu và nhiều người khác soạn, hoàn thành năm 1060 (đời vua Tống Nhân tông) gồm 225 quyển (Bản Kỷ:10 quyển, Chí:50 quyển, Biểu:15 quyển, Liệt Truyện:150 quyển). Mục Tuyển Cửgồm có thượng (thiên 34 của Chí) và hạ (thiên 35 của Chí) tương ứng với quyển 44 và 45. Phần trích dẫn có trong đoạn đầu tiên của thiên 34.

(2) Sách Hàn Dũ tổng hợp các tác phẩm của Hàn Dũ (768~824, đời Đường) gồm các phần: Kinh (như Luận Ngữ Bút Giải), Tập (như Xương Lê tiên sinh tập…), Văn gồm có: Luận thuyết, Thư, Tự (như Tống Mạnh Đông Dã Tự…), Tế văn, Truyện, Phú, Thi. Phần trích dẫn có trong phần Thư. Câu trích dẫn cũng có ghi trong 後十九日復上書 (sau 19 ngày), không hiểu tại sao Morohashi lại trích dẫn bài sau là後廿九日復上宰相書(sau 29 ngày).

(3) Tống sử do Thác Khắc Thác 托克托(nguyên cảo viết Thoát Thoát脫脫) viết lịch sử của thời Bắc Tống và Nam Tống gồm có 496 quyển, hoàn thành năm 1343 nhà Nguyên (16 Bản Kỷ (47 quyển), 15 Chí (162 quyển), 2 Biểu (32 quyển), 197 Liệt Truyện (255 quyền)). Tuyển Cử của phần Chí gồm có 6 quyển, phần trích dẫn có trong mục Khoa Mục thượng của Tuyển Cử 1.

(4) Nhật Tri Lục日知錄là sách do Côn Sơn Cố Viêm Vũ崑山顧炎武(1613~1682) đời Thanh soạn, gồm có 32 quyển và Lời tựa, được người đời đọc dưới hình thức tên sách Nhật Tri Lục Tập Thích日知録集釈do Hoàng Nhữ Thành黃汝成(1799~ 1837) giải thích. Do lý do này mà nội dung Nhật Tri Lục của Trung Quốc Triết Học Điện Tử Hóa Kế Hoạch (TQTHĐTHKH) và Nhật Tri Lục của sách Nhật giống nhau.

Trong khi Duy Cơ Văn Khố 維基文庫 (Wikisource.org) có cả Nhật Tri Lục và Nhật Tri Lục Tập Thích (cũng có 32 quyển). Trong Tập Thích không thấy Lời tựa.

Người viết chỉ so sánh cụ thể quyển 16 và 17 của Nhật Tri Lục và Nhật Tri Lục Tập Thích thì thấy như sau:

Nội dung của TQTHĐTHKH và sách Nhật có ghi phần giải thích nhưng không có ghi xuất xứ. Trong Tập Thích có ghi “Nguyên chú原注” và các chú giải khác tùy theo mục.

Điều khó hiểu là tựa các hạng mục trong quyển 16 &17 của Nhật Tri Lục và Tập Thích hoàn toàn khác nhau. Không hiểu tại sao! Thí dụ các mục trong quyển 16 của Nhật Tri Lục Tập Thích gồm có: Minh Kinh, Tú Tài, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Khoa Mục, Chế Khoa, Giáp Khoa…..

Trong khi các mục của Nhật Tri Lục(quyển 16) gồm có: Tài Dụng, Ngôn Lợi Chi Thần, Bỗng Lộc, Trợ Hướng, Quán Xá, Nhai Đạo, Quan Thụ, Kiều Lương, Nhân Chúng…..nghĩa là không có mục Tiến Sĩ.

(5) Cai Dư Tùng Khảolà sách học thuật do Triệu Dực 趙翼(1724~1814, đời Thanh) viết gồm có 43 quyển. Đề tài rất đa dạng. Cai Dư陔餘có nghĩa là thời gian còn lại sau khi phụng sự mẹ ông. Tác giả viết sau khi từ quan. Các mục của quyển 28 gồm có như: Tú Tài, Giám Sinh, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Trạng Nguyên- Bảng Nhãn-Thám Hoa, Tam Nguyên, Lưỡng Thứ Cập Đệ….Trong quyển 32 có mục Thần Đạo. Trong quyển 34 có mục: Phật, Bát Tiên, Trương Chân Nhân. Trong quyển 37 có mục Bác Sĩ– Đãi Chiếu –Đại Phu– Lang Trung, Đại Nhân….Sách này có vẻ hữu ích để nguyên cứu về từ nguyên (xuất xứ của các từ vựng).

Sau khi từ quan ông còn soạn Nhị Thập Nhị Tráp Ký (gồm 36 quyển và 1 quyển bổ sung). Ông cũng là người biên soạn Thông Giám Tập Lãm通鑑輯覧.

(6) Hán Thư là sách do Ban Cố班固(32~92, đời Hán Chương đế. thời kỳ đầu của Tiền Hán) biên soạn, nội dung là lịch sử của thời Tiền Hán gồm có 100 quyển (Bản Ký 12 quyển, Biểu 8 quyển, Chí 10 quyển, Liệt Truyện gồm 70 quyển). Còn gọi là Tiền Hán Thư để phân biệt với Hậu Hán Thư ghi chép lịch sử thời Hậu Hán do Phan Diệp范曄và Tư Mã Bưu司馬彪soạn. Phần Trích dẫn có trong thiên 56 của Liệt Truyện với tựa何武・王嘉・師丹傳(quyển 86).

Nguyễn Sơn Hùng – Ngày 25~30/4/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Tài liệu tham khảo

  1. Morohashi Tetsuji (1960, , 2000): Đại Hán Hòa Tự Điển, Taishukan Shoten xuất bản.
  2. Nguyễn Sơn Hùng (2026): Từ Nguyên của Từ “Tiến Sĩ” và Tên Gọi của Trường Học ở Cổ Đại