29 thg 3, 2026

Ở Đây Buồn Hơn Gò Dầu - Thuyên Huy

 


MỜI XEM



Dì Tôi - Người Nữ Tu Bạc Mệnh - Thuyên Huy

Giai thoại Trần Đức Thảo kiện Jean Paul Sartre ở Paris Nam Nguyễn

Đầu năm 1941 Paris-khi đó hoàn toàn bị Đức phát xít chiếm (khác với miền Nam nước Pháp vẫn còn dưới quyền quản lý của chính quyền Pétain) đã ầm ĩ lên một vụ kiện “vô tiền khoáng hậu” và được báo giới chăm sóc, tường thuật kỹ lưỡng và giới trí thức của “kinh đô ánh sáng” theo dõi sát sao. Tên của nó được báo giới là “Vụ kiện mang tính chất Parisien nhất trong lịch sử Paris”, được khoe ngầm là chỉ ở một nơi trí thức được trọng vọng như Paris thì mới có thể có một vụ kiện tương tự, trong hoàn cảnh thế chiến lần thứ 2 đang gay cấn như vậy!


Người bị kiện là Jean-Paul Sartre -một thần tượng của giới trí thức trẻ thủ đô. Anh ta suốt ngày “ngồi đồng“ ở một quán cafe tại quận 6, gần tháp Eiffel, nơi trước đây là tụ điểm của hai nhà thơ nổi tiếng nhất Pháp đương đại-Verlaine và Baudelaire, và bây giờ đến thời Satre “độc diễn”, bọn thanh niên vây quanh “ngôi sao” để hỏi ý kiến về mọi chuyện trên trời dưới biển, chẳng khác gì thỉnh giảng của “sư phụ” hay đúng hơn là guru. Sartre đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm Paris về ngành triết và trở thành người đại biểu nổi bật của chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh. Lúc này Sartre đang cặp kè với Simone de Beauvoir-nữ văn sỹ và người đấu tranh cho bình đẳng giới nổi tiếng nhất nước Pháp thời bấy giờ, và thế là bắt đầu một tình bạn, tình yêu của hai người đồng chí hướng-họ đều trở thành những nhà văn và nhà triết học hàng đầu nước Pháp…Chưa bao giờ trở thành vợ chồng (cả hai đều không chấp nhận hôn nhân), nhưng ngày nay hai ngôi mộ của họ nằm cạnh nhau tại nghĩa trang Montparnasse tại Paris. Đã quá nhiều người viết về họ, nhưng ở status này họ chỉ là “bên bị”.


Jean Paul Sartre

Người bị kiện là Jean-Paul Sartre 

một thần tượng của giới trí thức trẻ thủ đô

 

“Bên nguyên” lúc này mới chỉ nổi tiếng tại trường Đại học Sư phạm Paris thôi, vì anh mới học năm thứ ba khoa triết. “Annamite”, tên là Trần Đức Thảo (lúc này Pháp coi thường thuộc địa và ít dùng từ Vienamien) học mấy năm dự bị ở Paris và cũng mới vào trường này thôi, nhưng đã nối tiếng là sinh viên xuất sắc rồi! Đúng truyền thống “triết gia”, Thảo luôn ăn mặc luộm thuộm, bẩn, đầu tóc bù xù, ăn uống thất thường và nói nhiều! Luận án tốt nghiệp (Agrege) Thảo viết mỗi ngày chỉ một trang, thời gian còn lại ông ngồi hoặc nằm ngoài ghế đá trong trường.

 

Hồi đó sinh viên An Nam như Thảo được Bộ Thuộc địa Pháp trả 1000 quan/tháng, cũng đủ ăn mặc và trả tiền phòng. Cũng tạm đủ ăn đủ mặc, Đức chiếm đóng nên đời sống khan hiếm, nhất là thịt, bơ, pho mát, trứng…phải mua chợ đen, và nhất là tem phiếu mua thuốc lá, những sinh viên Việt Nam thường không hút mà mang bán lại để thêm tiền sinh hoạt. Thảo cũng vậy, nhưng đúng như phong thái triết gia, Thảo phải thi thoảng uống rượu, cho nên cũng túng bấn, vì thế tuy đã yêu nhau nhưng ông và bà Nguyễn Thị Nhứt chưa sống chung được với nhau. 


Lý do vụ kiện lịch sử như sau: Thảo coi mình là người hiểu về thuyết hiện sinh còn hơn cả Sartre-lá cờ đầu của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp! Thời đó mặc dù chiến tranh xảy ra nhưng các hoạt động khoa học vẫn rất được coi trọng, vẫn có những buổi diễn thuyết với đề tài hay và hội trường chật cứng người nghe, nhiều khi phải tổ chức cho diễn giả nói ngoài trời! Triết học là môn khoa học xã hội được coi trọng bậc nhất thời đó, “sang trọng” nhất, trong giới triết học cũng như tri thức trẻ Paris “ông vua không ngai” Sartre không thể chịu được “ngôi sao đang lên”-một kẻ kém mình đến hơn chục tuổi, lại là dân Annamite mà lại lộng ngôn như vậy- nên chấp nhận lời thách đấu. Hai người thỏa thuận với nhau là sẽ tranh luận công khai nhiều buổi, tất cả nội dung tranh luận sẽ được đăng chính xác trên tờ báo “Esprit”-một tờ báo “ruột” của Sartre. Sau nhiều bài báo về đề tài đó, Thảo phát hiện ra tờ báo không đăng đúng nguyên văn lời của anh, mà sửa đi theo cách có lợi cho Sartre, thế nên quyết định kiện Sartre ra tòa vì tội “không tuân thủ hợp đồng danh dự”!


Ra tòa Thảo mang cả microsillon-là một loại đĩa than làm từ băng cối ra, để thu phát âm –trình ra để làm bằng chứng cuộc đấu khẩu, trong đó Thảo có nói đến nhiều thuật ngữ cơ bản bằng tiếng Đức! Tòa tất nhiên không thể xử Sartre-một thần tượng của “mẫu quốc” lại thua một người con thuộc địa, nên cuối cùng đã xử hòa! Ông phải chật vật để trả nửa tiền án phí nhưng cả Paris hiểu rằng Thảo mới là người chiến thắng …


Trần Đức Thảo sau đó làm luận án tiến sỹ triết học tại Pháp với đề tài về triết học của Husserl. Ngoài ra ông có một đề tài rất lạ “Tìm hiểu về nguồn gốc các ngôn ngữ và ý thức”. Gia tài triết học của Thảo rất đồ sộ và chắc nhiều năm nữa mới có thể có người đánh giá được hết. Đối với giới triết học Pháp thì Trần Đức Thảo vẫn là một tượng đài để kính trọng “Nếu không có Thảo thì giới triết học Pháp đã không có đề tài gì để tranh luận trong suốt mấy chục năm cuối thế kỷ 20!”- à đánh giá rất cao của họ về các tác phẩm của ông về chủ nghĩa Marx.

Còn tôi thì hoàn toàn công nhận đánh giá của nhà sử học Trần Văn Giàu về ông Thảo, ông là nhà triết học đúng nghĩa duy nhất của Việt Nam ta cho đến ngày nay…



Cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre

trong cuốn Đèn cù của Trần Đỉnh 

Đông La


Trong cuốn Đèn cù,Trần Đĩnh có viết về cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre. Với những người quan tâm đến triết học, đây là một cuộc tranh luận lừng danh, vì có lẽ Trần Đức Thảo là người Việt Nam duy nhất tranh luận với một nhà triết học, nhà văn tầm cỡ Jean-Paul Sartre, người từng được trao giải Nobel Văn học vào năm 1964 nhưng ông từ chối.


Theo GS Nguyễn Đình Chú: “Trần Đức Thảo đã đứng trên lập trường Mác-xít tranh luận với nhà triết học nổi tiếng của Pháp là ông Jean-Paul Sartre và được dư luận cho là thắng cuộc”. Cuộc tranh luận này cùng với nhận xét của GS Trần Văn Giàu về Trần Đức Thảo thường được coi là những cơ sở để giới học thuật cho rằng, ở Việt Nam chỉ có học giả triết học còn để được gọi là “nhà triết học” thì chỉ có duy nhất Trần Đức Thảo. Cũng theo GS Nguyễn Đình Chú: “Giáo sư dạy triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chúng tôi ở năm thứ nhất là Trần Văn Giàu mà thuở ấy, không chỉ với học trò chúng tôi mà còn cả với dư luận xã hội, là một thần tượng không ai bằng. Ấy vậy mà một lần, trong buổi giải lao, giáo sư Trần Văn Giàu đã nói với học trò tại sân trường, các cậu muốn biết thế nào là triết học thì hãy chờ sang năm học với thầy Thảo. Thầy Thảo là người đọc gần hết sách của thư viện Paris”.


Có điều theo Trần Đĩnh, sự thật cuộc tranh luận triết học giữa Trần Đức Thảo và Sartre lại chỉ là chuyện “tưởng tượng”: “Sáng  hôm  ấy,  tôi  hỏi  anh  tranh  luận  với  Sartre  ngày  ở Pháp  làm sao, Thảo nhăn mặt  lại: Tranh  luận nào?... Không có đâu. Tranh luận thế nào được với Sartre? Thấy rõ nét mặt ngượng nghịu của anh lúc bấy giờ. 


Chuyện là như thế này: lúc ấy có một hội thảo trên sách báo của giới triết học, trong đó có Thảo. Theo dự định, Sartre cũng có một tham luận - và tham luận ấy đối lại với cái của Thảo chứ không phải có tổ chức hội thảo mặt đối mặt với nhau, nhưng rồi không hiểu sao Sartre không  tham  luận nữa. Thảo nói chắc ông  ta  thấy nhảy vào cuộc này chẳng đem lại danh giá gì hơn cho ông ta.


Theo TS Triết học  Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà:

“Năm 1950, Trần Đức Thảo đối thoại với Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa Mác. Điểm khác nhau căn bản trong cách đặt vấn đề là: Jean-Paul Sartre chỉ công nhận chủ nghĩa Mác có giá trị về khoa học lịch sử và xã hội, theo ông chủ nghĩa Mác không có giá trị nhận thức triết học. Ngược lại Trần Đức Thảo cho rằng chủ nghĩa Mác có giá trị toàn diện, cả lịch sử, cả xã hội và cả triết học. 

Cuộc đối thoại gặp bế tắc khi đề cập đến Hiện tượng học của Husserl, vì Jean-Paul Sartre chưa thấu hiểu chủ nghĩa Mác và chưa đọc hết các tác phẩm căn bản của Mác, Jean-Paul Sartre cũng chưa đọc hết các tác phẩm của Husserl. Bởi vậy cuộc đối thoại đi vào bế tắc, thất bại, hai bên không ra được tác phẩm chung về cuộc đối thoại ấy. Sau này khi Jean-Paul Sartre qua đời, Trần Đức Thảo có nói với chúng tôi: Phải tầm cỡ như Jean-Paul Sartre mới đặt ra được sự nghi vấn về giá trị triết học của chủ nghĩa Mác, bởi vì trong bối cảnh lúc bấy giờ, tư tưởng Stalin đang đóng vai trò gần như thống trị học thuyết mác-xít, đã hướng chủ nghĩa Mác đi vào chính trị đơn thuần, dung tục hóa, đơn giản hóa chủ nghĩa Mác, làm mất đi giá trị căn bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó là tính nhân văn, nhân bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có khả năng khái quát toàn bộ quy luật của sự vận động của thế giới, là sự phát triển của tự nhiên tất yếu dẫn đến sự phát triển có tính loài của con người, sự phát triển của xã hội. Cuộc trao đổi giữa Trần Đức Thảo với Jean-Paul Sartre tuy không có kết quả, nhưng Trần Đức Thảo đã ý thức được của việc nhận thức và phát triển sai lệch triết học Mác thời điểm ấy”.


Như vậy ai đúng, ai sai, sự thật về cuộc tranh luận là như thế nào?

Còn cuộc tranh luận giữa Trần Đức Thảo và Jean-Paul Sartre có lẽ đúng nhất là theo chính Hồi ký của Trần Đức Thảo mà ông đã viết trước khi mất mấy năm:

“Trong giai đoạn cuối cùng của tôi ngày xưa ở bên Pháp, tôi đã xác nhận chủ nghĩa Marx trong bài từ giã chủ nghĩa hiện sinh: “Hiện tượng học của tinh thần và nội dung thực tế của nó”. (Les Temps Modernes tháng 9-1948). Trong ấy tôi biện minh cho sự lựa chọn của tôi bằng cách nêu lên những chân trời rộng rãi mà quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử xã hội mở ra cho công việc phân tích ý thức sinh thức.


Đấy là cái mà tôi đã tìm cách giải thích cho Jean-Paul Sartre trong năm buổi trao đổi tiến hành vào mùa đông 1949-1950, theo lời mời của ông ấy. Tuy nhiên buổi nào cũng đi đến kết quả tiêu cực, do sự bất đồng cơ bản ngay từ xuất phát điểm trong thế giới quan của hai bên. Cuối cùng thì chỉ còn có thể ghi nhận rằng không thể nào dung hòa giữa chủ nghĩa hiện sinh với chủ nghĩa Marx”. 


Nguồn: triethoc.edu.vn

22-9-2014

 Xem Thêm : Trần Đức Thảo

                      Jean-Paul Sartre

27 thg 3, 2026

Vườn Thơ Mới Kỳ 187, Bài Xướng :XA CHA -PTL

 

Xa Cha

Năm bảy chín (1979) tiển Cha về quê nội
Con vội vàng vĩnh biệt nước ra đi
Không biết tương lai có được cái gì
Đành thắt ruột xa Cha thêm lần nữa

Nhìn xe đò đến đón Cha nơi cửa
Con ngậm ngùi xin bất hiếu với Cha
Rồi ngày mai con sẽ đến phương xa
Không thân thuộc người quen hay bằng hữu

Nơi đất khách con trông về quê cũ
Đời quan phu lặng lẽ sống nuôi con
Con biệt tăm Cha ngóng đợi mõi mòn
Năm tám bảy (1987), Bồng lai, nơi Cha đến

PTL

Oct. 10, 2025

quan phu   : người góa vợ

Họa 1:

Nhớ quê xưa.

Mỗi dịp tết háo hức về nhà nội
Kiến trúc xưa sàn gỗ mát chân đi
Thuở ấu thơ chưa phải nghĩ lo gì
Leo hái trái hết cây này, cây nữa...

Chơi cút bắt trốn mình sau cánh cửa
Chiều tắm sông, sợ nước níu chân cha
Ngắm lục bình theo sóng mãi trôi xa
Hoa tim tím như mời ai sở hữu.

Năm tháng dần trôi còn đâu cảnh cũ
Tóc bạc màu mong trở lại trẻ con
Bờ sông xưa sóng xô lở hao mòn
Bao ký ức chợt về khi tết đến.
Minh Tâm

Họa 2:

Mất Ba 

Rơi nước mắt đưa ba ra đồng nội
Bảy chín mùng mười ba trút hơi đi
Tai họa từ đâu ập tới làm gì
Ba đã mất không còn mong chi nữa

Quan tài của ba cây gòn trước cửa
Bốn thanh dài đủ đựng hình hài cha
Đau xót tâm cang máu chảy chia xa
Mắt đẩm lệ đám ma vài thân hữu

Đổi đời đói khổ năm giao thời cũ
Anh trai tù cải tạo thiếu bà con
Tiển cha đi theo xóm nhỏ lối mòn
Khăn tang trắng mộ phần nơi ba đếnHương Lệ Oanh VA

Họa 3:

Nỗi lòng

Chủ tịch Đảng hổn danh Ông Cố Nội
Nước non nầy Ông quyết định hướng đi
Đất nước ta Ông chả phải quái gì
Tài sức hẳn khỏi cần bàn tới nữa

Hậu quả đến cảnh tan nhà nát cửa
Con cái cam đành cách biệt mẹ cha
Tìm đất lành dù lạc bước phương xa
Ruộng vườn đất Đảng Ta đà chiếm hữu

Nơi xa xôi chợt nhớ về chốn cũ
Con sông Đồng ôm ấp mái tranh con
Thôn ấp nhỏ giăng mắc dấu chân mòn
Ông Cố Nội tại sao Ông lại đến ?!
THT

Họa 4:

Ký ức

Sau cuộc chiến Mẹ đưa về xứ nội
Bến Ninh Kiều tấp nập lắm người đi
Nhìn mong lung không hiểu bởi lẽ gì
Chỉ cảm nhận bình an không còn nữa

Chập choạng tối, ông tựa mình trước cửa
Nét buồn lo trông ngóng của người cha…
Khánh chồng con đồn trú ở phương xa*
Ảnh không thể nào rời xa chiến hữu…

Lời mẹ nói đầm đìa dòng lệ cũ
Kể từ khi Mẹ biết mất cha con
Mắt mẹ thâm sẫm tím đến héo mòn
Ông vội bảo… Tìm nơi an trú đến… **
Tâm Quã

*Lời của mẹ
**Ông bà nội và Mẹ-Tôi ra biển
Cuộc đời trôi theo một chuyến hãi hành

Họa 5:

Xa Mẹ vĩnh viễn

Đậu phỏng vấn tôi vội về bên nội
Thăm mẹ già lần cuối , bước chân đi
Nhìn tương lai không biết trước điều gì
Nhưng quyết định, cơ may không còn nữa

Nhà tôi đó bóng mẹ già tựa cửa
Ngồi trông con về làm giỗ cúng cha
Gặp mẹ lần cuối vĩnh viễn chia xa
Cô đơn cất bước không ai thân hữu

Ôi ly khách nay ngóng về chốn cũ
Ta ngày đêm sống lặng lẽ vì con
Vui một ngày vẫn nhớ mẹ hao mòn
Mẹ tạ thế chốn Vĩnh hằng tìm đến…
Nguyễn Cang
Mar. 1, 2026

Họa 6:

Ân phụ

Con tiễn bước đau lòng cha về nội
Lệ rơi hoài lòng nghẹn tiễn cha đi
Mai ra đi lòng quặn biết được gì
Đêm vắng bước con tim đau lần nữa

Sân chiều vắng con thơ nhìn ra cửa
Con xa quê lòng nghẹn nhớ về Cha
Mai ly hương đời mỏi bước đường xa
Tình nghĩa cũ con còn đâu bằng hữu

Nơi đất lạ con tìm về quê cũ
Cha âm thầm đời tần tảo nuôi con
Con xa quê lòng khắc khoải đợi mòn
Ngày trở gót con mong cha về đến
ChatGPT AI

Chú thích của PTL về từ cải tạo:
Sau 30-4-1975, chính quyền dùng từ cải tạo 改造 .
Đó là sai lầm. Cải tạo nghĩa là sửa đổi, làm cho thích ứng với hình thể và nhu cầu mới.
Từ này dùng cho vật vô tri vô giác.
Trong Thi Kinh 詩經 có câu:
Truy y chi hảo hề, Tệ dư hựu cải tạo hề
 緇衣之好兮, 敝予又改造兮
Áo đen (xưa dùng chỉ trang phục mộc mạc) đẹp tốt, nếu rách thì chúng tôi làm cái áo khác đổi cho

Muốn dùng cho con người thì phải dùng cải hối 改悔 nghĩa là hối lỗi và sửa đổi
Trong Chiến quốc sách 戰國策 có câu:
Thái tử trì chi, nghi kì hữu cải hối 
子遲之, 疑其有改悔 
 Thái Tử Đan thấy chậm trễ, ngờ Kinh Kha đã hối hận mà đổi ý.

Trước 30-4-1975, miền Nam dùng từ Cải huấn 改 訓
Cải 改: biến đổi
Huấn 訓 : dạy dỗ
Cải huấn nghĩa là quá trình dạy đỗ, rèn luyện và uốn nắn lại hành vi, tư tưởng 
của những người vi phạm pháp luật hoặc trẻ em hư hỏng.

Xem Thêm 
1. Tân nhạc: Xa Cha
Lời bài hát: Trần-Lâm Phát
Ca sĩ: AI Suno
Và Các Bài cổ Nhạc Tại :


:

Vượt suối - Đoàn Xuân Thu

 Ai đó từng nói: “Người Mỹ không sinh ra để khuất phục.” Và trên con đường Oregon, câu nói đó hiện hữu rõ rệt trong đôi mắt của hai đứa trẻ: Clara10 tuổi và em trai Samuel. Bụi mù bay theo từng bước chân, nắng hè thiêu đốt đôi ủng cũ, nhưng họ vẫn tiến về phía trước, sát bên chiếc xe ngựa phủ bạt của gia đình. 

Ngày hôm đó, đoàn xe dừng trước một con suối rộng, nước chảy xiết, tiếng gầm vang dội như thử thách bản lĩnh. Người lớn tranh luận cách vượt qua con suối đang cuồng nộ, nhưng Clara chỉ nhìn em trai. Samuel bấu chặt con ngựa đồ chơi rách nát và thỏ thẻ: “Mình có mất hết không, Clara?” Nỗi lo ấy không chỉ là nỗi sợ của một đứa trẻ, mà là bản năng sinh tồn – một thử thách mà bất cứ ai, khi đối diện với hiểm nguy, đều đã trải qua. 

Khi xe bắt đầu lội qua dòng nước dữ, hỗn loạn xảy ra: bánh xe rên rỉ, bò kéo hoảng loạn, nước cuồn cuộn dâng cao. Samuel trượt chân trên hòn đá trơn, lăn về phía dòng chảy xiết. Không chút do dự, Clara nắm chặt tay em, chân bám vào lòng suối trái tim đập thình thịch. “Nắm chặt!” em hét giữa tiếng nước gầm. Hình ảnh ấy phản ảnh tinh thần dũng cảm vượt tuổi đời của người Mỹ: dám đối mặt nguy hiểm, không bỏ rơi ai, dù là em bé, dù là chính mình. 

Người cha kịp thời chạy đến, kéo hai chị em lên cạnh xe. Samuel khóc nức nở, ôm chặt con ngựa đồ chơi, còn Clara, ướt sũng và run rẩy, nhìn lại dòng nước xoáy. Gia đình mất một số vật dụng, nhưng họ không đánh mất nhau. Câu chuyện tưởng giản dị này chứa đựng tinh thần kiên cường, dũng cảm và tình cảm gia đình, những giá trị làm nên bản sắc Mỹ. 

Buổi tối, bên lửa trại bập bùng, mẹ Clara tết tóc ướt cho con và thì thầm: “Con đã dũng cảm hơn nhiều người đàn ông trưởng thành.” Clara im lặng, nhưng trong lòng em cảm nhận khác hẳn con đường dài: không còn là trò chơi trẻ con nữa, mà là một phần cuộc chiến sống còn, hành trình di dân đã đưa hàng triệu gia đình vượt miền Tây hoang dã. 
Inline image
Lòng dũng cảm của gia đình trên Đường mòn Oregon – nguồn facebook

Câu chuyện Clara và Samuel không chỉ là ký ức cá nhân mà còn là biểu tượng tinh thần Mỹ: dám đối mặt thử thách, không khuất phục trước nguy hiểm, và luôn đặt người khác trên mình. Người Mỹ, từ thời khai phá miền Tây, được rèn luyện qua sông dữ, sa mạc khô cằn, đỉnh núi cheo leo. Tinh thần ấy không chỉ là can đảm thể chất mà còn là kiên nhẫn, quyết tâm và thái độ lạc quan bất chấp khó khăn. 

Tinh thần ấy còn thể hiện qua sự gắn kết gia đình, qua cách người Mỹ dạy con cái quan tâm và bảo vệ lẫn nhau. Clara, một cô bé 10 tuổi, đã thể hiện phẩm chất mà người Mỹ thường tự hào: tự lập nhưng không đơn độc, dũng cảm nhưng không ích kỷ. Đây là giá trị giúp họ vượt qua thử thách trong lịch sử, từ khai phá miền Tây đến xây dựng xã hội nước Mỹ hiện đại ngày nay. 

Câu chuyện còn gợi nhắc sức mạnh tinh thần: thất bại hay mất mát vật chất không đáng sợ bằng mất đi tình thân và sự đoàn kết. Ngay cả khi gia đình mất vật dụng, họ vẫn còn nhau – tình thân, dũng cảm và khả năng tiếp tục hành trình. Người Mỹ coi trọng kiên nhẫn trong thử thách, và kiên nhẫn gắn liền với lòng dũng cảm, sự quyết tâm không bỏ cuộc. 

Nhìn Clara và Samuel, ta thấy bóng dáng cả một dân tộc: trẻ con học giá trị dũng cảm, người lớn học sự khiêm nhường trước thiên nhiên, và tất cả nhận ra sức mạnh lớn nhất không nằm ở cơ bắp mà ở tinh thần. Hình ảnh Clara đứng giữa dòng nước, nắm chặt tay em, trở thành biểu tượng tinh thần: dũng cảm, tình thương, kiên nhẫn và niềm tin vào chính mình. 

Qua câu chuyện nhỏ bé này, chúng ta hiểu rõ hơn về tính cách người Mỹ: kiên cường, dũng cảm, lạc quan, gắn bó gia đình – tất cả tạo nên một dân tộc vừa mạnh mẽ vừa nhân hậu. Clara, Samuel và gia đình chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện tương tự trên con đường khai phá miền Tây, nhưng phản chiếu trung thực phẩm chất của một dân tộc: kiên cường, dũng cảm và tràn đầy hy vọng. 

Kết lại, câu chuyện Oregon Trail không chỉ là ký ức của trẻ em di dân mà là biểu tượng sống động của người Mỹ: biết đứng lên trước thử thách, biết giữ nhau trong nghịch cảnh, và biết biến can đảm thành sức mạnh tinh thần. Họ không chỉ đi qua sông suối, sa mạc, núi non, mà còn vượt qua chính nỗi sợ trong tâm hồn, để lại cho thế hệ sau hình ảnh một dân tộc không bao giờ bỏ cuộc, luôn dám ước mơ và hành động. Clara và Samuel, dù chỉ là trẻ em trên con đường dài hun hút, đã cho thấy phẩm chất của người Mỹ không đo bằng tuổi, mà bằng trái tim, lòng dũng cảm và tinh thần Mỹ kiên cường. 

ĐXT

Hoa Huỳnh chuyển

26 thg 3, 2026

HẠT MƯA ,MỘT CHIỀU NÀO TRÊN BẾN CÔ LIÊU ,- Phạm Bắc ( SPSG K. 13 )

 HẠT MƯA

Có một bài hát bắt đầu bằng những câu : "Mưa, mưa vẫn rơi như muôn đời, là những giọt nước cứ rơi rơi..."
Từ muôn đời, mưa chỉ là những giọt nước từ trên trời rơi xuống, nhưng sao nó gieo vào lòng người thật nhiều cảm xúc. Những hạt mưa tắm mát một thời trẻ thơ cùng với những tiếng cười đùa la hét vô tư. Những hạt mưa rải trên cánh đồng lúa một thời tuổi nhỏ đi câu cá, bắt cua, bắt ốc. Những hạt mưa làm bong bóng nổi trên mặt đường như bao suy nghĩ vu vơ chợt phồng chợt vỡ trong tâm hồn tuổi mới lớn. Những hạt mưa bay ngoài cửa sổ lớp học cùng với những cảm xúc nhẹ nhàng thoáng qua của thời áo trắng. Những hạt mưa buổi chiều tan học, nhẹ rơi trên bờ vai áo dài làm ướt con tim khi "em tan trường về, đường mưa nho nhỏ". Những hạt mưa trên sân trường đầy xác hoa phượng đỏ, hoà lẫn với những giọt nước mắt chia tay trong mùa hạ cuối cùng của thuở học trò.
Rồi những năm tháng nơi vùng cao, có những hạt mưa trên mái tranh, mưa trên nương rẫy, mưa trên núi đồi mịt mờ, mưa trên những khu rừng già hoang vu, mưa trên dòng sông lặng lẽ, mưa trong lòng người lúc đêm khuya và mưa trên những cuộc tình mong manh nhưng đầy luyến tiếc.... Bây giờ, những hạt mưa ngày đó vẫn đang rơi rơi, rơi rơi...
MỘT CHIỀU NÀO TRÊN BẾN CÔ LIÊU
Cầu Võ Xu bắc qua dòng sông La Ngà, nối liền thị trấn Võ Xu và xã Mê Pu huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Năm 1975, khi mình đến đây thì chiếc cầu sắt màu đỏ bắc qua sông đã bị sập, chỉ còn một phần nhô lên khỏi mặt nước, muốn qua sông phải đi đò. Ngày ấy, có một buổi chiều nắng nhẹ, mình khoác ba lô đứng chờ đò bên bến sông này. Khung cảnh thật đẹp, trời mây bao la, núi rừng trùng điệp xa xa, nước sông trôi lờ lững êm đềm, nắng chiều mênh mang khiến lòng lữ khách bâng khuâng xao xuyến.... Chợt nhớ đến những câu hát :
Một chiều nào trên bến cô liêu
Xóm bên sông tiêu điều
Buồn hắt hiu mây chiều...(trích từ Bài hát "ĐÒ CHIỀU"

BỌ CẠP VÀ CON ẾCH


BỌ CẠP VÀ CON ẾCH

Một con bọ cạp xin ếch cõng qua sông.

Ếch cảnh giác:
“Nếu anh chích tôi thì sao?”
Bọ cạp cười:
“Nếu tôi làm vậy thì cả hai cùng chết. Tôi đâu ngu.”
Nghe hợp lý.
Ếch đồng ý.
Ra giữa dòng…
bọ cạp chích.

Cả hai bắt đầu chìm.
Ếch đau đớn hỏi:
“Vì sao anh làm vậy?”
Bọ cạp nói một câu lạnh lẽo:
“Vì đó là bản chất của tôi.”
Nhiều người đọc câu chuyện này và nghĩ bài học là:
Đừng tin kẻ xấu.
Không.
Bài học thật sự còn tàn nhẫn hơn.
Đừng dùng logic để đánh giá bản chất con người.
Có những người làm điều sai
không phải vì họ được lợi.
Mà vì họ không thể khác.

Họ sẽ:

phản bội người giúp mình

phá hỏng thứ tốt đẹp

chích… ngay cả khi chính họ cũng chìm theo.

Không phải vì n.g.u.

Vì đó là bản chất.

Và sai lầm lớn nhất của con ếch
không phải là cõng bọ cạp.

Sai lầm của nó là tin rằng bản chất có thể thương lượng.

Trong cuộc đời này, hãy nhớ một điều rất lạnh:

Lý trí có thể thuyết phục bạn.
Nhưng bản chất mới là thứ quyết định hành vi.

Nếu bạn đặt lòng tin vào nhầm bản chất…

thì đến giữa dòng rồi
bạn mới biết mình đang cõng ai trên lưng.

25 thg 3, 2026

NHỮNG NỤ CƯỜI HIỀN , CHUYỆN ĐẦU TUẦN…Đặng Việt Lợi

 

NHỮNG NỤ CƯỜI HIỀN…
Những tưởng sáng này thì… “thất nghiệp”
Qua mấy cung đường rong ruổi xe
Xem có niềm vui nào “trượt ngã”
Nhặt lên sơ cứu để mang về
Vừa mới lòng vòng sang cố quận
Bất chợt nghe vài ba cú phôn
“Ghé quán sân vườn ngay, nếu được
Đang chờ nới ấy lắm đồng môn”
Ra thế ngoài các sư huynh cũ
Có một người ngồi đâu rõ ai
“Đó” chẵng gặp “đây” bao giờ cả
Giới thiệu “nhà đài”, lại biết ngay
Thế là lại có thêm bằng hữu
Trước lạ nhưng rồi sau sẽ quen
Danh mục đồng môn từ hải ngoại
Có thể điền thêm một cái tên
Nhờ thế không còn lo “thất nghiệp”
Khi ngồi “chộp bắt” mọi niềm vui
Sẽ cất kỹ vào trong ký ức
Mà mỗi đường link một nụ cười
Những nụ cười hiền sư phạm ấy
Vẫn hoài móm mém ở trên môi
SG_220326
ĐVL
CHUYỆN ĐẦU TUẦN
Tuần rồi, cả bọn “tản cư”
Chừ quay về quán cũ bù khú chơi
Thì ra, đâu chỉ nghiện… người
Mà ghiền thêm cái chỗ ngồi cà kê
Chỗ… đầy hoa nắng vàng hoe
Không bề bộn tiếng “ngựa xe” ầm ào
Cả khi mưa gió xôn xao
Vẫn nghe rõ chuyện của nhau tỏ bày
Thế nên mỗi sáng thứ Hai
Bận gì bận cũng tới dây ngồi cùng
Khi “tay bắt”, lúc “mặt mừng”
Chờ nghe đủ chuyện lung tung cõi người.
Đầu tuần, chỉ có vậy thôi
Gã nào cũng một gùi vui mang về.
SG_230326
ĐVL