5 thg 11, 2026

Nhớ Để Còn Đây - Thuyên Huy


hớ Để Còn Đây


Tặng một người tên Ch. đã có một thời học làm cô giáo ở Sài Gòn




Trễ chuyến xe buýt ra chợ Bến Thành, ngoắc rồi nhảy đại lên cái xe xích lô không khách qua ngang, hối bác đạp xe ráng chạy nhanh giùm, cho kịp ra bến xe đón bà dì Tư, em ngoại từ trên nhà xuống, ngủ lại để sáng mai sớm đi Rạch Giá thăm dì út, sắp sinh con đầu lòng. Trời Sài Gòn đã quá trưa, đứng bóng nắng, cuối hè, nóng vẫn nóng, gió thu chưa chịu về, đường phố vẫn người và người, một ngày như mọi ngày, cũng may có chút gió lùa qua, mang hơi nước từ nhánh sông dưới bến đò Thủ Thiêm lên, tạm mát.

*

Từ xa xa, bến xe vắng người, chiếc xe đò lớn nằm yên ngủ, không thấy tài xế hay lơ xe đâu đây, chờ chuyến chiều về lại tỉnh. Ngay cái băng ghế cây dài cho khách chờ, cách chỗ xe đậu cuối dãy, gần bên cái quán bán cà phê cơm nước, bến vắng tanh, bà dì Tư ngồi cạnh bên một cô gái, tóc dài xỏa ngang lưng, cả hai ngó về hướng chợ, nói qua nói lại gì đó, tôi đi chậm lại, tới sau lưng, lên tiếng gọi, cả hai quay lại, bà dì cười “con”, ngạc nhiên, tôi gật đầu chào, cô gái cũng gật đầu chào, cả hai nhìn nhau, có lẽ đã có lần gặp nhau, ở đâu đó rồi.

Cô cười mà không nói gì, bà dì nắm tay cô, ngó tôi chậm rãi cho biết “cô và bà đi cùng chuyến xe về Sài Gòn, bà cháu nói chuyện này chuyện kia trên xe, cũng vui, khi tới bến, thấy bà dì ngơ ngác, dòm dòm kiếm kiếm ai đó, cô không có gì vội, phần sợ bà một mình cũng lo, nên ngồi cùng bà chờ con”.

*

Đưa cô gái, vừa kịp nhớ tên, Dung, cô gái nhỏ làm công nhân cạo mủ ngày xưa, tới ngoài đầu đường, ngay bồn binh, Dung băng nhanh qua bên kia Lê Văn Duyệt, đón xe về nhà trọ đâu đó trên chợ Đủi, tôi vẫy tay chào, Dung quay lại cười, nụ cười pha chút nắng hồng xế trưa, nụ cười của những bữa cơm cá khô, cà chua bên hàng ba nhà máy mủ trưa thứ bảy. Hai bà cháu đi ta xi về, trên xe, bà cười mĩm nhìn tôi, không biết bà nghĩ gì, riêng tôi thấy mình có chút gì vui thiệt. Bà còn nói thêm tiếng một tiếng hai khen “cô đó vừa đẹp, vừa dễ thương, học ở trường gì đó cuối năm nay xong sẽ là cô giáo”.

*

Sau mấy năm dài cặm cụi, nâng niu từng cọng cỏ ngọn cây, từng bờ mương con đường, mà ba má tôi đã dày công sức bỏ ra, cái sở cao su chừng trên dưới mười mấy mẩu, đã bắt đầu khai thác, sau khi cái nhà máy chứa mủ, xấy khô, đóng bành đã xong, ở khu ven ngoại ô của tỉnh, khỏi cầu Trà Phí, xa xa phố chợ, khỏi xóm nhà lẻ loi lưa thưa, đường trải sói đá đỏ, đèn điện khi mờ khi tỏ.




Từ ngày đó, tuần nào cũng về trên nhà, mới đó mà nhớ, nhớ hàng cao su cao cao xanh lá thẳng hàng, chạy song song hai bên những con đường đất ươm ướm màu bụi đỏ nhạt, đan kín nhau, che bóng nắng, mát rượi, nhớ mà thương cho ba má, chạy lên chạy xuống, nhà dưới xã nhà trên tỉnh, mướn người mướn xe, ôi đủ thứ chuyện, xuống Sài Gòn học mà cứ thấp tha thấp thỏm.

*

Lần này về, xuống xe lôi máy, từ ngoài đường vô nhà máy đã thấy có người ngồi người đứng ngoài hàng ba, toàn là đàn bà con gái, chỗ để nghỉ ngơi, tụm nhau hình như sửa soạn ăn trưa, mười mấy cái xe đạp, cột thùng thiếc đựng mủ dựng hàng dài, dọc theo bờ rào kẽm gai, có trồng đệm thêm mấy cây ớt, cao chưa khỏi gối xum xuê trái.

Thấy tôi, họ ngừng nói chuyện, trố mắt nhìn ra, tôi cũng chưa kịp chào thì, chú tư Tưởng, người phụ ba lo việc coi sóc nhà máy từ phía sau mấy cái hồ chứa mủ, đi ra, chú cũng trố mắt “ủa mới về hả con”, tôi “dạ” một tiếng nhỏ, rồi chú quay vô trong “anh tư ơi, thằng út về nè”, tôi cười chào họ, lách qua mấy cái hồ đi, khuất chưa xa, nghe tiếng chú hai “con ông chủ”, chắc là nói với mấy người làm.

*

Sau hai ba lần về nhà, lạ rồi quen, tính tôi vốn đã hiền như tên ba má đặt, lại có tài ăn nói, nên, không nói gì tới chú tư, giờ cả mấy chị con gái cạo mủ đều thích đều thương, duy chỉ có cô nhỏ nhất trong nhóm, chắc nhỏ hơn tôi ba bốn tuổi, tóc dài, dễ thương, có duyên, là còn mắc cở, ngó trời ngó đất. Lần nào cũng vậy, từ dưới Sài Gòn vô nhà máy, luôn đúng giờ họ từ sở cao su về nghỉ, tôi thôi không còn theo ba ra chợ, mà tụm lại ăn cơm chung, mới đầu thì cơm do chú tư lo, sau đó bớt ngại, có gì ăn nấy, nên mấy chị cũng để phần cho, cá khô, dưa luộc, mắm muối gì không sao, ngồi ăn quanh nhau, cười nói vang rân, ba ngồi trong nhà máy nhìn ra, lắc đầu cười “cái thằng”.

*

Cô con gái nhỏ, Dung, gia đình nghèo, không có ba, chỉ còn má với bà ngoại, nhà miệt trong ngã ba Ao Hồ, ngày đi làm, lúc nào cũng có mặt đúng giờ tại nhà máy, chuyện tới chuyện lui, mới biết thêm, Dung còn đang học lớp đệ Tam trường tỉnh, thấy thương tình, ba cho cô làm ngày cuối tuần và trả tiền công nhiều chút đỉnh, hơn các người khác, coi như là tiền cho, Dung siêng năng, lanh lẹ, ăn nói dịu dàng, dạ thưa, cho nên ai cũng thương cũng mến, chú tư không ngớt miệng tiếng một tiếng hai “con gái nuôi ”, phần tôi, lúc nào cũng gợi chuyện, kể chuyện phương xa, chuyện học hành, lời khuyên lời bảo, anh anh em em, ngày thêm gần gũi hơn.

Từ đó biết nhau mến nhau hơn, hôm nào về tôi cũng mang theo chút quà Sài Gòn, kẹo ngọt, bánh tây, đồ hộp... những thứ người ta bán đầy ở chợ trời Hàm Nghi, đặc biệt thêm mớ sách Tuổi Hoa, mớ truyện cho cô gái nhỏ, tên Dung, gọi là “mấy chị ăn lấy thảo” như thay cho lời cám ơn đã giúp gia đình mình.

*

Và cũng từ đó, mấy chị lớn thường nghe Dung hỏi họ nhiều hơn về tôi, và khi nói đến tôi là cô thường nhìn xa xăm, tưởng chừng như đang mơ mộng, nhứt là những lúc nghỉ ăn trưa thứ bảy, cô xem ra thẩn thờ hơn, sầu tư biếng lự, cứ ngóng ngóng trông trông ra đường lộ, mấy chị đủ lớn để hiểu chuyện gì, không biết sao, nếu thật thì “thương cho em quá”, chú tư cũng đã thấy vậy, cười mà thở dài lặng thinh “tội nghiệp”, với Dung, cô con gái nhỏ, giờ thì sách vở lớp học sân trường có thêm cái gì đó, trong từng trang, từng hàng chữ, một cái gì khó tả khó quên, nhớ ray nhớ rứt, bảy ngày trong tuần cô cứ mong cho tới ngày thứ bảy.

*

Sau nghỉ Tết, đi làm trở lại, thứ bảy, tôi về cùng với cô bạn học chung trường, người Sài Gòn, cũng lúc giờ mấy chị làm nghỉ ăn trưa, hai đứa tôi nhanh nhẩu vui cười chào từng người, rồi quày quả đi vào trong nhà máy, bữa cơm hôm nay không có tôi, không có tiếng cười, Dung ngồi chết lặng, mấy chị lớn nhìn nhau, không ai nói tiếng nào, mọi thứ cũng chết lặng.

Một lát sau, ba tôi và cô bạn đi ra trước, tôi theo sau, tới nhóm người làm, đang dọn dẹp sửa soạn trở lại rừng cao su, chào từ biệt, hẹn tuần sau gặp lại, ra tới ngoài đường, họ lần lượt đẩy xe đạp đi, chiếc xe lôi máy khuất dần cuối đường, trời nắng và gió lùa chút bụi đỏ, Dung cúi mặt, không ngó theo, đi cuối cùng, nghẹn ngào khóc một mình.

Từ hôm đó, rồi những thứ bảy sau, Dung đã thôi không còn đến làm nữa, tôi cũng không còn gặp lại, cuốn sách “Tuổi Hoa” màu tím làm quà không có người nhận và trên chuyến xe chiều về Sài Gòn, nhìn ra đường, bất chợt tôi thở dài, buồn buồn mà thương “biết rồi tại sao”.

*

Nhà nghèo, vừa đi học vừa đi làm, phụ làm bồi cho cái nhà hàng lớn trên phố Gia Long, chợ tỉnh ngày thứ bảy, gần một năm lớp đệ Nhị, đậu Tú tài Một, Dung không học tiếp lớp đệ Nhất, thi vào trường Sư phạm Sài Gòn, mong được tốt nghiệp sớm cho má và ngoại đở cực khổ hơn. Vào Sư phạm, Dung cố học, ra trường hạng cao để được về gần nhà, càng gần càng tốt. Không quen biết ai, xuống Sài Gòn, may nhờ cô bạn cùng học chung lớp, người Suối Cụt, đến ở trọ với cô ta tại nhà người bà con xa của cô gì đó, nên má, ngoại mừng hết sức mừng, hai người đi về có nhau suốt hai năm học, năm nay năm cuối, chừng gần tháng nữa thi tốt nghiệp và ra trường, bắt đầu đời cô giáo.

*

Sài Gòn sáng chủ Nhật, ngồi nhìn ra đường, bà dì Tư đi rồi, nhà vắng như đã vắng, nắng chưa lên dù đã ngấp nghé đâu đó trên nóc mấy cái nhà lầu bên kia, ly cà phê nóng, hơi lên như sương khói tỏa, xe lam chở khách, chở bạn hàng ra chợ nối đuôi nhau, ồn ào từ trên ngã tư Bảy Hiền qua ngang, Sài Gòn tỉnh ngủ.

Chút chuyện vụn vặt ngày đó, sau hôm gặp lại Dung, bổng sống lại cái nhớ ray rứt mỗi trưa thứ bảy về nhà, nhớ bữa cơm, nhớ tiếng cười, nhớ cuốn sách Tuổi Hoa và nhớ cái buồn buồn của cô con gái nhỏ làm công nhân cạo mủ, lầm lũi đẩy xe đạp, không có tiếng cười, theo sau mấy chị lớn, lần cuối không còn gặp lại và cuốn Tuổi Hoa không có người nhận. Thấy lòng mình buồn khó tả, có cái gì đó da diết đau, nuốt ngụm cà phê sắp nguội, đứng dậy đi vào trong, chợt nhớ người, hình như “còn chút gì để nhớ để thương” mà tôi đã để nó chìm sâu vào quên lảng sau một cuộc “tình lỡ” bước vội.

*

Bữa cơm chiều tại cái quán cơm bên hông chợ Đủi, được coi là bữa cơm tái ngộ sau lần gặp ở bến xe miền Đông hôm đó. Dung cười nhiều hơn, cũng nụ cười giờ nghỉ cơm trưa tại hàng ba nhà máy những ngày thứ bảy xưa, cả hai nói nhiều hơn ăn, Dung nhắc chuyện qua rồi, có buồn có vui, chuyện của những cuốn Tuổi Hoa đem theo vào lớp học, chuyện con nhà nghèo và đời làm công nhân cạo mủ, chuyện tình thương của chú tư, của ba tôi và các chị khác, và chuyện trưa thứ bảy cuối cùng, không trở lại làm, hôm tôi về với cô bạn gái từ Sài Gòn, pha một chút buồn thoáng nhẹ sầu trong mắt.

Đưa Dung về tới nhà trọ, hẹn ngày gặp lại, cô bạn người Suối Cụt vẫy tay chào trước nhà, tôi thả bộ ra bên kia rạp Nam Quang, chiếc xích lô đạp chạy khá xa xuôi hướng Cao Thắng, hai người vẫn còn đứng trước nhà nhìn theo, nắng chiều buông chênh chếch vàng, ngấp nghé tàn, phố chưa lên đèn, tiếng chuông lễ chiều của chùa Tam Tông Miếu văng vẳng man mác xa đưa.

*

Dung trố mắt ngạc nhiên, thấy tôi đứng ngoài đường Thành Thái, xa xa hai ba nhóm người, đang nhìn vào bên trong trường, nói qua nói lại, chắc là cũng chờ ai trong đó, khi vừa ra khỏi cổng, ngày chọn nhiệm sở sau khi tốt nghiệp. Thả bộ ra đường Cộng Hòa, đi dọc theo bên lề Hồng Thập Tự, trời gần cuối hạ, xế trưa nắng dịu chờ thu, trên đường về nhà, bên nhau mà Dung cứ cười, một cái cười mừng vui, hớn hở mà không nói gì, tôi cũng cười theo, không hỏi.


Dung cùng cô bạn người Suối Cụt về dạy ở trường tiểu học Cẫm Giang tỉnh nhà, cái mơ ước ấp ủ từ lâu đã thành hiện thực. Cẫm Giang tuy hơi xa nhà một chút nhưng có xe đò nhỏ, chạy suốt ngày nên sáng đi chiều về cũng tiện. Dưới Sài Gòn, những ngày đi học Dung ở trọ nhà bà con cô bạn thân, giờ thì cô bạn thân ở trọ nhà Dung, cả hai tiếp tục chia buồn chung vui như ngày nào.

*

Mùa nghỉ hè hơn một năm, sau khi ra trường xuống làm việc ở Thủ Thừa, về thăm nhà lần này vào nhà máy, cũng trời sắp trưa như những ngày thứ bảy xa xưa, ai cũng ngạc nhiên trố mắt nhìn, nhứt là mấy chị làm công nhân ngày cũ, vì thấy có Dung đi theo, ba tôi chỉ mĩm cười, chú tư lăng xăng, đứng ngồi không yên, chạy ra chạy vô nói nói gì đó.

Dung xúm xích quanh mấy chị, nói cười luôn miệng, trời cũng quá trưa, nắng nóng, giờ này giờ cơm như trước, lại thấy mấy thùng đựng mủ, không nằm ngổn ngang dọc hàng ba mà được sắp đâu đó ngăn nắp trên cái kệ dài, nhìn chưa kịp hỏi, chú tư nhanh chân ra gần bên cho biết “bữa nay ăn cơm trưa ở nhà con”.

*

Tôi đi bên ba ra đường trước, chú tư khóa cửa nhà máy, đẩy xe Honda ra sau, Dung theo mấy chị gái lần lượt đẩy xe đạp theo, không biết họ nói gì mà Dung cười nhưng có vẻ thẹn thùng. Chú tư và ba đi Honda, tôi, Dung đón xe lôi máy. Chiều nay ba cho mấy chị nghỉ sớm, không cần phải trở lại làm.

Tới nhà, má đứng trước cửa chờ hồi nào rồi, chú tư với ba về trước, đang loay hoay gì đó với mấy bụi tre tàu cao già góc vườn, mấy chị vội vàng đẩy xe vào bên hông nhà, nhanh chân “chào bà, chào bà” rồi ùa vô nhà, xí xô xí xào người tay bưng người tay dọn món này món kia trên cái bàn dài ngoài mái hiên sân sau, dưới bóng mát cây vú sửa cũng già không thua gì mấy bụi tre. Tới nhà trễ, Dung vội vã bỏ đi lẹ tới sân sau, mấy chị vẫn còn cười nói vang rân, má đứng ở cửa sau nhìn, Dung sớ rớ cúi đầu chào bà, má cười “con hả”. Bữa cơm trưa thứ bảy vui trọn vẹn như tiếng chim có đôi, hót líu lo trên mấy cành cây xoài xanh lá trong vườn, hong nắng trời giữa hạ.

*

Rồi cũng một ngày đầu hè, tan trường, đường phố hồng phượng nở, người lạ người quen đi ngang qua ngã ba Ao Hồ, thấy trước căn nhà mái thiếc vách cây, sân trồng đầy hoa “Móng Tay”, có tấm bảng đề ba chữ “Lễ Vu Quy” và ngôi nhà mái ngói âm dương rong rêu phủ, trên đường ra phố tỉnh, không xa mấy một trường tư thục có tấm bảng “Lễ Thành Hôn”, cả hai kết đầy hoa, rực rỡ khoe sắc một trời trong nắng mai ươm màu phượng đỏ.

Thuyên Huy

Chuyện tự dựng mà tưởng chừng như có thật – Sắp vào Hạ 2026







Posted by 304Denat 12:57 AM

4 thg 11, 2026

Chào Mừng 44 Năm Ngày Nhà Giáo VN “ 2026

 

Ngày 1/11/2026 , GĐN cùng Danh Lê Khoá 11 SPSG tổ chức “ Chào Mừng 44 Năm Ngày Nhà Giáo VN “ tại nhà Danh Lê ở Khu Biệt thự Tuyết Anh xã Bình Mỹ .

- GĐN , Anh Trưởng Ngai K6 , nguyên PGD Sỡ
Giáo Dục TP , Cố Vấn HCGC BGD và ĐT tại TP
, khai mạc buổi Lễ
- Danh Lê K11SPSG , cám ơn Anh Ngai K6 , Anh Trưởng GĐN và chị Viễn K7 , Chị Cả GĐN , cùng tất cả các ace tham dự buổi Lễ .
- GĐN , Anh Trưởng Ngai và Chị Cả Viễn tặng Hoa và Quá cho Danh Lê
- Danh Lê K11 SPSG tặng Hoa cám ơn Anh Trưởng Ngai K6 ,và Chị Cả Viễn K7 của GĐN
-Chị Cả Viễn và Thuận cám ơn anh Trung , Chủ tịch HCGC BGD và ĐT tại TP HCM
- Chị Cả Viễn và Thuận tặng Hoa cho cô Hồng Vân , Chủ tịch HCGC xã Bình Mỹ
- Chị Cả Viễn và Thuận tặng Hoa cho Tuyết Hồng K12 SPSG và anh Đặng Việt Lợi K13
- Chị Cả Viễn và Thuận tặng Hoa cho cô Kim Khánh trong Đội BB Danh Thuận ( Nhóm múa Sóng Dang ) cô Thanh Sen HCGC BGD và ĐT ( Nhóm múa Thanh Sen ) , Cô Quỳnh Tiên LBT (tăng Tập Thơ và Tập Hôi Ký )
- Chị Thanh Tươi , Nhóm HCGC Nhơn Trạch tặng Hoa cho Danh Lê K11 SPSG và Danh Lê tặng Hoa cám ơn Nhóm Nhơn Trạch đã ủng hộ GĐN
- Danh Lê K11 SPSG cám ơn Anh Đặng Việt Lơi K13 SPSG , đã làm MC giúp cho buổi Lễ thật là Vui và Sôi Động .
- Buổi Lễ được 80 vị khách mời tham dự gồm :
- Nhóm GĐN
- Nhóm K11SPSG
- Nhóm Thân hữu GĐN
- Nhóm HCGC BGD và ĐT tại TP HCM
- Nhóm HCGC xã Bình Mỹ - Củ Chi ( nơi trước đây Danh Lê đã công tác )
- Nhóm H CGC Nhơn Trạch
- Nhóm Đội BB Danh Thuận
- Nhóm LBT
Buổi Lễ được tổ chức thật Vui , và thật Thắm Thiết Tình Đồng Môn cũng như Tình Đồng Nghiệp và Tình Đồng Đội vậy .
Xin Chúc các Thầy Cô Giáo Chúng Ta ThẬt Vui và Hạnh Phúc trong Ngày Nhà Giáo nhé

SAIGON CÓ MÙA THU KHÔNG EM? - Phạm Bắc - SPSaigon


 SAIGON CÓ MÙA THU KHÔNG EM?

Saigon chỉ có hai mùa mưa nắng, nhưng đôi khi ta gặp được những thời khắc giống như mùa thu ở giữa thành phố này.
Thời còn học ở trường Sư Phạm Saigon trước năm 1975, ngày hai lựợt đi về trên những con đường Nguyễn Văn Thoại, Hồng Bàng, Thành Thái với hai hàng cây cao vút hai bên đường. Gần trường có công viên Văn Lang rợp bóng mát cùng với ngôi nhà thờ Thánh Jeanne d'Arc đứng trầm mặc giữa rừng cây. Vào cuối mùa mưa, một buổi chiều tan học, đạp xe về mà thấy cảnh vật có điều gì khác lạ. Trời không mưa, không khí mát mẻ thật dễ chịu, ánh nắng vàng cuối ngày thắp sáng những ngọn cây hai bên đường. Từng cơn gió lay động những tán cây làm những chiếc lá vàng bay bay, chao liệng trên không rồi rơi xuống, vương trên áo người đi, phủ kín mặt đường. Cái tiết trời dịu mát ấy, những cơn gió nhè nhẹ ấy, những chiếc lá rơi tình cờ ấy và cái màu vàng mênh mang xao xuyến ấy, đã làm lòng người bâng khuâng trước cảnh đất trời thi vị.
Thời gian tựa cánh chim bay, thế mà hơn một nửa thế kỷ đã qua đi. Bây giờ, thỉnh thoảng có dịp, đi trên những con đường ngày xưa để tìm lại cảm giác khó quên của thời xa xôi ấy. Saigon bây giờ ở đâu đó, vào một lúc nào đó, vẫn có những không gian, những cảnh vật mang màu sắc, hương vị và nét riêng của mùa thu... Ngày xưa là cảm giác ngỡ ngàng của tâm hồn trai trẻ trước thiên nhiên dịu dàng, trước một khoảnh khắc thu quyến rũ. Bây giờ là tâm trạng hoài niệm của một con người, đã trải qua bao sóng gió cuộc đời, với trái tim trống vắng cùng mộ  vết buồn khó phai...

Lá Thu Rơi Rụng_Hàn Thiên Lương

 


Miên man “Ký ức Sài Gòn”



*SONG THAO





Saigon 1962
Nguồn: Internet
Trong bài viết “Ký Ức Sài Gòn” dài tới 50 trang sách in trong cuốn Phiếm 35, tôi tưởng đã xong cho một Sài Gòn mất tên 50 năm trước. Nhưng, như đã “tiên tri” trong bài, “Ký Ức Sài Gòn” thì miên man chẳng bao giờ đủ, nay lại phải viết thêm.

Ngày Sài Gòn bị cưỡng chiếm, tôi đã nhắc lại một bài viết của nhà văn Dương Thu Hương khi vào Sài Gòn ngay trong ngày tang Sài Gòn đó. Bà đã khóc khi thấy sách của các nhà văn nhà thơ Sài Gòn được xuất bản tự do; TV, radio, cassette, những thứ chỉ có trong mơ của dân miền Bắc, đầy rẫy khắp nơi.
Một người tên tuổi khác, ca sĩ Ái Vân, khi Sài Gòn thất thủ cô mới 19 tuổi, đang là sinh viên năm thứ 2 khoa Thanh Nhạc của Nhạc Viện Hà Nội, sau một hành trình dài từ Hà Nội, đã vào tới Sài Gòn đúng vào ngày đầu Sài Gòn thất thủ. Cô kể lại trong cuốn hồi ký “Để Gió Cuốn Đi”: “Ngày đẹp trời, chú Nguyễn Văn Thương nhắn tôi lên phòng giám hiệu. Thầy nói: “Bên Đài Truyền hình cần bổ sung xướng ngôn viên để vào tiếp quản Sài Gòn vì bên ấy thiếu người quá. Ông Tố Hữu đề nghị chọn Ái Vân”. Tôi sướng mê đi… Được vào Nam, lại được làm xướng ngôn viên (miền Bắc gọi là phát thanh viên) cho Đài Truyền hình Sài Gòn những ngày đầu tiên của hòa bình, còn vinh dự nào hơn. Tôi có hai, ba ngày chuẩn bị, tíu tít người hỏi thăm, người gửi người nhà cái này, người nhờ mua cái kia, rộn ràng còn hơn lần đầu đi nước ngoài”.

Sáng sớm ngày 29/4/1975, chuyến xe chở hai mươi người khởi hành từ Hà Nội vội vã vào Nam. Trưa ngày 2/5, xe tới của ngõ Sài Gòn, qua Xuân Lộc vào Xa Lộ Biên Hòa. “Mọi người nói với nhau: “Sài Gòn rồi!… Sài Gòn đó kìa!”. Đường vào Thành phố rộng thênh thang, phẳng lì. Lại xuýt xoa thì thầm: “Như đường của Tây”. Không thấy cờ hoa chào đón, chỉ thấy vẻ tiêu điều trên thành phố tráng lệ trước đây. Lại vẫn quần áo, mũ, giày, thắt lưng lính rải đầy đường… Nhiều hơn cả là vỏ đạn, đường Hồng Thập Tự đầy vỏ đạn. Dấu vết chiến tranh hằn rõ trên mặt phố. Chiều 2/5, chiếc xe của Đài Phát Thanh, Truyền hình từ từ lăn bánh tiến vào Đài Truyền hình Thành phố Sài Gòn. Ngày 30/4 đến với những người trên chuyến xe ấy, chắc hẳn hoàn toàn khác với hình dung của tất cả mọi người. Im lặng, im lặng và im lặng”. Lần đầu tiên ra phố, cô thấy ngợp. “Ở Hà Nội nhỏ bé xinh xinh, vào Sài Gòn thấy ngợp. Ra chợ Bến Thành thấy người dân khác hẳn. Lúc đó người Sài Gòn không dám ăn diện như trước, nhưng vẫn thấy sự khá giả trên những bộ đồ họ mặc. Họ đón nhận mình với thái độ vui mừng một cách gượng gạo, có phần nghi ngại. Dân Sài Gòn thấy ai từ Bắc vào đều gọi là bộ đội. “Bộ đội” truyền hình ca nhạc cô nào cũng coi được, mấy bà mấy cô cứ xúm lại mấy chị em xuýt xoa: ‘Bộ đội mà sao da trắng bóc hà?’”.

“Sự cố” đầu tiên xảy ra khi cô ra chợ Bến Thành mua vài thứ lặt vặt. Cô trả bằng tiền miền Bắc. “Cô bán hàng tính ra 1 đồng ăn 1.000 đồng tiền Sài Gòn, cả chợ ồ lên nói: “Trời, tiền ngoài Bắc còn giá trị hơn tiền dollar à”. Cô bán hàng nói: “Em chờ chút để qua đổi tiền thối nha”. Tưởng chị chê tiền của tôi thối (mùi hôi), tôi cãi: “Không, tiền em không thối đâu ạ”. Chị bán hàng lại tưởng tôi không cần thối lại, nói: “Đâu được, để qua đổi tiền khác thối lại em”. – “Dạ không, đã bảo tiền em mới, giữ cẩn thận lắm, không thối đâu ạ”. Hai bên cứ “thối” với “không thối” suýt cãi nhau, mãi sau nhờ có người giải thích tôi mới ớ ra “thối” là trả lại tiền thừa. Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc”.
Cô tới thăm nhà họ hàng ở Sài Gòn và gặp thêm một cú sốc khác. “Theo địa chỉ ba cho từ ngoài Bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba. Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”. Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần”. Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em”. Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có ở bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ tướng”.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập) trong bài viết “Sài Gòn Giải Phóng Tôi”, nói về cuộc đoàn tụ của gia đình. “Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kỳ ».

Chưa thấy Sài Gòn mặt mũi ra sao nhưng ông đã ngửi thấy mùi Sài Gòn qua ba thứ mà bạn của Bọ Lập, con của nhà thơ Viễn Phương được bố gửi từ Sài Gòn ra cho. Đó là: bút bi, mì tôm và cassette. Đồ Sài Gòn làm ngây ngất đám thanh niên ngoài Bắc. Chiếc bút bi, còn gọi là bút nguyên tử, bấm tách một cái, đầu bút nhô ra, mực ra đều tăm tắp mà không phải chấm mực. Cả bọn há hốc mồm không tin là Sài Gòn lại có cái bút tài tình đến thế! Thằng bạn tên Minh bóc gói mì tôm, thả vào bát nước sôi, mùi thơm lạ lùng bốc lên làm cả bọn chảy nước miếng. Tới cái cassette thì Bọ Lập sốc. Năm 1973, tại quê của Bọ, một người đi du học bên Đông Đức mang về cái máy cassette. Cả làng say sưa nói vào máy rồi bật nghe lại. Phải mất mấy ngày mới hết lượt. Bọ Lập cũng nói và nghe lại tiếng nói của ông. Không ngờ tiếng nói của mình lại tệ đến thế. Khi nghe giọng hát Khánh Ly trong băng Sơn Ca 7 bằng chiếc máy cassette Sài Gòn, “thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi”.

Rồi cũng tới ngày Bọ Lập được vô Sài Gòn. Vào tháng 8 năm 1976. Xe chạy ba ngày ba đêm. “Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lý. Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt”.

Khám phá Sài Gòn, Bọ Lập đi uống cà phê. Lại… sửng sốt! “Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê, mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt ».

Nhưng với con người ham mê sách vở, Sài Gòn đã thực sự “giải phóng” anh giai Hà Nội. “Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình Trí Thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn. Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng”.

Sài Gòn như một thế giới khác dưới con mắt của ca sĩ Ái Vân và nhà văn Nguyễn Quang Lập. Tất cả họ đã thấm thía sự tuyên truyền dối trá của nhà cầm quyền cộng sản miền Bắc. Ngày miền Bắc rêu rao giải phóng miền Nam là ngày dân miền Bắc được “giải phóng” khỏi sự mê hoặc trí trá của những người cộng sản.

Những người phải tức tưởi rời xa Sài Gòn vào những ngày chộn rộn đó là những quân nhân viên chức của bên thua cuộc. Họ là những sĩ quan trong quân đội, những viên chức có chức vụ chỉ huy trong các cấp chính quyền cũ. Thông báo trình diện tập trung cải tạo là mang theo lương thực, thuốc men, tiền bạc đủ cho 10 ngày hay một tháng tùy cấp bậc. Ai cũng nghĩ đó là thời gian phải xa Sài Gòn. Thôi thì thí cô hồn đi trình diện học tập cho xong chuyện rồi trở về an tâm tìm cách sống còn trong chế đội mới. Nhưng những con người ngây thơ này đã bị dính một quả lừa thế kỷ. Khi tới hạn kỳ, chẳng một ai được thả về, những người chiến thắng mới bẻ cong nói là thông báo chỉ nói mang những thứ cần thiết chi dùng cho một tháng trước khi chính phủ có đủ thời gian lo toan sau đó. Đã ở bên thất thế thì chỉ biết “ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Huy Đức viết trong cuốn Bên Thắng Cuộc: “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn một triệu người thuộc diện phải ra trình diện. Riêng ở Sài Gòn có 443.360 người ra trình diện, trong số đó có 28 viên tướng; 362 đại tá; 1.806 trung tá; 3.978 thiếu tá; 39.304 sĩ quan cấp uý; 35.564 cảnh sát; 1.932 nhân viên tình báo; 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9.306 người trong các ‘đảng phái phản động’.”


Sài Gòn ngổn ngang quân trang vứt bỏ –  Rồi mai sẽ ra sao?

Tôi là một trong số 1469 viên chức Sài Gòn khăn gói quả mướp đi học tập cải tạo dài hạn. Địa điểm học tập là Làng Cô Nhi Long Thành xưa. Trại được chia thành 4 khối: khối “ngụy quyền”, khối Đảng Phái, khối Tình Báo và khối Cảnh Sát cấp Tá. “Bạn tù” của tôi có các khuôn mặt quen thuộc như Trần văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh, Trần Minh Tiết, Nguyễn Bá Lương, Lưu văn Tính, Nguyễn Xuân Phong… Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là “sếp” của tôi trong ban Trang Trí của Trại, Đại sứ Phạm Trọng Nhân và Sứ Thần Ngoại Giao Nguyễn Cao Quyền là bạn nằm cạnh chiếu của tôi. Năm 1976, một số lớn bị đưa ra Bắc trong hai đợt mà tù nhân gọi là “Bao Bố 1” và “Bao Bố 2”. Tại miền Bắc họ bị đày đọa tàn ác. Nhiều người đã bỏ mình ngay trong các trại học tập. Nhiều người bị giam cầm tới 17 năm.


Ca sĩ Duy Trác

Là một sĩ quan biệt phái và là Luật sư của Phủ Tổng Thống, Khuất Duy Trác đi tù cải tạo 6 năm, từ 1975 tới 1981. Là một ca sĩ bị coi là “biệt kích văn hóa”, ông đi tù lần thứ hai, 4 năm, từ 1984 tới 1988. Người tù họ Khuất không phải là người tù bị khuất phục. Trước đây, ca sĩ Duy Trác không bao giờ hát trước công chúng, không trên truyền hình, không tại các đại nhạc hội cũng như không tại các phòng trà, được nhà văn Duyên Anh gọi là “chàng ca sĩ cấm cung”. Nhưng vào dịp Tết năm 1978, anh đã hiên ngang đứng hát bài “Ly Rượu Mừng” trước cả ngàn tù nhân. Người thuộc lời cất tiếng hát theo, người không thuộc thì vỗ tay giữ nhịp. Cả người hát lẫn người nghe đều chan hòa nước mắt. Ông đã phải trả bằng một cái giá rất đắt. Còng chân biệt giam hàng năm trời. Nhưng ông vẫn đủ thích thú để cho biết khi nào gặp Phạm Đình Chương sẽ kể cho tác giả bài hát nghe chuyện hy hữu này. Sau này ông đi theo diện HO sang Mỹ nhưng quá trễ cho cái hẹn. Phạm Đình Chương không còn nữa!

Trong một lần đội của ông đi lao động, một cô gái từ Sài Gòn đi thăm người thân đi ngang qua, những người tù Sài Gòn đang phải xa Sài Gòn hỏi Sài Gòn giờ có gì vui không? Cô gái trả lời: “Sài Gòn chỉ vui khi các anh về!”. Duy Trác, một ca sĩ hầu như không viết nhạc, đã thấm câu trả lời và sáng tác bài “Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về”. “Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ / Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố / Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời / Sài Gòn có vui? Sài Gòn có vui? / Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ / Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ / Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ / Sài Gòn chỉ vui khi các anh về”.

Tôi may mắn được thả về vào dịp Tết Bính Thìn 1976, trước khi các bạn tù bị đưa ra Bắc. Đúng là may mắn vì tới bây giờ tôi vẫn hoàn toàn không biết vì sao mình được ra tù. Cứ như trúng số độc đắc cặp mười. Khi xe chở chúng tôi về chạy ngang qua chợ Bến Thành để đổ tù được tha xuống vườn Tao Đàn, dân Sài Gòn lũ lượt chạy theo đoàn xe, những người bán dạo đưa tặng chúng tôi tất cả hàng hóa đang có. Những câu hỏi: từ đâu về, tại sao được về sớm, chừng nào những người còn lại được về… tíu tít bên tai. Cả người được hỏi lẫn người đặt câu hỏi chẳng ai trả lời được. Nhưng đó là sự quan tâm của người dân Sài Gòn đối với những người Sài Gòn chẳng may đang bị giam cầm. Mừng đó nhưng cũng tủi đó. Biết sao được khi tất cả chúng tôi đều là những kẻ bại trận đang quờ quạng trong đêm tối trời. Tôi ra cổng phía đường Hồng Thập Tự, một anh chạy xe ôm còn trẻ mời lên xe. Về tới nhà tại Thị Nghè, tôi nói anh chờ tôi vào nhà lấy tiền ra trả. Anh gạt đi: “Tiền nong chi! Các thầy về là chúng em mừng rồi!”. Tôi không cầm được nước mắt trước lòng dạ của người Sài Gòn!

Song Thao
10/2026

Website: http://www.songthao.com

3 thg 11, 2026

MAI EM VỀ CẦN ĐƯỚC -Le Hà Thăng - spsaigon




MAI EM VỀ CẦN ĐƯỚC
Mai em về Cần Đước
Dặm đường dài xa xôi
Cầm chân em chẳng được
Thế là cách ngăn rồi.
Nghe bên đời mưa hắt
Xót cuộc tình long đong
Thương em còn tất bật
Bến sông chiều mênh mông.
Mai em về Cần Đước
Kỷ niệm đành chôn sâu
Cầm em mà chẳng được
Nên lỡ mối tình đầu.
Thương sau hè rau đắng
Đưa tiễn ngày vu quy
Mơ một chùm hoa trắng
Rải dọc quảng đường đi.
Thôi em về Cần Đước
Với sông dài chơi vơi
Trăng bên nào cũng lệch
Hai ngã đường chia phôi.
Lê Hà Thăng
Đã chia sẻ bài viết

 

2 thg 11, 2026

Mái trường đầu tiên anh dạy sau ngày ba mươi tháng tư

 M

i trường đầu tiên anh dạy sau ngày ba mươi tháng tư

Ngôi trưòng ấy chỉ có hai phòng học nằm sát dải rưộng muối bên đường Xiêm Cáng , con đường làng gồm đất bùn pha cát trải dài suốt hơn ba mươi cây số bờ biển Vĩnh Châu . Bên kia đường là bạt ngàn vườn nhãn , thấp thoáng những mái nhà . Những tay lưới phất phơ phơi trên giồng cát , mùi mắm Bò hóc nồng nàn , đám cây Thốt nốt bao quanh một ngôi chùa Miên cũ kỹ cổ xưa . Mái trường nhỏ một mình lẻ loi bên cánh đồng muối . Mênh mang chói chang trong mùa nắng , ủ ê bùn sình suốt mùa mưa . Qua một thời Prey Chóp , giờ là Xung Thum , rồi đến Phnor Puôl , Biển Dưới .. Học trò của anh toàn nói tiếng Miên , Dân ở đây hầu hết là người Khmer , nói chuyện với anh bằng thứ tiếng Việt pha lẫn tiếng Khmer rất tự nhiên . Anh cũng nói với họ bằng thứ tiếng Khmer pha tiếng Việt chẳng cần một quy tắc ngữ pháp gì cả , vậy là hòa . Mà người ta rồi cũng hiểu nhau , nhiều khi anh ngỡ mình lưu lạc dạy học ở xứ Nam Vang vậy. Học trò và người dân chất phác quý anh vì anh cố học nói được chút chút tiếng của họ , hát lõm bõm được một chút bài tình ca “ Ôn cà kèo ơi “ , họ khen anh hát hay như ca sĩ Nam Vang Sơn Sa Mih , anh hiểu họ khen lấy lòng thế thôi , Bài hát nói về một chuyện tình chung thủy và có hậu ,
- Lụccrụ doa pừm pân tê ? Miên người yêu tê ?
- Thầy giáo có vợ chưa ? Có người yêu chưa ?
- Mân nê , người yêu nâu chngai na , mần đăng tâu na mà tìm
- Chưa có vợ , người tôi yêu ở xa lắm , giờ không biết người ta ở đâu mà tìm
Thanh niên ở đây lập gia đình sớm lắm , gái trai tuổi vừa đôi chín đã có con tay bế tay bồng , cho nên họ ra vẻ ái ngại cho anh
- Tội nghiệp quá ! tuổi này rồi mà chưa có vợ , bồ cũng không nữa , chắc thầy giáo buồn lắm hả ?
Nghe họ thở than trêu đùa , anh cũng mỉm cười họa theo
- Ờ , thì cũng buồn chớ , chắc là ế rồi !
Chợt chạnh lòng . nhớ cô bé Oanh vũ ngày xưa . Niềm ao ước cùng những kỷ niệm cứ mãi theo nhau , từ lúc thơ nhỏ tung tăng đùa nghịch . Tuổi thơ ấu của anh chấm dứt nhanh như một lát dao cắt , để những năm tháng cứ lớn lên , bệu nhệch , côi cút .. Lần gặp người bạn gái mà cứ giả ngơ không nghe bạn gọi , dù lòng buồn đến ngẩn ngơ !
- Bạn ơi , mình sẽ quay lại khu xóm cũ tìm bạn , mình nhớ bạn lắm , bạn có biết không ?
Mình nhủ lòng cố đi tìm gặp bạn , kể câu chuyện ngày xưa cho bạn nghe , chắc đôi mắt ấy sẽ lại lườm mình một chút , khuôn mặt thanh tú với cái miệng quen thuộc không lẫn vào đâu được sẽ lại mỉm cười dịu dàng với mình , nụ cười ngày hôm nào .. Dịu dàng như hơi gió thổi đi hạt bụi trong mắt , như ánh lửa sưởi ấm lòng anh . Và nỗi buồn sẽ không còn dài , niềm vui sẽ không ngắn ngủi như những ngày hai đứa học chung trường Sư Phạm ..
Chắc bạn sẽ hết giận mình , câu chuyện sẽ không kết thúc lụn tàn như chuyện gã chèo đò Trương Chi và cô tiểu thư Mỵ Nương , mà như chuyện nàng công chúa Miên Ros Saray Sathia và chàng ca sĩ lang thang Sơn Sa Mih .
Đoạn trích Bình minh lặng - trần ngọc tô tê . SPSG . K 11