nhungnguoibanspsg.
Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
25 thg 7, 2026
24 thg 7, 2026
Hai Nấm Mồ - Thuyên Huy
Rồi anh cũng về, làng nghèo vẫn nghèo như ngày đó, ruộng mùa này đồng hoang trơ trơ gốc rạ. Đứng trước mồ, nhìn ra con đường đất màu bùn, còn in dấu chân trâu loang lở, đã có chút nắng bên kia sông, con sông chưa một lần mưa cuồng sóng lũ, rựng lên, nhưng sương tàn đêm chưa chịu tan vội, trời vẫn còn mù mờ, chập chờn sáng, lác đác mấy cái nhà mái tranh mái lá trên đồng, đèn dầu chưa tắt, vẫn cảnh cũ như xưa.
Hàng Sim dọc theo đường, chạy dài bên bờ đê ruộng mùa này hoa nở muộn, muộn như ngày chị của anh, cũng con đường này ra bến đò theo chồng về làm dâu xứ xa, bỏ lại anh với ngoại, hôm tiễn chị đi, chị vui hay không thì anh không biết nhưng chị cũng như ngoại đều khóc.
*
Nhà nghèo, gạo đong gạo đếm, ba má mất sớm, tai sao và mất bao giờ, hai chị em không nhớ rõ, ngoại cũng không nhắc tới, hai chị em sống với ngoại, miếng cơm miếng cháo bằng số tiền phụ ngoại bắt ốc hái rau, bưng bán ngoài chợ xã, ba bà cháu chắt chiu bên nhau, trong cái nhà mái tranh vách đất trên miếng đất gò cuối ấp trong, ngó ra cái vàm lớn xa. Vậy đó, ngoại cũng ráng dẩn hai chị em đi học trường làng, trên con đường đất xa, cách nhà chừng nửa tiếng đi bộ, ba bà cháu vui với phận mình, chị em lớn lên từ những ngày tháng cơm đong gạo đếm đó.
*
Anh lớn lên rồi cũng như chị, bỏ ngoại đi, lây lất đời tha hương xứ người vì trót mang nợ đời cơm áo, ngoại ở lại một mình, bóng già thui thủi, mắt già trông mong, từ ngày theo chồng, không biết chị có vui không, có “chiều chiều ra đứng ngõ sau, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” không, anh không biết, ngoại cũng như anh, chị ít khi về, dong ruỗi mọi nẻo đường đời anh cũng chưa có lần nào tới xứ xa thăm chị, anh có về nhà đôi ba lần rồi thôi, người trong ấp, trong làng, xầm xì chê trách, cho là hai chị em không tròn hiếu đạo.
*
Ngoại mất hôm anh về, sau Tết năm nào đó, lần này anh ở lại với ngoại cũng lâu hơn, hai bà cháu hủ hỉ, chuyện này chuyện kia, chuyện đời chuyện cơm áo công hầu, cũng cơm cá rô kho mặn, rau mùng tơi luộc như những ngày xưa còn nhỏ, ngoại vui không biết làm sao mà nói, vậy mà ngoại mất, tuổi già bình thản, sau một đêm mưa lất phất về ngang từ ngoài Vàm lớn, anh khóc sướt mướt, buổi sáng hôm đó trời âm mu chắc cũng buồn cho kiếp người của ngoại.
Đám tang ngoại, chị không về, mồ ngoại chôn ở gò đất cao khoảnh vườn chuối, không xa con rạch nhỏ chạy ra vàm lớn, căn nhà trống trơn, đám tang không mấy ai, năm sáu người nhà kế bên, cũng nghèo như ngoại, nói kế bên, nhưng cách nhau một cũng khoảng vài bờ đê ruộng, những gì của ngoại, mà ngoại có gì đâu, mấy bộ quần áo bạc màu nâu, cái lược cũ mèm ngoại chảy tóc già bạc như sương, hai ba cái khăn rằn thưa chấp vá, vậy thôi, anh đã không quên gởi chôn theo, trong đó có cuốn tập, năm anh học lớp nhất trường làng, được cô giáo cho bài viết “tả ngoại em” của anh mười điểm, để ngoại vui dưới đó. Ngoại ở lại, nằm đó một mình.
*
Kiếp đời cứ theo mình, sau mâm cơm cúng, anh lạy ngoại, anh lại ra đi, đi miệt mài, đi biền biệt, anh không biết chị có về lại nhà xưa đó lần nào không. Cũng còn may, còn được người thương tình, anh gởi lại nhà, cái nhà cột xiêu vách ngã, không ai thèm ngó tới, và hết một số tiền dư trong những tháng năm tha phương kiếm được, cho gia đình chú thiếm Dần, hai vợ chồng làm ruộng quanh năm, căn nhà tranh gần nhất, trông nom và lo săn sóc nhang đèn giùm, anh nhất định sẽ về nhưng không dám chắc là khi nào.
*
Bây giờ, bốn năm năm về lại nhà xưa, gò đất cao sau nhà giờ có thêm cái mồ nằm bên cạnh mồ ngoại, mộ chị đó, rồi cuối cùng thì chị cũng về, không biết chị về bao lâu rồi, tại sao chị về, dù cho thế nào đi nửa thì chị cũng đã hết đi.
*
Anh quàng túi xách vải bạc màu lên vai, trời sáng hẳn từ lâu, phía bến đò cuối đường đã có tiếng người gọi nhau ơi ới, đứng chấp tay lạy tạ mấy lần trước mồ ngoại và chị, thêm một lần anh bỏ ngoại đi và lần này chị ở lại.
Bước ra đường, anh bật khóc.
Thuyên Huy
Viết lại từ một câu chuyện cũ thật cũ – thu 2026
Posted by 304Denat 7:44 PM
Chữ Nghĩa Giết Người - Vũ Thế Thành
Đầu đời Thanh, vào thế kỷ 17 có vụ án văn tự khét tiếng. Câu chuyện như sau:
Vũ Thế Thành

Trang Đình Long mua lại bản thảo lịch sử về triều đại nhà Minh. Tác giả từng là quan dưới triều Minh. Khi Long mua bản thảo thì sách vẫn chưa hoàn thành, nên họ Trang thuê nhiều danh sĩ bổ túc thêm, cho đến vị vua cuối cùng nhà Minh. Khi hoàn thành thì Trang Đình Long mất. Gia đình tiếp tục cho khắc in và phát hành, như một chút lòng nhớ về triều đại Minh vừa tiêu vong.
Bộ Minh sử này viết từ cuối đời Minh, và bổ sung vào đầu đời Thanh nên “quen miệng” sử dụng một số từ “tế nhị” như gọi người Mãn Châu là Kiến Di (rợ Kiến Châu), gọi tướng nhà Minh hàng Thanh là bọn phản nghịch. Viên quan huyện Ngô Chí Vinh bèn đem kẽ hở này tống tiền nhà họ Trang. Chuyện không thành, Ngô tố giác về kinh. Vụ án đến tai phụ chính Ngao Bái. Ông này hạ lệnh triệt hạ tận gốc để răn đe giới nho sĩ người Hán.
Hệ quả là gia đình họ Trang bị lăng trì, nhưng người liên quan đến viết bổ sung, hiệu đính, biên tập, thợ khắc chữ, người in ấn, phát hành,.. đều bị chém đầu. Tổng cộng hơn 70 người bị xử tử. Trong chương mở đầu của Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã tái hiện lại thảm án văn tự này, gần khớp với lịch sử. Dĩ nhiên cũng có một chút hư cấu.
Còn ở ta có vụ án văn tự nào không? Có chứ. Đó là vụ án bắt nguồn từ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thành, là bậc khai quốc công thành thời Vua Gia Long.
Thuyên là nho sĩ, tính tình phóng khoáng, thích giao du với các danh sĩ. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa có hai sĩ phu nổi tiếng hay chữ, bèn làm bài thơ, nhờ gửi cho hai danh sĩ này để kết giao. Bài thơ chưa tới tay người nhận thì đã lọt vào tay của kẻ hiềm thù với Nguyễn Văn Thành (khi đó đang là Tổng trấn Bắc thành). Thuyên bị bắt và bị xử chém. Nguyễn Văn Thành bị vua Gia Long đối xử lạnh nhạt, không cho vào chầu. Hiểu ý vua, Nguyễn Văn Thành tự vẫn.
Bài thơ của Thuyên viết gì lại vướng vào vụ án văn tự? Họa sát thân nằm ở hai câu thơ cuối:
“Thử hồi nhược đắc sơn trung tế, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”
(Lần này nếu gặp được tể tướng chốn núi rừng, sẽ giúp ta trổ tài kinh luân xoay chuyển cơ trời).
Chẳng ai lạ gì mấy ông thi sĩ đời xưa làm thơ là bốc mọi thứ lên trời, dời non lắp biển, xoay chuyển Trời đất là chuyện bình thường. Nhưng “quan xử án” đã suy diễn (chủ quan), đây là ý đồ mưu phản mới đòi xoay chuyển cơ Trời.
Số của bậc khai quốc công thần, Nguyễn Văn Thành phải chết trước vua. Bài thơ chỉ là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân xa thì ai chịu đợc lịch sử cũng biết.
Đó là hai vụ án văn tự tạm gọi là tiêu biểu từ Tàu sang ta. Thế ở ta còn án văn tự nào nữa không? Còn nhiều lắm chứ.
Mà thôi không nói nữa. Chữ nghĩa nuôi người, cũng có thể giết người.
Vũ Thế Thành
304Đen – Llttm - sgtc
23 thg 7, 2026
ÁNH TRĂNG NGÀY XA XƯA ẤY - Pham văn Bắc - SPSaigon
Buổi Sáng Phố Đầu Đông - Nguyễn Đạm Luân
Người đi rồi
Phố ở lại
Mùa đông về từ hôm qua
Cũng mùa đông năm ngoái
Hàng cây bên đường sương
vẫn khẳng khiu cành lá
Trời chừng như đang giữa thu
Ngàn cánh bướm khoe màu áo cánh len
Đua nhau tìm chút nắng trải ngập bóng sương mờ
Đèn vàng vỏ chưa vội tắt
Quán liêu xiêu cuối phố mơ hồ ai đang hát
Bài tình lỡ
Buồn cho đoạn kết vở tuồng đời
Anh ở lại cũng buổi sáng mùa đông như năm ngoái
Người vội vã bỏ đi
Không một tiếng chào
Chuyến xe nghèo con ngựa cũng biết đau
Bác đánh xe già chưa tỉnh ngủ
Anh thẩn thờ đi qua góc phố cũ
Chuông nhà thờ giờ này vừa đổ
Anh chấp tay lạy Chúa
Dù là người ngoại đạo
Hôm ngõ về người trước anh sau
Anh chớm biết tình đầu
Người đi quên mối tình đầu của anh ngày đó
Gác chuông nhà thờ con chim sâu nằm giấu mõ
Cánh nhỏ mềm gầy ướt sủng sương đêm đông
Bến xe trống không
Phố lạnh lòng
Sương rớt trên vai
Lê bước đi anh bỏ phố
Bên sông anh đứng chờ
Chờ nước sông lên thả sóng xô mối tình đầu xuôi chiều ra biển
Có tiếng khách gọi xe trên bến
Có tiếng con ngựa thở dài
Nhìn lại phố buổi sáng đầu đông
Bất chợt anh khóc
Nguyễn Đạm Luân
Một buổi sáng đầu đông của xứ người 2026
22 thg 7, 2026
Nguyễn Quốc Chánh: TÊN HỀ CỦA NHÀ VUA - (T.Vấn Và Bạn Hửu )
Profile of a Clown 1940-48 – Painted originally by: Georges Rouault (Nguồn: www.oceansbridge.com)
Tiếng cười kéo cái cao cả xuống, trả nó về đời sống vật chất
– Bakhtin
1
Khái niệm carnival (lễ hội hóa) Bakhtin rút ra từ các lễ hội dân gian châu Âu thời Trung cổ. Trong thời gian ấy, trật tự xã hội tạm thời bị đảo ngược.
Nhà vua bị chế giễu, giáo sĩ trở thành đối tượng gây cười, thường dân được làm những điều ngày thường không thể.
Carnival không nhằm lật đổ ngai vàng, chỉ tạo không gian, nơi những gì thiêng được kéo xuống mặt đất, trả về thân xác, tiếng cười và đời sống. Và Bakhtin gọi đó là tinh thần giải thiêng.
Giải thiêng, theo Bakhtin, không phải để hủy diệt cái cũ, mà để cái cũ có thể tái sinh. Và cũng vì không ai được độc quyền chân lý, carnival luôn là thế giới đa thanh, nơi nhiều tiếng nói cùng ồn ào thay vì chỉ một giọng của quyền lực.
Điều bị hạ thấp không phải là phẩm giá, mà ảo tưởng về sự tuyệt đối. Tiếng cười không phủ nhận quyền lực, nó chỉ “ê” một tiếng, quyền lực sực tỉnh, biết rằng bất khả sai lầm là sai.
Khi nhà vua trở thành nhân vật của tiếng cười, nhà vua vẫn còn là con người.
Bởi vậy, carnival không phải là hỗn loạn chống trật tự, chỉ là cơ chế giúp trật tự tự điều chỉnh. Khi quyền lực hoặc biểu tượng bị thiêng hóa, là tiếng cười xuất hiện như một lực cân bằng, giữ cho sự tôn kính không biến thành sùng bái.
Chính vì thế, carnival không chỉ là hiện tượng văn hóa quá khứ, còn là nguyên lý của mọi xã hội lành mạnh, khi quyền lực muốn tồn tại đều phải chấp nhận một khoảng cách giữa mình và lẽ phải.
Trong thời đại mạng xã hội, gây cười, châm biếm và giễu nhại có thể được xem là những hình thức carnival mới.
Chúng không nhất thiết đúng, nhưng vẫn thực hiện một chức năng cũ, là kéo những biểu tượng tưởng như bất khả động đến trở lại không gian của đối thoại và chất vấn.
Có lẽ vì thế mà trong mọi cung đình đều có một tên hề. Không phải để mua vui, mà để nhắc nhà vua rằng, trước khi là một biểu tượng, bệ hạ vẫn chỉ là một con người.
2
Nếu carnival là cơ chế giải thiêng quyền lực, thì bảo hoàng hơn vua là dấu hiệu cho thấy cơ chế ấy đã biến mất.
Bảo hoàng hơn vua là thành ngữ chỉ những người trung thành với học thuyết, tổ chức hay lãnh tụ đến mức cực đoan hơn cả chính người sáng lập.
Nhà lãnh đạo phải đối diện với thực tế nên buộc phải linh hoạt. Kẻ nhân danh lãnh đạo thì không biết thực tế, chỉ cần chứng minh lòng trung thành. Vì thế, họ dễ biến tư tưởng thành giáo điều và chính thống thành tín điều.
Đó là hai mặt của quyền lực. Người tạo ra lý thuyết đôi khi mềm dẻo hơn những người bảo vệ nó. Người đứng đầu muôn sống còn cần phải biết thỏa hiệp với đời sống. Nhưng Kẻ dưới lại muốn đời sống phải thỏa hiệp với lý thuyết.
Trong chính trị học, đây là hiện tượng cực đoan hóa chính thống. Lịch sử có nhiều ví dụ, trong các cuộc thanh trừng của Stalin, không ít cán bộ địa phương còn khắc nghiệt hơn chính Stalin.
Trong Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, Hồng vệ binh đi xa hơn cả những gì Mao trực tiếp yêu cầu. Trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam, có những người sẵn sàng tố cả cha mẹ.
Điều đáng sợ không nằm ở sự trung thành, mà ở chỗ không còn ai dám cười quyền lực.
Khi tiếng cười biến mất, mọi nghi ngờ đều bị coi là phản bội, mọi phản biện đều bị xem là chống đối và mọi lời ca ngợi đều được coi là lập trường kiên định.
Quyền lực từ đó không còn được hiện thực điều chỉnh, mà bị tiếng vọng rùm beng của nịnh nọt trùm lấp.
Nếu carnival kéo nhà vua xuống đất, thì bảo hoàng hơn vua lại nâng nhà vua lên mây.
Từ con người, bệ hạ trở thành biểu tượng. Từ biểu tượng, trở thành tín điều và khi, tín điều không còn bị chất vấn, quyền lực cũng mất luôn khả năng đàn hồi.
Có lẽ mọi quyền lực đều sợ đối lập. Nhưng điều nguy hiểm hơn đối lập lại là sự trung thành tuyệt đối.
Bởi đối lập buộc quyền lực phải tự xem xét mình, còn sự trung thành tuyệt đối khiến quyền lực tin rằng mình không bao giờ sai.
Đối lập có thể làm quyền lực suy yếu, nhưng chính sự trung thành tuyệt đối mới khiến quyền lực mù lòa.
3
Carnival, bảo hoàng hơn vua và tên hề của nhà vua, thực ra là ba mặt của cùng một vấn đề, là quyền lực đối xử với chính nó như thế nào.
Carnival là lúc quyền lực chấp nhận bị kéo xuống để, biểu tượng còn nhớ mình sinh ra từ đời sống.
Bảo hoàng hơn vua là lúc quyền lực bị đẩy lên, đến mức mọi nghi ngờ đều bị xem là phản bội.
Còn tên hề của nhà vua là người giữ khoảng cách giữa quyền lực và sự thần thánh hóa, nhắc nhà vua rằng, không ai sở hữu toàn bộ lẽ phải.
Khi quyền lực không còn soi mình qua hiện thực, mà qua những tiếng vỗ tay. Đó là lúc nó bắt đầu tin rằng mình chính là chơn lý.
4
Nếu carnival là lễ hội giải thiêng diễn ra theo mùa, thì tên hề của nhà vua là cơ chế giải thiêng mỗi ngày trong lòng quyền lực.
Một thiết chế đặc biệt của các triều đình châu Âu thời Trung cổ là yếu tố hề. Vai trò của hắn không chỉ để mua vui, mà để nói điều không ai dám nói.
Dưới vỏ bọc hài hước, hắn có thể chế giễu nhà vua, phơi bày những nghịch lý của triều đình và nhắc quyền lực về giới hạn của chính nó.
Trong văn hóa phương Tây, tên hề trở thành biểu tượng của sự thật đứng ngoài quyền lực nhưng được quyền lực chấp nhận tồn tại.
Không phải vì nhà vua yêu thích tiếng cười, mà vì một nhà vua khôn ngoan, hiểu rằng quyền lực không thể chỉ soi mình bằng những lời ca tụng.
Trong Vua Lear của Shakespeare, chính tên hề là người nhìn thấy sự điên rồ của nhà vua trước tất cả các đại thần.
Những người mang chức tước chỉ biết nói điều vua muốn nghe. Nhưng chỉ tên hề mới dám nói điều nhà vua cần nghe.
Tiếng cười, vì thế, không đối lập với lẽ phải, nó là cách sự thật bước vào quyền lực mà không mang hình dạng một mệnh lệnh.
Có thể tóm lại bằng một câu: bảo hoàng hơn vua là kẻ nói leo quyền lực, còn tên hề của nhà vua là kẻ nói sự thật với quyền lực.
Một bên làm quyền lực cứng lại, một bên giữ cho quyền lực còn khả năng tự sửa chữa.
Một bên biến tư tưởng thành giáo điều, bên kia giữ cho tư tưởng còn khả năng đối thoại với đời sống.
Bởi vậy, báo chí độc lập, nghệ thuật phản biện và trí thức tự trị không nhất thiết là đối thủ của quyền lực.
Trong nghĩa đẹp nhất, họ chỉ là những “tên hề của nhà vua”.
5
Nếu thời Trung cổ, tên hề là người được phép nói điều không ai dám nói thì ngày nay, vai trò ấy phần nào được thực hiện bởi báo chí độc lập, nghệ thuật phản biện và trí thức tự trị.
Nhiệm vụ của họ không phải lúc nào cũng đúng. Họ cũng có thể sai, có thể thiên lệch, có thể bị định kiến chi phối, nhưng giá trị của họ không nằm ở chỗ luôn đúng, mà ở chỗ họ giữ cho đối thoại không bị thay thế bằng sự đồng thanh lên ngôi.
Một xã hội không thiếu những người nói đúng, mà thường thiếu những người dám nói khác.
Ở nghĩa đó, nghệ thuật không chỉ tạo ra cái đẹp, báo chí không chỉ đưa tin, trí thức không chỉ sản xuất tri thức. Mà họ cùng thực hiện một chức năng sâu xa hơn, là ngăn quyền lực đồng nhất mình với sự thật.
Đó cũng là lý do vì sao những xã hội tự tin thường không sợ tiếng cười. Họ hiểu rằng, điều làm suy yếu một thiết chế không phải là khả năng bị chế giễu, mà là sự mất khả năng tự chế giễu.
Khi tiếng cười biến mất, khoảng cách giữa quyền lực và lẽ phải cũng biến mất. Và khi ấy, mọi lời phê phán đều bị xem là phản bội, còn mọi lời ca ngợi đều được xem là trung thành.
Có lẽ, đó là bài học mà carnival để lại cho thời hiện đại. Một nền văn minh không đo bằng số tượng đài nó dựng lên, mà bằng số tượng đài nó còn cho phép bị chất vấn.
Một quyền lực còn chấp nhận tiếng cười, nó vẫn còn cơ hội tự đổi mới. Khi quyền lực chỉ còn nghe tiếng vỗ tay thì đã bắt đầu chống gậy.
Hơn thế, dù là chơn lý, một khi bị sở hữu, cũng sẽ biến thành con chó cưng của quyền lực.
Quyền lực mạnh nhất không phải quyền lực không bị cười, mà quyền lực vẫn vững vàng sau khi đã bị cười.
Chắc vì vậy, mà có tới 18 đời Hùng Vương.
Nguyễn Quốc Chánh
Vũng tàu 16/7/2026
*Bài do CTV/TVBH gởi.
21 thg 7, 2026
Áo Má Tôi - Thuyên Huy
Từ quê lên trường tỉnh, năm đệ Thất, má ít khi lên đón tôi về, ở ký túc xá nên bà không phải lo chuyện ăn chuyện ở, thứ Bảy cùng mấy đứa bạn chung lớp, theo mấy anh lớn, cũng ở làng xã quê xa, chung đường về nhà, đứa xuống trước chỗ này, đứa xuống sau chỗ kia, xế trưa chủ Nhật má đưa tôi ra đón xe ngoài đường lộ, vậy thôi, cứ ngày này qua tháng kia.
Ngày bải trường, nghỉ hè cuối năm, năm đệ Thất, má đón chuyến xe đò nhỏ đầu ngày, lên tỉnh từ sáng sớm, mặt trời Hạ rực nắng lên nhà xóm chài bên này sông, má khiêm nhượng đứng nép mình ở gốc cây phượng già bên kia đường, xế chỗ cổng trường một khoảng xa, chỗ ngày đầu bà đưa tôi lên học. Chuông tan trường reo lên vang rân, chen đám đông nghẹt học trò, túa ra như bầy ong vỡ tổ, tôi chạy nhanh ra tìm má, nắm tay bà cười thành tiếng.
Tiếng đám học trò nhà ở tỉnh, cười giỡn, xúm xích với gia đình, nào xe hơi, xe gắn máy, áo quần người nào người nấy thẳng thốn lụa là, cách đó không xa. Bất chợt nhìn má, cũng cái áo bà ba sờn tím bạc, cái quần đen ngã màu bùn che chưa trọn gót, cũng đôi dép Nhật cũ, bộ đồ đã mặc khi đưa tôi lên tỉnh đầu năm học, tự dưng thấy có chút buồn nhè nhẹ, đâu đó trong lòng khó tả, khác hẳn những năm còn nhỏ ở trường làng, tôi vô tư không nghĩ gì. Xe đò tới, lên xe rồi, nhìn lại đám người phía sau, rồi nhìn má, tôi thì thầm “má tôi”.
*
Nhà nghèo, ba mất sớm, từ hồi chưa lên năm, bà con nội ngoại không thấy ai, chưa một lần nghe má nói tới hay nhắc đến. Còn lại hai má con, vui mà sống ở căn nhà mái tôn vách đất, nằm cuối ấp chợ, bên lề con đường đất đi xuống bờ nhánh sông nhỏ, không có bến đò, băng ngang qua cánh đồng cỏ lớn, nơi dân làng thường thả cho trâu bò ăn cỏ.
Má làm công nhân cạo mủ cho cái sở cao su lớn, cách nhà độ chừng ba bốn cây số, sáng sớm, trời còn mờ mờ sương đã đạp xe đí, má đem gởi tôi bên nhà ông bà bác sáu Thịnh, bên cạnh, có sạp bán bánh bán xôi trong chợ, nhà không có con, và thương tình cảnh mẹ góa con côi, thường hay giúp đở má tôi nhiều thứ, trong nhiều thứ đó, có tiền, nhất là tiền cho tôi đi về khi lên tỉnh học, số tiền đó má từ từ trả lại, hai ông bà ít khi đòi, ông bà thương tôi lắm, từ sở cao su về trưa chưa kịp thì đã lo cho tôi ăn tôi uống rồi.
Trừ thứ Bảy chủ Nhật, ngày đi làm má về nhà lúc giữa trưa một chút, nên rảnh cả buổi chiều, má qua phụ ông bà bác sáu chuyện nấu xôi hay làm bánh. Tôi đi học trường xã, má thức sớm hơn, cho tôi ăn, khi thì xôi của ông bà bác sáu Thịnh cho, hay cơm nguội khoai lang, như những năm qua, dẫn tôi qua bên bển chơi, chờ trống trường vào học, rồi đạp xe đi làm. Tôi quen dần với chuyện này từ những năm đó.
*
Năm đệ Tứ, vào học không lâu, được thằng bạn thân, con nhà giàu cùng lớp, giới thiệu tới làm phụ bưng chén, bưng tô cho khách, vài tiếng đồng hồ mỗi chiều tan học về, tại tiệm cơm đông khách của người dì bà con hắn ta. Làm như vậy, vài tháng sau, trước ngày nghỉ Tết năm đó, buổi chiều tan học, có chút đỉnh tiền, tôi ra tiệm vải trong nhà lồng chợ tỉnh, mua hai sấp vải màu, áo tím đậm màu trái cà, quần đen tuyền màu mực, để đem về làm quà năm mới cho má.Trên đường đi bộ từ chợ về ký túc xá, cười vui như trúng số, ước mơ một ngày có được của tôi đã thành sự thật.
Vậy đó, mấy mùa Tết năm sau, thấy má không mặc áo mới, không dám nhưng có đôi ba lần, lần lựa rồi e dè, hỏi sao má chưa may quần áo mới, má cười bảo chưa cần, khi nào may tôi sẽ biết ngay, má con tôi ăn Tết, nói ăn Tết cho vui, chứ nhà nghèo, mưa dầm lầm lũi, vui buồn với đám cây cao su tối mù, hết xuân rồi đông, có mâm cơm, nồi thịt kho mua trễ thêm hai ba cái hột vịt, trái dưa hấu ông bà bác sáu Thịnh cho và gói thèo lèo cứt chuột, cũng đủ để nhà có tiếng cười rồi, thương má, năm nào tôi cũng để dành chút tiền, quà cho má mà không cần má cho lại, nhìn cái bao đỏ, lần nào cũng vậy, thấy mắt má đỏ hoe mà thương má không biết nói sao cho vừa.
*
Hai má con ngồi ăn bánh mì, với mấy lát thịt đồ hộp của Mỹ mà tôi mua từ chợ Cũ Hàm Nghi Sài Gòn, với số tiền dành dụm từ những ngày làm ở quán cơm bà dì của anh bạn học nhà giàu, hôm đi xem kết quả Tú Tài Một về, sau chái hiên nhà, bên cạnh mâm cơm cúng ba, mâm cơm báo tin tôi thi đậu, buổi chiều còn nắng, má mừng khôn xiết, giờ thì bà bảo tôi , bà chờ ngày này từ mấy năm rồi, ngày mai má sẽ may quần áo mới, vừa nói vừa cười, chút vạt nắng tím hồng chiều còn sót lại, lùa ngang phớt qua, trên đầu bà những sợi tóc thưa bạc màu sương khe khẻ đong đưa, vui lây.
*
Hôm đưa tôi ra đường, chờ đón xe lên tỉnh tựu trường đầu năm đệ Nhất, má mặc chiếc áo bà ba màu tím trái cà mới. Lên xe, xe chạy một khoảng xa, nhìn lại, nhớ chiếc áo bà ba tím cũ bạc màu của má, tôi rươm rướm khóc.
Thuyên Huy
Viết lại để tưởng là mình có mẹ




.jpg)
