24 thg 6, 2026

Đừng Nhìn Em Như Thế - Lê Thị Kim

 


Đứng nhìn em như thế

Cháy lòng Em còn gì
Sự nồng nàn của bể
Cướp mất hồn Em đi

Đừng nhìn Em như thế
Khắc giờ thành Thiên Thu
Mắc nợ đời dâu bể
Mắc nợ đời thơ si

Em đành làm chim nhỏ
Đứng hót chơi trong chiều
Thả đôi lời hoa cỏ
Cho đời bớt tịch liêu

Đời tình yêu có thật
Vĩnh cửu trong cuộc đời
Đời ghen tuông có thật
Xuống mồ rồi mới thôi

Đừng nhìn Em như thế
Sự dịu dàng dường kia
Sẽ làm Em chết ngất
Hết một đời thơ si


Lê Thị Kim

23 thg 6, 2026

Ảnh K.8 , Những Ngày Xưa Thân Ái

 Những ngày xưa thân ái cùng các bạn Cựu Giáo Sinh khoá 8 SPSG.

( Ảnh : Ngọc Nghĩa Trần chụp tặng )


Thơ chế. : CHÂN QUÊ, CÔ HÀNG XÓM


Thơ chế.

Chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về.
Mặt tô son phấn, nhìn em ngỡ ngàng.
Váy ngắn hở ngực lộ hàng.
Diện giày cao gót em làm khổ tôi.
Nói ra sợ mất lòng em.
Anh van em hãy giữ nguyên quê mùa.
Hoa chanh nở giữa vườn chanh.
Tía má mình với tụi mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về.
Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều.
(Lê Kiên ST



2./Cô hàng xóm.
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi.
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn.
Nếu không có giậu mồng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
Nhà tôi ở cạnh nhà nàng.
Giờ nàng bụng bự cả làng nghi tôi tôi..
Thà rằng xơ múi thì thôi.
Này tay chưa nắm nghi tôi kiểu gì.
( Sưu tầm)

Trang thơ ĐVL : CHUYỆN… “LÂU QUÁ KHÔNG GẶP, VÌ...RĂNG ..! NHỮNG VẦN THƠ MƯA VỪA NHẶT ĐƯỢC.

 


CHUYỆN… “LÂU QUÁ KHÔNG GẶP

Đọc “còm”: “Quá lâu không gặp”
Dù chỉ hai tuần tạm xa
Thời gian dường như gấp gáp
Một khi đạt tới ngưỡng… già
Thế thì nhắn tin hò hẹn
“Sáng mai, chủ nhật - cuối tuần
Không bận bịu gì thì đến
Chỗ quen - một quán sân vườn
Vậy là các đồng môn cũ
Thêm lẫn nữa được cùng nhau
Cà phê - tha hồ bù khú
Như thể chưa từng… đã lâu
Cứ thế - chuyện bè, chuyện bạn
Hỏi xem ai mất, ai còn
Buồn vui - chuyện nghề, chuyện nghiệp
Vui buồn - chuyện cháu, chuyện con
Khi mặt trời dần đứng bóng
Mới hay đến lúc phải về
Kịp nhớ chuyện chồng chuyện vợ
Đành về, kẻo chuyện nọ kia
Và rồi một hai tuần nữa
Không chừng… “Tâm bất tại yên”
Lại còm: “quá lâu không gặp”
Hẹn hò qua những dòng tin
Vậy đấy các ông giáo cũ
Tuổi già - thần xác chông chênh
Dẫu biết đời… vơi, vẫn giữ
Sao cho tâm chẳng cạn… tình.
SG_140626
ĐVL

VÌ… RĂNG!
Răng - răng mà tệ rứa
Câu giã từ vội buông
Ngần ấy năm gắn bó
Bỗng trở nên vô thường
Răng, vì răng hờ hững?
Quên đã từng có nhau
Không dưng mà lạnh… buốt
Môi nào có hở đâu? (1)
Có nghĩa gì kia chứ?
Lời lãi để làm chi
Dù chưa hề bất… lợi
Vì răng đành rời đi? (2)
Ôi, mới vừa… xuống tóc
Răng nói lời chia phôi
Biết đâu lả gốc ngọn (3)
Của phù du kiếp người
Sáng nay, răng lạ rứa!
Sau nỗi đau rụng rời
Dẫu bồn chồn trống vắng
Miệng vẫn nhen nụ cười./.

NHỮNG VẦN THƠ MƯA VỪA NHẶT ĐƯỢC.
Chiều ngồi ngơ ngẩn nhìn mưa
Nghe xôn xao gió, ngó bừa bộn mây
Xa… luênh loang vạt nắng gầy
Hong cơn mưa ngập ngụa đầy hoàng hôn
Ta thấp thỏm, nắng bồn chồn
Ly cà phê muộn đắng hơn bao giờ
Mặc tình, mưa vẫn giăng mưa
Biết nhờ ai dẫn lối đưa đường vể
Khi ào ạt, lúc lê thê
Ngỡ như thiếu phụ tỉ tê nỗi niềm
Mưa ru chạng vạng vào đêm
Buông lơi nghìn sợi tơ mềm trói chân
Quán quen, ngồi đợi mưa tàn
Ngờ đâu nhặt được mấy vần thơ… mưa!

CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG - Pham Văn Bắc - SPSagon K, 13


 
CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG

Vì lẽ hợp tan của trời đất nên đã có những cuộc chia ly, và không có cuộc chia ly nào không mang một nỗi buồn. Đã từng có một cuộc chia ly đầy cảm xúc của đôi tình nhân ở giữa thế kỷ trước, mà đã được thể hiện trong một bài ca.
Tôi và em gặp nhau khi em vừa đến tuổi trăng tròn. Lúc ấy, tôi chỉ coi em như một cô học trò nhỏ bé ngây thơ, hồn nhiên trong trắng. Tôi dạy cho em những nốt nhạc thăng trầm, những tiếng đàn dìu dặt hoà vào giọng hát buông lơi. Có ngờ đâu tâm hồn non trẻ của em đã vương vấn một tình cảm nhẹ nhàng nhưng cũng rất dạt dào say đắm. Em thường tặng cho tôi những cành hoa và những cánh bướm ép trong cuốn vở, cùng với những dòng tâm sự ngọt ngào trìu mến. Rồi "một đêm xuân sang, em thì thầm ngày đó thương anh". Tôi ngỡ ngàng và xúc động trước tình cảm của em, và tôi thấy con tim mình thật sự rung động trước tấm chân tình ấy. Đến khi hai trái tim của tôi và em đã hòa chung một nhịp, thì cũng đến lúc em phải ra đi đến một nơi thật xa mà không biết có còn gặp lại.
"Đêm chia ly, buồn gì sao chẳng nói". Đưa em ra sân ga, tôi nắm chặt tay em như muốn giữ lại một cái gì quý giá sắp mất đi mãi mãi. Một đàn chim nhỏ chở mùa thu trở về trên đôi cánh. Từng cơn gió làm những chiếc lá vàng bay bay về cuối trời. Đêm hôm ấy, "sao đầy trời từng chiếc lấp lánh" như đang soi rọi cho một cuộc tình mong manh sớm tắt. Em lên xe, từ biệt tôi trong nước mắt và nghẹn ngào bảo tôi hãy quay trở về thôi. Tôi nhìn em, "mỉm môi cười mà nhớ thương khôn nguôi". Bóng em xa dần, xa dần và chiếc lá vàng cuối cùng trên cành thu đã rơi xuống như kết thúc một mối tình dang dở.
Tôi trở về "mà lòng nghe quạnh vắng, đường thênh thang gió lộng một mình ta". Tôi ghé quán bên đường, uống ly rượu cho vơi nỗi sầu. Nhưng "rượu cạn ly, uống say lòng còn giá". Trên bầu trời, ánh sao đã tắt, lòng tự hỏi lòng : "đêm qua chưa mà trời sao vội sáng?".
Có phải người đi như giấc mơ
Để ta chờ đợi đến bao giờ
Lá vàng rơi mãi trong đêm vắng
Tàn cả mùa thu vẫn bơ vơ
Đó là chuyện tình có thật của chính tác giả bài hát "chiếc lá cuối cùng" nổi tiếng vào thập niên 1950. Một bài hát sống mãi với thời gian, đã làm bao cõi lòng ngậm ngùi thổn thức.
Và biết đâu, trên cõi đời này, vẫn có những cuộc tình, những cuộc chia ly tương tự như thế, và biết đâu, và biết đâu...

22 thg 6, 2026

Nghìa nhừng từ ngữ cổ đang dùng: yêu dấu, chợ búa, gậy gộc, hỏi han, to tát, cần cù, bếp núc, thêu thùa, vải vóc

 


Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai.

> Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.


 1. Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?
 ‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

 ‘Dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’.
 Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’.


 2. Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?
 ‘Búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. (Ảnh qua facebook)
‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [铺], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.
 ‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa.

 3. Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?
 ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn lớn cũng là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.
 ‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này [㭲]. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.
 Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.

 4. Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.

 ‘Han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. 

 Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.
 Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

 5. Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?

‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.’Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. (Ảnh qua facebook)

 ‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên, ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.
 ‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tác’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.
 Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,…

 Riêng từ ‘to tác’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.

 6. Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘Cù’ có nghĩa gì không?
 ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả. (Ảnh qua facebook)
‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ (劬 劳) chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao).
 Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

 7. Bếp núc
 ‘Núc’ là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’ và có thể hiểu núc chính là ông Táo. 
 – Bếp là nơi nấu ăn;
 – Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)

7. ‘Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. 
– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
 – Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm.
 Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

 8. ‘Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa
 Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may. (Ảnh qua facebook)
 – Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
 – Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.
 Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.

Vũ Tuấn (sưu tầm

H.Phi chuyển)


Đinh Hỏi

 7/8/2026, cafe cùng bạn bè


 15/6/ 2026  Cùng gia đình con trai út

Cảm ơn gia đình con trai út đã thực hiện một chuyến nghỉ dưỡng tại ĐL cho mẹ và gia đình con! Giữa đỉnh đồi thông nghe chim líu lo, nhìn cảnh bình yên lòng nghe thư thái quá! Cà phê từ trên cao nhìn ĐL xa xa, xuống thung lũng Túi Mơ To nhìn ĐL mờ ảo dùng bữa trưa trong yên bình, trở về Liang Biang sau nhiều năm có nhiều thay đổi vẫn thấy thân quen... Chương trình còn nhiều điểm lạ dù đã đến ĐL không biết bao nhiêu lần...
Xuống đèo Đại Ninh rồi vẫn còn nghe mùi cà phê ĐL ở đầu lưỡi...
Cảm ơn gia đình các con đã vui cùng mẹ mọi nơi...