22 thg 7, 2026

Nguyễn Quốc Chánh: TÊN HỀ CỦA NHÀ VUA - (T.Vấn Và Bạn Hửu )

 


Profile of a Clown 1940-48 – Painted originally by: Georges Rouault (Nguồn: www.oceansbridge.com)

Tiếng cười kéo cái cao cả xuống, trả nó về đời sống vật chất

– Bakhtin

1

Khái niệm carnival (lễ hội hóa) Bakhtin rút ra từ các lễ hội dân gian châu Âu thời Trung cổ. Trong thời gian ấy, trật tự xã hội tạm thời bị đảo ngược.

Nhà vua bị chế giễu, giáo sĩ trở thành đối tượng gây cười, thường dân được làm những điều ngày thường không thể.

Carnival không nhằm lật đổ ngai vàng, chỉ tạo không gian, nơi những gì thiêng được kéo xuống mặt đất, trả về thân xác, tiếng cười và đời sống. Và Bakhtin gọi đó là tinh thần giải thiêng.

Giải thiêng, theo Bakhtin, không phải để hủy diệt cái cũ, mà để cái cũ có thể tái sinh. Và cũng vì không ai được độc quyền chân lý, carnival luôn là thế giới đa thanh, nơi nhiều tiếng nói cùng ồn ào thay vì chỉ một giọng của quyền lực.

Điều bị hạ thấp không phải là phẩm giá, mà ảo tưởng về sự tuyệt đối. Tiếng cười không phủ nhận quyền lực, nó chỉ “ê” một tiếng, quyền lực sực tỉnh, biết rằng bất khả sai lầm là sai.

Khi nhà vua trở thành nhân vật của tiếng cười, nhà vua vẫn còn là con người.

Bởi vậy, carnival không phải là hỗn loạn chống trật tự, chỉ là cơ chế giúp trật tự tự điều chỉnh. Khi quyền lực hoặc biểu tượng bị thiêng hóa, là tiếng cười xuất hiện như một lực cân bằng, giữ cho sự tôn kính không biến thành sùng bái.

Chính vì thế, carnival không chỉ là hiện tượng văn hóa quá khứ, còn là nguyên lý của mọi xã hội lành mạnh, khi quyền lực muốn tồn tại đều phải chấp nhận một khoảng cách giữa mình và lẽ phải.

Trong thời đại mạng xã hội, gây cười, châm biếm và giễu nhại có thể được xem là những hình thức carnival mới.

Chúng không nhất thiết đúng, nhưng vẫn thực hiện một chức năng cũ, là kéo những biểu tượng tưởng như bất khả động đến trở lại không gian của đối thoại và chất vấn.

Có lẽ vì thế mà trong mọi cung đình đều có một tên hề. Không phải để mua vui, mà để nhắc nhà vua rằng, trước khi là một biểu tượng, bệ hạ vẫn chỉ là một con người.

2

Nếu carnival là cơ chế giải thiêng quyền lực, thì bảo hoàng hơn vua là dấu hiệu cho thấy cơ chế ấy đã biến mất.

Bảo hoàng hơn vua là thành ngữ chỉ những người trung thành với học thuyết, tổ chức hay lãnh tụ đến mức cực đoan hơn cả chính người sáng lập.

Nhà lãnh đạo phải đối diện với thực tế nên buộc phải linh hoạt. Kẻ nhân danh lãnh đạo thì không biết thực tế, chỉ cần chứng minh lòng trung thành. Vì thế, họ dễ biến tư tưởng thành giáo điều và chính thống thành tín điều.

Đó là hai mặt của quyền lực. Người tạo ra lý thuyết đôi khi mềm dẻo hơn những người bảo vệ nó. Người đứng đầu muôn sống còn cần phải biết thỏa hiệp với đời sống. Nhưng Kẻ dưới lại muốn đời sống phải thỏa hiệp với lý thuyết.

Trong chính trị học, đây là hiện tượng cực đoan hóa chính thống. Lịch sử có nhiều ví dụ, trong các cuộc thanh trừng của Stalin, không ít cán bộ địa phương còn khắc nghiệt hơn chính Stalin.

Trong Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, Hồng vệ binh đi xa hơn cả những gì Mao trực tiếp yêu cầu. Trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam, có những người sẵn sàng tố cả cha mẹ.

Điều đáng sợ không nằm ở sự trung thành, mà ở chỗ không còn ai dám cười quyền lực.

Khi tiếng cười biến mất, mọi nghi ngờ đều bị coi là phản bội, mọi phản biện đều bị xem là chống đối và mọi lời ca ngợi đều được coi là lập trường kiên định.

Quyền lực từ đó không còn được hiện thực điều chỉnh, mà bị tiếng vọng rùm beng của nịnh nọt trùm lấp.

Nếu carnival kéo nhà vua xuống đất, thì bảo hoàng hơn vua lại nâng nhà vua lên mây.

Từ con người, bệ hạ trở thành biểu tượng. Từ biểu tượng, trở thành tín điều và khi, tín điều không còn bị chất vấn, quyền lực cũng mất luôn khả năng đàn hồi.

Có lẽ mọi quyền lực đều sợ đối lập. Nhưng điều nguy hiểm hơn đối lập lại là sự trung thành tuyệt đối.

Bởi đối lập buộc quyền lực phải tự xem xét mình, còn sự trung thành tuyệt đối khiến quyền lực tin rằng mình không bao giờ sai.

Đối lập có thể làm quyền lực suy yếu, nhưng chính sự trung thành tuyệt đối mới khiến quyền lực mù lòa.

3

Carnival, bảo hoàng hơn vua và tên hề của nhà vua, thực ra là ba mặt của cùng một vấn đề, là quyền lực đối xử với chính nó như thế nào.

Carnival là lúc quyền lực chấp nhận bị kéo xuống để, biểu tượng còn nhớ mình sinh ra từ đời sống.

Bảo hoàng hơn vua là lúc quyền lực bị đẩy lên, đến mức mọi nghi ngờ đều bị xem là phản bội.

Còn tên hề của nhà vua là người giữ khoảng cách giữa quyền lực và sự thần thánh hóa, nhắc nhà vua rằng, không ai sở hữu toàn bộ lẽ phải.

Khi quyền lực không còn soi mình qua hiện thực, mà qua những tiếng vỗ tay. Đó là lúc nó bắt đầu tin rằng mình chính là chơn lý.

4

Nếu carnival là lễ hội giải thiêng diễn ra theo mùa, thì tên hề của nhà vua là cơ chế giải thiêng mỗi ngày trong lòng quyền lực.

Một thiết chế đặc biệt của các triều đình châu Âu thời Trung cổ là yếu tố hề. Vai trò của hắn không chỉ để mua vui, mà để nói điều không ai dám nói.

Dưới vỏ bọc hài hước, hắn có thể chế giễu nhà vua, phơi bày những nghịch lý của triều đình và nhắc quyền lực về giới hạn của chính nó.

Trong văn hóa phương Tây, tên hề trở thành biểu tượng của sự thật đứng ngoài quyền lực nhưng được quyền lực chấp nhận tồn tại.

Không phải vì nhà vua yêu thích tiếng cười, mà vì một nhà vua khôn ngoan, hiểu rằng quyền lực không thể chỉ soi mình bằng những lời ca tụng.

Trong Vua Lear của Shakespeare, chính tên hề là người nhìn thấy sự điên rồ của nhà vua trước tất cả các đại thần.

Những người mang chức tước chỉ biết nói điều vua muốn nghe. Nhưng chỉ tên hề mới dám nói điều nhà vua cần nghe.

Tiếng cười, vì thế, không đối lập với lẽ phải, nó là cách sự thật bước vào quyền lực mà không mang hình dạng một mệnh lệnh.

Có thể tóm lại bằng một câu: bảo hoàng hơn vua là kẻ nói leo quyền lực, còn tên hề của nhà vua là kẻ nói sự thật với quyền lực.

Một bên làm quyền lực cứng lại, một bên giữ cho quyền lực còn khả năng tự sửa chữa.

Một bên biến tư tưởng thành giáo điều, bên kia giữ cho tư tưởng còn khả năng đối thoại với đời sống.

Bởi vậy, báo chí độc lập, nghệ thuật phản biện và trí thức tự trị không nhất thiết là đối thủ của quyền lực.

Trong nghĩa đẹp nhất, họ chỉ là những “tên hề của nhà vua”.

5

Nếu thời Trung cổ, tên hề là người được phép nói điều không ai dám nói thì ngày nay, vai trò ấy phần nào được thực hiện bởi báo chí độc lập, nghệ thuật phản biện và trí thức tự trị.

Nhiệm vụ của họ không phải lúc nào cũng đúng. Họ cũng có thể sai, có thể thiên lệch, có thể bị định kiến chi phối, nhưng giá trị của họ không nằm ở chỗ luôn đúng, mà ở chỗ họ giữ cho đối thoại không bị thay thế bằng sự đồng thanh lên ngôi.

Một xã hội không thiếu những người nói đúng, mà thường thiếu những người dám nói khác.

Ở nghĩa đó, nghệ thuật không chỉ tạo ra cái đẹp, báo chí không chỉ đưa tin, trí thức không chỉ sản xuất tri thức. Mà họ cùng thực hiện một chức năng sâu xa hơn, là ngăn quyền lực đồng nhất mình với sự thật.

Đó cũng là lý do vì sao những xã hội tự tin thường không sợ tiếng cười. Họ hiểu rằng, điều làm suy yếu một thiết chế không phải là khả năng bị chế giễu, mà là sự mất khả năng tự chế giễu.

Khi tiếng cười biến mất, khoảng cách giữa quyền lực và lẽ phải cũng biến mất. Và khi ấy, mọi lời phê phán đều bị xem là phản bội, còn mọi lời ca ngợi đều được xem là trung thành.

Có lẽ, đó là bài học mà carnival để lại cho thời hiện đại. Một nền văn minh không đo bằng số tượng đài nó dựng lên, mà bằng số tượng đài nó còn cho phép bị chất vấn.

Một quyền lực còn chấp nhận tiếng cười, nó vẫn còn cơ hội tự đổi mới. Khi quyền lực chỉ còn nghe tiếng vỗ tay thì đã bắt đầu chống gậy.

Hơn thế, dù là chơn lý, một khi bị sở hữu, cũng sẽ biến thành con chó cưng của quyền lực.

Quyền lực mạnh nhất không phải quyền lực không bị cười, mà quyền lực vẫn vững vàng sau khi đã bị cười.

Chắc vì vậy, mà có tới 18 đời Hùng Vương.

Nguyễn Quốc Chánh

Vũng tàu 16/7/2026

*Bài do CTV/TVBH gởi.

21 thg 7, 2026

Áo Má Tôi - Thuyên Huy

 


Từ quê lên trường tỉnh, năm đệ Thất, má ít khi lên đón tôi về, ở ký túc xá nên bà không phải lo chuyện ăn chuyện ở, thứ Bảy cùng mấy đứa bạn chung lớp, theo mấy anh lớn, cũng ở làng xã quê xa, chung đường về nhà, đứa xuống trước chỗ này, đứa xuống sau chỗ kia, xế trưa chủ Nhật má đưa tôi ra đón xe ngoài đường lộ, vậy thôi, cứ ngày này qua tháng kia.

Ngày bải trường, nghỉ hè cuối năm, năm đệ Thất, má đón chuyến xe đò nhỏ đầu ngày, lên tỉnh từ sáng sớm, mặt trời Hạ rực nắng lên nhà xóm chài bên này sông, má khiêm nhượng đứng nép mình ở gốc cây phượng già bên kia đường, xế chỗ cổng trường một khoảng xa, chỗ ngày đầu bà đưa tôi lên học. Chuông tan trường reo lên vang rân, chen đám đông nghẹt học trò, túa ra như bầy ong vỡ tổ, tôi chạy nhanh ra tìm má, nắm tay bà cười thành tiếng.

Tiếng đám học trò nhà ở tỉnh, cười giỡn, xúm xích với gia đình, nào xe hơi, xe gắn máy, áo quần người nào người nấy thẳng thốn lụa là, cách đó không xa. Bất chợt nhìn má, cũng cái áo bà ba sờn tím bạc, cái quần đen ngã màu bùn che chưa trọn gót, cũng đôi dép Nhật cũ, bộ đồ đã mặc khi đưa tôi lên tỉnh đầu năm học, tự dưng thấy có chút buồn nhè nhẹ, đâu đó trong lòng khó tả, khác hẳn những năm còn nhỏ ở trường làng, tôi vô tư không nghĩ gì. Xe đò tới, lên xe rồi, nhìn lại đám người phía sau, rồi nhìn má, tôi thì thầm “má tôi”.
*
Nhà nghèo, ba mất sớm, từ hồi chưa lên năm, bà con nội ngoại không thấy ai, chưa một lần nghe má nói tới hay nhắc đến. Còn lại hai má con, vui mà sống ở căn nhà mái tôn vách đất, nằm cuối ấp chợ, bên lề con đường đất đi xuống bờ nhánh sông nhỏ, không có bến đò, băng ngang qua cánh đồng cỏ lớn, nơi dân làng thường thả cho trâu bò ăn cỏ.



Má làm công nhân cạo mủ cho cái sở cao su lớn, cách nhà độ chừng ba bốn cây số, sáng sớm, trời còn mờ mờ sương đã đạp xe đí, má đem gởi tôi bên nhà ông bà bác sáu Thịnh, bên cạnh, có sạp bán bánh bán xôi trong chợ, nhà không có con, và thương tình cảnh mẹ góa con côi, thường hay giúp đở má tôi nhiều thứ, trong nhiều thứ đó, có tiền, nhất là tiền cho tôi đi về khi lên tỉnh học, số tiền đó má từ từ trả lại, hai ông bà ít khi đòi, ông bà thương tôi lắm, từ sở cao su về trưa chưa kịp thì đã lo cho tôi ăn tôi uống rồi.

Trừ thứ Bảy chủ Nhật, ngày đi làm má về nhà lúc giữa trưa một chút, nên rảnh cả buổi chiều, má qua phụ ông bà bác sáu chuyện nấu xôi hay làm bánh. Tôi đi học trường xã, má thức sớm hơn, cho tôi ăn, khi thì xôi của ông bà bác sáu Thịnh cho, hay cơm nguội khoai lang, như những năm qua, dẫn tôi qua bên bển chơi, chờ trống trường vào học, rồi đạp xe đi làm. Tôi quen dần với chuyện này từ những năm đó.
*
Năm đệ Tứ, vào học không lâu, được thằng bạn thân, con nhà giàu cùng lớp, giới thiệu tới làm phụ bưng chén, bưng tô cho khách, vài tiếng đồng hồ mỗi chiều tan học về, tại tiệm cơm đông khách của người dì bà con hắn ta. Làm như vậy, vài tháng sau, trước ngày nghỉ Tết năm đó, buổi chiều tan học, có chút đỉnh tiền, tôi ra tiệm vải trong nhà lồng chợ tỉnh, mua hai sấp vải màu, áo tím đậm màu trái cà, quần đen tuyền màu mực, để đem về làm quà năm mới cho má.Trên đường đi bộ từ chợ về ký túc xá, cười vui như trúng số, ước mơ một ngày có được của tôi đã thành sự thật.



Vậy đó, mấy mùa Tết năm sau, thấy má không mặc áo mới, không dám nhưng có đôi ba lần, lần lựa rồi e dè, hỏi sao má chưa may quần áo mới, má cười bảo chưa cần, khi nào may tôi sẽ biết ngay, má con tôi ăn Tết, nói ăn Tết cho vui, chứ nhà nghèo, mưa dầm lầm lũi, vui buồn với đám cây cao su tối mù, hết xuân rồi đông, có mâm cơm, nồi thịt kho mua trễ thêm hai ba cái hột vịt, trái dưa hấu ông bà bác sáu Thịnh cho và gói thèo lèo cứt chuột, cũng đủ để nhà có tiếng cười rồi, thương má, năm nào tôi cũng để dành chút tiền, quà cho má mà không cần má cho lại, nhìn cái bao đỏ, lần nào cũng vậy, thấy mắt má đỏ hoe mà thương má không biết nói sao cho vừa.
*
Hai má con ngồi ăn bánh mì, với mấy lát thịt đồ hộp của Mỹ mà tôi mua từ chợ Cũ Hàm Nghi Sài Gòn, với số tiền dành dụm từ những ngày làm ở quán cơm bà dì của anh bạn học nhà giàu, hôm đi xem kết quả Tú Tài Một về, sau chái hiên nhà, bên cạnh mâm cơm cúng ba, mâm cơm báo tin tôi thi đậu, buổi chiều còn nắng, má mừng khôn xiết, giờ thì bà bảo tôi , bà chờ ngày này từ mấy năm rồi, ngày mai má sẽ may quần áo mới, vừa nói vừa cười, chút vạt nắng tím hồng chiều còn sót lại, lùa ngang phớt qua, trên đầu bà những sợi tóc thưa bạc màu sương khe khẻ đong đưa, vui lây.



*
Hôm đưa tôi ra đường, chờ đón xe lên tỉnh tựu trường đầu năm đệ Nhất, má mặc chiếc áo bà ba màu tím trái cà mới. Lên xe, xe chạy một khoảng xa, nhìn lại, nhớ chiếc áo bà ba tím cũ bạc màu của má, tôi rươm rướm khóc.

Thuyên Huy


Viết lại để tưởng là mình có mẹ

Mời Xem Thêm :




Trang Thơ Hathuthuy : LỤC BÁT NHỚ THUONG ,NGAN NGÁT SEN HỒG

 LỤC BÁT NHỚ THUONG

Hỏi cành lá rụng ven tường
Làm sao để khỏi nhớ thương đầy lòng?
Bốn mùa xuân hạ thu đông
Ngày nào cũng thấy nặng lòng nắng mưa
Thương nhau biết mấy cho vừa
Xa nhau ngày rộng tháng thừa... Người ơi!
Hướng nào cũng thấy chơi vơi
Mịt mù sương khói...thêm vời vợi xa.
hathuthuy
NGAN NGÁT SEN HỒNG

Lạc lối sai đường hai tiếng đồng hồ
Mới nghe hương sen nồng nàn trong gió
Mới nhìn được ruộng sen hồng sắc đỏ
Lá xanh rờn hoa kiêu hãnh vươn cao.
Nắng ôm hoa rập rờn theo cánh gió
Một vùng mênh mông bát ngát đầy hoa
Làm ấm lòng những du khách gần xa
Đến rồi đi với vô vàn lưu luyến.
hathuthuy


20 thg 7, 2026

ĂN LẤY THẢO (FB.Bùi Thị Đà - SPSG )



ĂN LẤY THẢO
Ăn cái gì mà lấy thảo, người ta quý nhau bằng những thứ mộc mạc không phô trương , vì tình quê như nước sông có bao nhiêu chảy bấy nhiêu . Lấy thảo là lấy cái thơm thảo trong lòng người.
Tui mới đốn buồng chuối chín cây , chị đem zỉa một nải ăn lấy thảo, chú Sáu mới tát mương được mớ cá đồng , đem zìa cho má bay con cá lóc nấu cháo ăn lấy thảo…. Món quà tuy không có giá trị nhưng mà cái tình nó rộng . Người miền quê giàu rất khác , giàu cái nghĩa cái tình cái chất phác thật thà , nhà này có cái gì thì gọi nhà kia ăn chung cho vui ,có nhiều cho nhiều có ít cho ít, của cho không bằng cách cho .
Cái cách cho của người miền Tây là chừng mực dịu dàng , khiêm nhường , lúc nào cũng ý thức cái mình trao đi chẳng có gì đáng kể , làm phước là không khoe khoang , tặng cho là không được tính toán ,chính đó là cái khiêm cung trong văn hóa miền Tây chứa hết ruột gan người miền quê sông nước - btđ

 

TÌNH CỜ GẶP LAI - Thuyên Huy

 


Mời Xem :



MỘT TRONG NHỮNG CÁI KHÓ Ở TUỔI XẾ CHIỀU! ĐỐ BẠN ĐOÁN RA?


 Không đoán được phải không? Vậy không phải bạn kém, mà bạn rất bình thường, tốt bụng.

Có lẽ một vài ông bạn cố tri của tôi muốn biết ở tuổi xế chiều, tôi có còn quan tâm, có còn nhớ đến họ hay không, bèn qua zalo báo cho tôi hung tin, rằng bạn A đang suy thận ở cấp độ 5, cấp độ nguy hiểm cao nhất phải chạy thận; hoặc bạn B vừa đột quỵ đang nằm viện cấp cứu v. v...Thế là tôi thật sư lo lắng hỏi thăm, vài trường hợp xin tài khoản gửi chút đóng góp động viên, hỗ trợ. Sau mới ngỡ ngàng thấy hình những bạn ấy vui vẻ ngồi uống càphê chém gió với người thân, mới biết lòng trắc ẩn của mình ở tuổi hoàng hôn đôi khi vô duyên dễ sợ. Suốt 60 năm trong ngành GD, sự dũng cảm, mưu trí trong bài giảng bao giờ cũng nhắm đến kẻ thù, kẻ ác. Vậy mà ngày nay trên mạng xã hội xuất hiện nhan nhản những tin đồn thất thiệt khó phân biệt bạn thù. Nếu còn đi dạy học, chắc tôi khó tìm được giải pháp khả thi làm' kính chiếu yêu' cho học sinh bạn ơi. Bạn hãy bật mí cho tôi một giải pháp khả thi nhé?

( FB.Phat Nguyen )

19 thg 7, 2026

NỬA CHÉN CƠM TRẮNG (FB,Ghim Ho- SPSaigon )

 


Nửa chén cơm trắng.

Mẹ mất đã hơn hai mươi năm nhưng giờ đây tôi mới biết thêm một điều về mẹ. Nước mắt bỗng rưng rưng khi nghe được điều này từ một cô em họ.
Sau gần bốn mươi năm xa cách, một ngày giỗ gia đình tôi gặp lại em. Em đã có chồng, sống đầm ấm ở Hòa Lan với hai đứa con ngoan. Bằng giọng nói từ tốn, nhẹ nhàng em kể lại chuyện ngày xưa. Chuyện xa xưa nhưng đối với tôi là mới nguyên vì bây giờ mới kể.
Cha em là cậu tôi đi lính chết trận, mẹ em phát điên rồi cũng chết chìm ở một dòng sông quê Quãng Ngãi. Bầy con ba đứa tan đàn sẽ nghé, sống nhờ vào tình thương cô bác. Sau chiến tranh 30 tháng 4, em theo nội về Căm Xe sống với mẹ tôi. Em còn nhỏ, có lẽ vừa độ tuổi mẫu giáo. Không biết cha mẹ là ai, trong trí óc non nớt em chỉ nghĩ bà nội như là mẹ. Nội của em là ngoại của tôi.
Ở khu kinh tế mới của huyện Bình Long, Sông Bé ngày ấy. Sau chiến tranh là những ngày đói khổ. Người ta ăn cơm độn bằng nhiều thứ, khoai mì, khoai lang, lá mì, lá lang, củ nần…. Ngoại tôi người Quãng nên chủ trương trồng khoai lang. Theo lệnh của bà chúng tôi phải đắp đất lên giồng lang cao nghệu, cao hơn hẳn đầu gối nên lên giồng rất vất vả. Có lẽ nhà tôi là nơi duy nhất đã trồng lang chi ly thế. Những gia đình khác chỉ cắm mì hoặc dây lang vùi xuống đất là xong. Nhờ thế nên chúng tôi có dư khoai lang để ăn và bán cho hàng xóm. Tuy nhiên món ăn chánh vẫn là lá lang nấu với chút mắm ruốc, nước mắm là trái điều vắt nước, cho gia vị và nấu lên.
Mỗi sáng bọn tôi phải đi hái hơn một cần xé lá lang, cả lá non lẫn già về nấu lên ăn độn. Cứ mỗi bửa ăn là ba chén lá lang rồi mới được chén cơm trắng. Giữa khung cảnh thiên nhiên và tình cảm đầm ấm gia đình, tôi không quan tâm đến những vất vả trong cuộc sống. Mỗi ngày trôi qua là niềm vui với sự vô tư và thanh thản. Ngày làm rẫy, đêm về sinh hoạt thanh niên, cùng ca hát.
Gặp lại em, ôn chuyện ngày xưa tôi hiểu thêm về mẹ.
Em gọi mẹ tôi là cô hai. Em nhớ ơn cô hai và xem Nội và cô hai như hai người mẹ trong đời. Cô bé mồ côi khổ sở ngày xưa nay đã có cuộc sống ổn định ở Hòa Lan muốn tìm lại cô hai thì cô đã mất.
Ngày ấy mỗi buổi cơm, người lớn như tôi được ăn ba chén lá lang rồi mới được một chén cơm. Trẻ con chỉ được nửa chén cơm. Em bảo vì em không ăn được lá lang, cứ ăn vào là ói ra. Mỗi ngày cô hai phải lén đưa thêm cho em nửa chén cơm, không dám cho ai biết.
Một ngày, vì nhiều chuyện gia đình xảy ra, ngoại phải bỏ về Vũng Tàu sống với dì tôi. Ngoại định cho em ở lại nhưng cô hai đã nói với em. Cô rất thương em nhưng vì tương lai của em. Ở đây quá khổ và em không thể ăn lá lang. Cô muốn giúp em nhưng không thể che dấu cho em mãi được. Về Vũng Tàu em có thể sung sướng hơn.
Ngày nay nghĩ lại những tình cảm cô đã dành cho em, em vô cùng trân trọng chỉ tiếc là không có dịp đáp lại ân tình.
Nghe em kể, nước mắt bỗng tràn lên mi. Mẹ chết đi không có gì nhiều để lại cho con nhưng những mẫu chuyện nhỏ thế này làm tôi tràn ngập niềm hạnh phúc. Lúc còn sống bà là chổ dựa để tôi tìm về. Mỗi khi khổ sở tôi vẫn thấy bóng dáng bà đâu đó.