Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn xác ướp dưới băng. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn xác ướp dưới băng. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

18 thg 1, 2014

Những xác ướp nguyên vẹn được tìm thấy trong 20 năm qua

Những xác ướp nguyên vẹn được tìm thấy trong 20 năm qua

Những xác ướp hàng ngàn năm tuổi này vẫn luôn là câu hỏi lớn với các nhà khảo cổ học.
Nghiên cứu và hiểu rõ hơn về xác ướp luôn là mục tiêu của nhiều nhà khảo cổ học. Bởi với họ, những xác ướp còn đại diện cho cả một nền văn hóa với nhiều phương pháp và kỹ thuật ướp xác độc đáo, hoặc đơn thuần, đó là “tác phẩm” của tự nhiên.
Cùng điểm qua một vài những xác ướp nổi tiếng được các nhà khảo cổ phát hiện trong hai thập kỷ vừa qua.
 
1. Xác ướp 3.000 tuổi bí ẩn ở Trung Quốc
Vào thập niên 90 của thế kỉ XX rộ lên một thông tin khá bất ngờ khi những nhà thám hiểm người châu Âu như Sven Hedin, Albert von Le Coq và Sir Aurel Stein kể lại phát hiện của mình về những xác ướp được tìm thấy trong chuyến đi tới Trung Á.

Phần lớn xác ướp đều được tìm thấy quanh khu vực Tarim phía Tây Trung Quốc và hiện đang được trưng bày ở bảo tàng Tân Cương. Các nhà khoa học gọi chung những xác ướp này là xác ướp Tarim có niên đại trên 3.000 tuổi.

Tuy nhiên, điểm bất ngờ ở đây là những xác ướp này lại không hề có mắt nâu, tóc đen như người châu Á khác, mà lại khá cao, tóc vàng, mũi dài. Nghiên cứu ADN cho thấy, tất cả đều bắt nguồn từ người Ấn - Âu. Cho đến nay, các nhà khoa học đã tìm thấy 29 xác ướp như vậy ở khu vực này.

Theo tư liệu ghi lại, vào khoảng thời gian một vài thiên niên kỷ TCN, nơi đây xuất hiện những người “da trắng” và được gọi là Bai, Yeuzhi và Tocharians. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không phát hiện thấy có dấu hiệu nào nói đến sự biến mất và kết thúc của những người này.
 
2. Vật hiến tế của người Inca ở Argentina
Trong một cuộc khai quật vào năm 1999 trong hố băng nằm ở độ cao 6.739m so với mực nước biển trên đỉnh núi Llullaillaco của Argentina, các nhà khảo cổ học đã phát hiện 3 xác ướp, tạm gọi là: Trinh nữ (Maiden), cậu bé Llullaillaco, cô bé tia chớp.

 
Xác ướp Trinh nữ Maiden.
                               Maiden
 
Xác ướp của 3 đứa trẻ Inca vẫn còn ở trong tình trạng lý tưởng sau 500 năm dù không có bất kỳ biện pháp bảo tồn nào. Có lẽ do khí hậu vô cùng lạnh, thi hài gần như đông cứng nên các cơ quan nội tạng, khuôn mặt, da... vẫn còn nguyên vẹn.

Xác ướp "cô bé tia chớp" khoảng 5 tuổi được tìm thấy cùng với xác ướp Maiden.
Theo các nhà khoa học, những đứa trẻ này đã bị biến thành vật hiến tế, sử dụng trong nghi thức tôn giáo thuộc triều đại Inca, khu vực trải dài dọc dãy Andes ngày nay.

                            Xác ướp cậu bé Llullaillaco khoảng 5 tuổi.
Sau khi kết thúc buổi lễ, những đứa trẻ này đã được đưa lên đỉnh núi và được đặt vào trong một hốc đá khi đang ngủ. Đây là một vinh dự cho người bị hiến tế, và chỉ những người xinh đẹp, khỏe mạnh, hoàn mỹ mới được chọn. Người Inca cho rằng, những cô bé, cậu bé này không chết mà chỉ đoàn tụ cùng tổ tiên của mình, quan sát bộ tộc từ trên cao mà thôi.
 
3. Xác ướp Ai Cập 2.000 tuổi trong trang phục La Mã
Vào tháng 4/2010, một xác ướp 2.000 năm tuổi đã được tìm thấy trong khu mộ Bahariya Oasis ở phía Tây Nam thành phố Cairo. Đây là xác ướp của một bé gái, cao khoảng 97cm, đặt trong một quan tài được khắc khá lộng lẫy.

Mặc dù ngôi mộ và đồ vật xung quanh đã bị hư hỏng nặng nề do ảnh hưởng của cát cùng độ ẩm trong thời gian dài, nhưng các nhà khoa học vẫn đủ cơ sở để xác định, đây là một xác ướp của người Ai Cập.

Xác ướp này mặc một chiếc áo dài, đầu đội khăn và được trang trí thêm một số phụ kiện như đôi giày, vòng tay, chuỗi hạt vòng cổ. Nhưng điều đáng chú ý hơn hết là đôi mắt của xác ướp luôn mở to, khiến người ta nghĩ rằng, người này vẫn đang rất tỉnh táo.

Các chuyên gia phỏng đoán, bé gái này đã chết trong khoảng thời gian từ năm 39 TCN đến năm 395. Thế nhưng, bé gái này là ai và có vị trí quan trọng như thế nào, đến nay vẫn chưa ai biết.
4. Xác ướp 700 tuổi còn nguyên vẹn ở Trung Quốc

Vào tháng 3/2011, một đội xây dựng đã vô tình tìm thấy xác ướp cùng hai ngôi mộ khác ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Qua khảo sát, các nhà khảo cổ nhận thấy, mặc dù xác ướp nằm sâu 2m dưới mặt đường nhưng được bảo quản vô cùng tốt - từ đầu đến chân đều còn y nguyên và không hề có dấu hiệu hư hỏng.

Theo các nhà nghiên cứu của Trung Quốc, xác ướp này được cho là một phụ nữ, cao khoảng 1,5m, được chôn từ thời nhà Minh (năm 1368 - 1644). Theo tính toán sơ bộ, xác ướp này gần 700 năm tuổi và thuộc tầng lớp quý tộc.
Thi thể của người phụ nữ được ngâm trong một chất lỏng màu nâu bên trong quan tài. Người ta cũng tìm thấy trong quan tài xương, đồ gốm sứ và một số đồ dùng khác.

Chiếc nhẫn ngọc trên tay xác ướp là một trong số các món tùy táng được tìm thấy.
Các nhà khảo cổ không khỏi ngạc nhiên trước độ nguyên vẹn của xác ướp từ làn da, khuôn mặt, mái tóc. Trông bà như chỉ vừa mới qua đời. Điều này làm dấy lên những thắc mắc mới về kỹ thuật ướp xác vô cùng cao siêu của người cổ xưa, bởi họ có thể giữ được gần như nguyên vẹn mọi thứ, kể cả những thứ rất khó bảo quản như lụa và bông trên trang phục.
 
* Bài viết có sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Listverse, Environmental Graffiti, Wikipedia..
(st và chuyển:H.Phi).

11 thg 11, 2022

Băng tan có thể làm lộ nhiều xác ướp giống 'Người Băng' (vn.express)

Nghiên cứu mới về quá trình ướp xác tự nhiên của Người Băng Ötzi chết cách đây 5.300 năm cho thấy có thể còn nhiều hài cốt tương tự.

Xác ướp tự nhiên của Ötzi được lưu giữ trong phòng lạnh tại Bảo tàng Khảo cổ Nam Tyrol ở Bolzano, Italy. Ảnh: Robert Clark

Nhóm chuyên gia từ các viện nghiên cứu ở Na Uy, Thụy Điển, Áo, trong đó có chuyên gia Lars Pilø tại Phòng Di sản Văn hóa thuộc Hội đồng Quận Innlandet (Na Uy), tìm ra bằng chứng cho thấy một số lỗ hổng trong giả thuyết gốc về quá trình ướp xác tự nhiên của Người Băng Ötzi nổi tiếng, Phys hôm 9/11 đưa tin. Nghiên cứu mới xuất bản trên tạp chí The Holocene.

Năm 1991, một số nhà leo núi người Đức tìm thấy hài cốt đông cứng của một người đàn ông trong băng ở dãy núi Alps Ötztal. Hài cốt được bảo quản tốt đến mức ban đầu các nhà chức trách Áo cho rằng đây là một người leo núi hiện đại. Tuy nhiên, quá trình phân tích hé lộ, người đàn ông chết cách đây khoảng 5.300 năm. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện những vết thương chứng tỏ người đàn ông đã bị giết.

Nhà khảo cổ người Áo Konrad Spindler công bố một giả thuyết giải thích lý do hài cốt Ötzi tồn tại lâu như vậy. Ông cho rằng thi thể được đông khô rồi bọc trong lớp băng bên dưới sông băng, sau đó được bảo quản lạnh suốt hàng nghìn năm. Hài cốt Ötzi chỉ lộ ra khi sự ấm lên do biến đổi khí hậu làm tan băng. Chuỗi sự kiện này đồng nghĩa trải nghiệm của Ötzi là độc nhất và gần như không thể tìm thấy những xác ướp khác như vậy.

Trong nghiên cứu mới, nhóm nhà khoa học không đồng tình với đa số các phần trong lý thuyết của Spindler. Ban đầu, sự hiện diện của những quả mận gai gần hài cốt Ötzi dẫn đến kết luận rằng người này chết vào cuối hè, nhưng phấn hoa được tìm thấy trong ruột sau đó cho thấy, có thể người này chết vào mùa xuân. Như vậy, hài cốt bị phơi bày suốt mùa hè, không phải đóng băng ngay sau khi chết.

Ngoài ra, nghiên cứu về cảnh quan cho thấy Ötzi không được sông băng bao phủ ngay, đồng nghĩa hài cốt đã nhiều lần tan băng và lộ ra. Họ cũng tìm ra bằng chứng cho thấy Ötzi bị ngâm trong nước nhiều lần. Sông băng có thể mới xuất hiện cách đây khoảng 3.800 năm. Từ đó, nhóm nghiên cứu cũng cho rằng có thể các vũ khí và công cụ của Ötzi bị hư hại do các yếu tố môi trường, không phải do cuộc chiến với kẻ thù chưa xác định.

Các nhà khoa học cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy Ötzi không chết tại nơi hài cốt được phát hiện lần đầu. Thay vào đó, hài cốt được vận chuyển xuống núi do các quá trình tự nhiên. Nhóm nghiên cứu kết luận, vì hài cốt Ötzi tồn tại lâu do các điều kiện phổ biến, nhiều khả năng họ sẽ phát hiện những hài cốt khác tương tự khi môi trường tiếp tục ấm lên do biến đổi khí hậu.

Thu Thảo (Theo Phys )

Xem Thêm :

Những xác ướp nguyên vẹn được tìm thấy trong 20 năm qua 

28 thg 12, 2016

Bí ẩn những vụ giết người tàn bạo 2.000 năm trước

 
Bảo tàng Moesgaard là một trong những bảo tàng đặc sắc nhất về Thời đại Đồ sắt ở châu Âu
Khi chuyến tàu chạy từ Hamburg (Đức) đến Đan Mạch xình xịch lướt qua những cánh đồng xanh mướt và những khu rừng lấp loáng ánh nắng mặt trời, chúng tôi đi qua những đầm lầy liễu rủ với những rong rêu xanh ngắt và những đám bèo tấm chen chúc nhau trên mặt nước.
Thậm chí từ trên con tàu đang chạy, tôi đã có thể cảm thấy đó là những nơi tối tăm và nhẹ nhàng, bình an với những hố nước như cái ao nhỏ nơi người tình yểu mệnh Ophelia của Hamlet chết đuối trong vở kịch Hamlet ở gần vùng Elsinore.
Con tàu đang đưa tôi tiến vào xứ sở của những xác ướp đầm lầy.
Xác ướp đầm lầy là những thi thể người 2.000 năm tuổi được tìm thấy trong đầm lầy, bãi bùn và đồng hoang khắp miền Bắc Âu, từ Ireland đến Ba Lan.
Rất nhiều nhà khảo cổ hiện đại tin rằng những người ở Thời đại Đồ sắt đó là nạn nhân bị hiến tế. Họ có thể đã bị giết và sau đó được cẩn thận đưa xuống đầm lầy như một nghi thức dâng lễ đến các vị thần. Một số người khác lại đặt nghi vấn những thi thể đó là tội phạm, người nhập cư hoặc những người tình cờ ghé chân.
Đan Mạch là một trong những nơi có số xác ướp đầm lầy tập trung nhiều nhất. Rất nhiều trong số đó được bảo tồn nguyên vẹn qua hàng thế kỷ như được ngâm ướp, nhờ vào các axit tiết ra từ loại rong thuỷ đài, loại sinh vật phổ biến ở các vùng đầm lầy.
Hầu hết các xác ướp được những người thu nhặt than bùn tìm ra trong khoảng thời gian từ năm 1800-1960 khi Đan Mạch vẫn còn sử dụng than bùn làm chất đốt.
Kỹ thuật pháp y và khám nghiệm tử thi hiện đại đã tiết lộ hầu hết các xác chết, cả đàn ông lẫn phụ nữ, đều chịu tác động bạo lực dữ dội, một số thi thể có thòng lọng xiết cổ và một số khác bị cắt cổ tàn bạo.
Bởi chúng ta không biết gì nhiều về Thời kỳ Đồ sắt ở Đan Mạch, là thời còn chưa có ngôn ngữ viết ở nơi này, và bởi cũng không còn mấy tài liệu ghi chép thời La Mã hay Hy Lạp còn sót lại, nên chúng ta chỉ có thể phỏng đoán xem họ là ai và vì sao họ bị giết hại.
Grauballe Man, the main attraction of the Moesgaard Museum, died when his throat was slit
Người Đàn ông Grauballe, ‘Grauballe Man’, hiện vật chính tại Bảo tàng Moesgaard Museum, chết do bị cắt cổ
Tuy nhiên, vì đa số người chết ở Thời đại Đồ sắt đều bị hoả thiêu, chúng ta không biết được liệu linh hồn những thi thể này có kết cục khác ra sao với những người cùng thời khác.
Tôi muốn đến thăm những xác ướp đầm lầy này để có thể hiểu kỹ hơn về thế giới bí ẩn nơi họ từng sống.
Xác ướp nữ nơi đáy đầm lầy
Điểm đến đầu tiên của tôi là Vejle, một thành phố nhỏ với 100.000 dân ở đông nam Jutland, 240km về phía tây thành phố Copenhagen. Vùng đồi núi nhấp nhô tuyệt đẹp này rất khác biệt so với một Đan Mạch vốn thường có địa hình bằng phẳng.
Những con đường ngoằn ngoèo vòng quanh các trang trại chạy lên phía trên đồi và thung lũng lạnh lẽo nhấp nhô, qua những hồ băng và đầm lầy rậm rạp cây, bên cạnh những đoá phong lan hồng và những đám cỏ đuôi mèo màu nâu cứng cáp.
Tôi đến đây để gặp Mads Ravn, nhà khảo cổ học đứng đầu Bảo tàng Vejle, người trông nom một bộ sưu tập hiện vật hấp dẫn bao gồm những đồng tiền cổ thời La Mã, những thanh kiếm có chạm khắc và những huy hiệu hình dấu thập ngoặc (một biểu tượng cổ xưa tồn tại từ trước khi bị Phát xít Đức lấy làm biểu tượng riêng) thu nhặt được từ các đầm lầy và được cho là các vật hiến tế phát thệ, có thể là để dâng lên các vị thần Thời đại Đồ sắt.
Trong căn phòng tối phía sau viện bảo tàng, tôi đã nghe những âm thanh tăm tối từ chiếc tù và sừng hươu, kết nối với giàn loa hiện đại, thứ âm thanh u buồn thường được dùng để gợi nhắc Thời kỳ Đồ sắt ở Đan Mạch.
Tollund Man was found just 40m from Elling Woman with a noose still around his neckImage copyrightALAMY
Image captionNgười Đàn ông Tollund, ‘Tollund Man’, được tìm thấy gần Người Phụ nữ Elling, ‘Elling Woman’, với sợi thòng lọng vẫn quấn quanh cổ
Tôi chú tâm đến âm thanh và bước vào. Trong bóng tối, một thi thể gầy guộc với làn da khô cứng của Người Đàn bà Haraldskær hiện ra trong chiếc quan tài đá gắn kính trong suốt, trên gương mặt tái nhợt của bà thể hiện thái độ sốc nặng.
Bà không phải là một xác ướp đầm lầy ra đi trong yên nghỉ như tôi từng thấy trong sách. Cảm giác thật lạ lùng và tôi thấy mình như đang xâm phạm vào sự riêng tư của bà.
“Khi thi thể bà ấy được phát hiện bởi những người đào than bùn năm 1835, bà ấy được cho là Nữ hoàng Gunhildd của cướp biển Bắc Âu, Viking, người mà theo Sử thi Jomsvikinga là đã bị dìm đến chết đuối bởi chính chồng bà là Harald Bluetooth,” Ravn kể lại, tay gại gại bộ râu và nhìn xác chết với vẻ bối rối.
“Nhưng điều đó không đúng, bởi khi tiến hành xét nghiệm bằng carbon phóng xạ thì chúng ta biết rằng thi thể bà đã khoảng 2.200 tuổi.”
Người Đàn bà Haraldskær được tìm thấy trong tình trạng loã thể bên cạnh áo choàng của bà và bị nhấn chìm xuống đầm lầy bởi các cành cây, có lẽ là sau khi bà chết.
Các vết hằn trên cổ cho thấy bà bị xiết cổ chết. Các phân tích pháp y sau đó cho thấy những thức ăn có trong bao tử vào thời điểm bà chết gồm có hạt kê và quả phúc bồn tử, một bữa ăn cuối cùng kỳ lạ so với cộng đồng người ăn thịt thời đó.
“Giờ đây chúng tôi đang làm phân tích đồng vị với tóc của bà và sử dụng kỹ thuật DNA mới có thể tách DNA từ tai trong. Chúng tôi hy vọng có thể có kết quả sớm để hiểu thêm về bà ấy.”
Ravn và tôi lái xe 10km về phía tây, đến khu đầm lầy không còn dấu vết Haraldskær (đầm lầy của Harald), nơi thi thể Người Đàn bà Haraldskær được phát hiện.
Nơi này giống hệt những đầm lầy tôi nhìn thấy trên tàu, đầy bèo tấm xanh ngắt phủ trên mặt và bao quanh là những rặng cây dày đặc, với những loại nấm tím mọc quanh và những quả mâm xôi đỏ tươi óng ánh màu sắc trong ánh mặt trời.
Có điều gì đó hư ảo và như thể từ một thế giới khác đang hiện diện ở đầm lầy này, và thật dễ nhận ra vì sao nơi này từng được chọn làm chốn hiến tế – và tại sao những nơi này vẫn còn đầy hấp lực không thể cưỡng lại cho đến ngày nay.
Cái chết bình an hay tàn bạo?
Điểm dừng kế tiếp của tôi là Aarhus, thành phố lớn thứ hai của Đan Mạch. Tôi đến để thăm Bảo tàng Moesgaard hoành tráng, nơi có bộ sưu tập trưng bày đầy đủ nhất về Thời kỳ Đồ sắt ở Châu Âu.
Hiện vật hấp dẫn nhất ở đây là Người Đàn ông Grauballe. Xác ướp này được phát hiện năm 1952, là một xác ướp đầm lầy được bảo quản hoàn hảo trong tự nhiên, có tư thế nằm thư giãn như đang tập yoga, với bàn chân và làn da gần như còn nguyên vẹn, gương mặt thanh nhã với đường nét sắc sảo và cái mũi hếch.
“Giống như hầu hết các xác ướp đầm lầy, tóc và da của ông chuyển thành màu đỏ vì một phản ứng hoá học gọi là phản ứng Maillard [phản ứng tạo màu nâu],” Pauline Asingh, nhà khảo cổ và là giám đốc Bảo tàng giải thích. “Ông ấy thật sự là một người rất đẹp,” bà nói.
Nhưng tư thế bình yên trên gương mặt Người Đàn ông Grauballe hoàn toàn trái ngược với cái chết dữ dội của xác ướp này.
“Ông bị ép quỳ xuống và cổ họng bị cắt từ tai này qua tai kia bởi một ai đó đứng phía sau. Thi thể của ông đã được đưa xuống đầm lầy bảo quản một cách kỹ lưỡng,” Asingh mô tả. “Nghe có vẻ đầy bạo lực và tàn bạo với chúng ta, nhưng hiến tế là một phần quan trọng của đời sống văn hoá thời đó.”
Approximately 2,400 years old, Tollund Man is part of an exhibit in SilkeborgImage copyrightALAMY
Image captionKhoảng 2.400 tuổi, Người Đàn ông Tollund, ‘Tollund Man’, là một phần trong bộ trưng bày tại Silkeborg
Bà Asingh hướng dẫn tôi đến một phần trưng bày khác, về những xác ướp các chú chó dưới đầm lầy.
Năm 2015, 13 xác ướp của các chú chó bị hiến tế từ khoảng năm 250 sau Công nguyên được phát hiện tại đầm lầy Skødstrup gần Aarhus, cho thấy các nghi lễ hiến tế không chỉ giới hạn với con người.
Trong thực tế, cuộc trưng bày còn có một loạt hoạt hình ngắn đầy biểu cảm thể hiện tinh thần tín ngưỡng đằng sau những cuộc hiến tế đầy bạo lực.
Trong một đoạn clip ngắn, một cô gái buộc vòng hoa quanh cổ chú chó trước khi con chó bị giết.
Chuyến đi đến Moesgaard nhắc nhở tôi rằng mặc dù tóm tắt quá khứ có vẻ hấp dẫn, nhưng vẫn còn những con người, chứ không phải đơn thuần là hiện vật, đều có câu chuyện đời phức tạp của riêng họ.
Nguyên vẹn như người sống
Điểm đến cuối cùng của tôi là một thị trấn nhỏ tên Silkeborg, 44km về phía tây Aarhus. Nơi đây toạ lạc Bảo tàng Silkeborg có màu sơn vàng nhạt như bơ, với một trưng bày nhỏ nhưng đầy hấp dẫn về xác ướp đầm lầy và đây cũng là nơi có các mẫu vật được bảo quản tốt nhất trên thế giới.
Xác ướp Người Đàn ông Tollund, khoảng 2.400 tuổi, còn nguyên vẹn và ấn tượng đến mức khi thi thể của ông được phát hiện khoảng thập niên 1950, nhà chức trách từng nghĩ đó hẳn phải là thi thể của một cậu bé bị mất tích.
Giống như những xác ướp đầm lầy khác, ông bị treo cổ; vết thòng lọng rối rắm giết chết ông vẫn còn quanh cổ nhưng chiếc mũi dài và trán phẳng của ông vẫn còn nguyên vẹn, đôi môi hơi cong trong một nụ cười nửa miệng.
Ở phòng trưng bày bên cạnh là xác Người Đàn bà Elling, được tìm ra ở vị trí cách Người Đàn ông Tollund chỉ 40m và được cho là có thể bà chết khoảng cùng thời gian với ông.
Bà được cho là cũng bị treo cổ, và được ưu ái với mái tóc tuyệt đẹp, một bím tóc đỏ dài 90cm được thắt đẹp trau chuốt.
Ole Nielsen, nhà khảo cổ học tại bảo tàng đã chở tôi đến Bjældskovdal, một đầm lầy rộng lớn trải dài cách đó 15km, nơi hai thi thể được tìm thấy.
Từ khi tìm ra xác ướp, nơi này đã được bảo tồn như một công viên tự nhiên với những đường đi bộ bằng ván gỗ và những tuyến đường có cắm biển chỉ báo.
Trong chuyến đi bộ ngắn của chúng tôi, làn sương mù nhẹ nhàng mờ ảo hiện ra trên đầm lầy như một mặt hồ, và chúng tôi thấy những chú chim diệc xanh lớn, những con vịt trời, hoa tím và tất nhiên là tất nhiên là cả rong thuỷ đài như bọt biển.
Khi chúng tôi dừng chân để quan sát đầm lầy, tôi tự hỏi liệu dưới đáy sâu âm u này còn ẩn giấu những bí mật gì khác.
Đầm lầy trôi chậm chạp và đầy vẻ đói khát, sẵn sàng nuốt chửng và lưu giữ bất cứ gì chìm xuống đáy trong hàng thiên niên kỷ, nhắc nhở về sức mạnh bất tận và vĩ đại của nơi này.

Theo  BBC Travel.

10 thg 1, 2017

Những bí mật phát lộ dưới ‘quả bom hẹn giờ vĩnh cửu’ ở Siberia

Xác ướp, ngà voi ma-mút, virus khổng lồ là những cổ vật có thể phát lộ nếu lớp băng vĩnh cửu ở Siberia tan chảy.

nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia
Lớp đất đóng băng vĩnh cửu ở Siberia. Ảnh: Siberian Times.
Vi khuẩn
Lớp băng vĩnh cửu tại Siberia giống như một chiếc tủ lạnh tự nhiên lưu giữ mọi thứ chôn vùi bên trong trong suốt hàng trăm nghìn năm qua, theo Wired. Nhưng hiện tượng nóng lên toàn cầu đang khiến chiếc tủ lạnh này chuyển sang chế độ rã đông. “Băng vĩnh cửu là một quả bom hẹn giờ”, Robert Spencer, nhà khoa học nghiên cứu môi trường Robert Spencer tại Đại học Florida, Mỹ, nhận xét. Khi tan rã, lớp băng có thể hé lộ nhiều thứ mà nó giấu kín từ xa xưa

nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia-1
Vi khuẩn bệnh than lây lan khi xác tuần lộc nhiễm bệnh được rã đông. Ảnh minh họa: Business Insider.
Một vụ lây lan vi khuẩn bệnh than bùng phát tại phía tây Siberia 75 năm trước, giết chết nhiều đàn tuần lộc. Hồi tháng 7 năm nay, thời tiết ấm lên đã làm xác chết đóng băng suốt hàng chục năm qua của một số con tuần lộc nhiễm bệnh bị rã đông, khiến vi khuẩn bệnh than lan ra lây nhiễm cho 23 người và làm một người tử vong.
Carbon
nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia-2
Tàn dư của động thực vật trong băng chứa tới 1.500 tỷ tấn carbon. Ảnh: Instagram.
Những tàn dư của cỏ, nấm và động vật cổ đại được chôn trong băng chứa một lượng carbon tổng cộng lên tới 1.500 tỷ tấn. Vi trùng và vi khuẩn ăn lớp phủ dày đó, thải ra khí carbon dioxide khiến cho bầu khí quyển nóng lên. Sự nóng lên lại làm tan băng. Việc carbon thoát ra từ những vỉa băng vĩnh cửu liên tục lặp lại thành một vòng tuần hoàn.
Khí methane
nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia-3
Vi khuẩn sản xuất ra nhiều khí methane hơn khi băng tan. Ảnh: Siberian Times.

Năm 2014, các nhà khoa học bắt đầu phát hiện những miệng hố lớn xuất hiện dọc theo bán đảo Yamal thuộc vùng hẻo lánh tại Nga. Lời giải thích hợp lý nhất cho hiện tượng này là vùng đất nền trở nên nóng hơn khiến băng tan, dẫn đến mặt đất trở nên ẩm ướt hơn. Vi khuẩn sản xuất ra nhiều khí methane hơn tạo ra những vụ nổ khiến mặt đất sụt xuống thành miệng hố.
Dòng tộc hoàng gia vùng Siberia
nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia-4
Một hình xăm trên xác ướp công chúa Siberia 2.500 năm tuổi. Ảnh: Siberian Times.
Năm 1993, một nhà nghiên cứu Nga tìm thấy thi hài 2.500 tuổi được bảo quản cực tốt của một công chúa cổ đại mang đầy những hình xăm xoắn ốc trên mình, chôn cùng nhiều tượng nhỏ, lọ gia vị và 6 con ngựa. Các nhà khảo cổ tin rằng khi còn sống, người phụ nữ thuộc dòng dõi cao quý, không giống như những thi hài ở khu chôn cất thông thường.
Ngà voi ma-mút
nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia-5
Ngà voi ma-mút có thể trồi lên mặt đất khi lớp băng vĩnh cửu tan rã. Ảnh: Phys.org.
Khí hậu thay đổi khiến cho đất bị xói mòn nhanh chóng, dẫn đến những mẩu xương cổ đại dễ phát lộ.
Virus
nhung-bi-mat-phat-lo-duoi-qua-bom-hen-gio-vinh-cuu-o-siberia-6
Loài virus cổ đại khổng lồ bị chôn vùi dưới lớp băng Siberia. Ảnh minh họa: BBC.
Trong hai năm qua, các nhà nghiên cứu vi sinh vật học của Pháp tìm ra hai loài virus cổ đại khổng lồ, bị chôn vùi sâu trong lớp băng vĩnh cửu của Siberia. Những con virus này vẫn có thể lây lan cho sinh vật khác như trùng amip. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khuyến cáo còn nhiều loài virus đáng sợ hơn đang ẩn mình trong lớp băng dày.

Theo vnexpress.vn

18 thg 4, 2020

CHẾT LẦN THỨ BA (Gabriel García Márquez [1927-2014], Nobel Văn chương 1972 )

Trịnh Y Thư  dịch (Văn Việt )

Lại cái âm thanh ấy. Âm thanh nhức óc, lạnh lẽo hắn đã nghe rất nhiều lần; nhưng không hiểu vì sao lần này hắn thấy có cái gì chói lói và đau đớn, như thể chỉ qua đêm hắn không còn nhớ gì cái âm thanh ấy nữa.
Nó quay mòng mòng bên trong não bộ trống trơn của hắn, âm u và nhức buốt. Một cái tổ ong giữa bốn bức tường hộp sọ. Mỗi lần quay một vòng, cái âm thanh chói lói ấy như tăng lên một bậc, toàn thân hắn vật vã, những đốt xương sống co giật liên hồi, không cùng nhịp với những phần khác trong cơ thể. Có cái gì đó không chịu hội nhập với xương thịt con người hắn, cái gì bình thường “vào những thời điểm khác” và giờ đây hắn có cảm tưởng như có bàn tay xương xẩu không tí da thịt đang nện những nhát búa khô khan, chí tử trong đầu hắn, nó làm hắn nhớ đến tất cả những cảm giác cay đắng của cuộc đời. Một xung lực súc vật bốc lên khiến hắn như muốn nắm chặt đấm tay và bóp mạnh hai thái dương đang nổi cộm những đường gân xanh tím vì cơn đau hành hạ. Hắn muốn thò đôi bàn tay nhạy cảm của mình để chụp bắt cái âm thanh quái dị như có kẻ đóng mũi đinh nhọn xuyên thủng hộp sọ hắn. Hình ảnh một con mèo khiến cơ bắp trên người hắn co thắt không tự chủ được lúc hắn tưởng tượng ra cảnh con mèo đang chạy đuổi bên trong cái đầu nóng bừng đau nhức như lên cơn sốt nặng. Nhưng hắn không thể bắt con mèo. Không. Bộ lông của âm thanh trơn tuột, gần như chẳng va chạm vào được. Nhưng với tất cả sức mạnh vì đã quá tuyệt vọng, hắn dự mưu thủ sẵn để chụp giữ nó lại thật chặt, thật lâu. Hắn sẽ không cho phép nó chui vào tai mình nữa, không cho nó đi ra từ miệng, từ từng lỗ chân lông, hay từ đôi mắt. Đôi mắt mù, con ngươi lộn ngược, mỗi lần âm thanh từ đó thoát ra, nhưng vẫn dõi nhìn theo đường bay của nó vọng lại từ khoảng tối mịt mùng vỡ vụn. Hắn sẽ không để cái âm thanh ghê rợn như kính vỡ, buốt giá như sao băng kia nện từng hồi liên tục vào hộp sọ hắn. Cái âm thanh là như thế: liên hồi không dứt, như một đứa trẻ đập đầu vào tường xi măng đặc cứng. Như những cú nện thật mạnh vào cái gì cứng nhất của thiên nhiên. Nếu hắn có thể nhốt nó lại trong một vòng tròn, cách ly nó, thì chắc nó sẽ không làm hắn đớn đau khổ sở nữa. Cắt cái hình dạng luôn biến đổi ra khỏi bóng nó. Chụp giữ lấy nó. Bóp nghẹt nó, vâng, một lần rồi thôi. Ném nó xuống vệ đường với tất cả sức mạnh bình sinh rồi lấy bàn chân dí lên nó một cách hung tợn cho đến khi hắn có thể bảo, trong lúc thở hổn hển, rằng hắn đã tiêu diệt được cái âm thanh làm hắn khổ sở quá đỗi, cái âm thanh làm hắn nổi điên, và giờ đây nó nằm bẹp dí dưới mặt đất như một món vật tầm thường, chết ngắt.
Thế nhưng ngay cả lấy tay bóp thái dương, hắn cũng chẳng thể nào làm nổi. Hai cánh tay hắn từ lâu đã co rút lại và giờ đây là tay một người lùn: ngắn ngủn, phù lên toàn mỡ. Hắn gắng lắc đầu. Lắc. Nhưng hình như càng lắc âm thanh càng gia tăng cường độ bên trong hộp sọ, cái hộp sọ trở nên rắn chắc lạ thường, to ra, và như bị trì xuống nặng hơn bởi sức hút của trọng trường. Âm thanh ghê rợn, nặng nề và mạnh bạo. Nặng nề và mạnh bạo đến nỗi giả như hắn chụp bắt và đập chết được nó thì hắn có cảm tưởng như ngắt những bông hoa từ một cành hoa bằng chì.
Hắn đã từng nghe thứ âm thanh dai dẳng ấy “vào những thời điểm khác.” Thí dụ vào hôm hắn chết lần đầu. Đó là lúc – khi hắn trông thấy một cái xác chết – hắn nhận ra đó là xác chết của chính mình. Hắn nhìn cái xác, thò tay ra sờ. Nhưng hắn không có cảm giác đang bị sờ mó, nó hoàn toàn trống rỗng, không hiện hữu. Quả thật hắn là một xác chết và hắn cảm thấy cái chết đang tới với thân xác tuy còn trẻ nhưng bệnh hoạn của hắn. Không khí bên trong căn nhà đông cứng lại, như thể có xi măng đổ vào đầy kín, và ngay chính giữa khối xi măng đấy – nơi mọi đồ vật trong nhà vẫn nằm yên vị như khi còn là không khí – hắn nằm đó, chỉn chu, gọn ghẽ trong một cái quan tài cũng bằng xi măng cứng nhưng vô hình, trong suốt. Lúc đó hắn đã nghe thấy cái “âm thanh” này trong đầu rồi. Gót chân hắn, ôi sao mà lạnh giá, khoảng cách từ đôi bàn chân đến đầu kia quan tài, ôi sao xa cách. Dưới chân hắn, người ta đặt một chiếc gối, bởi thân xác bé bỏng của hắn lọt thỏm trong quan tài, họ đã phải dùng vải vóc bày biện bên trong cho đầy đặn trông được. Đoạn họ lấy vải trắng phủ lên người hắn và buộc một cái khăn tay xung quanh cổ, giữ hàm dưới hắn lại; hắn chết nhưng đẹp.
Hắn nằm trong quan tài, sẵn sàng đi chôn, nhưng hắn biết hắn chưa chết. Hắn biết rằng nếu hắn muốn ngồi nhổm dậy thì hắn vẫn có thể dễ dàng làm được. Chí ít là về mặt “tinh thần.” Nhưng chẳng bõ bèn gì. Tốt hơn hắn cứ nằm chết, chết vì “chết,” bởi chết chính là căn bệnh của hắn. Đã lâu rồi, ông bác sĩ bảo mẹ hắn:
“Thưa bà, con trai bà mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo: cậu ấy chết rồi.” Ông ta lại nói tiếp, “Thế nhưng, chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để cậu ấy sống bên kia cái chết. Những cơ phận trong thân thể cậu ấy vẫn tiếp tục hoạt động bình thường nhờ vào một hệ thống tự dinh dưỡng phức tạp mà chúng tôi tin là sẽ làm được. Chỉ những chức năng cử động là không làm được thôi, cậu ấy sẽ phải nằm bất động như thế suốt đời. Chúng tôi sẽ theo dõi thật sát tiến trình tăng trưởng của cậu ấy, bởi cậu ấy vẫn tiếp tục lớn lên như bình thường. Nói một cách đơn giản cho dễ hiểu thì đây là một đời sống trong lúc chết, một cái chết thật sự và trung thực…”
Hắn nhớ câu nói của ông bác sĩ nhưng nó lộn xộn lắm. Có lẽ hắn chẳng nghe gì cả và nó chỉ là thần trí tưởng tượng của hắn trong lúc thân nhiệt tăng cao do cơn sốt thương hàn gây nên.
Trong lúc hắn chìm vào cơn mê sảng. Trong lúc hắn đọc chuyện ướp xác các hoàng đế Ai Cập. Trong lúc cơn sốt trở nặng, hắn cảm thấy hắn chính là nhân vật chính diện. Một cái gì trống vắng trong cuộc đời bắt đầu. Từ lúc đó trở đi hắn không tài nào phân biệt được, không thể nào nhận biết biến cố nào là trong cơn mê sảng, chuyện nào thật ngoài đời. Đó là lý do vì sao bây giờ hắn đâm ra hoài nghi tất cả. Có lẽ ông bác sĩ chẳng bao giờ đề cập đến cái “đời sống trong lúc chết.” Nó chẳng hợp lý chút nào, đầy mâu thuẫn, và giản dị chỉ là sự đối chọi nhau đến phi lý. Và nó khiến hắn bây giờ trở nên hoang mang, chẳng rõ mình đã thật sự chết hay chưa. Mình chết đã mười tám năm rồi, có thật thế không?
Lúc đó – hắn chết năm lên bẩy – mẹ hắn có nhờ thợ đóng hòm đóng cho hắn một cái quan tài nhỏ bằng gỗ, loại chôn trẻ con, nhưng ông bác sĩ ra lệnh cho thợ đóng một cái lớn, loại dùng cho người lớn bình thường, bởi hắn sẽ tăng trưởng theo thời gian, tuy sự tăng trưởng suy mòn này có thể sẽ biến dạng hắn thành một người chết với hình thù quái dị hay một người sống bất bình thường. Hoặc cũng có thể vì không tăng trưởng hắn không nhận ra mình đang khỏi bệnh. Thế là theo lời khuyên giải của ông bác sĩ, mẹ hắn yêu cầu đóng một cái quan tài lớn cho hắn, một quan tài người lớn, và bà xếp ba chiếc gối dưới chân hắn để trông vào không đến nỗi quá so le, xệch xạc.
Sau đó chẳng bao lâu hắn bắt đầu tăng trưởng bên trong quan tài, và mỗi năm người ta phải lấy bớt vải len trong chiếc gối đặt cuối quan tài để hắn có chỗ duỗi chân. Phân nửa quãng đời của hắn là như thế. Mười tám năm. (Hắn bây giờ đã hai mươi lăm.) Và chiều cao, hay đúng hơn, chiều dài thân hình hắn đã đến mức không thể dài thêm. Người thợ đóng hòm và ông bác sĩ đã tính toán không chính xác, kết quả quan tài thừa cả sáu mươi phân. Họ tưởng hắn giống cha, người có thân hình hộ pháp cao lớn dềnh dàng. Nhưng hắn không thế, điểm duy nhất hắn thừa kế người cha sinh thành ra mình là hàm râu rậm rạp. Hàm râu xanh, rậm, bà mẹ hắn có thói quen vén chải râu hắn cho đẹp. Những hôm trời nóng nực hàm râu làm hắn khó chịu vô cùng.
Nhưng cái làm hắn khiếp hãi hơn cả, hơn cái “âm thanh” đó, là những con chuột nhắt! Ngay từ khi còn bé thơ, không có gì trên đời làm hắn sợ hãi kinh hoàng hơn giống chuột nhắt. Và mùi nến thắp dưới chân đã thu hút đám vật kinh tởm đó tìm đến. Chúng gặm nhấm áo quần hắn, và hắn biết chẳng bao lâu nữa chúng sẽ gặm nhấm chính hắn, ăn thịt hắn. Có hôm hắn trông thấy chúng: năm con chuột lông trơn láng, bóng lưỡng từ chân bàn lũ lượt trèo lên chui vào quan tài gặm thịt da hắn. Khi mẹ hắn phát hiện thì hắn chẳng còn gì ngoài một đống da bầy nhầy và bộ xương lạnh cứng. Hắn kinh hoàng vì lũ chuột ăn thịt mình thì ít, dù sao chăng nữa hắn vẫn có thể sống tiếp như một bộ xương khô, mà chết khiếp vì cảm giác hãi sợ lũ vật ấy thì nhiều. Chỉ cần nghĩ đến những con vật lông mượt như nhung là tóc tai hắn đã dựng đứng lên rồi, chúng chạy rúc rích cùng khắp thân người hắn, rúc mỏ chui vào những kẽ hở trên da thịt, lấy móng sắc lạnh khều môi hắn. Một con bò lên mí mắt, tìm cách gặm tròng mắt hắn. Hắn thấy con vật, nó to lớn khủng khiếp dị thường, đang loay hoay tìm cách cắm hàm răng nhọn sâu vào con ngươi hắn. Hắn nghĩ thầm đây hẳn là cái chết khác cho mình và hắn hoàn toàn buông tay phó thác định mệnh cho số kiếp đọa đày đang chờ đón.
Hắn nhớ thời điểm hắn trở thành người lớn, hai mươi lăm năm tuổi, có nghĩa là hắn sẽ không lớn nữa. Thân hình hắn sẽ rắn chắc, nhân dáng nghiêm trang. Nhưng mai sau, lúc khỏi bệnh, làm sao hắn kể lại cho người khác nghe về chuỗi đời ấu thơ của hắn được. Hắn làm gì có tuổi thơ. Tuổi thơ hắn nằm chết mà.
Từ lúc dậy thì cho đến khi trưởng thành, mẹ hắn chăm sóc hắn kỹ lưỡng lắm. Bà luôn tay lau chùi cái quan tài và cả căn phòng nữa cho sạch sẽ. Bà thường xuyên thay hoa trong bình và mở cửa sổ hằng ngày cho không khí trong phòng thoáng mát. Thuở đó bà cảm thấy mãn nguyện mỗi lần bà lấy thước dây đo chiều dài thân hình hắn, bà gật gù thấy vui vui trong lòng khi thấy hắn dài ra vài phân. Bản năng thiên bẩm làm mẹ khiến bà vui sướng thấy con mình sống. Tuy thế, bà cẩn trọng giữ gìn, không cho người lạ mặt vào nhà. Dù sao đi nữa thì một cái xác chết nằm giữa nhà năm này tháng nọ cũng là cái gì không mấy hay ho và chẳng ai hiểu nổi. Bà là người có tính chối bỏ sự thật, nhưng chẳng bao lâu bà mất dần lạc quan. Vào những năm cuối, hắn thấy nét buồn bã hiện trên mặt bà lúc bà giương mắt nhìn vạch đo cái thước dây. Con trai bà hết lớn rồi. Cả mấy tháng trường thêm một mili-mét cũng không. Bà biết rằng từ giờ phút này trở đi bà sẽ không quan sát được sự sống hiện hữu bên trong cái xác thân yêu con bà. Bà sợ một buổi sáng nào đó thức dậy bà thấy con trai bà “thực sự” đã chết, và có lẽ vì lý do đó, một hôm hắn thấy bà khẽ khàng bước đến quan tài rồi cúi xuống ghé mũi ngửi thân hình hắn. Bà trở nên bi quan cùng cực. Gần đây bà cũng sao nhãng việc chăm sóc hắn, bà chẳng buồn lấy thước dây đo hắn làm gì. Bà biết con bà hết lớn rồi.
Và hắn biết giờ đây hắn “thực sự” đã chết. Hắn biết bởi những cơ phận trong người hắn trở nên yên ả, chúng như phó mặc, ra sao cũng được. Mọi thứ đổi thay một cách trái mùa khác lạ. Nhịp đập trước đây chỉ có mình hắn nhận ra, bây giờ cũng không còn nữa. Hắn cảm thấy nặng nề, như bị sức mạnh vô hình nào lôi kéo về phía nguyên tố của quả đất. Sức mạnh trọng trường hình như hút hắn vào cõi vô biên nào đó mà hắn không tài nào kháng cự nổi. Hắn trở nên nặng nề như một cái xác chết đúng nghĩa, không thể chối cãi. Nhưng nhờ vậy hắn cảm thấy bình an hơn. Hắn chẳng cần phải thở để sống trong cái chết.
Bằng tưởng tượng, không cần sử dụng đến xúc giác, hắn lần lượt kiểm tra lại toàn bộ đầu mình tay chân hắn. Đầu hắn gối trên một cái gối cứng, hơi nghiêng về phía trái. Hắn tưởng tượng cái miệng hé mở, bởi có làn hơi băng giá lùa những hạt mưa đá vào cổ họng. Hắn bị đốn ngã như một thân cây già hai mươi lăm năm tuổi. Có lẽ hắn cố khép miệng lại. Chiếc khăn tay giữ cằm lâu ngày trở nên lỏng lẻo. Hắn không tài nào tự nằm vào vị trí cho đúng, thậm chí sửa sang bộ dạng sao cho ra vẻ một xác chết đàng hoàng cũng không làm nổi. Mọi cơ bắp, tay chân hắn không còn răm rắp tuân lệnh của thần kinh não bộ như trước đây nữa. Hắn không còn là đứa trẻ bình thường cách đây mười tám năm tự do bay nhảy theo ý muốn. Đôi cánh tay rã rời, vĩnh viễn không liền lặn với cơ thể, ép sát vải đệm lót quan tài. Dạ dày rắn như vỏ cây bồ đào. Và, bên dưới là đôi chân, toàn nguyên, chính xác, hoàn tất một cơ thể người lớn tuyệt hảo. Thân xác hắn nằm trông nặng nề nhưng bình an, không một dấu hiệu nào cho thấy sự khó chịu, như thể thế giới đột nhiên ngưng lại và không ai phá vỡ bầu không khí im lặng tuyệt đối, như thể tất cả các buồng phổi trên thế gian đều ngưng thở để sự lặng thinh của vũ trụ lan tỏa khắp không gian. Hắn cảm thấy sung sướng như đứa trẻ nằm trên bãi cỏ xanh ngửa mặt mơ mộng nhìn đám mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời xanh buổi chiều tà. Hắn sung sướng lắm mặc dù biết mình đã chết và được nằm vĩnh viễn bên trong chiếc quan tài lót lụa là, vải vóc. Hắn cảm thấy trí óc minh mẫn, trong trẻo lạ thường. Nó không như thuở xưa, lúc hắn chết lần đầu, lúc hắn cảm thấy vô cùng u tối và chán chường. Bốn ngọn nến đặt xung quanh hắn, cứ ba tháng thay một lần, ngay lúc không thể thiếu thì bắt đầu tàn lụi. Hắn cảm nhận được cái gần gũi của bó hoa đồng thảo tươi đẹp mẹ hắn đem vào buổi sáng hôm đó. Hắn cũng thấy như thế với bó hoa huệ, hoa hồng. Tất cả những thực tại kinh khiếp chẳng hề làm hắn mảy may quan tâm, lo lắng. Ngược lại là đằng khác, hắn thấy sung sướng nằm một mình trong quan tài, thưởng thức cái cô đơn hiu quạnh của chính mình. Nhưng về sau thì hắn có thấy sợ hãi không?
Nào ai biết được? Thật khó khăn nghĩ tới lúc người ta nện những nhát búa chát chúa đóng đinh cái quan tài và nó kêu ken két bởi chẳng bao giờ nó còn hy vọng trở lại kiếp làm thân cây mọc giữa rừng xanh. Thân xác hắn, giờ đây bị kéo xuống sâu hơn bởi sức mạnh vô biên của quả đất, nằm lệch vẹo dưới lòng đất sốp, ẩm ướt, và trên kia, ba thước đất trên kia, những người đào mồ đang nện những nhát cuốc cuối cùng, nghe nhỏ dần, nhỏ dần. Không. Tại đó hắn cũng không cảm thấy sợ hãi. Nó chỉ là thời đoạn nối dài cái chết của hắn thôi, một thời đoạn nối dài tự nhiên nhất, cho hắn đi vào một trạng thái mới.
Cơ thể hắn không còn tia hơi ấm nào, tủy xương hắn sẽ đóng băng vĩnh viễn và những vì sao bé xíu lạnh giá sẽ chui sâu vào hòa quyện với tủy xương. Tốt đẹp biết bao hắn làm quen với cuộc sống mới như một người đã chết! Tuy thế, một hôm trong lúc cố gắng kiểm tra lại đầu mình tay chân mà chẳng thấy đâu, hắn cảm thấy bộ áo giáp vững chắc mình mang bấy lâu bỗng nhiên tan rã. Hắn không còn hình thể rõ ràng, chính xác nữa, cái cơ thể hai mươi lăm năm tuổi tuyệt hảo của hắn không còn nữa, hắn vô cùng chán nản khi nhận ra thế, nó đã hóa thành một nhúm bụi vô hình tướng, vô hình hài.
Những hạt bụi về sự chết chỉ thấy trong thánh thư. Có lẽ lúc đó hắn mới dấy lên chút hoài niệm, hoài niệm vì không còn là một thân xác với những cơ phận hẳn hoi, mà chỉ là một thân xác tưởng tượng, trừu tượng, rơi rớt trong ký ức những người quyến thuộc thân quen. Chỉ lúc đó hắn mới biết rằng hắn sẽ tỉnh thức và luồn lách theo những đường ống dẫn nhỏ li ti của cây táo mà vươn lên, để đứa bé nào đó hái ăn trong một ngày thu. Hắn sẽ biết rằng – và điều này quả làm hắn buồn bã – hắn đã đánh mất cái duy nhất của hắn: rằng hắn không là một người chết bình thường, thậm chí một cái xác chết tầm thường cũng không.
Đêm cuối cùng hắn gặm nhấm nỗi cô đơn cùng cực bên trong xác chết của chính hắn.
Nhưng một ngày mới bắt đầu, mặt trời phả những tia nắng ban mai ấm áp lung linh xuyên qua khung cửa sổ, hắn cảm thấy da dẻ mềm mại trở lại. Hắn quan sát một lúc lâu. Lặng yên, chăm chú. Hắn để làn nắng ấm từ từ phủ trùm lên thân thể. Hắn không thể nào không ngửi thấy cái mùi ấy: cái “mùi thối” chắc chắn ở quanh đây. Suốt đêm cái xác chết đã bắt đầu thối rữa. Thân xác hắn đã thối rữa như bất kỳ một xác chết bình thường nào. Không thể nghi ngờ, không thể sai, cái “mùi thối,” mùi thịt thiu, bốc lên, càng lúc càng nồng nặc. Thân xác hắn đã xình thối từ đêm qua do thời tiết về đêm trở nóng. Vâng. Hắn đã xình thối. Chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thôi mẹ hắn sẽ vào thay hoa và mùi thối xác chết sẽ làm bà choáng váng ngay từ ngạch cửa. Thế rồi sau đó họ sẽ khiêng xác hắn đem đi chôn để hắn ngủ giấc ngủ thiên thu lần thứ hai bên cạnh những người chết khác.
Đột nhiên cơn hoảng sợ bất ngờ ập đến như có ai đâm mạnh lưỡi dao sắc sau lưng. Hoảng sợ! Cái từ thậm xưng, nhưng đầy ý nghĩa! Lúc này hắn cảm thấy thật sự sợ hãi, với cái sợ “vật thể” đúng nghĩa. Nhưng nguyên do nào khiến hắn sợ? Hắn hiểu rất rõ và chính điều này khiến hắn sợ: có lẽ hắn không chết. Họ liệm xác hắn vào cái quan tài này, một cái hòm mà giờ đây hắn cảm thấy rất êm ái, dễ chịu, và con ma sợ hãi mở toang cánh cửa sổ thực tại cho hắn trông thấy: Họ sẽ chôn sống hắn!
Hắn không thể nào chết được bởi hắn vẫn ý thức thật rõ ràng mọi chuyện, mọi vật: đời sống quay cuồng, huyên náo xung quanh hắn. Hắn vẫn nhận ra mùi hương ấm áp của cây vòi voi từ ngoài vườn, qua khung cửa sổ, bay vào thoang thoảng quyện với “mùi thối.” Hắn cũng nghe rất rõ tiếng nước nhỏ từng giọt tí tách xuống bể nước. Và tiếng con dế trong xó nhà rung cánh gáy vì nó ngỡ trời chưa sáng hẳn.
Tất cả hình như bảo rằng hắn chưa chết. Tất cả, ngoại trừ cái “mùi thối.” Nhưng chắc gì “mùi thối” đó là của hắn? Có thể hôm qua mẹ hắn quên thay nước bình hoa và những nhánh hoa úa héo sáng nay bốc mùi. Hay có thể đó là mùi con chuột chết do con mèo tha vào phòng rồi bỏ quên để nó phình trương xình thối. Không, không đời nào. Nhất định cái “mùi thối” đó không phải hắn.
Chỉ mới đây thôi hắn còn vui vẻ với cái chết của mình, bởi hắn nghĩ là mình đã chết. Bởi người chết thì có thể vui với một tình huống vô phương cứu vãn. Nhưng một người sống thì không thể chấp nhận mình bị đem đi chôn sống. Biết thế nhưng toàn thân hắn hoàn toàn bất lực, hắn không biết phải làm cách nào bảo mọi người rằng hắn còn sống, và đó chính là lý do vì sao hắn hoảng sợ, nỗi sợ kinh hoàng nhất hắn chưa từng cảm thấy bao giờ suốt cuộc đời khi sống cũng như lúc chết của hắn. Họ sắp chôn sống hắn. Có thể hắn sẽ nghe tiếng đóng đinh lên quan tài. Có thể hắn sẽ cảm thấy cái trống rỗng của xác thân nằm trên vai người thân thuộc trong lúc họ cẩn trọng bước từng bước chậm chạp về phía nghĩa trang, và hắn thấy sự kinh hãi cùng nỗi tuyệt vọng cứ thế tăng lên theo từng bước đi.
Hắn sẽ cố ngoi lên, với tất cả sức tàn, trong vô vọng cất tiếng gọi từ bên trong cái quan tài chật hẹp tối đen, hắn sẽ đập mạnh vách ván để mọi người biết rằng hắn chưa chết, rằng hắn đang bị chôn sống. Vô ích thôi. Ngay cả vào giây phút cuối, mấp mé giữa bến bờ sinh tử đó, cơ thể hắn vẫn hoàn toàn không chịu nghe mệnh lệnh của thần kinh não bộ.
Hắn nghe tiếng động phòng bên cạnh. Phải chăng hắn đang ngủ mơ? Phải chăng toàn bộ đời sống một người chết chẳng qua chỉ là cơn ác mộng? Nhưng tiếng đĩa vỡ tắt ngúm sau đó. Hắn cảm thấy buồn bã vô hạn và có lẽ tiếng đĩa vỡ làm hắn khó chịu. Hắn muốn tất cả đĩa bát trên thế gian đồng loạt rớt xuống sàn nhà vỡ tan tành ngay bên cạnh để hắn ngoi dậy, bởi chỉ một động lực vô biên từ ngoài như thế mới kích hoạt được hắn thôi, sức lực trong người hắn thì đã cạn kiệt, không còn chút gì.
Nhưng không. Hắn không nằm mơ. Hắn biết chắc rằng nếu đây chỉ là giấc mơ thì chủ đích trở về thực tại đã không thất bại. Hắn đã không tỉnh dậy. Cảm giác mềm mại của lớp vải bên trong quan tài, hắn cảm thấy, cùng lúc cái “mùi thối” trở lại, thối khủng khiếp, thối đến nỗi hắn đâm ra nghi ngờ, không biết đó có phải “mùi thối” của chính mình không. Hắn muốn nhìn bà con dòng họ hắn trước khi hắn tan rữa, và cảnh tượng một đống thịt thối rữa hiện ra trước mắt chắc hẳn sẽ làm họ chết khiếp vì kinh tởm. Hàng xóm sẽ xúm nhau bỏ chạy, ai nấy lấy khăn tay che miệng, và nhổ nước bọt liên hồi. Không. Không thể thế được. Tốt hơn họ phải đem hắn đi chôn ngay. Tốt hơn phải dẹp bỏ ngay “cái đó,” càng sớm càng tốt. Lúc này, thậm chí chính hắn cũng muốn vứt đi thân xác mình. Bây giờ hắn biết rất rõ hắn đã chết, hoặc, có sống thì cũng chẳng đáng kể, chẳng ra gì. Có khác biệt nào không? Trường hợp nào thì cái “mùi thối” vẫn ngoan cố bốc lên.
Với lần bỏ cuộc này hắn sẽ được nghe lời kinh cầu nguyện, một buổi đọc kinh bằng tiếng La-tinh cuối cùng với những người trợ lễ không thành thuộc. Cái lạnh lẽo của nghĩa trang, toàn đất cát và xương xẩu, sẽ thấm vào xương tủy hắn, và có lẽ sẽ làm “mùi thối” giảm bớt phần nào. Có lẽ – nào ai biết được! – có lẽ chỉ giây phút đó hắn mới được giải thoát ra khỏi tình trạng hôn thụy, u mê. Đó sẽ là lúc hắn cảm thấy như đang bơi lội trong mồ hôi của chính mình, trong vũng nước nhơn nhớt, đặc sệt, như hắn từng bơi bên trong tử cung của mẹ lúc hắn chưa chào đời. Có lẽ, chỉ lúc đó hắn mới sống.
Nhưng phần nhiều bây giờ hắn chỉ mong chết, mong đến nỗi chắc hắn sẽ chết vì mong đợi mất thôi.
(Dịch từ ấn bản Anh ngữ của Gregory Rabassa, HarperCollins xuất bản, 1991)

22 thg 12, 2020

Lại thêm một giả thuyết mới tìm mộ Quang Trung - Hoàng Hương Trang