24 thg 7, 2026

Chữ Nghĩa Giết Người - Vũ Thế Thành

Chữ nghĩa Giết Người

Đầu đời Thanh, vào thế kỷ 17 có vụ án văn tự khét tiếng. Câu chuyện như sau:

Vũ Thế Thành




Trang Đình Long mua lại bản thảo lịch sử về triều đại nhà Minh. Tác giả từng là quan dưới triều Minh. Khi Long mua bản thảo thì sách vẫn chưa hoàn thành, nên họ Trang thuê nhiều danh sĩ bổ túc thêm, cho đến vị vua cuối cùng nhà Minh. Khi hoàn thành thì Trang Đình Long mất. Gia đình tiếp tục cho khắc in và phát hành, như một chút lòng nhớ về triều đại Minh vừa tiêu vong.

Bộ Minh sử này viết từ cuối đời Minh, và bổ sung vào đầu đời Thanh nên “quen miệng” sử dụng một số từ “tế nhị” như gọi người Mãn Châu là Kiến Di (rợ Kiến Châu), gọi tướng nhà Minh hàng Thanh là bọn phản nghịch. Viên quan huyện Ngô Chí Vinh bèn đem kẽ hở này tống tiền nhà họ Trang. Chuyện không thành, Ngô tố giác về kinh. Vụ án đến tai phụ chính Ngao Bái. Ông này hạ lệnh triệt hạ tận gốc để răn đe giới nho sĩ người Hán.

Hệ quả là gia đình họ Trang bị lăng trì, nhưng người liên quan đến viết bổ sung, hiệu đính, biên tập, thợ khắc chữ, người in ấn, phát hành,.. đều bị chém đầu. Tổng cộng hơn 70 người bị xử tử. Trong chương mở đầu của Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã tái hiện lại thảm án văn tự này, gần khớp với lịch sử. Dĩ nhiên cũng có một chút hư cấu.

Còn ở ta có vụ án văn tự nào không? Có chứ. Đó là vụ án bắt nguồn từ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thành, là bậc khai quốc công thành thời Vua Gia Long.

Thuyên là nho sĩ, tính tình phóng khoáng, thích giao du với các danh sĩ. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa có hai sĩ phu nổi tiếng hay chữ, bèn làm bài thơ, nhờ gửi cho hai danh sĩ này để kết giao. Bài thơ chưa tới tay người nhận thì đã lọt vào tay của kẻ hiềm thù với Nguyễn Văn Thành (khi đó đang là Tổng trấn Bắc thành). Thuyên bị bắt và bị xử chém. Nguyễn Văn Thành bị vua Gia Long đối xử lạnh nhạt, không cho vào chầu. Hiểu ý vua, Nguyễn Văn Thành tự vẫn.

Bài thơ của Thuyên viết gì lại vướng vào vụ án văn tự? Họa sát thân nằm ở hai câu thơ cuối:

“Thử hồi nhược đắc sơn trung tế, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

(Lần này nếu gặp được tể tướng chốn núi rừng, sẽ giúp ta trổ tài kinh luân xoay chuyển cơ trời).

Chẳng ai lạ gì mấy ông thi sĩ đời xưa làm thơ là bốc mọi thứ lên trời, dời non lắp biển, xoay chuyển Trời đất là chuyện bình thường. Nhưng “quan xử án” đã suy diễn (chủ quan), đây là ý đồ mưu phản mới đòi xoay chuyển cơ Trời.

Số của bậc khai quốc công thần, Nguyễn Văn Thành phải chết trước vua. Bài thơ chỉ là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân xa thì ai chịu đợc lịch sử cũng biết.

Đó là hai vụ án văn tự tạm gọi là tiêu biểu từ Tàu sang ta. Thế ở ta còn án văn tự nào nữa không? Còn nhiều lắm chứ.

Mà thôi không nói nữa. Chữ nghĩa nuôi người, cũng có thể giết người.

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc

23 thg 7, 2026

ÁNH TRĂNG NGÀY XA XƯA ẤY - Pham văn Bắc - SPSaigon

 

ÁNH TRĂNG NGÀY XA XƯA ẤY
Năm học 1980-1981, mình đến dạy học tại trường A Đức Hạnh, thị trấn Võ Đắt, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Cái nhìn đầu tiên đó là một ngôi trường khang trang, rộng rãi, rợp bóng cây xanh, khác hẳn ngôi trường tranh tre đơn sơ ở Huy Khiêm mà mình vừa từ đó đến.
Khung cảnh sân trường A Đức Hạnh vào những đêm trăng thật yên bình và thơ mộng. Không gian thoáng đãng, hương đêm quyện vào ánh trăng, tràn ngập khắp nơi, len lỏi vào tận nơi sâu thẳm của những tâm hồn cô quạnh. Từng làn gió nhẹ lướt qua những tán cây làm cành lá lao xao, lòng người cũng nao nao lay động. Những đêm đó mình thường đem cây đàn guitar ra cột cờ giữa sân ngồi một mình thả hồn vào những bản nhạc trữ tình. Những lúc như vậy mình lại nhớ đến những đêm trăng ở Huy Khiêm trước đó. Huy Khiêm cách A Đức Hạnh gần 50km đường bộ, là một xã vùng rừng núi hoang vu giáp với tỉnh Lâm Đồng.
Những đêm trăng ở Huy Khiêm rất vắng lặng, cảnh vật đẹp mê hồn như đang ở trong cõi mơ hồ nào đấy. Lòng người lâng lâng trước vẻ huyền ảo, quyến rũ của thiên nhiên, của trời đất. Những đêm trời trong, ánh trăng vằng vặc phủ vàng núi rừng, thấm sâu vào hồn người lữ thứ. Những đêm mây mờ, ánh trăng bàng bạc, thế gian chìm ngập trong một cảm giác u hoài lặng lẽ. Những đêm trăng ngày đó, mình thường cùng với một người bạn đi bộ ngắm cảnh trăng rừng, đến cầu Tàpao cách trường gần 4km rồi quay trở về thì trời đã khuya. Càng về khuya, ánh trăng làm lòng người càng thêm say đắm.
Ánh trăng thơ mộng của những ngày xa xưa đó bây giờ chỉ còn lại trong ký ức xa xôi.
PVB

Buổi Sáng Phố Đầu Đông - Nguyễn Đạm Luân

 


Người đi rồi

Phố ở lại

Mùa đông về từ hôm qua

Cũng mùa đông năm ngoái

Hàng cây bên đường sương

vẫn khẳng khiu cành lá

Trời chừng như đang giữa thu

Ngàn cánh bướm khoe màu áo cánh len

Đua nhau tìm chút nắng trải ngập bóng sương mờ

Đèn vàng vỏ chưa vội tắt

Quán liêu xiêu cuối phố mơ hồ ai đang hát

Bài tình lỡ

Buồn cho đoạn kết vở tuồng đời

Anh ở lại cũng buổi sáng mùa đông như năm ngoái

Người vội vã bỏ đi

Không một tiếng chào

Chuyến xe nghèo con ngựa cũng biết đau

Bác đánh xe già chưa tỉnh ngủ

Anh thẩn thờ đi qua góc phố cũ

Chuông nhà thờ giờ này vừa đổ

Anh chấp tay lạy Chúa

Dù là người ngoại đạo

Hôm ngõ về người trước anh sau

Anh chớm biết tình đầu

Người đi quên mối tình đầu của anh ngày đó

Gác chuông nhà thờ con chim sâu nằm giấu mõ

Cánh nhỏ mềm gầy ướt sủng sương đêm đông

Bến xe trống không

Phố lạnh lòng

Sương rớt trên vai

Lê bước đi anh bỏ phố

Bên sông anh đứng chờ

Chờ nước sông lên thả sóng xô mối tình đầu xuôi chiều ra biển

Có tiếng khách gọi xe trên bến

Có tiếng con ngựa thở dài

Nhìn lại phố buổi sáng đầu đông

Bất chợt anh khóc

 

Nguyễn Đạm Luân

Một buổi sáng đầu đông của xứ người 2026

Mời Xem :


Cũng Con Đường - Nguyễn Đạm Luân
 

22 thg 7, 2026

Nguyễn Quốc Chánh: TÊN HỀ CỦA NHÀ VUA - (T.Vấn Và Bạn Hửu )

 


Profile of a Clown 1940-48 – Painted originally by: Georges Rouault (Nguồn: www.oceansbridge.com)

Tiếng cười kéo cái cao cả xuống, trả nó về đời sống vật chất

– Bakhtin

1

Khái niệm carnival (lễ hội hóa) Bakhtin rút ra từ các lễ hội dân gian châu Âu thời Trung cổ. Trong thời gian ấy, trật tự xã hội tạm thời bị đảo ngược.

Nhà vua bị chế giễu, giáo sĩ trở thành đối tượng gây cười, thường dân được làm những điều ngày thường không thể.

Carnival không nhằm lật đổ ngai vàng, chỉ tạo không gian, nơi những gì thiêng được kéo xuống mặt đất, trả về thân xác, tiếng cười và đời sống. Và Bakhtin gọi đó là tinh thần giải thiêng.

Giải thiêng, theo Bakhtin, không phải để hủy diệt cái cũ, mà để cái cũ có thể tái sinh. Và cũng vì không ai được độc quyền chân lý, carnival luôn là thế giới đa thanh, nơi nhiều tiếng nói cùng ồn ào thay vì chỉ một giọng của quyền lực.

Điều bị hạ thấp không phải là phẩm giá, mà ảo tưởng về sự tuyệt đối. Tiếng cười không phủ nhận quyền lực, nó chỉ “ê” một tiếng, quyền lực sực tỉnh, biết rằng bất khả sai lầm là sai.

Khi nhà vua trở thành nhân vật của tiếng cười, nhà vua vẫn còn là con người.

Bởi vậy, carnival không phải là hỗn loạn chống trật tự, chỉ là cơ chế giúp trật tự tự điều chỉnh. Khi quyền lực hoặc biểu tượng bị thiêng hóa, là tiếng cười xuất hiện như một lực cân bằng, giữ cho sự tôn kính không biến thành sùng bái.

Chính vì thế, carnival không chỉ là hiện tượng văn hóa quá khứ, còn là nguyên lý của mọi xã hội lành mạnh, khi quyền lực muốn tồn tại đều phải chấp nhận một khoảng cách giữa mình và lẽ phải.

Trong thời đại mạng xã hội, gây cười, châm biếm và giễu nhại có thể được xem là những hình thức carnival mới.

Chúng không nhất thiết đúng, nhưng vẫn thực hiện một chức năng cũ, là kéo những biểu tượng tưởng như bất khả động đến trở lại không gian của đối thoại và chất vấn.

Có lẽ vì thế mà trong mọi cung đình đều có một tên hề. Không phải để mua vui, mà để nhắc nhà vua rằng, trước khi là một biểu tượng, bệ hạ vẫn chỉ là một con người.

2

Nếu carnival là cơ chế giải thiêng quyền lực, thì bảo hoàng hơn vua là dấu hiệu cho thấy cơ chế ấy đã biến mất.

Bảo hoàng hơn vua là thành ngữ chỉ những người trung thành với học thuyết, tổ chức hay lãnh tụ đến mức cực đoan hơn cả chính người sáng lập.

Nhà lãnh đạo phải đối diện với thực tế nên buộc phải linh hoạt. Kẻ nhân danh lãnh đạo thì không biết thực tế, chỉ cần chứng minh lòng trung thành. Vì thế, họ dễ biến tư tưởng thành giáo điều và chính thống thành tín điều.

Đó là hai mặt của quyền lực. Người tạo ra lý thuyết đôi khi mềm dẻo hơn những người bảo vệ nó. Người đứng đầu muôn sống còn cần phải biết thỏa hiệp với đời sống. Nhưng Kẻ dưới lại muốn đời sống phải thỏa hiệp với lý thuyết.

Trong chính trị học, đây là hiện tượng cực đoan hóa chính thống. Lịch sử có nhiều ví dụ, trong các cuộc thanh trừng của Stalin, không ít cán bộ địa phương còn khắc nghiệt hơn chính Stalin.

Trong Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, Hồng vệ binh đi xa hơn cả những gì Mao trực tiếp yêu cầu. Trong cải cách ruộng đất ở Việt Nam, có những người sẵn sàng tố cả cha mẹ.

Điều đáng sợ không nằm ở sự trung thành, mà ở chỗ không còn ai dám cười quyền lực.

Khi tiếng cười biến mất, mọi nghi ngờ đều bị coi là phản bội, mọi phản biện đều bị xem là chống đối và mọi lời ca ngợi đều được coi là lập trường kiên định.

Quyền lực từ đó không còn được hiện thực điều chỉnh, mà bị tiếng vọng rùm beng của nịnh nọt trùm lấp.

Nếu carnival kéo nhà vua xuống đất, thì bảo hoàng hơn vua lại nâng nhà vua lên mây.

Từ con người, bệ hạ trở thành biểu tượng. Từ biểu tượng, trở thành tín điều và khi, tín điều không còn bị chất vấn, quyền lực cũng mất luôn khả năng đàn hồi.

Có lẽ mọi quyền lực đều sợ đối lập. Nhưng điều nguy hiểm hơn đối lập lại là sự trung thành tuyệt đối.

Bởi đối lập buộc quyền lực phải tự xem xét mình, còn sự trung thành tuyệt đối khiến quyền lực tin rằng mình không bao giờ sai.

Đối lập có thể làm quyền lực suy yếu, nhưng chính sự trung thành tuyệt đối mới khiến quyền lực mù lòa.

3

Carnival, bảo hoàng hơn vua và tên hề của nhà vua, thực ra là ba mặt của cùng một vấn đề, là quyền lực đối xử với chính nó như thế nào.

Carnival là lúc quyền lực chấp nhận bị kéo xuống để, biểu tượng còn nhớ mình sinh ra từ đời sống.

Bảo hoàng hơn vua là lúc quyền lực bị đẩy lên, đến mức mọi nghi ngờ đều bị xem là phản bội.

Còn tên hề của nhà vua là người giữ khoảng cách giữa quyền lực và sự thần thánh hóa, nhắc nhà vua rằng, không ai sở hữu toàn bộ lẽ phải.

Khi quyền lực không còn soi mình qua hiện thực, mà qua những tiếng vỗ tay. Đó là lúc nó bắt đầu tin rằng mình chính là chơn lý.

4

Nếu carnival là lễ hội giải thiêng diễn ra theo mùa, thì tên hề của nhà vua là cơ chế giải thiêng mỗi ngày trong lòng quyền lực.

Một thiết chế đặc biệt của các triều đình châu Âu thời Trung cổ là yếu tố hề. Vai trò của hắn không chỉ để mua vui, mà để nói điều không ai dám nói.

Dưới vỏ bọc hài hước, hắn có thể chế giễu nhà vua, phơi bày những nghịch lý của triều đình và nhắc quyền lực về giới hạn của chính nó.

Trong văn hóa phương Tây, tên hề trở thành biểu tượng của sự thật đứng ngoài quyền lực nhưng được quyền lực chấp nhận tồn tại.

Không phải vì nhà vua yêu thích tiếng cười, mà vì một nhà vua khôn ngoan, hiểu rằng quyền lực không thể chỉ soi mình bằng những lời ca tụng.

Trong Vua Lear của Shakespeare, chính tên hề là người nhìn thấy sự điên rồ của nhà vua trước tất cả các đại thần.

Những người mang chức tước chỉ biết nói điều vua muốn nghe. Nhưng chỉ tên hề mới dám nói điều nhà vua cần nghe.

Tiếng cười, vì thế, không đối lập với lẽ phải, nó là cách sự thật bước vào quyền lực mà không mang hình dạng một mệnh lệnh.

Có thể tóm lại bằng một câu: bảo hoàng hơn vua là kẻ nói leo quyền lực, còn tên hề của nhà vua là kẻ nói sự thật với quyền lực.

Một bên làm quyền lực cứng lại, một bên giữ cho quyền lực còn khả năng tự sửa chữa.

Một bên biến tư tưởng thành giáo điều, bên kia giữ cho tư tưởng còn khả năng đối thoại với đời sống.

Bởi vậy, báo chí độc lập, nghệ thuật phản biện và trí thức tự trị không nhất thiết là đối thủ của quyền lực.

Trong nghĩa đẹp nhất, họ chỉ là những “tên hề của nhà vua”.

5

Nếu thời Trung cổ, tên hề là người được phép nói điều không ai dám nói thì ngày nay, vai trò ấy phần nào được thực hiện bởi báo chí độc lập, nghệ thuật phản biện và trí thức tự trị.

Nhiệm vụ của họ không phải lúc nào cũng đúng. Họ cũng có thể sai, có thể thiên lệch, có thể bị định kiến chi phối, nhưng giá trị của họ không nằm ở chỗ luôn đúng, mà ở chỗ họ giữ cho đối thoại không bị thay thế bằng sự đồng thanh lên ngôi.

Một xã hội không thiếu những người nói đúng, mà thường thiếu những người dám nói khác.

Ở nghĩa đó, nghệ thuật không chỉ tạo ra cái đẹp, báo chí không chỉ đưa tin, trí thức không chỉ sản xuất tri thức. Mà họ cùng thực hiện một chức năng sâu xa hơn, là ngăn quyền lực đồng nhất mình với sự thật.

Đó cũng là lý do vì sao những xã hội tự tin thường không sợ tiếng cười. Họ hiểu rằng, điều làm suy yếu một thiết chế không phải là khả năng bị chế giễu, mà là sự mất khả năng tự chế giễu.

Khi tiếng cười biến mất, khoảng cách giữa quyền lực và lẽ phải cũng biến mất. Và khi ấy, mọi lời phê phán đều bị xem là phản bội, còn mọi lời ca ngợi đều được xem là trung thành.

Có lẽ, đó là bài học mà carnival để lại cho thời hiện đại. Một nền văn minh không đo bằng số tượng đài nó dựng lên, mà bằng số tượng đài nó còn cho phép bị chất vấn.

Một quyền lực còn chấp nhận tiếng cười, nó vẫn còn cơ hội tự đổi mới. Khi quyền lực chỉ còn nghe tiếng vỗ tay thì đã bắt đầu chống gậy.

Hơn thế, dù là chơn lý, một khi bị sở hữu, cũng sẽ biến thành con chó cưng của quyền lực.

Quyền lực mạnh nhất không phải quyền lực không bị cười, mà quyền lực vẫn vững vàng sau khi đã bị cười.

Chắc vì vậy, mà có tới 18 đời Hùng Vương.

Nguyễn Quốc Chánh

Vũng tàu 16/7/2026

*Bài do CTV/TVBH gởi.

21 thg 7, 2026

Áo Má Tôi - Thuyên Huy

 


Từ quê lên trường tỉnh, năm đệ Thất, má ít khi lên đón tôi về, ở ký túc xá nên bà không phải lo chuyện ăn chuyện ở, thứ Bảy cùng mấy đứa bạn chung lớp, theo mấy anh lớn, cũng ở làng xã quê xa, chung đường về nhà, đứa xuống trước chỗ này, đứa xuống sau chỗ kia, xế trưa chủ Nhật má đưa tôi ra đón xe ngoài đường lộ, vậy thôi, cứ ngày này qua tháng kia.

Ngày bải trường, nghỉ hè cuối năm, năm đệ Thất, má đón chuyến xe đò nhỏ đầu ngày, lên tỉnh từ sáng sớm, mặt trời Hạ rực nắng lên nhà xóm chài bên này sông, má khiêm nhượng đứng nép mình ở gốc cây phượng già bên kia đường, xế chỗ cổng trường một khoảng xa, chỗ ngày đầu bà đưa tôi lên học. Chuông tan trường reo lên vang rân, chen đám đông nghẹt học trò, túa ra như bầy ong vỡ tổ, tôi chạy nhanh ra tìm má, nắm tay bà cười thành tiếng.

Tiếng đám học trò nhà ở tỉnh, cười giỡn, xúm xích với gia đình, nào xe hơi, xe gắn máy, áo quần người nào người nấy thẳng thốn lụa là, cách đó không xa. Bất chợt nhìn má, cũng cái áo bà ba sờn tím bạc, cái quần đen ngã màu bùn che chưa trọn gót, cũng đôi dép Nhật cũ, bộ đồ đã mặc khi đưa tôi lên tỉnh đầu năm học, tự dưng thấy có chút buồn nhè nhẹ, đâu đó trong lòng khó tả, khác hẳn những năm còn nhỏ ở trường làng, tôi vô tư không nghĩ gì. Xe đò tới, lên xe rồi, nhìn lại đám người phía sau, rồi nhìn má, tôi thì thầm “má tôi”.
*
Nhà nghèo, ba mất sớm, từ hồi chưa lên năm, bà con nội ngoại không thấy ai, chưa một lần nghe má nói tới hay nhắc đến. Còn lại hai má con, vui mà sống ở căn nhà mái tôn vách đất, nằm cuối ấp chợ, bên lề con đường đất đi xuống bờ nhánh sông nhỏ, không có bến đò, băng ngang qua cánh đồng cỏ lớn, nơi dân làng thường thả cho trâu bò ăn cỏ.



Má làm công nhân cạo mủ cho cái sở cao su lớn, cách nhà độ chừng ba bốn cây số, sáng sớm, trời còn mờ mờ sương đã đạp xe đí, má đem gởi tôi bên nhà ông bà bác sáu Thịnh, bên cạnh, có sạp bán bánh bán xôi trong chợ, nhà không có con, và thương tình cảnh mẹ góa con côi, thường hay giúp đở má tôi nhiều thứ, trong nhiều thứ đó, có tiền, nhất là tiền cho tôi đi về khi lên tỉnh học, số tiền đó má từ từ trả lại, hai ông bà ít khi đòi, ông bà thương tôi lắm, từ sở cao su về trưa chưa kịp thì đã lo cho tôi ăn tôi uống rồi.

Trừ thứ Bảy chủ Nhật, ngày đi làm má về nhà lúc giữa trưa một chút, nên rảnh cả buổi chiều, má qua phụ ông bà bác sáu chuyện nấu xôi hay làm bánh. Tôi đi học trường xã, má thức sớm hơn, cho tôi ăn, khi thì xôi của ông bà bác sáu Thịnh cho, hay cơm nguội khoai lang, như những năm qua, dẫn tôi qua bên bển chơi, chờ trống trường vào học, rồi đạp xe đi làm. Tôi quen dần với chuyện này từ những năm đó.
*
Năm đệ Tứ, vào học không lâu, được thằng bạn thân, con nhà giàu cùng lớp, giới thiệu tới làm phụ bưng chén, bưng tô cho khách, vài tiếng đồng hồ mỗi chiều tan học về, tại tiệm cơm đông khách của người dì bà con hắn ta. Làm như vậy, vài tháng sau, trước ngày nghỉ Tết năm đó, buổi chiều tan học, có chút đỉnh tiền, tôi ra tiệm vải trong nhà lồng chợ tỉnh, mua hai sấp vải màu, áo tím đậm màu trái cà, quần đen tuyền màu mực, để đem về làm quà năm mới cho má.Trên đường đi bộ từ chợ về ký túc xá, cười vui như trúng số, ước mơ một ngày có được của tôi đã thành sự thật.



Vậy đó, mấy mùa Tết năm sau, thấy má không mặc áo mới, không dám nhưng có đôi ba lần, lần lựa rồi e dè, hỏi sao má chưa may quần áo mới, má cười bảo chưa cần, khi nào may tôi sẽ biết ngay, má con tôi ăn Tết, nói ăn Tết cho vui, chứ nhà nghèo, mưa dầm lầm lũi, vui buồn với đám cây cao su tối mù, hết xuân rồi đông, có mâm cơm, nồi thịt kho mua trễ thêm hai ba cái hột vịt, trái dưa hấu ông bà bác sáu Thịnh cho và gói thèo lèo cứt chuột, cũng đủ để nhà có tiếng cười rồi, thương má, năm nào tôi cũng để dành chút tiền, quà cho má mà không cần má cho lại, nhìn cái bao đỏ, lần nào cũng vậy, thấy mắt má đỏ hoe mà thương má không biết nói sao cho vừa.
*
Hai má con ngồi ăn bánh mì, với mấy lát thịt đồ hộp của Mỹ mà tôi mua từ chợ Cũ Hàm Nghi Sài Gòn, với số tiền dành dụm từ những ngày làm ở quán cơm bà dì của anh bạn học nhà giàu, hôm đi xem kết quả Tú Tài Một về, sau chái hiên nhà, bên cạnh mâm cơm cúng ba, mâm cơm báo tin tôi thi đậu, buổi chiều còn nắng, má mừng khôn xiết, giờ thì bà bảo tôi , bà chờ ngày này từ mấy năm rồi, ngày mai má sẽ may quần áo mới, vừa nói vừa cười, chút vạt nắng tím hồng chiều còn sót lại, lùa ngang phớt qua, trên đầu bà những sợi tóc thưa bạc màu sương khe khẻ đong đưa, vui lây.



*
Hôm đưa tôi ra đường, chờ đón xe lên tỉnh tựu trường đầu năm đệ Nhất, má mặc chiếc áo bà ba màu tím trái cà mới. Lên xe, xe chạy một khoảng xa, nhìn lại, nhớ chiếc áo bà ba tím cũ bạc màu của má, tôi rươm rướm khóc.

Thuyên Huy


Viết lại để tưởng là mình có mẹ

Mời Xem Thêm :




Trang Thơ Hathuthuy : LỤC BÁT NHỚ THUONG ,NGAN NGÁT SEN HỒG

 LỤC BÁT NHỚ THUONG

Hỏi cành lá rụng ven tường
Làm sao để khỏi nhớ thương đầy lòng?
Bốn mùa xuân hạ thu đông
Ngày nào cũng thấy nặng lòng nắng mưa
Thương nhau biết mấy cho vừa
Xa nhau ngày rộng tháng thừa... Người ơi!
Hướng nào cũng thấy chơi vơi
Mịt mù sương khói...thêm vời vợi xa.
hathuthuy
NGAN NGÁT SEN HỒNG

Lạc lối sai đường hai tiếng đồng hồ
Mới nghe hương sen nồng nàn trong gió
Mới nhìn được ruộng sen hồng sắc đỏ
Lá xanh rờn hoa kiêu hãnh vươn cao.
Nắng ôm hoa rập rờn theo cánh gió
Một vùng mênh mông bát ngát đầy hoa
Làm ấm lòng những du khách gần xa
Đến rồi đi với vô vàn lưu luyến.
hathuthuy


20 thg 7, 2026

ĂN LẤY THẢO (FB.Bùi Thị Đà - SPSG )



ĂN LẤY THẢO
Ăn cái gì mà lấy thảo, người ta quý nhau bằng những thứ mộc mạc không phô trương , vì tình quê như nước sông có bao nhiêu chảy bấy nhiêu . Lấy thảo là lấy cái thơm thảo trong lòng người.
Tui mới đốn buồng chuối chín cây , chị đem zỉa một nải ăn lấy thảo, chú Sáu mới tát mương được mớ cá đồng , đem zìa cho má bay con cá lóc nấu cháo ăn lấy thảo…. Món quà tuy không có giá trị nhưng mà cái tình nó rộng . Người miền quê giàu rất khác , giàu cái nghĩa cái tình cái chất phác thật thà , nhà này có cái gì thì gọi nhà kia ăn chung cho vui ,có nhiều cho nhiều có ít cho ít, của cho không bằng cách cho .
Cái cách cho của người miền Tây là chừng mực dịu dàng , khiêm nhường , lúc nào cũng ý thức cái mình trao đi chẳng có gì đáng kể , làm phước là không khoe khoang , tặng cho là không được tính toán ,chính đó là cái khiêm cung trong văn hóa miền Tây chứa hết ruột gan người miền quê sông nước - btđ