10 thg 6, 2026

THÁNG SÁU MÙA THI - Pham văn Bắc SPSaigon

 


THÁNG SÁU MÙA THI

Ngày xưa, trước khi bước vào cái tuổi dạt dào cảm xúc cùng tháng sáu với những cơn mưa phong kín đường về, để đêm dài vô tận, để nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa, để anh vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc, để da em trắng anh chẳng cần ánh sáng... thì hầu hết ai cũng trải qua một thuở học trò với mùa thi cuối cùng của thời trung học gọi là thi tú tài thường vào tháng sáu.
Ở những lứa tuổi trước chúng mình, học xong lớp 11 phải thi tú tài 1, đậu mới được lên lớp 12, học xong lớp 12 phải thi tú tài 2 còn gọi là tú tài toàn phần, đậu mới được ghi danh hoặc thi vào đại học. Nhưng ở lứa tuổi chúng mình không phải thi tú tài 1, cứ học đến hết lớp 12, thi một kỳ thi gọi là "tú tài phổ thông". Kỳ thi này, lần đầu tiên áp dụng hình thức trắc nghiệm cho tất cả các môn thi, mỗi câu hỏi sẽ có 5 đáp án để thí sinh chọn 1. Học sinh phải thi các môn : Triết, Vạn Vật, Công dân. Sử, Địa, Toán, Lý, Hoá, Anh, Pháp và chỉ thi trong hai buổi sáng 26 và 27/6/1974. Bài thi sẽ được chấm bằng hệ thống máy tính điện tử IBM nên người ta còn gọi đùa là kỳ thi tú tài IBM. Đó là kỳ thi tú tài IBM có một không hai, đầu tiên và cũng là cuối cùng của nước VNCH, vì niên khóa sau 1974-1975 chưa kịp thi thì xảy ra biến cố 30/4/1975.
Đã 52 năm rồi mà những cảm xúc của kỳ thi đó vẫn còn mãi cho đến bây giờ. Hôm nay mình viết lại những dòng này "để nhớ một thời ta đã... thi"

MỜI XEM :Vị TT.Của Nước Mỷ Vỉ Đai

Ảnh Thật Hay Ghép Đây /
 ( Từ Diển Đàn Khai Phóng )

Nhớ “bố già” Sơn Nam - Bùi Chí Vinh ( VĂN VIỆT )

 
Hình chụp ở phi trường Nội Bài Hà Nội năm 1994 dự Hội Nghị Nhà Văn Trẻ Toàn Quốc. Từ trái qua phải: Một nhà văn, Sơn Nam, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn, Phan Hoàng. Người ngồi là Lê Minh Quốc.

Bùi Chí Vinh

Đối với tôi, hai chữ BỐ GIÀ dành cho nhà văn Sơn Nam không cần đóng khung trong ngoặc kép. Thuở ông còn sinh tiền, mỗi lần hai chú cháu đi chơi riêng hoặc cùng chơi trong đám đông tôi vẫn luôn luôn gọi nhà văn Sơn Nam là “bố” một cách trìu mến.

Còn xét về mặt chuyên môn trong làng văn và trưởng thượng trong làng đời thì tôi hằng kính trọng ông như một… bố già.

Buổi trưa ngày 13 thứ Tư năm 2008, đang ngồi cụng ly với Cung Tích Biền, Nguyễn Đạt, Đoàn Thạch Biền, Phạm Viêm Phương, Nguyễn Tôn Nhan… nhằm ăn mừng vụ bán bức tranh của Lê Thị Kim thì bất ngờ chúng tôi nhận được hung tin “bố già” đã mất.

Cho dù tất cả gần như được chuẩn bị về cái chết được báo trước của bậc tiền bối hôn mê nằm liệt giường, nhưng cái tin sét đánh ấy đã làm ai nấy bàng hoàng.

Bàn tiệc đang vui bỗng như đưa đám. Trong đầu tôi hình dung “con khủng long cuối cùng còn sót lại của miệt vườn Nam Bộ” một con khủng long oằn vai chở nặng chữ nghĩa của ruộng đồng bát ngát như một bộ tự điển bách khoa biết đi.

Đúng vậy, Sơn Nam là một pho tự điển bách khoa sống động mà mỗi bước chân của con người đi bộ quanh năm ấy, đi đến đâu là gieo và gặt vô số mùa màng dụ ngôn dân gian đưa vào tác phẩm của mình…

Khi về đến nhà, điện thoại di động của tôi nhận được liên tiếp 10 tin nhắn, mọi tin nhắn đều thông báo cho tôi về cái chết của Sơn Nam. Họ báo cho tôi như báo với một người thân trong gia đình bố già, trong đó có tin nhắn của Tư Thuyết.

Tư Thuyết chính là người đem tôi đến với Sơn Nam đầu tiên ngay từ năm 1975, khi đó anh là một cán bộ Thành Đoàn từ trong rừng ra, làm báo Giải Phóng và là con trai của một người bạn cố tri từng hoạt động chung với Sơn Nam những năm kháng Pháp.

Kể từ đó tôi và “bố” gắn bó với nhau một cách kỳ lạ như một đồ thị parabol chịu đựng đủ mọi thăng trầm. Những năm đầu sau 75 khi còn công tác ở báo Tuổi Trẻ tôi thường đăng thơ trong mục Mái Nhà Thơ của báo Tin Sáng do nhà thơ Kiên Giang phụ trách.

Lần nào lên lãnh nhuận bút tôi cũng gặp bố Sơn Nam, chú Kiên Giang và hai già một trẻ thường đàm đạo với nhau tương đắc. Dân Nam Bộ chơi với nhau không cần dè dặt đúng với câu “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã – Lâm nguy bất cứu mạt anh hùng”.

Lúc chú Kiên Giang đề nghị tôi khôi phục truyền thống Kịch Thơ đã bị mất tích từ thời tiền chiến thì bố Sơn Nam ủng hộ hết mình.

Niềm tin tưởng của hai vị tiền bối khiến tôi trả giá bằng suốt một năm xâm nhập hai trường Thanh Niên Xây Dựng Cuộc Sống Mới Xuyên Mộc và Vĩnh An nhằm tìm kiếm ý tưởng về vở kịch thơ Thành Taberd từ những nhân vật và sự kiện có thật.

Để ra đời được Thành Taberd hai vị tiền bối đã nuôi cơm tôi bằng lon “guigô” hơn nửa tháng trời tại chùa Phụng Sơn Tự tức chùa Gò tọa lạc trên đường 3 Tháng 2 (đường Trần Quốc Toản cũ). Tại chùa Gò, ngoài chú Kiên Giang đưa đón, thỉnh thoảng bố già Sơn Nam lại đến thăm tôi động viên ủy lạo tinh thần.

Và chưa hết, khi bản thảo Thành Taberd hoàn thành bằng… bút chì (vì chú Kiên Giang quá nghèo không có bút nguyên tử) hai tiền bối lại đưa tôi đến gõ cửa Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Dương Đình Thảo để chú Sáu Thảo hỗ trợ phần đánh máy cho vở kịch lịch sự hơn.

Sở dĩ tôi phải dông dài một chút trong “chuyện nhỏ” này vì đó là phần tốt đẹp nhất của con người mà ít ai biết về bố Sơn Nam trong trách nhiệm lo cho một thằng cháu hoàn toàn là người dưng nước lã.

Đối với tôi đó là bài học vỡ lòng nhân quả như truyện ngắn Tình nghĩa giáo khoa thư, nhân quả như “một tấm lòng” của Con Bảy đưa đò hành nghề bán cháo lòng đưa tráng sĩ qua sông từ các truyện ngắn lừng danh của bố.

Bố Sơn Nam ơi, hai chú cháu mình đã gắn bó suốt 10 năm, suốt thập niên 1985-1995 từ thời nhiều vị Mạnh Thường Quân giúp đỡ chúng ta còn sống. Trên chiếc xe đạp cọc cạch và sau này trên chiếc xe gắn máy thổ tả, tôi đã chở bố già đi gõ cửa tìm kiếm niềm vui hoặc hứng chịu nỗi buồn thê thảm từ những cái lắc đầu.

Nhớ những lần đến nhà ông Võ Văn Kiệt, tôi thấy mắt bố già Sơn Nam sáng lên khi khoe tôi một cái bì thư dẹp lép hoặc năm món “căm đùm sên dĩa lốp” phụ tùng xe đạp mới toanh có thể đi bán chợ trời kiếm tiền nhậu lai rai.

Rồi những lần ghé báo Công An thăm Huỳnh Bá Thành, lúc trở ra hai chú cháu nhìn nhau vừa hạnh phúc vừa ngậm ngùi trước chút lòng hào kiệt đối với kẻ sĩ mạt lộ.

Bố già ơi, đất nước chúng ta nghèo quá, ai giàu đâu chẳng biết nhưng chỉ thấy muôn đời kẻ sĩ có lòng tự trọng lại quá nghèo. Đại bi kịch là một kẻ sĩ đóng góp quá nhiều tác phẩm lẫn công sức cho đời như bố mà đến chết trên báo vẫn còn kêu gọi lòng từ thiện giúp đỡ của nhân dân để chữa bệnh.

Trong vòng 10 năm vừa kể, một phần đời giang hồ của tôi gắn liền với nhà văn Sơn Nam. Mỗi ngày sáng sớm đón bố già lên đường, tối khuya lại chở bố về đến nơi đến chốn tại căn nhà trong ngõ hẻm ngó xéo qua Lăng Ông Lê Văn Duyệt.

Nhắc đến Lăng Ông và những di tích đình miếu khác, không thể không kể đến công trạng của bố già trong việc khôi phục và trùng tu truyền thống đạo lý cổ truyền. Tôi chỉ tạm thời chia tay việc chuyên chở bố già kể từ lúc sanh con trai đầu lòng. Nỗi lo cơm áo làm hai chú cháu ít còn dịp gần nhau.

Bố Sơn Nam ơi, trong đời bố chỉ làm một bài thơ in trên sách nhưng đó lại là bài thơ bất tử. Bất tử bởi khẩu khí giang hồ mang mùi vị Lương Sơn Bạc của người đi mở đất.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chép lại bài thơ của bố như một nén nhang ngưỡng mộ hương hồn bậc dị sĩ kỳ nhân:

Trong khói sóng mênh mông

Có bóng người vô danh

Từ bên này sông Tiền

Qua bên kia sông Hậu

Mang theo chiếc độc huyền

Điệu thơ Lục Vân Tiên

Vài câu chữ:

Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã

Từ Cà Mau, Rạch Giá

Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng

Muỗi, vắt nhiều hơn cỏ

Chướng khí mù như sương

Thân không là lính thú

Sao chưa về cố hương?

Chiều chiều nghe vượn hú

Hoa lá rụng buồn buồn

Tiễn đưa về cửa biển

Những giọt nước lìa nguồn

Đôi tâm hồn cô tịch

Nghe lắng sầu cô thôn

Dưới trời mây heo hút

Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút

Điệu hò ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua

Ray rứt mãi đời ta

Nắng mưa miền cố thổ

Phong sương mấy độ qua đường phố

Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

BCV

9 thg 6, 2026

Thơ Đặng Việt Lợi ; VỀ NHỮNG GÃ “CỬU VẠN” SÁNG NAY., CHỢ SỚM , NỖI NIỀM CHUNG

 


VỀ NHỮNG GÃ “CỬU VẠN” SÁNG NAY.

Chuyện tiếp chuyện - miên man dài
bất tận
Dường như không tìm được điểm dừng
Bởi ai cũng chẳng khác nào cửu vạn
Lắm sự đời nặng trĩu vác trên lưng
Ai cũng cố khoe ra từng kỉ niệm
Tuy cũ mèm nhưng vẫn đủ tinh khôi
Khi phục dựng, thêm vào phần nhuận sắc
Kể nhau nghe là rộ những tràng cười
Với cái tuổi quen dùng thì quá khứ
Thường vẫn thèm nhắc nhớ chuyện ngày xưa
Có cơ hội là đến đây quần tụ
(Cho tới khi nào nghe tiếng… “Diệu Cơ”)
Sẽ thức tỉnh quay trở về… hiện tại
Cùng với ai kia tiếp chuyện… “bây giờ”
SG_030626
ĐVL

CHỢ SỚM.
“Sơ” bước vào phiên chợ sớm
Mãi chưa quen chỗ đông người
Hồn vía dường như khá nhẹ
Mối quen níu kéo gọi mời
Đi chợ nhưng không “chạy chợ”
Chỉ mua các thứ cần dùng
Ngại phải trả treo. Rõ khổ!
Thường thì vội vã, quay lưng
Rời chợ mà lòng mở hội
Bởi thừa biết mình còn… duyên
Người “đưa” chờ làm kẻ “đón”
Đều là… “Hắn” cả - mình ên!
Không muốn làm dân kẻ chợ
Về An Phú Đông, được không?
Ngồi sau xe ôm - hát nhỏ
“Đi đâu cho thiếp theo cùng”
Thế là cũng xong buổi chợ
Khỏi lo no đói cả tuần
Đỡ phải bon chen, vất vả
Để vui với nhịp đời thường
Cứ vậy năm này tháng nọ
Mùa nào cũng ngọt ngào xuân!
SG_070626
ĐVL
NỖI NIỀM CHUNG…
Chỉ cần một cuộc gọi thôi
Các đồng môn cũ lại ngồi ở đây
Lắng trong mạch chuyện vắn dài
Vẫn là nỗi nhớ Ông Thầy Cali (1)
Nhớ tháng 3, tiễn Thầy đi
Tưởng mong Thầy trở lại quê tháng 10 (2)
Để ôn từng quãng đời vui
Về “ngôi trường” có một thời… hiển vinh (3)
Mười ba năm biết bao tình (4)
Năm mươi năm “biển xanh thành ruộng dâu” (5)
Ông Thầy già dẫu nơi đâu
Vẫn mang theo ký ức mầu nhiệm kia
Nên sáng nay, rảo bước đi
Nôn nao ghé quán cũ “Mi - La - Nồ”(6)
Uống cà phê, nhớ “nước dừa” (7)
Món “thanh bạch thuỷ” Thầy ưa thich dùng (😎
Và rồi khoe nỗi niềm chung
Rằng: trò nào cũng ngóng trông… Thầy về ….
SG_060626
ĐVL
Note:
(1) Mọi người vẫn hay gọi GS Nguyễn Duy Linh là “Ông Thầy Cali” - Nơi Thầy đang định cư
(2) Lần gần đây nhất, Thầy NDL về VN đầu tháng 10/2025, và trở lại Mỹ vào ngày 13/3/26
(3, 4 &5) Trường SPSG tồn tại 13 năm (1962-1975); Tính đến nay, trường đã “mất” hơn nửa thế kỷ một chút (thương hải tang điền).
(6) Quán Cà phê ở đầu đường PVĐ, nơi Thầy Trò thường ngồi uống cà phê tán gẫu trong lần về VN mới đây
(7 &8) Thầy hay uống nước dừa trái - t/g ví von đó là “Thanh bạch thuỷ”

8 thg 6, 2026

Vỉnh Biệt Bạn TRẦN VĂN SỬU (SPSG K.1 )

 Bài đăng lại nhằm thương nhớ bạn Trần Văn Sửu, khóa 1 SPSG 1962-1964, đã từ trần cách nay hơn 1 tháng tại Sanjose.

Cầu xin Bạn Trần Văn Sửu an giấc ngàn Thu bình an.
[R.I.P]
*
Bài [100] Nhớ Quê
Thơ Trần Văn Sửu, k1 SPS; lời bình Ngân Triều, K2 SPS.
Đăng ngày: 08:19 20-03-2012
Xin giới thiệu một chút, bài thơ nầy từ 1 cựu giáo sinh SPSG khóa 1, ly hương, bày tỏ lòng mình khi mơ về quê cũ và một bài bình thơ của một thân hữu, nguyên là CGS.SPS, khóa 2.
Mời các bạn xem... tâm trạng và nỗi niềm của một người khách phải rời xa quê hương... NT.
*
Nhôù Queâ (Nhớ Quê)
Toùc roái bay bay, chieàu thöông nhôù,
Raùng vaøng giaêng luïa, cuoái trôøi xa.
Khoùi söông röøng nuùi, chim bay moûi,
Queâ cuõ, vôøi troâng, moät maùi nhaø.
Chiều buồn Sanjosé (1997)
Traàn Vaên Söûu, (Trần Văn Sửu , CGS K1 SPS 62-64)
--> Chép lại bài thơ nguyên tác viết bằng font thư pháp bên trên:
Nhớ Quê
Tóc rối bay bay, chiều thương nhớ,
Ráng vàng giăng lụa, cuối trời xa.
Khói sương rừng núi, chim bay mỏi,
Quê cũ, vời trông, một mái nhà.
Chiều buồn Sanjosé (1997)
Trần Văn Sửu , CGS K1 SPS 62-64
***
Lời Bình Ngân Triều:
Bài thơ nầy được sáng tác trong thời điểm tác giả vừa mới rời xa quê hương, sống nơi xứ lạ quê người. Cuộc sống bước đầu, chắc là khó khăn và gieo neo lắm! (1997).
Tóc rối bay bay chiều thương nhớ, câu 1, không những là chi tiết chọn lọc, trữ tình, cảm khái, còn đượm phong cách thơ chữ Hán của Nguyễn Du, (1766- 1820), hoàn cảnh sống lúc ấy cực kỳ khó khăn khi ở quê vợ Quỳnh Côi:
Sinh vị thành danh thân dĩ suy [1]
Tiêu tiêu [2] bạch phát mộ phong xuy
Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn
Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri.
Tự thán kỳ 1, Nguyễn Du, (1765- 1820)
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹.
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知.
Chưa có danh gì, thân yếu hẳn,
Gió chiều tóc bạc gió miên man.
Tính thành chân hạc sao đành ngắn?
Mệnh tựa lông hồng chẳng biết thân.
Ngân Triều dịch thơ
Như vậy, có thể hiểu những khó khăn trong vạn sự khởi đầu nan ở xứ người đã được gỡ rối dần dần. Kết hợp với “khói sương’’ không sáng sủa, còn mờ mịt của cuộc sống tương lai phía trước và hình ảnh “chim bay mỏi’’là rã rời, đuối sức …để ta hình dung tâm trạng và sự phấn đấu vượt bậc của tác giả, nơi xứ lạ, quê người.
Ráng vàng giăng lụa cuối trời xa câu 2, là một câu tả cảnh, một bức tranh ngoạn mục, đậm nhạt về màu sắc, hình ảnh cổ điển như 2 câu thơ trong bài Đằng Vương các tự của Vương Bột, (650–676), một trong tứ kiệt đời Sơ Đường:
Lạc hà dữ cô vụ tề phi [3]
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色.
Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,
Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.
Đằng Vương các tự, Vương Bột, (650–676).
Ở đây, tác giả hạ bút “Ráng vàng giăng lụa” vừa nhân hoá, vừa tạo một hình ảnh thẩm mỹ, tổng hợp được tính chất vừa cổ điển vừa tân kỳ. Cũng có thể hiểu mục đích và hoài bảo phải lìa xa quê hương, còn quá xa vời.
Về nhịp thơ, tác giả sử dụng 3 câu nhịp 4/3 đều đặn, dịu êm…để câu kết, bất ngờ đổi nhịp 2/2/3 như nức nở, nghẹn ngào của tâm trạng bâng khuâng, ray rứt, ai hoài của một con người cô lữ.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy dụng ý kín đáo của tác giả về nỗi lòng và tâm tình thương nhớ quê hương qua 2 nhóm từ “chiều thương nhớ’’ (cuối câu 1) và “một mái nhà” (cuối câu 4). Đó là một tấm lòng hoài mong vời vợi về quê hương ở một phương trời, nơi có hình bóng cha mẹ già, những người thân trong gia đình, những bạn bè quen thuộc…
Vời trông, câu 4, là nhìn ra thật xa, xa tít, xa vô cùng, xa tận cuối chân trời. Quê cũ bây giờ đường đi diệu vợi, muôn trùng xa cách. Nhìn thấy “một mái nhà”, nơi “quê cũ’’ là những hình ảnh không có thực, đó chỉ là hình ảnh trong tâm tưởng để lòng khát khao một mái ấm nơi làng quê xa xăm, vút cao những giây phút chạnh lòng trong nỗi niềm thương nhớ quê hương một cách thiết tha; đồng cảm:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁.
Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu, (704 – 754) [4]
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
Tản Đà, (1889 - 1939) dịch
Mặt khác, ý thơ thể hiện chỉ là những cái nhìn tuy bình thường nhưng gợi cảm: nhìn lại bản thân, nhìn tận cuối trời xa, nhìn qua rừng núi nhạt nhoà trong sương, thấy những cánh chim bơ vơ, lạc loài, bạt gió, mỏi cánh bay về đâu…và nhìn thấy một mái nhà trong tâm tưởng … chắc là rất buồn để ao ước một hạnh phúc sum họp đơn sơ của gia đình trong mỗi buổi chiều tà…nỗi niềm đó, chỉ một mình mình biết, một mình mình hay… như một tâm tình:
Dừng chân ngoảnh lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta
Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan, (1805 – 1848)
Tôi lúc nhỏ, cùng học chung, chơi chung với tác giả, thời êm đềm tuổi mộng Bào Trai.[5] Khi lên trung học thì mỗi đứa cầu học theo mỗi hướng khác nhau. Tôi học TrườngTrung Học Tây Ninh, tác giả học Trường Trung Học Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn. Ở chặng cuối đời học trò áo trắng, chúng tôi lại gặp nhau ở Trường Sư Phạm Sài Gòn (Sửu, khoá 1 và Triều, khoá 2).
Khi ấy, sau những lần lãnh học bổng xong, được 200 đồng/tháng, hoặc được trả thù lao đi dạy kèm ban đêm, chúng tôi thường rủ rê nhau đi ăn nghêu luộc sả ớt ở đường Nguyễn Tri Phương, có 2 đồng/ thau nhỏ = 1 tô lớn, uống bia trâu Larue 5 đồng/ chai <quá rẻ>; hoặc sang trọng hơn, ghé mấy quán bia 33 ướp lạnh đường Bùi Viện; thường thì kèm món bò lúc lắc, vài miếng fromage “La vache qui rit” cùng với một dĩa đậu phộng da cá “Hưng Ký’’.
Nhiều lúc, sau khi xem phim ở Rex, Đại nam, Eden, Lê Lợi…chúng tôi vào Thanh Bạch ở đường Lê Lợi, thưởng thức món Pâté chaud, càfé đá…thư giãn, chuyện khào và ngắm những “bóng hồng … nhác thấy nẻo xa’’ để cùng liếc mắt, để cùng lòng ưa…
Sau nầy, khi có gia đình riêng, chúng tôi ở cùng một khu phố, nhà cách nhau chừng một trăm mét, lại cũng thường rủ rê, cà phê cuối tuần. Nối nghiệp nhà, ngoài việc đi dạy, nhà thơ còn có mở một tiệm may, tên Bảo Tịnh. Đến bây giờ, dù đã không còn tiệm may đó nữa nhưng người ta vẫn gọi con hẻm dọc hông nhà tác giả là Hẻm Bảo Tịnh, rồi tên đường mới lại là Đường Hẻm Bảo Tịnh. (Nào ai biết, con đường đó, nguồn gốc do chính tác giả đã đặt tên cho tiệm may của mình).
Chúng tôi đã từng là Hiệu Trưởng và sau nầy dạy lớp Trung Học. Tác giả dạy Toán rất hay, nổi tiếng ở trường, vì trường đó có rất nhiều học sinh giỏi Toán. (Ngay cả khi giải những bài toán nâng cao, các giáo viên trẻ thường xính vính, nhưng khi đến tay tác giả, thì được giải liền, một cách thông suốt như nước chảy)
Tôi muốn nói dông dài như vậy để cho các bạn biết thêm phần nào về mối quan hệ thân thiết của chúng tôi và nhận ra ý nầy: giáo viên dạy Toán, hay những môn tự nhiên khác, không phải không thể làm thơ mà còn có thể làm thơ hay. Thơ hay thì một bài cũng được nhiều người ngưỡng mộ, và cũng có thể nổi tiếng.
“Nhớ quê’’, một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, với nhiều hình ảnh, thủ pháp nghệ thuật chọn lọc, cân nhắc, ý tứ mạch lạc, đậm nhạt ý tưởng cổ điển-tân kỳ.
Quả là một bài thơ hay. Vì sao bài thơ nầy hay? Bởi lẽ, nhà thơ đã suy nghĩ trong bối cảnh chân thực của mình, cảm xúc trái tim, đậm đà những tình cảm quê hương tha thiết và chọn lọc hài hoà những giai điệu thi tứ chặt chẽ, trữ tình vì “Thơ là tiếng lòng sâu thẳm, mênh mông, bao la, tuôn trào qua ngôn ngữ dạt dào, cảm xúc của trái tim”.
Tôi đọc đi đọc lại bài thơ để ngưỡng mộ, khâm phục, khẳng định và xin giới thiệu:
Đây là một bài thơ hay đến ngỡ ngàng.
Ngân Triều
***
Chú thích:
[1] Nguyên văn chữ Hán:
生未成名身已衰,
蕭蕭白髮暮風吹。
性成鶴脛何容斷?
命等鴻毛不自知
Danh chưa thành thân đà xơ xác,
Ngọn gió chiều tóc bạc phất phơ.
Lẽ nào chân hạc đem cưa,
Mệnh kia ai biết lửng lơ lông hồng.
Quách Tấn, (1910 – 1992) dịch.
Nguyễn Du (1766- 1820), tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Đó là một gia đình có truyền thống yêu chuộng văn chương và nghệ thuật.
[2] tiêu tiêu là âm thanh tiếng gió thổi.
[3] Nguyên văn chữ Hán:
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色.
Lạc hà dữ cô vụ tề phi [3]
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Nghĩa là:
Ráng chiều xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay,
Làn nước Thu với nền trời nối dài một sắc.
Vương Bột (王勃) (650–676), tự Tử An, người Long Môn, Giáng Châu (ngày nay là Hà Tân, Sơn Tây) thời nhà Đường. Vương Bột được xem là một trong "Sơ Đường tứ kiệt" (bốn nhà thơ kiệt xuất giai đoạn đầu của nhà Đường), 3 nhà thơ còn lại là: Dương Quýnh (杨炯), Lư Chiếu Lân (卢照邻) và Lạc Tân Vương (骆宾王).
[4] Nguyên văn chữ Hán:
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu, 崔顥, (704 – 754)
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
Tản Đà (傘沱, 1889 - 1939) dịch
Thôi Hiệu, 崔顥, (704 – 754), quê ở Biện Châu, phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, ông đỗ tiến sĩ năm 723, sau đó làm quan đến chức Tư huân viên ngoại lang. – Ông sáng tác rất nhiều thơ với những đề tài khác nhau, nổi tiếng nhất là bài Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc) được truyền tụng rộng rãi qua hàng ngàn năm.
[5] Trường làng Bào Trai, ngày ấy tên trường với chữ “Bào” viết o là vậy.
***

K.6 HOP MẶT 6/6/2026

khoá 6 SPSG tổ chức Họp Mặt ngày 6/6/2026 . tại Nhà hàng Kim Thanh vào lúc 10 trưa .
Vào ngày 6/6/2026 , Danh Thuận đi dự Ngày Họp Mặt K6 SPSG cùng với các Anh Chị K6 thật Đông Vui và thật Ấm Tình Đồng Môn .
Danh Thuận cùng chị Viễn K7 , Chi Cả Gia Đình Nhỏ , cùng tặng Hoa và Quà cho Bạn Tổ chức K6 là : Anh Nguyễn văn Ngai K6
Anh Nguyễn văn Thịnh K6
Chị Vũ thị Mộng Hương K6
Danh Thuận , chúng em xin thành thật cám ơn Bạn Tổ Chức K6 và Chúc Mừng Ngày Họp Mặt K6 SPSG Thành Công Tốt Đẹp




TRƯỜNG XƯA - Phạm văn Bắc -SPSagon K.13

 

TRƯỜNG XƯA

Ngôi trường ở thôn 2 xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy, được chụp vào năm 1973.
Ngày 13/11/1975 mình đến đây dạy học và ở chung với anh Vũ Khắc Long, anh Đoàn Văn Thuận, Hứa Trường Xuân và Lê Văn Hùng trong một căn nhà nhỏ phía sau trường. Mình ở đây ba năm rồi qua Huy Khiêm, sau đó đến Võ Đắt rồi về Saigon năm 1982. Hình này anh Long còn giữ và mình đưa cho ChatGPT làm rõ nét hơn.
Dãy trường có 3 phòng tường gạch mái tôn, phòng đầu là văn phòng nhỏ hơn hai phòng học kế tiếp. Đầu dãy có một lối đi ra phía sau là nhà ở của giáo viên ngay sau văn phòng, giáp lối đi là hàng rào vườn nhà bà Năm Hiếu. Sân trường là sân đất, giữa sân là cột cờ, chân cột cờ được kẹp giữa hai trụ và có hai cái chốt xuyên qua. Bệ cột cờ hai tầng hình tròn bằng xi măng. Cổng trường chỉ còn hai trụ xây bằng gạch không có bảng tên trường, quanh trường có hàng rào kẽm gai thấp và sơ sài.
Hình này có lẽ được chụp vào buổi sáng vì phía trước trường là hướng đông, và bóng cây cám ở góc sân bên trái phía trước phủ lên phần mái của văn phòng.
Nhìn lại hình ảnh ngôi trường xưa mà lòng mình bồi hồi nhớ lại những năm tháng xa xưa ở đây với bao kỷ niệm