26 thg 10, 2026

IẾNG VIỆT

T

IẾNG VIỆT

Chèn đét ơi ! Té ra các bạn cũng yêu quý TV quá chứ nhất là từ Ăn , học ai cũng phải sử dụng hàng ngày: “ Ăn vóc học hay”mà . Hôm nay tui giới thiệu với các bạn từ “ Quan” nha:
. Quan thượng thư: đứng đầu trong lục bộ ( lại, lễ, hộ ,binh ,hình,công )
.Quan trấn thủ: quan đứng đầu địa phương
.Quan lại : giữ chức vụ có quyền từ cấp huyện trở lên
. Quan liêu: thói quen tiêu cực trong quản lý hành chính
.Quan hệ: sự liên kết tương tác giữa cá nhân hoặc tổ chức
. Quan điểm : cách nhìn , suy nghĩ đánh giá của cá nhân hay tổ chức về một vấn đề, sự vật hay hiện tượng

Quan ngại :không yên tâm lo lắng về vấn đề, sự việc, hoàn cảnh nào đó
. Quan tiền : đơn vị tiền tệ ngày xưa
. Cơ quan : các tổ chức nhà nước phục vụ các chức năng quyền hạn nhà nước
. Liên quan : có dính líu
. Chủ quan: dựa vào cảm xúc , kinh nghiệm cá nhân không dựa trên dữ liệu
.Bế quan: đóng cửa không giao thương
. Tham quan: đến một địa điểm quan sát xem xét , học hỏi tìm hiểu để mở mang kiến thức
.
Trực quan : hiểu biết qua các giác quan trực tiếp
. Giác quan : gồm 5 ( thị , thính, khứu, vị ,xúc) giác
. Cánh quan: tập hợp các cảnh vật cây cối, động vật, khí hậu và môi trường
. Thế giới quan : các tri thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng của con người về thế giới
. Nhân sinh quan : sự tồn tại của mình các giá trị đạo đức và mối quan hệ XH
. Giá trị quan: nhận thức chuẩn giúp ta chọn phân định đúng - sai, tốt- xấu trong cuộc sống.

.( Quan mà tài giỏi gọi là quan tài
. Quan mà ăn không chừa thứ gì là quan tham
. Quan mà chuyển nơi làm việc từ chỗ này sang chỗ khác gọi là di quan
. Quan mà làm sai bị phát hiện phạt tù gọi là động quan
. Quan bị giáng chức hạ cấp bậc gọi là hạ quan
. Quan được thăng chức cấp bậc gọi là thăng quan
. Áo của quan mặc gọi là áo quan
. Quan cao to mập mặt nọng bụng phệ gọi là quan to)( hài)
Những thành ngữ về quan:
. Chờ được quan thì dân đã chết: chậm trễ của pháp lý
.Một người làm quan cả họ được nhờ: nói về gia đình trị , họ hàng dòng tộc được hưởng quyền thế
Đời cha làm quan đời con ăn xin: Cảnh báo làm quan độc ác con cái chịu nghiệp ( luật nhân quả)
Bàng quan tọa thị : khoanh tay đứng nhìn , thờ ơ với việc đau lòng xảy ra trước mắt

( Mong các bạn góp thêm ) 

Bùi Thị Đà - SPsagon 

TS.VN

 


Góc Đường Thi : Năm mươi bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1) (tiếp theo) - Đỗ Chiêu Đức biên soạn

 Góc Đường Thi : 

                 Năm mươi bài  NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ (1) 
                                 (tiếp theo)

4. THU DẠ KÝ KHƯU VIÊN NGOẠI 秋 夜 寄 邱 員 外 của Vi Ứng Vật 韋 應 物 :                                      
               懷 君 屬 秋 夜,  Hoài quân thuộc thu dạ,
               散 步 詠 涼 天。  Tản bộ vịnh lương thiên.
               空 山 松 子 落,  Không sơn tòng tử lạc,
               幽 人 應 未 眠。  U nhân ưng vị miên !?
             
                 
            
                             Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

* Chú thích :
    - VIÊN NGOẠI 員 外 : Còn được gọi là VIÊN NGOẠI LANG 員 外 郎, là chức quan phụ cho quan viên chính trong lục bộ có từ thời Tam Quốc và Ngụy Tấn trở về sau. Đến đời Minh Thanh thì đây chỉ là chức Hàm, chỉ có chức nhưng không có quyền; Thường thì những phú thương và địa chủ hay dùng tiền để mua chức Viên Ngoại nầy, để được vừa Phú vừa Qúy. Vì thế trong dân gian quen gọi những người giàu có là Viên Ngoại.
    - Hoài 懷 : là Hoài niệm, là nhớ đến ai đó. HOÀI QUÂN 懷 君 là Nhớ đến anh.
    - Vịnh 詠 : Ở trong câu nầy có nghĩa là Ngâm nga.
    - Không Sơn 空 山 : Chỉ núi non trống vắng.
    - U Nhân 幽 人 : chỉ những người ở nơi vắng vẻ nhàn nhã, những người ở ẩn.

* Nghĩa bào thơ :
                     ĐÊM THU GỞI VIÊN NGOẠI HỌ KHƯU
       Tôi nhớ đến anh vào những đêm thu như đêm nay,
       Tôi đi tản bộ và ngâm nga trong cảnh đêm mát mẻ nầy. Ngắm cảnh...
       Núi non trống vắng yên lặng đến nghe được từng tiếng trái thông rụng...
       Giờ nầy chắc con người thảnh thơi nhàn nhã như anh chưa ngủ đâu nhỉ !?     
                                   
* Diễn Nôm :
                 THU DẠ KÝ KHƯU VIÊN NGOẠI   
                
                                                    

                  Trong đêm thu nhớ bạn,
                  Trời mát vịnh vẩn vơ.
                  Núi vắng trái thông rụng,
                  Chắc chưa ngủ người thơ ?!
        Lục bát :
                  Nhớ người trong những đêm thu,
                  Ngâm nga tản bộ trời thu lạnh lùng.
                  Núi không rơi nhẹ trái tùng...
                  Chắc người u nhã đều cùng thức đây ?!
     
5. PHẦN THƯỢNG KINH THU 汾 上 驚 秋 của Tô Đĩnh 蘇 頲 :
      TÔ ĐĨNH 蘇 頲 (670—727)tự là Đình Thạc 廷 碩, người đất Kinh Triệu (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay), đậu Tiến Sĩ thời Võ Tắc Thiên, làm quan đến chức Hứa Quốc Công. Năm Khai nguyên thứ 13 đời Đường (723), ông bị biếm khỏi kinh thành, hai năm sau mới được triệu hồi về Trường An. Suốt hai năm đi đày là khoảng thời gian mà Tô Đĩnh bi quan và thất vọng nhất. Ta hãy đọc bài thơ sau đây của ông sẽ rõ...

                汾 上 驚 秋           PHẦN THƯỢNG KINH THU
               北 風 吹 白 雲,   Bắc phong xuy bạch vân,
               萬 里 渡 河 汾。   Vạn lý độ hà Phần.
               心 緒 逢 搖 落,   Tâm tự phùng diêu lạc,
               秋 聲 不 可 聞。   Thu thanh bất khả văn !

                

                               Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

* Chú thích :
    - PHẦN 汾 : là tên sông, bắt nguồn từ tỉnh Sơn Tây, chảy vô sông Hoàng Hà. KINH 驚 là sợ, là giật mình, kinh ngạc. PHẦN THƯỢNG KINH THU 汾 上 驚 秋 là "Giật mình khi thấy mùa Thu đã đến trong lúc thuyền đi ngang trên sông Phần". Cũng có nghĩa "Trên sông Phần kinh ngạc khi thấy mùa thu đã về".
    - Hà Phần 河 汾 : là cách gọi chung sông Hoàng Hà và sông Phần.
    - Tâm Tự 心 緒 : là Tâm lý của con người, ở đây chỏ "Cõi lòng, nỗi lòng".
    - Diêu Lạc 搖 落 : DIÊU là Dao động; LẠC là Rơi rụng. DIÊU LẠC hay DAO LẠC chỉ lá cây dao động và rơi rụng trong gió mùa Thu. Trong câu thơ PHÙNG DIÊU LẠC  逢 搖 落 là Gặp mùa lá rụng, đó là mùa Thu. 

* Nghĩa bài thơ :
                   Trên sông Phần kinh ngạc khi thấy Thu về.
       Những trận gió từ phương Bắc thổi về cuốn trôi những làn mây trắng.
       Từ muôn dặm trở về đây để đi ngang qua con sông Phần nầy.
       Nỗi lòng rối bời lại nhằm lúc cây lá dao động và rơi rụng vì gió Thu,  
       Tiếng Thu xào xạt xao xát não lòng khiến người ta không muốn nghe chút nào cả !
       Ông tự ví mình như làn mây trắng nổi trôi bị gió phương Bắc cuốn đi muôn vạn dặm đến con sông Phần xa xôi nầy, và trong tâm lý bi quan thất vọng của kẻ đi đày bỗng chợt bàng hoàng khi thấy lá vàng bay trong gió Thu hiu hắt... Chữ KINH trong tựa bài thơ có nghĩa như là chợt giật mình nhận ra là trời đã vào Thu rồi... và tiếng thu xạt xào tiêu sắt lạnh lùng khiến cho người lữ thứ không muốn nghe thấy chút nào cả ! Như cụ Nguyễn Du đã tả nỗi lòng của Thúy Kiều khi lần đầu tiên phải xa quê theo Mã Giám sinh về nơi xứ lạ :
                              Vi lô san sát hơi may,
                     Một trời thu để riêng ai một người !
                       
         


* Diễn Nôm :
                     PHẦN THƯỢNG KINH THU         
                     Gió bấc vờn mây trắng,
                     Muôn dặm ngang sông Phần.
                     Nỗi lòng như lá rụng,
                     Tiếng thu chẳng muốn nghe !
         Lục bát : 
                     Gió bấc về  mây trắng bay,
                     Sông Phần muôn dặm ai hoài sang ngang.
                     Nỗi lòng cây lá thu sang,
                     Tiếng thu não nuột bàng hoàng chẳng nghe !

        Đang sống trong cảnh vinh hoa phú quý, chợt phải đi đày xa ngoài vạn dặm, lại gặp cảnh trời Thu heo may lạnh lùng trên sông nước, những cánh nhạn xuôi Nam với muôn ngàn lá rụng trong gió Thu se sắt. Chả trách nỗi lòng của Tô Đĩnh trở nên bi quan thương cảm não nề như thế kia !
             


                                         Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

        Hẹn 5 bài dịch tới !
                                                              杜 紹 德
                                                           Đỗ Chiêu Đức