17 thg 6, 2026

Chữ nghiã làng văn Kỳ 15/6/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Chữ nghĩa làng văn


***


Chữ Việt cổ


Mạ: mắng nhiếc, chửi bới 

(thóa mạ, nhục mạ)


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Ăn trông nồi, ngồi trông người bên cạnh


Câu đối


Ruồi đậu mâm xôi đậu
Kiến bò đĩa thịt bò.
chữ đậuchữ bò trên là động từ, dưới là danh từ.


Góp nhặt cát đá


Mộng


Một hôm mộng thấy :
- Nợ nần bủa vây
- Bệnh hoạn tật nguyền
- Tai họa triền miên...


Giật mình tỉnh giấc: ta vẫn là ta


Chữ Việt cổ


Mạo: mặt mày, hình trạng 

(tướng mạo)


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...


Theonhiều tài liệu, vào đầu thế kỷ XX, phươngtiện giao thông của cả miền Đông Nam bộ chỉcó khoảng năm ba chiếc ô tô (lúc bấy giờ gọilà xe điện), chạy các tuyến đường SàiGòn – Chợ Lớn, Sài Gòn – Hóc Môn, Sài Gòn – Thủ Dầu Một.Đó là những chiếc xe đò còn rất thô sơ,nhưng chỉ những người quyền quý, có tiềnmới dám sử dụng. Còn đa số dân lao độngthường đi bộ, khá hơn thì đi xe thổ mộ,nhất là khi có hàng hóa cần phải chuyên chở thườngphải dùng đến loại xe ngựa này. Vì vậy, xethổ mộ có cơ hội phát triển nhanh. Các cơ sởđóng xe ngựa và nuôi ngựa đã sớm đượchình thành và cũng hình thành luôn cả một độingũ chuyên làm nghề đánh xe ngựa. Tuy xe ngựađã xuất hiện nhiều nơi ở Nam bộ,nhưng vào thời ấy cả vùng Đông Nam bộ chỉcó vài ba nơi có khả năng sản xuất đượcchiếc xe ngựa và thường dùng loại phươngtiện này là ở Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Dầu Mộtvà Lái Thiêu. Hai trong 4 địa danh ấy nằm trên địabàn tỉnh Bình Dương ngày nay; Điều đó cho thấy,xe thổ mộ thời xa xưa đã rất phát triển ở BìnhDương. Người ta vẫn gọi xe sản xuấttại đây là xe Thủ Dầu Một để phân biệtvới xe nơi khác. Hơn thế, trong việc truyềnmiệng trong dân gian, nhiều người còn tin rằng chợThủ, chợ Lái Thiêu là cái nôi đầu tiên sản sinh ra chiếc xe “thùng Thủ”, tức làchiếc xe ngựa - xe thổ mộ đã nói trên.


Nhiều cụ già làng đất Thủ cho rằng ở các vùng Tương Bình Hiệp, Tân An, Hiệp An, Phú Cường cón hiều cơ sở đóng thùng xe rất đẹp, bền chắc và trang nhã. Còn nơi làm bánh xe, trục xe bền chắc hơn cả là vùng Thuận Giao, An Thành vì nơi đây có nhiều thợ rèn lành nghề.


(Hiếu Học - Hoàng Anh)



Bến Tre


Trường hợp hình thành tên gọi Bến Tre thật đặc biệt, vì đó là sự gán ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Việt. Xưa kia người Khmer gọi nơi đó là Srok Treay – srok là xứ, treay là cá. 


Sau người Việt thay chỗ người Khmer đến sinh sống làm chủ chốn đó, biến chữ srok thành Bến nhưng chữ treay không dịch là mà phát âm theo tiếng Khmer thành Tre


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Mời ăn trầu

Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.

hoxuanhuong13

Cái hay cái dở ở thơ Bùi Giáng


Còn với Phan Nhiên Hạo: " (…) biết rõ, ngay từ lần đầu tiên đọc Bùi Giáng, tôi không thích văn chương ông. (...) và tôi không chịu được dịch thuật của ông. Thơ ông làm theo những thể điệu cũ, vừa trong sáng nhưng cũng vừa cầu kỳ, giọng điệu vừa đùa cợt lại vừa trịnh trọng, và phảng phất một không khí cổ. 

Còn dịch thuật, phải nói ông phóng tác thì đúng hơn. Mà phóng tác như viết kiếm hiệp. (…) kiểu văn chương "phiêu bồng" của Bùi Giáng dường như ở quá xa mặt đất đối với tôi." Trang lứa đàn em Phan Nhiên Hạo bây giờ, chắc sẽ dành hàng giờ để sục xạo các mạng hơn là đọc những trang văn Bùi Giáng nửa đùa nửa thật, nửa thấp nửa cao. 


Nên tôi giật mình trước chi tiết Nguyễn Hữu Hồng Minh đưa ra: "Bùi Giáng rất hay nổi điên khi có một người nào truy bức ông đến cùng. Cho dù đó là thi ca hay học thuật. Tôi cho rằng ông tránh các cuộc va chạm nảy lửa và tàn khốc ấy với hai lý do: Một, cuộc đời ông quá đủ đầy như một minh chứng; và hai, ông không muốn tái lặp lại bất cứ một đặt đề, một định đề nào cho nghệ thuật".


Phải chăng chính tiên sinh nhận ra, hơn ai hết, chất lỏng lẻo, bất nhất, tang bồng trong các áng văn thơ đó và ngài ngại bị chất vấn đến cùng? Hay vì ngài là cái nòi không muốn đặt đích cho công việc, nên không chịu trước tác "thẳng lối ngay hàng" để có các trang bài mà Phan Nhiên Hạo trông chờ? Nền văn nghệ, văn hóa miền Nam 1954-1975 với đặc thù của mình đã sinh ra được vài kỳ nhân. Xã hội Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua, chưa ở đâu có được những Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Phạm Công Thiện như vậy. Những "thiên thần" đó đều có... "ma quỷ" trong mình.

(Đỗ Quyên)


Đừng tưởng 


Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. 

Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

(Bùi Giáng)


Làm báo văn học ở hải ngoại 


Những tình cờ định mệnh

Vào khoảng năm 1989 (nếu tôi nhớ không lầm) chị Nguyễn Mộng Giác cùng các cháu từ Việt Nam sang. Để có đủ thì giờ lo cho gia đình, anh Giác giao lại tờ Văn Học do anh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút cho ba anh Trịnh Y Thư, Cao Xuân HuyHoàng Khởi Phong. Ba ông chủ mới của tờ Văn Học có tài viết lách song lại thiếu... tài làm đẹp những trang chữ. Nghĩa là phải cần thêm một anh "chuyên trị" phần hình thức cho tờ báo. Trong đám "sinh hoạt chữ nghĩa" ở quận Cam, hình như tôi có tí khả năng, được ba ông vời về, gắn lon "giám đốc mỹ thuật". Báo Văn Học không có quảng cáo, sống hay chết hoàn toàn nhờ vào độc giả. Mà độc giả ở hải ngoại vốn đã ít, lại càng ít thêm theo thời gian. Tờ nào trụ được không phải bù lỗ đã là may mắn, nói gì đến chuyện thù lao cho những người thực hiện!


Cũng như Tay Phải của Du Tử Lê, thỉnh thoảng Văn Học đói bài. Đệ nhất, đệ nhị chủ bút Trịnh Y Thư, Hoàng Khởi Phong lười viết, tổng thư ký Cao Xuân Huy lo đánh máy bài vở, không có thì giờ. Nhìn quanh, chẳng còn ai, thế là nhị vị chủ bút bèn dõng dạc ra lệnh: "Số này còn thừa 10, 15 trang, KT viết cái gì đi!" Từ việc viết lách.. sang lĩnh vực văn chương chữ nghĩa nghiêm túc, hẳn nhiên khác nhau như trăng với đèn. 


Trước đó, và trong thời gian cùng anh em coi sóc tạp chí Văn Học, tôi đã quan niệm văn chương là cái của muôn đời. Chế độ nào, chủ nghĩa nào rồi cũng sẽ tàn lụn với thời gian, duy văn học nghệ thuật sẽ còn đó, mãi mãi, nếu thực sự đó là những sáng tạo giá trị. Vì vậy, tôi chủ trương nên mở rộng cửa tiếp nhận tất cả mọi thành tựu, của thế giới, nói chung, Việt Nam, nói riêng, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, càng không băn khoăn tìm hiểu vị trí xuất thân của người đã khai sinh ra tác phẩm. Mặc kệ ông ta (bà ta) là nhà văn, nhà thơ của Việt Nam Cộng Hòa xưa kia, hay của "thế giới lưu vong" hôm nay, hay của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bây giờ. Một hai trăm năm nữa, người đọc sẽ chẳng bao giờ thắc mắc như chúng ta đang thắc mắc. Vậy, vấn đề chỉ giản dị: tác phẩm ấy hay hoặc dở. Xứng đáng nằm trang trọng trên các trang báo Văn Học, hay chỉ nên ném vào sọt rác. Thế thôi. Và chỉ thế thôi.


(Khánh Trường)


Mộng


Rồi đây ta cũng bỏ ta
Có không không có cũng là phù du.


Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.


Minh Thùy: Trong số các nhà văn nữ miền Nam trước 1975 hiện giờ còn sống trong nước như chị Nguyễn Thị Hoàng, chị Thụy Vũ thì không viết nữa, trừ có mình chị vẫn tiếp tục viết thì theo chị văn phong của chị hiện nay so với trước kia có khác gì không ?

Trần Thị NgH.: Tôi không chắc chị Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng không viết. Có thể các chị không đưa ra tác phẩm đến bạn đọc chứ tôi nghĩ các chị ấy không ngừng viết. Sau 75 chị Nguyễn Thị Hoàng xuất bản một quyển khá dày, khoảng hơn 500 trang, có tựa là Nhật Ký Im Lặng.

Chỉ chừng đó thôi đã đủ cho tôi nghĩ các chị vẫn viết. Riêng bản thân tôi không thể nào không viết, vì khi đã vận vào người trò chơi chữ nghĩa thì khó có thể ly dị với nó được. Tuy nhiên viết phải có người đọc cũng như hát phải có người nghe. Do đó thỉnh thoảng tôi lại gửi truyện đi, chẳng qua là để bạn bè đọc với nhau và được nhận báo biếu.


Minh Thùy: Sau này chị có xuất bản thêm tác phẩm nào không ?

Trần Thị NgH.: Năm 75 có tập truyện ngắn Những Ngày Rất Thong Thả do nhà xuất bản Trí Đăng in xong chưa kịp phát hành. Sau 75 thì mãi tới năm 1999 mới có tập Truyện ngắn Trần Thị NgH. của nhà xuất bản Văn Nghệ ở California.

Năm 2000, do đề nghị của anh Nguyễn Tiến Văn ở Toronto, truyện dài Lạc Đạn và 10 truyện ngắn được xuất bản. Đại khái tạm gọi sự nghiệp văn chương chỉ có một nhúm vậy thôi.


(Minh Thùy phỏng vấn)


Mộng


Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy


Đã chiều muộn. Tiệm đông dần lên và bắt đầu nhạc nhọt. Huy nói căn phòng của ông già anh ngay kia, nhưng để bữa khác mời qua chơi, bữa nay mình kiếm chỗ nào. Mà hay nhất là được chỗ còn lưu dấu Hà Thành năm 54. Biết một chỗ như vậy, tôi chạy xe máy chở anh tà tà dọc Phố Huế, Hàng Bài, vòng quanh Bờ Hồ. Rồi dừng ở nhà Thuỷ Tạ. Đa phần người ta đến đấy giải khát, kem que kem cốc, nhưng ở đấy cũng có quầy rượu. Huy nói tửu lực xuống nên bấy lâu chỉ bia, song bữa nay, giữa Hà Nội, bên hồ Gươm, thì đúng là phải thứ gì nặng ký, để tụi mình, thuở nào nón xanh mũ cối giờ đây đầu bạc thù tạc coi sao. Chúng tôi gọi một chai và ra ngồi ở bàn kê bên lan can kề mép nước. Thật may, Thuỷ Tạ tối ấy thưa khách, như là chỉ có hai chúng tôi với mặt hồ.


Mỗi khi có bạn từ trong Trung trong Nam tôi thích rủ ra Bờ Hồ, làm vài ly và ngồi ngắm cảnh, như là một nếp quen mà cũng là ẩn chút niềm tự hào của người Hà Nội đối với người phương xa. Nhưng mà Cao Xuân Huy phải đâu người phương xa. Năm 54 anh đang ở Hà Nội, tôi thì tận trong Vinh. Đình chiến, anh vào Sài Gòn, tôi ra Thủ Đô. 

Ngược chiều nhau và đối nghịch nhau, chỉ có điều, vào cái năm cắt đôi đất nước ấy chúng tôi mới là hai đứa bé, tôi 2 tuổi, Huy 7 tuổi. Tôi theo cha mẹ, Huy theo người cậu.


Giờ đây, ngồi bên nhau, cạch ly, chúng tôi  chuyển xưng hô, không anh tôi nữa, mà ông tôi. Anh hơn tuổi, nhưng năm đó chưa là Huy " râu " như về sau này, còn tôi tuy năm mươi mà đã tựa sáu mươi  nên coi như ngang bằng. Thoạt tiên, bởi tôi hỏi thăm nên anh kể tôi nghe về đời sống và sức khoẻ của nhà văn Khánh Trường, về công việc, sự phát triển xuống lên thăng trầm của tờ Hợp Lưu. Nhưng kể sơ thôi, những gì không biết anh nói không biết. Tôi thích những người có cái đức đối ẩm bạt thiệp kiểu như anh. Không nửa vời, sẵn sàng la đà tới bến, nhưng chậm rãi, nhâm nhi, bình thản, không xỉn, không xỉn lộ ra trong hình dong và cử chỉ, nhất là không bao giờ xỉn ra nơi đầu lưỡi.


(Bảo Ninh)


Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh. Từ 1984-1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du. Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997.

Tác phẩm : Nỗi buồn chiến tranh


“Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” hay lịch sử bị chối bỏ?


Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo khi còn tại thế từng thốt lên rằng “Cho đến bây giờ chưa ai vượt được Trương Vĩnh Ký về pháp ngữ tiếng Việt viết bằng tiếng Pháp.”


Theo học giả Nguyễn Đình Đầu, các tài liệu của Trương Vĩnh Ký bằng tiếng Việt hoặc tiếng Pháp đều căn cứ trên di sản văn hoá chính thức của Việt Nam.
“Trương Vĩnh Ký luôn chủ trương người Việt phải dùng chữ Việt. Người Việt Nam phải dùng tiếng Việt để nói tiếng Việt; và muốn được sâu sát nữa về phương diện triết học, sử học và di sản văn hoá dân tộc thì phải biết chữ Hán nữa.”
“Tuy hợp tác với Pháp nhưng vẫn là giữ tinh thần quốc gia, tức tinh thần yêu nước, lúc đó là trung thần với ái quốc. Vì thấm nhuần tinh thần Thiên chúa giáo và tây phương nên thấm nhuần tinh thần dân chủ, nhưng vẫn giữ được cốt cách của Việt Nam.”

Những phẩm chất, tinh thần văn hóa dân tộc của Trương Vĩnh Ký được học giả Nguyễn Đình Đầu và sự cộng tác của nhiều dịch giả khác đặt trọn trong công trình “Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ”. Thế nhưng, xu thế khách quan về một nhân vật của lịch sử đã không được phép giới thiệu đến hậu thế, như luật sư Lê Luân đã viết trên trang nhà của mình: “Nhưng nhân vật ấy cho đến lúc này, khi vừa mới có cơ hội được trở lại với lịch sử thì cũng ngay lập tức đã bị ngăn trở lại một cách dứt khoát và quyết liệt đến ngỡ ngàng trước những sự phẫn nộ của nhiều người dân mà đã biết sự thật về ông.”


(Cát Linh RFA)


T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn” - 1


Năm 1969, ở miền Nam, thi-văn sĩ Nguyễn Vỹ vốn là người đã ra làm báo trước 1945 ở Hà Nội- là bạn của Thâm Tâm, đã viết đến 15 trang (từ trang 253 đến trang 267) trong “Văn-Thi-sĩ tiền chiến” (Nxb Khai Trí -1969) kể lại khá tỉ mỉ một chuyện tình: 

Khoảng tháng 2/1936, lúc bấy giờ Thâm Tâm là thi sĩ kiêm họa sĩ (họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình). mới 19 tuổi làm quen với cô gái tên Trần Thị Khánh 17 tuổi, nhà ở phố Sinh Từ, Hà Nội nơi vốn được trồng nhiều antigone (hoa ti gôn). Nhà cô Khánh cũng gần vườn Thanh (Thanh giám: miếu thờ Khổng Tử được xây từ thời nhà Lý, lúc bấy giờ ngoài tênTemple de Confucius Pháp vẫn hay gọi nơi này là Pagode des corbeaux - chùa Quạ). 


Thâm Tâm hò hẹn tại nơi đây được hai lần thì cô Khánh bỏ đi lấy chồng - một người chồng giàu có - khiến Thâm Tâm rất đau khổ. Để đỡ niềm yêu nhớ đơn phương, bớt mặc cảm vì bị người yêu phụ rẫy và cũng để làm cho mấy người bạn khỏi chế nhạo, đùa bỡn, chính Thâm Tâm đã thức suốt một đêm làm bài thơ Hai sắc hoa ti gôn rồi nhờ một cô em họ, con của một bà cô ở phố Cửa Nam chép bằng nét chữ con gái, bỏ vào bì niêm kín mang đến gửi tại tòa soạn Tiểu  thuyết thứ bảy.

 

Trong những trang sách này, Nguyễn Vỹ cũng đã khẳng định chắc chắn rằng Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả!” . Tất cả những bài thơ kí tên T.T.Kh. đều do Thâm Tâm làm và gửi báo.

Đọc kỹ những trang viết của Văn-thi-sĩ tiền chiến, ta hình dung được đây là những kỉ niệm kể khá chân thực qua hồi ức nhiều năm tháng của một đời làm báo. Tiếc một điều Nguyễn Vỹ, bạn thân của Thâm Tâm đã ra đi bởi tai nạn xe ở Long An năm 1971 hôm nay không thể cùng ai để bàn luận chuyện này nữa.


(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Nói lái trong nước 

Củ không đứng vì cứng không đủ


T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn” - 2

 

Đến 1970, Vũ Bằng trên tạp chí Văn số 103 lại đột nhiên công bố những điều mới, làm xôn xao dư luận: T.T.Kh. chính là nhà thơ J.Leiba (Lê Văn Bái) lúc bấy giờ bị lao phổi, đang chán đời bèn cùng với Vũ Bằng giả cách làm thơ rồi kí tên T.T.Kh. để làm trò vui, giải sầu…Mã Giang Lân cho rằng Vũ Bằng chỉ là người giỏi bịa chuyện. Nhà văn Thanh Châu cũng nhận định tương tự: “Những ai đã từng làm báo với họ Vũ cũng đều thuộc "ngón" làm ăn này… Leiba là lớp trước Thâm Tâm, không quen biết gì nhau. Đây chỉ là cách làm báo phao tin "giật gân" cho chạy báo…”. 

 

Đến năm 1989, nhằm trả lời câu hỏi T.T.Kh. là ai? Hoàng Tiến viết 2 bài; riêng bài trên báo Nhân dân chủ nhật ngày 23/ 7 đã nêu chứng cớ với người thật-việc thật như sau: “…Số là vào dịp hội đền Bà Tấm năm nay (Kỷ Tỵ, 1989), chúng tôi rủ nhau sang Phú Thụy dự hội. Cùng đi có nhà thơ Lương Trúc, năm nay đã 74 tuổi (tên thật là Phạm Quang Hòa), bạn thân với các nhà thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân. Nhà thơ Lương Trúc là người cung cấp tư liệu, và tất nhiên ông sẽ sẵn sàng chịu trách nhiệm về họ tên tác giả Hai sắc Hoa ti-gôn được công bố dưới đây. Cùng nghe hôm đó với tôi có nhà thơ Trần Lê Văn và nhà thơ Tú Sót:

T.T.Kh. tên thật là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm. Hai người yêu nhau, nhưng biết không lấy được nhau, hẹn giữ kín mối tình, để đỡ phiền đến gia đình của nhau sau này. Cô Khánh đọc Tiểu thuyết thứ bảy in truyện ngắn Hoa ti-gôn của Thanh Châu (số tháng 9-1937) xúc động, tự thổ lộ câu chuyện riêng bằng bài thơ Hai sắc hoa ti-gôn và gửi đăng Tiểu thuyết thứ bảy. … Nay được biết T.T.Kh. về sống ở Thanh Hóa đã bốn năm nay, không biết bây giờ bà con hay mất, nhưng cứ xin phép cho chúng tôi được công bố điều bí mật trên…”

 

Vậy là Hoàng Tiến tuy đồng ý với Nguyễn Vỹ về mối tình giữa Trần Thị Khánh với Thâm Tâm nhưng lại cho rằng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” là do chính cô Khánh làm mang gửi báo.


(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Bướm chim là chuyện đời thường

Chim bay, bướm lượn vấn vương suốt đời


Phố Hàng Đào


Từ Hàng Giấy xuống hết Hàng Đào, ngang Hàng Bồ lên cổng Đục, sang Hàng Bạc ra hẻm Phất Lộc, các phố các ngõ trơ trụi không một bóng cây – trừ mỗi cây đa cửa miếu trong Ngõ gạch. Hai bên hè, đen nhẻm cột dây điện, tàu điện, nắng chang chang vàng rực đường. Người xách ấm nước vối, nước gạo rao ời ợi. Màn che cửa các nhà bên này đường tỏa xuống lùng nhùng trên đầu người đi. Người qua lại nhốn nháo dưới hiệu Tây đen bán vải màn cửa sòng sọc đỏ. Hiệu thuốc người Tàu có gương hình soi lùn người, cái màn màu lục. Các nhà buôn ta, sọc xanh, trắng vàng. Tàu điện Bờ Hồ lên từ từ giật chuông “keng ầm” như con trâu nghé ngọ qua giữa phố đông


(Chuyện cũ Hà Nội – Tô Hòai)


Lý Long Tường


1905, Lê Dư Sở Cuồng là người đầu tiên phát hiện ra dòng họ Lý, hậu duệ của Hoàng tử Lý Long Tường, con thứ của vua Lý Anh Tông vượt biển qua Cao Ly.


Phở


Năm 1964 mở màn cuộc chiến tranh chống Mỹ khốc liệt ở miền Bắc đã khoác cho phở một diện mạo đặc biệt. Do sự xuất hiện loại máy bay do thám không người lái của Mỹ mà người đời sáng tạo nên cụm từ “phở không người lái”, món đặc sản của một thời bom đạn. Nghe nó ngộ nghĩnh, hài hước xong xét về nghĩa đen là rất chuẩn. Cái thủa ăn “phở không người lái” để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm khảm nhiều thế hệ người Việt.

 

Trong hàng phở độn tiết kiệm thời chiến tranh lại có kiểu độn mà sau khi qua thời gian khó vẫn được bảo tồn và trở thành “mốt mới” được nhiều thực khách chấp nhận: phở quẩy (dầu cháo quẩy của Tàu) Những mẩu quẩy giòn được bẻ bỏ vào bát phở hút nước dùng béo thơm ngon đáo để, dù giới sành phở không bao giờ chấp thuận kiểu ăn uống xô bồ làm mất đi cái vị ngon cao quý của “món ăn Vua” mà họ luôn tôn sùng.


(Nhiều tác giả)


Văn hóa ẩm thực


Thịt cầy Sài Gòn: 36 nẻo


Đĩa luộc thường là món khởi đầu, nên chuyện ngon dở của nó rất được quan tâm, với lại do thịt không bị tẩm gia vị nên mùi vị và độ 'tơ' của miếng thịt rất dễ nhận ra. Giữa hàng trăm quán tại Sài Gòn, hệ thống quán có tên thịt cầy Nam Định thường có bí kíp riêng để làm đĩa luộc, thịt ngọt mềm và chén mắm tôm rất đặc biệt. Tuy nhiên, về chất lượng chung thì có những khu vực chuyên gia hơn như Hà Nội Phố gần cầu Thị Nghè và Sở Thú, khu Nam Định ở Cống Quỳnh đối diện báo Thanh Niên, khu Hai Mơ và Nhật Tân ở cạnh ray xe lửa trên đường Lê Văn Sĩ, khu Chương Dương ở Luỹ Bán Bích, Tân Bình... 


Ngoài ra, cũng có những quán nổi tiếng đứng riêng rẽ như Quốc Huy trên đường Nguyễn Thị Thập quận 7, quán Nhật Tân ở trên đường Độc Lập quận Tân Bình, quán Nam Định trên đường Đinh Bộ Lĩnh, gần bến xe miền Đông, và một số quán ở khu vực chợ Ông Tạ, đường Phạm Văn Hai, đường Cộng Hoà… Các quận vùng ven, khu dân lao động thì nhiều quán [bình dân] hơn, nhưng gần như, không có quận nào là không có các 'vương quốc 9 món'. Nhiều quán không tạo được cho mình bản sắc từ đĩa luộc, nhưng lại sành điệu về chả chìa như quán Lá ở làng Đại học Thủ Đức, xáo măng ở quán Tiểu Nam Định trên đường Nguyễn Suý, hay đi động nướng tại quán 555 Gốc trên đường Vườn Xoài…

Kế đến món luộc, mỗi người thường chọn cho mình một 'khoái khẩu' riêng, có người chọn nướng vì muốn ăn thịt chó uống bia, có người chọn chả chìa vì không muốn nặng bụng lại có thể uống nước ngọt, có người chọn rựa mận để ăn kèm bún, có người chọn di động chiên vì một cái thì đủ cho cả cuộc rượu, có người chọn xáo măng hay lẩu cho nhiều người, để được ăn thêm bún. Còn rượu, thường có khoảng 10 loại để chọn, nhưng đế Gò Đen và nếp Bắc là bán chạy nhất, vì nó dễ uống và hợp khẩu với đa số các món. Giá rượu phổ biến từ 3 đến 10 ngàn đồng 1 xị.

Hương vị chủ chốt trong thịt chó phải kể đến là lá mơ, nhiều nơi còn gọi là lá mơ lông, lá thối địt hay thúi địt. Gọi như thế vì lá mơ một mặt có màu tím nhạt, một mặt thì có nhiều lông, hình giống như lá bơ nhưng nhỏ, mùi của nó nhiều người ngửi không quen dễ khó chịu. Khu vực miền Trung, cũng có một giây leo như thế, lá màu xanh lơ, ít lông, mỏng và ít bầu như lá mơ, nhưng mùi vị thì y chang, thậm chí đậm đặc hơn, dân các vùng này gọi chính danh nó là lá thối địt, cũng dùng để ăn thịt chó. 


Ngoài ra còn có củ riềng, có hình dáng và vị cay nóng như củ gừng, nhưng mùi thì khác, rất đặc trưng. Sở dĩ phải dùng hai thức này trong món thịt chó vì nó cầm tánh âm/lạnh, còn thịt chó cầm tánh dương/ấm, ăn chung sẽ tạo ra sự quân bình. 

Cũng như thịt vịt ăn với nước mắm gừng, thịt gà ăn với muối tiêu… cũng là trò âm dương. 


(Lý Đợi


Chợ Lớn - Sài Gòn xưa


Năm 1822, bác sĩ thú y Finlayson đến viếng Sài Gòn. Finlayson viết: "Sài Gòn gồm hai thành phố, mỗi cái đều rộng lớn bằng hai nước Xiêm La. Ấy là:

1) Sài Gòn (xin hiểu đây tác giả muốn nói về Đề Ngạn (Thầy Ngồồn) hay Chợ Lớn).

2) Và Pingeh (có lẽ đây là Bến Nghé viết theo tác giả phát âm). 


Dựa theo Finlayson, chúng ta có thể hiểu vì sao xưa ông Huỳnh Tịnh Của đã ghi trong bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của ông: "Sài Gòn là tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé." (Rõ ràng trước kia danh từ "Sài Gòn" dùng để gọi thành phố Chợ Lớn, về sau mới áp dụng qua đất Bến Nghé).


***

Một đoạn khác, cũng trong tập san Cổ Học Ấn Hoa trên, John Crawfurd viết năm 1828: "Sài Gòn gồm có Pingeh là thành trì bao bọc chung quanh khu vực ấy với xóm buôn bán của người Tàu”. 

(Trong quyển "Promenade dans Saigon" của bà Hinda Arnold có một bản địa đồ trong ấy có ghi rõ vùng mé sông của Bến Nghé, khỏi Chợ Quán, có vùng gọi "Bazar Chinois", đây là chỗ xưa kia người Tầu lựa để thiết lập xóm chợ "Đề Ngạn" sau khi bị Tây Sơn đuổi khỏi Nông Nại Đại Phố trên Biên Hoà năm 1778).


Tóm lại, nếu chiếu theo tài liệu của hai người thấy tận mắt thành phố Sài Gòn, Finlayson và Crawfurd thì vào cuối thế kỷ 18 bước đầu thế kỷ 19, danh từ "Saigon" đích thị dùng để gọi Chợ Lớn hiện nay. Trong bộ "Gia Định thông chí " của Trịnh Hoài Đức, bản dịch Aubaret năm 1863 vẫn ghi: "Sài Gòn là danh từ để gọi thành phố của người Tàu ăn ở, phát âm giọng Tàu là "Tai ngòn" hoặc "Tingan".


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Dưa cà muối và mắm tép


Từ sáng sớm mẹ đã trở dậy, lập cập cắp thúng ra chợ.  Tại đấy, người nhà quê ngược tàu mang về chẳng thiếu thứ gì.  Nào khoai sọ, khoai lang, cà pháo, cà bát.  Theo chân mẹ mỏi chân khắp chợ may ra mới mua được mẻ cà vừa ý. Đến xế chiều, nắng xiên khoai lọt qua dàn thiên lý, mát hẳn.  Từng chùm hoa chín vàng, thoang thoảng mà lại thơm lâu, hai mẹ con cặm cụi cắt cà.  Dao phải sắc như dao cau mới không 'ăn' vào thịt cà.  Như thế thì nén cà mới không bị ủng, không kháng. Vại muối cà phải là sành Hương Canh, đen nhánh, đanh lì.  Qua mỗi mùa hè muối cả chục mẻ nên lớp vỏ sành đã thấm ngấm mấy lần nước muối mặn.  Chẳng khác gì ấm pha trà ngấm dầy cao chè.


Đá nén cũng phải kén đá cuội to, trơ lì và nhẵn thín.  Nước muối mặn mấy cũng không thể ngấm vào.  Các loại đá khác khi ngập chìm trong nước muối sẽ thôi ngấm ra, nước đục là cà có vị ngái. Ngay đến vỉ nén cũng phải đan bằng giang đã ngâm kỹ, gác trên gác bếp cho ngấm bồ hóng.  Kỹ lưỡng đến thế rồi mẹ mới rải từng lớp cà.  Cứ một lớp lại quải đều một lớp muối trắng.  Nước đổ vừa xâm xấp mặt cà rồi thả dăm nhát giềng.  Xong xuôi đặt vỉ, nén rõ chặt.  Mẹ dặn, cứ vài ngày phải xem nước có ngót không.  Cốt sao lúc nào cà cũng phải ngập nước.  Đến khi vớt ra, để bao lâu cà vẫn trắng phau, không bị thâm tái...


Trong bếp có vại cà, cả nhà đủ sống qua ba tháng hè.  Rau đay, rau ngót cũng một tay mẹ trồng trên mảnh vườn nhỏ sau nhà.  Bên bờ rào, mồng tơi rậm rì xanh ngắt.  Mùa hè nắng nôi, có bát canh rau với dăm quả cà là xong bữa.  Lúc tối lửa tắt đèn, hàng xóm chạy sang xin dăm quả.  Cả xóm thành ra nghiện cà mẹ muối.  Ai cũng bảo muối cà tưởng là đơn giản. Hoá ra phải có 'tay' thì cà nén mới giòn, trắng nõn và tuyệt nhiên không có vị chua..


Cafétéria ca nhạc


Để thu hút khách, một số nơi đã ổ chức hình thức phòng trà ca nhạc theo dạng Cafétéria. Cafétéria rộng thoáng hơn những La Pagode, Brodard, Givral, Continental… nơi đây không phải chổ để trầm tư, bàn luận chuyện đời mà hoàn toàn là chổ vui chơi.


Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tăm tiếng được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái… Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bổng đêm đêm sáng lên rực rở ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui.9-ca-phe-sg-10


Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria này. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây. Rồi tiếp theo là cà phê Cafétéria Jo Marcel, trên đường Hai Bà Trưng, Đêm Màu Hồng trên đường Tự Do (sic) thi nhau mọc lên đẩy “Nền văn hóa ẩm thực” cà phê lên một tầm cao hơn, vừa uống cà phê vừa được thưởng thức những ca sĩ, nhạc sĩ có tiếng trình bày.


(Thú vui tao nhã của người Sài Gòn – Khuyết danh)


Từ cua cáy phiếm lược đến sông nước miền Nam 


3 tỉnh miền đông và 3 tỉnh miền tây


Năm 1858 thời Tự Đức thứ 11, Pháp và Tây Ban Nha đánh chiếm Đà Nẵng. Năm 1859 đánh chiếm Gia Định. Năm 1862, sứ thần Phan Thanh Giản ký hoà ước với thiếu tướng Bonard nhường 3 tỉnh miền đông Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Năm 1867, Tự Đức thứ 20, Pháp định ngày lấy 3 tỉnh miền tây (1) Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Phan Thanh Giản liệu không giữ nổi, bảo các quan nộp thành trì rồi uống thuốc độc tự tử. Từ đó (năm 1867) Nam kỳ thành thuộc địa của Pháp.


(Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim) 


(1) “Miền Tây”: tây bắc giáp Căm Bốt, tây nam là vịnh Thái Lan. 

(Nguồn: Đặc san Phù Sa Sông Cửu)


Khi không tầm khảo tôi thân già vác dùi nặng : Đền thờ cụ hiện ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Văn Miếu Phan Thanh Giản ở Vĩnh Long. Tầm khảo một tôi mặt như cán cuốc bởi theo tiểu sử cụ Phan sinh quán ở huyện Bảo An, Vĩnh Long; nay là làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. 



Bộ Vĩnh Long, Bến Tre là…một sao? 

Mặc dù mảnh đất mới này không có “Bến Tre tỉnh lỵ chí lược”. Thế nhưng tầm khảo tôi cũng…lược khảo được rằng: Bến Tre, tiếng Khmer là Srok Treay. Srok là xứ, treay là cá. Sau ta biến chữ srok thành bến và chữ…“treay” phát âm theo tiếng Khmer là…tre. Vì vậy Bến Tre không có…tre mà chỉ có dừa.


Là tửu nhân, tầm khảo tôi góo nhóp thêm:

Nếu như đến với miền Bắc có rượu Kim Sơn đặc sản Ninh Bình hút hồn người phương xa. Miền Trung níu chân lữ khách bằng rượu Bàu Đá đặc sản Bình Định. Thì miền Nam có rượu Phú Lễ đặc sản Bến Tre làm người ta muốn quên đường về. Rượu Phú Lễ với hương quê truyền thống thắm đượm, thích hợp cho các cuộc đối ẩm với bạn bè, tri kỉ, lai rai bên những dĩa gỏi khô cá sặckhô rắn An Giang còn gì bằng.


Ẩm thực miền Bắc


Ẩm thực miền Bắc toát lên sự tinh tế, nhẹ nhàng thanh tao cũng giống như những người con của Hà Nội vậy. Dân dã, dung dị nhưng vẫn đủ tinh tế để tạo ấn tượng sắc nét về một nền ẩm thực của đất kinh kì trên bản đồ ẩm thực Việt Nam. 


Nét đặc trưng phải kể đến trong ẩm thực miền Bắc chính là sự hài hòa trong cảm quan, hương vị rất vừa phải, không quá chua, quá cay, quá mặn hay quá nồng. Ẩm thực miền Bắc đề cao sự thanh tao, đạm bạc nhưng vẫn tôn lên được những hương vị tinh túy của những món ăn. 


Am Thuc Mien Bac 1   

Bắt nguồn từ sự khéo léo, tỉ mẩn trong từng công đoạn chuẩn bị nguyên liệu, chế biến, đặc biệt hơn sự khéo léo ấy lại càng được thể hiện rõ nét hơn trong những mâm cỗ ngày Tết của người dân miền Bắc. Những mâm cao cỗ đầy, mỗi mâm đều phải có bốn bát bốn đĩa tượng trưng cho tứ trụ, bốn mùa và bốn phương được chế biến công phu, cầu kì, sặc sỡ nhưng rất đỗi ngon miệng và bắt mắt. Bốn bát gồm có bát miến, bát chim hầm, bát chân giò lợn hầm măng lưỡi, bát canh bóng thả nấm. Bốn đĩa bao gồm có đĩa nem rán, đĩa thịt gà luộc, đĩa xôi gấc, đĩa giò lụa/ đĩa thịt nấu đông. Mâm cỗ ngày Tết của người miền Bắc được chuẩn bị hết sức tỉ mỉ và khéo léo


(Tasty Kitchen)


Nguyễn Tất Nhiên, bao năm tình lận đận


T.N: Nguyễn Tất Nhiên có viết văn ? Dự tính của bạn ở ngòi bút viết văn này ?

N.T.N: Vâng, tôi có viết văn, nhưng chưa tự tin lắm nơi ngòi bút lúc này. Dự tính ư ? Phải nói là ý muốn thì đúng hơn ! Tôi muốn trải hết lòng mình, đời mình ra giấy trắng chữ in. Tôi muốn thấy những quyển truyện đời tôi được tiểu thuyết hóa trưng bày đầy các nhà sách, mà đọc giả chỉ cần khen: “văn thằng ấy viết dễ thương quá” đủ rồi.

Trong tập truyện sắp in, tôi viết ở trang đầu: “ Tôi viết văn vì, thơ chưa nói hết. Nếu có sự lựa chọn giữa tác phẩm và hạnh phúc, tôi sẽ là kẻ vói tay về phía hạnh phúc, nhưng hạnh phúc mãi tan tành nên tác phẩm rơi rớt lại trần gian!”


T.N: Bạn cho bạn ngọc biết qua về đời sống riêng của bạn một chút nếu tiện, chẳng hạn như sinh hoạt chính hàng ngày ?

N.T.N: Học Luật. Cô đơn. Túng thiếu. Lang thang. Khổ tâm. Sinh hoạt chính hàng ngày: buồn bã và tìm cách đùa bỡn trên nỗi buồn của mình. Lúc gần đây, có thêm một đam mê mới: Kịch Nghệ. Anh Lê Cung Bắc là người khuyến khích và hướng dẫn tôi trên địa hạt này.


(tuần báo Tuổi Ngọc phỏng vấn)


Chỗ đặt

Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Vậy mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào

(Mai Thảo)


Đám ma Lý Toét  


Lý Toét ốm. Lý Toét ốm đã mấy tháng, nhưng độ mươi hôm nay, bệnh tình xem ra trầm trọng. Lang Băm, một danh y trong xóm, đến thăm bệnh. Bắt mạch xong, Băm gọi bà Lý ra ngoài hiên, thì thầm nói nhỏ. Bà Lý ra chiều thất vọng, mượn người đánh dây thép nhời cho cô Ba Vành ở ngoài mỏ. Được tin bố sắp chết, cô Ba Vành lật đật thu xếp về ngay.

Xã Xệ mấy hôm nay ở luôn bên nhà Lý Toét. Nhà neo người, bà Lý và cô Ba Vành là đàn bà, người con cả Lý Toét đi Tân Thế Giới đã lâu, không thấy tin tức, chưa rõ sống chết ra sao. Còn đứa nhỏ, thằng Toe, thì hãy còn là đứa trẻ ranh thò lò mũi, cả ngày chơi đùa với trẻ con ngoài đường. Thằng Toe mới lên bảy, nhưng đã giống bố về hai con mắt.

Xã Xệ sang trông nom giùm. Ngày thường, hai người vẫn không ưa nhau, hay khích bác, xỏ xiên, hoặc nói cạnh khóe. Nhưng thực ra cả hai cùng tốt. Lúc này Xã Xệ cũng quên những mối hiềm cũ. Vả lại cả hai còn có một nhược điểm chung nó dễ làm gần nhau: chén rượu. Xã Xệ sang, mỗi ngày bà Lý phải mua một chai bố.

Tin Lý Toét sắp chết lan ra khắp xóm, ai ai cũng để ý. Bà Lý ra ngõ thường gặp nhiều người hỏi thăm. Có người lại hỏi thăm qua hàng rào. Với ai, bà cũng trả: “Cảm ơn bà – ông, hoặc bác – ông Lý nhà tôi đã khá”.


Tuy vậy, họ cũng biết thừa là ông Lý sắp chết. Lang Băm đã bảo ông Lý khó qua được đêm nay. Chiều nào Băm cũng cả quyết như vậy mà ông Lý vẫn dai dẳng sống hơn một tuần lễ rồi. Có người độc miệng mỉa mai: “Đã chết được kia à? Còn là khổ! Lúc giữ triện đồng, đục khóet lắm, bây giờ khó lòng mà nhắm được mắt.”


Họ đã sửa soạn cả. Nhiêu Còm đã mở chiếc hòm mục lấy cái áo the cũ bạc vai, vá khuỷu tay, sắp sửa để đi đưa ma ông Lý và đánh chén. Bọn trẻ con cũng vui vẻ; chúng thấy trong xóm có sự lạ, và như chúng ngửi thấy mùi xôi thịt. Bác Ngọ, bán hàng sũ ở đầu xóm, đã sắp sẵn một cỗ ván tốt, và nhấm nháy Xã Xệ, để ông Xã khỏi mua hàng của bác Mùi, dưới cuối xóm. Xã Xệ ngắm nghía cỗ ván, vuốt chiếc tóc trên đầu, hoặc gãi vào cái bướu gần thái dương, trả lời viển vông: “Được, để tôi hỏi bà Lý xem”. Rồi đến lượt Khán Thân làm hàng mã, Nhiêu Tuất bán hàng vải. Xã Xệ thấy ai cũng tử tế, có ý ngầm mời đánh chén. Mọi khi bọn này, mỗi khi chàng đi qua, thường chỉ lên đầu cười rúc rích, hoặc nói cạnh đến cái tóc. Mấy hôm nay, mỗi lần về nhà, Xã Xệ phàn nàn với vợ: “Bác Lý ốm, thành mình cũng vất vả lây”. Bác Xã gái an ủi chồng, rồi lại giục sang nhà Lý Toét. Vợ Xã Xệ muốn tống chồng đi cho khỏi tốn rượu. Mà Xã Xệ cũng chẳng muốn ở nhà.


(Đỗ Đức Thu)


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Mùa thu còn đó tình yêu ngỡ ngàng

Đò chiều chưa tiễn người sang

Nỗi lòng sao biết thiên đàng ái ân  

Trúc đào rụng khắp đầy sân


(Sưu tầm từ VMQH)


Phở Dậu


Cuối cùng cũng tới ngày tôi lên máy bay đi định cư. Bà còn ở lại nhưng hẹn sẽ gặp nhau bên Canada. Canada đất rộng người thưa, biết rồi có gặp lại nhau để lại tới tiệm phở của bà không. Quả thật chúng tôi không gặp lại nhau vì bà qua San Jose bên Mỹ. Sự thể làm sao mà bà lại lạc sang Mỹ, tôi không biết. Khi tôi được tin thì bà đã ra người thiên cổ.


Nhưng khi đó tôi không biết bà đã từ giã phở trần gian. Bà qua San Jose năm nào, tôi mù tịt. Bà mở lại tiệm phở khi nào tôi cũng không biết. Cho tới khi đọc được một bài viết của ông Hà Đình Huy. “Ở thành phố San Jose mỗi khi thèm phở, gia đình tôi thường đến Phở 288 Công Lý (Bà Dậu) trên đường Alum Rock. Đó là tiệm phở có màu sắc trẻ trung, năng động. Bảng hiệu, vật trang trí trên tường, ghế ngồi của khách, đồng phục của nhân viên đều nhất quán. Cách trang trí ở đây thoáng và sạch sẽ với nhiều cây xanh, sàn nhà không một cọng rác, luôn có nhân viên lau chùi... Hình thức trang trí, vệ sinh, cung cách phục vụ mới, sự lịch thiệp của nhân viên rồi cũng qua đi, nếu không có hương vị vừa miệng để giữ chân khách. Phở Bắc Công Lý có hai loại đặc biệt nhất: phở bò và phở gà. Nhưng gia đình tôi và bè bạn thích phở bò, vì phở bò ở đây hơn hẳn một số tiệm phở trong vùng về chất lượng thịt bò mềm và thơm; gầu, vè , gân, sách trắng dòn, nước dùng của tiệm Phở Bắc Công Lý rất vừa miệng, không mặn, cũng không ngọt mùi đường hay bột ngọt và cũng chẳng có lớp mỡ vàng trên bề mặt, mới nhìn thôi cũng phát chán. Điểm chính của tô phở là nước dùng có màu nâu nhạt, sóng sánh ánh vàng, thoảng nhẹ mùi gừng, không ngửi thấy vị tanh của xương, bánh phở mỏng và dai không bị nát.Những phụ liệu đi kèm như tương ớt cũng là màu thật của ớt, tương đỏ (hoisin sauce), giá sống trắng phau cọng mập tròn, rau thơm có hai loại quế và ngò gai, những thứ có mùi vị hợp với thịt bò được rửa sạch sẽ, xếp ngay ngắn trên dĩa, khi khách gọi phở mới lấy từ phòng nấu đem ra”.



Danh thiếp Phở Bà Dậu Công Lý ở San Jose.


(Song Thao)




Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Có một người làng làm nhân viên ở cửa hàng mậu dịch huyện, có gì phi thường đâu nhỉ, có gì mà cả làng cứ phát rồ lên như thế? Thỉnh thoảng tôi vẫn có cái thắc mắc cỏn con ấy. Vậy mà lắm lúc, chính tôi cũng không khỏi hãnh diện trước đám bạn học về việc có một chị người làng làm trong mậu dịch huyện.


Lần nào xuống đó, tôi cũng đem chị ra khoe. Song khổ một nỗi là chẳng lần nào tôi gặp được chị tại đúng cái chỗ thiên đường của những cái bụng rỗng ấy. Tôi đã sắp trở thành một tên khoác lác trong mắt đám bạn thì may quá, lần ấy, tôi thoáng thấy bóng chị phía trong quầy hàng. Mừng quá, tôi vội vàng hét tướng lên gọi chị. Và… niềm tự hào của cả làng tôi (lạy giời) cũng đã kịp nhận ra tôi. Chị quay lại, nhìn tôi nhoẻn cười, lại còn gọi đúng tên tôi ra nữa chứ. Chỉ cần thế thôi. Tôi đã hoàn toàn sung sướng và mãn nguyện, đủ để vênh mặt trước những ánh mắt tin tưởng, nể nang của lũ bạn học.


(Phạm Lưu Vũ)


Chữ và nghĩa thổ ngơi 


Ta có hàng trăm địa danh bị thay đổi hay sai lệch về ngữ âmchữ viết. Tìm hiểu những nguyên nhân gây ra sự biến đổi này, ta sẽ hiểu được nguồn gốc và ý nghĩa ban đầu của các địa danh.


Do “Tây hoá”: Khi người phương Tây đến nước ta, họ nói và viết theo ngữ âm và chữ viết tiếng mẹ đẻ của họ, làm nhiều địa danh Việt Nam bị sai lệch.

Làng Cò –> Lăng Cô (Huế) - Hoài Phố  –> Faifo (Quảng Nam) - Mỹ Lại –> Mỹ Lai (Quảng Ngãi) - Chí Hòa –> Kỳ Hòa (Sài Gòn).


(Lê Trung Hòa – Những địa danh bị đổi sai lệch)


Nhà văn Mai Thảo viết về tiếng hát Thái Thanh


Bao nhiêu năm nay, mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh, từ một ca khúc tiền chiến như hơi thở tuyệt vời duy nhất còn lại của một thời đã mất, đến những bài hát mới, phản ảnh sinh động cái hơi thở trăm lần đầm ấm hơn của âm nhạc bây giờ, tôi không khám phá mà chỉ thấy trở lại trong tâm hồn và thẩm âm của mình một số rung động và liên tưởng cố định.Những rung động ấy đã có từ lâu, những liên tưởng ấy từ đầu đã có. Chúng có từ Thái Thanh với bài hát thứ nhất, và nguyên vẹn như thế cho đến bây giờ. Chẳng phải vì con người thưởng ngoạn âm nhạc trong tôi không có những thay đổi. Chẳng phải vì tiếng hát Thái Thanh là một thực thể âm nhạc bất biến và bất động, không có những thay đổi.


Đã hai mươi năm Thái Thanh hát. Lịch sử âm nhạc ta đã được đánh dấu bằng cái hiện tượng khác thường, duy nhất, là Thái Thanh tiếng hát hai mươi năm. Nếu mỗi con người, mỗi vật thể đều được thực chứng như một biến thái thường hằng trước va chạm khốc liệt dữ dội với đời sống mỗi ngày là một khuôn mặt mới, một tiếng hát, dẫu vượt thời gian như tiếng hát Thái Thanh cũng vậy. Bằng chứng là Thái Thanh của những năm bảy mươi, Thái Thanh của bây giờ không thể và không còn là Thái Thanh của những năm tháng khởi đầu.


Mọi người dễ dàng nhận thấy như tôi là, chuyển lưu không ngừng qua nhiều vùng trời âm điệu khác biệt, hòa nhập không thôi vào mọi không khí, trào lưu âm nhạc và trình diễn thay đổi từng năm, từng mùa như mưa nắng, chính tâm hồn và ý thức người hát, trong mối liên hệ mật thiết một đời với nhạc, thế tất có những biến chuyển. Tiếng hát vì thế cũng đổi thay theo. Nói Thái Thanh hát bao giờ cũng vậy là sai. Lấy một bài hát bây giờ, một bài hát trong mười bốn ca khúc của băng nhạc Tơ Vàng chẳng hạn, cùng nghe với một bài hát cũ, ta thấy ngay, trên cái tiến trình và thành tựu rực rỡ của hai mươi năm đi tới không ngừng, tiếng hát Thái Thanh đang đích thực được lồng đựng trong một kích thước, một tinh thần mới. Sự thay đổi đó không ngẫu nhiên, chẳng tình cờ. Nó biểu hiện cho cái nỗ lực chính yếu của người hát tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngủ yên trên những thành công đã có.


Chữ nghĩa làng văn


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy – 3


Mỗi khi có bạn từ trong Trung trong Nam tôi thích rủ ra Bờ Hồ, làm vài ly và ngồi ngắm cảnh, như là một nếp quen mà cũng là ẩn chút niềm tự hào của người Hà Nội đối với người phương xa. Nhưng mà Cao Xuân Huy phải đâu người phương xa. Năm 54 anh đang ở Hà Nội, tôi thì tận trong Vinh. Đình chiến, anh vào Sài Gòn, tôi ra Thủ Đô. 

Ngược chiều nhau và đối nghịch nhau, chỉ có điều, vào cái năm cắt đôi đất nước ấy chúng tôi mới là hai đứa bé, tôi 2 tuổi, Huy 7 tuổi. Tôi theo cha mẹ, Huy theo người cậu.


Giờ đây, ngồi bên nhau, cạch ly, chúng tôi  chuyển xưng hô, không anh tôi nữa, mà ông tôi. Anh hơn tuổi, nhưng năm đó chưa là Huy " râu " như về sau này, còn tôi tuy năm mươi mà đã tựa sáu mươi  nên coi như ngang bằng. Thoạt tiên, tôi hỏi thăm nên anh kể tôi nghe về đời sống của nhà văn Khánh Trường, về công việc, sự phát triển xuống lên thăng trầm của tờ Hợp Lưu. Nhưng kể sơ thôi, những gì không biết anh nói không biết. 

Tôi thích những người có cái đức đối ẩm bạt thiệp kiểu như anh. Không nửa vời, sẵn sàng la đà tới bến, nhưng chậm rãi, nhâm nhi, bình thản, không xỉn, không xỉn lộ ra trong hình dong và cử chỉ, nhất là không bao giờ xỉn ra nơi đầu lưỡi.


(Bảo Ninh)


Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh. Từ 1984-1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du. Làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997.

Tác phẩm : Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh còn viết một số truyện ngắn về đề tài chiến tranh, trong đó truyện Khắc dấu mạn thuyền đã được dựng thành phim


Vĩnh biệt Đào Mộng Nam


Đặc biệt có giáo sư Đào Mộng Nam, nhà nghiên cứu Đông Phương ở hải ngoại về Phú Thị thăm và giới thiệu công trình của ông đã dịch trên 1.400 bài thơ chữ Nho của Cao Bá Quát ra quốc ngữ. Ông đã phát hiện ra "thần lực" trong thơ Cao Bá Quát và từ khởi điểm này ông đang xây dựng một công trình văn hoá: "Nét đặc trưng văn hoá và tiến bộ khoa học hiện đại". 

Ông đã đánh giá rất cao Cao Bá Quát:
- Nhà thơ lớn của Á Đông.
- Bậc thi bá duy nhất tập đại thành cả 3 nghìn năm tư tưởng thi ca Đông Á.
- Thi sĩ, thi sĩ tiên tri.

Ông có đọc cho nghe bài thơ Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Quát trong đó có 2 câu:
Vạn thuở văn chương còn chẳng nát
Muôn đời thần khí lẽ nào tan…


Đúng vậy, thật sự là như thế. Giấy rồi sẽ ra bụi, mực rồi sẽ phai mờ, nhưng văn chương không hư nát nổi, thần khí lẽ nào tan…


Khi bạn đọc những dòng chữ naỳ, tang lễ của giáo sư Đaò Mộng Nam đã hoàn tất. Nhưng hình ảnh nhà thơ họ Đào vẫn còn đi lại quanh đây với chúng ta, còn thật lâu...
Phải chăng hình ảnh Đào Mộng Nam thương khóc Cao Bá Quát cũng là một cái nhìn tiên tri về chính cuộc đời của nhà thơ Đào Mộng Nam - người cũng y hệt như họ Cao, chỉ "suốt đời chỉ cúi đầu chào hoa mai" như một dòng thơ cổ lưu lại của họ Cao…


(Phan Tấn Hải)


Tác giả: Phan Tấn Hải bút hiệu: Nguyên Giác. 

Sinh năm 1952 tại Sài Gòn. 

Hiện đang cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.


Tác phẩm: Vài Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ, 

Thiền Tập, Ba Thiền Sư, Chú Giải Về Phowa, 

Lời Dạy Tâm Yếu Về Đại Thủ Ấn



***


Phụ đính I


Làm vợ nhà văn


Nhà văn Nguyên Hồng - 1


Nhà văn Nguyên Hồng có tiếng là người nhân hậu và đa cảm. Tuy vậy, ông cũng thuộc "tuýp" người khảng khái, "bất khuất". Đây đó với vợ con ông còn thể hiện sự gia trưởng, nhất nhất mọi việc phải tuân theo ý mình.


Năm 1958, nhân khi gặp những khúc mắc trong việc làm báo Văn, bị anh em kiểm điểm "lên bờ xuống ruộng", ông đã đùng đùng tự ái đưa thốc toàn bộ đồ đạc cùng gia quyến từ Hà Nội về lại ấp Đồi Cháy (Nhã Nam, Bắc Giang), nơi gia đình ông cùng gia đình các nhà văn Ngô Tất Tố, Kim Lân tản cư trong kháng chiến. Khi ấy vợ ông đang có việc làm, các con đều có trường lớp ổn định. Nhưng Nguyên Hồng đã quyết thì…miễn bàn.


(Phạm Nhật Linh)


Làm vợ nhà văn


Nhà văn Nguyên Hồng - 2


Nếu như với đa phần các nhà văn, việc nội trợ, chi tiêu thường được "khoán" hẳn cho các bà vợ thì ở Nguyên Hồng, sự thể có phần ngược lại. Nhà văn Tô Hoài từng viết: "Thầy nó (tức Nguyên Hồng) đã định thì trong nhà ai nấy chỉ việc làm theo. Cả tính toán chi tiêu mắm muối, Nguyên Hồng đi chợ lo liệu lấy, nếu không chị ấy cũng bảo các con: Đã hỏi thày mày chưa?".


Từ nơi phồn hoa đô hội trở về nơi sỏi đá khô cằn, đèo heo hút gió, dĩ nhiên gia cảnh Nguyên Hồng luôn khiến bạn bè chạnh lòng, băn khoăn. Và, trong khi ông nhà văn - cha đẻ của các nhân vật Tám Bính, Năm Sài Gòn - cảm thấy thanh thản, ung dung trước nơi ở mới thì vợ con ông có lúc không giấu được tâm trạng cám cảnh.


Bà vợ của Nguyên Hồng từng có lần than phiền với bè bạn của ông nhân một lần họ từ Hà Nội lên thăm: "Thày nó nay xuôi mai ngược chứ tôi ốm đau thế này, suốt mùa rét ngồi cuốn sâu kèn hút lá cà độc dược chữa bệnh, tuổi đã nhiều, bệnh hen càng nặng, tôi đến chết cũng không bao giờ ra khỏi cái đồi này mất".


(Phạm Nhật Linh)


Tiểu sử: Bia - Nguyen Hong - MNB 2

Tên thật: Nguyễn Nguyên Hồng 

Sinh ngày 5.11.1918 tại Nam Định 

Mất ngày 2.5.1982 tại Yên Thế, Bắc Giang


Tác phẩm:

Bỉ Võ - Những Ngày Thơ Ấu 

Sóng Gầm - Núi Rừng Yên Thế


Mời Xem Lai :



CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/6/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng