14 thg 3, 2026

Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU- Đỗ Chiêu Đức

     Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU

    

                                                   

        Trong qúa trình hòa nhập vào cuộc sống của Việt Nam,

 những người Minh Hương đã sống tích cực như một người Việt

 Nam thuần túy, họ làm tất cả các ngành nghề mà người Việt

 bản xứ đã làm và sống hòa nhập một cách hồn nhiên tích cực 

để nhận nơi nầy làm quê hương; Và một trong cách sống hoà 

nhập "hòa nhập nhất" là lấy vợ Việt Nam, sanh con đẻ cái trên 

mảnh đất tạm dung mà họ đã chấp nhận là "Quê hương thứ hai"

 nầy, kể cả việc đi vào những vùng sâu vùng xa để khai hoang lập 

ấp và lao động cật lực với ruộng vườn rẫy bái... Nhất là ở vùng 

đồng bằng sông Cửu Long của Nam kỳ Lục tỉnh với hệ thống sông

 ngòi chằng chịt và khí hậu thiên nhiên ưu đãi, như bà con thường

 kháo nhau "Chỉ cần có cái quần "xà-lỏn" là có thể sống quanh 

năm"; Còn bà con người Hoa (Minh hương) thì cho rằng vùng đất

 thiên nhiên của Miền Nam là vùng "Ngư Mễ Chi Địa "

 hay nói một cách thân thương hơn là "Ngư Mễ Chi Hương  

" là "Quê hương của CÁ và GẠO". Có nghĩa là vì thiên 

nhiên ưu đãi với khí hậu và sông ngòi chằng chịt, nên đời sống rất

 dễ dàng dễ chịu. Sông ngòi khắp nơi nên cá tôm có khắp nơi, khí 

hậu ưu đãi nên không biết rét mướt là gì. Có nghĩa sống quanh 

năm mà không phải lo gì đến cơ hàn đói lạnh cả!

      Từ năm Kỷ Mùi (1679), vì không muốn quy phục nhà Thanh,

 bốn vị tướng nhà Minh đã đem hơn 3.000 người cùng 50 chiếc 

thuyền từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào hai cửa biển của Việt 

Nam xin qui phục. Nghe theo lời bàn của triều thần, chúa Nguyễn

 Phúc Tần đã cho họ vào khai khẩn những vùng đất ở phía Nam. 

Từ đó, nhóm người Hoa này đã vỡ đất phá hoang, cày ruộng, dựng

 nhà và phố chợ, buôn bán với thương nhân đến từ nhiều nước 

khác... và dần dần hình thành nên một trong những khu phố Hoa 

kiều lớn nhất trên thế giới như Sài Gòn Chợ Lớn.

      Bỏ qua qúa trình về lịch sử phát triển của người Hoa ở Việt 

Nam, chỉ nói thêm một chút về Ngũ Bang của người Hoa ở 

Sài Gòn Chợ Lớn : 

1. Người Phước Kiến   thuộc tỉnh Phúc Kiến, 

2. người Quảng Đông 

3. Triều Châu 

4. Hải Nam   và 

5. người Hẹ (khách gia  ), thuộc tỉnh QUẢNG ĐÔNG 

 (Hải Nam trước mắt là một đơn vị hành chánh độc lập). 

Người Quảng Đông giỏi buôn bán kinh doanh, nên hiện diện đầy 

cả Chợ cũ Sài gòn và Chợ Lớn Mới; Người Hẹ (còn gọi là Khách 

Gia ) giỏi nghề thầy thuốc, trị bệnh; Người Phước Kiến 

thường theo nghề dạy học, xuất nhập khẩu; Người Hải Nam làm 

các nghề dịch vụ như mở quán nước, nhuộm đồ, bịt răng...; Người 

Triều Châu, còn gọi là người Tiều Châu và gọi cho gọn lại là Người

 Tiều, thì đa số làm ruộng làm rẫy, nên thường sống ở vùng ngoại ô

 như Phú Lâm, Lục Tỉnh như Sóc trăng, Bạc Liêu. Ta thường nghe

 câu hát :

                        Bạc Liêu là xứ cơ cầu,

                Dưới sông cá chốt, Tiều Châu trên bờ !  

      hay như :

                      Bạc Liêu nước chảy lờ đờ,

                Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu !


      Cho thấy quần thể người Tiều Châu sống ở khắp cùng vùng sâu

 vùng xa thành phố, và sống rất khắc khổ, chịu thương chịu khó 

trong công việc đồng áng, và cũng chính người Tiều Châu hòa nhập

 vào cuộc sống nông thôn của người Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất

 và đông nhất; Cũng như người Quảng Đông là quần thể sống về

 nghề buôn bán và công kỹ nghệ nên thường tập trung ở các thành

 thị chợ búa đông đúc. Như trước năm 1975, người Việt vào Chợ 

Lớn buôn bán cũng phải học nói tiếng Quảng Đông nếu như muốn business của mình được thuận lợi suôn sẻ.


      Dân chúng miền Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long của

 vùng Nam kỳ Lục tỉnh nói riêng, khi trao đổi giao tiếp trong ngôn

 ngữ thường lẫn lộn rất nhiều từ ngữ mang âm sắc của tiếng Tiều 

Châu và Tiếng Quảng Đông như trong các bài Tạp ghi và Phiếm 

luận của Đỗ Chiêu Đức: "Từ Chè Tào thưng đến Bò bía", "Uống 

Xây chừng đái ra Xây Nại", "Dzách cô xíu mại, lượng cô Tài Páo"... 

     Thể theo lời yêu cầu của các thân hữu, sau đây là...

 

                    BẢNG LIỆT KÊ NHỮNG TỪ TIẾNG VIỆT 

               Có Gốc TIỀU CHÂU (T) và QUẢNG ĐÔNG (Q)


A. A là Tiếp đầu ngữ của cả tiếng Tiều và tiếng Quảng dùng 

để gọi người từ nhỏ đến lớn, như : 

     - A Mủi  , A Ché   (Q) là Em gái, Chị gái.

     - A Mùi  , A Chế   (T) là Em gái, Chị gái.

     - A Tỷ  , A Hia   (T) là Em trai, Anh trai. Ta hay gọi

 là "Thằng Tỷ".

     - A Xúc  , A Xẩm   (Q) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là

 "Thiếm Xẩm".

     - A Chệt  , A Xiếm   (T) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là

 "Chú Chệt".

     - A Pá  , A Má   (Q); A Pa  , A Má   (T) là 

Ba, Má. Còn gọi là Pà Pá, Mà Má.

     - A Coon  , A Mắ   (T) là Ông nội, Bà nội.

     - A Dè  , A Mà   (Q) là Ông nội, Bà nội.

     - A Cúng  , A Phò   (Q) Ông ngoại, Bà ngoại. "Bà

 già Phò" là Bà ngoại đó.

     Đặc biệt những con vật trong Lục súc sống gần gũi với con

 người cũng được dùng Tiếp đầu ngữ A   để gọi, như:

     - A Cẩu   (Q) là con Chó. "A CẨU" cũng dùng để gọi

 người có tên CẨU.

     - A Ngầu   (Q) là con Trâu, con Bò. "A NGẦU" cũng 

dùng để gọi người có tên NGẦU.


Á. Á Phiện (T) đọc trại âm Tiều Châu là "A-Phẹn", âm 

Hán Việt là NHA PHIẾN (tên khoa học: Lachryma papaveris). 

Một chất ma túy có gốc là mủ khô thu được từ vỏ mầm của cây 

anh túc hay cây thẩu Papaver somniferum thuộc họ Anh túc (Papaveraceae).

       Ta có câu đối rất hay về Á Phiện ở một tiệm hút của Thị 

Trấn Cái Răng xưa như sau:

      

            分,蓋 路; 

Nha phiến tam phân, cái thế anh hùng quy tuyệt lộ;

            項,風 途。 

Phiêu đổ nhị hạng, phong lưu tử đệ nhập cùng đồ.

Có nghĩa :

        - Chỉ cần ba phân Á phiện thôi cũng đủ làm cho anh hùng 

cái thế đi đến con đường tuyệt lộ; Còn...

        - Hai thứ chơi bời và cờ bạc, sẽ đưa con em phong lưu

 phóng đãng vào bước đường cùng!


                           

B. BA là âm "A PA " của Tiều Châu chỉ người CHA; Ta gọi theo là BA.

    - BẠC là âm Quảng Đông của từ BẠCh là Trắng. Ta có từ:

    - BẠC TẨY (Q) Ly nước đá cục, chưa có nước gì trong 

đó cả. Tùy theo tình huống, "Bạc Tẩy" cũng có thể là ly sữa nước

 sôi.

    - BẠC XIỂU PHÉ (Q) là Cà Phê sữa nhỏ ít cà phê.

    - BẢO KÊ là âm Tiều Châu "Bỏ Kê" được đọc trại ra của từ 

BẢO GIA là "Nhà Bảo Đảm". Có BẢO KÊ tức là có ai đó

 Bảo đảm, có người chịu trách nhiệm.

   - BẬU 𡚸 : Có nghĩa là Vợ, là em gái. Âm địa phương của Tiều 

Châu là "BẤU". Người chồng Tiều Châu gọi vợ Việt Nam là BẬU.

 BẬU trong tiếng Tiều Châu còn có nghĩa là CÔ GÁI, là "Cha-Bấu

  𡚸" là Con gái.   

    - BÍA (T) âm Hán Việt là BỈNH, có nghĩa là BÁNH, thường 

gọi là "Bánh Bía" hay "Bánh Pía", "Bánh Mì-Sủi" là loại bánh ăn

 dặm để uống cà phê vào buổi trưa.

    - BÍM hay BÍNH âm Quảng Đông là BÍL, chữ Nho là BIỆN TỬ

  là Tóc kết Đuôi Sam, bình dân gọi là "Thắt Bính".


              

    - BINH XẬP XÁM (Q) là một kiểu chơi bài của người Quảng  Đông. XẬP XÁM là âm Quảng Đông của từ THẬP TAM 

 là Mười ba. Chia bộ bài 52 lá ra làm 4 tụ. Mỗi tụ 13 lá chia 

làm 3 chi: Đầu, giữa, và cuối; Rồi so nhau xem bài nào lớn thì 

thắng.

    - BÒ BÍA (T) là BẠC BỈNH :BẠC là Mỏng ;BỈNH là Bánh;

 là một loại bánh mỏng. Có hai loại: Loại ngọt và loại mặn. Loại 

ngọt tráng bằng bột bắp gói kẹo mạch nha sốp rắc thêm mè đen mè

 trắng và dừa xác nạo mỏng, ăn rất ngon rất bắt, ăn hoài không 

chán. Loại mặn là bánh tráng nem của ta gói củ sắn sắt sợi xào với

 tôm khô, thêm trứng và lạp xưởng vào cùng với vài lá rau quế, 

cuốn tròn lại chấm với tương ớt, ăn quên thôi. Thường thấy các 

chú Ba đẫy xe bán ở trước các cửa trường học cho học sinh thích

 ăn hàng vặc.

    - BÒ HÓ NÁNG là âm Tiều Châu của nhóm từ BẤT HẢO NHÂN

  . có nghĩa là : Người không tốt, người xấu.

    - BỐ TỜI là đọc trại âm Tiều Châu "BỐ-TÒ" của từ BỐ ĐẠI  

là Cái túi bằng vải, còn được gọi là cái BAO BỐ TỜI.

                    

              Bò bía mặn                               Bò bía ngọt                                     Bao bố tời


C.  - CAI âm Quảng Đông của từ GIỚI là Cấm đoán, Từ Bỏ. Như CAI Thuốc, CAI Rượu là Bỏ Thuốc Bỏ Rượu, không hút thuốc không

 uống rượu nữa. Ta có từ CAI NGHIỆN là Từ bỏ cái tật ghiền cái

 gì đó. 

    - CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO là : Dặn theo chiều 

ngược kim đồng hồ, như "CẢO con tán bị dính cứng lâu ngày ra".

    - CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO là : Bánh quai vạc, 

như SỦI CẢO là Bánh quai vạc nước. Khi chiên lên để ăn 

cho giòn là "CHÍL CẢO  ", còn khi được nấu chung với mì 

sợi thì gọi là CẢO MÌN .

    - CẢO HÚ âm Tiều Châu của từ CÂU PHÓ là Đủ Bộ. Một

 loại bài tứ sắc cây lớn với cách chơi gom cho đủ bốn màu của các 

con bài giống nhau cho đủ bộ. Như : Đánh Tứ Sắc chán rồi thì 

đánh Cảo Hú.

                         

                                 

                        Sủi Cảo                                Bài Cảo Hú


    - CẤY âm Quảng Đông của từ KÊ là Con GÀ. Ta có từ TẢ 

CẤY là ĐẢ KÊ, nhưng không có nghĩa là "Đánh Gà", mà là 

"Đi Chơi Bời". Có thể vì cách nói nầy của người Quảng Đông mà 

ta có từ "Gà Móng Đỏ" để chỉ các cô gái cô gái làng chơi chăng?!

    - CÔ âm Tiều Châu của từ CÔ là Chị em gái của Ba. A CÔ

  A TỈA là từ dùng để gọi CÔ và DƯỢNG (chồng của Cô).

    - CÓN âm Quảng Đông của từ QUANG là Sáng. Ta hay nói: 

Cái đầu sói (hói) không có tóc LÁNG CÓN là chữ CÓN nầy. Láng 

Cón là Láng bóng lên.

    - CỐNG HỈ PHAT SỒI là âm Quảng Đông của lời chúc Tết: 

CUNG HỈ PHÁT TÀI , còn được đọc là CÚNG HỈ FAT

 XỒI : Năm mới cùng mừng nhau phát tài. 

    - CÚ âm Quảng Đông của từ CAO . Ta thường nghe gọi những người cao nhồng là CÚ LỦ . như CÚ LỦ Yao Ming   (cầu thủ 

bóng rổ nổi tiếng của Trung Quốc, cao 2,29m).

    - CÙ LỦ âm Quảng Đông của từ PHÙ LÃO là một trong 

các cấp ăn thua của lối chơi bài "Xập Xám Chướng  "(Bài 

13 lá), gồm có Một đôi và Ba cây giống nhau. Người Quảng đọc là 

PHÙ LỦ, ta nói trại thành CÙ LỦ.


                                           

            Cú lủ Yao Minh                    Cù lủ : Đôi 5 và 3 cây J


    - CŨ âm Tiều Châu của từ CỮU là Cậu, anh em trai của

 má. Người Tiều gọi Cậu Mợ là A CỦ , A KIỂM .

    - CŨ âm Tiều Châu của từ CỔ là Cũ là Xưa. Ta thường hay

 sử dụng từ CŨ XÌ là âm Hán Việt của từ CỔ THÌ là Hồi 

xưa, là Cũ lắm rồi!


 CH.  - CHÀNH âm Tiều Châu của từ SẠN là cái kho chứa. 

Ta hay nghe từ CHÀNH LÚA là Cái kho chứa lúa, là nơi chuyên

 kinh doanh về lúa gạo. Thường thì CHÀNH LÚA ở sát bên

 Nhà Máy Xay Lúa.

    - CHẠP PHÔ âm Quảng Đông của từ TẠP HÓA là đồ 

linh tinh tạp nhạp trong cuộc sống hằng ngày. Ta có từ TIỆM 

CHẠP PHÔ là Tiệm Tạp Hóa.

    - CHAY âm Quảng Đông của từ TRAI là Trai giới, là nơi 

học tập hay tu tập. Người Quảng nói XỰC CHÁY là ĂN

 CHAY. Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh cũng là chữ TRAI 

nầy; có nghĩa: Ghi lại những chuyện lạ nơi phòng học vắng vẻ.

    - CHỆT âm Tiều Châu của từ THÚC là Chú, là em trai của

 ba. Gọi Chú Thiếm là A Chệt , A Xiếm . Từ THIẾM

 là do âm Tiều Châu "A Xiếm" nói trại mà ra; Còn Chú là Chệt,

 thì ta lại có từ kép là CHÚ CHỆT để chỉ chung cho tất cả những

 người Hoa Phái Nam.

    - CHÍ MÀ PHỦ âm Quảng Đông của nhóm từ CHI MA HỒ

. CHI MA là Mè (vừng), HỒ là chất sệt dính; nên CHI MA 

HỒ là Chè Mè Đen rang thơm mè rồi nấu với bột Tapioca của 

người Quảng Đông, Việt Nam ta lại rắc thêm dừa nạo hay chan

 thêm một muỗng nước cốt dừa màu trắng lên trên trông đẹp

 mắt mà ăn lại béo hơn ngon hơn.

                        

                   

    - CHÍ QUÁCH âm Quảng Đông của từ TRƯ CỐT là Xương

 heo. Ta đọc trại đi thành "Xí QUÁCH" là những khúc xương heo

 được nấu trong nồi súp hủ tiếu mì, các bợm nhậu rất thích vì nhậu

 rất bắt. Trong XÍ QUÁCH lại có cả TỦY ở trong đó, mà TỦY là 

tinh lực của xương và là sinh lực của con người, nên khi lao động 

qúa mỏi mệt thì người ta hay than là "Hết Xí Quách rồi!"

    - CHÍA âm Tiều Châu của từ THỰC là Ăn, nhưng vì là thanh

 Trắc nên khi ghép với các từ khác thường được chuyển thành thanh

 Bằng. Như câu "CHÌA MÍ CÁI ?" là Ăn cái gì ? CHÌA BỪNG là 

Ăn Cơm; CHÌA MÚI là Ăn Cháo... Ta lại thường nghe câu nói vui

 là "CHÌA BỪNG, CHÌA MÚI, CHÌA CHUỐI, CHÌA... KHOAI 

LANG !..."


                  Bừng (cơm),           Muối (cháo),              Chuối  và                   Khoai Lang...


D. - DZÁCH âm Quảng Đông của chữ NHỨT là số 1. Ta

 thường dùng từ SỐ DZÁCH để chỉ cái gì đó rất tốt, là hảo hạng,

 là không có gì hơn được.

   - DZÁCH CÔ âm Quảng Đông của từ NHẤT CÁ là Một

 người, một cái... gì đó, như câu order : "DZÁCH CÔ xíu mại, 

LƯỢNG CÔ Tài Páo" là "Một cái xíu mại, hai cái bánh bao lớn"..

   - DZÁCH LẦU âm Quảng Đông của từ NHẤT LƯU là 

Hạng Nhất.

   - DÀNH âm Quảng Đông của từ NHÂN là Người. DZÁCH

 CÔ DÀNH là Một Người.  Ta thường nghe câu nói chơi

 cho vui là : DZÁCH CÔ DÀNH XỰC DZÁCH CÔ... XƯỜNG 

TẠI; có nghĩa: Mỗi môt người ăn một trái... Xoài Tượng !

   - DẦU âm Quảng Đông của từ DU là Dầu mỡ. Ta có từ DẦU

 CHÁ QUẢY là DU TẠC CỐI là một loại Bánh bột chiên

 có hai cọng dính liền nhau, tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối đã

 hạm hại trung thần Nhạc Phi, nên bị bỏ vào chảo dầu chiên giòn 

để cắn ăn cho hả giận.

DẦU CHÁ QUẢY còn được gọi trại đi thành GIÒ CHÁ QUẪY.

   - DÍ âm Quảng Đông của từ DI là Dì, là chị và em gái của má. Người Quảng Đông gọi Dì Dượng là A DÍ , A CHẺNG .

   - DỤ KHỊ âm Quảng Đông của từ DỤ KỲ . DỤ là Phủ dụ,

 là nói lời ngon ngọt; KỲ là ngôi thứ ba phiếm chỉ người nào đó;

 Nên "Nói lời ngon ngọt để dụ dỗ một người nào đó" thì gọi là DỤ

 KHỊ.

   - DÈNG CHẤU XẢO FÀN là âm Quảng Đông của nhóm từ 

DƯƠNG CHÂU SAO PHẠN là Cơm Rang Dương 

Châu, là Cơm được rang theo kiểu thành phố Dương Châu ở

 Trung Quốc. Ta còn gọi là CƠM CHIÊN DƯƠNG CHÂU.

   - ĐẦU NẬU âm đọc trại tiếng Quảng Đông "THẦU NỤ" là

 ĐẦU NÃO : Đầu và Não là hai cơ quan dứng đầu và cao

 nhất trong con người, nên "ĐẦU NẬU" là từ dùng để chỉ người

 có đầu óc chỉ huy, đứng đầu một băng nhóm hay một ngành

 nghề... nào đó.

 

                                           

 H. - HÁ âm Quảng Đông của từ HÀ là Tôm, Tép. Từ thường

 dùng đặt tên cho những đứa con khó nuôi, như XÚ HÁ

 Con tép ốm. Ta có từ "Xấu Hái" khó nuôi.

   - HÁ CẢO âm Quảng Đông của từ HÀ GIẢO là loại 

bánh quai vạc nhỏ bằng bột tapioca trong bọc tôm thịt, như viên

 "Xíu mại" nhưng có màu trắng vì lớp bột tapioca bên ngoài.

   - HẮC-ÍN âm Quảng Đông của từ HẮC YÊN là Khói đen;

 Ở đây chỉ lớp nhựa đen để tráng đường đi.

   - HÀM BÀ LẰNG âm Quảng Đông của nhóm từ HÀM VÔ 

LUẬN là Bất kể, là Bao gồm tất cả, là Tổng cộng, là Gộp

 hết lại.

   - HẦU BAO âm Quảng Đông của từ HÀ BAO là Ví tiền, 

là Túi đựng tiền, là cái Bóp tiền. Mở Hầu Bao ra là mở ví tiền ra

 để... làm gì đó. 

   - HẦU SÁNG âm Quảng Đông của từ HẬU SINH  là Người

 Bồi bàn trong các quán ăn. Trong các cuốn tiểu thuyết của Tự Lực

 Văn Đoàn rất hay nhắc đến từ  HẦU SÁNG nầy.

   - HẨU XỰC âm Quảng Đông của từ HẢO NGẬT là Ăn

 Ngon, là Ngon, như khen "món đó Hẩu Xực", có nghĩa Món đó rất ngon.   

   - HÒ XỪ XANG XÊ CỐNG âm Quảng Đông của nhóm từ HÀ SĨ

 THƯỢNG XÍCH CÔNG là Ngũ Âm trong âm nhạc

 cổ điển Việt Nam ta. 

   - HOÀNH THÁNH âm Quảng Đông cùa từ VÂN THÔN

 Nuốt Mây: Chỉ những thịt heo bầm được bóp lại trong một miếng

 bột mì hình vuông màu vàng, khi luộc chín những cánh bột bung 

ra trông như những cục mây nho nhỏ, nấu trong nước súp  bỏ thêm 

xà lách, hành ngò, dùng muỗng múc từng cục bỏ vào miệng như 

nuốt những cục mây, rất thơm ngon. Còn được gọi là MÌ THÁNH;

 Người miền Bắc đọc trại đi thành VẰN THẮN. Nấu chung với mì

 thành HOÀNH THÁNH MÌ, là VẰN THẮN MÌ là món ăn sáng 

vừa no vừa ngon của các tiệm nước người Hoa ngày xưa.

               

                              

        - HỘP âm Quảng Đông của chữ HẠP là Cái Hộp để đựng đồ.

   - HÙNG âm Quảng Đông của chữ HỒNG là Màu đỏ. Ta có từ 

HÙNG TẨU SÁ là Chè Đậu Đỏ.

   - HỦ TÍU âm Tiều Châu của từ QỦA ĐIỀU 粿 là Bánh sợi.

 Những sợi bánh được làm bằng bột gạo của người Tiều Châu,

 được nấu trong nước súp xương, với hành ngò giá hẹ, trên thêm 

vài lát thịt heo mỏng, môt miếng tôm chiên dòn, là ta có một tô Hủ

 Tíu ngon lành. Âm Tiều Châu chánh gốc là CỦI TÉO, bị đọc trại

 thành HỦ TÍU, CỦ TÍU, PHỞ TÍU... "HỦ TÍU GỎ" là loại Hủ tíu

 bình dân được người bán bưng đến tận nhà dù ở trong hẽm nhỏ,

 thường được nấu trên các xe Hủ tíu bình dân được đẩy đi đến tất

 cả hang cùn ngỏ hẽm.

                        

                          


   - HUI NHỊ TÌ âm Quảng Đông của nhóm từ KHỨ NGHĨA ĐỊA 

là Đi vào nghĩa địa, là chết đó. Như: "Nó hui Nhị tì rồi" là Nó đã chết rồi đó.

   - HỤI âm Tiều Châu của từ HỘI là Hôi họp. HỤI còn là Danh

 từ chỉ môt nhóm người hội họp lại để cùng giúp đỡ nhau về mặt

 tài chánh, gọi là CHƠI HỤI. Như quy định mỗi tháng họp một lần, mỗi người phải bỏ ra một ngàn cho một người nào đó lấy đem về chi

 dụng trước, tháng sau thì đến lược người khác đem về, người được

 đem tiền về gọi là ĐI HỐT HỤI... Khi đi bốc thăm xem tháng nầy

 ai được đem tiền về gọi là ĐI KHUI HỤI. Người cuối cùng được 

đem tiền về gọi là "HỐT HỤI CHÓT". Thường thì cũng có GIAO

 KÈO CHƠI HỤI hẵn hoi.


K. - KỈ TỐ âm Quảng Đông của từ KỶ ĐA là Bao nhiêu ? Là

 Nghi vấn tự thường dùng để hỏi. Như KỶ TỐ LÚI ? là "Bao nhiêu

 tiền vậy ?".

     - KHUI âm Tiều Châu của chữ KHAI là Mở ra. Như từ KHUI

 HỤI ở trên, ngoài ra ta còn có từ KHUI KHẠP trong bài Tứ sắc, 

KHUI đồ họp, KHUI thùng hàng... KHUI RA là Mở ra, còn có

 nghĩa là Khai ra việc gì đó.                                                          

 

                          

                                      


L. - LẠP CHẠP âm Quảng Đông của từ LẠP SẮC là Rác 

rưởi. Ta đọc trại đi thành LẠP XẠP, nên có từ XẠP XẠP THỦNG

  là Thùng xúc rác, cái gì cũng chứa cả! Ta hay nghe nói: 

"Thằng đó nó ăn như cái LẠP XẠP THỦNG vậy!"

   - LẠP CHÚC âm Quảng Đông mà cũng là âm VIỆT HÁN của từ

 LẠP CHÚC : LẠP nầy có bộ TRÙNG là Sâu bọ bên trái,

 nên có nghĩa là Sáp của con ong; CHÚC là Đuốc. LẠP CHÚC là 

"Cây đuốc bằng sáp" là cây "Đèn Cầy, Đèn Sáp" đó. Bà con miền

 Bắc thì gọi là Cây NẾN. Nói đến LẠP CHÚC làm cho ta lại nhớ 

đến hai câu thơ trong bài thơ TẶNG BIỆT nổi tiếng của Đỗ

 Mục đời Đường là:


  別,  LẠP CHÚC hữu tâm hoàn tích biệt,

  明。  Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh.

      Có nghĩa :

                      Nến bởi có lòng nên cũng tiếc,

                      Thay người nhỏ lệ đến bình minh !


                                             


   - LẠP XƯỞNG âm Quảng Đông của từ LẠP TRƯỜNG

LẠP nầy có bộ NHỤC được viết cách điệu như chữ NGUYỆT 

ở bên trái, nên có nghĩa là Thịt phơi khô dùng để cúng tế cuối 

năm; TRƯỜNG là Ruột, nên LẠP XƯỞNG là thịt heo xắt nhỏ ướp

 gia vị dồn vào trong ruột heo để phơi khô dùng cho cuối năm. Ta

 có các từ LẠP DỤC là Thịt ướp khô, LẠP ẠP là Vịt 

ướp khô... là những món ngon thường thấy ở cuối năm khi gần đến

 Tết Âm lịch. LẠP XƯỞNG còn được đọc trại đi thành LẠP 

XƯỜNG.

   - LẨU âm Quảng Đông của chữ LÔ là Cái Lò. Kiểu ăn cho ấm

 của mùa đông. Bắt nồi súp lên cái lò để trên bàn rồi nhúng những 

đồ ăn còn sống vào đó, vừa chín là gắp ra ăn ngay, vừa nóng vừa 

ngon. Kiểu ăn nầy gọi cho đủ là TẢ BÍL LÙ là ĐẢ BIÊN 

LÔ, có nghĩa là "Bắt một cái lò bên cạnh" để nhúng vào đó mà ăn.


                                                   

   - LẬU âm Quảng Đông của từ LIỄU là Cây Liễu. Do thành

 ngữ TẦM HOA VẤN LIỄU là "Tìm hoa hỏi liễu" 

chỉ các con em phong lưu đi tìm hỏi các nhà chứa để chơi bời; 

nên bệnh do quan hệ tình dục bừa bãi mang đến được gọi cho 

hoa mỹ là BỆNH HOA LIỄU, âm Quảng Đông là PHÁ LẬU 

BÈN là Hoa Liễu Bệnh ; giới bình dân gọi cho gọn lại là

 "Bệnh Lậu". LẬU từ Hán Việt còn có nghĩa là RỈ ra, chỉ bộ

 phận sinh dục đi tiểu khó khăn, phải rỉ ra từng chút một rất 

đau đớn, vì chơi bời bị bịnh Lậu mũ nên có pyuria.

   - LEN âm Quảng Đông là đẹp đẽ trắng trẻo. LEN CHẨY

 là Anh chàng trắng trẻo đẹp trai. LEN CHẨY cũng là ly sữa

 nước sôi trắng tinh không có cà phê trong quán nước. HỦ LEN

 (Q) là Rất đẹp, rất tốt. 

   - LÌ XÌ âm Quảng Đông của từ LỢI THỊ là Cái lợi từ 

chợ búa mà ra. Năm mới tặng tiền cho ai đó mong rằng sẽ có 

thêm nhiều lợi tức từ thị trường mà ra trong năm tới. Tiền đó 

được bỏ trong một cái bao màu đỏ, gọi là TIỀN LÌ XÌ. Sau nầy

 hễ lễ lộc hội hè... tặng tiền cho ai đó đều được gọi là tiền Lì Xì cả.

   - LỤ âm Quảng Đông của chữ LÃO là Gìa. Dùng cho cả 

Nam nữ, như :

     LỤ MỤ âm Quảng Đông của từ LÃO MẪU là Bà mẹ già.

     LỤ BẢL âm Quảng Đông của từ LÃO BẢN là Ông Chủ.

   - LỤC TẦU XÁ âm Quảng Đông của từ LỤC ĐẬU SA là Chè Đậu xanh nước dừa đường cát, còn được đọc là LỤC TẨU XÁ.

   - LỨ âm Tiều Châu của chữ NỄ là Ngôi thứ hai số ít của 

Danh xưng đại danh từ, có nghĩa là: Ông, Anh, Mầy.  


                                                                             

M. - MÁ CHÍNH âm Quảng Đông của từ MÃI CHỨNG

 người đứng trung gian chịu trách nhiệm giữa ngân hàng trong 

nước và ngân hàng nước ngoài khi hai công ty trong và ngoài 

nước giao dịch buôn bán và thanh toán tiền nong với nhau.

   - MẠI MÀI âm Quảng Đông của từ MÃI MẠI là Mua

 Bán, là Buôn bán. CHÙ MẠI MÀI là Làm ăn buôn bán.

 Ta có từ :

     MẠI BẢN âm Quảng Đông của từ MÃI BIỆN là "Người

 bản địa đứng ra làm trung gian, thông dịch để cho người ngoại

 quốc đến làm ăn buôn bán. Người đứng trung gian thủ lợi đó là

 người Mại Bản. Trước 1975 ở miền Nam ta hay nghe từ TƯ SẢN

 MẠI BẢN.

   - MẠT CHƯỢC âm Quảng Đông của từ MA TƯỚC là 

con chim sẻ, nên "Đánh Mạc Chược" còn gọi là "Đánh bài con 

chim".

   - MÌ hay MÌN là âm Quảng Đông của từ MIẾN là Lúa mì 

lúa mạch xây thành bột mì cán nhỏ xắt thành sợi lớn sợi nhỏ, gọi

 là Mì Lớn, Mì Nhỏ, rồi vắt thành từng vắt một. Ăn một vắt thì

 gọi là TÁL MÌN ; ăn hai vắt thì gọi là MÁ MÌN . Vào

 quán mì hay kêu: "Cho một tô Má MìN"; tức là cho "Một Tô 

Mì 2 Vắt" đó.

   - MÌ CHÍNH âm Quảng Đông của từ VỊ TINH là "Tinh

 túy của mùi vị", tức là BỘT NGỌT đó.

   - MÌ THÁNH xem lại từ HOÀNH THÁNH, VẰN THẮN ở trên.

   - MŨ âm Quảng Đông của từ MẠO là cái Mão, cái Nón đội 

trên đầu. Đội MŨ là đội Nón đó. Từ nầy rất thông dụng trong 

tiếng Việt.

   - MÚI âm Quảng Đông của chữ MUỘI là em gái. Thường 

gọi là A MÚI.

   - MỦI âm Tiều Châu của chữ MUỘI là em gái. Thường 

được gọi là A MỦI.


                   

N. - NẠM âm Quảng Đông của chữ NẠM là Phần thịt ở bụng.

 Ta có từ NGẦU NẠN là NGƯU NẠM Là Thịt ở dưới bụng

 của con bò, kho ăn rất ngon.

   - NỊ âm Quảng Đông của chữ NỄ là Ngôi thứ hai số ít của

 Danh xưng đại danh từ, có nghĩa là: Ông, Anh, Mầy. 

   - NGỘ âm Quảng Đông của chữ NGÃ là Tôi, ta, tao : Ngôi 

thứ nhất của Danh xưng Đại danh từ. NGỘ với NỊ là Tôi và Anh,

 là Ta và Mi, là Tao với Mầy.  

   - NGÁM NGÁM âm Quảng Đông của từ HÀM HÀM

 Vừa vặn, Vừa khít.

   - NGẦU âm Quảng Đông của chữ NGƯU là Trâu, Bò. Ta có

 các từ thường gặp như :

     Rất NGẦU là Rất Dữ, rất Quạu, rất Bắt mắt.

     NGẦU DỤC PHẢNH là Hủ tíu thịt bò, là Phở bò.

     NGẦU PÍN  là NGƯU TIÊN là "Cây roi bò", chỉ Bộ 

phận sinh dục của con bò đực lớn và dài như cây roi vậy, nên 

Đàn ông rất thích ăn. 

   - NHẪM âm Quảng Đông của chữ ẨM là Uống. Như NHẪM

 CHẨU là ẨM TỬU, là Uống rượu. NHẪM XÀ là ẨM

 TRÀ là Uống Trà. Ta hay nghe câu "Nhẫm xà ở nhà Bà Xẫm" hay

 "Bà Xẫm nhẫm xà".


                          

P. - PHÁ LẤU âm Tiều Châu của từ PHÁCH LỖ là Khìa;

 một kiểu kho của người Tiều Châu được ướp nước tương, 

đường muối, ngũ vị hương, đại hồi... Rất thơm ngon và để được

 lâu, nhậu rất bắt mà để ăn cơm cũng rất ngon. KHÌA Hay PHÁ

 LẤU cả lòng heo như Bao tử, Gan, Tim, Phối Linh... cả Tai heo,

 lưỡi heo nữa!

   - PHÀN (FÀL) âm Quảng Đông của từ PHẠN là Cơm, nên XỰC FÀL là Ăn Cơm.

   - PHAY âm Quảng Đông của chữ KHỐI là Miếng, Mảnh.

 Nên Thịt Xé Phay là Thịt được xé nhỏ ra từng miếng một. Ta có Thịt Gà Xé Phay như câu:

                      Gà cồ ăn quẫn cối xay,

                 Rau răm muối ớt XÉ PHAY gà cồ !

     DAO PHAY là Dao dùng để chặt cái gì đó ra từng cục nhỏ một.

   - PHÉ âm Quảng Đông của chữ PHÁI là Phe, nhóm. ĐÁNH 

PHÉ là loại bài chơi bắt từng cặp từng đôi một, hai cây giống nhau

 là một PHÉ. 

     PHÉ còn là CA-FÉ là CÀ PHÊ từ phiên âm của chữ Café .

     PHÉ NẠI là Cà phê sữa.  

   - PHÌ âm Quảng Đông của chữ PHÌ là Mập. PHÌ LỦ là 

Ông Mập.

   - PHÌ PHÀ âm Quảng Đông của từ TÌ BÀ là cây đàn Tì Bà.

 Nhớ hồi nhỏ khi học chữ Nho với Bác Sáu, Bác đã đối câu "Da 

trắng vỗ bì bạch" của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm bằng câu: "PHÌ PHÀ 

đàn Tì Bà". Ý của Bác Sáu là : Bác vừa hút thuốc phì phà vừa đàn

 Tì Bà. 

   - PHÓNG SỦI âm Quảng Đông của từ PHONG THỦY

"Hủ Phóng Sủi " là Hảo Phong Thủy, là Phong thủy tốt. 

"Phóng Sủi xíl xán " là Phong Thủy Tiên sinh là "Ông 

thầy xem phong thủy. 

   - PHỔ KY âm Quảng Đông của từ HỎA KẾ là người làm 

công, người giúp việc  trong các cửa hàng hảng xưởng. Như Tiệm 

nầy có đến 5 người PHỔ KY lận.

   - PHÚC âm Quảng Đông của từ PHÚC là Phước. DẬU PHÚC

 là HỮU PHÚC là Có Phước. PHÚC LỤC SẦU là PHÚC 

LỘC THỌ 祿 .        

         

                                


Q. - QUA âm Tiều Châu của chữ NGÃ là Tôi. Thường dùng 

cho người hơi lớn tuổi xưng hô với người nhỏ tuổi hơn. Như QUA

 nói cho em nghe, hay như câu nói vui của dân Sóc Trăng Bạc 

Liêu là:

                 Hôm qua QUA nói QUA qua mà QUA hổng qua,

                Hôm nay QUA hổng có nói QUA qua mà QUA qua.


S. - SÂM BỔ LƯỢNG là âm Quảng Đông bị nói trại đi mà thành

 của nhóm từ THANH BỔ LƯƠNG . THANH là thanh

 nhiệt, là lọc cho trong, BỔ là Bổ dưỡng, LƯƠNG là mát mẻ, nên 

Thanh Bổ Lương là món chè được nấu bằng đường phèn với các 

vị thuốc Bắc ăn được như Trái Táo, nhãn nhục, Bách hợp, nấm 

tuyết, Phổi tai, Hoài sơn, Hạt sen, Củ sen... Ăn để giải nhiệt thanh

 lọc cho cơ thể sau những giờ lao động mệt nhọc. Có thể ăn nóng

 hoặc ăn lạnh với nước đá tùy thích. Vì là món chè bổ dưỡng, nên

 thường bị đọc trại thành SÂM BỔ LƯỢNG để cho tăng thêm

 phần trịnh trọng của món chè dưỡng sinh nầy.

    - SỞ HỤI âm Tiều Châu của từ SỞ PHÍ là Số chi phí cần

 phải tiêu hao; Số tiền cần phải xài cho việc gì đó. TIỀN SỞ HỤI 

cũng có nghĩa là tiền để trong mình phòng khi có để tiêu vặc.

    - SỦI CẢO âm Quảng Đông của từ THỦY GIẢO là Bánh

 xếp nước rất nổi tiếng ở phố ăn uống Hà Tôn Quyền thuộc Quận

 11.

                

      

                      Chè SÂM BỔ LƯỢNG                     PHỐ SỦI CẢO HÀ TÔN QUYỀN


T.  - TÀI âm Quảng Đông của chữ ĐẠI là Lớn, như TÀI CÓ 

là ĐẠI CA là Anh Cả, người Miền Nam gọi là Anh Hai. 

    - TÀI XIỂU âm Quảng Đông của từ ĐẠI TIỂU   là Lớn

 Nhỏ. Một lối chơi cờ bạc có tên là TÀI XIỂU với 3 hôt 

xúc xắc có số từ 1-6. Hễ tổng số của 3 hột xúc xắc từ 3-10 là 

XIỂU; Còn từ 11-18 là TÀI. Rất nhiều người đã tán gia bại sản

 về môn TÀI XIỂU nầy.

    - TÀI PHÚ âm Tiều Châu của từ TÀI HỘ là Bảo hộ Tài

 sản. TÀI PHÚ trong một Chành lúa hay Công ty tương đương 

như một Giám đốc Kinh doanh ngày nay, nhưng người Tài Phú

 còn kiêm luôn sổ sách kế toán của công ty nữa. Nên TÀI PHÚ

 thường là những người rất giỏi về kinh doanh, kế toán và cả 

chữ nghĩa nữa.

    - TÀI XỒI âm Quảng Đông của từ ĐẠI TÀI là Vật liệu 

lớn. Ta có từ Cây BÚA TÀI XỒI là Cây búa lớn, nặng dùng để 

bửa những khúc gỗ to cho nhỏ lại để dễ chẻ thành củi.

    - TÀU VỊ YỂU âm Tiều Châu của nhóm từ ĐẬU THỊ DU  

là Chất dầu và nước cốt tiết ra từ đậu ủ tương, ta gọi là 

Nước Tương. Âm Quảng Đông gọi là XÌ DẦU , dùng để 

làm gia vị nêm nếm trong nấu nướng hoặc để chấm thức ăn cho

 đậm đà thêm. 

    - TANG XẠI âm Tiều Châu của từ ĐÔNG THÁI là Cải 

bẹ trắng ủ muối, rượu, gia vị... để dành ăn đông. Ta gọi là CẢI

 HỦ vì đựng trong một cái hủ tròn dẹp trông rất đẹp mắt, cũng

 thường được gọi là CẢI TANG XẠI.

    - TÀO KÊ âm Tiều Châu của từ ĐẦU GIA là Người 

đứng đầu trong một gia đình hay ngành nghề... TÀO KÊ có khi

 cũng có nghĩa giống như là từ ĐẦU NẬU ở phần trên. BÀ TÀO 

KÊ là bà Tú Bà trong các nhà chứa Gà Móng Đỏ đó.

    - TÀO THƯNG âm Tiều Châu của từ ĐẬU THANG là 

Canh Đậu, tức là Chè Đậu Xanh nước dừa đường cát. (Mời đọc

 lại bài "Từ chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA' sẽ rõ ràng hơn).

    - TẰNG KHẠO âm Tiều Châu của từ ĐỒNG KHÁO

 Cùng nương tựa lẫn nhau; ở đây chỉ Người Trưởng Nhóm, 

người Cai, Người Xếp của một nhóm, một toán công tác nào đó. 

Như "Anh ta là TẰNG KHẠO của chiếc ghe chài đó đó". 

    - TẨY âm Quảng Đông của chữ ĐỂ là Đáy, là cái Nền, cái

 Phong... Tấm bài còn lật úp trong kiểu chơi "Xì-Phé" gọi là BÀI

 TẨY. Vào quán nước kêu một cái TẨY tức là kêu một ly nước 

đá chỉ có đá cục chớ không có nước gì trong đó cả.

    - TẨY CHAY âm Quảng Đông của từ ĐỂ CHẾ là Chống 

cự đến cùng, Không chấp nhận hay dứt bỏ cái gì đó. 

    - TẨU âm Quảng Đông của chữ ĐẨU là cái Đấu, cũng 

dùng để chỉ cái ống thuốc, như DỌC TẨU là cái ống điếu dài.

    - TÍA âm Tiều Châu của từ ĐA là Cha. Người Tiều kêu cha

 là A BA hay A TIA . Dân Nam kỳ kêu theo, nên Cha

 Mẹ kêu là TÍA MÁ. Trong ca dao dân gian cũng có câu:

                      Con cò nó mổ con lươn

                 Bớ chị ghe lườn muốn TÍA tôi hông

                     TÍA tôi lịch sự quá chừng

                Cái lưng mốc thích cái đầu chôm bôm.


    - TIÊU TÙNG âm Quảng Đông của từ TIÊU TÙNG là 

Mất dấu đi theo, là mất hết cơ hội, là hết đường hy vọng. Lối 

chơi bài "Cát-Tê" khi tất cả bài đều bị lật úp, không có con bài

 nào lật ngửa cả. thì gọi là TIÊU TÙNG.

    - TỈM XẤM âm Quảng Đông của từ ĐIỂM TÂM là ăn

 lót lòng lót dạ buổi sáng khi bụng còn trống.

    - TỐ âm Quảng Đông của chữ ĐA là Nhiều. Ta có từ TỐ 

CHÈ là ĐA TẠ là Cám ơn nhiều lắm.

    - TỤI âm Tiều Châu của chữ ĐỐI là một Đôi. Trong phép

 đánh bài Tứ sắc là "Gần ăn xa TỤI" có nghĩa: Tay trên đánh

 xuống là GẦN thì mình có thể lấy một con bài xuống ăn; Còn

 nếu tay dưới hay ở ngang sông thì phải hô TỤI để giựt đôi.

    - TỬNG âm Tiều Châu của chữ ĐƯỜNG là Đời Đường, 

chỉ người Hoa, như XIN TỬNG là TÂN ĐƯỜNG là 

Chàng thanh niên chân ướt chân ráo từ bên Tàu mới qua Việt 

Nam. CHÚ TỬNG cũng như CHÚ CHỆT từ dùng để chỉ một

 anh chàng người Hoa nào đó. Có thể do nhà Đường là triều 

đại hoàng kim rực rỡ của Trung Hoa, nên người Tiều Châu và

 Quảng Đông đều xưng mình là người đời Đường. Từ ĐƯỜNG

 NHÂN ...

         * Âm Tiều Châu là TỪNG NÁN (khi ghép từ, TỬNG

 đọc thành TỪNG).

         * Âm Quảng Đông là THÒN DÀNH . Vì thế mà ta lại 

có một vở kịch, một tuồng hát Cải lương rất nổi tiếng và ăn khách

 là "TÌNH CHÚ THÒN" của nghệ sĩ Xuân Phát đã vang bóng

 một thời.

    - TỬNG âm Tiều Châu còn có nghĩa là Cầm cố, Sang

 nhượng... như "Nó đã TỬNG một căn phố lầu". 


     

    Xì   Dầu                           Cải   Hủ                                Chè   Thưng
   

TH. - THẦU KÊ âm Tiều Châu của từ ĐẦU GIA là 

Người Đứng đầu trong nhà, là Chủ nhà, dùng rộng ra là Ông

 chủ của một tiệm buôn hay một cửa hàng.

    - THẦU SÁNG âm Quảng Đông của từ ĐẦU SANH  

là người đứng đầu trong nhóm người làm công trong tiệm, còn

 được đọc trại thành HẦU SÁNG.

    - THẤU CẤY âm Quảng Đông của từ THÂU KÊ là 

Trộm gà, ý chỉ len lén làm việc gì đó cho người ta bất ngờ; 

như thọt cù lét, đánh lén...

    - THẦY NGÒN âm Quảng Đông của từ ĐỀ NGẠN  

là Trên bờ đê, chỉ vùng đất CHỢ LỚN. Người Hoa gọi Chợ

 Lớn là "THẦY NGÒN", người Việt ta tưởng THẦY NGÒN

 là SÀI GÒN, nên dân Nam kỳ Lục tỉnh gọi "Đi SÀI GÒN là

 "Đi THẦY GÒN".

    - THÈO LÈO âm Tiều Châu của từ TRÀ LIỆU là 

Vật liệu dùng để uống trà, gồm có kẹo đậu phọng, kẹp mè

 trắng, kẹo mè đen, cốm gạo, cứt chuột (là những viên

 đậu phọng rang có áo một lớp đường ăn rất thơm ngon)...

 Đây cũng là vật liệu không thể thiếu khi cúng tiễn Táo 

Quân về chầu trời trong ngày 23 tháng Chạp Âm lịch, để 

Táo Quân ăn cho ngọt, báo cáo cho tốt về gia chủ.

    - THÒ LÒ âm Quảng Đông của từ ĐÀ LOA là

 Con Vụ, con quay, là đồ chơi của trẻ em. Ta thường gọi

 là cái Bông Vụ hay Con Thò Lò. 

    - THỔI âm Quảng Đông của chữ ĐÀI là Cái Bàn.

 Ta có từ XÀ THỔI là TRÀ ĐÀI là nơi có đặt nhiều

 cái bàn để cho người ta đến uống trà, nên XÀ THỔI là

 Quán Nước, là Tiệm bán Cà Phê.

    - THÙNG PHÁ SẢNH âm Quảng Đông của nhóm từ 

ĐỒNG HOA THUẬN là Cùng một loại hoa cùng

 màu và sắp theo đúng thứ tự từ nhỏ đến lớn hẳn hoi. Là 

con bài lớn nhất trong lối binh Xập Xám ăn đứt tất cả 

những con bài khác; Nhưng nếu cứ mê cờ bạc thì có ngày

 sẽ thành "THÙNG PHÁ SẢN" như chơi !

                 

                                       

                  Thèo    lèo                         Thò    Lò

                

X. - XA TẾ (SA TẾ) âm Tiều Châu của từ SA TRÀ là 

Một loại tương ớt được chế biến đặc biệt thơm ngon dùng

 trong gia vị và nước chấm, dĩ nhiên rất cay và cũng rất 

thơm ngon.

   - XÁ LỊ âm Quảng Đông của từ SA LÊ là Trái Lê, 

vỏ vàng thịt xốp cho nhiều nước, ăn rất ngon, nên loại ổi 

vừa xốp vừa dòn được gọi là ỔI XÁ LỊ là ỔI LÊ đó. Ý muốn

 nói Ổỉ mà ngon như Lê, nên mới gọi là ỔI XÁ LỊ.

   - XÁ XÍU âm Quảng Đông của từ XOA THIÊU , XOA

 là Cây chỉa (Quỷ Dạ Xoa là chữ XOA nầy), ở đây có nghĩa 

là Cây NĨA hay cây sắt có đầu nhọn dùng để ghim thịt. THIÊU

 là Đốt, là Quay, là Nướng, nên XOA THIÊU (XÁ XÍU) là Thịt

 heo được ghim thành từng ghim hay móc vào móc sắt để 

nướng. Thịt thường dùng là thịt nạc vai, thịt nuột lưng... ướp

 mật ong, ngũ vị hương, xì dầu, chao, tương đen, bột màu 

điều và rượu... Thịt nướng xong có sắc đỏ nâu tươm mỡ trông

 rất ngon lành và lại bay mùi thơm phức. XÁ XÍU có thể cho ta

 thêm nhiều món ăn phụ như : Bánh bao Xá xíu, Bánh Mì Xá 

xíu, Cơm Xá xíu, Mì khô Xá xíu, Xôi Xá xíu...  

   - XẢO QUÈ âm Tiều Châu của từ SAO QỦA 粿 là Bánh

 Bột Chiên. Bánh được hấp bằng bột gạo (có khi còn được 

độn khoai cao, khoai môn hoặc củ cải trắng vào trong bột).

 Bánh được xắt nhỏ thành từng miếng hình chữ nhật, rồi

 đem chiên trong chảo cho vàng 2 mặt, đoạn bỏ hành lá xắt

 nhỏ vào cho thơm, ăn sang thì đập thêm một quả trứng vào. 

Chiên xong xúc ra dĩa bỏ thêm ngò rí , tiêu lên mặt bánh cho

 thơm rồi chấm tương ớt, xì dầu là sẽ có một bữa ăn ngon

 miệng quên thôi.

   - XẨM âm Quảng Đông của chữ THẨM là Thiếm (vợ 

của Chú). XẨM còn là từ gọi chung tất cả những người đàn 

bà người Hoa đứng tuổi, như ta gọi Thiếm vậy. Và ta cũng 

có từ THIẾM XẨM để chỉ một người đàn bà người Hoa đứng

 tuổi nào đó. Còn BÀ XẨM thì chỉ lớn tuổi hơn, như phần 

trên đã nói : "Vào nhà BÀ XẨM để NHẨM XÀ !".

   - XÂY CHỪNG âm Quảng Đông của từ TẾ CHỈNH

TẾ là Nhỏ, CHỈNH là Hoàn chỉnh, ở đây có nghĩa là nguyên

 chất; nên XÂY CHỪNG là "Ly cà phê nhỏ thuần chất", ý 

nói "Chỉ thuần cà phê chớ không có thêm chất gì khác cả". 

Nói tóm lại "XÂY CHỪNG là LY CÀ PHÊ ĐEN NHỎ". Còn...

   - XÂY NẠI là phát âm tiếng Quảng Đông của từ TẾ NÃI 

. TẾ là Nhỏ, NÃI là Sữa, nhưng XÂY NẠI không phải là

 "Ly sữa nhỏ"; Vì đó là từ nói gọn lại của ba chữ XÂY PHÉ 

NẠI . XÂY là Nhỏ, PHÉ là Cà phê, NẠI là Sữa, nên

 XÂY PHÉ NẠI là "Cà phê sữa nhỏ", nói gọn lại thành XÂY 

NẠI.

   - XÂY BẠC XIỂU âm Quảng Đông của TẾ BẠCH TIỂU

  là "Cà phê sữa nhỏ ít cà phê".

   - XÂY CÁ NẠI cũng là âm Quảng Đông của ba chữ TẾ GIA

 NÃI . TẾ là Nhỏ, GIA Thêm, NÃI là Sữa; là nói gọn

 của nhóm từ XÂY PHÉ CÁ NẠI là "Cà phê đen

 nhỏ thêm sữa", là CÀ PHÊ SỮA NHỎ đó.

   - XÂY LỦ CÓ âm Quảng Đông của nhóm từ TẾ LÃO CA

  là Ông anh nhỏ, là Con nít. Mấy đứa con nít gọi là 

"Mấy đứa XÂY LỦ CÓ".

   - XẾ âm Quảng Đông của từ XA là XE. Ta có từ TÀI XẾ

 là SỬ XA là người sử dụng xe, là Người Lái Xe.

   - XÍ âm Tiều Châu của chữ TỬ là chết. XÍ LẮT LÉO

là Chết queo hết trơn.

   - XÍ MUỘI âm Quảng Đông là XÍL MUỘI của từ TOAN

 MAI là Me chua. XÍ MUỘI mà ta ăn ở tiệm thuốc bắc

 rất mặn vì đã được ướp muối rồi.

   - XÍ MỨNG âm Tiều Châu của từ TỨ MÔN là Bốn Cửa.

 Bốn cửa nhưng không ra cửa nào cả. VÕ XÍ MỨNG là Môn

 võ không giống ai cả, nên XÍ MỨNG chỉ những việc làm 

bá láp bá xàm không giống ai cả .

   - XÌ DẦU âm Quảng Đông của từ THỊ DU là Nước 

Tương.

   - XỈ KI âm Tiều Châu là TỨ CHI là bốn cây. Một

 tình huống trong bài Tứ Sắc, Thay vì Tướng sĩ tượng hay 

Xe pháo ngựa thì đủ bộ 3 cây rồi, đằng nầy lại có đến 2 con

 xe, 2 con pháo hay 2 con ngựa, nên tới 4 cây lận, cần phải

 tề bỏ một cây cho nó liền bài. 

   - XƯNG XÁO hay SƯƠNG SÁO âm Tiều Châu là XENG 

XÁO của từ TIÊN THẢO là Dược thảo của Tiên, nấu

 xong đặc lại như thạch có màu đen, nên còn gọi là THẠCH

 ĐEN. Sách vở gọi là SƯƠNG SÁO, bình dân kêu là XƯNG

 XÁO, được cho là có tính mát, giúp hạ huyết áp, trị cảm 

mạo, đau khớp...

     


   - XỨNG XÁI âm Tiều Châu của từ TOÁN THÁI

 Không tính rõ ràng, là cho qua một cách hoa loa, như câu nói

 "XỨNG XÁI Bò lái bò khự" là "Xí Xoá chớ không tính qua

 tính lại gì cả !".

   - XÍL XÁN âm Quảng Đông của từ TIÊN SINH là Thầy, 

là Ông theo phép lịch sự, nhưng thầy dạy mình học cũng gọi là 

XÍL XÁN được nữa.

   - XÍU MẠI âm Quảng Đông của từ THIÊU MẠI . Một 

loại thức ăn Điểm Tâm buổi sáng của người Quảng Đông; Có

 2 loại : Xíu Mại Khô, thịt bằm, củ sắn được ướp thêm gia vị

 và được bọc bằng một lớp vỏ bột mì màu vàng; Xíu Mại Nước,

 không có bọc vỏ, được chưng cách thuỷ trong một cái dỉa nhỏ.

 Hai loại KHÔ và NƯỚC nầy thường được ăn với "Dầu-Chá-

Quẩy" hay bánh mì đều rất ngon... Ta có từ XÍU DỤC

 là Thịt heo quay, XÍU ẠP là Vịt quay.

   - XÒ âm Quảng Đông của chữ XỌA là Khờ là khùng. 

XÒ CHẨY là Thằng ngu, thằng khờ, thằng Khùng.

   - XỰC âm Quảng Đông của chữ THỰC là Ăn. XỰC 

FÀL là Ăn cơm; XỰC CHÚC là Ăn Cháo; XỰC 

YẸ là Ăn đồ (Ăn vặc)... 

   - XƯỜNG XÁM âm Quảng Đông của từ TRƯỜNG SAM 

là Áo dài Tàu của các cô nương Tàu mặc khi đi dự lễ 

hội hoặc Tết nhứt.

   

                             

     Cuối cùng ta có câu thiệu của các em bé khi chơi trò "XÌN

 XẦM" giống như là "Oảnh-Tù-Tì" sau này vậy:


        "XÌN XẦM CÔ PÁO CHỈN CÔ CHẬP" (tiếng Quảng Đông)

         - Cô PÁO là Cái Bao; 

         - CHỈN là Cây kéo; 

         - CÔ CHẬP là Cây Búa đập. 

     Và...

          một câu ca dao Nam bộ của Đồng bằng sông Cửu Long 

với sông ngòi chằng chịt như tình yêu mộc mạc chất phác, 

nhưng cũng không kém phần tha thiết của một chàng trai 

người Tiều Châu và một cô gái quê Việt Nam như sau:


                     Dù cho "hổ lái huang tùa",

               "A Hia phề chúng khư uà" thăm em !

    Có nghĩa:

                     Dù cho mưa lớn gió to,

              Anh cũng bơi xuồng ra đó thăm em !


      Chỉ là những góp nhặt những gì chung quanh cuộc sống 

thực tế từ nhỏ đến lớn của một người được sanh ra và lớn lên 

ở xã Thưởng Thạnh, huyện Châu Thành, Thị trấn Cái Răng 

của tỉnh Phong Dinh ngày xưa mà thôi.


      Rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo cho những gì 

còn sai sót.

      Chân thành CẢM TẠ trước !


                                                        

                                                     Đỗ Chiêu Đức