4 thg 11, 2026

Miên man “Ký ức Sài Gòn”



*SONG THAO





Saigon 1962
Nguồn: Internet
Trong bài viết “Ký Ức Sài Gòn” dài tới 50 trang sách in trong cuốn Phiếm 35, tôi tưởng đã xong cho một Sài Gòn mất tên 50 năm trước. Nhưng, như đã “tiên tri” trong bài, “Ký Ức Sài Gòn” thì miên man chẳng bao giờ đủ, nay lại phải viết thêm.

Ngày Sài Gòn bị cưỡng chiếm, tôi đã nhắc lại một bài viết của nhà văn Dương Thu Hương khi vào Sài Gòn ngay trong ngày tang Sài Gòn đó. Bà đã khóc khi thấy sách của các nhà văn nhà thơ Sài Gòn được xuất bản tự do; TV, radio, cassette, những thứ chỉ có trong mơ của dân miền Bắc, đầy rẫy khắp nơi.
Một người tên tuổi khác, ca sĩ Ái Vân, khi Sài Gòn thất thủ cô mới 19 tuổi, đang là sinh viên năm thứ 2 khoa Thanh Nhạc của Nhạc Viện Hà Nội, sau một hành trình dài từ Hà Nội, đã vào tới Sài Gòn đúng vào ngày đầu Sài Gòn thất thủ. Cô kể lại trong cuốn hồi ký “Để Gió Cuốn Đi”: “Ngày đẹp trời, chú Nguyễn Văn Thương nhắn tôi lên phòng giám hiệu. Thầy nói: “Bên Đài Truyền hình cần bổ sung xướng ngôn viên để vào tiếp quản Sài Gòn vì bên ấy thiếu người quá. Ông Tố Hữu đề nghị chọn Ái Vân”. Tôi sướng mê đi… Được vào Nam, lại được làm xướng ngôn viên (miền Bắc gọi là phát thanh viên) cho Đài Truyền hình Sài Gòn những ngày đầu tiên của hòa bình, còn vinh dự nào hơn. Tôi có hai, ba ngày chuẩn bị, tíu tít người hỏi thăm, người gửi người nhà cái này, người nhờ mua cái kia, rộn ràng còn hơn lần đầu đi nước ngoài”.

Sáng sớm ngày 29/4/1975, chuyến xe chở hai mươi người khởi hành từ Hà Nội vội vã vào Nam. Trưa ngày 2/5, xe tới của ngõ Sài Gòn, qua Xuân Lộc vào Xa Lộ Biên Hòa. “Mọi người nói với nhau: “Sài Gòn rồi!… Sài Gòn đó kìa!”. Đường vào Thành phố rộng thênh thang, phẳng lì. Lại xuýt xoa thì thầm: “Như đường của Tây”. Không thấy cờ hoa chào đón, chỉ thấy vẻ tiêu điều trên thành phố tráng lệ trước đây. Lại vẫn quần áo, mũ, giày, thắt lưng lính rải đầy đường… Nhiều hơn cả là vỏ đạn, đường Hồng Thập Tự đầy vỏ đạn. Dấu vết chiến tranh hằn rõ trên mặt phố. Chiều 2/5, chiếc xe của Đài Phát Thanh, Truyền hình từ từ lăn bánh tiến vào Đài Truyền hình Thành phố Sài Gòn. Ngày 30/4 đến với những người trên chuyến xe ấy, chắc hẳn hoàn toàn khác với hình dung của tất cả mọi người. Im lặng, im lặng và im lặng”. Lần đầu tiên ra phố, cô thấy ngợp. “Ở Hà Nội nhỏ bé xinh xinh, vào Sài Gòn thấy ngợp. Ra chợ Bến Thành thấy người dân khác hẳn. Lúc đó người Sài Gòn không dám ăn diện như trước, nhưng vẫn thấy sự khá giả trên những bộ đồ họ mặc. Họ đón nhận mình với thái độ vui mừng một cách gượng gạo, có phần nghi ngại. Dân Sài Gòn thấy ai từ Bắc vào đều gọi là bộ đội. “Bộ đội” truyền hình ca nhạc cô nào cũng coi được, mấy bà mấy cô cứ xúm lại mấy chị em xuýt xoa: ‘Bộ đội mà sao da trắng bóc hà?’”.

“Sự cố” đầu tiên xảy ra khi cô ra chợ Bến Thành mua vài thứ lặt vặt. Cô trả bằng tiền miền Bắc. “Cô bán hàng tính ra 1 đồng ăn 1.000 đồng tiền Sài Gòn, cả chợ ồ lên nói: “Trời, tiền ngoài Bắc còn giá trị hơn tiền dollar à”. Cô bán hàng nói: “Em chờ chút để qua đổi tiền thối nha”. Tưởng chị chê tiền của tôi thối (mùi hôi), tôi cãi: “Không, tiền em không thối đâu ạ”. Chị bán hàng lại tưởng tôi không cần thối lại, nói: “Đâu được, để qua đổi tiền khác thối lại em”. – “Dạ không, đã bảo tiền em mới, giữ cẩn thận lắm, không thối đâu ạ”. Hai bên cứ “thối” với “không thối” suýt cãi nhau, mãi sau nhờ có người giải thích tôi mới ớ ra “thối” là trả lại tiền thừa. Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc”.
Cô tới thăm nhà họ hàng ở Sài Gòn và gặp thêm một cú sốc khác. “Theo địa chỉ ba cho từ ngoài Bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba. Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”. Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần”. Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em”. Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có ở bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ tướng”.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập) trong bài viết “Sài Gòn Giải Phóng Tôi”, nói về cuộc đoàn tụ của gia đình. “Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kỳ ».

Chưa thấy Sài Gòn mặt mũi ra sao nhưng ông đã ngửi thấy mùi Sài Gòn qua ba thứ mà bạn của Bọ Lập, con của nhà thơ Viễn Phương được bố gửi từ Sài Gòn ra cho. Đó là: bút bi, mì tôm và cassette. Đồ Sài Gòn làm ngây ngất đám thanh niên ngoài Bắc. Chiếc bút bi, còn gọi là bút nguyên tử, bấm tách một cái, đầu bút nhô ra, mực ra đều tăm tắp mà không phải chấm mực. Cả bọn há hốc mồm không tin là Sài Gòn lại có cái bút tài tình đến thế! Thằng bạn tên Minh bóc gói mì tôm, thả vào bát nước sôi, mùi thơm lạ lùng bốc lên làm cả bọn chảy nước miếng. Tới cái cassette thì Bọ Lập sốc. Năm 1973, tại quê của Bọ, một người đi du học bên Đông Đức mang về cái máy cassette. Cả làng say sưa nói vào máy rồi bật nghe lại. Phải mất mấy ngày mới hết lượt. Bọ Lập cũng nói và nghe lại tiếng nói của ông. Không ngờ tiếng nói của mình lại tệ đến thế. Khi nghe giọng hát Khánh Ly trong băng Sơn Ca 7 bằng chiếc máy cassette Sài Gòn, “thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi”.

Rồi cũng tới ngày Bọ Lập được vô Sài Gòn. Vào tháng 8 năm 1976. Xe chạy ba ngày ba đêm. “Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lý. Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt”.

Khám phá Sài Gòn, Bọ Lập đi uống cà phê. Lại… sửng sốt! “Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê, mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt ».

Nhưng với con người ham mê sách vở, Sài Gòn đã thực sự “giải phóng” anh giai Hà Nội. “Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình Trí Thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn. Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng”.

Sài Gòn như một thế giới khác dưới con mắt của ca sĩ Ái Vân và nhà văn Nguyễn Quang Lập. Tất cả họ đã thấm thía sự tuyên truyền dối trá của nhà cầm quyền cộng sản miền Bắc. Ngày miền Bắc rêu rao giải phóng miền Nam là ngày dân miền Bắc được “giải phóng” khỏi sự mê hoặc trí trá của những người cộng sản.

Những người phải tức tưởi rời xa Sài Gòn vào những ngày chộn rộn đó là những quân nhân viên chức của bên thua cuộc. Họ là những sĩ quan trong quân đội, những viên chức có chức vụ chỉ huy trong các cấp chính quyền cũ. Thông báo trình diện tập trung cải tạo là mang theo lương thực, thuốc men, tiền bạc đủ cho 10 ngày hay một tháng tùy cấp bậc. Ai cũng nghĩ đó là thời gian phải xa Sài Gòn. Thôi thì thí cô hồn đi trình diện học tập cho xong chuyện rồi trở về an tâm tìm cách sống còn trong chế đội mới. Nhưng những con người ngây thơ này đã bị dính một quả lừa thế kỷ. Khi tới hạn kỳ, chẳng một ai được thả về, những người chiến thắng mới bẻ cong nói là thông báo chỉ nói mang những thứ cần thiết chi dùng cho một tháng trước khi chính phủ có đủ thời gian lo toan sau đó. Đã ở bên thất thế thì chỉ biết “ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Huy Đức viết trong cuốn Bên Thắng Cuộc: “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn một triệu người thuộc diện phải ra trình diện. Riêng ở Sài Gòn có 443.360 người ra trình diện, trong số đó có 28 viên tướng; 362 đại tá; 1.806 trung tá; 3.978 thiếu tá; 39.304 sĩ quan cấp uý; 35.564 cảnh sát; 1.932 nhân viên tình báo; 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9.306 người trong các ‘đảng phái phản động’.”


Sài Gòn ngổn ngang quân trang vứt bỏ –  Rồi mai sẽ ra sao?

Tôi là một trong số 1469 viên chức Sài Gòn khăn gói quả mướp đi học tập cải tạo dài hạn. Địa điểm học tập là Làng Cô Nhi Long Thành xưa. Trại được chia thành 4 khối: khối “ngụy quyền”, khối Đảng Phái, khối Tình Báo và khối Cảnh Sát cấp Tá. “Bạn tù” của tôi có các khuôn mặt quen thuộc như Trần văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh, Trần Minh Tiết, Nguyễn Bá Lương, Lưu văn Tính, Nguyễn Xuân Phong… Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là “sếp” của tôi trong ban Trang Trí của Trại, Đại sứ Phạm Trọng Nhân và Sứ Thần Ngoại Giao Nguyễn Cao Quyền là bạn nằm cạnh chiếu của tôi. Năm 1976, một số lớn bị đưa ra Bắc trong hai đợt mà tù nhân gọi là “Bao Bố 1” và “Bao Bố 2”. Tại miền Bắc họ bị đày đọa tàn ác. Nhiều người đã bỏ mình ngay trong các trại học tập. Nhiều người bị giam cầm tới 17 năm.


Ca sĩ Duy Trác

Là một sĩ quan biệt phái và là Luật sư của Phủ Tổng Thống, Khuất Duy Trác đi tù cải tạo 6 năm, từ 1975 tới 1981. Là một ca sĩ bị coi là “biệt kích văn hóa”, ông đi tù lần thứ hai, 4 năm, từ 1984 tới 1988. Người tù họ Khuất không phải là người tù bị khuất phục. Trước đây, ca sĩ Duy Trác không bao giờ hát trước công chúng, không trên truyền hình, không tại các đại nhạc hội cũng như không tại các phòng trà, được nhà văn Duyên Anh gọi là “chàng ca sĩ cấm cung”. Nhưng vào dịp Tết năm 1978, anh đã hiên ngang đứng hát bài “Ly Rượu Mừng” trước cả ngàn tù nhân. Người thuộc lời cất tiếng hát theo, người không thuộc thì vỗ tay giữ nhịp. Cả người hát lẫn người nghe đều chan hòa nước mắt. Ông đã phải trả bằng một cái giá rất đắt. Còng chân biệt giam hàng năm trời. Nhưng ông vẫn đủ thích thú để cho biết khi nào gặp Phạm Đình Chương sẽ kể cho tác giả bài hát nghe chuyện hy hữu này. Sau này ông đi theo diện HO sang Mỹ nhưng quá trễ cho cái hẹn. Phạm Đình Chương không còn nữa!

Trong một lần đội của ông đi lao động, một cô gái từ Sài Gòn đi thăm người thân đi ngang qua, những người tù Sài Gòn đang phải xa Sài Gòn hỏi Sài Gòn giờ có gì vui không? Cô gái trả lời: “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về!”. Duy Trác, một ca sĩ hầu như không viết nhạc, đã thấm câu trả lời và sáng tác bài “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về”. “Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ / Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố / Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời / Sài Gòn có vui? Sài Gòn có vui? / Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ / Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ / Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ / Sài Gòn chỉ vui khi các anh về”.

Tôi may mắn được thả về vào dịp Tết Bính Thìn 1976, trước khi các bạn tù bị đưa ra Bắc. Đúng là may mắn vì tới bây giờ tôi vẫn hoàn toàn không biết vì sao mình được ra tù. Cứ như trúng số độc đắc cặp mười. Khi xe chở chúng tôi về chạy ngang qua chợ Bến Thành để đổ tù được tha xuống vườn Tao Đàn, dân Sài Gòn lũ lượt chạy theo đoàn xe, những người bán dạo đưa tặng chúng tôi tất cả hàng hóa đang có. Những câu hỏi: từ đâu về, tại sao được về sớm, chừng nào những người còn lại được về… tíu tít bên tai. Cả người được hỏi lẫn người đặt câu hỏi chẳng ai trả lời được. Nhưng đó là sự quan tâm của người dân Sài Gòn đối với những người Sài Gòn chẳng may đang bị giam cầm. Mừng đó nhưng cũng tủi đó. Biết sao được khi tất cả chúng tôi đều là những kẻ bại trận đang quờ quạng trong đêm tối trời. Tôi ra cổng phía đường Hồng Thập Tự, một anh chạy xe ôm còn trẻ mời lên xe. Về tới nhà tại Thị Nghè, tôi nói anh chờ tôi vào nhà lấy tiền ra trả. Anh gạt đi: “Tiền nong chi! Các thầy về là chúng em mừng rồi!”. Tôi không cầm được nước mắt trước lòng dạ của người Sài Gòn!

Song Thao
10/2026

Website: http://www.songthao.com

3 thg 11, 2026

MAI EM VỀ CẦN ĐƯỚC -Le Hà Thăng - spsaigon




MAI EM VỀ CẦN ĐƯỚC
Mai em về Cần Đước
Dặm đường dài xa xôi
Cầm chân em chẳng được
Thế là cách ngăn rồi.
Nghe bên đời mưa hắt
Xót cuộc tình long đong
Thương em còn tất bật
Bến sông chiều mênh mông.
Mai em về Cần Đước
Kỷ niệm đành chôn sâu
Cầm em mà chẳng được
Nên lỡ mối tình đầu.
Thương sau hè rau đắng
Đưa tiễn ngày vu quy
Mơ một chùm hoa trắng
Rải dọc quảng đường đi.
Thôi em về Cần Đước
Với sông dài chơi vơi
Trăng bên nào cũng lệch
Hai ngã đường chia phôi.
Lê Hà Thăng
Đã chia sẻ bài viết

 

2 thg 11, 2026

Mái trường đầu tiên anh dạy sau ngày ba mươi tháng tư

 M

i trường đầu tiên anh dạy sau ngày ba mươi tháng tư

Ngôi trưòng ấy chỉ có hai phòng học nằm sát dải rưộng muối bên đường Xiêm Cáng , con đường làng gồm đất bùn pha cát trải dài suốt hơn ba mươi cây số bờ biển Vĩnh Châu . Bên kia đường là bạt ngàn vườn nhãn , thấp thoáng những mái nhà . Những tay lưới phất phơ phơi trên giồng cát , mùi mắm Bò hóc nồng nàn , đám cây Thốt nốt bao quanh một ngôi chùa Miên cũ kỹ cổ xưa . Mái trường nhỏ một mình lẻ loi bên cánh đồng muối . Mênh mang chói chang trong mùa nắng , ủ ê bùn sình suốt mùa mưa . Qua một thời Prey Chóp , giờ là Xung Thum , rồi đến Phnor Puôl , Biển Dưới .. Học trò của anh toàn nói tiếng Miên , Dân ở đây hầu hết là người Khmer , nói chuyện với anh bằng thứ tiếng Việt pha lẫn tiếng Khmer rất tự nhiên . Anh cũng nói với họ bằng thứ tiếng Khmer pha tiếng Việt chẳng cần một quy tắc ngữ pháp gì cả , vậy là hòa . Mà người ta rồi cũng hiểu nhau , nhiều khi anh ngỡ mình lưu lạc dạy học ở xứ Nam Vang vậy. Học trò và người dân chất phác quý anh vì anh cố học nói được chút chút tiếng của họ , hát lõm bõm được một chút bài tình ca “ Ôn cà kèo ơi “ , họ khen anh hát hay như ca sĩ Nam Vang Sơn Sa Mih , anh hiểu họ khen lấy lòng thế thôi , Bài hát nói về một chuyện tình chung thủy và có hậu ,
- Lụccrụ doa pừm pân tê ? Miên người yêu tê ?
- Thầy giáo có vợ chưa ? Có người yêu chưa ?
- Mân nê , người yêu nâu chngai na , mần đăng tâu na mà tìm
- Chưa có vợ , người tôi yêu ở xa lắm , giờ không biết người ta ở đâu mà tìm
Thanh niên ở đây lập gia đình sớm lắm , gái trai tuổi vừa đôi chín đã có con tay bế tay bồng , cho nên họ ra vẻ ái ngại cho anh
- Tội nghiệp quá ! tuổi này rồi mà chưa có vợ , bồ cũng không nữa , chắc thầy giáo buồn lắm hả ?
Nghe họ thở than trêu đùa , anh cũng mỉm cười họa theo
- Ờ , thì cũng buồn chớ , chắc là ế rồi !
Chợt chạnh lòng . nhớ cô bé Oanh vũ ngày xưa . Niềm ao ước cùng những kỷ niệm cứ mãi theo nhau , từ lúc thơ nhỏ tung tăng đùa nghịch . Tuổi thơ ấu của anh chấm dứt nhanh như một lát dao cắt , để những năm tháng cứ lớn lên , bệu nhệch , côi cút .. Lần gặp người bạn gái mà cứ giả ngơ không nghe bạn gọi , dù lòng buồn đến ngẩn ngơ !
- Bạn ơi , mình sẽ quay lại khu xóm cũ tìm bạn , mình nhớ bạn lắm , bạn có biết không ?
Mình nhủ lòng cố đi tìm gặp bạn , kể câu chuyện ngày xưa cho bạn nghe , chắc đôi mắt ấy sẽ lại lườm mình một chút , khuôn mặt thanh tú với cái miệng quen thuộc không lẫn vào đâu được sẽ lại mỉm cười dịu dàng với mình , nụ cười ngày hôm nào .. Dịu dàng như hơi gió thổi đi hạt bụi trong mắt , như ánh lửa sưởi ấm lòng anh . Và nỗi buồn sẽ không còn dài , niềm vui sẽ không ngắn ngủi như những ngày hai đứa học chung trường Sư Phạm ..
Chắc bạn sẽ hết giận mình , câu chuyện sẽ không kết thúc lụn tàn như chuyện gã chèo đò Trương Chi và cô tiểu thư Mỵ Nương , mà như chuyện nàng công chúa Miên Ros Saray Sathia và chàng ca sĩ lang thang Sơn Sa Mih .
Đoạn trích Bình minh lặng - trần ngọc tô tê . SPSG . K 11

Chữ nghiã làng văn Kỳ 1/11/ 2026 - N. K. Phi Ngọc Hùng

                                    Chữ nghĩa làng văn 


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. 


***


Chữ Việt cổ


Thù: con nhện

Thử: con chuột


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Học không chơi đánh rơi tuổi trẻ

Chơi không học vừa khoẻ vừa vui


Nhũ danh


Nhũ danh là tên đặt cho trẻ sơ sinh. 

Khi đứa trẻ đi học thì được thầy đặt cho một tên khác, gọi là huấn danh hoặc  học danh. Như vậy ai ai cũng đều có nhũ danh. 


(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)


Bia - Mo Mai Thao

Không hiểu

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi


(thơ khắc trên mộ bia Mai Thảo)


Pháp danh


Tu hành thì có pháp danh, khác với cái tên đã thường dùng trước khi xuất gia gọi là tục danh là tên ở ngoài đời, bởi đạo khác hẳn với đời . 

Đã có pháp danh thì thường có ý nghĩa thanh thoát, không còn dính líu gì đến cuộc đời ô trọc nữa như Trí Tịnh, Diệu Liên...


(Tản mạn về cái tên – Thân Trọng An)


Mộng


Mình ta đi một mình ta
Bao nhiêu giấc mộng gần xa xa gần


Lều chõng của sĩ tử Việt hàng trăm năm trước

Bảng vàng ghi danh những người đỗ đạt trong kỳ thi. Cảnh lều chõng gắn với nền khoa cử Nho học chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa. Nền khoa cử ấy đã gặp thách thức lớn vào thời thuộc địa, khi văn minh phương Tây tràn vào.

Trước ưu thế vượt trội của khoa học châu Âu, Nho học không còn thích hợp nữa, từng bước nhường chỗ cho học thuật mới theo nền giáo dục của người Pháp.



Với sự cáo chung của nền khoa cử có bề dày nghìn năm, cảnh lều chõng cũng trở thành dĩ vãng. Ở miền Bắc, việc thi cử theo Nho học kết thúc năm 1915, và ở miền Trung kết thúc vào năm 1918.


(Quốc Lê)


Khóc bạn


Bác về rồi, đời đáng chán!

Tôi còn ở lại, rượu cùng ai?


(Tản Đà)



image012

Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương   


Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt 
Đi thì cũng dở ở không xong




Công việc biên tập, in sách của Bùi Giáng ra sao?

Bui Giang - Choe(Bùi Giáng – tranh Chóe Nguyễn Hải Chí)


Tại sao thơ Bùi Giáng lại hay dở dở hay? Đây không chỉ là câu hỏi quan trọng cho giới phê bình nghiên cứu văn học, mà còn cho các nhà Bùi Giáng học. Vấn đề biên tập dự phần ra sao? Tôi muốn hỏi một câu: Những khi thể trạng ông không điên-tỉnh, là người bình thường liệu Bùi Giáng có chịu trách nhiệm trong việc in ấn, phổ biến tác phẩm của mình không? Thực ra, các bản thảo "nguyên đai nguyên kiện" của một tác giả nào đó chỉ có giá trị nhất định đối với những ai làm công tác nghiên cứu văn bản. Một tác giả chỉ được đánh giá công bình qua các tác phẩm ra mắt độc giả trong sự kiểm soát nào đó của anh ta về sự công bố.

Ngợp và ngạt giữa cái phi phàm lại thú vị, cái khó hiểu đến kinh dị mà dễ thương, cái lộn xộn mà vẫn đâu ra đấy trong trước tác của Bùi Giáng, công tác biên tập sách, bài vở của ông ở miền Nam trước 1975, dường như đã không qua cách thức bình thường. Là người không có đời sống tinh thần và vật chất ổn định, (về phong cách, nhu cầu in ấn, tính chuyên nghiệp), tác phẩm của Bùi Giáng dựa trên ý thức của một người phi học, vô nghề. Cho dù có đúng là Bùi Giáng "không che dấu cái dở của mình. (...) Chẳng những thế, ông lại còn cố ý phô bày nó ra, phô bày một cách chân tình, hồn nhiên, toàn diện", nhưng những người biên tập đã làm gì cho tròn trách nhiệm? Chính các điều dang dở và các điều dở trong bản thảo đã góp phần tạo phong cách hay dở dở hay ở văn chương Bùi Giáng. Và thách đố cho những ai bạo gan biên tập sách, bài vở của ông là ở đấy. In sách thì phải cho ra sách. 


Tôi tạm ngưng trong sự đồng tình cùng ý với Phạm Thị Hoài: (1) "Không sửa sang cho ông, như thường miệt mài gọt rũa hay tưởng đang gọt rũa mình công phu lắm, với cái cớ rằng chữ nghĩa của ông từ ngàn khơi đổ về, chẳng ai biên tập một đại dương. Không thẩm định, không đòi hỏi, không đặt niềm tin, không thất vọng, ta nhẹ ban cho ông hai chữ thiên tài”

(Đỗ Quyên)


(1) Phạm Thị Hoài: Một giải thưởng văn chương mang tên Bùi Giáng (talawas.org 10/10/2003)


Đừng tưởng


Đừng tưởng cứ tiến là lên

Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

(Bùi Giáng)


Gặp nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ


Thụy Vũ nói bây giờ mỗi ngày bà ngồi dưới những bức ảnh Phật tụng niệm; cái chết đối với bà không có gì đáng sợ mà thật tự nhiên và gần gũi. Bà chỉ nghe những âm thanh của cuộc đời ngoài kia bằng một lỗ tai.


Chúng tôi chia tay Thụy Vũ. Bà chống gậy ba chân, tiễn ra tận cổng. Mưa bắt đầu đổ. Bóng bà mờ nhòe qua cửa kính xe. Tôi chợt liên tưởng đến hình ảnh người đàn bà già nua bệnh tật của Albert Camus ngồi một mình sau cánh cửa sổ trong căn phòng tối thui lắng nghe tiếng chân những người khách vừa đến thăm bước đi xa dần trên đường phố nhộn nhịp sáng đèn và tự trả lời cho câu hỏi một nhà văn đã chết như thế nào của chính mình.

Càng tiến về thành phố mưa càng dữ dội. Nước mênh mông trắng xóa. Chúng tôi đang đi vào trung tâm bão.

Nhưng ngày mai bão sẽ hết, mặt trời sẽ trở lại soi sáng. Mặt trời sẽ sưởi ấm cho tất cả chúng ta, kể cả những bộ xương khô (Albert Camus).


(Vũ Thành Sơn)


Thiền


Trần gian mỏng mộng vô thường
Đường xa mỏi mệt tôi thường nhịn tôi


Nguyễn Tất Nhiên, và bữa thịt chó cuối năm cũ


Nhiên kiêu lắm. Nhiều khi đến ngông cuồng. Nhiều đêm, Nhiên ngủ lại nhà tôi, chàng “ngôn” rằng, 20 tuổi sẽ đoạt giải Nobel Văn Chương. Vì mới 16 tuổi, Nhiên đã lừng danh với những bài thơ do “phù thủy âm nhạc” Phạm Duy phổ thành ca khúc. Điều đáng tiếc là Nhiên chưa hề đọc một tác phẩm nào đoạt giải Nobel. Tôi mua tặng bạn hai cuốn: Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse và Lời Dâng của Rabindranath Tagore. Nhiên thông minh lắm. Chàng thấy ngay và buông một câu chen tiếng “Đan Mạch”: “Đ.M, họ viết hay thiệt”. Từ đó, không thấy Nhiên nhắc lại mộng Nobel Văn Chương nữa.


***

Nhiên hiền, ít nói, khi cười, mặt hếch cao, nhe hàm răng lởm chởm. Không biết nói Nhiên mang “lời nguyền truyền kiếp” là mê say con gái Bắc có đúng không? Vì trong thơ và trong đời thường, con gái Bắc làm khổ Nhiên lắm: 

“Em nhớ giữ tánh tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt.”


Trong đám bạn chung thời sau 1975, H. tóc dài, giọng Bắc nhẹ “như thơ”. H. đã có bạn trai, Nhiên biết, nhưng vẫn công khai nói, “tớ chết đi được mỗi khi nghe H. buột miệng hai tiếng ‘Trời ơi’”. Và Nhiên cứ lặng lẽ với chính cái bóng của cuộc tình “con gái Bắc” này. Lần đầu Nhiên gặp H., nụ cười “chết khiếp” của Nhiên đã đẩy H. ra xa. Hôm đó, cả bọn rủ nhau đi ăn cơm thịt kho hột vịt. Đang ăn, Nhiên ngẩng mặt rú lên cười, hai hàm răng bệt lòng đỏ trứng. “Trời ạ”, có thánh mới chịu nổi. Nhưng đó là Nhiên, cho tới tận ngày bỏ lại mọi muộn phiền sau lưng ra đi vĩnh viễn, vẫn nụ cười đó, vẫn hàm răng đó.


Thân nhau, tôi có cảm tưởng Nhiên không sống ở cõi này. Nhiều lần, đang nói chuyện, Nhiên chợt trôi vào im lặng. Và nhiều lần, Nhiên nói, chắc có ngày tui tự tử quá ông ơi! Nghe lần đầu, còn lo lắng cho Nhiên, nhưng nghe mãi thì biết, bạn mình nói thế để xả một nỗi đau, mối sầu nào trong lòng mà thôi.


Nhiên nghèo, có sao sống vậy, quần ống thấp ống cao, đi chơi với nhau, bạn rủ gì ăn nấy, không đủ tiền thì nhịn. Một buổi chiều đi ngang một quán cóc ở đường Lê Thánh Tôn, thấy Nhiên ngồi một mình, trước mặt là ly cà phê đã cạn đến giọt chót. Thấy tôi, Nhiên bảo, có tiền trả giùm ly cà phê; ngồi từ sáng đến giờ không đủ tiền trả, chủ quán nhắc khéo nhiều lần mà chịu, cứ phải ngồi lỳ thôi.


(Đinh Quang Anh Thái)


Thiền


Một sớm nắng mai hồng
Ta về thăm viên không
Đá dựng vài trăm tượng
Cõi thiên tâm mênh mông


Chế Lan Viên


Chúng tôi ngồi nói chuyện phiếm, Chế Lan Viên hỏi :

- Mình nghe nói, hồi Sách lên Tam Đảo có gặp ông Lành lên  đó đọc các tài liệu sưu tập các chuyện tiếu lâm dân gian và ông ấy nhận xét “Cực kỳ phản động cực kỳ hay”?

- Đúng, tôi chẳng thể bịa ra được một câu như thế. Câu đó là của hai ông Tố Hữu, một là của ông quan, một là của nhà thơ. Vế trên thì còn phải bàn chứ vế dưới thì hoàn toàn chính xác. 


Đúng là cực kỳ hay như mấy câu này :

Tôn Đản là của vua quan

Vân Hồ  là của trung gian nịnh thần

Đồng Xuân là của thương nhân

Vỉa hè là của nhân dân anh hùng


Ông bà chủ căn nhà Bà Quẹo nghe xong cười rất sảng khoái.

Sau này tôi có đọc một số bài thơ trong di cảo của Chế Lan Viên. Những bài thơ cũng rất Chế  Lan Viên ở một gam khác. Tôi cứ nghĩ về  ông, vấn đề như tài năng và nhân cách, bản lĩnh và thói xu thời, trung thực và trí trá. Không riêng ông và còn nhiều  người khác nữa mà tôi biết, thật khó lý giải cho rành mạch.


***

Có lần nhà văn Tô Hoài kể tôi nghe hồi còn ở chiến khu nhà văn Ngô Tất Tố sau một buổi  kiểm điểm tư tưởng, quẹt nước mắt, nước mũi vào cột lán than: “Làm người thật khó”. 


Ý ấy giúp tôi viết chân dung về nhà văn (Ngô Tất Tố) tôi chưa từng được gặp:

Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên

Chia xôi chia thịt lại chia quyền

Việc làng việc nước là như vậy

Lộn xộn cho nên phải tắt đèn


Đã lộn xộn mà còn tắt đèn nữa thì biết đâu mà lần. Đó là một vài mẩu trong cái kho tàng cười ra nước mắt….Không hiểu người uyên bác như anh Hoan (Nguyễn Công Hoan) có lần ra không? 


(Xuân Sách)


Thiền


Bao giờ gặp lại người thương nhớ
Cởi áo hoàng hao lấm bụi đường


Chiêu niệm người đã khuất


Những người đã chết: Các ông đàn anh tôi: Tam Lang, Chu Tử, Trần Việt Sơn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, tác giả Bố Già, Hoàng Trọng Miên, Hồ Điệp mất tích trên biển, Minh Vồ Con Ong, Lý Phật Sơn, v.v... Còn bao nhiêu anh em tôi đã chết mà tôi không biết, không nhớ, không thể kể hết!

Cũng là văn nghệ sĩ, cũng bị kẹt lại Sài Gòn sau Ngày 30 Tháng Tư, một số người đã chết trong khổ cực, tù đầy, lãng quên. Vũ Hoàng Chương chết trong vắng lặng, nghèo nàn. Đám ma anh Chương không có lấy hai văn nghệ sĩ đi đưa. Tôi chắc số thân nhân đưa tiễn anh không quá mười người. Cùng tù ở Xuyên Mộc như Đằng Giao và anh Nguyễn Mạnh Côn. Đằng Giao về sống bình yên; anh Côn chết trong khổ cực!

(Hòang Hải Thủy)


Thiền 


Thế sự thăng trầm bao tục lụy
Phong trần rũ áo nhẹ thinh không


Về “Nhật Ký Nguyễn Đăng Mạnh”


Trong bầu trời văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Đăng Mạnh là một ngôi sao. Ngôi sao ấy vừa lặn, vừa khuất lấp sang thế giới bên kia lúc 17g10 phút ngày 9-02-2018. 

Một cánh hạc lớn vừa tiễn ông về nơi cuối trời. Ngôi sao ấy lặn rồi nhưng ánh hồi quang dường như nó còn rực rỡ hơn những ngày ông còn rong chơi ở chốn nhân gian. Ánh hồi quang ấy trước hết hắt lên từ những bài viết với những ý tưởng độc đáo, những nhận xét, bình luận tinh tế, sắc sảo. Người sau còn tiếp tục đọc, tiếp tục nghĩ về Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… thì người ta sẽ còn nhắc đến Nguyễn Đăng Mạnh. 


Với phê bình văn học hiện đại, ông sẽ là một trong số ít cây bút được bạn đọc nhớ và họ còn đọc lại ông nhiều lần nữa. Rất ít ngòi bút phê bình vừa có chất văn, vừa có ý tưởng mới; dù ngắn hay dài đều có nghĩa lý, đều là “văn sử”; đều tạo được ấn tượng sâu đậm, sáng sủa và thật giàu màu sắc biểu cảm…như văn phê bình của Nguyễn Đăng Mạnh. Tôi thỉnh thoảng thấy ảnh hưởng của văn Nguyễn Đăng Mạnh lớn thế nào. Không chỉ số lượng trích dẫn mà còn rất nhiều ý tưởng, chữ nghĩa của ông được ở nhiều bài phê bình về Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… đã và đang xuất hiện trên báo chí… vẫn phảng phất ý tứ và văn phong ông Mạnh đấy thôi. Có người viết cả cuốn sách về Nam Cao, nhưng không để lại được một mẩu ấn tượng gì trong lòng bạn đọc, ngoài cái cảm giác hình như những ý này thầy Mạnh đã nói rồi. 


(Đỗ Ngọc Thông học trò giáo sư Nguỹen Đăng Mạnh)


Phê bình, phê bình 


Thế giới văn chương tuy bao la nhưng cũng giống như một xóm nhỏ, người viết thuộc lòng nhau. Thế giới phê bình còn bé hơn, nhiều nhà, nhưng những người đọc được đếm trên đầu ngón tay. Nghề phê bình cũng như nghề thợ chạm: phải ở trong mới biết thật, giả.


Tháng 9/1993 được gặp ông lần đầu, Nguyễn Đăng Mạnh không khác những gì tôi hình dung qua văn bản: ông rất đẹp, đẹp lối Bắc, da trắng, mắt đen. Long lanh thứ ánh sáng mà nói phỏng theo Nguyễn Du là anh minh phát tiết ra ngoài, báo hiệu một đời nghìn thu bạc mệnh. May nhờ cái miệng kéo đi: miệng khi cười, rộng, tươi. Môi như hai cánh hoa chụm, lúc không cười vẫn chúm chím như sắp nở. Thoạt nhìn có thể xếp ông vào loại trai Bắc lém, xạo, mắt có đuôi, miệng chưa cười mắt đã. Nhìn kỹ không phải thế: cặp mắt cười đánh tan cái bạc mệnh của ánh mắt anh minh phát tiết; khi nói, cảm tưởng lém và xạo tan đi, chỉ còn cái thật, cái thẳng. Thẳng và thật nằm trong thanh âm tiếng nói, tiếng cười đọng lại như những yếu tố ngoài văn bản.

Bấy nhiêu ký hiệu ngoại hình xác định tư cách trí thức và văn học của một nhà phê bình.


***

Nguyễn Đăng Mạnh là một nhà phê bình sắc sảo, ông thường nhận ra những gì người khác chưa thấy, và ông luôn luôn thấy được sợi chỉ đỏ trong tư tưởng và nghệ thuật của tác giả mà ông phê bình. Nguyễn Đăng Mạnh là một nhà trí thức dám nói, trong môi trường ít người dám nói thật.

Ở một ngòi bút phê bình, tài năng và đạo đức là hai giá trị hàng đầu. Tài năng, thường hiếm nhưng dĩ nhiên phải có, không tài, xin miễn, nên chọn nghề khác. Đạo đức, lại càng hiếm hơn, là đạo sống, đạo làm người. Đạo đức gần với lương tâm: Con người ai cũng có lương tâm, nhưng mấy ai nghe lời lương tâm, phần lớn chỉ dùng lương tâm như ông toà, cắn rứt trước việc đã rồi.

Ở người phê bình, đạo đức và lương tâm là một, ngòi bút đạo đức cũng là ngòi bút có lương tâm: Không khoa trương, viết những điều mình không biết. Không dùng chữ nghiã vào những việc trái với lương tâm. Không viết theo chỉ thị, cũng không viết theo đơn đặt hàng. Không làm bồi bút. Nịnh trên là bồi bút vụ lợi. Nịnh bạn là bồi bút vụ tình.


Nguyễn Đăng Mạnh là nhà phê bình có lương tâm nghề nghiệp trong một môi trường ít người giữ được lòng trong.


(Thụy Khuê)


Vòng tử sinh trong văn học


Thiều Chửu 


Năm 1945, ông Hồ mời ông ra làm bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội, ông từ chối. Nhưng tiếc thay, năm 1954 trong khi ông và đoàn tế sinh đang cư ngụ tại xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, thì miền Bắc tiến hành phong trào cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản địa chủ, làm cho không ít nông dân bị hàm oan, thống khổ. Thêm sự kiện “tai bay vạ gió” là lời vu cáo ông thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Thậm chí ông còn bị “xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là chưa phải quỳ mà thôi”. 


Để chứng minh cho sự thanh bạch của mình, ông viết một bức gởi ông Hồ: “Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà Nhạc Phi phải chịu còn có lẽ, ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”. 


Đêm 15 rạng ngày 16-6-1954, tức cuối ngày giỗ cha, sau khi từ biệt học trò, lễ tạ bốn phương, ông ra thác Huống trên sông Cầu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên gieo mình xuống sông. Cái chết “Thiên cổ kỳ oan” của ông đã gây tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương, một học trò của ông, kể ông có dặn đừng vớt xác ông, nhưng các học trò không ai nỡ làm thế.


Môt nhà phê bình văn học trong nước đánh giá: “Thiều Chửu là một con người chân chính” và tặng ông câu đối: 

Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể

Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời


(Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể - Thái Doãn Hiếu)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản.


Nhân một cuộc hội thảo về Văn học miền Nam 1954-75


Dù phân lượng không đồng đều, song mỗi bên có đóng góp riêng vào việc ghi lại đời sống tinh thần dân tộc, không bên nào thay thế được bên nào. Đến hôm nay, tôi vẫn nghĩ thế, và tôi muốn các anh cùng chia sẻ. Làm sao trong khi đề cao Văn học miền Nam 1954-75, các anh có thể sổ toẹt cái phần thành tựu theo một cách riêng  của Văn học miền Bắc trong thời gian đó.


Tôi không nói tất cả, tôi chỉ nói rằng vượt lên trên một số đông tầm thường và xu thời, vẫn có những cây bút miền Bắc tin ở sứ mệnh cầm bút của mình. Ở những người này có rất nhiều mâu thuẫn, cũng có lúc họ đã chùn tay, đã đầu hàng, nhưng rồi tiếp sau đó, bên cạnh đó, lại vẫn giữ được cái phần lương tâm lương tri của một người viết văn chân chính.  Nỗ lực đó của họ còn được ghi lại trong các trang sách.


Đối lập và tuyệt đối hóa những khác biệt văn học giữa hai miền chẳng những là bất cận nhân tình mà còn là phản khoa học.

Chính ra là trong sự phát triển của mình, văn học hai miền thời gian 1954-75 đã đối thoại ngấm ngầm với nhau. 
Việc nghiên cứu trở lại cuộc đối thoại xảy ra trong những năm đó là một trong những  phương cách thiết yếu để đẩy tới cuộc đối thoại giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hôm nay.


(Vương Trí Nhàn)


Nam quốc sơn hà Nam đế cư


Bởi bài thơ "Nam quốc sơn hà..." mấy chục năm nay, đã được coi là Bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc do Lý Thường Kiệt soạn thảo. Và tên ông, Ly Thường Kiệt, sánh ngang với Nguyễn Trãi (người thứ nhất) và Hồ Chí Minh (người thứ ba). Bây giờ biết không phải của Lý Thường Kiệt thì ứng xử ra sao... Thực ra, bất cứ ai có chút am hiểu về lịch sử và thơ văn thời Lý, cũng đều biết bài thơ ấy khuyết danh, chỉ là tục truyền, mà ngay tục truyền cũng không ghi là: "Tục truyền rằng bài thơ ấy là của Lý Thường Kiệt”.


Tôi tra trong Đại Việt sử kí toàn thư (1479) tập I, chương Nhân Tông nhà Lý, năm Bính Thân (1076), vua sai Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt. Sau khi ghi xong cuộc chiến, với thắng lợi lớn rồi, sử gia mới ghi thêm trong ngoặc đơn (...), nguyên văn như sau: 

"Tục truyền rằng, Thường Kiệt đắp luỹ làm rào ở dọc sông để cố giữ. Một đêm các quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân, có tiếng ngâm to rằng: Nam quốc sơn hà nam đế cư...".  


Sử gia ghi hết bài thơ 4 câu rồi viết sang việc khác ngay, không ghi bài thơ đó tục truyền là của ai và kết quả bài thơ ấy trong trận đánh là như thế nào.


(Vấn đề nói dối – Trần Nhuận Minh)


Hồ Xuân Hương


Căn cứ vào lời Tựa của Tốn Phong: 

“Khi hỏi đến tên họ, mới biết Hồ Xuân Hương là em gái ông họ Hồ, đậu Hoàng Giáp, người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu”, từ đó, các nhà nghiên cứu mới bạch hóa được tiểu sử của Hồ Xuân Hương. Làng Hoàn Hậu nay là làng Quỳnh Đôi. 

Bà là con Hồ Sĩ Danh (1706-783), chỉ đậu Hương cống (tức Cử nhân), không ra làm quan chứ không phải con Hồ Phi Diễn, như các sách giáo khoa đã ghi từ mấy chục năm nay. Hồ Phi Diễn và Hồ Sĩ Danh là anh em con chú con bác. 


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Học đi đôi với hành, hành đi đôi với tỏi.


Rau sắng Chùa Hương


Bài Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938), thể hành, ngũ ngôn tứ tuyệt, gồm 136 câu:

Hôm nay đi chùa Hương

Hoa cỏ mờ hen sương,

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.

...

Ngun ngút khói hương vàng,

Say trong giấc mơ màng.

Em cầu xin Trời Phật.

Sao cho em lấy chàng!

 

Bài thơ này được nhà thơ ghi thêm: "Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện!" (Ngày Xưa, Hà Nội 1935). Nhưng, than ôi sự thật không diễn tiến như ý muốn của hai người. Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (con cụ Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), chủ nhiệm Đông Dương tạp chí) mất sớm lúc mới 24 tuổi vì buồn phiền không cưới được cô nàng mặc dầu thương nhau tha thiết từ lúc gặp nhau trên chuyến đò Hương Tích. Theo nhà văn Mai Nguyệt Đái Đức Tuấn thì cô nàng bị tật bán nam bán nữ (hermaphrodite) không thể lấy chồng nên sinh tuyệt vọng, bèn ra hồ Hoàn Kiếm quyên sinh, kết thúc cuộc đời bạc mệnh trong buổi thanh xuân!


(Thái Văn Kiểm)


Đường phố Sài Gòn


“…Sau 1975, chúng ta biết có những đợt thay đổi tên đường theo sau đổi tên thành phố. Nhìn qua cách đổi tên đường, chúng ta có thể đoán được rằng mấy người trong chính quyền hiện nay không ưa triều Nguyễn, và các quan của triều này.


Vài ví dụ :

* Gia Long là ông vua gây ra nhiều tranh cãi, nhưng là người có công mở rộng bờ cõi và khai sáng triều Nguyễn; ông ấy phải “nhường” chỗ cho…cậu bé Lý Tự Trọng.

* Minh Mạng là ông vua nổi tiếng thơ ca, nhưng đành phải nhường cho Ngô Gia Tự (chẳng biết ông này là ai).

* Thiệu Trị cũng là vua triều Nguyễn, nay bị Trần Hữu Trang nào đó làm cho biến mất.

* Tự Đức bị cho lên đường, và thay vào là cái tên lạ hoắc Nguyễn Văn Thủ.

* Đồng Khánh bị Trần Hưng Đạo chiếm, nhưng sự thay đổi này chẳng ai thắc mắc.

* Duy Tân là con đường đẹp đã đi vào thơ ca, nhưng nay thì bị Phạm Ngọc Thạch cho lên đường biến mất luôn.

* Khải Định cũng là một vị vua triều Nguyễn, nhưng sau 1975 thì ông bị đuổi đi và nhường cho Nguyễn Thị Tần (là ai?)

* Hiền Vương tức chúa Nguyễn Phúc Tần là một nhân vật quan trọng trong sử và mở mang bờ cõi về phía Nam, bị cô Võ Thị Sáu chiếm và đuổi đi.


* Còn những tướng lãnh và danh nhân đời Nguyễn như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Võ Di Nguy, Võ Tánh, v…v…bị cho lên đường gần hết.


Văn hóa cây cỏ


Cây mù u


Cây cỏ rừng ngập mặn của xứ Cà Mau. Cây mù u có thân gổ lớn, có thể cao đến 20m, và đường kính 80cm, dáng đẹp và tàng xanh lục, có mủ (oleoresin) xanh dợt. VN có 2 loại mù u tía và mù u trắng. Lá đơn, mọc đối, phiến nguyên, hình trứng, láng và dầy. Hoa trắng pha vàng cam, thơm, tạo thành chùm 6-10 hoa, ở nách lá, đầu cành..Trái có nhân cứng, tròn, có mầm lớn, chứa nhiều dầu, không phôi nhủ.  Tôi còn nhớ hồi  1945, tôi đã từng đốt đèn học bằng  dầu  cá, và  dầu  mù u

Ở VN, cây mọc những vùng ven biển từ Kiến-An, Quảng-Ninh, đến Quảng-Bình, Huế, Đồng-Nai, Miền tây.Tại U-Minh, cây trồng 55 năm , đường kính thân đến 55cm.

Những kỷ niệm trong dân gian về cây mù u cũng được nhắc nhiều trong  tiếng hò, tiếng ru, hay  câu đùa  dí  dỏm

Cây  mù  u  lá  mù  u

Vợ  chồng  cắng  đắng  thằng  cu  làm  hòa.


(Nguyễn Quý Định)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


3. Học… học nữa… học mãi... đuổi thì... nghỉ.


Quán Văn


Quán Văn ra quân những sinh hoạt văn nghệ tiên khởi bằng lực lượng trừ bị : phe nhà tung quả bóng dò đường trước. Nguyễn Thạc bắn phát pháo đầu với đêm trình diễn độc tấu tây ban cầm. Thạc là một guitariste nhạc cổ điển có hạng. Khán thính giả chọn lọc, hạn chế. Đêm tĩnh lặng. Từng giọt đàn lóng lánh trong mắt người. Tí tách những giọt cà phê trầm tưởng, sóng sánh. Và bóng đêm chan hòa trên sân cỏ ru người vào cơn mộng êm đềm. Dù ít khách nhưng đêm văn nghệ thành công mỹ mãn bởi tấm lòng của người trình tấu và kẻ thưởng thức.


Tiếp nối không khí trầm lắng, Quán Văn sôi động hẳn lên với Đêm Trầm Ca Nguyễn Đức Quang/Hoàng Kim Châu/Trần Trọng Thảo. Ở đây không có tiếng hát nhà nghề. Ở đây chỉ có ca khúc bùng cháy ra trên đầu mỗi nhiệt huyết. Quang-Châu-Thảo hát say sưa những bài ca khai phá. Những thanh khúc hùng tráng khơi động lòng hăng say tuổi trẻ. Khí thế bừng bừng. Anh hát. Tôi hát. Mọi người cùng hát trong tiếng vỗ tay đều nhịp dậy trời.

Đường Việt Nam ôi vô cùng vô tận – đường ngang tàng ngoài biển Nam đến Trường Sơn – đường ngày qua đầy vết kinh hoàng, mỗi xóm làng một dở dang …

Ai từng đi trên đường Việt nam – bước âm thầm và tim nát tan

Đi dựng lấy quê hương nhà – giống da vàng này là vua đấu tranh (Đường Việt Nam – NĐQ)


Người bạn láng giềng – Ca Đoàn Nguồn Sống – tham gia trình diễn tại Quán Văn một chương trình đặc sắc phong phú gồm đủ các thể loại ca – vũ – nhạc – kịch; dân ca, hát chèo, nhạc cổ truyền … làm sống lại truyền thống văn hóa dân tộc, rất đáng trân quý, gìn giữ.


Và rồi Đêm Tâm Ca Phạm Duy/Steve Addiss. Hai nhân dáng. Hai dòng máu. Khoác áo màu đen thôn dã. Song tấu tây ban cầm. Và cùng hòa chung tiếng hát, đổ xuống như những giọt mưa, chan hòa trong mắt, trên môi mẹ:

Giọt mưa trên lá – nước mắt mẹ già lả chả đầm đìa trên xác con lạnh giá

Giọt mưa trên lá – nước mắt mặn mà – thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về …


(Hoàng Xuân Sơn)


Thói hư tật xấu của người Việt

 

- Ở Trung Quốc, có Ba Dương đã viết “người Trung Quốc xấu xí” nhưng người Trung Quốc vẫn chưa cảnh tỉnh. Công việc ông đang  làm hiện tại rất công phu nhưng liệu ông có nghĩ nó sẽ giống như “dã tràng xe cát”?


- Tôi xin nói thế này: thứ nhất, vấn đề “Thói hư tật xấu” không phải là chuyện nhất thời. Tôi đã bị nhiều người hỏi là anh nghiên cứu thói hư tật xấu của người Việt Nam bây giờ có thấy nó khác gì người cổ. Tôi nói rằng: nó giống y như cũ, chỉ có điều bây giờ nó đậm hơn, nó kỹ hơn và nhiều mặt nạ dối trá hơn. Thế cho nên gần đây có nhà phê bình Nguyễn Hoà phát biểu, đọc những điều đó giống như là đang phê bình mình vậy. Rõ ràng, nó không bị vượt qua. Cái mà tôi muốn bao quát là cái cốt, cái bã, không phải chuyện nhất thời. 

Thứ hai, tôi không đặt vấn đề “thói hư tật xấu” là chuyên lặt vặt. Chữ “thói hư tật xấu” là chữ tôi buộc phải dùng để gây sự chú ý. Thực ra tôi muốn nghiên cứu sâu sắc hơn là trình độ sống, trình độ “làm người” của người Việt.


(Bùi Dũng - Xuân Anh phỏng vấn Vương Trí Nhàn)


Từ điển và từ ngữ Việt Nam


Những sai lầm tai hại trong hai quyển Từ điển từ và ngữ Việt Nam và Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân.


Anh linh: anh: đẹp, tốt; linh: thiêng liêng

Hồn thiêng liêng. 


Linh ở đây có nghĩa là hồn của người chết chứ không phải “thiêng liêng”.


(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Học thày ko bằng "cọp-dê" bạn.

Từ cua cáy phiếm lược đến sông nước miền Nam 


Vậy mà vẫn chưa xong cho, vì giầy dép còn có số, đúng là cái số nó vận vào người với “Phiếm gồm bộ thủy và bộ phạt, thủy là nổi trôi, phạt là vô định”. Vì rằng bài khảo chữ Cua cáy phiếm lược vừa mới xong đâu vào đấy với 40 tiết mục, 31 trang, thì…

Thì bạn già từ Gò Công điện để đố chữ ở miền Tây với Nam kỳ địa dư chí lược, nơi nào nói lạ thung lạ thổ “r” thành “g” như: “Bắt con cá gô, bỏ vô gổ, nó nhẩy gột gột”. 


Bên kia đường giây bạn già kết cú: 

- Miền Tây với phong thổ chí có Bạc Liêu vì thổ ngơi, thổ đàm (tiếng nói của một xứ): “Bắt con cá gô, bỏ vô gổ, nó nhẩy gột gột”, thưa ông Bắc kỳ. 


Đang ngẫm nguội ừ thì tôi cũng đành ‘’tri kỳ nhất bất nhi kỳ nhị’’, là một tôi biết một mà không biết hai. Bên kia đường giây điện thoại, bạn già lại đánh vật với đố chữ nữa. 

Bạn già mà rằng:

Cái gì ở cạnh bờ sông
Cái mui thì nát cái cong thì còn? 


Ẩm thực xứ Nghệ 


ca_go-16326

“Cá gỗ” là câu chuyện anh học trò nghèo Nghệ An, ở nhà đến bữa, cũng chỉ có mo cơm trắng. 


(ảnh minh họa)



Khi vào kinh ứng thí, anh ta đẽo gọt một con cá gỗ được sơn phết trông như cá thật. Con cá làm như được “nấu” (giấu?) trong nồi đất, mỗi bữa nhá nhem tối, anh ta bỏ cá vào cái đĩa, rồi sang hàng xóm xin nước mắm, bảo "về kho cá, vì lỡ quên mua nước mắm". Anh ta xin nước mắm để có nước mắm chan cơm. 


Bị người ta phát hiện và trở thành giai thoại.


Rượu đế Gò Đen đệ nhất tửu của đồng bằng sông Cửu Long


Nếu có dip đi Long An về với Bến Lức ghé làng nấu rượu đế Gò Đen nức tiếng. 


Được nhấp chén rượu cay nồng nổi tiếng này, cùng nghe câu chuyện thời cuộc của thương hiệu rượu được mệnh danh là mỹ tửu của miền Nam thật sự là một trải nghiệm thú vị. Ai đã từng một lần nếm rượu đế Gò Đen đều phải công nhận rằng đó là loại rượu hoàn toàn xứng đáng đứng nhất nhì trong hàng “danh tửu” trời Nam. Rượu Gò Đen gắn liền với lịch sử hình thành địa danh Gò Đen, nó có một bề dày lịch sử và truyền thống sản xuất lâu đời và đã một thời nó là niềm tự hào của người dân Long An nói riêng và người dân miền Tây nói chung.


Địa danh Gò Đen có từ sau khi chúa Nguyễn khai phá đất phương Nam, vùng này gò cao, đất đen nên mới gọi là Gò Đen. Gò Đen là cửa ngõ giao thông từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Năm 1918, vùng đất này chính thức gọi là quận Gò Đen tỉnh Chợ Lớn và thay đổi nhiều tên gọi khác nhau: Gò Đen, Trung Quận, Bến Lức.


(Mekong Delta Explorer)


Trống cơm 


Được gọi là "Trống cơm" vì trước khi sử dụng, nhạc công dùng cơm nóng nghiền nhuyễn gắn vào mặt trống để điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. 


Thân trống cơm có hình ống, hai đầu hơi múp, được làm từ một khúc gỗ khoét rỗng dài khoảng 56 - 60 cm. Đường kính hai mặt khoảng 15 - 17cm, bịt bằng da trâu hoặc da bò, mặt trầm gọi là "mặt thổ", mặt cao là  "mặt kim". Một hệ thống dây chằng bằng da hoặc mây gọi là dây xạ có tác dụng làm cǎng, trùng hai mặt trống. Là nhạc cụ hòa tấu, được dùng trong nghi lễ phong tục và dàn nhạc chèo, âm thanh trống cơm trầm,  vang, hơi đục.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Không mày đố thầy dạy ai?

“Cheo Leo”, quán cà phê ‘xưa’ nhất Sài Gòn

206180-CheoLeo-02-4(Lò nung đun nước pha chế cà phê vợt)


“Thuở đó cha tui đã tự làm cái lò nung này, từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Chánh giữa lò nung để than lửa lên có ngọn đặng đun nước sôi. Nước sôi già mới đổ vào cái siêu, thứ siêu người ta thường đun thuốc Bắc. Cái siêu này để tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay thiệt nhuyễn trong đó. Ủ kín một lúc, khi cà phê đã ra hết thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung đặng giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.”


Chị Sương mở nắp đậy cái vại sành, đặt nơi không xa lò nung. Chúng tôi nhìn vào khối nước trong trẻo, nghe chị nói:

“Nước phông tên phải để từ 3 ngày trở lên mới dùng đun sôi đặng pha cà phê. Cha tui biểu hồi xưa dùng nước giếng thì khác, lấy nước lên xài được liền. Tới khi nơi này phát triển dân cư, san lấp hết giếng xây dựng nhà cửa, phải dùng nước phông tên có thuốc sát trùng, nên để lắng xuống ít nhứt 3 ngày mới dùng.”


(Nguyễn Đạt)


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Người yêu lý tưởng trọn câu vẹn thề

Rồi Một mai qua cơn mê 

Hai vì sao lạc đi về Bến mơ 

Vắng xa vẫn mãi Đợi chờ 


(Sưu tầm từ VMQH)


Hui nhị tỳ


Các bạn có muốn xem một nhị tỳ tản cư hay không?

Các bạn cứ lên đất thánh Chà. Đất thánh ngày nay là trú xá của nhân viên Sở rác và là cái kho chứa xe của Sở rác.

Ở đây âm đã hoàn toàn suy liệt và cõi âm đã trong sáng những ngôi nhà xinh xắn và những tiếng trẻ vui tươi.

Nhưng dấu vết âm vẫn còn ràng ràng. Một đống đá xanh, tấm nào cũng to gần bằng bộ ván chất cạnh câu lạc bộ giữa sở đất.

Đó là mộ bia nằm, theo lối Âu Châu của những ngôi mộ bị bốc.


Tại sao gọi là đất thánh Chà?

Thật là bí mật. Tôi đã xem kỹ những nấm mộ bia ấy. Tấm nào cũng khắc tên Tây cả, những ông Tây bà đầm đã tới đây trong thời chinh phục. Ngày nay họ tản cư về đâu không biết, ta hui nhị tỳ để thăm họ, họ dời nhà mà không để địa chỉ lại thì thôi vậy. Từ đây âm dương đôi ngã, người chết ôi! Kẻ sống đã quên các người sau khi đọc bài nầy.


(Bình Nguyên Lộc)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Điều gì cũng biết chỉ không biết điều...



Sài Gòn: Hành trình ẩm thực 


tô bò viên 1Những món quà phổ thông nhất của Sài Gòn, theo thời gian đã thay đổi rõ ràng. Lấy thí dụ vài món như bò viên hay gỏi khô bò mà trong suốt quãng đời học sinh, sinh viên ở Sài Gòn không ai không biết. Tôi không sao quên được những chén bò viên dai và thơm phức của một anh Tầu gỏi bò khô 1bán trong cái hẻm nhỏ cạnh trường Taberd trên đường Nguyễn Du vào cuối thập niên 50. Những viên bò nạc và gân nhai sừn sựt đã gây được một ấn tượng mạnh nơi đầu óc non nớt của tôi vào thời kỳ oắt con đó. Điểm vài giọt dầu mè, rắc một chút tiêu và cải bắc thảo, chấm với tương đen, tương đỏ hay ớt xào thì không có gì tê đê mê bằng. 


Lớn hơn vài tuổi, vào những năm đầu thập niên 60, những xe bò viên có đổ xí ngầu hấp dẫn tôi lạ thường. Để dành được bao nhiêu tiền đều mang nộp cho những xe này. Đổ xí ngầu thì được ăn cả, ngã về không. Khi thắng ta tha hồ đớp hít, còn mời mọc bạn bè đến cùng ăn mừng chiến thắng vẻ vang. Thua thì tiu nghỉu, mặt mày ủ dột trong khi nước miếng chảy dài xuống hai bên mép. Ông bán hàng tội nghiệp thằng bé, bèn tặng cho vài viên an ủi, nhai đỡ ghiền. Bò viên thời đó thuần túy chỉ là bò viên với những viên nạc hoặc gân, nhỏ bằng đầu ngón tay cái.


(bút ký Trường Kỳ 2)


Tận thu lòng dạ thế gian - 1

Một dịp năm mới, vua Lê Thánh Tông (1442-1497) ăn mặc giả làm thường dân ra phố chơi để xem xét tình hình dân chúng. 
Đi tới đâu nhà vua cũng thấy la liệt những câu đối ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị . Riêng nhà nọ, chẳng treo đèn, kết hoa mà cũng chẳng  đối liễn gì hết. Vua ghé vào hỏi, chủ nhà trả lời rằng : 
- Chả nói giấu gì bác, nhà cháu làm cái nghề hèn hạ quá, nên chẳng dám phô phang gì với ai cho thêm tủi ! 
Vua ngạc nhiên hỏi : 
- Sao lại có nghề gì là nghề hèn hạ ? 
- Dạ, nhà cháu chỉ chuyên đi hót phân người để bán thôi ạ.


(xem tiếp kỳ tới)


Sài Gòn xưa trước cửa trường Taberd


Bữa nào có tiền thì chơi thêm miếng gan béo ngậy vô nữa là sướng rên mé đìu hiu, nhất là khi nghe tiếng cây kéo trên tay ông lách cách rất điệu nghệ. Nếu chưa đã thì có khi tụi tôi quay sang cái xe bò bía bên cạnh, chơi thêm vài cuốn cho chắc bụng.

Món bò bía cũng của ông ba Tàu, nó đơn giản và rẻ tiền nên mấy ông nhỏ chỉ ăn chơi cho thêm phần thú vị. Nhưng có khi đông không kém, mấy ông đứng chầu rìa quanh cái xe đạp với nồi nước luộc những miếng củ đậu sôi sùng sục. Bàn tay chú thoăn thoắt gắp mấy miếng củ đậu vào cái bánh tráng nhỏ xíu, thêm ít tôm khô và hai miếng lạp xưởng thái mỏng, ít rau xà lách thế là xong. Cuốn ra được cái nào là mấy ông nhóc giành giựt nhau cái đó, cãi nhau chí chóe.


Nếu chán mấy món ăn bên Bưu điện thì xẹt ngang qua con hẻm nhỏ cạnh cổng Bộ Nội Vụ (bót Catinat thời Pháp thuộc) sát bên trường ăn hàng cũng được. Chỗ này có hàng cơm tấm sườn bì chả ăn cũng “nhức nách” lắm. Sáng nào đi ngang cũng bị cái đám khói nướng sườn thơm phức quyến rũ mù mịt bay xộc vào mũi. 


Riêng tôi thì chấm cái gánh bán bánh mì bì, chả lụa của một o miền Nam chuyên mặc áo bà ba và cái quần đen Mỹ A láng mượt. Ổ bánh mì của o vừa dai vừa mềm và có vài chỗ hơi bị cháy, mà bỏ bì rồi cho mỡ hành lá vô hay chả lụa rồi chan nước mắm (o pha nước mắm ngon tuyệt chiêu), thuận tay dích miếng ớt xay xong đưa lên miệng là quên đường về. Tôi còn nhớ mỗi lần ghé vào mua bánh mì là được o tiện tay nựng má tôi một cái, và thường thêm cho một miếng chả lụa hay ít bì heo.


Em nào thèm chua thì sẵn có chiếc ba gác chất một dãy thố đựng các loại ổi, xoài, me, cóc, tầm ruột và những trái cà na, ô quả trám ngâm dấm chua chua ngọt ngọt, cắn một phát nghe giòn tan trong miệng. Món này đắt nhất lúc trưa Thứ bảy hay những buổi trưa tan trường về, vì buổi sáng ai lại đi ăn đồ chua cho nó cào ruột ?


Vào năm 1976 khi trường Taberd đóng cửa thì góc phố ẩm thực này mới giải tán.


(Vũ Văn Chính - Người Đô Thị)


Nhớ Phùng Quán


Nghe Phùng Quán kể lại, lần anh ghé về quê, qua Huế, một bằng hữu mời cả đám bạn bè về ngôi nhà vườn bên bờ Bao Vinh êm ả. Anh muốn trổ tài nấu ốc bung theo kiểu Hà thành. 


Lại chợ búa, ốc bưu, tía tô cùng chuối chát. Sau chầu rượu, anh xắn tay áo ra bếp cạnh bờ nước, chẳng may gặp ngay cụ bà, mẹ người bạn. Cụ thấy chậu ốc ngâm nước gạo trên tay anh, vội giật lấy kêu lên, không được sát sinh, vừa niệm nam mô cụ vừa hất luôn chậu ốc xuống sông. Anh ngẩn người, chẳng dám nói gì, nhăn nhó, dở khóc dở cười.


(Mai Ninh)


Nhà báo Lê Đình Điểu


Anh Lê đình Điểu là một người đa tài : hát hay, làm thơ giỏi. Nhưng làm báo là nghề chính của Anh Điểu.

Hôm nay, tôi hân hạnh giới thiệu tới quí vị đồng môn Chu văn An của tôi: Anh Lê Đình Điểu.

 

I- Thân thế :

1-Sinh ngày 12 thang 11 năm 1939 tại làng Ngọc Hà , ngoại thành Hà Nội.

Nguyên quán : làng Thanh Lãm, huyện Thanh Oai , tỉnh Hà Đông Bác Việt.

Di cư vào Saigon năm 1954. Mất tại Cali - Mỹ ngày 24 tháng 5 năm 1999.

 

II-Học vấn :

1-1957-1960 : học sinh Trung Học Chu văn An Saigon

2-1964  : Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Saigon- Cử nhân Văn khoa Anh văn.

Giáo sư trung Học Ba Xuyên.

3-1967 : Tốt nghiệp Khóa Báo Chí tại Viện Báo chí Quốc tế Kuala Lumpur Mã Lai

4-1968  : Tu nghiệp Khoa báo chí tại Mỹ.

5-1969  : SVSQ Trừ bị Thủ Đức .

 

II- Các chức vụ đã đảm nhận

1-Trưởng ban Báo Chí & văn nghệ Trung học Chu văn An 1958.

2- Phó chủ tịch Tổng hội Sinh Viên Quốc Gia 1964

3-Điều hành Chương trình sinh viên & thanh niên học đường thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục 

(Tổng trưởng Trần ngọc Ninh MD). 

4-Quyền Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Nội Bộ Thông Tin- Dân vận Chiêu hồi- 1972

 

III- Tình trạng sau 30-4-1975.

1-Tù cải tạo : 1975-1981 : 

Trảng Lớn, Xuân Lộc, Bù Gia Mập, Bù Loi và Hàm Tân.

2- Qua Pháp 1983

3- Qua Mỹ 1985.

4- Tổng giám đốc Công ty báo Người Việt Cali 1986.

5-Chủ nhiệm tập san Thế Kỷ 21 :1991

 

(Nguyễn Đức An)


***


Phụ đính I


Vào hè nói dóc chuyện La ve (La de)


Chàng Chánh sở biết thân, im miệng thin thích, ngậm miệng ăn tiền, phải bảo vệ danh dự anh họa sĩ nhà và danh phong Marketing, dù sao cũng.. .quê rồi. Nhưng không ai lường được cái tài doanh nhơn của người Hoa, của con buôn. Các chú Chệt nhà mình ở hãng, rất nhiều nhơn viên người Việt gốc Hoa, buôn bán ở Sàigòn phải biết «cỏn Tung Hỏa », chẳng những biết nói « (Quảng) Đông Ngữ » mà cũng phải vài tiếng Tiều châu ngữ nữa cũng phải «  Kít tèo » hay « Mai xín xắn bù chằn ếch » cho giống người ta, nói tóm lại con buôn giới thương mại phần đông là người gốc Hoa nếu không nói là một số rất đông. Thế là tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn gần, Hãng La De vừa sản xuất được một thứ La De hảo hạng, La De trái thơm, một thùng chỉ một chai, để tặng các bạn hàng thứ thiệt, thứ ngon lành.


Cái luật may rủi, tình cờ, thì khi ra chai và vào thùng thì bao giờ Trái thơm cũng có mặt ở mỗi ngày sản xuất, mấy tay cao thủ bán hàng của hãng cứ thế mà sắp cho mỗi thùng một chai, rất là điệu nghệ, và tuyên truyền nguyên tắc của hãng mỗi thùng một chai. Nhưng khi đi giao hàng ( bán sỉ) quý vị ấy tự nhiên đề nghị với các bạn hàng biết điệu nghệ thì có thể thêm 2 hoặc 3, thậm chí cả thùng toàn La De trái thơm tùy theo nét điệu nghệ và chịu chơi của thân chủ, « phép Vua thua lệ làng » mà lỵ, phép hãng đấy, nhưng thua nghề của chàng. Và cứ thế giòng sông thương mại trôi theo giòng điệu nghệ, ăn nhậu.


(Phan Văn Song)


***


Phụ đính II


Chữ nghĩa làng văn


Nhà thơ Hữu Loan, lần gặp mặt - 1

Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. 


Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Xem thực đơn, ông nói: “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”. Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!

Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. Ông nói: “Sài Gòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sài Gòn, nhà Hát Tây, khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng. Ông nói: “Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”.

(Cung Tích Biền)


Chữ nghĩa làng văn


Nhà thơ Hữu Loan, lần gặp mặt - 2

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”. Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trử tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi  năm bị chế độ cấm hát trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.
Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. 


Bia - Huu Loan - LUU 1Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt. Từ rất lâu, ông không có khăn tay. Nghe rằng lúc đẽo đá, những khi lao động cực nhọc, ông chỉ có một tấm áo cũ, rách không còn dùng  được nữa, giờ dùng làm tấm khăn quàng vai, để lau “cái suối mồ hôi thân mình”.

(Cung Tích Biền)