20 thg 5, 2026

Trang Thơ Hathuthuy : CUỐI THÁNG 3 RỒI , HỒN THƠ AN VÀO NƯỚC, KHÚC HẠ CA Ở BIẾN



CUỐI THÁNG 3 RỒI...

Có một ngày như vậy
Để thấy đời vui hơn
Để nhìn gió lay cây
Nhìn nắng vàng ngoài cửa
Nhắc lại chuyện ngày xưa
Để quên tuổi đã già
Để thấy mình vẫn trẻ
Quanh tình bạn nồng nàn.
hathuthuy

HỒN THƠ TAN VÀO NƯỚC

Người thả thơ lên trời
Tôi cho thơ xuống nước
Trôi theo dòng chơi vơi
Sông lớn ròng xuôi ngược.
Thơ xanh ngời ban mai
Sóng vỗ về yêu dấu
Nồng ấm dòng Đồng Nai
Ôm giữ hương tình đầu.
Thơ rực vàng nắng lụa
Đôi bờ gió lao xao
Đưa ngọt ngào hương lúa
Hồn thơ thêm ngọt ngào.
Thơ tím theo Lục Bình
Nhuộm hoàng hôn lênh đênh
Mang mang hồn cổ tích
Đọng nốt trầm buồn tênh.
Thơ đẫm ướt dòng trăng
Nồng nàn hương Nguyệt Quế
Đêm lành lạnh sương giăng
Thơ chung thủy hẹn thề.
Thơ thức cùng sao Mai
Đợi bình minh rạng rỡ
Mượn Thuyền nhỏ bờ vai
Tựa đầu nghiêng dáng Cỏ.
hathuthuy

KHÚC HẠ CA Ở BIẾN
Sóng gió đệm đàn cho biển hát
Khúc hạ ca ấm áp nắng vàng
Giọt dịu dàng trầm lan vào cát
Ru êm êm ghềnh đá nồng nàn.
Giọt râm ran gửi tàng phượng vỹ
Triệu nến hồng rực rỡ lập lòe
Giọt thì thầm ngàn năm bền bĩ
Giúp dã tràng kiên nhẫn xây nhà.
Giọt nâng niu chảy vào tóc lá
Hàng dừa xanh nghiêng dáng đợi chờ
Giọt yên lành hoà vào biển cả
Đàn hải âu đón gió chiều tà.
Giọt yêu thương lặng vào đá núi
Chờ khói mây viễn xứ tìm về
Giọt nhớ nhung tựa lời an ủi
Gửi mây trời dong ruổi sơn khê.

hathuthuy

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “TIẾN SĨ” (BÀI 2) - Nguyễn Sơn Hùng (DIỂN D(ÀN KHI PHÒNg )

 QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI Ý NGHĨA CỦA TỪ “TIẾN SĨ” Ở TRUNG QUỐC

Nguyễn Sơn Hùng

Lời mở đầu

Khi biên dịch Luận Ngữ Trưng của Ogyu Sorai người viết tình cờ biết được từ tiến sĩ xuất hiện trong thiên 5 Vương Chế của sách Lễ Ký và đoán đây có thể là tài liệu xưa nhất dùng từ này. Để xác nhận ý tưởng này người viết đã ra thư viện gần nhà tra Đại Hán Hòa Từ Điển do Morohashi Tetsuji 諸橋轍次(1883~1982) biên soạn và công tyTaishukan Shoten xuất bản. Một trong nhiều đặc sắc của từ điển này là thường trích dẫn những tài liệu đầu tiên dùng từ đang giải nghĩa hoặc ít nhất cũng trong thời kỳ đầu mà từ xuất hiện trên văn tự.

Từ điển trên quả không phụ lòng tin tưởng của người viết đã ghi chép rất chi tiết và có lẽ gần đầy đủ lịch sử của từ tiến sĩtrong các tài liệu văn tự quan trọng. Để giải thích từ tiến sĩ, từ điển đã chia làm 4 nhóm. Nhóm đầu tiên là nội dung ý nghĩa của tiến sĩ trong thiên 5 Vương Chế sách Lễ Ký. Soạn giả còn cho biết thêm đây là nội dung của thời nhà Chu. Người viết không biết soạn giả căn cứ vào tài liệu nào để biết là thời Chu, có lẽ căn cứ vào sách Chu Lễ chăng. Nhóm 2 giới thiệu nội dung thicủakhoa tiến sĩ và tên gọi dành cho những người thi đậu ở đời Tùy,rồi đời Đường, sau đó đời Tống. Nhóm 3 giới thiệu nội dung từ tiến sĩ từ đời Minh về sau. Nhóm 4 giới thiệu ý nghĩa tổng quát của tiến sĩ tiến cử người (người có học để ra phục vụ xã hội hoặc làm quan).

Dưới đây người viết cố gắng biên dịch hết nội dung giải thích của từ điển trên để quý độc giả thấy được phần nào những điểm độc đáo của từ điển này, mặc dù biên dịch phần trích dẫn Hán văn rất khó đối với khả năng hiện có của người viết mong được tha thứ nếu có sai sót.

Trong nội dung biên dịch người viết cố ý ghi thêm chữ Hán để quý độc giả có thể biết các từ Hán ngày xưa được dùng khác với ngày nay như thế nào. Người viết cũng ghi chép lại nguyên văn chữ Hán của các tài liệu trích dẫn để khi quý độc giả khi nghi ngờ biên dịch không đúng có thể kiểm tra và tu sửa lại cho đúng.

Nội dung giải nghĩa của Đại Hán Hòa Từ Điển

Nhóm 1

Vào thời nhà Chu, Đại Nhạc Chính chọn lựa người giỏi (tú giả) trong các tạo sĩ để báo cáo lên vua, với mục đích tiến cử (thăng) những người này làm quan tư mã, (việc làm này) gọi là tiến sĩ.

Nguồn

1) Thiên 5 Vương Chế sáchLễ Ký:

大楽正論造士之秀者、以告于王而升諸司馬、曰進士。(Nội dung như trên nên không dịch lại.)

〔注)進士、可進受爵祿」

Tạm dịch: (Chú giải)Tiến sĩ được đứng ra nhận lấy tước lộc (quan chức và lương bổng).

Nhóm 2

Sau khi Dương đế煬帝(trị vì từ năm 605~618)đờiTùy đặt ra khoa tiến sĩ thì việc bổ nhiệm quan lại tất cả đều được căn cứ vào khoa này. Đời Đường (năm 618~ 907) cũng theo chế độ này. Người có tư cách ứng thí (dự thi) phân chia làm 3 loại: sinh đồ生徒, hương cống鄉貢, chế cử制擧. Những mụccủa khoatiến sĩnày (khoa mục科目) gồm có: tú tài秀才, minh kinh明經, tiến sĩ進士, minh pháp明法, minh tự明字, minh toán明算.

Sinh đồ để gọi những người xuất thân từ các trường (học quán學館) từ cấp Quốc tử giám trở xuống. Hương cống để chỉ những người không học ở các trường học (học quán) được châu hoặc huyện (州縣)tuyển chọn (để dự thi). Chế cử để gọi việc đăng dụng登用(cất nhắc lên chức vị cao hơn để dùng) các người có tài năng trác tuyệt thông qua chiếu lệnh của vua khi cần thiết.

Người được cử擧(đưa lên, tiến cử lên) gọi là cử tiến sĩ; người thi đậu gọi là thành tiến sĩ成進士; người thuộc loại hương cống được tiến cử lên khoa tiến sĩ gọi là hương cống tiến sĩ. Thông thường người được thí試vào bộ Lễ gọi là tiến sĩ(như vậy chưa biết đậu hay không cũng gọi là tiến sĩ ?Hoặc sử dụng theo trình độ của khả khả năng, không có việc đậu hay rớt? Tại sao bộ Lễ được đặt biệt như vậy?).

Nguồn

1)Tuyển Cử Chí thượngsách (Tân) Đường Thư (1):唐制、取士之科、云云、其科之目有秀才、有明經、有俊士、有進士。

Tạm dịch: Đời Đường đặt ra khoa thủ sĩ取士(thủ sĩ:chọn người có học để dùng)v.v… Khoa này gồm cótú tài, minh kinh, tuấn sĩ, tiến sĩ.

2) Hậu Chấp Cửu Nhật Phục Thượng Tể Tướng Thư後廿九日復上宰相書sách Hàn Dũ của Hàn Dũ (2):(Văn bản đệ trình ý kiến lần thứ hai sau 29 ngày lên Tể tướng) 前貢進士韓愈,謹再拜.Tạm dịch: Tiềnhương cống tiến sĩHàn Dũ, kính trọng cúi lạy lần thứ hai.

3) Tuyển Cử Chí Nhất, phần Chísách Tống Sử(3): 宋之科目有進士、有武舉、常選之外、又有制科、有童子科、而進士得人爲盛。Tạm dịch:Khoa mục đời Tống gồm có tiến sĩ, võ cử.Ngoài tuyển chọn định kỳ còn có chế khoa,đồng tử khoa, nhưng khoa tiến sĩ là thịnh hành nhất có nhiều người dự thi.

4) Nhật Tri Lục (Nhật Tri Lục Tập Thích) (4) mục Tiến sĩ: 進士、即舉人中之一科、其試於禮部者、人人皆可謂之進士、試畢放榜、其合格者、曰賜進士及第、後又廣之曰賜進士出身・賜同進士出身(a)、然後謂之登科、所以異於同試之人者、在乎賜及第・賜出身、而不」在乎進士也、宋政和三年五月乙酉、臣僚言、陛下罷進士、立三舍之法、今賜承議郎徐禋進士出身(b)、於名實未正、乞改賜同上舍出身(a)、從之。

Tạm dịch: Tiến sĩ là 1 khoa của cử nhân. Những người dự thi của bộ môn Lễ đều được gọi là tiến sĩ.Sau khi đậu và được thông báo trên bảng, gọi là được ban (tứ)tiến sĩ cập đệ(cập đệ: đạt tiêu chuẩn, nghĩa là thi đậu). Sau đó có thêm các tên gọi được ban (tứ) tiến sĩ xuất thân (xuất thân: có xuất xứ từ),được ban (tứ)đồng tiến sĩ xuất thân (đồng: cũng, cùng, giống như) (2 tên gọi sau vào đời Minh để gọi người thi đậu đứng thứ 2 và thứ 3). Sau đó gọi là đăng khoa (nghĩa là được ghi chép vào sổ sách lưu lại, tức thi đậu). Lý do của 3 tên gọi được đặt thêm để phân biệt người đạt tiêu chuẩn với mức độ cao thấp hay không đạt tiêu chuẩn (bởi vì trước đó người nào dự thi đều được gọi là tiến sĩ, với ý nghĩa, người có học được tiến cử ra làm quan). Vào ngày Ất Dậu tháng 5 niên hiệu Chính Hòa năm thứ 3 (năm 1113) nhà Tống, các quan lại trình tấu lên vua “Bệ hạ nên bãi bỏ chế độ tiến sĩ mà lập ra chế độ Thái học tam xá (太学三舎法) (c); tiến sĩ xuất thân Từ Nhân 徐禋được ban chức Thừa Nghị Lang承議郎là trường hợp tên gọi và nội dung không đúng, thỉnh xin bệ hạ đổi thành tứ đồng thượng xá xuất thân”. Vua chấp thuận nội dung tấu trình trên.

5) Cai Dư Tùng Khảo陔餘叢考mục Tiến Sĩ (5):

進士之、見于王制、秦漢以來未有此名目也、至隋煬帝始設此科、唐因之、其初雖有諸科、然大要以明經・進士二科爲重、其後又專重進士、此後世進士所始也、唐初制試時務策五道、帖一大經、經策全通爲甲第、策通四、帖過四以上爲乙第、永隆二年以劉思立言進士惟誦舊策皆無實材、乃詔、進士試雜文二篇、通文律者然後試策、此進士試詩賦之始、開元二十五年詔、進士以聲韻為學、多味古今、自今加試大經十帖、建中二年、中書舍人趙贊權知貢舉、又以箴論表讚代詩賦、太和八年、仍復詩賦、此唐一代進士試藝之大略也、然唐制有與後世、不同者後世三歲一會試、唐則毎歲皆試、後世放進士多至三四百人、少亦百餘人、唐則每歳放進士不過三四十人、見通考所載登科記、宋初猶每歲一試、仁宗至和二年、始定令閒歲一科舉、英宗二年、又定令三歲一科、此後世三年一鄉會之始也、南宋又有類省試、蓋因兵興路遠、舉子難赴、即就本路」權省試、如「紹興二年、川陝宣撫使類試陝西、發解進士得周謨等十三人、以便宜賜進士出身、紹興五年、又詔川陝類試進士、合格第一人依殿試、第三人例推恩、餘並賜同進士出身、度宗在諒闇、命宰執」類試、阮登炳以下、依例賜出身、則類試并行之於朝廷、此又因理宗之喪、而權爲之制也。

Tạm dịch:

Tên (danh 名) gọi tiến sĩ xuất hiện trong thiên Vương Chế (sách Lễ Ký) (đời nhà Chu). Từ thời TầnHán chưa códanh mục名目(e) này. Đến đời vua Dương đế nhà Tùy mới đặt ra khoa này (tức khoa tiến sĩ). Đời Đường cũng theo lệ này. Trong thời kỳ đầu mặc dù còn có nhiều khoa khác nhưng 2 khoa minh thư(chuyên môn về kinh sách cổ điển) và tiến sĩ được xem quan trọng hơn hết. Sau đó bắt đầu chỉ chuyên trọng vào khoa tiến sĩ.

Vào thời kỳ đầu nhà Đường(618 ~907) bài thi gồm 5 câu hỏi về chính sách đương thời quan tâm và một câu về hiểu biết nội dung của các kinh sách cổ điển quan trọng, Đậu hết cả các câu hỏi về chính sách và kinh sách thì đậu bậc giáp đệ(bậc nhất), đậu được 4 câu về chính sách hoặc trên 4 câu có thể xem như đậu thì đậu bậc ất đệ(bậc 2).

Đến Vĩnh Lục năm thứ 2 (năm 681, vua Đường Cao tông) Lưu Tư 劉思đưa ra ý kiến cho rằng các tiến sĩ chỉ thuộc lòng các chính sách cũ tất cả đều không phải tài năng thật sự. Do đó, vua ra lệnh khoa tiến sĩ thi 2 bài thuộc đề tài đa dạng, những người đậu phần viết và hiểu cách hành văn của pháp luật (văn luật文律)mới được thi phần chính sách, và khoa tiến sĩ bắt đầu quy định thi thi phú.

Theo chiếu lệnh vào Khai Nguyên năm thứ 25 (năm 737, vua Đường Huyền tông), khoa tiến sĩ phải học thanh vận (ngữ âm và vần điệu) và tinh túy văn học của xưa và nay, 10 bộ kinh sách cổ điển quan trọng được thêm vào.

Kiến Trung năm thứ 2 (năm 781, vua Đường Đức tông), quan Trung thư xá nhânTriệu Tán 趙贊 được giao chủ trì cuộc thi. Ông lấy bài khuyên răn (châm luận箴論) và biểu dương ca tụng (biểu tán表讚) để thay thế cho thi phú.

Thái Hòa năm thứ 8 (năm834, vua Đường Văn tông), thiphú được áp dụng trở lại.

Nội dung trên là sơ lược về nội dung thi tài nghệ của khoa tiến sĩ đời Đường. Tuy nhiên thi tiến sĩ đời Đường và các đời sau có điểm khác biệt. Các đời sau tổ chức thi tiến sĩ 3 năm 1 lần, trong khi đời Đường tổ chức thi hàng năm. Số lượng tiến sĩ đời sau nhiều nhất lên đến 300 hoặc 400 người, ít nhất là hơn 100 người. Căn cứ theo tài liệu ghi chép trong sổ đăng khoa, số tiến sĩ đời Đường hàng năm không quá 30 hoặc 40 người.

Đến đời Tống thi tiến sĩ lại bắt đầu tổ chức hàng năm lại. Thời vua Tống Nhân tông,Chí Hòa năm thứ 2 (năm1055, Bắc Tống), bắt đầu quy định cách năm tổ chức thi 1 khoa (2 năm 1 khoa). Thời vua Tống Anh tông(Trị Bình) năm thứ 2 (năm1065) lại quy định 3 năm tổ chức 1 khoa. Việc này đưa đến việc các đời sau tổ chức thi Hương, thi Hội 3 năm 1 lần.

Thời Nam Tống (năm 1127~1279) có tổ chứctỉnh thí省試 (cuộcthi tổ chức ở tỉnh, sau trở thành thi Hội) tương tự (đời Bắc Tống),có lẽ bởi vì thời chiến hoặc do đường đi đếnnơi thi (như kinh thành) quá xa nên thí sinh (cử tử舉子)rất khó khăn đi đến nơi. Thí dụ, vào Thiệu Hưng năm thứ 2 (năm 1132, vua TốngCao tông), quan trấn thủ địa phương Tứ Xuyên Thiểm Tây tổ chức thi tương tự. Kết quả đã tuyển chọn ra và gửi lên vua xem xét (phát giải發解) 13 tiến sĩ trong đó có Chu Mô周謨.Không phải do vua chính thức chủ trì cuộc thi nhưng được vua chấp nhận ban ho tiến sĩ xuất thân.

Vào Thiệu Hưng năm thứ 5 (năm 1135, vua TốngCao tông) lại có chiếu chỉ ra lệnh địa phương Tứ Xuyên Thiểm Tây tổ chức thi giống như thi tiến sĩ, người đậu đứng đầu (đệ nhất nhân) được xem giống như đậu điện thí (thi ở cung đình tức thi Đình), người đậu hạng thứ 3 (đệ tam nhân) và những người đậu còn lại được vua ân đãi ban cho đồng tiến xuất thân (không có viết trong nguyên văn nhưng có thể hiểu người đậu thứ 2 làtiến sĩ xuất thân).

Khi vua Tống Độ tông (tại vị từ năm 1264 đến năm 1274) đã ra lệnh cho Tể tướng tổ chức thi thay vua. Những người đậu thấp hơn Nguyễn Đăng Bính阮登炳theo thông lệ được vua ban cho tiến sĩ xuất thân.Việc này cho thấykỳ thi tổ chức ở địa phương giống như (có giá trị tương đương) với kỳ thi ở triều đình. Do có tang lễ của vua Tống Lý Tông (tại vì từ năm 1224~1264, vua trước Độ tông) mà chế độ thay thế nói trên được thành lập.

Nhóm 3

Sau đời nhà Minh tiến sĩlà tên gọi đặc biệt dành cho những người đậu(cập đệ) kỳ thi điện thí(thiĐình, do vua chủ trì và thi trong cung điện). Đời nhà Minh và nhà Thanh vua ban (tứ) cho những người thi đậu thi cử nhân, tiến sĩ xuất thâncho người đậu nhị giáp, đồngtiến sĩ xuất thân cho người đậu tam giápkỳ thiĐình(d);tên gọi chung thông thường là tiến sĩ.

Chế độ khoa cử 3 tầng được xác lập vào đời Tống nhưng vào đời Tống còn đặt căn bản trên chế độ cũ nên đặt làm 3 khoa: tiến sĩ, minh kinh, minh pháp. Tiến sĩ chỉ là tên gọi của khoa mục. Vào đời nhà Minh vừa dùng chế độ 3 tầng, vừa gọi những người thi đậu thi hươngcử nhân, đậu thi Hội hương cốngvà đậuthi Đìnhtiến sĩ. Từ đó, tiến sĩ trở thành tên gọi của học vị.

Nguồn

1) Minh Hội Điển明會典:凡殿試、洪武三年定、殿試、時務策一道、惟務直述限一千字以上、其出身第一甲、第一名、從六品、第二名・第三名、正七品、賜進士及第、第二甲正七品、賜進士出身、正八品賜同進士出身。

Tạm dịch:Theo quy định của thi Đình (điện thí)vào Hồng Vũ năm thứ 3 (1730) thí sinh phải viết 1 bài luận về chính sách của vấn đề có tính cách thời sự. Thí sinh phải viết thẳng thắn vào trong giới hạn 1,000 chữ.

Người thi đậu thuộc cấp đệ nhất giáp(cấp hạng cao nhất)và đứng đầu bảng (đệ nhất danh) được làm quan tùng lục phẩm(phẩm thứ 6-tùng, mỗi phẩm có chínhtùng, chínhcao hơn tùng), thuộc đệ nhất giáp nhưng thứ 2 trong số người đệ nhất giáp gọi là đệ nhị danh, người thứ 3 là đệ tam danh được làm quan chính thất phẩm (phẩm thứ 7- chính) được vua phong ban tiến sĩ cập đệ.(f)

Người thi đậu thuộc cấp đệ nhị giáp(cấp hạng thứ 2) đượcchính thất phẩm (phẩm thứ 7- chính) được vua phong ban tiến sĩ xuất thân.

Người thi đậu thuộc cấp đệ tam giáp(cấp hạng thứ 3) (không có trong nguyên văn!) đượcchính bát phẩm (phẩm thứ 8- chính) được vua phong ban đồng tiến sĩ xuất thân.

  • Minh Hội Điển:

凡舉人出身、洪武二十六年定、第一甲第一名從六品、第二名正七品、賜進士及第、第二甲從七品、賜進士出身、第三甲正八品、賜同進士出身。

Tạm dịch: Theo quy định về xuất thân cử nhân vào Hồng Vũ năm thứ 26 (1753), người đậu đệ nhất giápđệ nhất danh (tức đầu đứng đầu của kỳ thi) được làm quan tùng lục phẩm, đệ nhị danh (đậu cao thứ 2) làm quanchính thất phẩm, cả 2 được vua ban (tứ) tiến sĩ cập đệ; đậu đệ nhị giáp được làm quan tùng thất phẩm và được ban tiến sĩ xuất thân; đậu đệ tam giáp được làm quanchính bát phẩm và được ban đồngtiến sĩ xuất thân.(Khác với trước đó là không có đệ tam danh của đệ nhất giáp).

Nhóm 4

Tiến sĩ là tiến cử người(người có học).

Nguồn

  1. Hà Vũ Truyện sách Hán Thư:武爲人仁厚、好進士、獎稱人之善。

Tạm dịch: Hà Vũ là người nhân hậu và yêu thích việc tiến cử người sĩ ra phục vụ quốc gia và tán thưởng việc làm tốt của người khác.

2) Chú thích trong Tuân Úc Truyện荀彧傳sách Ngụy Chí:彧別傳曰、云云、荀攸後爲魏尙書令、亦推賢進士。Tạm dịch:Úc Biệt Truyện viết: v.v…Tuân Tu (157~214, cuối thời Hậu Hán) sau khi làm Thượng thư lệnh nhà Tùy lại tiến cử ngườihiềnngười(thôi hiền tiến sĩ).

Nhận xét

(a) &(b): Ở sau của chữviết曰(nói, gọi) hoặc cải 改 (đổi thành)đều có viết chữ tứ 賜ở các nơi ghi chú (a)nhưng trong lời trình tấu, nơi ghi chú (b) lại không có chữ tứ nên người viết không rõ tên gọi chính thức đương thời có kèm theo chữ tứ hay không. Điều này cho thấy danh hiệu tiến sĩ là do vua ban cho.

(c) Theo tài liệu của giáo thụ宮崎市定, luật Thái học tam xá do Tể tướng Vương An Thạch đời Tống Thần tông đề xướng. Vương An Thạch cho rằng bởi vì thời hạn thi chỉ có vài ngày nên không thể xem biết hết nhiều mặt về con người và học vấn của thí sinh do đó lập ra trường Thái học để giáo dục và xem xét học sinh đầy đủ hơn. Học sinh được nhận vàongoại xá. Sau đó nếu thi đậu sẽ được lên nội xá. Nếu có thành tích tốt và kết quả thi tốt nghiệp tốt thì được ưu đãi như đệ nhất giáp tiến sĩ. Những người khác được lên cấp thượng xá. Sau đó được thi tỉnh thí (sau gọi làhội thí, tức thi Hội), điện thí (thi Đình, do vua chủ trì và thi trong cung điện). (Nguồn: Thế Giới Đại Bách Khoa Sự Điển, Heibonsha xuất bản)

(d) Giải nghĩa còn khó hiểu! Tại sao không thấy giải thích nhất giáp gọi là gì? Đột nhiên đề cập đến nhị giáptam giáp.

(e) Từ danh mục thường cũng được hiểu là tên gọi như từ danh. Theo giải thích nghĩa của Nhóm 1, tên gọi tiến sĩ đã có từ đời Chu và xuất hiện trong Lễ Ký, tại sao Cai Dư Tùng Khảo lại nói từ đời Tần và Hán không có danh mục? Có 2 khả năng: 1) Chưa được dùng lại, 2) Danh mục ở đây được được dùng với nghĩa là tên của môn học, môn thi. Khả năng 2) cao hơn và cho thấy ý nghĩa của từ vựng thay đổi theo thời đại!

(f) Theo mục Trạng Nguyên– Bảng Nhãn-Thám Hoa trong Cái Dư Tùng Khảo của Triệu Dực, trạng nguyên狀元có từ thời Đường lúc hoàng hậu Võ Tắc Thiên lần đầu tiên chấm thi ở trước điện. Còn từ bảng nhãn榜眼vàthám hoa探花có xuất xứ phức tạp hơn, có dịp sẽ giới thiệu nội dung này sau.

Tóm tắt

Mặc dù Đại Hán Hòa Từ Điển trích dẫn chi tiết nhưng phải nói còn khó hiểu, chắc do chế độ thi cử thời xưa rất phức tạp và thường thay đổi. Các trích dẫn không chứng minh hết được nội dung giải thích của soạn giả. Dưới đây người viết tạm tóm tắt nội dung giải thích về từ tiến sĩ của soạn giả Morohashi Tetsuji trong từ điển trên.

  • Thời nhà Chu (tức nội dung trong thiên Vương Chế sách Lễ Ký), từ tiến sĩ để chỉ những người tài giỏi trong các người học ở trường học kinh đô được hiệu trưởng của trường tiến cử lên vua để vua bổ nhiệm làm quan tư mã(Nhóm 1).
  • Trong truyện Hà Vũ của Hán Thư và truyện Tuân Úc trong Ngụy Chí từ tiến sĩ để chỉ việc giới thiệu người tài đức lên cấp trên (Nhóm 4). Triệu Dực trong Cái Dư Tùng Khảo cũng viết thời Tần và Hán chưa có khoa thi tiến sĩ.
  • Đến đời Tùy Dương đế chế độ khoa cử mới đặt ra khoa tiến sĩ. Đời Đường tiếp tục chế độ nhà Tùy. Năm khoa khác là tú tài (giỏi tổng quát), minh kinh(giỏi về sách cổ điển), minh pháp (giỏi về luật pháp), minh tự (giỏi về viết chữ, lời văn hành chính) , minh toán (giỏi về tính toán). Nhưng 2 khoa được xem trọng là minh kinhtiến sĩ.

Trong Tuyển Cử Chí của Tân Đường Thưcó ghi đời Đường đặt khoa thủ sĩ 取士. Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu có giải thích “thủ sĩ: chọn lấy học trò mà dùng”. Có lẽ từ thời Tùy hoặc Đường từ thủ sĩ được thay thế cho từ tiến sĩ của các đời trước đó được dùng để nói “chọn người học giỏi ra làm quan phục vụ xã hội” bởi vì từ tiến sĩ đã được dùng để chỉ tên 1 khoa thi.

Đầu đời Đường bắt đầu có phân biệt giáp đệ (đậu cao cấp 1) và ất đệ (đậu cao cấp 2) trong khoa tiến sĩ. Khoa tiến sĩ tổ chức thi hàng năm và do vua chủ trì (Nhóm 2). Đến đời Tống, bắt đầu có việc thi tiến sĩ không nhất thiết phải do vua chủ trì mà vua có thể ủy nhiệm cho quan chức thực hiện, và không nhất định chỉ tổ chức trong cung điện nhà vua mà có thể tổ chức ở địa phương; các từ tiến sĩ xuất thân, đồng tiến sĩ xuất thân cũng bắt đầu được dùng đến.

  • Đến đời nhà Minh thì từ tiến sĩ trở thành tên gọi của học vị để chỉ người thi đậu thi Đình. Đậu đệ nhất giáp được gọi là tiến sĩ cập đệ. Đậu đệ nhị giáp được gọi là tiến sĩ xuất thân, và đậu đệ tam giáp được gọi làđồng tiến sĩ xuất thân(Nhóm 3). Ngoài ra, từ cử nhân để gọi người thi đậu thi Hương, hương cống để gọi người thi đậu thi Hội được phân biệt rõ ràng từ đời Minh.

Ghi chú

(1) Tên sách chính xác là Tân Đường Thư để phân biệt với sách Cựu Đường Thư. Tân Đường Thư do Âu Dương Tu và nhiều người khác soạn, hoàn thành năm 1060 (đời vua Tống Nhân tông) gồm 225 quyển (Bản Kỷ:10 quyển, Chí:50 quyển, Biểu:15 quyển, Liệt Truyện:150 quyển). Mục Tuyển Cửgồm có thượng (thiên 34 của Chí) và hạ (thiên 35 của Chí) tương ứng với quyển 44 và 45. Phần trích dẫn có trong đoạn đầu tiên của thiên 34.

(2) Sách Hàn Dũ tổng hợp các tác phẩm của Hàn Dũ (768~824, đời Đường) gồm các phần: Kinh (như Luận Ngữ Bút Giải), Tập (như Xương Lê tiên sinh tập…), Văn gồm có: Luận thuyết, Thư, Tự (như Tống Mạnh Đông Dã Tự…), Tế văn, Truyện, Phú, Thi. Phần trích dẫn có trong phần Thư. Câu trích dẫn cũng có ghi trong 後十九日復上書 (sau 19 ngày), không hiểu tại sao Morohashi lại trích dẫn bài sau là後廿九日復上宰相書(sau 29 ngày).

(3) Tống sử do Thác Khắc Thác 托克托(nguyên cảo viết Thoát Thoát脫脫) viết lịch sử của thời Bắc Tống và Nam Tống gồm có 496 quyển, hoàn thành năm 1343 nhà Nguyên (16 Bản Kỷ (47 quyển), 15 Chí (162 quyển), 2 Biểu (32 quyển), 197 Liệt Truyện (255 quyền)). Tuyển Cử của phần Chí gồm có 6 quyển, phần trích dẫn có trong mục Khoa Mục thượng của Tuyển Cử 1.

(4) Nhật Tri Lục日知錄là sách do Côn Sơn Cố Viêm Vũ崑山顧炎武(1613~1682) đời Thanh soạn, gồm có 32 quyển và Lời tựa, được người đời đọc dưới hình thức tên sách Nhật Tri Lục Tập Thích日知録集釈do Hoàng Nhữ Thành黃汝成(1799~ 1837) giải thích. Do lý do này mà nội dung Nhật Tri Lục của Trung Quốc Triết Học Điện Tử Hóa Kế Hoạch (TQTHĐTHKH) và Nhật Tri Lục của sách Nhật giống nhau.

Trong khi Duy Cơ Văn Khố 維基文庫 (Wikisource.org) có cả Nhật Tri Lục và Nhật Tri Lục Tập Thích (cũng có 32 quyển). Trong Tập Thích không thấy Lời tựa.

Người viết chỉ so sánh cụ thể quyển 16 và 17 của Nhật Tri Lục và Nhật Tri Lục Tập Thích thì thấy như sau:

Nội dung của TQTHĐTHKH và sách Nhật có ghi phần giải thích nhưng không có ghi xuất xứ. Trong Tập Thích có ghi “Nguyên chú原注” và các chú giải khác tùy theo mục.

Điều khó hiểu là tựa các hạng mục trong quyển 16 &17 của Nhật Tri Lục và Tập Thích hoàn toàn khác nhau. Không hiểu tại sao! Thí dụ các mục trong quyển 16 của Nhật Tri Lục Tập Thích gồm có: Minh Kinh, Tú Tài, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Khoa Mục, Chế Khoa, Giáp Khoa…..

Trong khi các mục của Nhật Tri Lục(quyển 16) gồm có: Tài Dụng, Ngôn Lợi Chi Thần, Bỗng Lộc, Trợ Hướng, Quán Xá, Nhai Đạo, Quan Thụ, Kiều Lương, Nhân Chúng…..nghĩa là không có mục Tiến Sĩ.

(5) Cai Dư Tùng Khảolà sách học thuật do Triệu Dực 趙翼(1724~1814, đời Thanh) viết gồm có 43 quyển. Đề tài rất đa dạng. Cai Dư陔餘có nghĩa là thời gian còn lại sau khi phụng sự mẹ ông. Tác giả viết sau khi từ quan. Các mục của quyển 28 gồm có như: Tú Tài, Giám Sinh, Cử Nhân, Tiến Sĩ, Trạng Nguyên- Bảng Nhãn-Thám Hoa, Tam Nguyên, Lưỡng Thứ Cập Đệ….Trong quyển 32 có mục Thần Đạo. Trong quyển 34 có mục: Phật, Bát Tiên, Trương Chân Nhân. Trong quyển 37 có mục Bác Sĩ– Đãi Chiếu –Đại Phu– Lang Trung, Đại Nhân….Sách này có vẻ hữu ích để nguyên cứu về từ nguyên (xuất xứ của các từ vựng).

Sau khi từ quan ông còn soạn Nhị Thập Nhị Tráp Ký (gồm 36 quyển và 1 quyển bổ sung). Ông cũng là người biên soạn Thông Giám Tập Lãm通鑑輯覧.

(6) Hán Thư là sách do Ban Cố班固(32~92, đời Hán Chương đế. thời kỳ đầu của Tiền Hán) biên soạn, nội dung là lịch sử của thời Tiền Hán gồm có 100 quyển (Bản Ký 12 quyển, Biểu 8 quyển, Chí 10 quyển, Liệt Truyện gồm 70 quyển). Còn gọi là Tiền Hán Thư để phân biệt với Hậu Hán Thư ghi chép lịch sử thời Hậu Hán do Phan Diệp范曄và Tư Mã Bưu司馬彪soạn. Phần Trích dẫn có trong thiên 56 của Liệt Truyện với tựa何武・王嘉・師丹傳(quyển 86).

Nguyễn Sơn Hùng – Ngày 25~30/4/2026

Trở về trang chủ
Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Tài liệu tham khảo

  1. Morohashi Tetsuji (1960, , 2000): Đại Hán Hòa Tự Điển, Taishukan Shoten xuất bản.
  2. Nguyễn Sơn Hùng (2026): Từ Nguyên của Từ “Tiến Sĩ” và Tên Gọi của Trường Học ở Cổ Đại

19 thg 5, 2026

Thầy dạy em biết TỰ TRỌNG biết yêu ngườ- Ngô Văn Phố K.7- SPSaigon

 

1. Sáng nay đọc một bài viết trên báo Tuổi trẻ mà không khỏi giật mình : “ Với khá nhiều trí thức tương lai của đất nước, việc cư xử tử tế là chuyện… xa xỉ!
Hút thuốc trong giảng đường, đi học trễ, bỏ rác trong hộc bàn, chạy xe trong sân trường, lãng phí điện nước ký túc xá… là thói quen thường ngày của sinh viên…”
“Dạo quanh khuôn viên các trường Đại học, chúng tôi chứng kiến thêm nhiều hình ảnh đáng thất vọng của sinh viên, đặc biệt là ý thức tự giác chấp hành nội quy của nhà trường..” (Những chuyện không đẹp của sinh viên- Báo Tuổi Trẻ số 331/2014 ngày 6.12.2014).
Đọc xong, lại bồi hồi nhớ lại những ngày đầu bước chân vào trường Sư Phạm Quy Nhơn (SPQN). Năm 1968, tốt nghiệp xong Tú tài chúng tôi nộp đơn thi tuyển vào trường SPQN. Đây là kỳ thi tuyển chọn giáo sinh để đào tạo giáo viên cho các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị đến Phan Thiết. Hàng nghìn thí sinh dự thi, nhưng đỗ thi viết chỉ có khoảng 700 người. Vào thi tiếp vấn đáp chỉ còn lại hơn 400 người được đỗ chính thức. Chính sự tuyển chọn nghiêm túc này, những giáo sinh được vào học SPQN là những “hạt gạo trên sàng” là những người đã xác định nghề nghiệp của đời mình là nghề Mô phạm. Nhớ lần đầu tiên đến trường , tôi ngỡ ngàng vì khi vào các trường khác thì luôn thấy có những khẩu hiệu về giáo dục. Trong trường SPQN những chỗ cần thiết thì chỉ có hai chữ: TỰ TRỌNG. Vào nhà để xe : TỰ TRỌNG, thế mà từ thầy giáo đến học sinh đều xếp những chiếc xe đạp của mình ngay ngắn. Có lần chiếc xe đạp của thầy giáo dạy môn Sư phạm thực hành tự nhiên biến mất – đây là chiếc xe đạp quá cũ và xấu nhất trong nhà xe – Dạy xong tiết, ra về không có xe, thầy vẫn vui vẽ quá giang xe của một giáo sinh. Hôm sau thầy đến nhà xe, thấy chiếc xe của mình, lại được vô dầu mỡ , thầy đọc ngay một bài thơ tứ tuyệt, nghe xong cả lớp chúng tôi cười vang, tôi chỉ còn nhớ được một câu là :”…Vui duyên tái ngộ leo lên cỡi…”. Vào phòng học, phía trước ngay trên bảng đen cũng treo hai chữ TỰ TRỌNG. Chỉ có thế mà mỗi khi vào lớp, chúng tôi đều đi đứng nhẹ nhàng, tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường. Vào nhà vệ sinh cũng chỉ thấy hai chữ TỰ TRỌNG , thế mà nhà vệ sinh bao giờ cũng sạch sẽ.
Chúng tôi được học bài TỰ TRỌNG ngay khi mới vào trường, sau đó theo chân chúng tôi về đến các trường học và… cho đến hôm nay.
2. Năm thứ nhất học tại trường SPQN, chúng tôi được thầy Đoàn Nhật Tấn dạy môn Sư phạm lý thuyết. Thầy giới thiệu tài liệu cho chúng tôi tham khảo, sau đó cho giáo sinh tình nguyện thuyết trình, cả lớp đặt câu hỏi và cùng trao đổi, thảo luận. Thầy tổng kết sau tiết học và giải quyết vấn đề nào lớp chưa thấu đáo. Những tiết học của thầy lúc nào cũng sôi nổi. Cho dù đã hơn 45 năm, nhưng chúng tôi vẫn nhớ như in: Nền giáo dục đặt nền tảng trên cơ sở ba phương châm: nhân bản, dân tộc và khai phóng. Giáo dục nhân bản lấy cá nhân làm trọng, lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; nhấn mạnh đức dục, hướng đến phục vụ tha nhân. Giáo dục dân tộc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt, liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Giáo dục dân tộc bắt đầu từ chương trình Việt, xiển dương lòng ái quốc thương nòi. Giáo dục khai phóng là phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Triết lý giáo dục được thầy Tấn áp dụng vào phương pháp dạy học trong từng tiết học của mình đã khắc sâu vào ký ức của mỗi chúng tôi. Khi ra trường, phương pháp dạy học cho học sinh thuyết trình được chúng tôi áp dụng phổ biến ngay còn ở cấp tiểu học. Triết lý giáo dục và phương pháp dạy học nhân bản đó đã giúp học trò thăng hoa, sự sáng tạo được khích lệ, tự do cá nhân được nâng đỡ, do vậy đã đào tạo cho đất nước nhiều thế hệ học sinh đa tài đa năng .
3. Phương pháp “dạy học theo chủ đề tích hợp và vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các tình huống thực tiễn” đang được ngành giáo dục triển khai trong các trường trung học đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa năm 2015. “Tích hợp trong dạy học được hiểu là sự kết hợp các nội dung kiến thức từ các môn học, các lĩnh vực học tập khác nhau vào nội dung một bài học; là sự phối kết hợp các tri thức có quan hệ gần gũi, mật thiết với nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ tác động vào nhau tạo nên một kiến thức tổng hợp vững chắc nhằm giúp người học có đủ khả năng, phẩm chất giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống. Một tình huống xảy ra trong đời sống bao giờ cũng là sự tích hợp từ nhiều lĩnh vực khác nhau”.
Đọc những điều mà ngành giáo dục đang thực hiện về phương pháp dạy học theo chủ đề tích hợp, tôi lại nhớ đến phương pháp dạy học theo chủ điểm giáo dục cộng đồng của trường SPQN. Đây là môn học do thầy Đặng Văn Bồn giảng dạy. Trong quá trình nghiên cứu địa phương, tiếp cận với cộng đồng, giáo viên phát hiện được những nhu cầu của dân chúng cần cải thiện như: nước uống trong lành, bài trừ sán lãi, giáo dục môi trường, phòng chống sốt xuất huyết... Nhà trường đặt kế hoạch giải quyết những nhu cầu ấy bằng cách: một mặt ở trong nhà trường, giáo viên dạy theo chủ điểm tức là vận dụng các kiến thức về chủ điểm ấy vào từng môn học và có kế hoạch cho học sinh thực hành những kiến thức đó vào cộng đồng. Mặt khác, nhà trường tổ chức các hoạt động xã hội. Chẳng hạn như mở đêm văn nghệ dân gian, thu hút quần chúng đến xem. Nhân đó, phổ biến cách thức cải thiện đời sống của họ. Việc làm này gọi là "Thực hiện chủ điểm giáo dục".
Dạy học theo chủ điểm giáo dục đã góp phần xóa bỏ được lối dạy học khép kín tách biệt nhà trường với thế giới bên ngoài, cô lập kiến thức, kỹ năng vốn có liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Những tiết học dạy theo chủ điểm mang lại cho học sinh sự hứng thú, thiết thực, phát huy được tính tích cực, giúp các em gắn kết kiến thức lý thuyết với thực hành.
Được đào tạo trong một nhà trường như thế, những giáo sinh chúng tôi khi ra trường đã đầy đủ tiêu chuẩn về năng lực, đạo đức của một giáo viên. Vì thế, dù ở môi trường nào, thời kỳ nào, những giáo viên được đào tạo từ trường SPQN đều được xã hội trân trọng. Trường SPQN chỉ đào tạo được 13 khóa (từ 1961-1975) nhưng anh em đồng môn chúng tôi luôn gắn kết tình cảm. Những lần họp mặt cựu giáo sinh SPQN liên tục được tổ chức hàng năm giữa các khóa. Thầy trò, anh chị em gặp nhau mừng mừng tủi tủi như những người thân lâu ngày được gặp lại. k.7-

NGUYỄN AN BÌNH: THUỞ EM LÀ CÔ GIÁO/ , THUỞ XA TRƯỜNG (T.Vấn Và Bạn Hửu )

 

Phố Cũ – Tranh: MAI TÂM

THUỞ EM LÀ CÔ GIÁO

Thuở em là cô giáo

Yêu tiếng trống sân trường

Tôi xin làm hạt phấn

Rơi trên tóc người thương.

.

Nắng mùa thu vàng rộm

Hồng thơm khắp nẻo về

Gió heo may vừa chớm

Còn thương lọn tóc thề.

.

Thuở em là cô giáo

Nắn nót chữ thật mềm

Tôi ước làm góc bảng

Nâng đỡ bàn tay em.

.

Giáo án phơi trước mặt

Mơ màng có nhớ anh

Ban mai lùa nắng sớm

Mắt chớp bờ mi xanh.

.

Thuở em là cô giáo

Buổi sáng tờ mờ sương

Tôi mong làm chim hót

Đón đưa em đến trường.

.

Có tiếng cười thật khẽ

Dưới bóng cây sầu đông

Tình theo làn gió nhẹ

Bay giữa trời mênh mông.

.

Thuở em là cô giáo

Tiếng giảng bài trong veo

Tôi đứng ngoài cửa lớp

Ngơ ngẩn còn trông theo.

.

Áo dài xinh quá đỗi

Điểm trang theo từng mùa

Mong em đừng gian dối

Ngoan hiền như ngày xưa.

THUỞ XA TRƯỜNG

  *Nhớ về trường trung họcPhan Thanh Giản& Đoàn Thị Điểm- Cần Thơ

    và những điều chưa bao giờ kể.

Mười năm cứ ngỡ cơn gió thoảng

Nhớ từng bụi phấn rớt trên vai

Thuở ấy tình tôi – tờ giấy trắng

 Ghi từng con chữ – rất thơ ngây.

.

Ngôi trường ngày đó em theo học

Tôi về làm thầy giáo bao năm

Chỉ mong một lần nghe tiếng guốc

Bên cầu thang gỗ thuở xa xăm.

.

Khi trống rộn vang giờ tan lớp

Tôi ngỡ em cười – ở đâu đây

Ngày xưa – tôi nhớ – em mười tám

Vết mực còn thơm từng ngón tay.

.

Bóng thời gian mờ theo bụi đỏ

Vô tình rơi chiếc lá sầu đông

Vắng tiếng chim sâu sau vòm lá

Tình mãi trôi hoài bao nhánh sông.

.

Trường cũ của em và tôi nữa

Sỏi đá đâu còn để reo vui

Mười năm – những điều chưa thể kể

Khi tóc hoàng kim đã ngậm ngùi

NGUYỄN AN BÌNH