16 thg 6, 2026

CẢM XÚC - Trần Phong Vũ - SPSaigon



 CẢM XÚC

Lại cuối tuần rồi, ngồi ở góc quán cà phê quen thuộc ngắm dòng người và xe qua lại ngã ba đường. Cảm giác như cả thế giới đang trôi qua như một khúc phim kinh điển. Tôi đang sống đây.
Nghe loáng thoáng có tiếng của cô chủ quán và một anh già nào đó bật lên : " Từ từ, coi chừng rớt... " và tiếng trả treo của cô nàng " Còn lâu mới rớt, tui không sợ đâu... " và một trận cười bung nóc chen lẫn tiếng góp ý lộn lạo lào xào. Dù không lên tiếng nhưng tôi vẫn thấy vui. Ra cuộc sống là thế, người ta vẫn còn sức để chém gió, để ý kiến ý cò về mọi thứ trong đời. Đúng hay sai không cần biết. Vui, khoẻ là chính...
Sau cùng, bỗng có ai đó nói : " Ông già bảo vệ hay ghé mua cà phê take away đem đi đã mất rồi..." Trận cười im bặt đi vài phút rồi thông tin về sự kiện được cập nhật dần dần. Hoá ra ông già đó là người tôi biết. Nhà y ở xéo góc phía sau nhà tôi trong hẻm Chùa Chánh Giác. Y áng chừng nhỏ hơn tôi vài tuổi. Những ngày đầu sau tháng 5, y đeo băng đỏ, rồi áo ka ky xanh áng chừng sinh hoạt Đoàn hay Thanh niên gì đó. Tôi rời Saigon ra đi nhiều năm, khi quay trở lại, vẫn bắt gặp y đi ra từ con ngỏ nhỏ đó, vẫn bộ đồ ka ki xanh nhưng có thêm huy hiệu dân phòng. Tôi áng chừng người này là nhân viên ủy ban phường tôi ở ?
Mấy mươi năm qua đi, vẫn con người đó, dáng đi đó, vóc vác đó chỉ có gương mặt là già đi theo dấu thời gian. Để rồi hôm nay nghe tin ông ấy đã đi bán muối. Nghe đâu xác còn ở bệnh viện chờ đưa về tống táng. Thế là xong 1 kiếp người.
Mai chắc ghé qua thắp một nén nhang, chia buồn, tình làng nghĩa xóm mà...
TRẦN PHONG VŨ
12/6/26

BIỆN ĐAO - Bài 4


 BIỆN ĐẠO (BÀI 4)


ĐẠO KHỔNG DO CÁC THÁNH VƯƠNG LẬP RA KHÔNG PHẢI

ĐẠO TỰ NHIÊN


Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


***

BÀI 4

Đạo tiên vương không phải là đạo tự nhiên của trời đất

Đạo tiên vương (tức đạo Khổng) là do các tiên vương (các vị vua lập ra các triều đại mới ở cổ đại) sáng tạo ra (tạo造), không phải là đạo tự nhiên của trời đất (nghĩa là không phải quy luật tự nhiên) (1). Tôi nghĩ rằng bởi vì các tiên vương là những người có đức thông minh duệ trí (sáng suốt thấy xa) (2), tiếp nhận mệnh lệnh của trời làm vua của mọi người. Tấm lòng của các tiên vương này chỉ biết lấy việc làm cho mọi người dân có đời sống yên vui làm nhiệm vụ của bản thân. Do đó các tiên vương tận dụng hết tâm sức (3) và trí tuệ khéo léo sáng tác ra (tác) đạo để cho mọi người đời sau theo đó mà hành động. Đạo tiên vương nào phải đã có sẵn trong tự thiên của trời đất. 


Đạo tiên vương phải trải hơn mấy ngàn năm từ thời Nghiêu, Thuấn, Hạ, Ân đến Chu mới được hoàn thành

Các vị vua Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế (4) cũng là thánh nhân. Tuy nhiên những thứ họ đã sáng tác chỉ là đạo (phương pháp) sử dụng các vật có trong tự nhiên (lợi dụng利用) và giúp ích cho đời sống mọi người được tiện lợi hơn và sung túc (hậu sinh). Thông qua đời vua Chuyên Húc và vua Đế Khốc (5), và phải chờ đến sau đời vua Nghiêu, vua Thuấn, lễ nhạc mới bắt đầu được hình thành rõ ràng. Rồi phải kế tục liên tiếp qua các thời đại của nhà Hạ, nhà Ân và nhà Chu (6), đạo tiên vương mới được hoàn bị đẹp đẽ. Nghĩa là, đạo tiên vương phải liên tục trải qua mấy ngàn năm, tích lũy liên tiếp tâm sức và trí tuệ khéo léo của một số thánh nhân mới hoàn thành được. Đạo tiên vươngkết tụ tinh hoa của nhiều thánh nhân chứ không phải bằng khả năng của 1 thánh nhân trong 1 đời mà có thể có được. Do đó, ngay cả Khổng tử cũng phải nhờ học mới hiểu và có được đạo trong người (7). Như vậy thì làm sao có thể cho rằng đạo tiên vương có sẵn trong tự nhiên trời đất hoặc là đạo của tự nhiên trời đất.


Tử Tư viết sách Trung Dung để phản đối việc Lão tử cho rằng đạo Khổng là giả tạo

Trong sách Trung Dung viết “Tuân theo bản tính bẩm sinh gọi là đạo”. Sách Trung Dung được viết trong thời đại mà học thuyết của Lão tử hưng thịnh, và Lão tử cho rằng đạo thánh vương là ngụy(giả tạo). Do đó, Tử Tư mới viết sách Trung Dung để chủ trương rằng đạo Nho của chúng tôi, là đạo mà các tiên vương chỉ tuân theo bản tính bẩm sinh của con người để sáng lập ra. Chắc chắn không có nghĩa Tử Tư có ý nói trong tự nhiên trời đất đã có đạo tiên vương tồn tại. Và Tử Tư cũng đã không có nói đạo tiên vương chủ trương tuân theo bản tính tự nhiên của con người mà không mượn tay của con người để tu sửa bản tính.

Giống như chúng ta đốn cây để xây dựng nhà ở. Chúng ta căn cứ theo tính chất của cây mà dùng cho thích hợp vào các bộ phận của nhà như cột, xà, tường vách ... Tuy nhiên, không phải vì vậy mà chúng ta có thể cho là nhà là có y nguyên bản tính của cây. 


Bản tính con người là muốn thay đổi, biến chế sự vật có sẵn sao cho hữu ích hơn

Phần lớn, phó mặc cho vạn vật sống hoặc trưởng thành tự nhiên là đạo của trời đất. Làm thêm cái gì mới (thí dụ như gia công, kết nối, phối hợp vật này với vật khác...) vào các vật có sẵn để dễ sử dụng hoặc hữu ích hơn cho cuộc sống là bản tính của con người (Matsushita Kônosuke nhận thức rất rõ về điều này). Các Nho gia đời sau không quan sát để nhận ra đặc điểm này của con người. Họ cho rằng tự nhiên trời đấtđạo (tiên vương)!(8) Nếu chủ trương đạo (tiên vương, đạo làm người) là đạo của tự nhiên thì chẳng phải quy về chủ trương của Lão Trang (9) hay sao?


Tóm tắt ý quan trọng

- Đạo Khổng tức đạo do các thánh vương từ đời Nghiêu, Thuấn, Hạ, Ân đến Chu, trải qua nhiều ngàn năm mới được hoàn thành để dân chúng đương thời và sau đó sống được an vui, không phải là thứ có sẵn trong tự nhiên như các Nho gia đời sau chủ trương. Các Nho gia đời sau chủ trương như vậy là bởi vì do ảnh hưởng của Lão Trang.

- Tử Tư viết sách Trung Dung để phản đối việc Lão tử cho rằng đạo Khổng là giả tạo.

- Bản tính con người là muốn thay đổi, biến chế sự vật có sẵn sao cho hữu ích hơn.

- Các hậu Nho cho rằng đạo Khổng là thiên lý tự nhiên là chủ trương sai lầm. 

- Tử Tư chỉ giải thích đạo Khổng “tuân theo bản tính bẩm sinh con người” chứ không có ý “không mượn tay của con người, nghĩa là dùng giáo dục, để tu sửa bản tính.”


Nguyễn Sơn Hùng

Dịch xong ngày 10/5/2026

Xem lại và bổ sung ngày 13/6/2026


Nhận xét tổng thể

(1) Do ảnh hưởng của môn khoa học tự nhiên nên ngay cả người biên dịch ban đầu cũng đã từng nghĩ rằng đạo phải là những quy luật của tự nhiên thì mới đúng và có hiệu quả. Tuy nhiên, sau khi được Sorai nhắc nhở đạo Khổng, tức đạo tiên vương được lập ra là để quản trị xã hội con người sinh sống hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng nên hiểu rằng đạo không hẳn cần phải giống những quy luật của các hiện tượng tự nhiên mà cần phải hòa hợp với bản tính con ngườicả tự nhiên. Một lý do quan trọng của hòa hợp với tự nhiên là để có được tính bền vững của phát triển xã hội con người.

(2) Người biên dịch rất ngạc nhiên đối với nhận xét trùng hợp của Ogyu Sorai và Matsushita Kônosuke cho rằng: Bản tính con người là muốn thay đổi, biến chế sự vật có sẵn sao cho hữu ích hơn. Chính do đặc sắc này của con người đã đưa con người lên vị trí “linh trưởng” của vạn vật.

(3) Theo thiên Tính Ác trong sách Tuân Tử, “ngụy” có nghĩa là “do con người làm ra”. Ý nghĩa này có thể hiểu được bởi vì chữ ngụy được kết hợp từ bộ nhân (con người) và chữ vi (việc làm). Nếu theo ý nghĩa này của chữ “ngụy” thì giải thích của Tử Tư “đạo tiên vương chỉ được lập ra theo bản tính con người” cũng không giải trừ hết được sự thật là “đạo do các tiên vương lập ra với mục đích an dân”. Chắc vào thời Tử Tư “ngụy” còn có nghĩa là “giả tạo” chăng nên Tử Tư mới nêu ra đức “chí thành至成 làm đức của thánh nhân và Khổng tử.


Ghi chú

(1) Sorai có ý phê phán chủ trương của Chu Hy. Đối với lời sau trong thiên 3 Công Tôn Sửu thượng, sách Mạnh Tử: 其為氣也配義與道,無是餒也。Kỳ vi khí dã, phối nghĩa dữ đạo; vô thị, nỗi dã (tạm dịch: Khí (hạo nhiên) ấy cần phải phối hợp với nghĩa và đạo, nếu không nó sẽ hư hoại đi.), Chu Hy chú giải như sau: 道者、天理之自然Đạo giả, thiên lý chi tự nhiên (tạm dịch: đạo là tự nhiên của lẽ trời). Đối với câu “Suất tính chi vị đạo” của chương 1, câu “Đạo chi bất hành dã, ngã tri chi hỹ.... Đạo chi bất minh dã, ngã tri chi hỹ.” của chương 4, và câu “ Cố quân tử chi đạo….kiến chư thiên địa nhi bất bội” trong chương 29 của sách Trung Dung, trong Trung Dung Chương Cú Chu Hy cũng chú giải ý tương tự.

Ngoài ra, Điều 2 của mục Đạo trong Ngữ Mạnh Tự Nghĩa, Jinsai cũng giải thích đạo là tự nhiên.


(2) “Thông minh duệ trí” xuất hiện trong Hệ Từ Truyện thượng của kinh Dich, và sách Trung Dung.


(3) “Tận tâm lực盡心力xuất hiện trong chương 7 thiên 1 Lương Huệ Vương thượng sách Mạnh Tử:


(4) Phục Hy là người đầu tiên đặt ra chữ viết, dạy dân cách săn thú, đánh cá, nuôi gia súc. Thần Nông người dạy dân y dược và đầu tiên lập ra chợ để trao đổi vật dụng. Hoàng Đế phát triển các việc trên và dạy dân nuôi tầm, định ra chế độ nhà ở và y phục.


(5) Trong mục Ngũ Đế Đức sách Đại Đái Lễ có ghi nội dung: Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu, Thuấn đặt ra tế tự, phục sức, lễ nhạc....


(6) Trong thiên Lễ Khí sách Lễ Ký viết: Tam đại chi lễ nhất dã, dân cộng do chi, hoặc tố hoặc thanh, Hạ tạo Ân nhân. 三代之禮一也,民共由之。或素或青,夏造殷因。Tạm dịch: (Tóm lại) Lễ của 3 triều đại Hạ, Ân và Chu căn bản là 1, người dân cùng 1 lòng tuân theo lễ mặc dù cách biểu hiện, diễn tả lễ có khác nhau, có triều đại xem trọng màu trắng, có triều đại xem trọng màu xanh; lễ bắt đầu từ đời Hạ, đời Ân tiếp nhận và sửa đổi.

(7) Trong chương 19 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ viết: 

子曰:“我非生而知之者,好古,敏以求之者 也。

Tử viết: “Ngã phi sinh nhi tri chi giả; hiếu cổ, mẫn dĩ cầu chi giả dã.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Ta chẳng phải trời sanh ra đã biết đạo lý, ta ưa thích văn hoá cổ mà siêng năng tìm học.”


(8) Xem Ghi chú (1).


(9) Trong chương 25 sách Lão Tử viết: 

有物混成、先天地生。寂兮寞兮、獨立不改、周行而不殆。可以爲天下母吾不知其名、字之曰道。強爲之名曰大。大曰逝、逝曰遠、遠曰反。故道大、天大、地大、王亦大。域中有四大、而王居其一。人法地、地法天、天法道、道法自然。

Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề liêu hề , độc lập bất cải, chu thành nhi bất đãi. Khả dĩ vi thiên hạ mẫu. Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo. Cưỡng vi chi danh viết đại. Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản. Cố đạo đại, thiên đại, địa đại, vương diệc đại. Vực trung hữu tứ đại,  nhi vương cư kỳ nhất. Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.  

Tạm dịch: Các vật trộn lẫn nhau để tạo thành, sinh ra trước trời đất. Yên lặng không có âm thanh, hình dạng cũng không có, không nương tựa vào gì khác mà cũng không biến đổi, lan rộng khắp nơi mà không mỏi mệt. Là mẹ sinh ra mọi vật. Ta không biết tên gì, gọi đó là đạo. Nếu dùng tên gọi khác thì có thể gọi là to. To thì lan tràn khắp nơi, lan tràn khắp nơi thì đi xa, đi xa thì trở về. Có nghĩa là đạo có tính chất của to. Trời cũng to, đất cũng to, vua cũng to. Trong đời có 4 thứ to. Vua thống nhất con người phải là 1 trong 4 thứ to này. Người theo đất, đất theo trời, trời theo đạo, đạo theo tự nhiên


Nguyên văn

先王之道。先王所造也。非天地自然之道也。蓋先王以聡明睿知之德。受天命。王天下。其心一以安天下為務。是以尽其心力。 極其知巧。作為是道。使天下後世之人由是而行之。豈天地自然有之哉。

伏羲神農黄帝亦聖人也。其所作為。猶且止於利用厚生之道。歴顓頊。至於堯舜。而後礼案始立焉。夏周而後粲然始備焉。是更数千年。更数聖人之心力知巧而成焉者。亦非一聖人一生之力所能辦焉者。故雖孔子亦学而後知焉。而謂天地自然有之而可哉。

如中庸率性之謂道。当是時。老氏之說興。貶聖人之道為偽。故子思著書。

以張吾儒。亦謂先王率人性而作為是道也。非謂天地自然有是道也。亦非謂率人性之自然不仮作為也。辟如伐木作宮室。亦率木性以造之耳。雖然。宮室豈木之自然乎。大氏自然而然者。天地之道也。有所営為運用者。人之性也。後儒不察。乃以天理自然為道。豈不老莊之帰乎。


Âm Hán Việt của nguyên văn

Tiên vương chi đạo. Tiên vương sở tạo dã. Phi thiên địa tự nhiên chi đạo dã. Cái tiên vương dĩ thông minh duệ trí chi đức. Thụ thiên mệnh. Kỳ tâm nhất dĩ an thiên hạ vi vụ. Thị dĩ tận kỳ tâm lực. Cực kỳ tri xảo. Tác vi thị đạo. Sử thiên hạ hậu thế chi nhân do thị nhi hành chi. Khởi thiên địa tự nhiên hữu chi tai.

Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế diệc thánh nhân dã. Kỳ sở tác vị. Do thả chỉ ư lợi dụng hậu sinh chi đạo. Lịch Chuyên Húc, Đế Khốc. Chí ư Nghiêu Thuấn. Nhi hậu lễ nhạc thủy lập yên. Hạ, Ân, Chu nhi hậu sán nhiên thủy bị yên. Thị canh số thiên nhiên. Canh số thánh nhân chi tâm lực tri xảo nhi thành yên giả. Diệc phi nhất thánh nhân nhất sinh chi lực sở năng biện yên giả. Cố tuy Khổng tử diệc học nhi hậu tri yên. Nhi vị thiên địa tự nhiên hữu chi nhi khả tai.

Như Trung Dung viết suất tính chi vị đạo. Đương thị thời. Lão thị chi thuyết hưng. Biếm thánh nhân chi đạo vi ngụy. Cố Tử Tư trước thư. Dĩ trương ngô Nho. Diệc vị tiên vương suất nhân tính nhi tác vi thị đạo dã. Phi vị thiên đại tự nhiên hữu thị đạo dã. Diệc phi vị suất nhân tính chi tự nhiên bất giả tác vi dã. Thí như phạt mộc tác doanh thất. Diệc suất mộc tính dĩ đạo chi nhĩ. Tuy nhiên. Doanh thất khởi mộc chi tự nhiên hồ. Đại để tự nhiên nhi nhiên giả. Thiên địa chi đạo dã. Hữu doanh vi vận dụng giả. Nhân chi tính dã. Hậu Nho bất sát. Nãi dĩ thiên lý tự nhiên vi đạo. Khởi bất Lão Trang chi quy hồ.


Tài liệu tham khảo

  1. Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.

  2.  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.

  3.  Matsushita Kônosuke (2002): Triết học của Matsushita Kônosuke (tiếng Nhật), Viện nghiên cứu PHP. Thí dụ: “Thành công của làm người là gì?”

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Thanh-cong-cua-lam-nguoi.htm

  1.  Matsushita Kônosuke (2001):Nhân Sinh Tâm Đắc Thiệp, Viện nghiên cứu PHP. Thí dụ: “Bài 20: Không có vật gì vô dụng”

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-20-Khong-co-vat-gi.htm

👋👋👋👋👋👋👋

Mời Đoc đọc nghiên cứu của người Nhật về đạo Khổng

VẾT THƯƠNG THẦM LẶNG- Bùi Thị Đà - Sư Pham Saigon

 VẾT THƯƠNG THẦM LẶNG

Có những vết thương nằm trong tim dù năm tháng trôi qua vẫn chẳng thể nào lành . Chúng không chảy máu để lại dấu vết trên da thịt nhưng lại đau đến tận cùng.Có đôi khi ta tưởng rằng đã quên để mạnh mẽ bước tiếp . Nhưng chỉ cần một câu nói một hình ảnh hay một giai điệu quen thuộc vang lên ,tất cả lại ùa về xé toang vết thương ấy thêm một lần nữa . Có người quen ta để lại yêu thương rồi cũng chính họ rời đi để lại những khoảng trống không gì lấp đầy. Ta từng nhủ rằng thời gian xoá nhoà tất cả , nhưng càng cố quên ta lại càng nhớ, càng cố mạnh mẽ ta lại càng yếu đuối . Vết thương lòng không ai nhìn thấy không ai chạm vào nhưng là thứ đau nhất . Ta có thể cười nói có thể giả như mình ổn nhưng màn đêm phủ xuống chỉ còn mình ta với những suy nghĩ những ký ức không thể nào quên , ta mới nhận ra rằng có những nỗi đau chẳng bao giờ biến mất chỉ là ta đang học cách sống chung với nó mà thô

14 thg 6, 2026

Nhố Võ Kim Ngân - CHS,Bàu Trai Tác Giả " HỒI KÝ BÔNG CỎ MAY ' - R.I.P.- Ngân Triều

 Bài đăng lại để tưởng nhớ bạn Võ Kim Ngân, chs Bào Trai, đã từ trần tại Sydney, hưởng thọ 84 tuổi. Vĩnh biệt bạn, an giấc ngàn Thu. R.I.P



Chủ Nhật, 10 Tháng 8, 2014
Bài [96] Cỏ may còn tím, cảm đề Hồi ký Bông Cỏ May.
Thơ Mặc Hiền Phạm Văn Rã; Lời bình Ngân Triều.
(
Tôi đứng ngoái nhìn, xa tít xa,
Cuối trời mây trắng, bến bờ qua. Ảnh Google
Cảm tác khi đọc Bông Cỏ May,
Hồi ký Võ Kim Ngân; Tổng hợp Ngân Triều.
Coû May coøn tím (Cỏ May còn tím)
Lục Viên ơi! Lục Viên ơi!
Đường về quê Ngoại của tôi ơi!
Cỏ May còn tím đường đi học,
Tím cả gò hoang, tím cả trời.
*
Tôi đứng ngoái nhìn, xa tít xa,
Cuối trời mây trắng, bến bờ qua.
Mây ơi! Xin nhắn lời ta gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi nhớ nhà.
*
Rồi bỗng mơ về thấy mẹ tôi:
Cỏ may giăng tím, chạy quanh đồi,
Run run Mẹ lặt từng hoa cỏ,
Lòng đắng, chia lìa, giọt lệ rơi!
*
Sao đã lạc loài giữa biển khơi,
Còn năm hoa cỏ, vướng chân tôi?
“Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời” [1]
Mặc Hiền, Phạm Văn Rã {
*
Lời bình, Ngân Triều

Mặc Hiền Phạm Văn Rã, Võ Kim Ngân và Ngân Triều là ba người bạn đã quen biết nhau hồi còn học chung Trường Tiểu Học Bào Trai, Hậu Nghĩa, năm học 1954-1956. Sau đó, con đường cầu học, sự nghiệp và hoàn cảnh riêng tư, đã dẫn đưa mỗi người, mỗi hướng đa đoan, mây trôi bèo dạt. Trải qua một thời dâu bể, ba tia sáng đơn sắc phân kỳ ngày xưa đó, bỗng nhiên hội tụ trong một lăng kính nhớ thương: “Hồi ký Bông Cỏ May” của Võ Kim Ngân (VKN); cảm tác “Cỏ May còn tím” thơ của Mặc Hiền (MH) và tổng hợp, lời bình của Ngân Triều (NT). Những ký ức của một thời Tiểu học, đầy ắp trong hành trang kỷ niệm của tuổi học trò trong sáng vô tư, như những con sóng nhỏ trên mặt Sông Vàm Cỏ Đông hiền hòa, long lanh, lấp lánh, phản chiếu ánh trời chiều, rực rỡ, ngỡ ngàng, để lặng lờ xuôi dòng trôi về Biển Đông mênh mông. Dòng sông đó, bây giờ, chắc đang ở tận cuối Trời Quên, theo một câu nói của một triết gia Hy Lạp: “On ne se baigne jamais deux fois, dans le même fleuve”. [2] Một thời đi học trường làng… chắc là cũng vậy. Nhưng khi hoài niệm về dĩ vãng, ai mà chẳng nghe lòng ấm áp, xôn xao.

I-Khổ thơ đầu: (Câu 1-4):
Lục Viên ơi! Lục Viên ơi! (câu 1)
Đường về quê Ngoại của tôi ơi!
Cỏ May còn tím đường đi học,
Tím cả gò hoang, tím cả trời. (câu 😎
“Cảm tác” là nhân được đọc hồi ký của Võ Kim Ngân, tác giả đã xúc cảm mà sáng tác bài thơ “Cỏ may còn tím” nầy. Qua khổ thơ mở đầu bên trên, Mặc Hiền (MH) như đã hòa nhập ngay vào vai của nhân vật trữ tình VKN bằng một nỗi nhớ tha thiết, mênh mông:
Trước hết, người đọc như trải lòng trong những tiếng réo gọi, kêu vang. Sau đó là những nỗi nhớ thương như giăng khắp cả bầu trời, thể hiện một tâm trạng u ẩn dồn nén lâu rồi, bây giờ mới có cơ hội bộc phát, tuôn chảy dạt dào. Những tiếng lòng ấy không phải chỉ cất cao một cách đơn điệu mà nó còn như lặp đi lặp lại, réo rắt, tăng tiến, ngân nga, biểu cảm, sâu lắng, qua nghệ thuật khéo dùng những điệp từ: 3 từ hô ngữ ơi, 3 từ tím và hai lần nhấn gọi tên Lục Viên quê ngoại [3] ; bồi hồi trong cõi nhớ là hình ảnh như in của con đường về quê ngoại của VKN.
Hai câu tiếp theo lại dồn dập thêm, nhấn mạnh hơn bằng 3 điệp từ tím. Màu tím là màu kết hợp cùng khối lượng của màu xanh và đỏ. Màu tím thường tượng trưng cho sự nhung nhớ, tiếc thương: tâm trạng của tác giả thể hiện ở đây là nỗi lòng ngùi nhớ một con đường đi học, đầy những bông cỏ may tím ngát; thương biết bao phần mộ tổ tiên, quê nhà, tím cả gò hoang; trong nỗi niềm xa xứ, khi hồi tưởng, trong tâm khảm chỉ còn những nỗi buồn thương giăng chất ngất, ngập lòng.
Quả đúng với câu nói của Hàn Dũ 韓愈 (768-824), một tác gia thời Trung Đường, đã nhận xét: “Mọi vật vật hễ không được cái thế quân bình thì kêu lên”. [4] Hay suy rộng ra, “người có điều quặng thắt tâm can, khắc phải bày tỏ lòng mình” …cho vơi đi những niềm thương nỗi nhớ đang vò nát con tim, cho phôi pha một thành sầu u uất:
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại, một ngày dài ghê!
Đoạn Trường tân thanh, Nguyễn Du, (1765-1820), câu 249-250)

II- Khổ thơ thứ hai, (Câu 5-8):
Trung thực, tỏ lòng.
Tôi đứng ngoái nhìn, xa tít xa,
Cuối trời mây trắng, bến bờ qua.
Mây ơi! Xin nhắn lời ta gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi nhớ nhà.
Hai câu (5-6) lấy ý từ một tấm ảnh cũ, đã đăng trên Giai Phẩm Xuân Hậu Nghĩa số 2: Hình một con tàu chạy ra khơi, VKN đang nhìn ngoái lại (MH giải thích). “Ngoái nhìn” đồng nghĩa với “ngoảnh lại” là trông lại phía sau lưng mình, nhìn lại con đường dài đã đi qua mà cảm xúc.
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan [5](1805-1848)
Xa tít xa là khoảng cách xa xôi diệu vợi, muôn trùng sông núi. Quê nhà nhìn từ xứ người, chẳng còn trong tầm mắt, mà chỉ còn thấy một khoảng không, ngàn dặm, xa lắc, mịt mù …[6]
Mây trắng [7] hay mây bạc còn bao gồm một nghĩa hàm ần, là tấm lòng nhung nhớ cha mẹ, quê hương vời vợi, xa xôi.
Hai câu 7-8, có thể là bộc trực lòng mình một cách trữ tình:
Mây ơi! Xin nhắn lời ta gởi,
Không nhớ nào hơn, nỗi nhớ nhà.
Ai đã từng lữ thứ, tha hương mới thấm thía nỗi nhớ nhà, vô kể:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
日 暮 鄉 闗 何 處 是
烟 波 江 上 使 人 愁
黃 鶴 樓, 催 顥
Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu (? – 754)
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!
Tản Đà (1889-1939) dịch
Hoặc:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Tràng giang, Huy Cận (1919 -2005)
III-Khổ thơ thứ ba: câu (9-12)
Nhớ hình ảnh mẹ hiền, trong giây phút chia phôi.
Rồi bỗng mơ về thấy mẹ tôi:
Cỏ may giăng tím, chạy quanh đồi,
Run run Mẹ lặt từng hoa cỏ,
Lòng đắng chia lìa, giọt lệ rơi!
Trong giây phút ơ thờ đó, tôi bỗng mơ về thấy mẹ tôi. Hình ảnh người Mẹ hiền suốt đời tần tão, lúc nào Mẹ cũng chăm lo, vun vén hạnh phúc cho từng đứa con. Hạnh phúc hay sự nghiệp của con chính là niềm vui của Mẹ.
Giăng tím là nỗi nhớ khôn nguôi trong tâm khảm. Cỏ may…chạy quanh đồi chính là phần mộ của họ hàng quá vãng. Đây chính là hình ảnh thiêng liêng gắn liền với truyền thống gia phong của tổ tiên mà lớp hậu duệ cháu con, dù sống ở nơi đâu, cũng phải ghi nhớ và bắt buộc phải trân trọng tuân thủ nếp nhà để khỏi phải làm ô danh gia tộc.
Nhất là một chi tiết mà mỗi lần nhớ lại, tôi không thể không mềm lòng:
“Trước khi từ giã Mẹ và người thân, đón xe về Saigon để rồi đánh liều, dấn bước phiêu linh trong một hành trình vô định; có thể chuyến đi đó là một chuyến đi, tôi đã giao nộp sinh mệnh cả gia đình tôi cho tử thần, cho dẫu lúc đó tôi đang ở tuổi yêu đời phơi phới, tuổi 38; lúc đó, Mẹ tôi và tôi đối diện nhau, cùng lặt những bông cỏ may ở phần mộ tổ tiên, đã lặng lẽ kết thành những hoa văn ngẫu nhiên, ngộ nghĩnh trên hai ống quần dài đen cũ kỹ của tôi. Tôi rưng rưng nhìn bàn tay Mẹ run run. Mỗi bông cỏ may, Mẹ lặt đến hàng mấy lần mới được một, rồi “Mắt lệ đắm trong miền cách biệt”, Thế Lữ, (1907 – 1989); trong thổn thức quặn lòng. Hai mẹ con, nhìn nhau, thật lâu, lau nhanh những giọt lệ rơi rơi. Khi ấy, lòng tôi bỗng xót xa, cay đắng cho giây phút “sinh ly tử biệt” của bản thân biết là ngần nào! (VKN)”.
Chỉ 4 dòng thơ tự nhiên, hàm súc, gợi tả, MH đã nhập vai nhân vật trữ tình trong một tâm trạng, một hoàn cảnh như thế, quả thật rất tuyệt vời. Cho hay, cảnh biệt ly nào, cũng đắng lòng, cũng bồi hồi rơi lệ. Ôi! Cảnh biệt ly, sao mà buồn vậy! (Quốc Văn giáo khoa thư). Và cũng như:
Nhưng trong khoảnh khắc ơ thờ ấy,
Thấy cả muôn đời hận biệt ly.
Giây phút chạnh lòng, Thế Lữ, (1907 – 1989)

IV- Khổ thơ cuối (câu 13-16): Tự hỏi và nỗi lòng.
Sao đã lạc loài giữa biển khơi,
Còn năm hoa cỏ, vướng chân tôi?
“Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời” [8]
Hai câu 13-14, tác giả MH muốn nói thay lời cho nhân vật trữ tình, trong hồi ký Bông Cỏ May của VKN.
“Quả là một sự ngạc nhiên, thú vị đến ngẩn ngơ! Tôi đã lìa xa quê hương, xứ sở, đã đành phận mình. Điều đó, hiểu theo một góc độ nào đó, một cách chủ quan về hoàn cảnh là “tôi đã từ bỏ quê hương, sống lạc loài như một người vong quốc, vong bản, lưu đày” …nhưng “hồn quê thắt chặt bước chân tôi” như những “Bông Cỏ May” vẫn “quyến luyến, dìu dặt bước chân tôi” như duyên số, như một khẳng định hùng hồn trong lòng của triệu triệu người Việt Nam đồng hội đồng thuyền: “Việt Nam! Việt Nam! Nghe từ vào đời, Việt Nam hai câu nói trên vành nôi...Việt Nam! Việt Nam! Tên gọi là Người, Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời! [9]
Đến đây là lời bình hai câu cuối, thơ VKN mà MH đã sử dụng như 2 câu kết trong bài thơ cảm đề của mình:
“Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời” (*)
Phiêu linh là trôi nổi lênh đênh như những chiếc lá bị sóng dập gió dồi, nổi trôi vô định trên dòng nước cuốn. Man mác là tâm trạng đượm buồn triền miên. Bâng khuâng là cảm xúc luyến tiếc và nhớ thương đan xen lẫn nhau. Một hướng trời là thiên nhất phương, chỉ quê hương Việt Nam yêu dấu, trăm mến ngàn thương [10]
Đó là nỗi lòng và là những tình cảm tha thiết đầy tự hào về cội nguồn, về quê hương xứ sở, vẫn canh cánh bên lòng.
Tóm lại, Bông Cỏ May của VKN là một hồi ký chân thành về ký ức tuổi thơ và câu chuyện chủ quan, riêng tư. Cỏ May còn tím của Mặc Hiền Phạm Văn Rã, là bài thơ cảm tác mượt mà, đồng cảm, thác lời tác giả BCM để góp phần cất cao tiếng lòng thanh khí để khái quát hóa và góp phần nâng cao nội dung tác phẩm.
Riêng Ngân Triều chỉ là một người góp nhặt, tổng hợp, trưng bày trong tuyển tập nầy… như một gã lãng tử, lang thang trên một bãi biển hoang vắng, nhặt những vỏ sò nhiều màu sắc long lanh, có nhiều hình thù lạ mắt… của sóng biển đánh giạt vào bờ… cắp nắp đem về tặng những người bạn mà NT quý mến.
Những người bạn quý mến ơi! Xin cảm ơn đã đọc tuyển tập nầy nhé! Và khi đọc xong, có thể xem như quý bạn đã nhận được một quà tặng đơn sơ của chúng tôi, những chiếc vỏ sò ngoạn mục, bắt được một cách ngẫu nhiên; những nét đẹp chủ quan, giai điệu của tiếng lòng ngân nga…
Hậu Nghĩa ngày 08/08/2014,
Thân ái,
Ngân Triều
***
Chú thích:
[1] Nguyên văn thơ của Võ Kim Ngân:
Bông Cỏ May! Bông Cỏ May ơi!
Hồn quê thắt chặt bước chân tôi.
Phiêu linh dù đã xa muôn dặm,
Man mác, bâng khuâng một hướng trời.
[2] Ảnh có chứa Đồ tạo tác, Thuật chạm khắc, bức tượng, Điêu khắc đá
Mô tả được tạo tự động
Heraclite: On ne se baigne jamais deux fois, dans le même fleuve. “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông bao giờ”. Heraclite (thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên- khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên), người Hy Lạp, ông là một nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng.
[3] Ấp Lục Viên, đầu tiên chỉ có 6 khu vườn nhà đến lập nghiệp, nên được gọi là Lục Viên; nay là ấp Đức Hạnh 2, xã Đức Lập Hạ, giáp ranh với Thị Trấn Hậu Nghĩa, Huyện Đức Hòa, Long An)
[4] “Vật bất đắc kỳ bình, tắc minh” 物 不 得 其 平 則 鳴. Nghĩa là: “Mọi vật hễ không được cái thế quân bình thì kêu lên” (Hàn Dũ (韓 愈 (768-824) – Bài tựa “Tiễn Mạnh Đông Dã”)
[5] Bà Huyện Thanh Quan, (1805-1848): 婆縣青關; hay Thanh Quan huyện phu nhân; 青關縣夫人, (1805 - 1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh (阮氏馨).
[6] “Tôi” chỉ còn thấy những tầng mây trắng lơ lửng bay bay tận cuối chân trời.
[7] Theo điển cố “Bạch vân tư thân”, 白 雲 思 親 mây trắng nhớ cha mẹ:
Địch Nhân Kiệt狄仁傑, (630 - 700) đời Đường, làm Tham Quân ở Tinh Châu. Vì việc quan cấp tập, nhiều năm trời không được về thăm song thân. Một hôm, nhân lên núi Thái Hàng, nhìn thấy một đám mây trắng phía Hà Dương, mới chỉ đám mây trắng ấy, đanh tròng mắt lệ, nghẹn ngào, nói cùng tả hữu:
“Kìa! Dưới đám mây trắng xa xa, chắc là nhà của song thân ta”.
Hay:
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc, biết đâu là nhà.
ĐTTT, Nguyễn Du, (1765-1820), câu 1787-1788
Hoặc:
Cách năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri, chàng phải liệu mà thần hôn.
ĐTTT, Nguyễn Du, (1765-1820), câu 1599-1600.
[8] Trích thơ Võ Kim Ngân.
[9] Ca từ bài hát Việt Nam! Việt Nam của Phạm Duy, (1921 – 2013).
[10] Xin xem thêm chú giải của NT ở phần cuối Hồi Ký BCM của VKN.
***
Ảnh minh họa:

b: Ảnh Võ Kim Ngân