3 thg 8, 2026

CHỦ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/8/2026 - Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

 


Chữ nghĩa làng văn


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ Việt cổ


 Cam: ngọt 

(nước Cam lồ)


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Góp nhặt cát đá


Mộng 


Có gì mà lấy làm vui
Chỉ là một giấc mộng vùi trăm năm


Câu đối Tết 


Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức: tam dương khai thái

Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ: ngũ phúc lâm môn


Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa

Sáng mùng một, rượu say lúy túy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà


(Nguyễn Công Trứ)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Chuồn chuồn bay thấp thì tiêu

Bay cao thì thoát bay vừa thì thôi


Chữ Việt cổ


Vã: ông ngoại, bà ngoại


(Phạm Xuân Độ)


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...


Đượcbiết số đơn đặt hàng của các quán cà phêlớn, sang trọng ở thành phố Sài Gòn và các tỉnhcàng gia tăng đối với sản phẩm bánh xe ngựado ông sản xuất để dùng vào việc trang trí có tínhhoài cổ này. Giả một bánh xe ngựa (không dùng đểchạy) hơn cả triệu bạc.

Tươngtự như vậy, theo nghệ nhân Trần Văn Trí, chủcơ sở mỹ nghệ Trung Trí cũng cho biết nghề làm bánh xe bò ở các vùng Hưng Định, Vĩnh Phúcũng có cơ may phục hồi đáng kể. Nhữngbánh xe bò làm ra ở đây không phải dùng cho chiếc xe bòmà được xuất khẩu qua nhiều nướcnhư Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,Úc, Nhật Bản... để trang trí các khu du lịch, khuresort của họ (Báo Tuổi Trẻ số 256 ngày18-9-2008).


Một nghệ nhân khác cũng rất nổi tiếng, không phảivì ông chỉ có tài phục chế được các cỗxe ngựa của Bình Dương xưa, mà trực tiếptham gia nhiều bộ phim ở nhiều nơi, nhiềuphim trường gần mấy chục năm nay, đểlàm sống lại hình ảnh, bóng dáng của chiếc xe ngựavùng quê Nam bộ, mà tiêu biểu hơn cả là chiếc xengựa Bình Dương do chính ông phục chế và sử dụngtrong nhiều phim. Người đó là ông Hai Sộp, con traicủa vị tiền bối trong nghề xe thổ mộlà ông Hương quản Luốc đã nói trên. Ông Hai Sộphiện ở gần Cầu Ngang, chợ Búng, thị trấnAn Thạnh. Ông có cả một khu đất rộng dùngcho tàu ngựa là cơ sở để phục chế xe ngựa.


(Hiếu Học - Hoàng Anh)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Thiếu nữ ngủ ngày


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong.


Thơ say


Nguyễn Tuân nổi tiếng là ở mấy tập tùy bút, bút ký chứ không thấy ông làm thơ. Đôi khi trong các bài viết của ông cũng thấy có xen vào một vài câu thơ như trong Những ngày Thanh Hóa:

Đến đây là đỉnh đèo Ba Dội,
Cạn chén đưa anh một chén đầy.
Trước mắt bây giờ là bỏ cả,
Chung quanh chỉ một con tàu say.


Cái hay cái dở của Bùi Giáng


Người thơ được thành bài nhiều lần nhất là Hồ Dzếnh: 7 lần! (Nguyễn Du chính thức là 6 lần) Tôi hơi khó hiểu vì sự hợp "gu" giữa hai nhà thơ này. Có thể giải thích thế nào: Cùng là thần lục bát? Cùng tâm trạng tha hương bỏ xứ, cô đơn? Đây cũng xin là một câu hỏi tới các nhà Bùi Giáng học


Đọc 7 bài bình ấy, tôi thấy nó không sai, không trúng; thú vị thôi, chớ không thần phục. Tôi cũng mê thích thi sĩ Minh Hương này lắm, coi ông như một trong các đại tướng của quân chủng lục bát, nhưng cái mê thích của tôi khác với Bùi tiên sinh nhiều quá. Chắc tôi chưa hiểu hết Hồ Dzếnh rồi! Sẽ phải đọc lại các bài Giang Tây, Phút Linh Cầu từng khiến Bùi Giáng "bải hoải chân tay".

(Đỗ Quyên)


Đừng tưởng 


Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. 

Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

(Bùi Giáng)


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy


Tôi nhìn. Người đàn ông vừa từ Mỹ về thăm quê nhà, cùng tôi ngồi đây nhẩn nha trò chuyện đâu có còn chút gì là trung uý Huy trẻ tuổi và bạt mạng hồi nào. Những năm dài quân ngũ, những trận ác chiến từng trải qua trên hầu khắp Vùng Một khốc liệt, tất cả đã lùi xa, chí ít là cũng cách qua vạn dặm trùng khơi giữa hai bờ đại dương và giữa hai thời đại. Xa biệt ra, khuất tầm gợi nhớ, chắc hẳn cũng giúp nhiều cho sự quên lãng. Mà với những ai cuộc đời và số phận tựa trung uý Huy thì việc quên đi dĩ vãng là sự rất cấp thiết để sinh tồn, để quân bình tâm hồn và an bài cuộc sống. Thế nhưng, nhà văn Cao Xuân Huy đã không thể. Chẳng những không làm sao quên đi được, anh còn từng ngày trên trang giấy sống lại với quãng đời ấy, từng trận đánh, từng người bạn đồng ngũ và cả từng người lính đối phương mà tự tay mình đã bắn hạ.


Tại sao ? Viết, kể, dựng dậy những chuyện vừa kinh khủng vừa cũ xưa ấy để làm gì chứ ? Tôi nghĩ là rất nhiều người đã lên tiếng hỏi hoặc đã thầm hỏi thế khi đọc tác phẩm của anh. Chắc hẳn cũng đã từng không ít người băn khoăn hỏi vậy khi đọc, chẳng hạn, " Mặt trận phía tây yên tĩnh ", " Đất trắng ",  " Câu chuyện của Paco " v.v.  Đấy là câu hỏi thật tình và đương nhiên, thốt lên tự đáy lòng độc giả, mà tôi đồ rằng nhất là của những độc giả thực sự thấu hiểu và đồng cảm với những tác phẩm văn học nghẹt thở ấy. Tuy nhiên đấy lại là điều các tác giả không thể giải đáp. Nếu có bị buộc phải trả lời, họ cũng sẽ không cách sao diễn đạt nổi, thậm chí cho chính bản thân mình hiểu, nông nỗi thế nào lại cứ nhất định những chuyện ấy mà viết.


(Bảo Ninh)


Mộng


Ta ngồi đỉnh núi này đây
Mây ơi xoá hộ mộng vây buộc người


Vòng tử sinh trong văn học


Dương Quảng Hàm


Dương Quảng Hàm hiệu Hải Lượng, là nhà nghiên cứu văn học. Tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu, do ông dày công biên soạn, được xem là cuốn văn học sử bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta


Ông sinh trong một gia đình có truyền thống nho học tại làng Phú Thị, Hưng Yên. Thân phụ là Dương Trọng Phổ, anh cả là Dương Bá Trạc, một trong những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, trường học cách mạng đầu tiên của Hà Nội.


Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau ra Hà Nội học chữ Quốc ngữ. Năm 1920, tốt nghiệp thủ khoa trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương, rồi làm hiệu trưởng của trường Bưởi.

Hơn 20 năm (1920-1945), ông vừa giảng dạy, vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học. Hai cuốn sách có giá trị nghiên cứu nhất của ông là Việt Nam văn học sử yếu (1941), Việt Nam thi văn hợp tuyển (1942).

Riêng tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu được Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH dùng làm sách giáo khoa chương trình lớp Đệ Tam.


Dương Quảng Hàm chết khi còn đang tại chức vào đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, tại Hà Nội, ở tuổi 48. Dương Quảng Hàm mất tích bởi ông là đảng viên Quốc dân đảng.


(Những cái chết tức tưởi của nhà văn, 

chuyện bây giờ mới kể - Thái Doãn Hiếu)


Mộng


Hôm qua mộng lại thật gần
Đừng lay tôi nhé hồng trần mong manh


Sài Gòn một thóang vãng lai 


Phùng Tất Đắc


Sách Lãng Nhân Phùng Tất Đắc (*) thấm đậm phong thái thời đại của ông và của các thế hệ thời ông, như đoạn trích dẫn này cho thấy: “Sở dĩ tôi ham làm báo là vì từ trước vẫn nghe nói chuyện về những Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và đức cần cù của Trần Trọng Kim, nên muốn được học hỏi nơi các ‘thần tượng’ ấy. Ðến khi lên Hà Thành, gặp ông Phạm Quỳnh ở Hội Khai Trí, tôi không ưa lối cao ngạo, nhưng phải phục đức tính chịu khó của ông: ông ngồi văn phòng mùa nóng nực, mồ hôi nhễ nhại mà vẫn cặm cụi viết, hoặc đọc sách đến đoạn nào đắc ý, lại lom khom đứng dậy ghi ngay vào fiches. [thẻ]… Hồi ông dịch tiểu thuyết Pháp, buổi trưa sau bữa cơm, ông nằm trên ghế dài, hai bên hai người ngồi chép, ông dịch một lúc hai bộ tiểu thuyết, cứ đọc một câu cho bên phải lại quay đọc một câu cho bên trái. Ông có tài đọc rất nhanh, tôi từng thấy ông cầm quyển Nho Giáo mới xuất bản, lật lật từng tờ, đưa mắt qua loa, độ một giờ sau là ông cầm bút viết bài phê bình trên báo ‘Annam Nouveau.’ 


Trần Trọng Kim là người cần cù khổ học. Ông có một cái bàn viết thật độc đáo, cả bàn ghế cả đèn đều đặt trong một chiếc màn lớn để tránh muỗi, đêm nào dù đi yến tiệc ở đâu cũng cứ 22 giờ là về, chui vào làm việc cho đến 2 giờ sáng.” (Văn, 10.1.1975)


“Báo chí buổi ấy ở dưới chế độ kiểm duyệt. Ðứng đầu sở kiểm duyệt là Vayrac, một ông tây thâm nho. Khoảng năm 1930 chính quyền Pháp bổ ông Vi (Văn Ðịnh) về tổng đốc Thái Bình,… ông Vi dùng hết cơ tâm để săn bắt những người làm quốc sự, lại sáng chế ra một cách tra tấn là dùng chày nện vào các khớp xương. 


Ðược tin ấy, Ðồng Giang cư sĩ ở Nam Ðịnh gửi lên báo Ðông Tây một bài thơ vịnh chày, lấy chày làm độc vận… Hồi bấy giờ, tòa soạn trưng hình ông Vi lên trang nhất, và ngay bên dưới, đóng khung bài thơ chày, đã có dấu kiểm duyệt:


Chày


Khen ai đã khéo tạc nên chày
Đau đớn cho ai chỉ vị chày
Ở chốn rừng xanh trơ xác lõi
Về nơi dân đỏ béo thân chày
Trông ra tròn trặn trơn lì gỗ
Dùng đến hung hăng giã nặng chày
Đầu có nhọn đâu mà cô thắt?
Ngàn thu còn nhớ mãi tên chày


Báo phát hành, quả nhiên tiếng chày vang rộn rã trên khắp các tỉnh miền Trung châu, và từ đó về sau, cái hình phạt “chày” cụ lớn không cho dùng đến nữa. 


Tiểu sử : (*) Phùng Tất Đắc bút hiệu: Lãng Nhân. Sinh ngày ngày 2.6.1907 tại Hà Nội.

Mất ngày 29.2.2008 tại Cambridge, Hoa Kỳ.

Tác phẩm : Trước đèn (1939),  Chuyện vô lý,  Chơi chữ (1960),  Cáo tồn (1963), Giai thoại làng nho (1963), Chuyện cà kê (1968) , Nhớ nơi kỳ ngộ


Mộng


Ta ngồi đỉnh núi này đây
Mây ơi xoá hộ mộng vây buộc người


Chữ nghĩa làng văn


Thương nhớ thầy Nguyễn Đăng Mạnh


image

Những gì về văn chương của thầy Nguyễn Đăng Mạnh, tôi đã viết trong bài “Thầy Nguyễn Đăng Mạnh: nhà giáo – nhà văn và tôi còn muốn viết nhiều hơn nữa về sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học của thầy khi có điều kiện. Hôm nay, để ngùi nhớ khi vừa tiễn đưa thầy về nơi an nghỉ, xin chỉ nói về con người thầy, là những kỷ niệm về tôi với thầy, cũng là một thứ di sản tinh thần không thể quên.


Tuy vậy, về văn chương cũng cần nói thêm điều này: Trong mấy năm sôi nổi của làn gió “Đổi mới”, cùng với các tên tuổi Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương,… thầy là một cây bút lý luận, phê bình “tả xung hữu đột”. Những năm tháng ấy, cầm tờ báo Văn nghệ là thấy thích, có bài thầy Mạnh càng thích. Có khi chỉ là lời phóng viên tường thuật phát biểu của thầy trong hội thảo thôi cũng rất độc đáo. Thầy nói ít, viết ngắn nhưng cách nói “ác khẩu” của thầy (thực chất là dùng ngôn từ chính xác để gọi tên sự vật một cách chính xác) gây ấn tượng mạnh, khiến người nghe cảm nhận ngay bản chất của vấn đề. Khác hẳn nhiều ông cứ phải vòng vo Tam quốc, rào đón nhiều quá, khiến người nghe phải nghĩ mãi mới đoán ra cái ý thực là gì. 


Và cũng vì ngôn từ “ác khẩu”, thầy làm cho nhiều kẻ có thói quen xu nịnh chính thống tức tối. Tôi còn nhớ vì câu “Có một thời đảng khinh bỉ sâu sắc giới văn nghệ sỹ”, thế là thầy bị một trận đòn hội chợ…Tuy nhiên, thời điểm đó, phong trào dân chủ đang mạnh nên nhìn chung những kẻ phò cường quyền tạm thời im lặng, nhưng chỉ vài năm sau, cánh cửa dân chủ khép lại, họ phản công thầy, nhất là khi xảy ra vụ “Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh” năm 2008.http://vanviet.info/wp-includes/js/tinymce/plugins/wordpress/img/trans.gif


(Đào Tiến Thi)


Tiểu sử
Nguyễn Đăng Mạnh sinh ngày 18.3.1930 tại làng Thổ Khối, Bắc Ninh.NDManh 12

Mất ngày 9-2-2018 tại Hà Nội..

Tác phẩm

Nhà văn Việt Nam hiện đại 

Tuyển tập phê bình văn học

Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh


20 năm văn học hải ngoại 


Nói một cách khác, dòng văn học hải ngoại chính là dòng văn học miền Nam nhưng thiếu những người bị miền Bắc cầm tù và những người tự nguyện gia nhập dòng văn học miền Bắc. Mà trong khi văn học miền Nam trở thành văn học hải ngoại thì văn học miền Bắc trở thành văn học quốc nội. Cùng một phút, cùng một giờ. Chỉ có một thay đổi: biên giới. Thành ra chữ "Miền Nam', "Hải ngoại", "Miền Bắc", "Quốc nội" chỉ có một ý nghĩa là ý nghĩa địa lý, lại là địa lý chính trị: miền Nam hay Hải ngoại là văn học Việt Nam Quốc gia; miền Bắc hay Quốc nội là văn học Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Cho tới phút tôi đang viết câu trả lời này, Việt Nam vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa. Chưa ai thấy một nhà văn nào, một tạp chí văn học nào hay một nhóm nhà văn nào ở trong nước thuộc dòng văn học miền Bắc phủ nhận chủ nghĩa xã hội, phủ nhận thể chế xã hội. Cho nên tôi không thể nghĩ khác được rằng văn học của một nước xã hội chủ nghĩa lại không phải là văn học xã hội chủ nghĩa. Ở đây xin không nói tới những nhà văn hiện ở trong nước nhưng thuộc dòng văn học miền Nam, những người mới đây in Mười hai tác giả Sài gòn, mười hai truyện ngắn 1993.


(Viên Linh)


Ngôi chùa thiêng lưu giữ 

“Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du


Sau tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” tức “Truyện Kiều”, có một tác phẩm cũng là một tiếng khóc lớn cho số phận đau đớn của con người: “Thương thay thập loại chúng sinh/ Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người”… Đó là “Văn tế thập loại chúng sinh, còn gọi là “Văn chiêu hồn, chứa đựng tâm hồn của một nhà thơ “có con mắt thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”.

 

Tác phẩm mang đậm màu sắc Phật giáo này đã được lưu truyền hàng trăm năm qua trong các ngôi chùa Việt cổ. Nhà thơ khóc (tế) người chết để đồng thời xót thương người đang sống. Ngoài sáu hạng người phú quý, tác giả dồn hết yêu thương cho những kiếp người vô danh, sống và chết trong lặng lẽ. 


Với 184 câu thơ song thất lục bát, tác phẩm khởi hành từ miền dương thế, trong bối cảnh “mưa dầm sùi sụt” đầu thu để nhìn về cõi âm phủ. Cảm thương trước bao khổ nạn, nhà thơ kêu gọi những linh hồn vất vưởng cùng về dự đàn giải thoát. Nguyễn Du khóc thương cho mười sáu loại người bất hạnh đã, đang, rồi cũng phải chìm trong bể khổ, với cảm xúc mỗi lúc một bi ai thống thiết… Không chỉ xót thương, ông còn tìm phương cách cứu vớt con người thoát cơn hoạn nạn, giúp con người bớt khổ đau… Văn tế đã khuyên các cô hồn nên thờ Phật giải oan cứu khổ:

Còn chi ai quí ai hèn,

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi

Muôn nhờ đức Phật từ bi,

Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.


(Nguyễn Anh Tuấn)


Tố Như không phải tên tự Nguyễn Du


Tôi (khuyết danh) có “trực giác” thấy mối liên hệ giữa nàng Tiểu Thanh lấy lẽ họ Phùng ở Tây Hồ và Hồ Xuân Hương lấy lẽ Cai Tổng Cóc. Rồi câu đầu: Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu (Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư) của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Ký với câu: Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa, trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn của Hồ Xuân Hương


Sáng hôm đó tôi đến gõ cửa sớm nhà Giáo sư Võ Thu Tịnh ở Paris. Tác giả nhiều sách giáo khoa miền Nam. “Bác Tịnh ơi, tra giùm với cháu chữ Tố Như “. Giáo sư Võ Thu Tịnh ngẩn người: Tố Như là tên tự Nguyễn Du tra làm gì ? 


Nhưng rồi bác Tịnh cũng tra tự điển Thiều Chửu và các tự điển khác: Tố là tơ trắng, là người phẩm hạnh cao quý, Như là như thế, như vậy. Vậy thì câu: Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như, chỉ có nghĩa: Ba trăm năm lẽ nữa, thiên hạ ai người khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.


Thì ra năm 1804 Nguyễn Du làm tri phủ Thường Tín, vợ mất, tìm về Cổ Nguyệt Đường, mong gặp Hồ Xuân Hương để nối lại duyên xưa, thì Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Nên Nguyễn Du đứng bên song cửa Cổ Nguyệt Đường viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ Xuân Hương. 


Vì vậy Tố Như không phải tên tự Nguyễn Du.


Cai tổng


Minh Mạng năm 1832 lập ra tổng khi ông "định lại bản đồ trong nước". Người cầm đầu một tổng được gọi là “cai tổng” chứ không phải “chánh tổng” do đó từ cai tổng được dùng từ đời Minh Mạng


Trong từ điển Alexandre de Rhodes, tổng được định nghĩa: "gồm chừng mười làng" và cai tổng: "ông quan cai trị mười làng" (Rhodes, 1651). Vì vậy gọi “ông tổng Cóc” tức chánh tổng vào thời bà Hồ Xuân Hương không danh chính ngôn thuận. Vì bà mất năm 1822, mãi đến Minh Mạng năm 1832 mới có tên tổng


Qua một người viết: Với đường xa vạn dặm, bà Hồ Xuân Hương là người của Thăng Long văn vật với tứ thời bát cảnh, thân gái dặm trường chẳng dại gì đưa mẹ già lên tận mạn ngược Phú Thọ sương lam chướng khí để lấy một ông cai tổng trông coi mười làng. Hơn thế nữa lại là ông cai tổng háo danh. 


Số là ông ta đang còn sống, khi không tự lập đền thờ cho mình, vì vậy với bài “Khóc Tổng Cóc” do thiên hạ ghen ghét làm trêu chọc ông. Bà hay làm thơ trêu chọc người ta bỗng dưng bị quàng cái ách không đâu. Vì nghĩa tử nghĩa tận, không ai làm thơ khóc chồng lại diễu cợt như cóc, nhái, bén, chẫu chuộc như vậy.


Giai thọai làng văn  


Làm thơ khất nợ

Lúc thiếu thời, Nguyễn Công Trứ đã từng được người đời liệt vào hàng các tay đổ bác có tiếng. Ông vớ của thiên hạ cũng đã lắm, mà thua thiệt nợ nần người ta thì cũng nhiều.Một lần đi đánh tổ tôm bị thua rồi mang nợ. Chủ nợ là một ông già, đến đòi năm lần bảy lượt mà Nguyễn Công Trứ cũng vẫn không có tiền giả. Sau ông lão đòi rát quá, Nguyễn Công Trứ đành phải đi lục lọi rương hòm xem có gì đáng giá để đem cầm đợ mà lấy tiền trang trải. Nhưng khốn thay, lục mãi mà vẫn chẳng khui ra được gì ngoài mấy quyển sách nát. Túng thế, Nguyễn Công Trứ mới đọc liều cho ông già một bài thơ để xin khất nợ. 


Thơ rằng:
Thân "bát văn" tôi đã xác vờ.
Trong nhà còn biết "bán chi" giờ?
Của trời cũng muốn "không thang" bắc,
Lộc thánh còn mong "lục sách" chờ.
Thiên tử "nhất văn" rồi chẳng thiếu.
Nhân sinh "tam vạn" hãy còn thừa.
Đã không "nhất sách" kêu chi nữa?"
Ông lão" tha cho cũng được nhờ! (1)

Ông lão rắp tâm đòi cho bằng được, nhưng lần lần nghe qua thấy thơ hay mà khéo quá; câu nào cũng có tên một quân bài tổ tôm, đồng thời nói lên được cái cảnh học trò kiết không tiền...Vì thế ông lão mến tài, bằng lòng cho Nguyễn Công Trứ khất nợ.

(1) Chỗ tài tình của bài thơ ở chỗ Nguyễn Công Trứ khéo vận dụng những tên quân bài tổ tôm (như: bát văn, bán chi, không thang, lục sách, nhất văn, tam vạn, nhất sách, ông lão) vào bài thơ, đồng thời những danh từ ấy vẫn có nghĩa thông thường.


Bát văn: tên quân bài có vẽ một thân hình lươn khươn, yếu ớt, tượng trưng một anh học trò; vì vậy thân bát văn là nói bóng thân học trò.

Bán chi: tên quân bài, nghĩa thứ hai là bán cái gì bây giờ?- 

Không thang: tên quân bài, nghĩa không thang để bắc lên trời.

Lục sách: tên quân bài, nghĩa thứ hai là lục tìm trong đống sách.

Nhất văn: tên quân bài, nghĩa khác lấy trong câu: "Nhất văn thiên tử chiếu, tứ hải trạng nguyên tâm", à: Vừa nghe chiếu vua mở khoa thi, nức lòng muốn chiếm trạng nguyên.- Câu này còn có ý bảo: nay mai tôi đỗ đạt rồi chẳng thiếu gì tiền

Tam vạn: tên quân bài, nghĩa nữa là ba vạn ngày, tức suýt soát một đời người.

Nhất sách: tên quân bài, nghĩa thứ hai là một mưu kế.

Ông lão: tên quân bài, nghĩ khác chỉ ông lão chủ nợ.


Địa danh mang chữ “Tân”


Vào cuối thế kỷ 18 Nam Kỳ là địa bàn giao tranh giữa quân Tây Sơn và họ Nguyễn. Sau khi cuộc nội chiến chấm dứt, nhiều địa danh mang chữ Tân xuất hiện ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Như Tân Sơn Nhứt, Tân Sơn Hòa, Tân Định, Tân Bình, Tân Khánh, Tân Long, Tân Hội, Tân Đông Hiệp, Tân Thạnh Đông, Tân Thới, Tân Kiểng (Tân Cảnh), Tân Lân,… để đánh dấu một cái gì mới mẻ sau cuộc chiến tàn phá khốc liệt.


(Phạm Đình Lân)



Tên phố, tên đường


Lấy tên quảng trường Ba Đình làm ví dụ. Thời Pháp mang tên linh mục Puyginiê. Cuối đường có một bãi trống là poăng (point: điểm bắt đầu phố) Puyginiê. Sau đảo chính 9-3-1945 chỗ ấy được bác sĩ Trần Văn Lai đặt tên là quảng trường Ba Đình.


Cách mạng 1945 thành công, quảng trường Ba Đình được tên mới là quảng trường Độc Lập. Pháp chiếm lại Hà Nội đổi tên là quảng trường Hồng Bàng. Năm 1954 Hà Nội được giải phóng, lấy lại tên là quảng trường Ba Đình. Hai chữ Ba Đình - tên một chiến khu ở Nga Sơn (Thanh Hóa) của Đinh Công Tráng chống Pháp năm 1886 - trở thành tên một quảng trường trung tâm Hà Nội đã biểu hiện một phần quá trình và đặc điểm của vấn đề đặt tên phố thủ đô. Có người không hiểu “sự tích” đoán chỗ ấy ngày trước có ba ngôi đình, nên được đặt tên là Ba Đình!


***

Trên 40 năm đã qua, các tên phố Hà Nội đã có một số thay đổi, vẽ nên bước hình thành của lịch sử và sự phát triển ở Hà Nội. Nhưng thật ra từ sau lần thay đổi đầu tiên 1945, về sau và cho tới bây giờ, lần nào cũng chỉ là đôi chỗ sửa chữa - chứ thực sự chưa khi nào được xem xét tường tận mọi mặt để làm cho tên các đường phố Hà Nội thực sự, hoàn chỉnh, chưa đủ giá trị sánh kịp với đổi thay lịch sử.


Tên phố Hà Nội hiện nay đương như thế nào? Có thể nói ngoài phần tên phố ghi lại Hà Nội xưa bằng tên các đền chùa, phố phường, phản ánh từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần rồi đến thời Pháp, những tên phố qua các thời kỳ trên, đều là những địa danh, những nhân vật, những sự kiện. Nhưng nếu so chung với chiều dài lịch sử cho đến tận hôm nay bằng tên phố ở Hà Nội còn so le, còn chênh lệch trước thực tế qua từng giai đoạn.


(trích "Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè" – Tô Hòai)


Văn hóa ẩm thực


“Con chó chân gỗ”


Bạn tôi, nhà thơ Trần Tiến Dũng, kể một câu chuyện về chó bảo đảm không đụng hàng. Anh đặt tên cho câu chuyện là “Con chó chân gỗ”*. Một hôm anh đang đi trên đường ở một vùng quê. Bất chợt anh thấy một con chó vàng chạy băng ngang qua đường. Con chó chạy như bị què, chân sau bên trái lê khập khiễng. Kỳ dị thay khi nó chạy lại có tiếng như que gỗ gõ xuống mặt đường đá dăm. Anh lấy làm lạ bèn bước vội theo. Con chó chạy đến một ngôi nhà mới xây thì dừng lại ngó anh, rồi khập khiễng chạy vào sân mất hút. Dũng bước vào sân, chủ nhà ra tiếp. Anh kể lại đã thấy con chó lạ như thế.


Chủ nhà mời anh uống nước rồi gọi con chó ra cho anh xem. Dũng kinh dị khi thấy cẳng chân trái sau của nó là một chiếc chân gỗ được đẽo và tháp rất khéo vào tận bẹn. Ông chủ nhà kể lại câu chuyện sau đây thay cho lời giải thích

“Con chó này vô cùng đặc biệt, nó là ân nhân của gia đình chúng tôi, nhờ có nó mà cả nhà tôi thoát chết. Cách đây một năm, ngôi nhà phát hỏa vào lúc giữa khuya. Khi đó cả nhà tôi đang say ngủ mà không biết rằng ngọn lửa đã nhanh chóng phủ chụp cả mọi nơi. May làm sao Ky bật dậy chạy vào lôi mùng, đánh thức mọi người dậy. Nó còn xông vào lửa để hất đi cánh cửa cháy đỏ rừng rực đang đè lên cậu con trai cả của tôi. Chúng tôi chỉ kịp chạy ra khỏi nhà thì mấy tầng lầu đổ sụp xuống, suýt chút nữa thì đã bị chôn sống trong khói lửa”. 


Dũng cắt lời, “Chắc Ky bị đè gãy chân trong đêm đó phải không?” 

“Ồ không, nó vẫn khoẻ mạnh bình an trong chuyến đó. Nhưng vì nó là con chó đặc biệt nên chúng tôi phải ăn nó một cách cũng đặc biệt. Chúng tôi ăn từng phần một, chứ không làm thịt ăn một lần. Cái chân gỗ là do thằng Cả làm đấy, nó là đứa khéo tay. Anh có thấy nó đang ngồi đẽo thêm trái tim ngoài kia không?”

 

Bạn có tin câu chuyện này có thật không? Tôi thì tôi tin lắm, tuy rằng nghe qua như chuyện hoang đường.


(Lý Đợi


Rượu nếp than


Tên gọi các loại rượu: Rượu nấu bằng nếp như chúng tôi đã miêu tả nên tên gọi đầu tiên của nó là rượu nép (sic). Dân gian còn gọi bằng nhiều tên khác như rượu trắng, rượu đế …


Rượu trắng là dựa vào màu sắc của nước rượu. Cũng loại rượu ấy, nhưng nhiều người nấu nếp than (loại nếp hạt đen) làm cơm rượu (xin nói thêm cơm rượu này cũng là cơm nếp ngon, được vò viên tròn nhỏ cỡ đầu ngón chân cái, ủ men, chan nước đường, dùng ăn chơi lũ nhàn nhã, thức ăn này có loại men riêng, còn “cơm rượu” dùng để nấu rượu ít người “ăn nổi” bởi nồng độ men của nó “nặng” hơn nhiều), nghiền nát cho thêm nước có đường vào pha chung tạo thành loại rượu có màu hồng sẫm, được gọi là rượu nếp than.


Rượu nếp than đậm đặc rồi chôn xuống đất, … mấy tháng đào lên uống rất ngon hơn nhiều lần, dân nhậu gọi là “lão tửu”!


(Bùi Túy Phượng)


Từ cá gỗ Nghệ An vắt qua họ Phí, họ Trần


Tới Nghệ An cá gỗ ăn với mắm sống, hay mắm mộc 1 (như trà mộc). Hoặc mắm y 2 tức y xì mắm, không chanh, đường, tỏi, ớt. 


(1) Theo Đại Việt sử ký toàn thư : Bùi Mộc Đạc là một danh thần đời nhà Trần, vốn tên thật Phí Mộc Lạc nhưng vì vua Trần Nhân Tông cho là Mộc Lạc là tên xấu, mang điềm chẳng lành (Mộc Lạc tiếng Hán là cây đổ, cây rụng) nên vua đổi tên thành Bùi Mộc Đạc nghĩa Mộc Đạc là cái mõ đánh vang. Bùi Mộc Đạc làm đại thần trải 3 triều vua Trần.

Sau này, người họ Phí trong cả nước hâm mộ danh tiếng của Mộc Đạc, đua nhau đổi làm họ Bùi". Chắt nội Bùi Mộc Đạc (Phí Mộc Lạc) tên là Bùi Quốc Hưng là người tham gia hội thề Lũng Nhai và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Sau khi Lê Lợi lên ngôi, phong ông là Nhập nội Thiếu úy, tước Hương thượng hầu, sau thăng Nhập nội Tư đồ.


(2) Trần Thủ Độ gốc họ Bùi, vì có chuyện bất hòa trong gia tộc nên đổi qua họ Trần. Vì không muốn cho con cháu quên cái gốc (là họ Trần) của mình. Trần Thủ Độ chiết tự từ nghĩa Nôm của chữ “Trần”. Trần nghĩa là... ở trần, là không mặc áo. Không mặc áo là phi y (không áo). Chữ phi (非) và chữ y (衣) ghép lại thành chữ Bùi (裴). Thế là Trần Thủ Độ có được một cái tên họ. Trần = phi + y = Bùi. Vì dựa vào…”chữ y”.


(nguồn: Phạm Lưu Vũ & tổng hợp)


Don Quixote


Chàng Don Quixote xứ Mancha đã phải bán nhà và vay một số tiền khổng lồ từ một người bạn để đi “hành hiệp giang hồ”. Chàng đem bộ áo giáp của ông cha để lại đã bị han rỉ và thủng lỗ chỗ ra đánh bóng và đội vào, phong cho con ngựa gầy còm cao lênh khênh của mình cái tên rất kêu Rocinante. 


Đôn Kihôtê xứ Mantra 2 Đôn Kihôtê xứ Mantra, tranh của Honoré Daumier

và con ngựa Rocinante 


(tranh của Honoré Daumier)


Và để đúng mốt của một hiệp sĩ lang thang phải có một người tình xinh đẹp, chàng nghĩ đến một phụ nữ nông dân mà chàng thầm yêu từ hồi tuổi trẻ và đặt cho cô ta cái tên Công nương Dulcinea làng Toboso.


Trong chuyến hành hiệp lần thứ nhất, Don Quixote nói với những người lái buôn phải công nhận nàng Dulcinea là người đẹp nhất trần gian, những người này không tin vì họ chưa từng thấy nàng. Kết quả là chàng hiệp sĩ bị đánh bại xiểng liểng sau một cuộc giao đấu!


(Nguyễn Ngọc Chính)



Nguyễn Ngọc Chính sinh ngày 19/6/1946, ở Vĩnh Yên. 1953 di cư vào Đà Lạt. Anh nguyên là một cựu sĩ quan QLVNCH, khóa 4/68 Thủ Đức. Năm 1969, mãn khóa anh tùng sự tại trường Sinh Ngữ Quân Đội. Sau 30 tháng 4, anh đi “cải tạo“ (Trảng Lớn, Tây Ninh). Khi thóat khỏi tù, anh không tìm cách vượt biên hoặc rời đất nước theo diện HO. Anh chọn ở lại, cũng nhờ vậy, chúng ta đọc được những dòng ký ức “Hồi ức một đời người“, đằm thắm tình quê, tình đất, tình người của anh. 


Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm


Thơ văn Thanh Tịnh trước sau giữ sự thành thật, thấm đẫm vẻ dịu dàng, kín đáo. Bài thơ “Tơ trời với tơ lòng” ông viết:

Còn nhớ hôm xưa độ tháng này

Cánh đồng xao xác lá đùa cây

Vô tình thiếu nữ cùng ta ngắm

Một đọan tơ trời lững thững bay


Đọc văn Thanh Tịnh một lần, khó ai quên. Ông tiếp thụ thái độ khách quan hiện thực, gọn nhẹ, trong sáng. Giàu sự tinh tế của bút pháp nghệ thuật miêu tả chi tiết sự việc. Sở trường đặc biệt về truyện ngắn của ông là nghệ thuật gói gọn thông tin, vào trong những giới hạn cho phép. Chính khả năng này đã giúp ông viết thật dễ dàng, uyển chuyển, những hình ảnh như thể chứa đựng sẵn trong đầu. Thanh Tịnh ghi lại kỷ niệm lần đầu đi học, bằng đoạn văn “xuất thần” Tôi đi học trong tập Quê Mẹ.


Ấn tượng lần đầu gặp ông về làng ăn chạp, Dương Nổ (1976) là ông có cái dáng cao lớn, khuôn mặt đăm chiêu cố hữu. Một người nhạy cảm, từng trải. Lúc trò chuyện, ông giữ mãi cái giọng bùi ngùi. Tuy có cái nhìn buồn về hiện thực như vậy, nhưng vẫn dành nhiều tình cảm cho cho những người thuộc tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Các thiên truyện Thanh Tịnh đã viết nói lên một nỗi buồn thăm thẳm như thế (Bên con đường sắt, Tình thư, Con so về nhà mẹ, Con ông Hoàng). Hình ảnh quê hương, bạn chiến đấu vĩnh viễn khắc khoãi trong nỗi trầm mặc dằng dặc ấy. 

Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” ông viết:

Có người bảo Huế, xa, xa lắm!

Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng

Mười một năm trời mang Huế theo

Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo

Giọng hò mái đẩy, vờn mây núi

Man mác sông Hương lướt đỉnh đèo


Bài thơ này nằm trong nhóm 100 thi phẩm hay nhất Việt Nam của thế kỷ XX. Lời thơ da diết, mong chờ, khắc khoãi.


Cuộc đời văn nghiệp của Thanh Tịnh là ngọn cỏ để gió đùa. Mà lại là cỏ chỉ! Ông thì thoảng có cái sự hài hước của một người đã quá buồn! Tôi vốn không ưa những gì có hơi hướm bông đùa nên không chú ý nhiều về mãng ca dao, tấu nói của ông. Có lẽ nào sự tuyệt vọng về hạnh phúc gia đình đã làm cho quan niệm nghệ thuật về con người của Thanh Tịnh đa dạng?

Con đường Thanh Tịnh đã đi, con đường bình dị như bao xiết con đường mà các nhà văn, nhà thơ khác đã đi. Nhưng tiếng động, của bước chân âm thầm trên chặng đường ấy, để lại trong người đọc, ngẫm lại thì thật sâu đậm.


(Nguyễn Thanh Huệ)


Bà Điểm


Tương truyền bà Điểm là một chủ quán nước chè vùng Tân Thới Nhứt, Hóc Môn, có 18 thôn vườn trầu.

Nơi đây Trương Định từng hoạt động (khoảng năm 1861).


(Sơ lược nguồn gốc một số địa danh miền Nam - Hồ Đình Vũ)


Đám ma Lý Toét  


Trước lúc đưa đám, bà Lý đã cẩn thận giao phó cho người ở nhà trông nom xôi thịt, sửa soạn cơm rượu đãi làng. Vậy mà lúc về vẫn thấy mất mát, suy suyển. Đại khái năm miếng thịt bỏ vào luộc thì lúc vớt ra còn bốn, hay ba. Nhiều mâm xôi bị khoét giữa hay vẹt cạnh. Một thúng gạo mang ra ao vo thì lúc về còn nửa. Những người làm giúp được dịp ăn cắp. Người coi có biết cũng phải ngơ, sợ mất lòng, họ bỏ về. Trong khi có việc, họ đến cho là quý.

Chẳng mấy lúc làng đã họp đông. Trong nhà, ngoài sân đông chật, từ các bô lão sáu bảy mươi, cho tới lũ trẻ lên sáu, lên bảy. Đứa nhỏ quá thì đã có người nhà, hoặc anh nhớn bế đi. Họ khỏa chân ở cầu ao trước cửa rồi vào nhà ngồi đợi. Mấy hồi lệnh inh ỏi giục người đi chậm. Trong nhà không đủ chỗ, phải giải chiếu ra hè cho lũ trẻ; không đủ chiếu, chúng ngồi ngay xuống đất.


Tiệc rượu bắt đầu. Trẻ con xúm quanh những mâm gỗ vuông, đầy những đĩa thịt luộc còn đỏ, đĩa xôi đơm điêu, bát nước dùng trắng nhợt và vẩn đục, đĩa rau cải xanh. Chúng ăn ngốn ngấu, gọi cơm om sòm. Chúng chỉ ăn dưa và nước canh, xôi thịt để dành phần mang về. Bên cạnh mâm đã sẵn ít tầu lá chuối. Chẳng mấy lúc, bụng lũ trẻ đã thẳng căng, chúng lẻ tẻ ra về.


(Đỗ Đức Thu)


Giới thiệu

Tất cả bộ mặt xôi thịt làng xã được vẽ lại qua vài nét vẽ phác mà sâu. Hài hước mà đớn đau. Đó là biệt tài của Đỗ Đức Thu, ông đã đạt được nghệ thuật cao của sự mô tả: mỗi nét chấm phá của ông đều vạch ra ít nhất hai bức tranh chồng chéo: bi đi với hài.


(Thụy Khuê)


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Vào trong Cát bụi gíó sương không sờn

Để ai Giấc ngủ cô đơn   

Từng đêm Trăng sáng vườn chè 

Trăng mờ bên suối nghe se sắt long


(Sưu tầm từ VMQH)


Hui nhị tỳ

Nếu bạn không tin dị đoan thì tôi xin bạn... hui nhị tỳ với tôi chơi. Hui nhị tỳ là một động từ kinh khủng, kinh khủng cho đến nỗi người ta không dám nói tiếng Việt mà lại dùng tiếng Tàu để cho cái nghĩa bí ẩn của ngôn ngữ Tàu giúp cho đỡ sợ. Người chết bị bỏ quên! Cho đến cả người thân yêu của họ cũng bỏ quên họ. Bạn sẽ chết. Như thế bạn có tủi trước cho số kiếp bạn hay không? Nếu có thì nên đi thăm họ vậy.

Bước lên xe kiếng [1] đi viếng mả chồng,
Cỏ non chưa mọc trong lòng thọ thai.


[1] Một thứ xe bốn bánh do hai ngựa kéo, rất thạnh hành ở Sàigòn ngày xưa.


Hai câu ca dao Sàigòn trên đây cho ta thấy cả cái chua xót của một người bị bắt an trí ở một xó nào đó để họ rảnh nợ mà trở vô guồng sống quay cuồng của họ.


Hui nhị tỳ buồn lắm. Để cho bạn khỏi thấy cảnh:

Sè sè nấm đất bên đàng...


(Bình Nguyên Lộc)


Tiểu sử : Bình Nguyên Lộc tên thật: Tô Văn Tuấn, bút hiệu: Phong Ngạn. Sinh ngày 7.3.1914 tại Tân Uyên Biên Hòa. Mất ngày 5.3.1987 tại Hoa Kỳ

Tác phẩm: Ðò Dọc, Thổ ngơi Ðồng Nai, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Cuống rún chưa lìa, Quán tai heo, Nhện chờ mối ai, Tình đất, Ðèn Cần Giờ.


Nhà văn Mai Thảo viết về tiếng hát Thái Thanh


Hát với Thái Thanh là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày. Lối hát, cách hát, từ kỹ thuật trình bầy một ca khúc đến cái khó nhận thức hơn, vì ở bên trong, nhưng không phải là không thấy được, là trạng thái tâm hồn Thái Thanh gửi cho âm nhạc, cái phải có và phải thế nào cho tiếng hát của mình bây giờ, trước trưởng thành vượt bậc của âm nhạc và thưởng ngoạn hiện tại, thảy đều dẫn tới một minh chứng: Thái Thanh của những năm bảy mươi đã bỏ lại thật xa ở sau lưng và trong quá khứ, Thái Thanh của thời kỳ khởi nghiệp. Không nhận thấy nỗ lực thay đổi, làm mới này, đó chỉ là vì những người yêu nhạc đã nghe Thái Thanh đều đặn, không đứt quãng, suốt hai mươi năm. Nhìn thấy hoài một khuôn mặt quen thuộc, giản đơn là ta khó thấy những thay đổi của khuôn mặt ấy.


Điểm đặc biệt đáng nói, theo ý tôi, là nếu một mặt, tiếng hát Thái Thanh đã và đang còn vươn phóng rực rỡ tới bắt gặp những chân trời âm điệu mới, phía thưởng ngoạn và tiếp nhận ở rất nhiều người, trong đó có tôi, lại bất biến, từ đầu, không thay đổi. Hai mươi năm, chúng ta vẫn chỉ thấy có một Thái Thanh. Sự ngạc nhiên lại chính là cái hiện tượng muôn vàn quen thuộc. Tại sao như vậy? Tìm hiểu tiếng hát Thái Thanh, cái bởi đâu khiến cho tiếng hát hàng đầu này tồn tại suốt hai mươi năm, trong khi những tiếng hát khác đã tiếp nối nhau lặn chìm và tàn tạ. Cái tại sao, khiến cho sau hai mươi năm, khối lượng cảm tình của khán giả yêu nhạc cả nước dành cho Thái Thanh vẫn đầy ắp như một bát nước đầy, tìm hiểu đó phải được khởi đi từ cái hiện tượng khác thường của thưởng ngoạn tôi vừa nói tới. Nó giải thích được cho cái trường hợp thành tựu duy nhất trong âm nhạc ta.


Chữ nghĩa làng văn


Hỏi han


Ta hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không? Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’


Lệ Thu, chim oanh về cõi thiên thu


Lệ Thu đến với nghề ca hát hết sức tình cờ rồi trở thành ca sĩ. 

Theo lời kể Lệ Thu: “Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một người bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi!”. Tôi liền đứng lên hát bàiTà Áo Xanh(Dang Dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Tự dưng giọng hát tôi lọt tai ông chủ phòng trà. Ông bèn ngỏ lời mời tôi đi hát. Ông thuyết phục tôi: “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn học bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy. Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại bật lên một cách tự nhiên như thế…”. (Lúc đó Ngọc Phu & Hoàng Cầm điều khiển chương trình).

Khởi nghiệp từ phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là phòng trà Tự Do vào năm 1962. (Trước tháng 11 năm 1963, cấm nhảy đầm, chỉ nghe ca nhạc nên gọi là phòng trà. Sau thời điểm đó, báo chí, giải trí, nhảy nhót… như nắng hạn gặp mưa, sau đó gọi là vũ trường (nơi có khiêu vũ) và sau nầy thường gọi là phòng trà theo thói quen).


(Vương Trùng Dương)


Chữ nghĩa làng văn


Theo Gs Nguyễn Xuân Đào (con trai nhà văn Nguyễn Tuân): Nguyễn Tuân không ăn tỏi và ngại thịt chó.  Ông cũng không thích mắm tôm, chỉ nhắm rượu với thịt ba chỉ chấm mắm tép. Riêng phở được ông viết hết sảy: “Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được.


Chữ nghĩa làng văn


Những tình cờ định mệnh


Từ hội họa, bất ngờ, tôi (Khánh Trường) rơi vào lĩnh vực văn chương, báo chí. Đó là thời gian đầu đặt chân đến Mỹ. Đang loay hoay chưa biết làm gì, tôi được một người bạn giới thiệu với Du Tử Lê. Lúc ấy anh đang làm chủ bút tuần báo Tay Phải. Anh hỏi tôi "đã định làm gì chưa", tôi bảo chưa, anh liền đề nghị: "Thế thì về làm báo với mình, cho vui." "Tôi biết gì mà làm?" "Lay-out, tay ngang còn làm được, huống gì anh là họa sĩ".


Đúng như Du Tử Lê nói, chỉ cần một tí khéo tay, thêm một tí kiến thức về mỹ thuật, ai cũng có thể trở thành chuyên viên lay-out. Tôi lại có thêm lợi điểm: dư khả năng lấp đầy những khoảng trống còn thừa trong các cột báo bằng những minh hoạ. Thi sĩ họ Lê có vẻ hài lòng vì đã nhặt được một gã phụ tá... sáng trí, đa năng (!!!) Anh bèn đẩy sự hài lòng cao hơn tí nữa: một hôm, báo thiếu bài, anh nói với tôi: "KT viết hộ cái gì nhé". Viết? Đề nghị thật bất ngờ.


Thế là tôi thành nhà văn từ đấy.


(Khánh Trường)


Tiệm nước


Dọc hai bên tường, trong tiệm là hai, ba dãy bàn. Mỗi dãy dách, dì, xám, xây, ựng. lục… hình chữ nhật mặt bọc thau cho dễ lau. Mỗi bàn có bốn chiếc ghế xếp. Bàn xếp hướng mặt trời mọc và lặn. Ðông (tún), Tây (sấy) và giữa (thoàn).

Trên mỗi chiếc bàn, có mấy dĩa bánh ngọt cho khách uống cà phê. Bàn nào cũng đặt sẵn ống đũa, muỗng, hũ ớt, hũ tỏi, chai xì dầu, chai giấm đỏ, hũ tiêu, dĩa đựng mấy miếng chanh, hũ đường, hũ tăm cho khách ăm mì, hủ tiếu.


Tổng khậu đứng gần thùng nước lèo lúc nào cũng sôi sùng sục. Phổ ky chạy vô bếp nóng. Nên quanh năm suốt tháng cả hai bụng phệ mặc quần Tiều (ống dài chí gối), áo thun có tay, khăn lau bàn vắt vai.

Khách vừa ngồi xuống, phổ ky mau mắn vừa lau bàn vừa hỏi “Nị xực mí dẹ”? (Nị ăn cái gì?). Rồi kêu to hướng vào trong bếp: “Dì co hoành thánh mì thoàn dách. (Hai tô mì hoành thánh bàn số 1 dãy giữa). “Lưỡng co sủi cảo tún lục” (Hai cái sủi cảo bàn số sáu phía Ðông).

Sáng ngồi tiệm nước của chú Ba cứ tưởng mình đi lạc qua Hồng Kông; ai dè bên hông Chợ Lớn.


(Đoàn Xuân Thu)


***

Phụ đính 


Vợ nhà thơ Nguyễn Bính 


Nguyễn Bính xấu giai thế mà lắm vợ. Bính là con một ông có Hán học, phụ trách trạm ngựa. Nhà khá nhưng sa sút. Giống gia đình Nam Cao. Vì thế Trúc Đường là anh thì được học hành tử tế (như Nam Cao), còn Bính thì không được học mấy. Bính vào Nam, từ 1945. Năm 1954, không có tiêu chuẩn tập kết vẫn cứ ra Bắc. Trước khi ra Bắc có lấy một người vợ đẻ ra cô con gái nay phụ trách Sở Giáo dục Bến Tre. ở Hà Nội, Tố Hữu bầy ra tờ báo tư nhân Trăm hoa giao cho Bính. Bính làm trái ý Tố Hữu, bị phê phán, Bính bực mình bỏ đi Nam Định. Bính có hai vợ chính thức. 


(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)


Tiểu sử : Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính. Sinh năm 1918 tại Vụ Bản, Nam Định. Mất ngày 20.1.1966 ở Lý Nhân, Hà Nam.iBia - Nguyen Binh - PGW - 1


  Tác phẩm : Lỡ bước sang ngang - Hương cố nhân - Mây tần – Trăm hoa -  Nước giếng thơi



MỜI XEM LAI


Chữ nghiã làng văn - Kỳ 15/7/2026 - Ngộ Kh6ng Phi Ngọc Hùng