15 thg 8, 2026

Chữ “Ký” trong tiệm ăn_Đỗ Duy Ngọc

 

Chữ “Ký” trong tiệm ăn, chữ “Đường” trong tiệm thuốc, chữ “Tự” trong ngôi chùa và chữ “Kim” trong tiệm vàng


Thời còn đi học, nhất là mấy năm đầu, bởi vì học ban Việt Hán, có môn Hán Văn nên chịu tìm tòi chữ Hán dữ lắm. Còn nhớ hồi ấy GS Trần Trọng San, người có in sách dịch thơ Đường; và GS Phan Hồng Lạc dạy môn đó. Học Hán Văn thì phải có tự điển. Cuốn Tự điển Hán Việt của tác giả Thiều Chửu là cuốn mà sinh viên nào cũng ráng mua để tra cứu. Trong lớp có mấy bạn là thầy tu Phật giáo từng học chữ Hán trong chùa nên rất giỏi môn này. Tôi nhờ có chút hoa tay nên chỉ được viết chữ đẹp, còn Hán không rộng lắm. Do đó, tôi và vài người bạn thường vào Chợ Lớn, nhìn các bảng hiệu để đoán chữ như là một cách học thêm. Thuộc cho đủ 214 bộ thủ trong chữ Hán là việc không dễ nhưng không thuộc thì khó tiến bộ và tiếp thu rất chậm.

Trong những lần lang thang học chữ như vậy, tôi thắc mắc rằng tại sao tên các tiệm, các quán ăn người Hoa thường có chữ Ký; các tiệm thuốc và chữa bệnh có chữ Đường, chùa chiền thường có chữ Tự, và tiệm vàng có chữ Kim.
 

Trước hết là chữ Ký. Ở Sài Gòn-Chợ Lớn ta thường bắt gặp nhiều bảng hiệu như Lương Ký Mì Gia, Bồi Ký Mì Gia, Thiệu Ký Mì Gia, Hải Ký Mì Gia, Huê Ký Mì Gia… bằng tiếng Việt kèm tiếng Hoa. Theo tự điển thì Ký có nghĩa là ghi chép, là ghi lại, như nhật ký, bút ký… Nhà báo gọi là ký giả… Tuy nhiên trong trường hợp này, Ký không chỉ là ghi chép. Nó còn có nghĩa là ghi nhớ. Như vậy đặt tên quán có chữ Ký là để thực khách đến ăn và nhớ tên quán của mình. Cho nên trước chữ Ký là tên riêng hoặc từ mang ý nghĩa tốt đẹp. Còn “mì gia” đơn giản là tiệm mì, nhà làm mì, nơi bán mì, mì gia truyền – tức là muốn khẳng định đây là quán mì ngon do quán làm ra, bằng công thức truyền từ đời này sang đời khác. Nhưng từ Ký không chỉ có ở các tiệm bán mì. Nó còn có ở các quán ăn như Chuyên Ký bán cơm thố, Tuyền Ký là quán ăn của người Hẹ; hay Phúc Ký, Phát Ký. Và theo An Chi, người chuyên nghiên cứu chữ nghĩa, thì sau khi tìm hiểu từ những người gốc Hoa, từ Ký lộ ra rất nhiều nghĩa, và hiểu là dấu ấn, nhớ, danh dự, dấu hiệu. Cuối cùng ông An Chi chốt lại cách lý giải khoa học nhất:

“Mathews’ Chinese – English Dictionary đối dịch Ký là “a sign”, “a mark”; và Ký hiệu là trade-mark. Trade-mark, chẳng phải gì khác hơn là nhãn hiệu, thương hiệu. Vậy cái là nghĩa gốc chính xác của chữ Ký trong Tường Ký, Chánh Ký… chẳng qua chỉ là “hiệu”. Chính vì thế nên chủ một số cửa hàng người Hoa mới đặt bảng hiệu bằng một danh ngữ mà “ký” là trung tâm (đứng cuối) còn đứng trước là một trong những chữ dùng làm tên riêng cho cửa hàng” (báo SGGP, ngày 16-8-2016).

Tóm lại chữ Ký trên biển hiệu của các quán ăn người Hoa có nghĩa là quán, là để nhớ đến, là hiệu xem như đã được cầu chứng.

Lại tiếp đến từ Đường ở các tiệm thuốc Bắc hay các nơi bắt mạch, hốt thuốc của người Hoa như Ích Sanh Đường, Hạnh Lâm Đường, Tế Sinh Đường… Chữ Đường vốn trong tiếng Hán là có ý chỉ nhà lớn, phủ quan. Thế nhưng các tiệm thuốc có mang chữ Đường xuất phát từ một chuyện thời xưa ở bên Tàu liên quan một trong những thầy thuốc danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc: Thánh Y Trương Cơ.

Trương Cơ (张机), tự Trọng Cảnh, sinh năm 150 mất năm 219, là thầy thuốc hoạt động vào cuối đời Đông Hán. Ông được xưng tụng là “Thánh y” (医圣) của Đông y. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Thương hàn tạp bệnh luận, tuy đã thất lạc trong giai đoạn Tam Quốc nhưng sau đó được tổng hợp lại thành hai tập sách Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược, là hai trong bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y. Có một thời gian ông đến làm thái thú tại Trường Sa, đúng lúc dân gian đang có dịch thương hàn. Để cứu chữa cho dân, ông vừa làm việc quan vừa chữa bệnh. Và như vậy ông công nhiên phá vỡ giới luật nghiêm ngặt thời phong kiến: ngồi tại công đường kê đơn bốc thuốc cho dân. Ông thường ghi thêm trước tên của mình bốn chữ “tọa đường y sinh” (Wikipedia). Sau này để ghi nhớ công ơn của vị thánh y đầy đức độ và tài giỏi, người ta thường gọi những người ngồi trong nhà thuốc trị bệnh thành “tọa đường y sinh”, tức là người thầy thuốc ngồi ở nhà lớn. Và cũng từ đó, các thầy thuốc Bắc thường cho chữ Đường vào tên nhà thuốc của mình thành một thói quen cho đến nay.

Đến chữ Tự trong tên của các chùa. Tự (寺) là tiếng Hán, theo tự điển giải nghĩa là chùa. Ngày nay chữ này được dùng đứng sau, làm thành tố chính để kết hợp với một từ định danh nào đó, tạo thành cụm danh từ nêu tên gọi một ngôi chùa cụ thể, như Trấn Quốc Tự, Kim Liên Tự, Quang Minh Tự, Bửu Lâm Tự, Vĩnh Nghiêm Tự, Pháp Vân Tự… Và như thế ai cũng hiểu Tự nghĩa là chùa, cho nên người Việt vẫn thường gọi là chùa Trấn Quốc, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Pháp Vân… Nhưng thật ra trong ngôn ngữ Trung Quốc cổ đại thì nghĩa của Tự không phải là chùa vì Phật giáo mới tiến nhập Trung Quốc từ đầu Công Nguyên, trong khi chữ Hán thì đã có sớm hơn rất nhiều.

Vốn ngày xưa Tự vốn là từ để chỉ cơ quan làm việc cụ thể của bộ máy chính quyền phong kiến. Sách Hán Thư chú: Phàm phủ đình sở tại giai vị chi tự (nói chung nơi làm việc của phủ đình đều gọi là “Tự”). Khang Hy tự điển chú khá rõ điều này: Hán dĩ Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ vi cửu khanh. Hậu nguy dĩ lai danh tuy nhưng cửu nhi sở lị chi cục vị chi Tự. Nhân danh Cửu tự (đời Hán lấy Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ làm Cửu khanh. Ngụy trở về sau tuy vẫn để như cũ nhưng các sở cục thì gọi là Tự.

Vì vậy mà thành tên Cửu tự (thay cho Cửu Khanh). Thế tại làm sao từ chỗ làm việc, Tự biến thành nghĩa là chùa? Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75CN) là vị vua đầu tiên thừa nhận địa vị Phật giáo ở Trung Quốc. Tương truyền nhà vua nằm mộng thấy “người vàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả 12 người do Lang Trung Thái Âm dẫn đầu sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình 7 (năm 64 CN). Ba năm sau (năm 67CN), sứ giả về với hai tăng nhân người Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng Phật được thồ trên lưng ngựa trắng. Lúc các tăng nhân cùng kinh, tượng về đến kinh đô, triều đình chưa chuẩn bị kịp chỗ ở riêng nên cho ở tạm trong Hồng Lô tự (một cơ quan trong Cửu khanh hay Cửu Tự). Sau đó nhà vua mới cho xây dựng cái mà chúng ta gọi là chùa để thờ Phật và các tăng nhân tu tập. Kiến trúc xây dựng theo kiểu mẫu dinh thự của quý tộc đương thời.

Sau đó chùa được xây dựng ngày càng nhiều cũng theo kiểu mẫu nhà ở của địa phương. Chính vì vậy mà chùa ở Trung Quốc, và cả ở Việt Nam khi tiếp nhận Phật giáo theo hướng Trung Quốc, có kiểu chùa rất riêng, không theo quy chuẩn mái cong tháp nhọn như nơi Phật giáo phát nguyên. Nhân vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Tự là chỗ đầu tiên tăng nhân tạm trú khi đến Trung Quốc nên được chuyển sang làm thành tố chính để gọi tên cho ngôi chùa: Bạch Mã Tự, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc. Kể từ đó, nơi thờ Phật và để kinh sách cho các đạo hữu tín đồ đến học tập, đọc kinh, nghe thuyết pháp đều có chữ Tự sau tên gọi.

Lại bàn về chữ Kim ở các tiệm vàng. Trước 1975 ở miền Nam, tên tiệm vàng nào cũng có chữ “Kim”. Nó bắt nguồn từ một thương hiệu vàng nổi tiếng ở Việt Nam là vàng lá Kim Thành. Vàng lá Kim Thành là nhãn hiệu vàng thương phẩm nổi tiếng tại vùng Đông Nam Á vào thời kỳ trước 1975, được dùng làm phương tiện trao đổi và cất giữ tài sản. Vàng lá Kim Thành có độ tinh khiết 999,9. Một lượng vàng lá Kim Thành có cân nặng đúng 37,5g (khoảng 1,2 troy ounce), gồm ba lá: hai lá nặng 15g mỗi lá và một lá nặng 7,5 g. Các lá này được bọc chung trong lớp giấy dầu mang nhãn hiệu của nhà sản xuất (Wikipedia).

Kim Thành là nhà buôn bán và tinh chế vàng lớn nhất vào lúc đó, với trụ sở tại Sài Gòn và chi nhánh tại Hà Nội, Hong Kong và Phnom Penh. Vàng lá Kim Thành nổi tiếng như cồn thế cho nên các tiệm buôn vàng bắt chước theo gắn tên “Kim” vào tên hiệu của mình.
Hơn nữa, Kim 金 có nghĩa là Vàng, là kim loại quý có ký hiệu hóa học là Au (L. aurum) và số nguyên tử là 79. Vàng 24K là vàng ròng, không tạp chất. Đặt tên có chữ Kim là tiệm bán vàng tốt, vàng nguyên chất, vàng có uy tín. Ngày trước người ta chỉ dùng một tên, một từ có thể là tên riêng, tên chủ hiệu hoặc một chữ mang ước vọng, mong đợi của chủ nhân kèm với chữ Kim. Ví như Kim Vân, Kim Liên, Kim Phúc, Kim Đức, Kim Phát… Sau năm 1975 hình như truyền thống này có bớt đi nhiều, giờ đây tiệm vàng đặt tên theo ý thích của chủ nhân, cũng chẳng cần kèm theo chữ Kim nữa.

Đỗ Duy Ngọc





Trần Lâm Phát chuyển

Thơ Nguyễn Thị Châu ,LÁ THU


LÁ THU

🌷🌷
Lá Thu rơi rớt bên thềm
Nắng Thu nhè nhẹ đi tìm nhớ thương
Gió Thu mắt biếc môi hồng
Chờ ai? Nhuỵ thắm hương nồng lá hoa
Từ ngày người ấy đi xa
Vàng Thu lá úa cánh hoa nhạt nhoà
Lá Thu rụng khắp sân nhà
Bao nhiêu chiếc lá, lệ sa mấy dòng
Bây giờ chiếc lá long đong
Nhớ về người ấy trong lòng lá rơi
Mùa Thu chiếc lá chơi vơi
Lệ nhoà mưa đổ đơn côi khóc thầm
Ngoài hiên lất phất mưa dầm
Mang theo nỗi nhớ nhiều năm mỏi mòn
Thu đi Thu đến vẫn còn
Người đi, đi mãi chỉ còn lá bay….!!!
29-7-2026
Nguyễn thị Châu


14 thg 8, 2026

VƯỜN THƠ MỚI Kỳ 194- Bài Xướng : VỀ THĂM QUÊ CŨ-PTL

Về thăm quê cũ


Đã lâu lắm mới về thăm quê cũ
Lũy tre làng che mát lối vào thôn
Cảnh vật xung quanh quyến luyến bồn chồn
Những kỹ niệm ấu thời như sống lại

Ngôi trường cũ nay không còn tồn tại
Mái nhà tranh đã vụt đổi thay màu
Bước ra vườn ngắm lại mấy hàng cau
Dây trầu đó nhưng không còn sức sống

Hàng tiêu sọ năm xưa đà trống rỗng
Cây nhãn lồng biến mất tự lâu rồi
Mắt đảo quanh chỉ biết nói hỡi ôi
Nay mới hiểu tang điền vi thương hải

PTL

Nhãn lồng là loại cây hoang, trái rất ngọt
Chim quyên ăn trái nhãn lồng (ca dao)


Tang điền vi thương hải là đảo ngữ thương hải vi tang điền  蒼 海 為 桑 田

Ðiển tích:  

Theo Thần Tiên truyện, Vương Phương Bình, người đời Hậu Hán, đỗ Hiếu Liêm, làm quan đến chức Trung Tán Ðại Phu,
Ông từ quan đi tu Tiên, đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh,
Ông cho sứ giả mời Tiên Nữ Ma Cô đến.
Phương Bình hỏi Ma Cô về thời gian cách biệt.
Ma Cô nói với Phương Bình rằng: Từ khi biết ông đến nay, đã thấy biển Ðông đã ba lần biến thành ruộng dâu.

https://quangduc.com/a31793/bai-be-nuong-dau

Họa 1:

Nhớ quê

Đêm khuya vắng nhớ về bao chuyện cũ
Giữa thị thành hồn gửi chốn hương thôn
Lá thu phai làm gối mỏi chân chồn
Bao ký ức xa xưa còn giữ lại

Tuổi lão hạc những mong lòng tĩnh tại
Sống bình an giữa thế giới muôn màu
Lòng bâng khuâng nhớ bến nước buồng cau
Làng quê nhỏ hiền hòa xưa đã sống

Nhớ gáo nước bên đường khi bụng rỗng
Tình tương thân chòm xóm đã xưa rồi
Cây khoai mì, củ lá rất thương ôi
Mãi gợi nhớ theo dòng đời hồ hải.

Minh Tâm

Họa 2:

Ngỡ ngàng

Bao năm viễn xứ giờ về xóm cũ
Rảo bước chân đi đến tận cuối thôn
Ôi thấy lòng sao quá lạ bồn chồn
Quê hương ngoảnh mặt cùng người trở lại

Xót xa quá ngỡ ngàng cùng thực tại
Còn gì đâu hình ảnh đẹp phai màu
Đâu mất rồi những nải chuối buồng cau
Giờ làng xóm như không còn sức sống

Tâm hồn chết như nhà hoang trống rỗng
Bước hồi hương giấc mộng vỡ tan rồi
Sao diêu tàn biến đổi thế than ôi
Tuôn nước mắt chạnh lòng người hồ hải

THT

Họa 3:

Cội Nguồn 

Chôn nhau cắt rún nơi quê làng cũ
Cội nguồn xưa tổ phụ ở đầu thôn 
Trầm tư liên tưởng dạ mãi bồn chồn 
Chồng chất nửa trăm năm giờ nghĩ lại 

Chợt nhớ nhà một mai đời hiện tại 
Đã bao phen thay đổi sớm phai màu 
Ngôi nhà xưa sừng sửng cạnh hàng cau 
Thâm tình ấy xa dần trong cuộc sống 

Ngôi trường cũ giờ đây đà trống rỗng 
Xót xa nhìn kỷ niệm mất đâu rồi 
Vật đổi sao dời thế sự than ôi 
Bao mơ ước nay tang điền thương hải 

Hương Lệ Oanh VA 
July, 19. 2026

Họa 4:

Về với Cao nguyên

Vẫn còn nhớ một lần về chốn cũ
Thăm quê nhà dù chỉ ở cô thôn
Nhìn voi rừng chung sống với beo chồn
Cùng cưỡi ngựa vòng quanh làng đi lại

Người bản xứ bằng lòng với hiện tại
Nắng hay mưa cây trái vẫn xanh màu
Như dây trầu quấn chặt lấy thân cau
Dẫu cam khổ bên nhau cần kiệm sống

Nếp văn hóa thực chất không sáo rỗng
Giữa ghét thương nói thẳng với nhau rồi
Vẫn chí tình đùm bọc chẳng hàm ôi
Huynh đệ mãi giữ tình thân tứ hải.

Tâm Quã

Họa 5:

Quê hương bỏ lại

Quê ta đó chưa lần thăm chốn cũ
Kể từ khi khói lửa ngập làng thôn
Nhớ nhà xưa lòng vẫn cứ bồn chồn
Thương cha mẹ tóc pha sương ở lại

Hàng thốt nốt, bến tắm sông, hiện tại
Còn đó không hay canh tác hoa màu
Bóng dừa xanh lã ngọn mấy hàng cau
Hoàng hôn xuống khói lam hòa nhịp sống

Nay bất chợt chiều hanh hao trống rỗng
Quê hương ơi nước mắt cạn khô rồi
Thầy bạn xưa giờ mất dấu than ôi
Đời hư ảo, ai nhớ câu thệ hải ?!!

Nguyễn Cang
July 19, 2026

Họa 6:

Giọt Lệ Cố Hương

Ta trở lại một chiều qua xóm cũ
Đã lâu về nên lạc nẽo cô thôn
Sao xa lạ lòng ta thấy bồn chồn
Xóm nhà xưa giờ nầy xơ xác quá!

Mái trường xưa đã điêu tàng đổ sụp
Ngôi đình làng nắng gió cũng phai màu
Chỉ còn lại xơ xác mấy cây cau
Mồ mẹ tôi u buồn vàng cỏ uá!

Thật đau xót cõi lòng người trở lại
Ôi cố nhân cũng khuất bóng đâu rồi
Cuộc tang hải đau lòng thât…hỡi ơi
Tôi bước đi cõi lòng như mưa gió !

Hàn Thiên Lương
*8-2026** Oregon ** Usa

Họa 7:

Khói tóc cố hương

Sương viễn xứ ngỡ ngàng màu tóc cũ
Lối mòn xưa nay lạc dấu đường thôn
Nghe tiếng lòng viễn xứ luống bồn chồn
Trông cánh én ngỡ mùa xuân trở lại.

Trường yêu dấu mái rêu không tồn tại
Chút tình quê theo nắng úa phai màu
Mưa sụt sùi qua kẽ lá giàn cau
Thương bóng mẹ một đời gom nắng sống.

Hiên vắng ngắt tiếng võng đưa trống rỗng
Khói hoàng hôn loang loáng khuất lâu rồi
Đời phù vân giong ruổi bấy nhiêu... ôi!
Thương bãi bể nương dâu nghìn dặm hải.

AI


 MỜI XEM ;


.Vườn Thơ Mới 193, Bài Xướng : THA HƯƠNG_



CHUYỆN NHỎ MÀ KHÔNG NHỎ- Nguyễn Nam Trân Dịch Từ Tiếng Nhật

 



CHUYỆN NHỎ MÀ KHÔNG NHỎ


Gần đây, nơi tôi làm việc có một chuyện nho nhỏ.
Nhưng có lẽ chỉ là chuyện nhỏ đối với tôi, còn đối với tập thể nói chung thì nó khá hệ trọng.
Vả chăng, tuy là chuyện nhỏ nhưng nó có dư âm kéo dài, làm tôi nhớ đến một chuyện khác và không khỏi nặng lòng khi so sánh hai chuyện với nhau.
Ấy là chuyện thủ trưởng của tôi đến tuổi thôi chức vụ quản lý.
Cũng xin được nói rõ rằng “thủ trưởng” ở đây chỉ là người quản lý một “đơn vị công tác” trong một cơ quan, chứ không phải là người đứng đầu của cả cơ quan ấy. Và trong cơ quan thì có cả mấy chục đơn vị có chức năng và vị thế như nhau.
Kể cả hồi mới ra trường và làm nhân viên trong một công ty Nhật, tôi cũng ít quan tâm đến chuyện ai là sếp của mình. Tôi tôn trọng vị trí của họ như tôn trọng bao nhiêu người khác, và cẩn trọng trong mọi việc cần đến sự cộng tác của nhiều người để giảm thiểu những rắc rối xảy ra trong quá trình làm việc, nhưng tôi không xét nét xem con người cá nhân của họ ra sao. Chính xác hơn, tôi không có ý định phán xét ai ở góc độ cá nhân, và những gì tôi biết về tính cách, lối ứng xử của người quản lý hay đồng nghiệp chỉ có tác dụng giúp tôi điều chỉnh mối quan hệ trong công việc theo hướng ôn hòa và bền vững.
Từ khi chọn công việc mà tôi cho rằng nó giúp tôi hạn chế rất nhiều sự tương tác với đồng nghiệp cũng như người quản lý, tôi lại càng ít quan tâm đến những chuyện linh tinh về cá nhân người này, người kia trong môi trường làm việc. Chỉ riêng quy chế điều hành chung của cả cơ quan đã có quá nhiều điều khiến tôi trầm uất và mệt mỏi.
Vị sếp mà tôi mới nhắc đến ở đoạn trên vốn là thầy dạy trong ngành tôi đã học. Tôi không có ấn tượng gì sâu sắc về thầy và cũng không rõ tính cách của thầy trong đời sống cá nhân. Chỉ có cảm nhận chung chung rằng thầy là một người vui vẻ và dễ tính.
Cho nên, cả việc thầy thôi làm công tác quản lý và việc một ai đó sẽ thay thế vị trí của thầy đều không tác động nhiều đến suy nghĩ của tôi. Với tôi, đó chỉ là một trong những thay đổi về điều kiện làm việc, như rất nhiều trường hợp thay đổi khác.
Nhưng một hôm khi đến văn phòng, tôi loáng thoáng nghe thầy nói về việc thay đổi chỗ ngồi, và có cảm giác hơi là lạ. Trước đó thì tôi chẳng hề lưu tâm đến chuyện này, không phải chỉ vì nó không liên quan gì đến tôi, mà còn vì trong tâm thức của tôi thì nó không hề là một chuyện khiến người ta phải đắn đo, cân nhắc.
Cách đây mấy năm, tôi đến Nhật trong một thời gian ngắn để thu thập tư liệu nghiên cứu, vừa đúng lúc giáo sư nhận bảo trợ cho tôi đến tuổi nghỉ hưu.
Ở Nhật, khi đến tuổi nghỉ hưu thì người ta rời hẳn vị trí công việc, và không còn chức danh gắn với công việc ấy. Khi đã thôi làm việc ở trường thì người ta không còn là giáo sư. Cũng đơn giản như nhân viên thiết kế đã nghỉ hưu thì không còn là nhân viên thiết kế.
Về sau, qua nhiều nguồn thông tin và cũng do liên lạc trực tiếp với thầy, tôi biết rằng người thay thế vị trí của thầy ở trường đại học kia là một học trò cũ mà thầy đã trực tiếp giảng dạy. Tôi cũng biết thầy được phong giáo sư danh dự của trường, nhưng thầy khẳng định đã thôi hẳn công việc và không còn liên quan gì đến ngôi trường ấy nữa. Tôi biết thầy đang dành hết thời gian cuối đời để làm nghiên cứu và dịch thuật – công việc mà thầy tâm sự rằng luôn rất muốn làm nhưng khi còn ở trường đại học thì đã bị công việc giảng dạy và quản lý chiếm dụng mất thời gian.
Còn trong thời gian mà tôi được gặp thầy hàng tuần ở trường đại học, tôi chỉ thấy là thầy đang phải rất vất vả dọn phòng nghiên cứu để trả lại cho trường. Thầy giải thích là đến tháng Ba năm sau thì nơi đang là phòng nghiên cứu của thầy phải được dọn sạch sẽ để đón người mới đến. Mà phòng thầy thì như một thư viện. Nhiều lần hai thầy trò đi cùng tuyến xe điện về ga Shinjuku, tôi thấy thầy cẩn thận chọn ra một ít sách để mang dần về nhà. Thầy bảo phải mang rất nhiều chuyến mới vơi bớt phần nào, vì sách dồn lại trong nhiều năm nên bây giờ nhiều quá. Bình thường thầy đã phải chống gậy vì chân yếu, lại còn phải đứng trên xe điện hàng tiếng đồng hồ, thế mà thầy vẫn cứ cần mẫn chuyển sách về nhà theo cách ấy. Thầy còn giải thích là mấy tháng nữa thầy phải lái ô tô đến trường chở sách về, chắc phải chở mấy chuyến mới xong. Có hôm thầy bị cảm, trông rất mệt mỏi khi vừa chống gậy vừa cầm túi đựng sách. Tôi nằng nặc xin cầm sách giúp thầy, dù chỉ đi với thầy chung một đoạn đường thôi, nhưng thầy không bao giờ để tôi động tay vào việc ấy, đến mức khiến tôi thấy bực mình vì tính cách quá ư cứng rắn của người Nhật!
Tuy cũng là trường đại học nhưng nơi tôi làm việc khác hẳn nơi công tác của thầy. Khác như vùng địa cực khác với vùng xích đạo! Nên văn phòng cơ quan chẳng hề khiến tôi nhớ lại việc thầy dọn dẹp phòng nghiên cứu.
Nhưng bỗng nhiên vị sếp mới thôi làm quản lý lại khiến tôi nhớ đến chuyện kia. Mà là nhớ con người, thái độ chứ không phải sự kiện.
Quyết định thôi chức và quyết định bổ nhiệm đều đã được công bố hơn một tuần rồi, nhưng sếp cũ vẫn ngồi trên ghế cũ, trong gian phòng dành cho thủ trưởng mà thầy vẫn sử dụng lâu nay.
Gian phòng ấy không khiến tôi ngưỡng mộ như phòng nghiên cứu của thầy tôi bên Nhật, mà chỉ là nơi tôi thỉnh thoảng bước vào để trình ký các loại giấy tờ khi phải làm thủ tục hành chính với các phòng ban khác trong trường. Đối với tôi, nói ngắn gọn thì đó là nơi có đặt cái ghế của người làm quản lý. Và việc sếp khó xa rời nó khiến tôi không khỏi thấy ngạc nhiên.
Sở dĩ nói là “khó xa rời” vì tôi đã mấy lần nghe thầy nói về việc thay đổi vị trí với vẻ khá băn khoăn, nhưng rồi hơn một tuần trôi qua mà mọi thứ vẫn còn nguyên như cũ. Dĩ nhiên là thầy vẫn tiếp tục làm việc tại cơ quan với đầy đủ học hàm học vị. Vấn đề là một thành viên bình thường làm công tác giảng dạy thì không có chỗ ngồi cố định ở cơ quan, nói gì đến một góc hẳn hoi tách riêng với mọi người còn lại.
Khi tình cờ trò chuyện với một cô bạn đồng nghiệp cùng đơn vị, tôi nghe cô ấy bày tỏ sự thắc mắc về việc chỉ thay đổi trên nội dung giấy tờ chứ chưa thay đổi vị trí nơi làm việc, và chợt hiểu ra rằng tình trạng hiện tại nếu kéo dài thêm nữa thì có vẻ sẽ không ổn lắm trong tâm thức mọi người.
Là một người ngoài cuộc đối với chuyện quản lý, tôi chỉ biết là có tồn tại một tình trạng như thế, chứ không biết vì sao mà nó lại xảy ra.
Mười bốn năm đi làm, tôi đã mấy lần thay đổi nơi làm việc, và chưa từng có cảm giác muốn vào thăm lại cơ quan cũ, dù khi tôi chuyển việc thì không hề ghét bỏ cơ quan hay đồng nghiệp ở đó.
Tôi chỉ muốn thăm lại trường cũ mình đã học, nhìn lại cái cây mình đã trồng ở một góc sân trường. Tôi cũng thường nhớ về ngôi nhà cũ, nơi mình đã sống với người thân, dù ngôi nhà ấy không còn nữa.
Có lẽ vì tôi thuộc kiểu người không đặt tình cảm cá nhân vào cơ quan hay quan hệ công việc.
Cũng có thể ai đó nghĩ rằng tôi chỉ là một nhân viên bình thường, còn người quản lý thì mới có tình cảm gắn bó với cơ quan.
Nói chung là tôi không hiểu được tâm tư tình cảm của người khác, đặc biệt là những người có vị thế khác hẳn bản thân mình.
Có thể người ta gặp rất nhiều khó khăn khi phải chia tay với cơ quan, hay thậm chí chỉ là chia tay với một... cái ghế?
Tôi cảm nhận rất rõ là thầy tôi rất buồn, khi thầy nói về việc nghỉ hưu, việc dọn phòng nghiên cứu và thu xếp để mang từng quyển sách về nhà.
Nhưng thầy đã làm hết những việc phải làm một cách rất điềm tĩnh. Không băn khoăn. Không níu kéo.
Vì vậy nên dù không hiểu được nỗi buồn của thầy, tôi cũng biết rằng nó không phải là thứ tình cảm khiến cho thầy bám víu vào cái cũ, vào những thứ vẫn có sức chi phối rất lớn đến tâm thức con người.
Mà ở đây không phải chỉ có chuyện cá nhân. Một môi trường xã hội như Nhật Bản không cho phép người ta níu kéo. Xã hội tạo rất nhiều điều kiện để nuôi dưỡng lòng tự trọng ở con người, và nó buộc người ta phải hành xử với lòng tự trọng! Trong xã hội như thế, một người khi biết mình là ai thì đồng thời phải có đủ dũng cảm để rời bỏ những gì cần rời bỏ, nếu không muốn những thứ vốn tùy thuộc vào ta “vươn lên” nắm quyền làm chủ ta, và ta đánh mất chính bản thân trong cái nhìn khắc nghiệt của thiên hạ.
Tôi viết những điều này chủ yếu chỉ vì muốn “tẩy rửa” đầu óc sau mấy ngày mệt mỏi. Những chuyện này không phải chuyện của cá nhân tôi, cũng không phải chuyện mà tôi quan tâm chú ý, chỉ là điều tôi tình cờ “chạm trán” và khiến tôi liên tưởng đến một tình huống khác, một lối hành xử khác, mà cảm thấy nặng lòng.
Tôi nhớ đến một nhà văn Việt Nam với nhiều tiểu thuyết có những nhân vật là quan chức về hưu mà vẫn hành xử như thuở còn đương chức.
Tôi không có ý định phê bình hay phán xét một ai.
Tôi chỉ thấy sợ vì thông qua những người có lối hành xử mà tôi không hiểu được, tôi cảm thấy được cảnh báo sâu sắc về sự yếu đuối của con người. Có lẽ vì tôi vốn là người đặc biệt yếu đuối và nhạy cảm với sự yếu đuối.
Chúng ta luôn muốn học hỏi các nước văn minh, các nước giàu. Nhưng chúng ta có học được từ họ sự mạnh mẽ hay không?

13 thg 8, 2026

Trang Thơ ĐV.Lợi ; LẼ VÔ THƯỜNG,LẠI THĂM “QUÁN CÀ PHÊ CHẠY NẮNG”

 LẼ VÔ THƯỜNG

Ghé “nhà” được gọi “nhà… thương”
Thử xem cái “lẽ vô thường” ở dâu
Mà từ phút… khóc khởi đầu
Trải bao mộng mỵ, chiêm bao, tìm hoài!
Cả trong lúc tỉnh, khi say
Đang cơn thức lẫn mộng ngày mơ đêm
Bao năm cứ mải mê tìm
Giờ thì tiện thể hỏi xem thế nào
Vô thường - lẽ ấy vì sao
Làm hoang mang suốt bể dâu kiếp người?
Xui ta khóc, bẳt ta cười
Khiến nhân gian nhộn nhạo vui lẫn buồn?
Ghé nơi tuy… ghét, lại… thương
Ngộ ra đời chỉ là… tuồng chiêm bao.
Một bể khổ ngập sóng trào
Kể từ độ khóc thét… vào cuộc… chơi.
Cuộc chơi, ôi, cái cuộc Người…
SG_110826
ĐVL

LẠI THĂM “QUÁN CÀ PHÊ CHẠY NẮNG”
Lâu lắm mới ghé “cà phê chạy nắng”
Những gương mặt quen vẫn kín chỗ ngồi
Như trầm cảm, nắng ngã màu vàng nhạt
Còn hơi sức đâu mà rượt đuổi người
Nắng hiền thế nên chẳng cần “núp hẻm”
Cứ ung dung tán gẫu dưới hiên nhà
Lần này cũng… hầu như, ai cũng nhắc
Ông giáo Cali - vị “ẩm khách già”
Người từng đã đến cà phê “Chúc Nguyễn”
Cùng học trò dõi lối mặt trời đi
Chờ khi tách cà phê đầy vị nắng
Lại khập khà khập khiễng để… thiên di
Để trốn nắng, trừ khi nào nắng… trốn
Cả đôi lần mưa nắng phỉnh phờ nhau
Và mạch chuyện về Sài Gòn Sư Phạm
Lại miên man kệ mưa nắng nhĩ nhàu
Riêng lần này, vâng lần này, bất chợt
“Đêm Cali” kết nối “Sáng Sài Gòn”
Mặt đối mặt - vẳng từng lời thưa thốt
Mừng thấy “Ông Thầy” xưa vẫn an khương!
Vẫn rất nhớ quán cà phê chạy nẳng
Vẫn bồn chồn nghe “Tiếng Vọng Quê Hương (*)
Cũng có thể thầm đếm ngày, tính tháng
Để được về kết thúc chuỗi… tha phương
(Chỉ là các học trò già vụng đoán
Thầy bâng khuâng lời hẹn với Sài Gòn)./.
SG_130826
ĐVL
(*) Tên một bài thơ hay của Thầy - Nhà thơ Nguyễn Duy Linh đăng trong tập Thơ Viết Cho Mình.


Tôi đã trải qua 6 tháng sống ở viện dưỡ/ng lão 8 triệutháng....

 

Tôi đã trải qua 6 tháng sống ở viện dưỡ/ng lão 8 triệutháng và tôi phải nói ra 6 sự thật tàn khốc mà ít ai dám nói…
Ngày con trai đưa tôi đến viện dưỡng lão, nó nói một câu:
“Mẹ ở đây có người chăm sóc chu đáo, chúng con đi làm yên tâm hơn.”
Tôi cười gượng, ôm vội túi đồ. Lúc ấy, tôi cũng tin rằng với mức phí 8 triệu một tháng, nơi này sẽ là chỗ an dưỡng tốt. Nhưng sau 6 tháng sống ở đây, tôi đã hiểu ra nhiều điều mà trước đó chưa bao giờ nghĩ tới. Và hôm nay, tôi muốn kể lại 6 sự thật tàn khốc – không để than trách, mà để ai đó có người thân đang ở trong hoàn cảnh như tôi, sẽ hiểu và thương hơn..!!!
Sự thật thứ nhất…
Tiền 8 triệu một tháng không mua được sự quan tâm thật lòng.
Nhân viên ở đây cũng có người tốt, nhưng họ phải chăm cùng lúc cả chục cụ già. Họ làm theo giờ, theo quy định. Đến giờ ăn thì đẩy xe cơm tới, đến giờ uống thuốc thì đưa thuốc. Không ai có thời gian ngồi nghe một ông cụ kể chuyện thời trẻ, hay dỗ dành một bà cụ nhớ con mà khóc giữa đêm.
Sự thật thứ hai:
Ở viện dưỡng lão, thứ thiếu nhất không phải tiền, mà là tiếng người thân.
Có cụ mỗi ngày cầm điện thoại nhìn màn hình cả tiếng chỉ để chờ một cuộc gọi. Có cụ cứ đến cuối tuần lại mặc quần áo đẹp, ngồi ngoài cổng từ sáng đến chiều… nhưng con cháu không tới.
Sự thật thứ ba:
Nhiều người già ở đây không bệnh vì tuổi già, mà bệnh vì buồn.
Tôi đã chứng kiến một cụ ông trước còn khỏe, sau vài tháng ít nói dần, ăn cũng ít, rồi lặng lẽ ra đi. Bác sĩ nói tim yếu, nhưng chúng tôi đều biết… trái tim ông yếu vì không còn ai cần mình nữa.
Sự thật thứ tư:
Không phải ai vào đây cũng nghèo hay không có con.
Ngược lại, rất nhiều cụ có con cái thành đạt. Có cụ khoe con làm giám đốc, con làm ở nước ngoài. Nhưng khi đêm xuống, họ vẫn lặng lẽ nói một câu giống nhau:
“Giá mà được ở nhà… dù chỉ là một góc nhỏ.”.!!!😢
Sự thật thứ năm:
Người già sợ nhất là cảm giác bị gửi đi.
Ngày đầu tôi vào đây, có một bà cụ nắm tay tôi hỏi:
“Con có bị con cháu đưa tới giống tôi không?”
Tôi gật đầu.
Bà cười buồn:
“Vậy là từ nay chúng ta thành… hàng xóm của nỗi nhớ rồi.”
Sự thật thứ sáu – cũng là điều tàn khốc nhất:
Chúng tôi không sợ chết.
Thứ chúng tôi sợ là bị quên lãng khi còn sống.
Suốt 6 tháng qua, tôi dần hiểu ra một điều.
Viện dưỡng lão có thể cho người già chỗ ăn, chỗ ngủ, thuốc men đầy đủ.
Nhưng có một thứ không nơi nào bán được bằng tiền.
Đó là cảm giác mình vẫn là người thân trong một gia đình.
Tuần trước, con trai tôi đến thăm. Nó hỏi:
“Mẹ ở đây có quen không?”
Tôi nhìn nó, cười nhẹ rồi nói:
“Mẹ quen rồi… nhưng quen không có nghĩa là mẹ hết nhớ nhà.”
Nó im lặng rất lâu.
Tôi không biết sau này mình có còn ở đây nữa hay không.
Nhưng nếu ai đó đọc được câu chuyện này, tôi chỉ mong một điều nhỏ thôi:
Nếu còn cha mẹ…
hãy dành cho họ nhiều thời gian hơn một khoản tiền mỗi tháng..!!!
_______
Bài của tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm#

Hoa Huỳnh chuyển

12 thg 8, 2026

Trang Thơ Hathuthuy- SPSAIGON CÔ NHÃ Ý Ơi - Mời -Xem Trên Yoube






 
CÔ NHÃ Ý ƠI!

Có một điều không sao quên được
Là con dốc trắng xóa áo dài
Của ngày xưa chân hài nhẹ bước
Tuổi mười ba mười bốn thơ ngây.
Có một điều trong bốn ngăn tim
Cứ luôn luôn làm em nhung nhớ
Là dáng CÔ áo dài lam tím
Trên sân trường nắng gió ngẩn ngơ.
Có một điều không thể nào quên
Giọng giảng bài như ru như hát
Thơ cổ bỗng lãng đãng thơ tình
" Qua Đèo Ngang" hóa thành nốt nhạc.
Có một điều làm em cứ tiếc
Chưa một lần được hát CÔ nghe
Bài hát có dòng sông học vấn
Người đưa đò duyên dáng là CÔ.
Ra trường lâu rồi... Em vẫn nhớ
Ngô Quyền trường cũ bạn bè thương
Dáng CÔ đi bồi hồi nắng lụa
Mây nghiêng nghiêng ngó xuống sân trường.
Có một điều cứ luôn ray rứt
Từ bài thơ dang dở nửa chừng
Có hàng cây đường Trịnh Hoài Đức
Lá rơi nhiều theo gió bâng khuâng
hathuthuy