24 thg 10, 2026

NGÀY XƯA CÒN ĐI HỌC -

 NG


ÀY XƯA CÒN ĐI HỌC


‎ Ngày xưa, mình học tiểu học tại trường của xứ đạo gần nhà do các sơ dòng Đa Minh dạy. Sau khi học xong, mình có hai lựa chọn để vào trung học : thi vào trường công hoặc học trường tư. Thời đó, ở vùng ngoại ô, trường công gần nhất cũng cách nhà gần 10km nên gia đình quyết định cho mình học một trường tư thục Công giáo cách nhà khoảng 5km.
‎ Bố mình mua cho mình một chiếc xe đạp cỡ nhỏ và hàng ngày mình đạp xe đi về gần 10km. Lúc ấy mình chỉ là một thằng bé 11 tuổi gầy gò ốm yếu, nhưng rất thích đi học vì trong xóm có gần chục đứa bạn học cùng trường. Mỗi sáng, từng nhóm trên những chiếc xe đạp cùng nhau đến trường, vừa đi vừa chuyện trò, cười đùa vui vẻ. Từ nhà đến trường hầu hết đi trên con đường xuyên qua trung tâm huấn luyện Quang Trung. Hai bên đường là những doanh trại của quân đội, những hàng me xanh mướt đầy trái, những hàng cây tràm bông vàng với những chiếc lá cong cong, những chùm hoa vàng lấm tấm. Vào mùa lạnh, có hôm mình rời khỏi nhà khi trời còn mờ tối, sương mù giăng khắp lối đi. Trời rất lạnh nên cả bọn tập được kỹ năng lái xe suốt một đoạn đường dài mà không cần cầm tay lái, chân thì đạp, còn hai tay khoanh trước ngực cho khỏi lạnh. Trường mình học là một trường Công giáo nhỏ bên cạnh một ngôi giáo đường ở Hóc Môn. Trường dạy từ lớp 6 đến lớp 11 vả trường chỉ có 1 lớp 10 và 1 lớp 11. Sáu năm trời, tuổi học trò trung học của mình gắn liền với con đường và ngôi trường thân thuộc này. Ban đầu, mình là một thằng bé ngô nghê, đạp xe đến trường, nhìn cảnh vật hai bên đường bằng con mắt vô tư. Rồi những lần mình đạp xe ra ruộng bắt dế, đạp xe đến nhà bạn bè chơi cá lia thia mỗi khi được nghỉ hai tiết cuối. Rồi mỗi năm mỗi tuổi lớn hơn, tâm hồn mình dần dần có những đổi thay. Một ngày nào, lòng bâng khuâng khi nghe tiếng ve trên hàng cây, nghe một thoáng hương tràm trong gió, và nhìn thấy những cánh mai vàng nở sớm, lung linh trong nắng những ngày giáp Tết. Một ngày nào, lòng bồi hồi xao xuyến trước một ánh mắt nụ cười và buồn mênh mang mỗi khi hè đến.
‎ Những ngày đó đã xa rồi xa mãi, và chỉ còn là kỷ niệm. Bây giờ đôi khi mình ước gì được trở về cái thời học trò thật đẹp ngày xưa. Mình muốn về để tìm lại cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, và để tìm lại hình bóng quen thuộc của một người năm xưa...

Pham văn Bắc - SPSaigon

23 thg 10, 2026

Biện đạo (Bài 11



VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀ THỰC HIỆN CHO ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU TRỌNG YẾU

Tác giả: Ogyu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

Vai trò của người lãnh đạo là thực hiện cho được những điều trọng yếu

Đối với đạo tiên vương, nếu thực hiện được nội dung (các điểm, các hạng mục) trọng yếu thì các nội dung (các điểm, các hạng mục) chi tiết nhỏ sẽ tự nhiên có được(1).

Do đó Tử Hạ nói: “Không thể vi phạm các loại đức quan trọng nhưng đối với các loại đức nhỏ chi tiết thì có thể lúc giữ lúc không”(2). Nếu không làm như vậy thì không thể tiếp tục thực hiện được đạo.

Tử Cống nói: “Người tài đức hơn người thì hiểu được nội dung quan trọng to lớn của đạo, người không có tài đức hơn người thì hiểu được nội dung ít quan trọng hơn của đạo”(3). Do đó, người hiểu biết được nội dung quan trọng thì làm người hiền (người tài giỏi hơn người). Người hiểu biết nội dung nhỏ không quan trọng thì làm người bất hiền (người tài có khả năng bình thường, người không có tài đức hơn người).

Người bất hiền của đời sau chỉ hiểu biết những nội dung nhỏ không quan trọng. Việc gom góp những nội dung nhỏ để biết nắm bắt được nội dung to lớn quan trọng giống như đem đo đồ vật có trọng lượng nặng vài thạch bằng cái cân chỉ đo được vài thù銖 (1 thạch = 46 ngàn 80 thù) hoặc giống như đo chiều của vật dài khoảng vài trượng 丈bằng cây thước dài 1 thốn寸(1 trượng = 100 thốn) thì chắc chắn sai số cân đo sẽ rất to lớn. (Ý nói người chỉ hiểu biết những việc nhỏ nhặt thì dùng đầu óc đó để biết được việc quan trọng lớn lao thì sẽ có sai lầm rất lớn) (4) (a). Những người này (ý nói các hậu Nho) trong khi cố gắng luận bàn xem xét những nội dung vô cùng nhỏ, cực kỳ tinh vi giống chẻ nhỏ từng sợi tơ tằm hoặc mổ xẻ từng sợi lông bò (5), thếmà họ lại không hề hay biết rằng trước hết họ đã bỏ qua những điều thật quan trọng. Với thái độ, lập trường như vậy liệu có thể giáo dục, đào tạo nhân tài để phục vụ cho quốc gia đất nước được an vui thịnh vượng sao? (b)

Ngay cả thánh nhân cũng có việc không làm được hoặc không biết được

Những người này (tức hậu Nho nói trên) khi luận về thánh nhân họ lại xem con người của thánh nhân như thể là lẽ trời (thiên lý) (ý nói: xemthánh nhân như lẽ trời) (6). Con người của thánh nhân không có 1 chút nhỏ nào lòng ham muốn riêng tư(7). Đây cũng là nội dung họ nhìn thánh nhân bằng ý riêng tư của họ. Truyện viết “Có lúc căng,có lúc thả dãn là đạo (phương châm) của Văn vương và Võ vương (đời Chu)” (8). Khổng tử nói “ (Cho ta sống thêm ít năm nữa, tới 50 tuổi nghiên cứu kinh Dịch) thì có thể không còn bị sai lầm lớn”(9). Tử Tư viết: “Mặc dù là thánh nhân nhưng cũng có điều không thể biết được hoặc có việc không có khả năng làm được”(10). Nếu không phải như vậy thì tại sao các việc sau đây xảy ra? Vua Nghiêu dùng ông Cổn (để trị lũ lụt), còn vua Thuấn lại xử chết ông Cổn (11). Vua Thuấn ra lệnh chinh phục Tam Miêu mà ông Vũ (vềsau ông nối ngôi vua Thuấn, lập ra nhà Hạ) lại đem quân trở về (12). Chu công (tức Chu Công Đán, em của Võ vương) lại giết chết Quản Thúc và Sái Thúc (13) (anh và em ruột của ông). Khổng tử lập chính sách phá hủy 3 thành trì (của 3 dòng họ làm đại phu nước Lỗ là Mạnh Tôn, Thúc Tôn và Quý Tôn, con cháu của Hoàn công, còn gọi là dòng họ Tam Hoàn)(14) không thành công. Tôi không biết làm thế nào để biện hộ đối với việc chê cười các thất bại nói trên.

Khổng tử không gấp bỏ gừng trong thức ăn ra. Đó là bởi vì ông thích ăn gừng (15). Trong sách truyện có viết Văn vương có sở thích dưa muốirễ cây xương bồ ướp tương (16). Thánh nhân có sở thích ăn như vậy, có gì là vấn đề đâu? Chu tử khi giải thích sách Luận Ngữ lại nói Khổng tử không gấp bỏ gừng ra ngoài thức ăn là bởi vì gừng thông đạt với thần minh(17). Chẳng phải bóp méo sự thật quá đáng sao?

Chủ yếu của đạo thánh nhân là nuôi dưỡng trưởng thành và phát triển

Phần lớn đức của thánh nhân giống như tác dụng hữu ích của trời đất. Đạo của thánh nhân bao dung những nội dung to lớn nhưng chủ yếu là nuôi dưỡng trưởng thành và phát triển. Do đó, thành lập được những nội dung to lớn quan trọng thì những nội dung chi tiết nhỏ tự nhiên sẽ có được. Người đời sau vội vàng nhanh chóng lấy nội dung thấy trước mắt mà phán đoán sự việc nên chỉ hiểu được những nội dung nhỏ nhặt!

Tóm tắt ý quan trọng

– Vai trò của người lãnh đạo là thực hiện cho được những điều trọng yếu. Những điều nhỏ chi tiết sẽ do cấp dưới thực hiện.

– Ngay cảthánh nhân cũng có điều không không biết được và cũng có việc không có khả năng thực hiện được.

– Chủ yếu của đạo thánh nhân là nuôi dưỡng trưởng thành và phát triển.

– Thực hiện được những nội dung to lớn quan trọngcủa đạo tiên vương (đạo Khổng) thì những nội dung nhỏ chi tiết sẽ tự nhiên có được.

./.

Nhận xét

(a) Từ câu này chúng ta có thể thấy từ xưa cũng đã hiểu được yếu tố chính yếu gây ra sai số trong việc đo lường!

(b) Cần nên lưu ý nội dung diễn dịch này của Sorai không hẳn đúng cho mọi trường hợp. Thí dụ, những thành quả nghiên cứu khoa học, kỹ thuật như về vi sinh vật, nguyên tử học….đã giúp ích cải thiện đời sống nhân loại rất nhiều.

Nhận xét tổng thể

(1) Đọc nội dung Khổng tử giải thích phương châm Nhất trương nhất thỉ(có lúc căng, có lúc dãn)của chính sách quản trị dân chúng của Văn vương và Võ vương, người dịch thấm thía sự cần thiết của các lễ hội trong nhân gian. Người dịch cũng rất ngạc nhiên ở Nhật Bản hầu như ở địa phương nào cũng có những lễ hội truyền thống của địa phương đó. Cả năm họ chăm chỉ làm việc nên rất cần có lúc được thảnh thơi giải trí. Đó cũng là dịp họ chung sức nhau để duy trì truyền thống của quê hương họ và thắt chặt tình đoàn kết cùng chung sức vì việc chung. Dĩ nhiên cần phải giữ ở mức độ vừa phải không nên phung phí quá đáng.

(2) Đúng là vai trò của người lãnh đạo cần phải ưu tiên tận sức vào các nội dung trọng yếu của sự việc nhưng vấn đề quan trọng là làm sao biết được nội dung nào là quan trọng chủ yếu của sự việc. Việc này không phải dễ do đó, không phải ai cũng có thể làm lãnh đạo tốt mặc dù hết sức cố gắng.

Ghi chú

(1)Trong chú thích bài này, giáo thụNishida Taichirôcho rằng câu “Lập lỳ đại giả, nhi tiểu giả tự chí yên”của Sorai diễn giải câu “Tiên lập hồ kỳ đại giả, tắc kỳ tiểu giả bất năng đoạt dã”trong chương 15 thiên 11 Cáo Tử thượng sách Mạnh Tử. Người dịch không hiểu tại sao giáo thụ Nishida nói như vậy. Người dịch nghĩ rằng câu của Sorai căn cứ vào câu “Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh” của Hữu tử trong chương 2 thiên 1 sách Luận Ngữ. Tuy nhiên ở đây trích dẫn cả 2 để quý độc giả có thể so sánh và phán xét.

Chương 15 thiên 11 Cáo Tử thượng sách Mạnh Tử viết:

公都子問曰:鈞是人也,或為大人,或為小人,何也?孟子曰:從其大體為大人,從其小體為小人。曰:鈞是人也,或從其大體,或從其小體,何也?曰:耳目之官不思,而蔽於物。物交物,則引之而已矣。心之官則思;思則得之,不思則不得也。此天之所與我者,先立乎其大者,則其小者不能奪也。此為大人而已矣。

Công Đô Tử vấn viết: “Quân thị nhân dã, hoặc vi đại nhân, hoặc vi tiểu nhân, hà dã?” Mạnh Tử viết: “Tùng kỳ đại thể vi đại nhân; tùng kỳ tiểu thể vi tiểu nhân.” Viết: “Quân thị nhân dã, hoặc tùng kỳ đại thể, hoặc tùng kỳ tiểu thể, hà dã?” Viết: “Nhĩ mục chi quan, bất tư, nhi tế ư vật. Vật giao vật, tắc dẫn chi nhi dĩ hỹ. Tâm chi quan, tắc tư. Tư, tắc đắc chi; bất tư, tắc bất đắc dã.Thử Thiên chi sở dữ ngã giả.Tiên lập hồ kỳ đại giả, tắc kỳ tiểu giả bất năng đoạt dã.Thử vi đại nhân nhi dĩ hỹ.”

Tạm dịch

Công Đô Tử hỏi: “Cùng là con người, tại sao có người thành đại nhân (nhân vật quan trọng trong xã hội), có người là tiểu nhân (người bình thường)?”

Mạnh tử trả lời: “(Thân thể con người có đại thể(phần cơ thể quan trọng, thí dụ như lương tâm= tấm lòng tốt đẹp) và tiểu thể(phần cơ thể ít quan trọng hơn,thí dụ như tai mắt, tay chân.)Nếu gìn giữviệc làm của bản thân tuân theođại thể(tức các việc trọng yếu) thì thành đại nhân. Nếu chỉ gìn giữ việc làm của bản thân tuân theotiểu thể(tức các việc nhỏ không trọng yếu) thì thành tiểu nhân.”

Công Đô Tử lại hỏi:“Cùng là con người, tại sao có người tuân theođại thể, có người tuân theo tiểu thể?”

Mạnh tử trả lời: “Tai mắt là cơ quan không biết suy nghĩ, mà lại chịu ảnh hưởng hoặc chi phối của ngoại vật. Khi con người tiếp xúc với ngoại vật, hết vật này đến vật khác dễ bị lôi cuốn theo. Trong khi đó tâm (não, tinh thần) là cơ quan có chức năng suy nghĩ. Nếu con người chịu khó suy nghĩ thì sẽ hiểu được tốt xấu của sự việc và hành động của bản thân, không chịu suy nghĩ thì không hiểu biết được tốt xấu (Chỉ là tiểu xảo để thuyết phục, không đúng theo khoa học! Bởi vì tai mắt, chân tay không có chức năng suy nghĩ chỉ làm theo trí não). Cả 2 thứ:đại thể và tiểu thể đều do trời ban phú cho con người nhưng nếu trước hết gìn giữ cho đại thể (tinh thần) được vững chắc thì tiểu thể (thí dụ các ham muốn của tai mắt, mũi miệng) không thể nào thắng được tinh thần vững chắc kiên cường. Như vậy là có thể thành đại nhân!

Chương 2 thiên 1 Học Nhisách Luận Ngữ viết:

有子曰:其為人也孝弟,而好犯上者,鮮矣,不好 犯上,而好作亂者,未之有也。君子務本,本立而 道生,孝弟也者,其為仁之本與?

Hữu Tử viết: “Kỳ vi nhân dã, hiếu đễ nhi hiếu phạm thượng giả, tiển hỹ. Bất hiếu phạm thượng, nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu dã. Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư?”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Hữu tử nói: “Làm người, có nết hiếu, đễ thì ai dám xúc phạm bề trên. Không thích xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm chú vào việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu, đễ là cái gốc của đức nhân đấy chăng?

Chú thích(Nguyễn Hiến Lê)

Hữu tử, họ Hữu, tên Nhược, người nước Lỗ, học trò Khổng tử, được bạn học kính mến. Chữ quân tử ở đây nên hiểu là người cầm quyền, như vậy bài này là lời khuyên hạng người trị dân; nhưng cũng có thể hiểu là người có đạo đức.

Giải thích của Sorai

Trong phần giải thích câu Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh của chương trên, trong Luận Ngữ Trưng, Sorai viết:

“Tôi cho rằng câu Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh là châm ngôn của cổ đại (cổ ngữ) và Hữu tử trích dẫn để dùng. Trong đạo,có nội dung (hoặc hạng mục) là gốc rễ, có nội dung là cành lá phát sinh từ gốc rễ nhưng tất cả đều là đạo. Người quân tử(người lãnh đạo) có trách nhiệm phải tận sức thực hiện phần gốc rễ (phần trọng yếu), các quan chức cấp thấp hơn (hữu ty有司)có nhiệm vụ tận sức thực hiện phần cành lá. Nhiệm vụ của mỗi cấp bậc khác nhau. Công việc quản lý điều hành của người ở cấp bậc cao quan trọng và rộng lớn nên không có thời gian và công sức để thực hiện chu đáo hết tất cả mọi việc chi tiết. Một khi phần gốc rễ, tức phần trọng yếu của sự việc thành tựu thì các phần chi tiết của sự việc sẽ tự nhiên phát triển theo quy luật của sự việc đó. Ngoài ra, không thể cưỡngéptất cả mọi chi tiết đều theo ý muốn của mình. Thí dụ giống như cây cỏ phát triển um tùm không thể nào ngăn lại được. Do đó, ở đây nói đạo sinh(phát triển theo quy luật của sự việc) là lý do này. Chúng ta dạy hiếu đễ孝弟,chưa hề dạytrung忠, chưa hề dạy kính敬, chưa hề dạy hòa和,chưa hề dạy thuận順nhưng trung, kính, hòa, thuận tự nhiên sẽ phát sinh ra (nếu có được hiếu, đễ)”.

(2) Chương 11thiên 19Tử Trương sách Luận Ngữ viết:

子夏曰:大德不踰閑,小德出入可也。

Tử Hạ viết: “Đại đức bất du nhàn, tiểu đức xuất nhập khả dã.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Tử Hạ nói: “Không được vượt qua đại tiết, còn tiểu tiết thì tuỳ tiện, ở trong phạm vi hay ra ngoài cũng được” (vì không phạm đến đại tiết).

(3)Chương 22thiên 19Tử Trươngsách Luận Ngữ viết:

衛公孫朝問於子貢曰:仲尼焉學?子貢曰:文,武之道,未墜於地,在人。賢者識其大者,不賢者識其小者,莫不有文,武之道焉。夫子焉不學,而亦何常師之有?

Vệ Công tôn Triều vấn ư Tử Cống viết: “Trọng Ni yên học?” Tử Cống viết: “Văn, Vũ chi đạo, vị trụy ư địa, tại nhân. Hiền giả chí kỳ đại giả; bất hiền giả chí kỳ tiểu giả, mạc bất hữu Văn, Vũ chi đạo yên.Phu tử yên bất học, nhi diệc hà thường sư chi hữu?”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Công tôn Triều (đại phu nước Vệ) hỏi Tử Cống: “Ông Trọng Ni học với ai?” Tử Cống đáp: “Đạo của vua Văn vua Võ (nhà Chu) chưa mất, còn có người bảo tồn được. Người hiền ghi được những điều trọng đại, người bất hiền nhớ được những điều nhỏ nhặt, không đâu không có đạo của vua Văn vua Võ. Thầy tôi gặp đâu mà không học, hà tất phải học riêng một thầy nào?

Chú thích của người dịch

Chu Hy giải thích chữ thức識 trong chương trên có âm đọcchí志nghĩa là ghi chép giống như ghi chép lại. Tuy nhiên, theo Sorai không nhất thiết phải như vậy bởi vì đối tượng củathứctrong chương này làđạo văn võ,cả hiền giả và bất hiền giả đều thức, và cái mà cả 2 thức được đều là đạo văn võnên 識 ở đây đọc là thức, có nghĩa là hiểu biết chứ không phải là chí (ghi chép). (Bởi vì chỉ hiền giả mới ghi chép lại, bất hiền giả (người thường) chỉ biết, hiếm khi ghi chép lại để truyền đạt cho đời sau.)

(4) “Phu thù thù nhi xứng chi, chí thạch tất soa; thốn thốn nhi độ chi, chí trượng tất quá.(夫銖銖而稱之,至石必差;寸寸而度之,至丈必過。)” là câu trích dẫn từ Mai Thặng Truyện trong quyển 51 tựa Giả Trâu Mai Lộ Truyện (truyện về Giả Sơn, Trâu Dương, Mai Thặng, Lộ Ôn Thư) của sách Hán Thư. Nội dung là sớ can gián Ngô Vương của Mai Thặng.

(5) Trong Thảo Lư Ngô Tiên Sinh Tập Túy của Ngô Trừng(1249~ 1333, được gọi Thảo Lư tiên sinh) đời Nguyên trong nội dung ca ngợi Chu Hy viết :

義理玄微,蚕絲牛毛。心胸恢廓,海闊天高。豪傑之才,聖賢之学。景星慶雲,泰山喬嶽。

Nghĩa lý huyền vi, tàm ty ngưu mao. Tâm hung khôi khuếch, hải khoát thiên cao. Hào kiệt chi tài, thánh hiền chi học. Cảnh tinh khánh vân, Thái sơn kiều nhạc.

Tạm dịch

Nghĩa lý huyền diệu tinh vi như thể sợi tơ tầm, lông bò. Tinh thần, trí tuệ rộng lớn như thể biển rộng trời cao. Tài năng của bậc hào kiệt, học vấn của bậc thánh hiền như thể sao sáng núi cao.

Ngoài ra, trong lời tựa của Vương Dương Minh tặng Lâm Điển Khanh khi về quê viết: Tích tàm ty, trạc ngưu vĩ析蚕絲、擢牛尾 (tách tơ tầm ra từng sợi, nhổ lông đuôi bò. Ý nói không quản ngại ngày đêm làm việc, tìm tòi.)

(6) Trong chú giảicủa chương 20 của Trung Dung Chương Cú của sách Tứ Thư Chương Cú Tập Chú của Chu Hy viết:

Thánh nhân chi đức, hồn nhiên thiên lý, chân thật vô vong, bất đãi tư miễn nhi tùng dung trung đạo, tắc diệc thiên đạo dã.

聖人之德,渾然天理,真實無妄,不待思勉而從容中道,則亦天之道也。

Tạm dịch

Đức của thánh nhân hoàn toàn giống hệt như lý lẽcủa trời không khác mải may nào; không phải đợi gắng sức suy nghĩ xem xét mà vẫn đúng theo đạo trung dung (nghĩa là không thừa, không thiếu), cũng là đạo của trời.

(7) Trong chú giải chương 1 phần kinh của sách Đại Học, Chu Hy viết:

言明明德新民、皆當止於至善之地而不遷、蓋必其有以盡夫天理之極、而無一毫人欲之私也。

Ngôn minh minh đức tân dân, giai đương chỉ ư chí thiện chi địa bất thiên, cái tất kỳ hữu dĩ Tận phù thiên lý chi cực, nhi vô nhất hào nhân dục chi tư dã.

Tạm dịch

Ý của câu kinh muốn nói là, làm cho rõ ràng sáng tỏ các đức tốt vốn có trong bản thân mình, hướng dẫn mọi người sống theo con đường đúng, đạt tới và dừng lại ở cảnh địa chí thiện. Muốn được như vậy cần phải diệt bỏ hết tất lòng ham muốn riêng tư của bản thân mình.

(8) Trong thiên 21 Tạp Ký hạ sách Lễ Kýviết:

子貢觀於蠟 (*)。孔子曰:「賜也樂乎?」對曰:「一國之人皆若狂,賜未知其樂也!」子曰:「百日之蠟,一日之澤,非爾所知也。張而不弛,文武弗能也;弛而不張,文武弗為也。一張一弛,文武之道也。」

Tử Cống quan ư Lạp. Khổng tử viết: “Tứ dã lạc hồ?”Đối viết “Nhất quốc chi nhân giai nhược cuồng, Tứ vị tri kỳ lạc dã!”Tử viết:“Bách nhật chi Lạp, nhất nhật chi trạch, phi nhĩ sở tri dã. Trương nhi bất thỉ, Văn Võ phất năng dã; thỉ nhi bất trương, Văn Võ phất vi dã. Nhất trương nhất thỉ, Văn Võ chi đạo dã.”

Tạm dịch

Tử Cống đến xem lễ hội Lạp. Khổng tử hỏi: “Anh Tứ, có vui không?”. Tử Cống trả lời “Cả nước mọi người đều vui mừng như khùng điên, Tứ không hiểu được”. Khổng tử đáp lại: “Sau 100 ngày làm việc khổ cực mới có được 1 ngày lễ. Có lẽ anh không thể nào hiểu được niềm vui này. Khiến cho người dân khẩn trương cố gắng làm việc mà không khoảnh khắc xả hơi vui sướng thì đạo quản trị dân của Văn vương và Võ vương làm sao có thể thực hiện tốt được. Có lúc khiến dân khẩn trương, có lúc để dân thoải mái là đạo trị dân của Văn vương và Võ vương”.

Ghi chú của người dịch

Trong Wikisource của Nhật Bản (ja.wikisource.org) viết Lạp蠟 trong khi sách Lễ Ký của nhà xuất bản Meijishoin (năm 1996) viết Trá蜡. Theo Thiều Chửu trong Hán Việt Tự Điển, Trálà ngày lễ cuối năm. Đời Chu gọi là Trá, đời Tần gọi Lạp, còn viết臘.Thời Khổng tử sau đời Chu không bao lâu, không phải đời Tần, do đó viết Trá mới đúng.

(9) Trong chương 16 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ viết:

子曰:加我數年,卒以學易,可以無大過矣。

Tử viết: “Gia ngã sổ niên, tốt dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỹ.”

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Khổng tử nói: “Cho ta sống thêm ít năm nữa, tới năm chục tuổi nghiên cứu Dịch (để biết lẽ tiến thoái) thì có thể không lầm lỗi lớn.”

(10) Trong chương 12sách Trung Dung viết:

…雖聖人亦有所不知焉。…..雖聖人亦有所不能焉。

…Tuy thánh nhân diệc hữu sở bất trí yên. ….tuy hánh nhân diệc hữu sở bất năng yên.

….mặc dù là bậc thánh nhân nhưng cũng có chỗ không biết. …mặc dù là bậc thánh nhân cũng có việc không có khả năng làm được.

(11) Theo thiên Nghiêu Điển và Thuấn Điển của kinh Thư, vua Nghiêu dùng ông Cổn (cha của ông Vũ) để trị lũ lụt nhưng trải qua 9 năm mà không có kết quảnên kết tội ông và dùng ông Thuấn thay thế. Khi vua Thuấn lên nối ngôi vua Nghiêu, lạixử chết ông Cổn ở núi Vũ Sơn羽山.

(12) Theo thiên Đại Vũ Mô của kinh Thư, vua Thuấn mệnh lệnh ông Vũ đem quân chinh phục Tam Miêu (chủng tộc ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây của ngày nay). Tuy nhiên, ông Vũ nghe lời khuyên của cấp dưới không dùng vũ lực mà dùng đức hóa để quy thuận Tam Miêu.

(13) Theo Quản Thái Thế Gia của sách Sử ký, sau khi Võ vương mất, thái tử là Thành vương còn nhỏ tuổi nên em của Võ vương là Chu công nhiếp chính. Anh em của Chu công là Quản Thúc và Thái Thúc ganh ghét nên nổi loạn. Chu công giết chết Quản Thúc và lưu đài Thái Thúc.

(14) Theo Định Công Thập Nhị Niên của Xuân Thu Tả Thị Truyện, hoặc Khổng Tử Thế Gia của sách Sử Ký, Khổng tử lo ngại thế lực của 3 nhà đại phu của nước Lỗ hiếp bách vua nên cho phá vỡ bức thành phòng bị thành phố của 3 nhà nhưng bị phản đối của họ Mạnh Tôn, 1 trong 3 nhà nói trên nên cuối cùng công việc trên không thành công.

(15) Trong chương 8 thiên 10 Hương Đảng sách Luận Ngữ viết:

食不厭精,膾不厭細。食饐而餲,魚餒而肉敗,不食。色惡不食,臭惡不食。失飪不食,不時不食。割不正不食,不得其醬不食。肉雖多,不使勝食氣。唯酒無量,不及亂。沽酒市脯不食。不撤薑食,不多食。祭於公,不宿肉。祭肉不出三日,出三日,不食之矣。食不語,寢不言。雖疏食菜羹,必祭,必齊如也。

Tự bất yếm tinh; khối bất yếm tế. Tự ế nhi ái, ngư nỗi nhi nhục bại, bất thực. Sắc ác bất thực; xúù ác bất thực.Thất nhẫm bất thực; bất thời bất thực.Cát bất chính bất thực; bất đắc kỳ tương, bất thực.Nhục tuy đa, bất sử thắng tự khí.Duy tửu vô lượng, bất cập loạn.Cô tửu thị bô bất thực.Bất triệt khương thực.Bất đa thực.Tế ư công, bất túc nhục.Tế nhục bất xuất tam nhật; xuất tam nhật, bất thực chi hỹ.Thực bất ngữ; tẩm bất ngôn.Tuy sơ tự thái canh, tất tế, tất trai như dã.

Dịch (Nguyễn Hiến Lê)

Cơm càng trắng tinh càng tốt, (càng thích), gỏi thái còn nhỏ càng tốt. Cơm hẩm và thiu, cá ươn mà thịt đã nhão thì không ăn. (Thức ăn mà) sắc đã biến, hư rồi, không ăn; mùi hôi cũng không ăn. (Có sách dịch là những vật trái mùa). Cắt không ngay ngắn (hoặc không đúng cách), không ăn. Nước chấm không thích hợp, không ăn. Dù có thịt, (Khổng tử) cũng ăn ít thịt hơn cơm. Duy có rượu là không hạn chế, nhưng không uống tới say. Rượu bán ở cửa hàng, không uống, thịt mua ở chợ, không ăn. Bữa nào cũng ăn gừng. Không ăn tới quá no. Tế ở công miếu rồi, được phần thịt thì ông phân phát ngay, không để cách đêm. (Vì thịt tế vào buổi sáng thì làm vào hôm trước, nếu để cách đêm nữa, qua ngày hôm sau là ba ngày, thịt ôi đi). Thịt cúng tổ tiên, không để quá ba ngày, quá ba ngày thì không ăn. Khi ăn, không đàm luận, khi ngủ không nói chuyện. Tuy là cơm thô, canh rau, mà trước khi ăn cũng cung kính cúng vái như lúc trai giới.

(16) Trong thiên 39 Nan Tứ sách Hàn Phi Tử viết:

文王嗜菖蒲葅Văn vương thị xương bồ thư.

Tạm dịch

Văn vương có sở thích ăn dưa muối rễ cây xương bồ ướp tương. (xươngxúc昌歜làrễ cây xương bồ)

Trong thiên Ngộ Hợp của sách Lã Thị Xuân Thu cũng có ghi nội dung này.

(17) Trong Luận Ngữ Tập Chú, khi chú giải Bất triệt khương thực, Chu Hy viết:

Khương, thông thần minh, khứ uế ác, cố bất triệt

薑,通神明,去穢惡,故不撤。

Tạm dịch

Gừng thông với thần minh, xóa bỏ được chất bẩn, hôi hám nên không gắp bỏ đi.

Giáo thụ Nishida Taichirô chú giải rằng Chu Hy căn cứ vào nội dung sau trong quyển trung của sách Thần Nông Bản Thảo Kinh: 乾薑…生者尤良、久服、去臭氣、通神明Can khương… sinh giả vưu lương, cửu phục, khứ xú khí, thông thần minh.

Người dịch tra Wikisource của Trung quốc (zh.wikisource.org) thấy nguyên văn như sau:

乾薑 味辛溫。主治胸滿咳逆上氣,溫中、止血,出汗,逐風濕痹,腸澼下利,生者尤良。久服去臭氣,通神明。生川谷。

Cách phân chia câu trong Wikisource không giống như trong trích dẫn của giáo thụ Nishida, nhưng cách phân chia câu của giáo thụ Nishida có vẻ hợp lý hơn.Nghĩa là, giữa 下利 và 生者là dấu chấm. Đồng thời giữa 久服và 去臭氣 có dấu phết. Kết quả sau khi sửa như sau:

乾薑 味辛溫。主治胸滿咳逆上氣、溫中、止血、出汗、逐風濕痹、腸澼下利。生者尤良。久服、去臭氣、通神明。生川谷。

Can khương  vị tân ôn. Chủ trị hung mãn khái nghịch thượng khí, ôn trung, chỉ huyết, xuất hãn, trục phong thấp tý, trường tịch hạ lỵ. Sinh giả vưu lương. Cửu phục, khứ xú khí, thông thần minh. Sinh xuyên cốc.

Tạm dịch

Gừng khô: Có vị cay, tính ôn. Chủ trị chứng có cảm giác lòng ngực trương ra hoặc đầy hơi, ho suyễn, giúp ấm ruột và bao tử, cầm máu, giúp tiết mồ hôi, trị đau nhức phong thấp, tiêu chảy, kiết lỵ. Gừng sống là tốt nhất. Dùng lâu ngày giúp trừ khí đục bẩn, giúp tinh thần sáng suốt (thông thần minh通神明). Gừng sinh sống thung lũng.

Thông thần minh ở đây hiểu là giúp tinh thần sáng suốt hợp lý hơn là hiểu thông với thần thánh.

Do đó, người dịch nghĩ rằng nếu Chu Hy không căn cứ vào câu trong sách Thần Nông Bản Thảo Kinh và tự mình viết thông thần minhthì có thể ông dùng với nghĩa thông với thần thánh, còn nếu như căn cứ vào sách Thần Nông Bản Thảo thì rõ ràng hiểu nghĩa của thông thần minhlà giúp tinh thần sáng suốt là hợp lý hơn và Sorai phê bình không đúng!

Nguyên văn

先王之道。立其大者。而小者自至焉。故子夏曰。大徳不踰閑。小徳出入可也。蓋不若是。不可以進道也。子貢曰。賢者識其大者。不賢者識其小者。故識大者為賢。識小者為不賢。後人之不賢。唯小是見。銖銖而称之。至石必差。寸寸而度之。至丈必過。其論務欲窮精微之極。析蚕糸。剖牛毛。而不知其大者已先失之也。是何能養人才安国家哉。其論聖人。亦謂渾然天理。無一毫人欲之私矣。是亦以一己之見窺聖人者也。伝曰。一張一弛。文武之道也。孔子曰。可以無大過矣。子思曰。雖聖人有所不知不能焉。不爾。尭之用鯀而舜殛之。舜征三苗而禹班師。周公殺菅蔡。孔子堕三都而不能克。吾不知其以何解嘲也。孔子不撤薑。以其嗜之也。伝所載。文王嗜昌歜。庸何傷乎。朱子引通神明。豈不傅会之甚乎。大氐聖人之徳。与天地相似焉。聖人之道。含容広大。要在養而成之。先立其大者。而小者自至焉。後人迫切之見。皆其所識小故也。

Âm Hán Việt của nguyên văn

Tiên vương chi đạo. Lập kỳ đại giả. Nhi tiểu giả tự chí yên. Cố Tử Hạ viết. Đại đức bất du nhàn. Tiểu đức xuất nhập khả dã. Cái bất nhược thị. Bất khả dĩ tiến đạo dã. Tử Cống viết. Hiền giả thức kỳ đại giả. Bất hiền giả thức kỳ tiểu giả. Cố thức đại giả vi hiền. Thức tiểu giả vi bất hiền. Hậu nhân chi bất hiền. Duy tiểu thị kiến. Thù thù nhi xưng chi. Chí thạch tất sai. Thốn thốn nhi độ chi. Chí trượng tất quá. Kỳ luận vụ dục cùng tinh vi chi cực. Tích tàm mịch. Phẫu ngưu mao. Nhi bất kỳ tri kỳ đại giả dĩ tiên thất chi dã. Thị hà năng dưỡng nhân tài an quốc gia tai. Kỳ luận thánh nhân.Diệc vị hồn nhiên thiên lý.Vô nhất hào nhân dục chi tư hỹ.Thị diệc dĩ nhất kỷ chi kiến cùng thánh nhân giả dã.Truyện viết.Nhất trương nhất thỉ.Văn võ chi đạo dã.Khổng tử viết.Khả dĩ vô đại quá hỹ.Tử Tư viết.Tuy thánh nhân hữu sở bất tri bất năng yên. Bất nhĩ. Nghiêu chi dụng Cổn nhi Thuấn cức chi. Thuấn chinh Tam Miêu nhi Ngu ban sư. Chu công sát Quản, Sái. Khổng tử đoa tam đô nhi bất năng khắc. Ngô bất tri kỳ dĩ hà giải trào dã.Khổng tử bất triệt Khương. Dĩ kỳ thị chi dã.Truyện sở tái.Văn vương thị xương xúc.Dung hà thượng hồ.Chu tử dẫn thông thần minh.Khởi bất truyền hội chi thậm hồ.Đại để thánh nhân chi đức.Dự thiên địa tương tự yên.Thánh nhân chi đạo. Hàm dung quảng đại. Yếu tại dưỡng nhi thành chi. Tiên lập kỳ đại giả. Nhi tiểu giả tự chí yên. Hậu nhân bách thiết chi kiến.Giai kỳ sở thức tiểu cố dã.

Tài liệu tham khảo

  • Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  • Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.
  • Takeuchi Terao (1996): Lễ Ký, Tân Thích Hán Văn Đại Hệ (quyển 27, 28, 29), Meijishoin.

Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 12/9/2026
Xem lại và soạn ghi chú ngày 9/10/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

 

22 thg 10, 2026

NHỮNG CUO85c THĂM HỎI CẢM ĐỘNG *T.8 ,10/2026

 

GĐ Tiên,Hậu và cháu Thủy Trúc

Chị Lê thị Khang ,CGS.SPMG.Trung Ương 3 thăm HP tai6 nhà



BIỄN ĐẠO ( Bài 10 0 (DĐ Khai Phóng )

 CHỈ QUẢN TRỊ XÃ HỘI THEO LUẬT PHÁP VÀ KHOA CỬ LÀM MẤTƯU ĐIỂM YÊU HÒA BÌNH, TRỌNG GIÁO DỤCVÀ THỰC DỤNG CỦA ĐẠO KHỔNG

Tác giả: Ogyuu Sorai

Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng


Từ đời Tần chế độ phong kiến được đổi sang quản lý theo quận huyện và xem trọng luật pháp hơn

Đạo tiên vương là đạo an thiên hạ. Đời sau khi nói đến kinh tế (kinh thế tế dân: quản lý xã hội, cứu giúp dân chúng)(1)không ai không thuật y hệt như vậy. Tuy nhiên vào thời đại sau khi chế độ phong kiến(2), chế độ đã được bắt đầu đời nhà Chu, được thay đổi bằng chế độ quận huyện thì đạo tiên vương trở thành vật trang sức của xã hội. Do đó tên gọi tiên vương là “danh nghĩa để trang sức căn cứ theo kinh sách cho việc quản trị quốc gia của các quan lại”(3) (kinh thuật経術). Thông thường dưới chế độ phong kiến, đối với dân còn nghĩ đến tình nghĩa của quan hệ cha con hoặc thân tộc (4) nhưng khi đổi sang quận huyện thì việc quản lý quốc gia chỉ căn cứ vào luật pháp, nghĩa là rất công bình không có sự lẫn lộn của ơn huệ hoặc yêu thương.

Chế độ thi đậu ra làm quan đưa đến việc xem trọng chi tiết trên giấy mực hơn hiệu quả trong thực tế!

Thêm vào đó, từ đời Tùy chế độ khoa cử (thi đậu ra làm quan) được áp dụng và hưng thịnh đưa đến sự thay đổi lớn trong giới sĩ (giới trí thức). Người học chỉ biết chuyên tâm vào việc học tập và ghi chép những điều học được trong sách vở để viết ra cho rõ ràng dễ hiểu và tường tận đủ chi tiết trên giấy và xem đó là mục tiêu cao nhất để hướng tới. Đối với những người học được sinh ra vào thời đại này, các thói quen (hoặc khuynh hướng) của các pháp gia thấm nhập vào xương tủy họ. Do đó, khi họ nói đến đạo tiên vương hoặc giải thích nội dung các kinh sách, họ chịu ảnh hưởng tư duy hoặc quan niệm của các pháp gia. Trong tình huống như thế thì làm sao họ có thể hiểu thấu đáo được tác dụng thực tế của đạo tiên vương (đạo thuật) (ở cổ đại, từ thuật術 có nghĩa tốt nhưng về saubị hiểu theo nghĩa xấu!). (Bởi vì đạo tiên vương đặt nền tảng trên đạo nuôi dưỡng chứ không phải theo đúng quy định của luật pháp).

Thái độ xem trọng chi tiết trên giấy mực khó nắm bắt được hiệu quả thực tế của đạo Khổng.

Điều mà Tống Nho quý trọng là phải đưa ra tường tận hết những điểm lớn (cương) lẫn cả các hạng mục nhỏ chi tiết (mục), từ các các vấn đề trọng yếu to lớn đến các vấn đề nhỏ chi tiết.Với thái độ, chủ trương như thế thì làm sao có thể trình bày/thực hiện đầy đủ đạo tiên vương(a).

Tóm tắt ý quan trọng

– Nếu chỉ quản lý xã hội theo luật pháp và khoa cử làm mất ưu điểm yêu chuộng hòa bình và quý trọng giáo dục để phát triển (đức nhân) của đạo Khổng.

– Tần Thủy Hoàng đã phế bỏ chế độ phong kiến,chế độ bắt đầu từ nhà Chu, phân chia quốc gia làm quận huyện và chính quyền trung ương phái cử người đến quản trị, không còn được cha truyền con nối.

– Từ đời Tùychế độ khoa cử được bắt đầu, tức chọn người thi đậu để bổ nhiệm làm quan, không còn chế độ tiến cử như trước đó.

– Chế độ khoa cử làm cho người học có khuynh hướng xem trọng chi tiết trên giấy mực.

./.

Nhận xét

(a) Trước hết người dịch không hiểu rõ chữ vi為trong bài Sorai cụ thể muốn nói gì: diễn tả trình bày hay thực hiện? Khả năng nói ý “diễn tả, trình bày” cao.Nhưng nếu như vậy thì ngoài cách nói cả cương (điều trọng yếu lớn) và mục (điều chi tiết nhỏ), còn có cách nào khác sao?

Trong bài kế tiếp, Biện Đạo (11) ông nói: Đối với đạo tiên vương khi thực hiện được điểm (hạng mục) quan trọng thì các chi tiết nhỏ tự nhiên sẽ có được. Và trong Biện Đạo (12), đối với việc tu tập đức, ông cũng nói: tập được nội dung căn bản quan trọng thì các nội dung chi tiết nhỏ khác tự nhiên sẽ có được.

Cả 2 nội dung trên cho thấy ý ông muốn nhấn mạnh nên chú trọng vào nội dung căn bản hơn là quan tâm đến cả chi tiết nhỏ nhặt. Tuy nhiên, nếu trình bày được cả 2, nội dung trọng yếu và chi tiết thì có gì không tốt đâu? Nếu vì các chi tiết nhỏ mà bỏ qua cơ sở căn bản quan trọng hoặc làm không đủ cơ sở căn bản quan trọngthì chắc chắn không nên. Phải chăng ý Sorai là muốn nói điều này?

Mới đầu người dịch không hiểu chữ vi為trong bài Sorai cụ thể muốn nói gì: diễn tả trình bày hay thực hiện? Tuy nhiên sau khi đọc kỹ Biện Đạo (11) kế tiếp, người dịch tin rằng vi為ở đây có nghĩa là thực hiện.

Nhận xét tổng thể

(1) Người dịch rất ngạc nhiên khi đọc “Kono kuni no katachi” (quyển 1) (Hình dạng của đất nước này) của Shiba Ryôtarô, trong bài đầu tiên tựa “Kono kuni no katachi”, ông viết Nhật Bản đã không dùng chế độ hoạn quan và khoa cử. Tuy nhiên, người dịch có đọc qua tài liệu cho biết vào thời Nara (710~794) Nhật Bản cũng đã có chế độ khoa cử. Không hiểu tại sao Shiba Ryôtarô khẳng định là không. Tuy nhiên, do ảnh hưởng mạnh của giới quý tộc, chế độ khoa cử Nhật Bản không thịnh hành và không được xem trọng. Người dịch khi tìm hiểu về Ôkuma Shigenobu có đọc tài liệu nói ông đã viết thư mời Shibusawa Eiichi ra phụ trách việc công.Do đó việc kêu gọi hoặc mời người tài ra làm quan là có ở Nhật Bản. Đặc biệt có lẽ phương cách này thịnh hành vào thời Minh Trị Duy Tân, và đây là một yếu tố quan trọng đưa đến sự thành công của cuộc duy tân này. Tuy nhiên đây chỉ là suy đoán của người dịch, cần xem xét nghiên cứu kỹ hơn.

Ghi chú

(1) Cao đệ của Ogyuu Sorai là Dazai Shundai có viết tác phẩm Kinh Tế Lục gồm có 10 quyền. Mục lục như sau: Kinh Tế Tổng Luận (quyển 1), Lễ Nhạc (quyển 2), Quan Chức (quyển 3), Thiên Văn- Địa Lý- Luật Lịch (quyển 4), Thực Hóa 食貨(thực phẩm và tiền tệ = kinh tế) (quyển 5), Tế Tự – Học Chính- Chương Phục 章服(quyển 6), Nghi Trượng儀仗(các vũ khí và dụng cụ dùng trong nghi lễ) – Lỗ Bạ鹵簿(quy định cho quân cảnh vệ dùng cho hoàng tộc từ hoàng hậu trở xuống khi tuần hành ở ngoài hoàng cung)- Võ Bị(quyển 7), Pháp Lệnh – Hình Phạt (quyển 8), Chế Độ (quyển 9), Vô Vi – Dịch Đạo 易道(quyển 10). Hiện nay còn lưu lại phiên bản in năm 1729(chữ viết tay) và phiên bản 1894 (Minh Trị thứ 27) (chữ in). (Theo Thiều Chửu, lỗ bạ là “nghi vệ của thiên tử”). Nội dung của Kinh Tế Tổng Luận: người quản trị xã hội cần phải có khả năng thực hành và biết 4 yếu tố: đúng lúc (thời時), hợp lý (lý理), đúng chỗ (thế勢), hợp tình (tình情). Phần sau viết về các chính sách cần cải thiện của Mạc phủ căn cứ trên tình hình thực tế của xã hội đương thời bằng cách sử dụng chế độ quan chức chuyên môn, có năng lực, và cấp võ sĩ phải sản xuất để tự sinh kế giảm nhẹ gánh nặng cho Mạc phủ.

(2) Phong kiến là chế độ của nhà Chu: thiên tử ban lãnh địa (đất đai cai quản để có thu nhập qua thu thuế) và được cha truyền con nối. Tần Thủy hoàng bải bỏ chế độ này chia Trung quốc ra làm 36 quận. Quận lại chia ra làm nhiều huyện. Chính quyền trung ương cử phái Quận Thú (còn gọi Thái Thú), Huyện Lệnh để quản trị, và không còn được cha truyền con nối. Thời kỳ đầu của thời Tiền Hán chỉ có phần quản trị trực tiếp của thiên tử thì theo chế độ quận huyện, ngoải ra trở lại chế độ phong kiến. Nhưng sau khi dẹp được loạn 7 nước Ngô- Việt thì hoàn toàn theo chế độ quận huyện (vào khoảng thời Hán Vũ đế).

(3) Kinh thuật経術: lợi dụng học thuyết của sách vở làm đồ trang sức cho công việc quản lý hành chính của quan chức.

Trong Công Tôn Quảng Truyện của sách Sử Ký viết: “Duyến sức dĩ Nho thuật”緣飾以儒術 (Dùng học thuyết của Nho giáo làm vật trang sức).

Trong Tuần Lại Truyện循吏伝của Hán Thư viết: “Dĩ kinh thuật nhuận sức lại sự”以経術潤吏事(Dùng kinh thuật làm trơn tru việc làm của quan chức)

(4) Gia nhân phụ tử 家人父子: cha con của người dân thường. Trong Cao Tổ Kỷ sách Sử Ký viết “Cao tổ ngũ nhật nhất triều Thái công, như gia nhân phụ tử lễ”高祖五日一朝太公、如家人父子礼 (Cao tổ cứ mỗi 5 ngày vào thăm cha ông như theo lễ con đối với cha của người dân thường).

Nguyên văn

先王之道。安天下之道也。後世言経済者。莫不祖述焉。然後世更封建而郡県。而先王之道。為世贅旒。故世之称先王者。逎(遒)所謂以経術縁飾吏治是已。大氐封建之道。其於民猶且有家人父子意。至於郡県。則唯法是仗。截然太公。無復恩愛。加之隋唐後。科挙法興。士習大変。所務紙列。詳備明鬯。是其至者已。士生於其世。法家之習。淪於骨髄。故其談道解経。亦従其中来。是烏知所謂道術者乎。宋儒所貴。綱目悉挙。巨細曲尽。豈足以為先王之道也。

Âm Hán Việt của nguyên văn

Tiên vương chi đạo.An thiên hạ chi đạo dã. Hậu thế ngôn kinh tế giả.Mạc bất tổ thuật yên. Nhiên hậu thế canh phong kiến nhi quận huyện. Nhi tiên vương chi đạo. Vi thế chuế lưu. Cố thế chi xứng tiên vương giả.Tù sở vị dĩ kinh thuật duyên sức lại trị thị dĩ.Đại để phong kiến chi đạo. Kỳ ư dân do thả hữu gia nhân phụ tử ý. Chí ư quận huyện. Tắc duy pháp thị trượng.Tiệt nhiên thái công. Vô phục ân ái. Nhi chi Tùy Đường hậu. Khoa cử pháp hưng. Sĩ tập đại biến.Sở vụ chỉ liệt.Tường bị minh sưởng.Thị kỳ chi giả dĩ.Si sinh ư kỳ thế.Pháp gia chi tục.Luân ư cốt tủy.Cố kỳ đoàn đạo giải kinh.Diệc tùng kỳ trung lai.Thị ô tri sở vị đạo thuật giả hồ.Tống Nho sở quý. Cương mục ô cử. Cự tế khúc tận. Khởi túc dĩ vi tiên vương chi đạo dã.

Tài liệu tham khảo

  • Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyuu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyuu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.

Nguyễn Sơn Hùng
Dịch xong ngày 7/8/2026
Xem lại và bổ sung ngày 9/9/2026