26 thg 8, 2026

Tiểu Lục Thần Phong: NGÀY NÀO CHO MÁ


                                  Ảnh (Nguồn: tramtue.vn)

Tháng bảy lại về, không khí mùa Vu Lan man mác trong tâm hồn. Những người con Phật nao nao về chùa mừng hội hiếu. Người không tôn giáo cũng bâng khuâng vì mùa hiếu. Vu Lan là truyền thống lâu đời của người Việt. Hiếu và lễ hội Vu Lan đã ăn sâu vào tâm thức người Việt. Tâm hiếu là tâm người không cứ là Phật tử mới hiếu. Tâm hiếu là tâm nhân loại, không người nào là không thương yêu cha mẹ, tuy nhiên cung cách và mức độ có khác nhau. Ngay cả những người tôn thờ chủ nghĩa vô thần cũng biết hiếu (trừ những giai đoạn cách mạng văn hóa hay cải cách ruộng đất....)

 Nói vô thần là ngày xưa chứ bây giờ thì chính những người vô thần ấy lại là những kẻ mê tín, cuồng tín nhất. Họ tung cả túi tiền khổng lồ để hầu đồng, đi lễ khắp các dinh, phủ, miếu, đền…hòng mua chuộc sự cứu rỗi của thánh thần.

Không biết tự bao giờ, Vu Lan đã trở thành hiếu lễ ở Việt Nam, chỉ biết là do điển tích Phật giáo cộng với văn hóa Việt, tâm thức Việt mà hình thành nên. Ở đây tạm gác qua những sự khác biệt của các dòng truyền thừa Phật giáo, không bàn quan điểm Bắc truyền hay Nam truyền. Chúng ta chỉ nhìn đến cái yếu tố tích cực, cái đẹp, điểm nhân văn của hiếu hội Vu Lan.

Hiếu nào chỉ một ngày hay một mùa lễ, hiếu là cả tháng năm dài, là cả đời và nhiều đời. Phép viết chữ Hán rất hay và ý nghĩa sâu sắc. Chữ hiếu gồm chữ lão ở trên và chữ tử ở dưới, ý muốn nói đời trước còn có đời trước nữa, đời sau còn có đời sau nữa, tổ tiên ông bà, cha mẹ và con cháu nối dòng không dứt. Làm người ai cũng có ông bà cha mẹ và con cháu. Làm người phải biết hiếu kính bậc trên, yêu thương người dưới mới có thể thành người. Người mà không có hiếu, không biết hiếu, chỉ có xác thân vật chất thì sự sống ấy có khác gì cầm thú chim muông. Ngay cả loài vật cũng có nhiều con vật còn có tánh linh nên hành xử tỏ ra hiếu đễ như người. Những điển tích chim anh vũ đi tìm mồi về nuôi cha mẹ bị mù. Dê con trước khi bú sữa thì quỳ trước mẹ (quỵ nhũ chi ân). Ngựa con vô tình giao phối phải ngựa mẹ thì bỏ ăn tự sát…Đọc kinh sách Phật hay Nho giáo cũng đều có rất nhiều những chuyện hiếu thảo của người và vật.

Người Việt là những cư dân nông nghiệp, ngàn đời quây quần trong dòng tộc, xóm làng, ruộng đồng. Sự gắn bó giữa con người và giữa các thế hệ rất chặt chẽ, sâu đậm. Chữ hiếu của người Việt cũng rất sâu, khi nói về cha mẹ thì nghĩ tưởng công ơn bằng những hình tượng to lớn kỳ vĩ như núi non, biển cả và cũng đề ra cách hành xử rất rõ ràng

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Hoặc là:

Con người có tổ có tông

Như cây có cội như sông có nguồn

Rất hiện thực, rất chí tình, mình không phải từ trời rơi xuống hay từ đất nẻ trồi lên. Mình từ trong bụng mẹ mà ra. Không có ông bà cha mẹ thì làm sao có mình? Công ơn cha mẹ chắc không cần phải nói nữa, ai ai cũng biết rồi, chỉ có điều là đền  đáp như thế nào thôi! có thể nói rằng không thể nào đền đáp đủ công ơn cha mẹ. Núi Thái kia lớn lắm, nước trong nguồn mát trong và không bao giờ cạn, lòng mẹ “như biển Thái Bình”…thì con làm sao báo đáp cho đủ đầy được!

Người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn minh Trung Hoa, bởi vậy nhiều trường hợp hiếu theo kiểu Nho giáo như: Cung bái cha mẹ trong lễ cưới hỏi, thượng thọ, tang chế…nhưng đó là hình tướng, hình tướng nghi thức không quan trọng, nhiều khi chỉ làm màu vì sợ tiếng đời. Quan trọng của hiếu để là phụng dưỡng cha mẹ, làm cho cha mẹ an vui, làm sao cho cha mẹ hướng về việc phước thiện…Bởi vì con người ta không chỉ có một đời này. Tích đức làm thiện là cách tạo tư lương cho thời gian sắp tới, cho những kiếp luân hồi mai sau. Con người ta khi sống thì chung đụng và có thể san sẻ cho nhau, nâng đỡ nhau, còn một khi cách ấm thì “độc sanh độc tử độc khứ độc lai”. Lúc bấy giờ chẳng ai giúp ai được, chỉ có những thiện nghiệp của bản thân mới có thể giúp cho mình. Ông bà, cha mẹ, con cái thương nhau ra rít nhưng khi hết số chẳng ai cứu được ai, phước ai nấy hưởng, nghiệp ai nấy gánh, người thân chỉ có thể làm việc phước thiện và hồi hướng công đức mà thôi! Việc hồi hướng là phụ và rất hạn chế dù con cháu hết lòng hiếu thảo. Vì vậy thương cha mẹ thì nhất định phải giúp cha mẹ hướng về việc phước thiện, tích đức!

Những năm gần đây, văn hóa phương Tây lan tỏa mạnh nhờ vào các mạng xã hội. Giới trẻ nhanh chóng tiếp thu những nét mới như: Tổ chức lễ sinh nhật, lễ tình nhân, lễ Halloween, lễ mẹ, lễ cha…Tuy  nhiên có nhiều điều cần phải nói là sự tiếp thu và bắt chước một cách thiếu hiểu biết, thiếu cái nền văn hóa cơ bản. Có những bà mẹ quê mùa lam lũ, cả đời vất vả mưu sinh, giờ con cháu bắt ôm bó hoa hồng tướng mừng sinh nhật, mừng lễ mẹ…để chụp hình đăng mạng xã hội. Rồi còn nói toàn những lời khách sáo, bóng bẩy chẳng ăn nhập với bà mẹ của mình. Thật tội cho những bà mẹ bị đem ra “diễn”, cái cung cách “phù diễn tắc trách” những tưởng vậy là hiếu, là theo văn minh hiện đại nhưng thật sự là đem mẹ ra làm trò cười. Rất nhiều những trường hợp như thế, đầy trên mạng xã hội, nó vừa kệch cỡm, rởm đời, rất thô…Nó chẳng cho thấy hiếu đễ chi cả, chỉ là sự bắt chước, sự khoe khoang thiếu hiểu biết.

Người phương Tây đặt nặng vấn đề tự do cá nhân. Người phương Tây sống trong nền văn hóa phát triển cao, văn minh công nghiệp tân tiến nên phong cách rất khác với văn minh nông nghiệp lúa nước của mình. Mình tiếp thu cần có chọn lọc, có cải biên cho phù hợp chứ cứ nhắm mắt bắt chước rập khuôn thì rất kệch cỡm. Những bà mẹ Việt phần lớn đều từ nông thôn, cả đời lam lũ nâu sồng, vất vả mưu sinh…giờ tự dưng cầm dao cắt bánh sinh nhật, thổi nến, ôm bó hoa hồng lộng lẫy, mở hộp quà… rất thô kệch, nặng hình thức, trông phản cảm và lố bịch lắm.

Người Âu – Mỹ họ có những ngày lễ rất thiết thực trong đời sống, rất nhân văn, sâu sắc ý nghĩa. Chẳng hạn như: Ngày lễ mẹ, ngày lễ cha, ngày lễ tình nhân…Còn xứ mình đầy những ngày lễ chiến thắng, tấn công hoặc sự kiện nào đó của mấy ông kẹ bà chằng…May thay Phật giáo đã đem lại cho chúng ta một ngày lễ đầy ý nghĩa, rất nhân văn ấy chính là lễ Vu Lan vậy. Có thể xem lễ Vu Lan như ngày hội hiếu, ngày lễ mẹ, lễ cha, lễ ông bà…vì ngày lễ Vu Lan đâu chỉ riêng cho mẹ mà còn mở rộng đến cửu huyền thất tổ. Đó cũng chính là đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam.

Mỗi người trên thế gian này tuy khác nhau về ngôn ngữ, tiếng nói nhưng đều có chung tiếng gọi đầu đời: Má, mama, mamma, maman, mom, mother…Người việt còn phong phú hơn: Má, mẹ, mẫu, mợ, me, bầm, bu, vú…Tiếng nói và ngôn từ khác nhau nhưng đều chỉ chung cho người mang nặng đẻ đau, người vất vả nuôi ta ăn học từ sơ sinh đến lúc trưởng thanh, người quan hoài theo dõi từng bước đường đời mà ta đi qua…

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con đi trường học mẹ thi trường đời

 Đời này không có mẹ thì không có ta. Những bước đường đời của ta cũng nhờ mẹ cha lót đường, mẹ dắt đi từ khi còn tấm bé cho đến ngày hôm nay. Những thành công hay cuộc sống bình thường của ta cũng nhờ mồ hôi và nước mắt của mẹ. Với người mẹ thì những đứa con có thành công hay thất bại, trí hay ngu, thanh hay trọc…cũng đều là những đứa con yêu mà bà mang nặng đẻ đau.

Những bà mẹ Việt suốt chiều dài lịch sử chịu bao nhiêu khổ nạn thương đau. Chiến tranh giặc giã liên miên, hết tiễn cha, chồng rồi lại tiễn con, cháu ra trận hết lượt này đến lượt khác. Những bà mẹ bồng bế con cái chạy giặc không ngớt. Hai trăm năm Trịnh – Nguyễn Phân tranh. Hai mươi mốt năm nội chiến con ta giết con ta. Cải cách ruộng đất con ta giết cả ta. Ngay cả bây giờ cũng thế, những đứa con tranh danh đoạt lợi truy sát tru diệt lẫn nhau. Những đứa con tàn nhẫn triệt đường sống, bách hại những đứa con khác dám lên tiếng vì tự do – dân chủ – nhân quyền. Mẹ Việt Nam ơi! Kiếp nạn này bao giờ mới hết? những đứa con của mẹ Việt Nam không biết thương nhau thì làm sao biết thương người!

Ngày lễ Vu Lan, cửu huyên thất tổ, ông bà quá vãng có siêu sanh hay không cũng nhờ một phần ở sự thương nhau của những đứa con. Những đứa con còn truy sát tru diệt thì có cầu chi cũng vô ích. Những bà mẹ Việt còn khổ đau, còn vất vả mưu sinh, còn đứt ruột vì những đứa con không biết thương nhau thì có ôm bó hoa hồng kiêu sa hay cắt cái bánh sinh nhật sang cả cũng chẳng phải là hiếu đễ. Màu mè để huyễn hoặc mình, dối người, lòe đời hay khoe khoang trên mạng xã hội không thể đánh đồng với hiếu đễ được!

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0826

25 thg 8, 2026

Chị Người Con Gái Trời Định Phận- Thuyên Huy

Chị Người Con Gái Trời Định Phận



Chị, người con lớn của ba cô con gái trong nhà, nhà có cái tiệm bán hủ tiếu và cà phê pha vợt vải duy nhất ở chợ xã, cái xã không quá nghèo, chừng như ai cũng đủ ăn đủ mặc, năm sáu nhà tạm gọi khá giả, chợ xã có hai dãy phố hai bên, chợ cất chính giữa, mái tôn, cột, nền bằng xi măng cao ráo tuy nhiên nhà lồng chợ không tường che, xa chợ nhà dân cất dọc theo bên này sát đường lộ, bên kia ngó qua là rừng cao su hun hút sâu của người Pháp.

Chị tuổi chừng hơn mười tám mười chín. Chị đẹp nhất trong ba chị em, đều đi học trường tiểu học sau lưng chợ, lên tới lớp Nhất, chị thi rớt đệ Thất trường trung học quận, chị bỏ học, ở nhà phụ bán tiệm.

*
Chị đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ, dạ thưa, từ tốn, vui vẻ nên người ở chợ ở xã đều mến, lớn nhỏ ai chọc ghẹo gì chị cũng cười trừ. Xã có ông sư già, trụ trì cái chùa nhỏ nghèo cũ kỹ cuối ấp chợ, sát bờ sông, ở đó dân trong làng thường tới cúng quảy. Có lần coi tuổi coi tay cho mấy chị em nói chị có số “sát chồng” nhưng ai nấy nghe rồi cười cười, không mấy gì tin vì ông Sư vừa cười vừa nói.

*
Một ngày đầu Hạ, chợ xã rộn rịp, pháo đỏ rượu hồng, mừng đám cưới chị và người sĩ quan, đại đội phó Địa Phương Quân đóng trên đồn lớn, đầu xã ngay ngã ba rẻ ngang rừng cao su đi Cầu Khởi.

Cuối Thu, sau ngày cưới chừng nửa năm, không may, chồng chị tử trận, một đêm mưa dầm lớn khi quân du kích từ mật khu nào đó kéo qua, tấn công đồn ác liệt. Người ta đưa xác chồng chị về chôn ở quê nhà miền tây sông nước. Cả chợ cả xã, ai nấy đều bùi ngùi thương xót cho tình cảnh chị, tiệm đóng cửa mấy ngày, ít khi thấy chị ra ngoài từ đó.

*
Hơn một năm sau, chị vào làm cô đỡ hương thôn cho bệnh xá xã, sau khi học xong khóa huấn luyện dưới quận, vừa làm vừa phụ nhà bán buôn. Tiệm hủ tiếu vẫn đông khách, chị vẫn vui cười không khác gì ngày trước.

Không lâu chị bước thêm bước nữa, lập gia đình với một anh giáo viên lớp Ba trường tiểu học nhà, không phải đi xa, không phải làm dâu. Chợ xã một lần nữa nghe tiếng pháo, rình rang chung vui chúc mừng.

Chiến tranh ngày càng lớn dần, dân xã ấp biết thấp thõm lo thấp thõm sợ hơn trước, một ngày hơn một năm sau, qua Tết, trên đường về thăm nhà dưới Suối Cụt trở lên trường, cũng không may chuyến xe đò sớm cán trúng mìn của quân du kích gài ban đêm trong mấy cái mô đất chặn đường, nổ tung, người đi vừa chết vừa bị thương hơn một chục, có anh giáo viên, chồng chị trong số những người chết đó. Một lần nữa, tuổi xuân chưa quá, lần thứ hai chị chịu thêm cái tang chồng.

*
Người ở chợ, bây giờ mới nhớ tới lời ông sư già ở cái chùa nghèo ngày trước về hai chữ “sát chồng”, họ chưng hửng bảo nhau “chẳng lẽ”, lúc này thì không còn ông sư già nữa, chùa quạnh quẽ khói nhang chuông mỏ, bải đất cỏ quanh chùa, chạy dài tận bờ sông giờ là nơi người dân trong làng thả trâu bò ăn cỏ, ông đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.

Bẳng đi một dạo, vắng chị, tiệm vẫn mở cửa, cũng sáng tới chiều nhưng không thấy chị ra vào nữa. Hai cô em cũng đã lớn, không ai nhắc tới chị.

*
Bốn năm sau, có người ni cô còn trẻ, khăn áo nâu sồng từ xa đâu đó, về chợ xã mừng đám cưới em mình, cô con gái kế của chú thiếm tiệm hủ tiếu. Bà con tại bữa tiệc và chung quanh chợ xã hôm đó, nhận ra, mà buồn, có người muốn khóc, người ni cô kia là chị.

Thuyên Huy

Viết mượn một phần tình tiết thật của một đời người.

Posted by 304Denat 3:59 PM


MỜI XEM ;💗💗💗💗💗💗

Quán 'Lá Thu" - Nguyễn Phan Hách


Quán "Lá Thu"




Cũng lâu mới có dịp trở lại Hà Nội. Cuối thu. Ban đêm đi dọc hàng cây sữa, thấy mùi hương sực nức. Cuối phố này tôi có một địa chỉ quen...

Mấy chục năm xưa, tôi là chú bé nhà quê ra thành phố vừa học vừa kiếm việc làm. Một buổi tối gió bấc đầu mùa, tôi co ro đi lang thang trong mùi hoa sữa. Những hàng ngô nướng đêm sáng lập loè. Gió vi vút mùi cà phê ở đâu toả ra ngoài ngào ngạt. Ngẩng lên, thấy tấm biển "Lá thu cà phê" rọi đèn mờ ấm cúng. Nhẩm tính trong túi còn đủ 5 hào, tôi quyết định bước vào.

Quán nhỏ. Bàn ghế bằng trúc vàng sơ sài. Nhưng giật mình thấy trên vách treo mấy bức sơn dầu của một hoạ sĩ tài hoa tôi hằng ngưỡng mộ mà chưa biết mặt.

- Bác sao có những thứ này - Tôi hỏi chủ quán.

- Cậu cũng thích tranh à - Chủ quán, một người vẻ nho nhã, tóc hoa râm, mỉm cười.

Tôi ngồi vừa ngắm tranh, vừa rung đùi tận hưởng từng ngụm cà phê thơm ngon. Phải công nhận cà phê của ông tuyệt thật. Vào thời kỳ đó, hình như cả thành phố chỉ có vài quán cà phê thì phải.

Đang lim dim mơ màng để khói cà phê phả mờ trên mặt, thì chợt thấy một người vừa bước vào. Chủ quán và ông khẽ gật đầu chào nhau, vẻ quen thân từ lâu. Ông người dỏng cao, gương mặt buồn đẹp, xanh xao. Ngón tay thanh tú trắng muốt nâng ly cà phê, mắt trầm ngâm ông nhìn những chiếc lá vàng bị gió bứt ào ào rơi ngoài cửa sổ. Uống xong, đứng dậy, lặng lẽ đi ra. Không thấy trả tiền.

Chủ quán nháy tôi.

- Cậu biết ai đấy không? Tác giả của những bức tranh kia đấy đấy!

Trời, tôi thảng thốt. Không ngờ vừa gặp được thần tượng của mình. Bất giác nhìn lên, một giây khắc như cảm nhận được tất cả sự huyền bí diệu kỳ của những bức tranh trên vách, mà lúc khác chắc không thể biết được.

- Những bức tranh tuyệt đẹp này - Chủ quán nói - là tặng phẩm của ông ta cho tôi, để trả ơn những tách cà phê thơm ngon mà tôi đã đãi ông suốt bao năm qua...

Lòng tôi rưng rưng. Vụt nhớ giai thoại Van Gốc vẽ lên gỗ mặt bàn quán trọ để trả nợ.

- Hay có thể nói ngược lại - Giọng chủ quán thầm thì - Những tách cà phê thơm ngon trong những giây phút gió bấc đầu mùa như đêm nay, cùng sự cung kính đối với nghệ thuật của tôi, là để trả ơn những bức tranh tuyệt tác...

Từ hôm ấy, tôi thường trở lại quán cà phê Lá thu mỗi khi trong túi tích cóp đủ 5 hào. Và tôi thường được ngắm nhìn người hoạ sĩ tài hoa trong khoảnh khắc ngắn ngủi của một ly cà phê bốc khói.

Thoắt cái, mà những ngày ấy đã trở thành dĩ vãng xa xôi...

... Tôi hồi hộp dừng lại nơi cây sữa cuối cùng của dãy phố. Quán cà phê Lá Thu nhỏ bé, mái ngói rêu mốc đầy lá vàng ngày xưa không còn. Thay vào đấy là một quán bốn tầng sáng choang gương kính và ánh điện màu. Nhưng được cái là vẫn mang tên "Lá Thu cà phê".

Tôi bước vào. Một mình một bàn. Một cô tiếp viên có đôi chân trần trắng muốt mũm mĩm mang chai rượu đắt tiền đến. Tôi hỏi tên người chủ quán cà phê ngày xưa. Cô dẫn tôi lên lầu. Một căn phòng nội thất phương Đông cổ. Cô dẫn tôi lên lầu. Một ông già râu tóc bạc đang ngồi uống trà bên giò lan tím cạnh song cửa. Đôi mắt sau tròng kính chớp chớp, ông nhận ra tôi, vồ vập thân tình.

- Những bức tranh ngày xưa còn không, thưa ông - Tôi nhìn suốt lượt bức tường.

- Không... Ông lắc đầu.

- Chúng đâu rồi?

- Chúng đã biến thành toà nhà nhiều gương kính này.

- Ông có nghĩ thế là với sự biến đổi, ông đã gặp thời, gặp vận, may mắn không?

- Không hẳn thế.

Ông già đưa tôi chén trà ngâu thơm ngát. Tôi bâng khuâng chạnh nhớ mùi cà phê trong cái quán nghèo thuở nào.

- Người hoạ sĩ tài hoa xưa còn đến đây?

- Không. Ông ấy đã mất trước khi được thấy tranh của mình bán được nhiều tiền...

Đêm ấy uống hết nửa chai rượu do cô tiếp viên xinh đẹp nâng tận môi, tôi loạng choạng đứng dậy ra về.
Ông chủ quán tiễn ra cửa, cầm tay hỏi:
- Tôi nghĩ là cậu buồn, và có giận tôi không?
Tôi mơ hồ lắc đầu:
- Không hẳn thế!.

Nguyễn Phan Hách

Nguyễn Phan Hách 1944–2019 là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam.

24 thg 8, 2026

Chờ Người Dưới Mộ Sâu - Thuyên Huy

 


MỜI XEM ;



THẦY GIÁO VÙNG CAO Nguyễn Trần Vỹ


Chứng kiến học sinh vùng cao thiếu thốn từ lớp học đến bữa ăn, thầy Nguyễn Trần Vỹ đã dành 26 năm bám bản, tìm cách cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em nơi đây.

Trong những năm cắm bản, thầy nhiều lần chứng kiến người dân dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành phần gạo ít ỏi để nuôi giáo viên. Từ việc xin sách vở, quần áo và đồ dùng học tập, thầy dần kết nối với các nhóm thiện nguyện và nhà tài trợ. Thầy vận động mọi người chuyển từ những phần quà ngắn hạn sang xây dựng trường học, khu bán trú và các công trình thiết yếu. Đồng thời, thầy huy động người dân địa phương cùng tham gia để giảm chi phí và tăng tính khả thi cho các công trình nằm sâu trong núi.
Sau 26 năm, thầy Vỹ cùng cộng sự đã kết nối xây dựng hơn 40 phòng học kiên cố tại 20 điểm trường, 4 khu bán trú cùng nhiều công trình dân sinh. Người dân địa phương gọi thầy là “Vỹ khùng”, bởi giữa những khó khăn và đường núi cách trở, thầy vẫn kiên trì với công việc đã chọn.

(Theo VNE)

 #chuyentute #thaygiao #vungcao

23 thg 8, 2026

PHẬN BUỒN - Thơ Huỳnh Ngọc Thuận

 Các bạn mình ơi , hôm nay là ngày 20/8/2026 ( mùng 8 ÂL ) , chỉ cò vài ngày nữa là đến ngày Răm tháng bảy (15/7 ÂL) , vào Mùa Lễ Vu Lan , ngày “ Bông Hồng Cài Áo “. Ai còn Mẹ thì cài hoa Hồng đỏ , còn Ai mất Mej thì cài hoa Hồngtrắng .

Thế nên Thuận mất Mẹ từ lúc mới chào đời được 10 ngày tuổi , nên cả đời Thuận chỉ được cài hoa Hồng trắng , Thuận thấy thương quá đi !!!
Thế nên , vào ngày Lễ Vu Lan , Thuận buồn cho Phần Số mình nên viết bài thơ :
PHẬN BUỒN
Khi xưa còn bé , em Vui
Bên Ông Bà Nội thương nuôi , cưng chìu
Đến khi khôn lớn hiểu nhiều
Biết thân côi cút trăm chiều khổ đau
Phận buồn cam chịu biết sao !!!
Lọt lòng mất Mẹ đớn đau “ Cả Đời “
Từ đây em vắng muôn lời
Một mình , lặng lẽ , buồn rơi giọt sầu
Ngắm nhìn ảnh Mẹ , tủi sầu
Cầu xin Con được “ Phép Mầu Trời Ban “
Mẹ hiền bên cạnh hỏi han
Vuốt ve , Âu yếm , Muôn vàn dấu yêu
Thương Thân , phần số hẩm hiu
Rưng rưng khoé mắt , buồn thiu cỏi lòng
Ước gì cài được đóa Hồng
Cánh Hồng đỏ thắm cho lòng Sướng Vui
Đau buồn số phận “ Mình Xui “
Cài hoa trắng mãi Bùi ngùi tủi thân
Cài hoa lòng thấy lâng lâng
Chút buồn , chút tủi ,bâng khuâng lệ sầu
Nén hương Đảnh Lễ Nguyện Cầu
Cầu cho Con được “ Phước Mầu Trời Ban”
Hằng đêm Con Mãi Vái Van
“ Cho Đời Con Được Muôn Vàn Phước Ơn “
Huỳnh Ngọc Thuận
Kỷ niệm Mùa Lễ Vu Lan
15/7 ÂL 2026

BÀ QUẠI (NGOẠI ) - FB.Trúc Đinh

 

BÀ QUẠI (NGOẠI)…!

Người dân xưa xứ Nam Kỳ cứ thấy bà già tóc bạc lớn tuổi cỡ ông bà mình, dù không quen biết thì khi nói chuyện cứ gọi “Bà Quại”…! Chớ ít khi nào kêu là bà Nội…? Bởi gọi "Bà Quại" nghe nó gần gũi thân thương hơn, vì bà Ngoại lúc nào cũng dang tay đón nhận đứa cháu của mình, cho dù nó là đứa con mà cha nó không ai nhìn nhận…! Cháu ngoại thì chắc chắn là con của con gái, là cháu ruột mình…!
Con gái khi lỡ có “mang” hoang sanh con, cũng về Ngoại. Bà Ngoại thương con gái thì cũng thương cháu vì đó là núm ruột của bà. Con gái khi sa cơ, bị phụ tình, khó khăn… bà cũng sẵn sàng cưu mang…! Bà Ngoại là người dành cả một đời gánh vác hai lần làm mẹ: Lần thứ nhất cho con và Lần thứ hai cho cháu…! Bà nuôi mẹ khôn lớn thành người, rồi lại còng lưng nuôi cháu. Một đời làm mẹ chưa kịp nghỉ ngơi, bà lại bắt đầu một đời làm bà, chưa từng than, chưa từng mệt, chỉ sợ… mình lỡ mất đi thì con và cháu không còn chỗ để về…!
*Trong vở kịch “Lá Sầu Riêng”, cảnh Bà Bảy Nam là má ruột của cô Kim Cương lên nhà sui thăm con và cháu ngoại, thấy con gái bị đánh u đầu, bà khóc, vén áo bà ba lấy dầu xức cho con. Con gái sợ bà Hội Đồng về gặp rồi nói xiên xỏ khinh thường nên nói bà về quê. Bà thương con, khóc và hờn mát:
-Tui lên thăm nó..! Nó đuổi tui về…!
Cả hai cùng khóc..!
Nếu mẹ dạy ta cách đứng lên, thì bà dạy ta cách đứng vững. Nếu mẹ cho ta hình hài, thì bà cho ta ký ức…! Lòng thương con và cháu thật vô bờ bến của bà Ngoại là như thế đó..