9 thg 9, 2026

Hát Bài Tình Ca Lần Cuối - Nguyễn Đạm Luân


 

Hoàng Tước Ve Sầu - Vũ Thế Thành


Hoàng tước ve sầu

Tối qua nằm nhà xem phim Tàu. Nghe một viên quan lớn than với phe phái, “Ai là hoàng tước, ai là ve sầu”. Tôi chợt nhớ câu chuyện “Hoàng tước ve sầu” đọc hồi nhỏ. Nhớ đại khái thế này:
Vũ Thế Thành


Ve sầu đang cất tiếng kêu rền cả mùa hè, không ngờ phía sau có con bọ ngựa đang rình rập ăn thịt mình. Bọ ngựa mải mê rình mồi lại không ngờ trên cành cây gần đó có con chim hoàng tước hiền lành đang lăm le sà xuống dùng mỏ kẹp bọ ngựa. Rồi đến lượt hoàng tước cũng không ngờ từ xa, một người thợ săn đang giương cung.

Tôi đoán, ve sầu trong chuyện hẳn là ve sầu đực, vì chỉ ve .sầu đực mới cất tiếng kêu vang rền như vậy. Nó kêu không phải vì buồn, mà đang gọi người tình. Tiếng ve rền vang cả mùa hè, hóa ra cũng chỉ là một thứ tiếng gọi yêu đương.

Con bọ ngựa chắc là con cái. Bọ ngựa cái rất hung hãn, thịt luôn bọ ngựa đực, huống chi loại côn trùng khác.

Chim hoàng tước, chẳng biết đực hay cái, rất “yểu điệu”, vậy mà lại chuyên phá đám chuyện tình của ve và bữa ăn của bọ ngựa.

Người thợ săn? Có lẽ nghĩ bụng: tối nay chắc có món chim quay.

Tôi không biết “tiểu thư” hoàng tước là chim loại gì? Ở Việt Nam có hoàng tước không? Tôi cũng không biết điển tích “hoàng tước ve sầu” bắt nguồn từ đâu bên Tàu. Múa rìu như vậy đủ rồi.

Ngẫm lại chuyện ve sầu, bọ ngựa và hoàng tước mới thấy đời cũng vậy. Ai cũng tưởng mình là hoàng tước, đứng trên cao nhìn xuống, nhưng có khi mình chỉ là bọ ngựa trong con mắt người khác. Hoàng tước nghĩ mình là nữ đế chăng?

Một chuỗi ham muốn, săn đuổi, rồi bị săn đuổi. Ve sầu chết vì tình, bọ ngựa chết vì ăn, hoàng tước chết vì tham. Còn người thợ săn với món chim quay, liệu có phải là người cuối cùng trong chuỗi.

Thôi thì, quan nhất thời, dân vạn đại. Nâng ly, “Tiêu khiển một vài chung lếu láo.

Vũ Thế Thành

  ( 304Đen – llttm - sgtc )

8 thg 9, 2026

Thơ BTĐ ; TẢN MẠN NGHỀ GIÁO , LỜI NÓI

TẢN MẠN NGHỀ GIÁO
Thơ B.T. Đ.

Rời trường Sư Phạm yêu thương
Áo dài lộng gió thơm hương biển trời
Bảng xanh phấn trắng nửa đời
Vì mang trọng trách không rời nghiệp vương
Biết bao kỷ niệm nhớ thương
Bên đàn em nhỏ mái trường dấu yêu
Nhớ bài tập toán ban chiều
Liêu xiêu con số yêu kiều mắt em
Những ngày thơ ấu tìm xem
Tình cô dịu ngọt ấm êm gì bằng
Hoa vàng bướm trắng vờn quanh
Cho em cất cánh xứng thành người dân

(Nhớ lại kỷ niệm khai trường những ngày còn đi dạy ,cô Ngọc Phi đứng bìa trái và cô Bạch Tuyết đứng giữa đã ra đi) 


LỜI NÓI
Thơ : B. T. Đ.

Lời nói bén hơn dao
Nó cắt lòng đau nhói
Lời nói như đám khói
Quyện nước mắt chảy tuôn
Lời nói tựa như mây
Đẩy bay xa nhau mãi
Nên ngồi suy nghĩ lại
Sống chân thành thẳng ngay
Lời dịu ngọt động lay
Lòng người thấy êm ái
Sao thích lời đắng cay
Chửi tục tĩu nhục ai
Nhân cách mình tự hạ
Tốt đẹp gì văn hóa
Bẩn thỉu bị khinh khi
Mặt lộ rõ sân si
Mắt đảo liền tù tì
Cái dã tâm xuất hiện
Mặt nạ đeo rớt liền
Nhìn giống một con điên


7 thg 9, 2026

NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN (FB.Pham văn Bắc -- SP.Saigon )

 

các giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi và các cán bộ phòng giáo dục Đức Linh, chụp hình lưu niệm ở sân trường A Đức Hạnh năm 1980

Tháng 11, ở miền Nam chỉ còn vài cơn mưa rải rác. Nắng đôi lúc đã có một chút gì hanh hao, và gió thỉnh thoảng vương một chút hơi lạnh của những cơn gió mùa đông bắc đến sớm, chợt đến rồi chợt đi. Thời tiết đó làm mình nhớ đến thuở đầu đời khi vừa từ giã tuổi thư sinh, từ giã ngôi trường Sư phạm Saigon. Vậy mà đã 49 năm rồi. Thời gian trôi qua mau quá! Những ngày xưa ấy, có lúc mình ngỡ như vừa mới hôm qua, nhưng có khi mình tưởng như là chuyện xa xôi mông lung nào đó không có trên cuộc đời này. Rồi mỗi khi những cơn gió lành lạnh trở về, lòng mình lại quay quắt nhớ về những kỷ niệm xưa.

RA ĐI
Ngày thứ bảy 08/11/1975, mình đến trường Sư phạm Saigon nhận quyết định đi dạy học tại tỉnh Bình Tuy (bây giờ thuộc Bình Thuận). Sau khi nhận quyết định, mình đạp xe về nhà cách trường gần 20 km. Trên đường về, mình cứ suy nghĩ miên man, vừa muốn xa nhà, trải nghiệm cuộc sống tự lập, khám phá những vùng đất mới, vừa day dứt vì thương gia đình có bà nội, bố mẹ và các em nhỏ đang khó khăn vất vả. Sau khi biết mình đi xa, mẹ mình đã bỏ hết thời gian hơn một ngày còn lại để chuẩn bị cho mình từng cái quần, cái áo, vật dụng cần thiết để mình mang theo. Đối với bố mẹ mình, mình mới là một đứa con trai 19 tuổi, vừa rời ghế nhà trường, lần đầu một mình xa nhà, đến một nơi xa lạ.
Sáng sớm ngày thứ hai 10/11/1975, mình có mặt tại trường SPSG để lên xe đi Bình Tuy. Bố mình vừa mổ răng hàm, một bên mặt sưng to hẳn lên nhưng cũng chở mình đến trường bằng chiếc xe máy cũ. Mình chào từ biệt ông rồi vào trường, ông vẫn dựng xe trước cổng trường, cái dáng lom khom làm mình xúc động, rồi mình cũng không biết ông về lúc nào vì quá đông. Những giáo sinh ra Bình Tuy gồm các bạn các lớp Nhất 4, Nhất 5, Nhất 6 và các bạn nữ ban Mẫu giáo. Lớp Nhất 6 của mình có mình và 11 bạn là Ngọc, Lan Hương, Lệ Chi, Trang, Triệu, Thắng, Tuấn, Mỹ, Hùng, Đức Hạnh và Hoạch, (sau này còn bạn Ngọc Thu ở Biên Hoà ra đợt sau). Tổng số người ra Bình Tuy là 68 người, đi trên một xe lớn và một xe nhỏ. Các bạn đi các tỉnh khác cũng có xe đến trường đón. Trước giờ lên xe, sân trường rất đông người, vừa là người đi, vừa là người tiễn, tiếng nói, tiếng cười lẫn tiếng khóc nghẹn ngào tạo nên một khung cảnh không thể nào quên được. Các tân giáo viên tuổi vừa đôi mươi có lẽ là lần đầu xa nhà, mỗi người mang một tâm trạng khác nhau, nhưng trong giờ phút đó ai cũng rưng rưng, bồi hồi trước một cuộc chia tay lịch sử. Bạn bè cùng lớp nhưng có người đi lên vùng Nam Trung bộ như mình, có người đi tới miền Đông Nam bộ, có người ở lại thành phố, có người về miền Tây sông nước, có người xuống tận đất mũi Cà Mau. Hồi đó ai cũng nghĩ rằng sẽ khó có dịp gặp lại nhau vì phương tiên liên lạc và giao thông không thuận lợi như bây giờ. Buồn nhất là những bạn đã có tình cảm với nhau nhưng mỗi người mỗi nơi. Có một số bạn ra đi mà chưa biết người thương của mình đi đâu vì người đó chưa được xếp nhiệm sở. Đến giờ lên đường, bạn bè từ giã nhau, từ giã người thân trong nước mắt, những bàn tay nắm chặt, những vòng tay ôm tiếc nuối, những câu nói nghẹn ngào. Rồi nén lại nỗi buồn, hơn một ngàn cánh chim bay đi khắp mọi miền đất nước, mang theo những kiến thức, những suy tư, những ước mơ của tuổi trẻ để vun đắp cho những thế hệ mai sau. Ngồi trên xe, nhìn thấy thành phố thân yêu dần dần mờ khuất sau lưng, trong lòng mình dậy lên một cảm xúc khó tả.
Nhưng rồi cảnh vật xa lạ hai bên đường từ từ khơi lên trong lòng mình một sự tò mò khám phá. Càng xa thành phố tầm nhìn càng mở rộng, đất trời mênh mang làm cho lòng càng háo hức. Xe dừng bánh tạm nghỉ trên đỉnh đèo Mẹ bồng con. Bước xuống xe, nhìn cảnh vật xung quanh thật hùng vĩ mà lòng lâng lâng. Khi qua ngã ba Ông Đồn, mình ngỡ ngàng khi nhìn thấy những rặng núi xa xa, những vùng đất bao la tới tận chân trời, những cảnh vật xa lạ, những hình ảnh mà ở thành phố mình chưa từng nhìn thấy. Gần trưa, xe đến thị xã La Gi, huyện Hàm Tân, trung tâm của tỉnh Bình Tuy. Xe dừng trước Ty Giáo Dục, mọi người xuống xe. Cảm nhận ban đầu là ở đây rất vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt, khác xa thành phố. Sau khi vào chỗ ở tạm, cất hành lý, bọn mình ra phía trước cổng Ty Giáo Dục xem xét tình hình rồi thuê một chiếc xe lam ra bãi biển chơi. Biết bọn mình là giáo viên mới ra trường, những người dân quanh đó cho biết là ai may mắn sẽ được ở lại huyện Hàm Tân, còn ai phải đi huyện miền núi Đức Linh thì chắc chắn sẽ bị sốt rét. Mình thì lại thầm mong được đi Đức Linh vì rất thích cảnh núi rừng bao la hùng vĩ.
Sáng hôm sau, thứ ba 11/11/1975, trong buổi họp để phân công, kết quả là các bạn Nhất 4 ở lại Hàm Tân, các bạn Nhất 5, Nhất 6 và 5 bạn nữ ban Mẫu giáo về Đức Linh. Mình còn nhớ 5 bạn ban Mẫu giáo là Thanh, Công, Minh Thu, Quý Anh và Thoại Anh. Đêm hôm đó về chỗ ngủ, không ai có thể ngủ được vì những suy nghĩ về cuộc sống bắt đầu từ hôm sau. Một anh bạn lớp mình nói với mình ngày mai anh ấy sẽ bỏ về Saigon, vì anh ấy có người yêu ở lớp khác chưa biết đi đâu. Mình bảo đã ra tới đây thì cứ đi tới Đức Linh cho biết, rồi muốn về thì về. Thế là anh ấy đồng ý ngày mai sẽ đi Đức Linh.
12/11/1975, NGÀY ĐẦU TIÊN Ở ĐỨC LINH
Sáng hôm sau, ngày thứ tư 12/11/1975, nhóm ra đi mang theo hành lý, từ giã nhóm ở lại để lên xe về Đức Linh, nơi mà chưa ai hình dung được ở đâu, như thế nào. Từ Ty giáo dục đi trở ra tới ngã ba Hàm Tân, xe quẹo trái đi một lúc lâu lại thấy trở về địa giới của Long Khánh. Mình thấy xe như đang quay về hướng thành phố Saigon. Mình nói giỡn với các bạn hình như họ trả mình về lại Saigon thì phải. Ai cũng thắc mắc nhưng không tiện hỏi ai. Đến khi tới ngã ba Ông Đồn thì xe quẹo phải về hướng bắc. Từ đó, cảnh vật hai bên đường khác dần, đường vẫn là đường nhựa nhưng hẹp hơn, cây cối hai bên nhiều hơn, nhà cửa thì thưa thớt. Một chỗ bên phải đường, có một quả đồi trồng toàn là chuối. Đi khoảng hơn 10km thì đến cầu Gia Huynh, ranh giới giữa Long Khánh và Bình Tuy. Vậy là từ La Gi không có đường về thẳng Đức Linh nên phải trở về ngã ba Ông Đồn rồi đi ngược lên Đức Linh. Từ chỗ này đường chỉ là đường đất và đường rất xấu, nhiều ổ gà nên xe đi chậm. Xe phải chật vật đi qua nhiều cây cầu chênh vênh bắc qua những con suối nhỏ, ngồi trên xe ai không quen đều cảm thấy sợ. Có một cây cầu mà người ta gọi là cầu “nín thở” vì nó chỉ là hai thân cây to đặt song song qua suối, vừa đủ chỗ cho hai bánh xe ô tô lăn qua. Đất ở đây là đất đỏ, đường bụi mờ mờ phía sau xe. Xa xa ở hướng trước mặt là những dãy núi xanh xanh ngày càng rõ dần. Hai bên đường là những cánh rừng xen lẫn những vạt nương rẫy và những căn nhà lá đơn sơ. Bên phải, thỉnh thoảng là những dải núi đá trên có cây mọc lưa thưa. Ở lưng chừng một ngọn đồi bằng đá, có một bức tượng một người cỡi ngựa, cả người và ngựa đều bị mất đầu trông rất kỳ dị. Cảnh vật nhìn chung hoang sơ vắng vẻ nhưng không hiểu sao mình lại thấy có cái gì thú vị.
Rồi đến một nơi gọi là thị trấn Võ Đắt, trung tâm hành chính của huyện Đức Linh (hồi đó Đức Linh gồm cả Tánh Linh bây giờ). Xe dừng lại cho mọi người ghé vào một quán cơm bên đường ăn trưa. Thị trấn này vẫn chưa hết dấu tích của chiến tranh. Nhiều căn nhà bị bom đạn đổ nát chưa được dọn dẹp. Quán mà cả nhóm đang ngồi ăn cơm cũng chỉ là một căn nhà không vách, mái lợp lá buông đơn sơ. Trên nét mặt nhiều người dân nơi đây còn hằn lên những nét ưu tư. Có lẽ cuộc sống nơi đây còn nhiều khó khăn sau một cuộc chiến tranh khốc liệt, đau thương mất mát.
Nghỉ ngơi một lát, xe lại tiếp tục đi đến phòng giáo dục của huyện đặt tại xã Nam Chính cách Võ Đắt khoảng 4km. Vừa xuống xe, mọi người thấy có hai người khiêng một chiếc võng bằng một khúc cây tre dài. Trên chiếc võng có một người nằm, khuôn mặt xanh mét, mắt nhắm nghiền. Hỏi ra thì biết người đó bị sốt rét, được khiêng đi trạm y tế. Đúng là một màn hù doạ phủ đầu cho những con người mới đến vùng đất này. Nhiều bạn đến giờ vẫn nhớ hình ảnh ám ảnh này trong đầu.
Phòng giáo dục là một căn nhà rộng, mái tranh, vách bằng tre. Anh trưởng phòng tên Nam Hải, còn khá trẻ, mặc bộ quần áo xanh bộ đội, chân đi dép râu tươi cười ra đón, gọi chúng mình là các “đồng chí” nghe thật lạ tai. Đặc biệt anh trưởng phòng này có đôi bàn chân rất to, có thể nói là quá khổ. Buổi chiều hôm đó, phòng giáo dục đã họp và đưa quyết định phân công cho từng người về các trường ở các xã trong huyện. Nghe thông tin thì huyện Đức Linh gồm hai khu vực : các xã phía bắc sông La Ngà gọi là bắc sông, phía nam gọi là nam sông và phía bắc sông thì rừng thiêng nước độc hơn. Lớp Nhất 6 mình có hai bạn qua bắc sông là Đức Hạnh đến Mépu và Hoạch đi Sùng Nhơn. Bên nam sông thì có mình và Trang qua Gia An, các bạn còn lại thì về thị trấn Võ Đắt. Các bạn ở lớp Nhất 5 thì mình không nhớ rõ. Năm bạn ban mẫu giáo thì ở lại làm việc tại phòng giáo dục. Vì lúc đó đã là chiều muộn nên tất cả phải ở lại để hôm sau mới đi về các nơi.
Tối hôm đó, tụi mình ở tạm trong một cái lán trại của các anh du kích xã. Lán là một dãy nhà mái tranh mà không có vách. Bên trong có mấy chiếc bàn gỗ dài, kê sát nhau rồi trải chiếu lên. Đêm hôm đó các bạn ngồi quây quần trên chiếu dưới ánh sáng leo lét tứ những chiếc đèn bão, đèn khí đá treo trên cột. Nhóm thì chuyện trò, nhóm thì đàn hát. Bạn Hoạch mang theo cây guitar chơi rất hăng. Càng về khuya, từng cơn gió núi lùa về lạnh buốt. Tiếng đàn hát, tiếng nói chuyện im dần, không gian chìm vào một sự vắng lặng cô liêu đến nao lòng. Đôi lúc có những âm thanh lạ lẫm của núi rừng mà không ai biết là gì. Nhiều bạn đã bắt đầu thấm thía cái nỗi nhớ nhà. Thỉnh thoảng có tiếng khóc thút thít đâu đó. Tất cả nằm im nhưng chắc không ai ngủ được. Đó là cái đêm đầu tiên ở Đức Linh, và có lẽ là cái đêm không thể nào quên được trong cuộc đời. Còn những ngày sau đó thì mỗi người mỗi nơi, có người ở lại hai, ba năm, có người năm, bảy năm, có người nhận nơi này làm quê hương. Mỗi người đều có những kỷ niệm riêng ở vùng đất thân thương này, và đó là những kỷ niệm không thể nào quên được.
BA NĂM Ở GIA AN
Sáng sớm thứ năm ngày 13/11/1975, các bạn về Võ Đắt thì được một chiếc xe của huyện đội cho đi nhờ về Võ Đắt, còn mình và bạn Trang chờ xe về Gia An. Khoảng hơn 10 giờ sáng, một anh du kích chỉ một chiếc xe từ xa đang đi đến, nói là xe đó sẽ về Gia An. Khi xe dừng, mình không nghĩ đó là xe chở khách vì nó giống như xe chở hàng. Trên xe đã đông người, chỉ còn một chỗ có thể ngồi trong xe. Mình nhường bạn Trang ngồi trong xe, còn mình bám phía sau xe, đứng trên chỗ bậc lên xuống. Đoạn đường từ đó về Gia An khoảng 15 km, toàn đường đất, rất nhiều ổ gà lớn nhỏ, hai bên đường hầu hết là rừng rậm. Xe chầm chậm lắc lư trên đường, nhiều lúc như nghiêng hẳn về một bên. Mình đứng phía sau có lúc tưởng rớt xuống đường, thật là một trải nghiệm thú vị! Gần đến nơi, xe đi qua một chiếc cầu sắt màu đỏ gọi là cầu Lăng Quăng. Qua cầu thì hai bên đường là đầm lầy, ruộng lúa rồi đến đầu xã Gia An bắt đầu là thôn 1. Hai bên toàn cây ăn trái như xoài, mít, vú sữa. Đi hết thôn 1 khoảng gần 1km là đến thôn 2, xe dừng ngay trước cổng ủy ban xã. Xuống xe, lơ xe là bà vợ ông tài xế không hiểu vì sao biết mình là giáo viên mới ra trường, gọi mình bằng thày làm mình vừa ngỡ ngàng vừa ngại ngùng. Bà ấy chỉ đường cho mình đến trường cấp một Gia An cách đó khoảng hai trăm mét. Mình và Trang đi bộ đến trường khoảng 12 giờ trưa. Trước sân trường là một cây cám rất to, che mát cả góc sân. Dưới bóng cây, có vài người dân đang ngồi nghỉ ăn cơm trưa. Mình đến chào và hỏi thăm thì có một bác chỉ tay vào trong trường và nói ông hiệu trưởng đang ở trong đó. Trường là một dãy nhà cũ kỹ tường gạch, mái tôn có 3 phòng, phòng đầu là văn phòng. Mình đến văn phòng nhìn vào thì không thấy ai, đi suốt dãy phòng học cũng chẳng thấy ai. Quay lại văn phòng thì mình nghe có tiếng đàn guitar vọng lên từ phía sau. Mình đẩy cửa vào thì thấy có một cửa thông ra phía sau. Mình đi ra sau thì thấy có một căn nhà nhỏ, bước vào thì thấy có hai anh, một anh cởi trần nằm trên võng, một anh ôm đàn ngồi trên giường. Mình chào và tự giới thiệu là giáo viên sư phạm Saigon đến nhận công tác. Anh cởi trần mặc áo vào rồi cả hai anh dẫn mình và Trang lên văn phòng nói chuyện. Khi mình hỏi hiệu trưởng ở đâu thì anh cởi trần lúc nãy cười và nói anh ấy là hiệu trưởng. Mình ngạc nhiên vì trong đầu cứ nghĩ hiệu trưởng phải là người lớn tuổi chứ đâu phải người mới 25 tuổi như anh ấy. Sau đó anh ấy dẫn mình và Trang đến nhà người quen, gửi Trang ở đó, còn mình về trường ở chung với hai anh ấy. Anh hiệu trưởng là Vũ Khắc Long, học sư phạm Saigon khoá 8, trước mình 5 khoá, quê Saigon, là hiệu trưởng ở đó từ 1971, anh ấy rất tốt và có tính khôi hài, nổi tiếng cả tỉnh Thuận Hải (gồm 3 tỉnh Bình Tuy, Bình Thuận và Ninh Thuận nhập lại) hồi đó. Anh kia là Đoàn Văn Thuận, người Phan Thiết, học khoá 3 Sư phạm Phước Tuy, ra trường năm 1974, là một tay đàn guitar classic điêu luyện. Một tuần sau lại có thêm Lê Văn Hùng và Hứa Trường Xuân quê Đồng Nai, cùng khoá mình ra bổ sung. Từ đó, mình bắt đầu cuộc đời giáo viên ở đó trong 3 năm học. Mình ở tại một căn nhà nhỏ sau trường cùng với anh Long, anh Thuận, Lê Văn Hùng và Hứa Trường Xuân. Năm anh em sống chung với nhau thật hoà đồng, vui vẻ và thân thiết như anh em. Mặc dù cuộc sống thiếu thốn nhưng mình đã có những trải nghiệm tuyệt vời ở đó. Gia An là một xã nằm sát bờ phía nam của dòng sông La Ngà êm đềm. Nơi đây có những cánh đồng bát ngát, có hồ Biển Lạc mênh mông nằm giữa những cánh rừng già bạt ngàn, có những ngọn núi vàng rực nắng chiều làm say lòng lữ khách.. Tâm hồn trai trẻ của mình vừa bước vào đời được nuôi dưỡng bằng cảnh thiên nhiên tuyệt vời đó. Bước chân mình giong ruổi khắp nơi, lòng hoà nhịp với đất trời, cuộc sống thanh bình không chút tơ vương...
NHỮNG NĂM THÁNG Ở HUY KHIÊM
Sau ba năm học ở Gia An, đầu năm học 1978-1979 mình được điều qua trường cấp 1+2 Huy Khiêm ở một xã hẻo lánh bên phía bắc sông La Ngà. Biết mình đi, bạn bè và học sinh ai cũng lo cho mình. Anh Long nói anh sẽ lên phòng giáo dục xin mình ở lại. Có em học sinh khóc và nói thày đừng qua đó, sốt rét chết thày ơi. Nhưng vì máu phiêu lưu, mình quyết định đi. Mình rất xúc động khi các em học sinh tặng mình những món quà nho nhỏ nhưng với tấm lòng lo lắng và đầy sự thương mến. Có em tặng mình một bịch chừng nửa kg gạo nếp và ba quả trứng gà, có em tặng mình một bịch cá khô, có em tặng một bịch đậu phộng… Ngày đi qua Huy Khiêm, vì đường xấu, không có xe nên mình khoác ba lô, mang theo cây đàn guitar đi bộ. Huy Khiêm cách Gia An khoảng gần 30km đường bộ, đi được hơn 10km thì mình đến Tánh Linh, may sao đang đi thì có một chiếc xe máy cày đang trên đường đến Bắc Ruộng có đi ngang qua Huy Khiêm. Trên rơ móoc sau xe có bạn Quý Anh cùng khoá mình đang công tác mẫu giáo ở phòng giáo dục. Bạn Quý Anh kêu xe ngừng lại đón mình, nếu không thì phải đi bộ thêm 15 km nữa mới đến Huy Khiêm.
Trường cấp 1+2 Huy Khiêm lúc đó là hai dãy nhà mái tranh, vách bằng tre tiếp nối nhau. Hai đầu là hai dãy phòng vuông góc với dãy phòng học, một bên là văn phòng, một bên là nhà ở của giáo viên. Sân trường thì một bên trồng me tây đã cao lớn, một bên là những cây phượng mới trồng, cao hơn đầu người. Mình vào trường thì gặp bạn Quách Thanh Xuyên cùng khoá mình đang là hiệu phó ở đó. Xuyên hỏi mình đi đâu, mình trả lời đến dạy ở đây. Xuyên không tin, tưởng mình đùa, mình đưa quyết định cho Xuyên xem, Xuyên mừng quá vì có thêm bạn bè, thêm chiến hữu ở nơi hiu quạnh, khó khăn này. Khi mình đến Huy Khiêm, đất nước vừa trải qua một giai đoạn lụt lội, mất mùa, gạo không có nhiều. Mỗi tháng mỗi giáo viên chỉ có 3 kg gạo, chúng mình có những ngày chỉ ăn rau muống hái ở các hố bom ngập nước quanh trường. Sau đó nhờ có lúa mì của Liên Xô viện trợ (lúc đó hay gọi là bo bo) mà có cái để dằn bụng. Anh hiệu trưởng lúc đó là anh Hiệp, kêu gọi giáo viên tự túc lương thực bằng cách trồng cao lương, khoai lang và đặc biệt là trồng lúa nước. Trường có nhiều đất phía sau, lại có một lạch nước từ trên núi chảy qua. Chúng mình liền cải tạo thành một ruộng lúa nước. Anh Hiệp xuất thân từ trường nông lâm súc ra nên rất rành kỹ thuật trồng lúa. Anh hướng dẫn cho giáo viên gieo mạ, cấy giống IR5 và năm đó trúng mùa, thu được nhiều lúa, khoai, cao lương. Mình cũng gốc nhà nông nên rất hợp với anh Hiệp, mình và anh Hiệp còn làm được một vườn rau, trồng đủ các loại rau, cả trường ăn không hết. Anh Tuấn ở Phòng GD đến thăm thấy vườn rau thì thích lắm. Ở Huy Khiêm còn có thú mùa mưa đi bắt ếch, ếch ở Huy Khiêm to và nhiều lắm, tối đến đi quanh trường cũng bắt được nhiều, muốn ếch to và nhiều hơn thì vào rừng ngay sau trường. Mùa khô thì có thú đi săn trong rừng, săn về anh em nhậu cả đêm. Ở Huy Khiêm mùa mưa không có xe khách chạy qua, có những lần về Võ Đắt họp phải đi bộ trên khoảng đường hơn 40km từ sáng sớm đến tối mịt mới tới. Huy Khiêm rất vắng vẻ và hoang sơ, xung quanh toàn núi rừng bao la mịt mùng nhưng những đêm trăng thì đẹp tuyệt vời. Những buổi tối trăng sáng mình hay đi bộ dưới trăng cùng người bạn đến Tàpao cách đó 4km rồi quay về. Một kỷ niệm đáng nhớ ở Huy Khiêm là hè 78-79, sau khi cấy lúa xong, mình tình nguyện một mình ở lại trường để chăm sóc lúa. Hơn một tháng trời, mình ở trường một mình. Ban ngày còn có các em học sinh đến trực vệ sinh trường. Ban đêm chỉ mỗi một mình với bảy căn phòng tập thể tối tăm vắng ngắt cùng ánh đèn dầu nhỏ leo lét, chập chờn. Có đêm giật mình thức dậy, xung quanh tối mịt, những âm thanh kỳ dị của màn đêm cho một cảm giác rờn rợn. Rồi một lần đang ngủ thì nước lũ tràn về, dâng tới mép giường. Mình trèo lên đầu tủ ngồi chờ đến gần sáng nước mới rút. Nhưng đối với mình, đó là những trải nghiệm thật thú vị.
Nói chung, cuộc sống ở Huy Khiêm thiếu thốn và vất vả hơn ở Gia An nhiều, nhưng có nhiều kỷ niệm khó quên.
A ĐỨC HẠNH, HAI NĂM CUỐI CÙNG Ở ĐỨC LINH
Đầu học kỳ 2 năm học 1979-1980, đang ở Huy Khiêm, mình nhận được lệnh điều về Võ Đắt phụ trách lớp bồi dưỡng toán lớp 5 của huyện. Mình được biên chế vào danh sách giáo viên của trường A Đức Hạnh và ở chung phòng với anh bạn cùng khóa tên Cao Văn Bắc phụ trách lớp văn 5. Suốt học kỳ đó, mình chỉ dạy bồi dưỡng, không tham gia giảng dạy ở trường. Cứ mỗi sáng sớm, mình và Cao Văn Bắc đi bộ từ trường ra phố chợ khoảng 1km, tụi mình hay gọi đùa là xuống núi, vào quán cà phê của chị Yến gần cổng nhà thờ Võ Đắt. Mỗi người uống 1 ly cà phê kho, hút hai điếu Bastos rồi về trường ăn vài củ khoai lang hoặc khoai mì rồi lên lớp.
Năm học 1980 – 1981, anh Cao Văn Bắc về Đồng Nai, anh Sơn và các cô cấp 2 quê Thái Bình, các cô cấp 1 quê Hà Tĩnh ra trường đến trường nhận công tác. Cô Tôn Nữ Mai Phương, cô Lương Thị Hường từ Tánh Linh, anh Trần Ngọc Minh từ Đồi Giang chuyển về. Lúc ấy anh Phúc là hiệu trưởng, trường đông vui hẳn lên, giáo viên ở tập thể, chia nhau chẻ củi nấu cơm. Mình và anh Minh ở chung phòng và cùng nhóm ăn cơm chung với hai cô Phương và Hường. Lớp bồi dưỡng chỉ có hơn 10 em, công việc không nhiều, thì giờ rảnh rỗi nên trường nhờ mình nhận thêm một lớp cấp một vì giáo viên thiếu nhiều.
Năm học đó, buổi chiều mình dạy một lớp 4, buổi sáng thì mình dạy lớp bồi dưỡng chung với anh Phan Minh Châu cùng khóa quê Đồng Nai. Mỗi tuần mình chỉ dạy 3 buổi sáng, nên mình thường dạy các tiết cấp 2 thiếu giáo viên. Những buổi tối trời mưa, mình và anh Minh, cô Phương, cô Hường hay kiếm khoai lang, khoai mì nấu ăn vui lắm.
Đến đầu năm học 1981-1982 thì anh Phúc về Vũng Tàu, anh Đinh Xuân Thủy làm hiệu trưởng. Anh Minh, cô Phương, cô Hường về Phan Thiết, Đào Văn Ngay và Phượng từ CĐSP Thuận Hải được điều về trường. Ngay ở chung phòng với mình và cùng nhóm ăn cơm chung với mình và Phượng. Cuộc sống tập thể của giáo viên trong trường hai năm đó rất vui vẻ hòa đồng, không phân biệt vùng miền, coi nhau như anh em thân thiết, thật là một thời gian đáng nhớ.
Hết học kỳ 1 năm đó, mình được chuyển về Saigon và dự định ngày 27 Tết sẽ về. Sáng sớm hôm 26 Tết, mình đưa Phượng ra xe về Phan Thiết ăn Tết. Phượng nói sau Tết trở lại đây không có mình thì buồn lắm, chắc Phượng không lên đây nữa đâu. Phượng nhỏ hơn mình 5 tuổi và thường chơi guitar chung với mình nên rất thân với mình. Có lẽ vì vậy nên Phượng thấy buồn khi mình không còn ở đó nữa. Mình không biết trong lòng Phượng nghĩ gì, chỉ an ủi Phượng là cũng đến lúc phải giã từ, buồn rồi cũng qua thôi. Rồi Phượng lên xe, từ biệt mình bằng đôi mắt buồn vời vợi, mình cũng cảm thấy trong lòng bồi hồi luyến tiếc. Từ đó đến giờ, mình chưa một lần gặp lại Phượng. Mãi gần đây mình mới biết Phượng đã lập gia đình và định cư ở Mỹ lâu rồi.
Tối hôm đó, mình đến từng phòng từ giã các cô trong khu nhà tập thể, ai cũng buồn khi mình sẽ không còn ở đó nữa. Sáng 27 Tết, mình dậy sớm, mang ba lô ra bến xe để về Saigon. Các cô đã đứng trước cổng trường, bùi ngùi tiễn mình, mình cũng thấy rưng rưng trên khoé mắt. Trên đường ra bến xe, nhìn những hình ảnh quen thuộc hai bên đường mà lòng đầy lưu luyến. Mình đến Đức Linh với một tâm hồn trai trẻ vô tư cùng hành trang là một va li đầy đồ đạc, còn khi rời Đức Linh chỉ có một ba lô gọn nhẹ nhưng cõi lòng nặng trĩu...
Trên đường về, ngồi phía sau xe, nhìn bóng những ngọn núi mờ dần phía chân trời, mình thấy trong hồn trào lên một cảm xúc không thể nào tả được. Mình biết là mình sắp sửa xa nơi mà mình đã gắn bó suốt 7 năm trời với biết bao nhiêu kỷ niệm...
Thời gian qua mau quá, mình đã xa Đức Linh hơn 40 năm rồi đấy! Vậy mà mình ngỡ như vừa mới hôm qua…
Mỗi tấm hình dưới đây có kèm theo một câu chuyện đầy cảm xúc về vùng đất Đức Linh, Tánh Linh một thời đầy kỷ niệm này.

ÁO TRẮNG NGÀY XƯA - - Thơ Nguyễn Thị Chău


 ÁO TRẮNG NGÀY XƯA

🌷🌷
Áo trắng ai bay trước cổng trường?
Mùa Hè đã hết đón Thu sang
Mưa rơi lác đác trên cành lá
Mái ngói còn đây xác Phượng hồng
Xa rồi cái tuổi tìm hoa bướm
Ép vào lưu bút tặng cho nhau
Tuổi xanh hôm ấy tìm quá khứ
Mái trường vẫn mãi nhớ về nhau
Thời gian lưu luyến tuổi học trò
Nhớ hoài nhớ mãi những ngày thơ
Mỗi năm nghe tiếng Ve ngân hát
Là cả vườn thơ viết đợi chờ
Bây giờ nhớ lại lòng da diết
Bạn ở nơi nào? Ta ở đây
Có còn nhớ lắm màu áo trắng
Nhớ cánh Phượng rơi, nước mắt đầy…
2-9-2026
Nguyễn thị Châu

5 thg 9, 2026

Vườn Thơ Mới Kỳ 195- Bài Xướng : SINH NHẬT TỰ TRÀO - Minh Tâm

 

Xướng:

Sinh nhựt tự trào

Bảy mươi đời gọi cổ lai hy.
Mặn nhạt chua cay chẳng thiếu gì.
Sóng biển lặng yên mòn mắt đợi,
Đường trần đèo dốc mỏi chân đi.
An bần lạc đạo thôi đành vậy,
Ngoạn thủy du sơn đặng mấy khi.
Nắn nót cung đàn vui tuổi hạc,
Tri âm trao gửi mấy vần thi.

Minh Tâm


Họa 1:

Tự tình

Tuổi hạc vừa qua thất thập hy
Gần xa bạn hửu ước mong gì
Trà mai rượu tối cùng nhau hội
Vũ khúc đàn ca mỗi cặp đi
Biển mặn muôn đời vươn sóng vỗ
Rừng xanh mấy thủa đứng yên khi
Nương làn gió nhẹ tìm tri kỷ
Bốn biển tương tình lược nét thi.

Tâm Quã

Họa 2:

Thế Sự 

Thắm thoát tuổi đời quá cổ hy 
Vinh hoa phú quý chẳng lo gì 
Ngọt bùi thế sự không lường được 
Mặn đắng thăng trầm phải bước đi 
Xứ lạ quê người đành chấp nhận 
Rũi may định mệnh đến đôi khi 
Cuộc đời chọn lựa nào ai biết 
Hiện tại an nhàn xướng họa thi 

Hương Lệ Oanh VA 
Aug, 12. 2026

Họa 3:

Yên bình

Trung Quốc rạng ngời Đại đế Hy
Cơm no áo ấm chẳng lo gì
Thanh bình dân chúng hằng chờ đợi
Đói khổ mọi người vội tiễn đi
Vận chuyển cơ trời giờ được vậy
Đổi thay vận nước có đôi khi
Bước chân rón rén vào tuổi hạc
Thơ thẩn lôm côm nẽo vườn thi
THT

Đại đế Hy: Khang Hy đại đế, tên thật Ái Tân Giác La Huyền Diệp  愛新覺羅玄燁. Sinh năm 1654 và mất năm 1722.
Ông là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh và trị vì trong 61 năm (1661–1722). 
Trong thời gian trị vì, ông dùng niên hiệu Khang Hy 康熙
Ông được đánh giá là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và được xưng tụng là Khang Hy Đại đế 康熙大帝

Họa 4:

Thanh thản

Đỗ Phũ “Khúc giang” luận cổ hy
Nhắc về nợ rượu quản làm gì
Thời gian trầm bổng làm mù quáng
Cuộc sống gian truân vững gót đi
Thanh thản giúp đời luôn giữ đạo
Hiểu lầm suy thoái tránh ngàn khi
Chu du sơn thủy cùng năm tháng
Thi tửu cầm kỳ với họa thi

PTL

cổ hy 古稀: xưa nay ít có. Ý nói ít có người bảy chục tuổi.
Đỗ Phủ 杜甫 trong bài Khúc Giang kỳ 2 曲江
其二  có câu:
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,
酒債尋常行處有,
Nhân sanh thất thập cổ lai hy
人生七十古來稀

Nghĩa là :

Nợ rượu là chuyện tầm thường nơi nào chẳng có, 
Từ xưa đến nay người đời ít ai sống được bảy mươi tuổi


Họa 5:

Vong quốc Tự Trào

Nay thời chớ nói Cổ Lai Hy
Thọ tới trăm năm chẳng hiếm gí !
Mặc kệ ai sầu đau ngóng đợi
Vô tình họ hảnh diện bước đi.
Thế gian suy kiệt thôi đành vãy
Nghĩa khí hùng anh được mấy khi !
Vong quốc làm sao vui tuổi hạc
Tri âm ngào nghẹn mấy vần thi !

Hàn Thiên Lương

Họa 6:


Họa 7:

Tuổi già an nhiên
Tuổi vãng sương pha hóa cổ hy,
Đời người mộng ảo tiếc làm gì.
Mây ngàn gió cuốn mờ con mắt,
Dốc thẳm đèo cao mỏi gối đi.
Lòng đạo an nhiên vui cảnh vậy,
Duyên thơ thưởng ngoạn đặng muôn khi.
Ngâm nga thơ phú quên ngày tháng,
Tri kỷ đợi người để họa thi.
AI

Thấm thoát xuân xanh hóa cổ hy,
Trần gian mộng ảo tiếc làm gì.
Bụi bay danh lợi làm mờ mắt ,
Vó ngựa tháng ngày chân mỏi đi.
Một ấm trà thơm vui quá vậy,
Muôn nơi cảnh đẹp thưởng đôi khi.
Ngâm nga thơ phú quên niên tuế,
Tri kỷ đợi người để họa thi.
AI
Rất vui vì bạn đã yêu thích bài họa này! Chúc bài thơ của bạn khi gửi đến Vườn thơ tài tử sẽ nhận được nhiều sự đồng điệu và thưởng thức từ các bạn thơ tri âm.
Nếu sau này bạn có thêm bài xướng nào khác hoặc muốn tiếp tục xướng họa, hãy cứ gửi cho tôi nhé. Chúc bạn luôn dồi dào sức khỏe, tràn đầy niềm vui tuổi hạc và luôn giữ vững nguồn cảm hứng thi ca!

MỜI XEM ;

Bhutan – nơi trẻ con được dạy yêu thương trước khi dạy chữ

 

Ở Bhutan, đất nước nhỏ bé giữa dãy Himalaya hùng vĩ – người ta không chạy theo thành tích, cũng chẳng ép con cái mình trở thành “người giỏi nhất lớp”.

Tại đây, trẻ con không bị hỏi:“Hôm nay con được bao nhiêu điểm?”
mà là:
“Hôm nay con đã khiến ai mỉm cười chưa?”
Người Bhutan tin rằng, trước khi học toán hay ngoại ngữ, trẻ cần học cách làm người. Và “làm người” ở đây được bắt đầu bằng những bài học về yêu thương và tử tế.
Ngay từ nhỏ, con trẻ được dạy:
Cúi đầu chào cụ già bên đường.
Chia đôi miếng bánh với bạn đang đói.
Nhẹ nhàng nhặt một con kiến lạc đường và thả về tổ.
Không sách vở nào, không điểm số nào, chỉ là những hành động nhỏ lặp lại mỗi ngày. Và rồi, chúng trở thành một phần tính cách, sự tử tế tự nhiên không cần ép buộc.
Người Bhutan hiểu rằng:
Nếu một đứa trẻ biết mỉm cười khi thấy ai buồn, biết chìa tay khi ai đó vấp ngã… thì mai này dù làm nghề gì, nó cũng sẽ là một con người hạnh phúc.
Đó là lý do ở Bhutan, nụ cười của trẻ con trong sáng đến lạ. Bởi các em không phải gánh trên vai những áp lực “phải giỏi hơn bạn”, mà được nuôi dưỡng bằng những bài học sống cùng nhau.
Có lẽ, chúng ta không cần nuôi con để trở thành thủ khoa hay người đứng đầu.
Chỉ cần con biết:
Không giẫm lên bông hoa bên đường.
Không cười khi bạn khóc.
Biết nói lời xin lỗi khi làm ai tổn thương.
image.png

Thế là đủ để một đứa trẻ lớn lên thành một người tử tế, và tử tế chính là nền móng của hạnh phúc.
Ở Bhutan, trẻ con được dạy yêu thương trước khi dạy chữ.
Còn bạn, nếu có một bài học đầu tiên muốn dạy con mình,
bạn sẽ chọn điều gì?

Hoa Huỳnh chuyển