nhungnguoibanspsg.
Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
11 thg 6, 2026
NGHE MƯA NƠI NÀY LẠI NHỚ MƯA XA...Phạm Văn Bắc -SPSagon
Món Quà Buồn Trước Mộ - Thuyên Huy
Anh ngồi đó, giữa trời, nắng cuối hạ chang chang đổ, cái nghĩa địa cuối làng khô cằn, nứt nẻ. Mấy cây Sao già cao trụi lá, cành nhánh khẳng khiu, vẫn còn cố đứng dưới trời nhưng chẳng cho người một chút gì gọi là bóng mát. Con quạ đen, tự lúc nào, đậu trên đầu ngọn một cây cao nhất nhìn xuống anh, kêu từng tiếng kêu kéo dài, rời rã, buồn nảo nuột. Anh lặng thinh ngồi giữa hai nấm mộ, khói nhang quyện lờ mờ màu khói bếp chiều quê, anh cố dằn không khóc, vì hôm nay là một ngày vui mà ba má, đã mong đã chờ, cơm vắt cơm nấm cho anh từ những ngày còn sống.
*
Ba mất sớm vì một tai nạn ngoài đồng, lúc anh còn quá nhỏ, nghe má nói lại khi anh vừa vào lớp năm trường làng, ba cuốc đất bùn, đấp chận nước ở khúc cuối gò thấp trũng, ông cuốc nhầm trúng ngay ổ rắn độc, bị cắn, bắp chuối ra máu nhiều quá, ba cổi áo cột chặt, ráng đạp xe về, bà con trong xóm, người đở người ôm, phụ má, nhờ xe lôi máy chú tám quen nhà bên, chở ba ra trạm y tế xã, nhưng không kịp cứu, má đem ba chôn ở nghĩa địa làng, khu đất nằm chơ vơ ven bờ ruộng, ngó ra cái truông nứa chằng chịt. Không biết gì hơn, má ở vậy, một thân một mình nghèo xơ nghèo xác, lầm lũi chắt chiu, làm công lựa thóc lựa gạo cho một nhà máy xay lúa trong xã. Nhà tranh, vách đất, cột ngã cột xiêu, mái lành mái rách, má con cứ vậy chấp vá mà sống mà vui với phận người trời đã định.
*
Rồi ngày cũng qua ngày anh lớn lên, với hơi ấm áo bà ba sờn vai bạc màu bùn của má, tay dắt tay mang má dẫn anh tới trường tiểu học xã, rồi trường trung học quận, từ đó cũng cơm chiều cá kho khô, rau mồng tơi luộc, nhưng má vui không biết làm sao mà nói, không nói ra nhưng chắc má mơ sẽ có một ngày, cây đèn dầu cũng vui lây, được ngồi bên anh lâu hơn hơn trước, nhắc lại niềm mơ ước mà ba má ấp ủ trong lòng, ngày nào đó sẽ nhìn được anh “công thành danh toại”.
*
Vậy đó, má lại theo ba, bỏ anh ở lại, vừa qua ngày đưa ông Táo về trời, ngấp nghé tới Tết, năm anh học đệ Nhị, chuẩn bị mùa thi, chưa kịp nghe tiếng trống đình, chưa kịp nhìn gốc Mai già, sát hàng rào nhà chú tám xe lôi máy, trổ nụ đầu xuân, má mất vì cơn bạo bệnh, phổi đã nám nhiều cộng thêm sức người cứ lao tâm lao lực, sáng đội nắng chiều dầm mưa, cũng chú tám, cũng mấy người hàng xóm tốt bụng, cũng như ngày đó với ba, họ đưa má ra bệnh viện quận rồi bệnh viện tỉnh nhưng cũnh đành theo số mạng, ngồi bên giường bệnh, dưới ánh đèn vàng vỏ, lạnh lùng ma quái, anh khóc như mưa, khóc mà không nói được tiếng nào. Bà con đưa má về chôn bên cạnh ba, trong cái nghĩa địa làng nghèo vẫn nghèo như từ đó tới giờ.
*
Từ đó, anh ở lại một mình, thui thủi một mình với cây đèn dầu khi mờ khi tỏ, với cái bàn thờ ba má giữa nhà, có những đêm ngồi học bài, buồn khóc rấm rứt, nói chuyện mình, chuyện bây giờ với ba má cũng tạm nguôi ngoai, may mà biết nấu cơm nấu nước nên không lo chuyện ăn chuyện uống, vợ chú tám nhà bên thấy thương nên thường thường chạy qua, đem cho tô cá kho, tô thịt ram mặn, chợ làng rồi cũng biết anh, khi lặng lẻ ra chợ, tay xách tay cầm bó rau bó cải, mấy trái dưa leo, cà chua ửng chín, nhờ số tiền làm công ở tiệm bán đồ xây cất, gạch ngói dưới chợ quận, ngày thứ bảy, chủ nhật, mà bác chủ thương tình mướn.
*
Chong đèn thức trắng, với lời hứa trước bàn thờ ba má, sẽ không làm ba má dưới mộ sâu thất vọng, như ba má muốn khi còn sống. Ngày thi, nhờ bác chủ quản nhà thờ Cao Đài xã giới thiệu, xuống Sài Gòn ở nhờ tại nhà người em bà con, cũng cùng họ đạo, cách trường thi cũng không mấy xa, có xe buýt ngừng xế trước nhà nên đở lo, anh không quên qua bên nhờ chú thiếm tám dòm ngó giùm nhà mình, dù nhà không có cái gì đáng giá.

Anh đậu Tú Tài Một, chú thiếm tám xe lôi máy, qua phụ dọn bữa cơm, vừa chung vui vừa cúng ba má anh bữa cơm báo tin, thấy anh rấm rức khóc, thiếm tám cũng ngậm ngùi khóc theo. Và cũng từ hôm đó, cô bác bán hàng trên chợ xã đều nhớ tên anh, cũng không quên cho anh thêm cọng hành bó rau, trái cà trái dưa, chẳng những tiền bớt đồng một đồng hai mà còn hỏi “đủ chưa con đủ chưa anh, đủ chưa em”.
*
Con quạ trên ngọn cây không còn ở đó, tiếng mất tiếng còn, tạ từ bay đi, chắc phải lâu lắm mới gặp lại, cơn gió nhẹ bất chợt về ngang từ phía truông nứa, lùa bó nhang thơm, nấn níu chút lửa muộn rực sáng, sửa lại cho ngay ngắn, anh lấy tờ giấy chứng chỉ Tú Tài Một, còn thơm mùi con dấu Nha Khảo thí đỏ, cẩn thận để trước đầu hai nấm mộ, chỗ anh ngồi, chấp tay xá rưng rưng thì thầm “ba má ơi, con thi đậu rồi”. Giờ thì anh mới bật khóc lớn thành tiếng giữa cái nắng cuối hạ chang chang đổ.
Thuyên Huy
Viết cho những người giống như anh trong chuyện dù là chuyện tưởng tượng
Posted by 304Denat 1:43 AM
10 thg 6, 2026
THÁNG SÁU MÙA THI - Pham văn Bắc SPSaigon
THÁNG SÁU MÙA THI
Nhớ “bố già” Sơn Nam - Bùi Chí Vinh ( VĂN VIỆT )

Hình chụp ở phi trường Nội Bài Hà Nội năm 1994 dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ Toàn Quốc. Từ trái qua phải: Một nhà văn, Sơn Nam, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn, Phan Hoàng. Người ngồi là Lê Minh Quốc.
Bùi Chí Vinh
Đối với tôi, hai chữ BỐ GIÀ dành cho nhà văn Sơn Nam không cần đóng khung trong ngoặc kép. Thuở ông còn sinh tiền, mỗi lần hai chú cháu đi chơi riêng hoặc cùng chơi trong đám đông tôi vẫn luôn luôn gọi nhà văn Sơn Nam là “bố” một cách trìu mến.
Còn xét về mặt chuyên môn trong làng văn và trưởng thượng trong làng đời thì tôi hằng kính trọng ông như một… bố già.
Buổi trưa ngày 13 thứ Tư năm 2008, đang ngồi cụng ly với Cung Tích Biền, Nguyễn Đạt, Đoàn Thạch Biền, Phạm Viêm Phương, Nguyễn Tôn Nhan… nhằm ăn mừng vụ bán bức tranh của Lê Thị Kim thì bất ngờ chúng tôi nhận được hung tin “bố già” đã mất.
Cho dù tất cả gần như được chuẩn bị về cái chết được báo trước của bậc tiền bối hôn mê nằm liệt giường, nhưng cái tin sét đánh ấy đã làm ai nấy bàng hoàng.
Bàn tiệc đang vui bỗng như đưa đám. Trong đầu tôi hình dung “con khủng long cuối cùng còn sót lại của miệt vườn Nam Bộ” một con khủng long oằn vai chở nặng chữ nghĩa của ruộng đồng bát ngát như một bộ tự điển bách khoa biết đi.
Đúng vậy, Sơn Nam là một pho tự điển bách khoa sống động mà mỗi bước chân của con người đi bộ quanh năm ấy, đi đến đâu là gieo và gặt vô số mùa màng dụ ngôn dân gian đưa vào tác phẩm của mình…
Khi về đến nhà, điện thoại di động của tôi nhận được liên tiếp 10 tin nhắn, mọi tin nhắn đều thông báo cho tôi về cái chết của Sơn Nam. Họ báo cho tôi như báo với một người thân trong gia đình bố già, trong đó có tin nhắn của Tư Thuyết.
Tư Thuyết chính là người đem tôi đến với Sơn Nam đầu tiên ngay từ năm 1975, khi đó anh là một cán bộ Thành Đoàn từ trong rừng ra, làm báo Giải Phóng và là con trai của một người bạn cố tri từng hoạt động chung với Sơn Nam những năm kháng Pháp.
Kể từ đó tôi và “bố” gắn bó với nhau một cách kỳ lạ như một đồ thị parabol chịu đựng đủ mọi thăng trầm. Những năm đầu sau 75 khi còn công tác ở báo Tuổi Trẻ tôi thường đăng thơ trong mục Mái Nhà Thơ của báo Tin Sáng do nhà thơ Kiên Giang phụ trách.
Lần nào lên lãnh nhuận bút tôi cũng gặp bố Sơn Nam, chú Kiên Giang và hai già một trẻ thường đàm đạo với nhau tương đắc. Dân Nam Bộ chơi với nhau không cần dè dặt đúng với câu “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã – Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng”.
Lúc chú Kiên Giang đề nghị tôi khôi phục truyền thống Kịch Thơ đã bị mất tích từ thời tiền chiến thì bố Sơn Nam ủng hộ hết mình.
Niềm tin tưởng của hai vị tiền bối khiến tôi trả giá bằng suốt một năm xâm nhập hai trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới Xuyên Mộc và Vĩnh An nhằm tìm kiếm ý tưởng về vở kịch thơ Thành Taberd từ những nhân vật và sự kiện có thật.
Để ra đời được Thành Taberd hai vị tiền bối đã nuôi cơm tôi bằng lon “guigô” hơn nửa tháng trời tại chùa Phụng Sơn Tự tức chùa Gò tọa lạc trên đường 3 Tháng 2 (đường Trần Quốc Toản cũ). Tại chùa Gò, ngoài chú Kiên Giang đưa đón, thỉnh thoảng bố già Sơn Nam lại đến thăm tôi động viên ủy lạo tinh thần.
Và chưa hết, khi bản thảo Thành Taberd hoàn thành bằng… bút chì (vì chú Kiên Giang quá nghèo không có bút nguyên tử) hai tiền bối lại đưa tôi đến gõ cửa Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Dương Đình Thảo để chú Sáu Thảo hỗ trợ phần đánh máy cho vở kịch lịch sự hơn.
Sở dĩ tôi phải dông dài một chút trong “chuyện nhỏ” này vì đó là phần tốt đẹp nhất của con người mà ít ai biết về bố Sơn Nam trong trách nhiệm lo cho một thằng cháu hoàn toàn là người dưng nước lã.
Đối với tôi đó là bài học vỡ lòng nhân quả như truyện ngắn Tình nghĩa giáo khoa thư, nhân quả như “một tấm lòng” của Con Bảy đưa đò hành nghề bán cháo lòng đưa tráng sĩ qua sông từ các truyện ngắn lừng danh của bố.
Bố Sơn Nam ơi, hai chú cháu mình đã gắn bó suốt 10 năm, suốt thập niên 1985-1995 từ thời nhiều vị Mạnh Thường Quân giúp đỡ chúng ta còn sống. Trên chiếc xe đạp cọc cạch và sau này trên chiếc xe gắn máy thổ tả, tôi đã chở bố già đi gõ cửa tìm kiếm niềm vui hoặc hứng chịu nỗi buồn thê thảm từ những cái lắc đầu.
Nhớ những lần đến nhà ông Võ Văn Kiệt, tôi thấy mắt bố già Sơn Nam sáng lên khi khoe tôi một cái bì thư dẹp lép hoặc năm món “căm đùm sên dĩa lốp” phụ tùng xe đạp mới toanh có thể đi bán chợ trời kiếm tiền nhậu lai rai.
Rồi những lần ghé báo Công An thăm Huỳnh Bá Thành, lúc trở ra hai chú cháu nhìn nhau vừa hạnh phúc vừa ngậm ngùi trước chút lòng hào kiệt đối với kẻ sĩ mạt lộ.
Bố già ơi, đất nước chúng ta nghèo quá, ai giàu đâu chẳng biết nhưng chỉ thấy muôn đời kẻ sĩ có lòng tự trọng lại quá nghèo. Đại bi kịch là một kẻ sĩ đóng góp quá nhiều tác phẩm lẫn công sức cho đời như bố mà đến chết trên báo vẫn còn kêu gọi lòng từ thiện giúp đỡ của nhân dân để chữa bệnh.
Trong vòng 10 năm vừa kể, một phần đời giang hồ của tôi gắn liền với nhà văn Sơn Nam. Mỗi ngày sáng sớm đón bố già lên đường, tối khuya lại chở bố về đến nơi đến chốn tại căn nhà trong ngõ hẻm ngó xéo qua Lăng Ông Lê Văn Duyệt.
Nhắc đến Lăng Ông và những di tích đình miếu khác, không thể không kể đến công trạng của bố già trong việc khôi phục và trùng tu truyền thống đạo lý cổ truyền. Tôi chỉ tạm thời chia tay việc chuyên chở bố già kể từ lúc sanh con trai đầu lòng. Nỗi lo cơm áo làm hai chú cháu ít còn dịp gần nhau.
Bố Sơn Nam ơi, trong đời bố chỉ làm một bài thơ in trên sách nhưng đó lại là bài thơ bất tử. Bất tử bởi khẩu khí giang hồ mang mùi vị Lương Sơn Bạc của người đi mở đất.
Trong phạm vi bài viết này, tôi chép lại bài thơ của bố như một nén nhang ngưỡng mộ hương hồn bậc dị sĩ kỳ nhân:
Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Vài câu chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã
Từ Cà Mau, Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi, vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?
Chiều chiều nghe vượn hú
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò ơ theo nước chảy chan hòa
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…
BCV
9 thg 6, 2026
Thơ Đặng Việt Lợi ; VỀ NHỮNG GÃ “CỬU VẠN” SÁNG NAY., CHỢ SỚM , NỖI NIỀM CHUNG
VỀ NHỮNG GÃ “CỬU VẠN” SÁNG NAY.
8 thg 6, 2026
Vỉnh Biệt Bạn TRẦN VĂN SỬU (SPSG K.1 )
Bài đăng lại nhằm thương nhớ bạn Trần Văn Sửu, khóa 1 SPSG 1962-1964, đã từ trần cách nay hơn 1 tháng tại Sanjose.





.jpg)

.jpg)