25 thg 3, 2026

NHỮNG NỤ CƯỜI HIỀN , CHUYỆN ĐẦU TUẦN…Đặng Việt Lợi

 

NHỮNG NỤ CƯỜI HIỀN…
Những tưởng sáng này thì… “thất nghiệp”
Qua mấy cung đường rong ruổi xe
Xem có niềm vui nào “trượt ngã”
Nhặt lên sơ cứu để mang về
Vừa mới lòng vòng sang cố quận
Bất chợt nghe vài ba cú phôn
“Ghé quán sân vườn ngay, nếu được
Đang chờ nới ấy lắm đồng môn”
Ra thế ngoài các sư huynh cũ
Có một người ngồi đâu rõ ai
“Đó” chẵng gặp “đây” bao giờ cả
Giới thiệu “nhà đài”, lại biết ngay
Thế là lại có thêm bằng hữu
Trước lạ nhưng rồi sau sẽ quen
Danh mục đồng môn từ hải ngoại
Có thể điền thêm một cái tên
Nhờ thế không còn lo “thất nghiệp”
Khi ngồi “chộp bắt” mọi niềm vui
Sẽ cất kỹ vào trong ký ức
Mà mỗi đường link một nụ cười
Những nụ cười hiền sư phạm ấy
Vẫn hoài móm mém ở trên môi
SG_220326
ĐVL
CHUYỆN ĐẦU TUẦN
Tuần rồi, cả bọn “tản cư”
Chừ quay về quán cũ bù khú chơi
Thì ra, đâu chỉ nghiện… người
Mà ghiền thêm cái chỗ ngồi cà kê
Chỗ… đầy hoa nắng vàng hoe
Không bề bộn tiếng “ngựa xe” ầm ào
Cả khi mưa gió xôn xao
Vẫn nghe rõ chuyện của nhau tỏ bày
Thế nên mỗi sáng thứ Hai
Bận gì bận cũng tới dây ngồi cùng
Khi “tay bắt”, lúc “mặt mừng”
Chờ nghe đủ chuyện lung tung cõi người.
Đầu tuần, chỉ có vậy thôi
Gã nào cũng một gùi vui mang về.
SG_230326
ĐVL


24 thg 3, 2026

QUÊ NGHÈO - Thơ XH : Nguyễn Cang & Thảo Chương & Diệp Văn Xướng Họa

QUÊ NGHÈO

Ngày xưa cơm mắm với dưa cà

Nhớ  quá quê nghèo khuất nẻo xa

Khói tỏa hoàng hôn bay lảng đảng

Chiều rơi mây tím biết  đâu mà

Mục đồng gõ nhịp trâu về muộn

Thiếu nữ qua cầu bạn đợi nha

Lữ khách bên trời sầu mất mẹ

Đêm về độc ẩm một ly trà!

Nguyễn Cang ( Mar. 13, 2026)


 

Họa 1/.



NHỚ MÙI VỊ QUÊ HƯƠNG

 

Nhớ chút mắm cơm trộn với cà

Quê nghèo nay ở tận phương xa

Xứ người không nghiện mùi bơ lắm

Đất khách chưa quen vị sữa mà

Trái chín - vườn nhà thơm phức nhỉ

Rau xanh - siêu thị héo queo nha

Ở đây thịt cá đều đông lạnh...

Trừ cữ cà phê lẫn tách trà.

 

Thảo Chương

13-03-2026


Họa 2/.


 CHÂN QUÊ


Ở giữa sầu riêng một luống cà

Nhìn quanh mận bưởi chuối vòng xa

Ven lề ngõ trước hoa hồng ấy

Cạnh lối vườn sau dãy sứ mà

Chớm Hạ xanh rờn cau trĩu trái

 Vào Xuân trắng ngát bưởi lừng hoa

Chiều chiều có bạn cùng nâng chén

Sáng sáng cà phê cạn ấm trà.

 

03/16/ 2026 Diệp Văn

 

 

Mời Đoc Chuyện Vui ST trên Mạng

 

CƯỜI CHO ĐỜI BỚT KHỔ

Một ông Mỹ ở Florida đưa vợ chuyển bụng đẻ vào bệnh viện sản khoa chờ đẻ.
Bác sỉ hỏi ông chồng có muốn dùng máy chuyển đau bụng đẻ của vợ sang ông chồng gánh bớt . Nếu ông chồng quá đau chịu không nổi thì cho bác sỉ biết
Máy đo đau bắt đầu 20% 40% 60% 100% ông chồng vẫn tỉnh queo không đau đớn gì cả và vợ ông cũng sanh em bé khoẻ mạnh không chút gì đau đớn
Hai vợ chồng sung sướng ẵm bé về nhà thì phát hiện ra ông phát thơ đang nằm chết ở ngạch cửa nhà mình vì.... đau đớn !!!!

GIANG HA THU VO THOMSON 
Florida USA

Thơ Dzui Không Đề - Anh Khờ

 Thơ Dzui Không Đề  

Thấy mặt nàng xanh xao
Bảo đi khám xem nào
Chắc hơn bàn láo nháo
Rồi đúc kết tào lao…

Mấy ngày đợi nôn nao
Bác sĩ phán cái rào
Kết qủa máu hơi cao
Đừng ăn nhiều chất… gạo?

Nhớ tránh những đồ xào
Tạm quên hàng quảng cáo
Vì dầu mỡ… gói bao…
Ai biết đâu mà khảo?

Có ngưng cũng không sao
Ngân sách khỏi tơ hào
Nhà băng hồi báo cáo
Tiền gởi chẳng tiêu hao

Đã biết rõ tại sao
Cứ kiêng cữ đúng vào
Quên đi bao phiền não
Cuộc sống bớt lao đao...

Anh Khờ

23 thg 3, 2026

HỌC TẮC (BÀI 5) - ( Diển Đàn Khai Phóng )

 

Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

KHÁC BIỆT CHÍNH CỦA ĐẠO KHỔNG VỚI TỐNG NHO VÀ PHÁP GIA

Đạo thánh nhân có thể nói giống như những cơn gió dịu dàng, như những cơn mưa đầy ơn huệ của tạo hóa.Nhờ những cơn mưa thuận gió hòa đó mà vạn vật được nuôi dưỡng và nảy mầm; một khi đã nảy mầm thì trưởng thành không ngừng(1).Người quân tử nhờ đạo thánh nhân mà hoàn thành được các thứ đức, kẻ tiểu nhân cũng nhờ đạo thánh nhân mà hình thành được thói quen tốt rồi thành ra phong tục (tập quán tốt).

Đạo thánh nhân giống như đưa người thiên hạ vào trong lò nung đồ gốm. Việc hình thành con người theo hình dạng tự do như mong muốn chỉ có đạo thánh nhân mới có thể làm được. Do đó, người quân tử đặt bản thân họ vào trong đạo, ôm ấp đạo vào trong tâm và tu tập cho bằng được, sau khi làm việc thì nghỉ ngơi giải trí trong đạo, khi rảnh rỗi thì rong chơi nhàn nhã trong đó, hướng về đạo mà thực tiễn, khi đạt tới trung tâm của đạo thì dừng lại (2).

Đức hạnh, anh trí (trí tuệ ưu việt), kỹ thuật, tài năng tất cả đều từ việc tu dưỡng đạo thánh nhân mà hình thành(a). Nhân cách trong sáng cao thâm và rộng lớn cũng nhờ đạo thánh nhân mà có được. Mỗi ngày một tăng tiến, tiến bộ từng tháng, thành đạt được như trên mà ngay cả người học chẳng hề hay biết. Do đó, Khổng tử nói “Ta đâu có gì đặc biệt đâu?”(3).

Nếu lấy việc trồng cây mà tỉ dụ thì người trồng cây không cần phải cắt gắn từng cành cây, đóa hoa mà chỉ cần cố gắng chăm chỉ bón phân căn bản là đủ. Việc điêu khắc hình con khỉ ở đầu ngọn của cây cỏ tỳ茨(4)hoặc trạm trổ ngọc có hình lá cây chử楮(5) là công phu rất khéo léo tinh xảo, không phải ai cũng có thể làm được. Dù cho người khéo léo tài giỏi tột bậc cũng không thể bất cứ việc hoặc vật gì cũng có thể làm được (b).Do đó “Đối với các thứ quy tắc đạo đức quan trọng không được vi phạm, đối với các thứ quy định lễ phép nhỏ thì có thể lúc giữ được lúc không cũng không sao.” (6)Nếu tu dưỡng (xây dựng hoặc có) (7) được cơ sở nền tảng căn bản của đạo (hoặc sự việc, sự vật) thì sau đó đạo ((hoặc sự việc, sự vật) tự nó sẽ tiến triển (theo quy luật tự nhiên) (8). Đạo thánh nhân quý trọng sự phát sinh tự nhiên(nghĩa là đặt nền móng cơ sở căn bản quan trọng, sau đó để cho sự việc phát triển tự nhiên, không can thiệp vào mọi thứ) .

Các chủ trương như “Làm cho rõ ràng đến tận cùng cái lý lẽ của thiên hạ” hoặc “Quan sát để biết các điểm vi diệu của 1 niệm (1 ý nghĩ) lúc nó bắt đầu có tác dụng (làm việc)” (cả 2 đều là khẩu hiệu (slogan) của Chu tử học) đều là những lời không hiểu đạo. Do đó, họ biện luận nào là về trái và phải, phân biệt thiện (tốt) và bất thiện (xấu), nào là rửa sạch tâm, làm rõ ràng những khuyết điểm, điều xấu của bản thân để không còn 1 chút nào lòng ham muốn của con người. Tất cả các chủ trương này đều là sai lầm đối với đạo thánh nhân.

Giả sử dù cho có cắt bỏ những điều xấu của bản thân mà không có điều tốt để nuôi dưỡng bồi đắp thì làm sao có thể có mầm tốt nhỏ phát triển trưởng thành. Rốt cuộc chỉ là trở lại trạng thái ban đầu của con người mà thôi(c). Do đó phương pháp của những người có chủ trương trên (ý nói Tống Nho) là sai lầm. (Trong khi đó đạo thánh nhân lấy việc nuôi dưỡng cái tốt, ưu điểm, tiềm năng của mỗi cá nhân để phát triển làm trọng).

Sau khi nhà Tần trị dân bằng luật pháp, lễ nhạc bị suy vong.Ảnh hưởng trị dân bằng luật pháp vẫn còn lưu lại đến các thời đại sau, và ảnh hưởng đến 100 đời sau chưa bao giờ ngừng lại. Các phương pháp giải thích của Thân tử, Hàn Phi tử đã lôi kéo tai mắt của người đời theo hướng mà họ muốn dẫn đến, ảnh hưởng còn mãi đến ngày nay, làm mất đi phương pháp nuôi dưỡng để phát triển của thánh nhân sinh ra không khí giết hại con người chiếm đầy trong vũ trụ (d).Bởi vì các hiền nhân quân tử đời sau tất cả đều sống trong môi trường của các luật pháp tạo ra nên dẫm chân lên sự sai lầm. Do đó, đối việc học đạo nếu như xác lập được các điểm căn bản to lớn thì các điểm nhỏ khác tự nhiên sẽ theo đó mà đến.

Tóm tắt ý quan trọng

Các điểm khác biệt chính yếu giữa đạo thánh nhân với Tống Nho và Pháp gia như sau:

– Đạo Khổng lấy việc xây dựng cơ sở căn bản và nuôi dưỡng tiềm năng con người chờ họ tự phát triển làm chính.

– Tống Nho lấy tinh xảo, vi diệu và diệt hết lòng ham muốn làm trọng.

– Phái Pháp gia lấy hình phạt làm chính gây ra bầu không khí chém giết trong xã hội và ảnh hưởng sâu đậm từ thời Tần Thủy hoàng mãi cho đến về sau này.

Nhận xét

(a) Ogyu Sorai không giải thích cụ thể tại sao tu dưỡng đạo thánh nhân thì đức hạnh ,tài trí tự nhiên có được. Người biên dịch cũng chưa hiểu rõ nhưng cảm giác rằng chính lòng yêu thương con người (đức nhân仁), lòng kính trọng và biết ơn đối với người và vật (lễ禮) đóng vai trò quan trọng trong việc này.

(b) Điểm thú vị là Matsushita Kônosuke cũng có nhận định tương tự và cho rằng con người cần phải BIẾT SỢ cũng như BIẾT ƠN.

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-8-Biet-So.htm

http://www.erct.com/2-ThoVan/N-Son-Hung/Bai-7-Long-biet-on.htm

Qua kinh nghiệm sống lâu ở Nhật Bản, người biên dịch nhận thấy đa số người dân Nhật Bản đều hội đủ 2 đặc tính này có lẽ đó là 1 yếu tố quan trọng giúp họ làm việc chăm chỉ và khiêm tốn nhẫn nại đưa họ đến thành công và được kính trọng.

(c) Có lẽ đây là 1 trong các điểm khác biệt lớn giữa đạo Khổng và Phật- Lão, rất đáng để chúng ta suy ngẫm.

(d) Chúng ta nên lưu ý rằng, không phải vì khuyết điểm này của hình luật mà vội cho rằng luật pháp và hình luật không cần thiết. Chính thánh vương cổ đại cũng đã đặt ra hình phạt để phòng tránh con người làm việc xấu gây hại đồng loại. Vấn đề là quá trông cậy vào hình luật mà không xem trọng việc giáo dục đạo đức hữu ích từ nhỏ nhất là cấp trên người lớn cần phải làm gương cho cấp dưới và người nhỏ.

Tóm lại, đọc xong bài này người biên dịch rất ngạc nhiên nhận xét của Sorai về đạo tiên vương, tức đạo Khổng không khác gì với phương châm giáo dục cận đại hiện nay.Tiếc thay từ trước đến nay có Nho gia nào đã có nhận xét hoặc chịu cực bỏ công xem xét nghiên cứu như vậy không?

Nguyễn Sơn Hùng, Dịch xong ngày 9/2/2026, Tu sửa và nhận xét ngày 18/3/2026


Xem thêm cùng tác giả: Những bài viết và dịch của Nguyễn Sơn Hùng

Ghi chú

  • Bài 8 chương 11 Cáo Tử thượng sách Mạnh Tử: “Cố cẩu đắc kỳ dưỡng, vô vật bất trưởng; cẩu thất kỳ dưỡng, vô vật bất tiêu.” (Do đó, nếu được nuôi dưỡng thì bất cứ vật gì cũng phát triển lên; nếu không được nuôi dưỡng thì bất kỳ vật gì cũng tàn rụi. mất đi.)
  • Chương Học Ký sách Lễ Ký viết “(故君子之於學也,)藏焉修焉,息焉游焉。”

Chương Biểu Ký sách Lễ Ký viết “(《小雅》曰:「高山仰止,景行行止。」子曰:詩之好仁如此,)鄉道而行,中道而廢,(忘身之老也,不知年數之不足,俛焉日有孳孳,斃而後已。)

Trong chương 10thiên 6 Ung Dã, sách Luận Ngữ viết:

冉求曰:非不說子之道,力不足也。子曰:力不足者,中道而廢,今女畫。

Nhiễm Cầu viết: “Phi bất duyệt Tử chi đạo, lực bất túc dã.” Tử viết: “Lực bất túc giả, trung đạo nhi phế, kim nhữ hoạch.”

Chi tiết giải thích của Sorai xin đón xem Luận Ngữ Trưng (Bài 6.10 ) của người dịch.

(3) Chương 2 thiên 7 Thuật Nhi sách Luận Ngữ: “Tử viết: “Mặc nhi thức chi, học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện, hà hữu ư ngã tai?” (Dịch sát: Không nói mà hiểu được, học không biết chán, dạy người không biết mỏi mệt, ta đâu có gì đặc biệt với người khác đâu?) . Đại ý của Sorai giải thích ý nghĩa của chương này như sau.

Đối với lễ và nhạc (nội dung chính yếu của đạo thánh nhân) không thể giảng giải ra hết trong 1 lúc nên chỉ cần thực tiễn rồi dần dần sẽ hiểu ra ích lợi và lý do cần thiết của chúng. Học và dạy người do sở thích của bản thân phu tử nên không biết chán, không biết mệt. Chỉ có làm những việc tự nhiên thông thường mà thôi, không có gì đặc biệt, cao xa. Đạo thánh nhân chỉ giản dị và gần gũi như thế.

  • Có trong thiên 32 Ngoại Trừ Thuyết Tả thượng sách Hàn Phi Tử.
  • Có trong thiên 8 Thuyết Phù sách Liệt Tử.

(6) Chương 11 thiên 19 Tử Trương, sách Luận Ngữ:

Tử Hạ viết: “Đại đức bất du nhàn, tiểu đức xuất nhập khả dã.”

(Dịch của Nguyễn Hiến Lê: Tử Hạ nói:Tử Hạ nói: “Không được vượt qua đại tiết, còn tiểu tiết thì tuỳ tiện, ở trong phạm vi hay ra ngoài cũng được” (vì không phạm đến đại tiết).

Trong Luận Ngữ Trưng, khi giải thích chương trên Sorai giải thích chi tiết hơn. Thí dụ như: hiếu với cha mẹ, đễ với anh em là đại đức, giữ sắc mặc cho nghiêm trang uy nghi là tiểu đức. Lý do không câu nệ việc gìn giữ tiểu đức bởi vì có trường hợp do câu nệ việc nhỏ mà đánh mất đi cái quan trọng hơn. Do đó, trong chương 2 thiên 1 Học Nhi sách Luận Ngữ: Tử Hạ viết:“Quân tử vụ bản,bản lập nhi đạo sinh.” (người quân tử hết lòng hết sức thực hiện việc căn bản quan trọng, một khi cơ sở căn bản đã được xây dựng rồi thì sự việc sẽ tự phát triển theo quy luật của sự việc). Sorai cũng nói thêm, chỉ những nhân vật có nhiều đức mới thực hiện tốt phương châm “Đại đức bất nhu nhàn, tiểu đức xuất nhập khả dã.” Ngoài ra, ông cũng nói Tống Nho không nhận thức được tầm quan trọng của lời khuyên này nên chỉ tìm kiếm cái tinh xảo và cho bài này gây ra tai hại cho đời. (Về chi tiết xin đón xem nội dung dịch chi tiết chương này của người dịch)

(7) Phần viết trong ( ) với khổ chữ nhỏ là do người dịch thêm vào theo lý giải của bản thân.Có thể nội dung của nguyên văn chỉ nói về đạo thánh nhân nhưng người dịch nghĩ rằng việc này cũng đúng cho các sự việc khác nên khai triển để quý độc giả suy xét thêm.

(8) Chương 2 thiên 1 Học Nhi sách Luận Ngữ viết như sau:

有子曰:其為人也孝弟,而好犯上者,鮮矣,不好犯上,而好作亂者,未之有也。君子務本,本立而道生,孝弟也者,其為仁之本與?

Hữu Tử viết: “Kỳ vi nhân dã, hiếu đễ nhi hiếu phạm thượng giả, tiển hỹ. Bất hiếu phạm thượng, nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu dã. Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh.Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư?”

Về ý nghĩa của “Quân tử vụ bản; bản lập nhi đạo sinh” trong Luận Ngữ Trưng giải thích như sau:

– Tôi (tức Sorai) cho rằng Hữu tử trích dẫn từ lời người xưa “Hữu bản hữu mạt, vô mạc đạo dã”, nghĩa là “Đạo có gốc có ngọn, cái nào cũng là đạo”.

– Người quân tử tận sức bắt đầu thực hiện cơ sở căn bản (bản), các vị quan lại cấp thấp (hữu tư有司) hết lòng thực hiện cái ngọn (mạt); phận sự của mỗi vai trò khác nhau.

– Người ở địa vị trên thì chỉ huy thực hiện tất cả (thống đại統大) những cái lớn quan trọng nhưng khả năng của họ không thể thực hiện đến cả những điều nhỏ chi tiết hoặc để có hiệu quả đến khắp mọi nơi (lực hữu bất chu力有不周).

– Một khi cơ sở căn bản đã được thực hiện (bản lập) thì đạo (quy luật của sự việc) tự nó sẽ tiến hành theo quy luật tự nhiên, có chỗ chúng ta không thể cưỡng chế. Tỉ dụ giống như cỏ cây tự nhiên mọc lên sum sê um tùm không thể cưỡng lại. Do đó Hữu tử nói “đạo sinh”, ý nghĩa là như vậy.

Nội dung chương này quan trọng nên được xếp là bài thứ 2 trong sách Luận Ngữ. Chi tiết giải thích của Sorai cho bài trên, xin đón xem Luận Ngữ Trưng (Bài 1.2) của người dịch.

Tài liệu tham khảo

  • Trách nhiệm biên tập Bitô Masahide (1983): Ogyu Sorai – Danh Trứ của Nhật Bản 16, Chuo Koron sha.
  •  Nhiều dịch giả/tác giả (1973): Ogyu Sorai – Nhật Bản Tư Tưởng Đại Hệ 36, Iwanami Shoten.

VỀ TRƯỜNG SP VĨNH LONG - Trần Phong Vũ Tổng Hợp

 

VỀ TRƯỜNG SP VĨNH LONG
Trường Sư Phạm Vĩnh Long được thành lập rất sớm có thể nói là ngôi trường đầu tiên ở Miền Tây. Tháng 1/1958...
Trong số 4 vị hiệu trưởng của trường từ 1958 đến 1975 có 2 thầy có liên quan đến HNC là thầy Lâm Phi Điểu và thầy Phan Công Mình
Từ 1958 đến 1962 là 4 khoá hệ 1 năm
Từ 62 đến 75 là các khoá hệ 2 năm đào tạo Giáo học bổ túc dạy Tiểu học
Khởi đầu trường thu nhận Giáo Sinh đào tạo theo ngạch GIÁO VIÊN TIỂU HỌC hệ 1 năm.Nhưng không biết vào năm nào thì chấm dứt hệ đào tạo này (Dường như khoá cuối cùng của hệ này là NK 62-63 theo lời kể của một đàn anh ở chung trong xóm)
....
Tháng 8/1962 mở đầu cho Khoá 1 SPQG Vĩnh Long hệ 2 năm và kéo dài đến 1975, khoá 12 là khoá cuối cùng
TRẦN PHONG VŨ tổng hợp
21/3/26
Hình ảnh Trường SP Vĩnh Long chụp năm 1995

22 thg 3, 2026

HẠNH PHÚC TUỔI GIÀ - Phat Nguyen

 

Mấy ngày liền bà xã đi du lịch xa ở các tỉnh miền Trung; cha mẹ của các cháu nội bận đi tuyển sinh ở vùng sông Hậu; một mình ở nhà với đứa con trai út cùng 2 cháu; đi chợ, nấu cơm, viết lách. Nghe tiếng các cháu cười nói líu lo trong lúc ăn, món nào trên mâm cũng thấy các cháu ngon miệng, thế là hạnh phúc rồi. Hạnh phúc còn nhân lên gấp bội vì có nhiều thời gian đeo bám sáng tác, đêm chỉ ngủ 5 tiếng mà không thấy mệt.
Càng vui hơn khi sáng tác được chương nào đều gửi cho những người bạn thân thiết chịu đọc. Các bạn này đọc tỉ mỉ, góp ý chi li, phản hồi nhanh chóng, kể cả những người có thật ngoài đời, nhưng đã 'hóa thân' nhiều tầng để đi vào tiểu thuyết. Rất cảm ơn những người bạn đã dành thời gian đọc rất kỹ và có phản hồi tích cực. Cảm kích trước những lời khen không phải xã giao ' cho nó chết', tôi sẽ cố gắng hoàn thành kế hoạch hợp lý nhất, tôn trọng bạn đọc ở khả năng cao nhất, tự hứa với lòng mình: Nếu những cố gắng tội nghiệp của mình mà có ai đó nhận xét nó không đủ tầm tạo động lực tích cực cho người đọc...Thì tôi xin tuyên bố sẽ buông bỏ tát cả. Cũng liều phải không ?? Bình minh đang rạng rỡ chân trời
6h sáng 22/3/2026- Phát Nguyên

PHIẾM LUẬN VỀ TÊN NGƯỜI - Kha Tiệm Ly


 1. Với giới bình dân.

Mỗi người ai cũng có cái tên, coi như là một ký hiệu để phân biệt người nầy với người khác.
Với giới bình dân, cái tên chỉ là... cái tên, nên thật đơn giản; nó theo người ấy suốt cả cuộc đời từ khi cha mẹ sinh ra. Khi sinh ra, hồi xưa ông bà thường tin dị đoan nên tạm đặt cho đứa trẻ một cái tên nào đó, tương đối "xấu" hoặc nghe có vẻ tục tĩu để cho người khuất mặt khuất mày đừng "quở"! Cho đến khi đầy tháng, họ mới đặt tên thật để làm giấy khai sinh. Vì vậy, đám đầy tháng còn gọi là "đám đặt tên".
Trước khi đặt tên con, cha mẹ phải tránh sao đừng trùng tên với ông bà cô bác họ hàng cả hai bên nội ngoại. Nếu trùng tên, sẽ bị cho là vô phép, hỗn hào. Ngày nay có phần châm chế hơn, chỉ tránh tên ông bà cố nội ngoại, ông bà nội, ông bà ngoại, chú bác, cô dì; còn anh em họ hàng thì không còn ai "lỗi phải" nữa.
Tên cha mẹ đặt gọi là nhũ danh - tên từ khi còn bú vú mẹ - hay là tên cúng cơm.
Tên cúng cơm, có nhiều cha mẹ chọn khi bà mẹ còn mang bầu, trường hợp nầy thì tên đứa bé thường "đẹp" hay mang ước mơ của vợ chồng như Công, Ngôn, Dung, Hạnh, Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, hay Phát Đạt, Thu Ba, Mộng Xuân...
Có nhiều khi tên không được chọn trước, mà khi nghe tin bà vợ lâm bồn, ông chồng mới "đẻ" ra cái tên tùy hứng, hay để đánh dấu một chuyện buồn vui gì đó trong đời. Bởi vậy đã xảy ra nhiều chuyện buồn cười: Vào mùa mận, thì đặt là Mận, mùa xoài thì đặt là Xoài! Nhìn ra ngoài đường thấy hoa phượng nở thì đặt là Phượng. Có người khôi hài: "May à, nếu nhằm mùa chôm chôm, hay nhìn thấy hoa... cứt heo thì chắc tiêu đời đứa nhỏ!"
Cũng không thiếu trường hợp làm ăn vô một keo nào đó, hay... đánh bài thắng, bại mà tên đứa bé là Hên, hay Xui!
Ngày nay không ít người đặt con theo nhân vật trong tuồng tích, hay những minh tinh màn bạc mà họ yêu thích; đây là hoài bão của họ, mong con mình sau nầy sẽ thông minh đảm lược, hoặc sẽ trở thành ca sĩ, diễn viên nổi tiếng toàn cầu.
Dù thế nào, cái tên vẫn là cái tên, nó không thể là dung mạo hay bản chất của người ấy được: tên Thông Thái có khi người mang nó là kẻ ngu đần; tên Bạch Tuyết nhưng nước da lại đen như lọ!
Theo dị đoan của người nông dân Nam bộ, nếu đặt tên con theo thứ tự một câu có nghĩa nào đó thì anh em sẽ hòa thuận, đoàn kết nhau như Tuấn Tú Thông Minh; Tôn Sư Trọng Đạo; Tâm Can Tì Phế Thận. Điều nầy có khi xảy ra nhiều chuyện buồn cười khi bà mẹ "ngưng ngang" nên câu "có nghĩa nào đó" cũng bị bỏ dở nửa chừng, có khi trở thành nghĩa khác! Thời nay, mỗi gia đình thường chỉ có hai con, nên không ai dám đặt tên con theo lối nầy nữa, chớ hồi xưa, bà mẹ cứ đẻ thoải mái nên con bầy mười đứa là chuyện quá thường! Dù vậy, đẻ hoài riết cả vợ lẫn chống cũng ngán - vừa ngán đẻ, vừa ngán nuôi - nên đến đứa con thứ... tám, họ bèn đặt tên là Út, với niềm ước muốn là không còn "sàn xuất" nữa! Thế nhưng, năm sau lại lòi ra một trự, đó là Út Ráng, rồi Út Hết; có khi còn chưa chịu hết nên mới có Út Thôi, Út Dứt!
Có vài địa phương ở nông thôn nam bộ, cái tên thường bị người khác gọi nghịch nghĩa với cái tên cúng cơm; chẳng hạn Hai Sáng thì gọi là Hai Trưa, Ba Đúng thì gọi là Ba Sai; hay cố tình cho thêm vào một vài từ nào đó cho trùng tên với một nhân vật trong truyện Tàu; như Minh thì thành Khổng Minh; Bị thì thành Lưu Bị, Thanh thì thành Địch Thanh; Quý thì thành Tiết Nhơn Quý! Hỏi nguyên do, thì ra chỉ "gọi cho vui thôi" chớ không phải cữ kiêng gì hết!
Lại nữa, không thiếu địa phương không gọi tên người đó, mà gọi cái thứ rồi kèm theo nghề nghiệp của người ấy. Thí dụ như Tư Thịt (bán thịt heo), Tư Ba Gác, Hai (lò) Kẹo, Sáu Móng Tay…
Gần đây có nhiều bài viết sưu tầm những tên lạ lùng được ghi trên chứng minh nhân dân hẳn hoi như: Đỗ Phiđencacstrô; Cà Văn Dái; Lò Vi Sóng; Hồ Hận Tình Đời; Trịnh Thị Nôel; Đồng Hồ Thụy Sĩ; Phạm Thị Lâu Ra; hoặc có những tên dài sọc cũng không thiếu tính lạ kỳ: Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhàn; Lê Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Linh Phượng; Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân!
Theo tin các báo, ở Tam Kỳ có người họ Mai bị xã phạt hai ngàn rưỡi vì sinh con thứ ba, tức mình ông liền đặt tên con là Mai Phạt Hai Ngàn Rưỡi
Lấy tên của mười hai con giáp: tí, sửu, dần, mẹo,... đặt tên con để "nhớ tuổi của nó" hay "cho khỏi trùng tên ai" cũng là chuyện thường thấy.
2. Với giới vua quan, trí thức.
Với giới vua quan, cái tên thật lắm rắc rối, và còn bị nhiều kiêng cữ khắc khe.
Đầu tiên là tên húy, tức là tên cha mẹ đặt ra, nhưng không phải là tên cúng cơm như ở giới bình dân. Tên húy nầy luôn bị cữ kiêng, gọi là kỵ húy, hay kiêng húy, nhất là với vua chúa, chẳng những tên húy mà tiếng (chữ) đệm/ lót, càng phải được cữ kiêng triệt để, nếu không thì coi như bị phạm trọng tội. Xưa kia, trong cuộc thi cử, thí sinh chẳng những cần phải học thuộc lòng tên vua, tên hoàng hậu, và tên hoàng thân quốc thích; vì đó là một trong những "trường quy" mà thí sinh phải tránh nếu không muốn bị phạt nhục hình và tất nhiên bị đánh rớt!
Cũng vì sự kiêng húy nầy mà hàng trăm từ âm chánh Hán Việt bị đọc trại ra riết thành quen và thành... "đúng"! Và đến giờ nếu ai đọc đúng âm chánh thì sẽ bị coi là sai: Lanh lị/ lanh lợi; nhậm kỳ/ nhiệm kỳ; thì gian/ thời gian... (Âm trước là âm chánh)
Theo Wikipedia: "... Lệnh kiêng húy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được ban hành tháng sáu năm Kiến Trung thứ tám (1232) dưới thời Trần Thái Tông. Vua nhà Trần biện lẽ là ông tổ nhà Trần tên là "Lý" nên ai tên họ là Lý phải cải danh. Lệnh vua đã ban thì thần dân phải thi hành; và đương nhiên con cháu nhà Lý phải từ bỏ gốc gác họ hàng của mình để được tồn tại. Lệnh kiêng húy do vua ban ra để giữ vẻ uy nghi của ngai vàng, kẻ nào phạm húy sẽ bị tru di tam tộc.
Sang triều Hậu Lê, ngày 20 tháng 4 âm lịch năm 1428, sau khi lên ngôi được 5 ngày, Lê Thái Tổ đã ban bố ngay lệnh kiêng húy rộng rãi nhất lịch sử: Kiêng đến nhiều loại húy: quốc húy (gồm chính húy và thường húy), tên húy, gia tộc kính húy và dân gian húy.
Và từ đó đến mãi thời nhà Nguyễn, lệnh kiêng húy tiếp tục duy trì, nhiều thời được áp dụng một cách khắt khe. Do kiêng húy mà những danh nhân đất Việt đã một thời biến âm thành tên khác như Ngô Thì Nhậm (thành Ngô Thời Nhiệm), Phan Châu Trinh (thành Phan Chu Trinh), Châu Thượng Văn (thành Chu Thượng Văn)...
Húy kỵ dưới triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt Quốc húy dưới thời các vua Nguyễn, khá phức tạp. Húy kỵ đã được nâng lên thành Quốc luật, làm thay đổi một phần ngôn ngữ.
Kỵ húy đối với sĩ tử khi đi thi thì có hai hạng: khinh húy và trọng húy. Khinh húy là phải kiêng tên cha mẹ cô chú của nhà vua. Trọng húy là kiêng tên của vua. Ai phạm khinh húy trong bài thi thì bị đóng gông phơi nắng ba ngày, rồi suốt đời bị cấm đi thi. Phạm trọng húy thì không những thí sinh bị tù mà những thầy dạy học cũng bị phạt vì lỗi đã không chu toàn trách nhiệm giáo dục. Ai đang làm quan mà viết sớ phạm trọng húy cũng bị phạt như giáng cấp. Triều Gia Long luật pháp bắt đánh 80 trượng.
Việc kỵ húy ảnh hưởng không những ở lời nói cửa miệng khi nói trại âm, mà ngay chữ viết, nhất là những công văn chữ Nho phải thay đổi, khi thêm bớt nét, khi thì dùng chữ cận âm hay đồng nghĩa để tránh phạm húy. Cũng căn cứ vào những sửa đổi trong văn tự này mà các học giả sau này có thể thẩm định niên đại của một bản văn dựa theo những cách viết kỵ húy...."
Kế đó là tên tự. Tên tự là ... "tên chữ", là tên do cha mẹ hay tự mình đặt cho mình khi tròn 20 tuổi, gọi là đã "thành nhân"! Đã nói là "chữ" thì không phải muốn đặt sao thì đặt, mà là nó phải có liên quan đến tên húy. " Vấn danh tri kỳ tự, vấn tự tri kỳ danh", nghĩa là hỏi tên chánh biết tên tự, hỏi tên tự biết tên chánh. Nói thì nói vậy, nhưng từ tên tự mà biết được tên húy, hay từ tên húy mà biết được tên tự của người nào đó thì không phải dễ dàng gì, nên " Vấn danh tri kỳ tự, vấn tự tri kỳ danh" nó chỉ nói lên mối tương quan giữa "húy" và "tự" mà thôi.
Người ta có thể đặt tên tự bằng nhiều cách như dùng một hay nhiều từ của tên tự cùng nghĩa, hay nghịch nghĩa với tên húy; dùng điển tích nào đó liên quan với tên húy... : học giả Bùi Kỷ có tên tự là Ưu Thiên là vì theo và Tả Truyện, có người ở nước Kỷ suốt ngày lo trời sập [ưu: lo; Thiên: trời / ưu thiên = lo trời (sập)]; tác giả Hạnh Thục Ca là Nguyễn Nhược Thị, có tên thật là Nguyễn Ngọc Bích, lấy tên tự là Lang Hoàn. Bích và Lang đều có nghĩa là " (viên) ngọc".
Dù bằng cách nào, tên tự cũng nói lên một phần "trình độ văn hóa" của người đó; vì vậy người đặt tên tự cho mình không thể tùy tiện; cũng vì vậy mà tên tự chỉ có trong tầng lớp trí thức, hàng bình dân thất học không có tên tự. Theo quan niệm xưa, nếu gọi tên húy của một người là vô lễ (là phạm tội, nếu đối với quốc thích hoàng thân như đã nói ở trên), cho nên người ta dùng tên tự để gọi người đó để tỏ lòng tôn kính. Như gọi là Cao Chu Thần thay vì Cao Bá Quát. Nguyễn Tố Như thay vì Nguyễn Du,
Giới trí thức ngày xưa, ngoài danh xưng (tên húy), tên tự, họ còn có tên hiệu.
Tên hiệu hay biệt hiệu là tên do người đó tự đặt ra hoặc do vua ban cho; vì vậy tên hiệu cũng là cách để đánh dấu nơi sinh quán, nơi làm việc, nhưng thường là để biểu lộ ý tưởng, đức tính, chí khí, hay sở thích của mình. Nguyễn Khắc Hiếu lấy hiệu là Tản Đà, vì quê hương cùa ông có "Ba Vì (TẢN Viên) ở trước mặt" và "Hắc Giang (ĐÀ Giang) bên cạnh nhà". Nguyễn Phi Khanh (thế kỷ14) có tên hiệu là Nhị Khê vì ông cư ngụ tại làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, Hà Đông. Lý Thường Kiệt được vua Lý Nhân Tông ban cho hiệu Thiên Tử Nghĩa Đệ .
Vua chúa còn có tên thụy. Tên thụy (thuỵ hiệu) hay hiệu bụt hoặc tên hèm là tên do người đời sau (thường là vua kế vị) dựa theo phẩm hạnh, công đức mà đặt cho vị vua, hoàng hậu tiên triều… Tên nầy được khấn vái khi cúng cơm, nên còn gọi là "tên cúng cơm" (khác với giới bình dân, "tên cúng cơm" là tên do cha mẹ đặt ra từ lúc chào đời). Tên thụy có thể từ một vài từ hay rất nhiều từ, Trần Thái Tông được tôn thụy hiệu là "Thống Thiên Ngự Cực Long Công Hậu Đức Hiền Công Hựu Thuận Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Hiếu hoàng đế", có lẽ là thụy hiệu nhiều từ nhứt.
Mỗi vị vua sau khi lên ngôi thường có một hay nhiều niên hiệu riêng. Vị hoàng đế có nhiều niên hiệu nhất là Lý Nhân Tông, với 8 niên hiệu. Niên hiệu có thời gian lâu nhất là Cảnh Hưng (1740-1786) của vua Lê Hiển Tông: 47 năm. Nhà Nguyễn, một triều đại tương đối dài, nhưng mỗi vị vua đều chỉ dùng một niên hiệu duy nhất trong suốt thời gian trị vì của mình.
Tên của vua quá rắc rối, xin miễn bàn tiếp, vì đó là... vua! Còn ở giới bình dân, dù chân lấm tay bùn, dù nhà tranh mái lá thì bậc cha mẹ cũng không nên đặt cho con mình cái tên quá kỳ khôi hay tục tĩu như đã nói ở trên: dù rằng, đó chỉ là ký hiệu để phân biệt kẻ nầy người khác; nhưng cái tên không chỉ đơn giản là để gọi, mà rất ảnh hưởng đến việc học hành và tương lai của đứa trẻ sau nầy.
Thử nhìn lại xem, có ai mang tên quá kỳ khôi hay tục tĩu mà đỗ cao khoa, được làm "ông nầy bà nọ"? Không phải họ thiếu thông minh, không tiếp thu được việc học hành, mà chính vì họ phải bỏ học có khi ngay từ lớp vỡ lòng chỉ vì không chịu nỗi những lời chế giễu của bạn bè cùng lớp, cùng trường!
Cái tên còn cho biết phần nào trình độ hiểu biết (văn hóa) của người đặt ra nó, bởi không ai có ăn học mà đặt tên con kỳ cục, tục tĩu như những tên đã nêu trên; nó cũng như một tác phẩm của nghệ nhân: tác phẩm tồi thì nghệ nhân không thể là người tài hoa được.
KHA TIỆM LY
(Thành viên Wikipedia)