31 thg 1, 2017

Họa thơ Hàn Mặc Tử : GÁI Ở CHÙA



GÁI Ở CHÙA
Rng thin thp thoáng dng qun thoa,
Khuê các trâm anh cũng r
a à?
Mùi t
c chưa chi mà vi chán,
Cu
c đi mi thế đã lo xa.
Nh
t mùi son phn say mùi đo,
Chán c
nh phin ba mến cnh chùa.
Dì nguy
t tr trêu lòng d thim,
Trăm năm n
đ thit thòi hoa.
Tác giả: Hàn Mặc Tử

HỌA:
Thp thoáng rng thin bóng dáng thoa,
Trâm anh khuê các thế sao à?
Chưa chi đã chán xa mùi tc,
Mi thế cuc đi lo quá xa.
Son phn nht mùi say bến đo,
Phn ba chán nãn mến sân chùa.
Tr trêu dì nguyt trêu lòng d,
N đ thit thòi s kiếp hoa.
HỒ NGUYỄN

Kính tặng và kính mời họa.

30 thg 1, 2017

Tệ biếu quà quan trên dịp Tết của người Việt trong mắt phương Tây

Ngay từ thế kỷ 16-17, người phương Tây đã đến Việt Nam và ghi chép cẩn thận về văn hóa nước ta. Ngoài những ghi nhận về phong tục tốt đẹp của người Việt trong dịp Tết thì họ cũng không ngại nêu ra những thói xấu.

Samuel Baron, một thương nhân Hà Lan từng đến Thăng Long hồi thế kỷ 17 khi viết cuốn A Description of the Kingdom of Tonqueen có tả: “Lệ đi lễ và cách đem biếu quà cáp của người dưới đối với người trên hôm đầu năm có từ ngày xưa thì bây giờ bắt buộc và có một đạo luật rất nghiêm khắc chế định nên không ai có thể bỏ đi được. Các quan tùy theo phẩm trật của mình (có nhiều người lại tùy theo phẩm trật mình muốn đạt) mỗi năm gửi phẩm vật quý giá về dâng vua… Hạ quan gửi tặng vật về biếu thượng quan; học trò tết thầy, con cháu biếu gia trưởng, và như thế người dưới biếu người mà mình nhận là người đứng ngay hàng trên mình. Vì lễ vật nhận được rất nhiều và đủ các thứ, nên các quan có tục vào những ngày tất niên đem thết bà con và thân hữu một phần to; còn lại thì cho lính tráng, đầy tớ để cho ai cũng có cảm tưởng là được dự vào tết và mọi người được vui mừng sung sướng.
Marini, nhà buôn người Ý, sống ở Đàng Ngoài từ 1647-1658 viết: “Đi Tết ai, thường cũng tết thêm mấy bánh pháo to nhỏ tuỳ theo cấp bậc, địa vị; vừa xướng Tết xong, người ta liền đốt pháo cho ran nhà, cho tà ma bỏ chạy, để hạnh phúc tràn tới. Người dưới phải đem đồ, hoặc cho người đại diện đi tết người trên. Con cháu phải tết ông bà, cha mẹ, chú bác; trò phải tết thầy… Các quan cấp dưới cũng phải gửi đồ tết quan trên. Vì vậy nhà các đại quan tràn ngập đồ tết. Thường thường các vị đó lại đem tặng bạn bè, hoặc cho quân lính, kẻ hầu hạ, để mọi người được hưởng lộc. Tất cả các quan lại không buộc dâng đồ Tết vua chúa.
 1
Đồ tết của người dưới đối với người trên hầu hết là thực phẩm: gạo, heo, gà, vịt, cau, đường, trái cây, bánh, mứt… Nếu là quân lính, sẽ họp nhau cùng tết viên quan chỉ huy trực tiếp. Họ mang đồ Tết đến nhà quan bằng một nghi thức trang trọng: đi đầu là cai đội (chỉ huy từ 2 đến 6 thuyền, mỗi thuyền từ 30 đến 60 lính) rồi đến lính bưng một quả (hộp) gạo), và khênh con heo mới giết đặt trên bàn, để trước mặt quan. Viên quan ngồi giữa nhà thật oai nghiêm. Quân lính lạy quan sát đất ba lần. Quan nhận đồ Tết, rồi bảo người hầu đem cất đi; sau đó ban quà mừng tuổi cho lính tương xứng với đồ Tết. Còn quà mừng tuổi của vua chúa cho các quan là một bộ phẩm phục, đặt trong quả (hộp) áo sơn son vẽ rồng, cùng một mẫu. Vua chúa sai người bưng quả áo đến nhà viên quan, đi theo có lính che lọng quà mừng tuổi. Việc che lọng trên không có ý tránh mưa nắng, nhưng chỉ là tỏ sự cung kính món quà vua chúa ban”.
Một giáo sĩ người Pháp là Jean Baptiste Tavernier sống ở Thăng Long vào thế kỷ 17 cũng xác định chuyện này trong cuốn sách có tên “Recueil de Plusieurs Relations et Traites Singuliers et Curieux” và viết chuyện dùng quà xin xỏ được thực hiện rất công khai và sòng phẳng: “Khi các quan đi chầu hoặc tết vua chúa, phải mặc áo tím, đội mũ lục lăng và phải lạy sát đất 4 lần. Riêng nữ giới chỉ buộc lạy một lần theo kiểu lạy của họ (ngồi mà lạy). Dịp này cũng như các dịp khác ai muốn dộng (là tiếng để nói với chúa Trịnh; cũng như khi nói với vua thì dùng tiếng tâu (tâu vua, dộng chúa); nói với đại quan dùng tiếng bẩm; với quan nhỏ, tiếng trình; với vai trên, thưa. Như vậy trong thuật ngữ xưng hô đẳng cấp xã hội, tiếng dộng ở cấp thứ hai) xin ân huệ gì, thì đội của lễ lên đầu, hoặc bưng cao ngang trán, tiến gần tới chúa để nói. Nếu chúa nhận lời, ngài sẽ bảo người hầu cất của lễ đi; bằng không, thì chúa cũng không nhận của lễ”.
Không chỉ quan lại, mà dân chúng cũng vậy. Giáo sĩ Benigme, người Pháp, tác giả của Vingt ans en Annam (Hai mươi năm sống ở An-nam) viết: Những kẻ dưới đi Tết người trên thì đem theo lễ vật và quỳ lạy ít ra là một lễ , không bao giờ người ta đi chúc Tết người trên mà lại đi tay không. Sau đó họ được phép tha hồ bê tha cờ bạc trong ba ngày Tết, say mê đến nỗi thua sạch cả quần áo. Nhưng họ không được phép chơi ở gìan nhà chính mà chơi ở dưới mái hiên và với điều kiện chỉ nói cười khe khẽ. Ðáng phục là điều kiện này đến cả các bà cũng tuân theo!”.
Ngoài tệ biếu lễ dịp Tết thì người phương Tây cũng nói rằng Tết là dịp người Việt chè chén bê tha. Courtois Edmondl, giáo sĩ- bác sĩ Pháp viết: “Nhưng Tết không phải chỉ là lễ cúng tổ tiên, nó còn là cái cớ để người ta tiệc tùng, chè rượu thả cửa, tất cả những đĩa đồ ăn bầy la liệt trên bàn thờ mỗi ngày thay mấy lần, có thể nói là họ ăn uống từ sáng đến tối. Chiều mồng một hiếm khi gập một người An-nam nào không chuếnh choáng hơi men, say khướt thứ rượu “choum choum”, (không rõ rượu gì) rượu trắng cất bằng gạo, rất dở mà khắp xứ Bắc đâu đâu cũng có…Thế rồi lại ca hát ê a, và Tết kéo dài khoảng một tuần ở nhà giầu, nhà nghèo thì ngắn hơn. Số tiền nhỏ mọn họ dành dụm ky cóp đã tiêu sạch”.
Baron cũng nhận xét như vậy khi ông cho rằng: “Ðây là thời gian người ta mặc sức ăn ngon, phóng  túng, ai mà không cố tiếp đãi họ hàng, bạn bè chu  tất thì mang tiếng là bủn xỉn, bần tiện, nên dẫu họ biết rằng tiêu hoang vào dịp này thì rồi sẽ khánh kiệt, cả năm đến phải sống bằng cách đi ăn xin cũng không quản ngại”.
Nguồn motthegioi

Từ mỹ tục “mùng ba tết thầy” nghĩ về chuyện tình nghĩa thầy trò xưa

Trong xã hội xưa, Quân Sư Phụ là ba giềng mối chính chi phối cuộc sống của mỗi con người. Vua là bậc Thiên tử, “thế thiên hành đạo”, có trong tay những quyền hạn tuyệt đối, một lời buông ra người người đều tuân theo răm rắp; Thầy truyền thụ chữ thánh hiền, dạy học trò biết sống như những người hữu ích nhất trong xã hội; còn Cha là đấng sinh thành, lo cho con có những điều kiện tốt nhất để đến trường, và khi lớn lên biết ngẩng cao đầu mà sống. Trong thang bậc xã hội xưa, vị trí người thầy còn cao hơn cả cha mẹ. Song trong đời sống gia đình, nhân những ngày lễ tết, người con có bổn phận báo hiếu trước tiên, “mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết thầy”. Dù sống trong cùng một gia đình hay đã khôn lớn, sống đời sống riêng, đến ngày tết, những người con hiếu thảo cũng dành hai ngày đầu năm cho cha và mẹ, ngày thứ ba còn lại dành cho thầy.
***
Ngày xưa, chuyện học trò rủ nhau đi chúc tết thầy là một mỹ tục trải dài hàng nhiều thế kỷ. Điều mà họ thể hiện chủ yếu là tình cảm nồng nàn, lòng biết ơn đối với người đã có công truyền đạt cho họ sự hiểu biết, dạy cho họ biết sống xứng đáng với cương vị của kẻ sĩ trên đời. Cũng vì vậy mà quà cáp học trò mang theo để tết thầy chẳng có gì đắt giá, thường là một thúng gạo nhỏ, hoặc một cặp gà vịt, đường mứt, bánh trái, hoặc một vài quan tiền. Nhân những ngày đầu năm mới, thầy trò ngồi ôn lại với nhau những vui buồn của một năm cũ, thầy nhớ cái hay cái dở của từng em một, nhắc nhở mỗi em học hành, làm việc tốt hơn trong năm mới. Tình thầy trò thể hiện vào những ngày đầu năm mới là một ấn tượng đậm nét trong tâm khảm các cậu học trò trên những bước đường chông gai trước mắt, và về sau này, dù trôi dạt nơi đâu, lòng người học trò vẫn không quên những người thầy của một thời để chỏm.
Song nói đến tình thầy trò, ngày tết chỉ là một trong những thời điểm đáng nhớ trong năm. Tình sư đệ bàng bạc trong cả cuộc đời đứa trẻ, kể từ cái ngày đầu tiên được cha hay mẹ dẫn dắt đến nhà thầy. Ngày xưa, các thầy đồ thường xuất thân từ một trong hai thành phần trong xã hội: một thuộc hạng hiển nho là những người thành đạt, thường tham gia quan trường, đến khi lớn tuổi, xin về trí sĩ, lấy nghề dạy học làm thú vui cuối đời; hai thuộc hạng ẩn nho, là những kẻ sĩ đỗ đạt nhưng không thích làm quan, những người có tài song không gặp vận may, thi hoài không đỗ, trở về quê nhà mở trường dạy học. Gọi là “trường”, song đó thường là một ngôi nhà như hầu hết nhà cửa của những người dân quê khác. Nơi dạy học của thầy có thể là một chái nhà hay một vuông sân đủ rộng để chứa vài mươi cậu học trò nhiều hạng tuổi tác, từ cậu bé tóc còn để chỏm đến chàng trai hai ba mươi tuổi đời…
Một trong những kỷ niệm đầu đời của người đi học thời xưa là lễ nhập môn. Lễ diễn ra vào một ngày lành tháng tốt nào đó, khi người cha hay người mẹ đưa cậu con trai 6-7 tuổi đến nhà thầy xin thọ giáo. Lễ vật thường là mâm xôi, con gà, be rượu, và cha mẹ cậu học trỏ thường được thầy (và gia chủ trong trường hợp thầy dạy nơi ở trọ) mời ở lại nhâm nhi, nhân tiện bàn về tướng mạo, tính tình của cậu học trò mới.
Trong xã hội xưa, người thầy thực hiện đúng quan niệm “tiên học lễ, hậu học văn”; trong mấy tháng đầu, cậu học trò chỉ được học cách cư xử sao cho hợp với lễ nghi, phong cách, như khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi, bẩm thưa… đồng thời làm những việc vặt trong trường như quét sân, quét lớp, mài mực cho thầy. Sau giai đoạn học lễ, cậu học trò mới bắt đầu học chữ thánh hiền.
Tại trường học, thầy thường ngồi trên chiếc giường có trải chiếu hoa, bày biện đủ tiện nghi dành cho một thầy đồ, nào là bút, nghiên, tráp, điếu… Học trò ngồi trên những chiếc phản kê sát nhau, có khi cúi người chép bài trên một chiếc chiếu trải lên nền đất. Để giúp thầy quán xuyến mọi việc, thầy phân công hai anh trưởng tràng: trưởng tràng nội phụ trách mọi việc trong phạm vi trường lớp, và trưởng tràng ngoại phụ trách những việc từ cổng trường trở ra. Các trưởng tràng được sự phụ giúp của giám tràng và một số cán tràng, tùy sĩ số học trò trong lớp.
Việc đền đáp công ơn thầy dạy thường được thể hiện dưới hai hình thức, một là tiền học phí, mỗi năm cha mẹ học trò nộp làm một hay hai lần, cả thảy khoản 4 quan tiền. Nếu thầy dạy học ở một gia đình nào khác thì mỗi năm gia chủ may cho thầy hai quần, hai áo dài, ba áo cộc. Thứ đến là tiền tết thầy vào các kỳ nghỉ trong năm, thường là ba cái tết: tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5), nghỉ hơn một tháng để học trò có thời giờ phụ giúp cha mẹ gặt lúa; Tết cơm mới vào tháng 10, nghỉ khoảng một tháng cho vụ gặt, và Tết Nguyên đán, nghỉ khoảng hai tháng. Trong những kỳ nghỉ này, nếu thầy dạy xa nhà thì tùy hảo tâm, cha mẹ học trò có tiền tết thầy để thầy mua sắm và về quê. Các học trò lớn thường kính cẩn tiễn chân thầy, có khi đưa thầy về đến quê nhà bình yên rồi mới quay trở lại.
Bên cạnh học phí, tiền tết thầy, học trò ngày xưa còn có nghĩa vụ đóng góp “tiền đồng môn” là khoản tiền góp khi cha mẹ thầy, vợ thầy, hay chính thầy qua đời. Người có trọng trách lập danh sách đóng góp khoản tiền này là cậu học trò ngày xưa được thầy phân công làm Trưởng tràng nội. Danh sách lập xong, Trưởng tràng ngoại thực hiện việc thu tiền và những học trò cũ của thầy, dù đã làm đến Thượng thư, Tổng đốc, cũng đều phải đóng góp sòng phẳng. Thời đó, trốn thuế triều đình còn được dư luận châm chước, chứ trốn tránh việc đóng góp tiền đồng môn bị xem là hành vi vi phạm đạo lý, vong ân bội nghĩa, không thể tha thứ được.
Dưới triều Nguyễn, ở các làng xã nghèo, nhiều người dân không có tiền đóng góp học phí, thầy đồ dạy học không đủ tiền để sống, triều đình đã đặt ra chế độ “học điền” hay còn gọi là ruộng hương học để lấy hoa lợi hỗ trợ đời sống người thầy. Sự chăm sóc đó, dù không phải là nhiều, nhưng chứng tỏ xã hội luôn coi trọng và nghĩ đến công lao đóng góp của người thầy trong việc giáo dục lớp người trẻ.

***
Trong lịch sử nước ta, nhiều kẻ sĩ khi làm quan luôn giữ lòng tự trọng, khi bất phùng thời, trở về làng quê, thì lấy nghề dạy học làm lạc thú cuối đời. Trong số những người như vậy, không thể không kể đến Chu Văn An (1292-1370). Cụ tên là Chu An, được phong tước Văn Trinh công nên người đời sau gọi là Chu Văn An, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không chịu ra làm quan, dựng nhà trên gò cao, đọc sách, dạy học trò. Vua Trần Minh tông (1314-1329) nghe tiếng, vời cụ ra làm Tư nghiệp trường Quốc tử giám, dạy Thái tử Trần Vượng (sau là vua Trần Hiến tông) học. Đến thời vua Trần Dụ tông (1341-1369), nhận thấy có nhiều quan lại ỷ thế gần gủi nhà vua coi thường phép nước, cụ dâng sớ xin vua chém đầu bảy kẻ nịnh thần (thất trảm sớ). Chờ không thấy sớ được xem xét, cụ trả ấn từ quan, về núi Chí Linh, dựng nhà tiếp tục dạy học, lấy tên hiệu là Tiều Ẩn. Năm 1370, nghe tin vua Trần Nghệ tông lên ngôi, cụ lúc đó đã 78 tuổi, cũng chống gậy trúc đến chúc mừng, rồi kiếu từ trở về làng, nhà vua ngỏ ý muốn phong chức gì cũng không nhận. Vua Nghệ tông rất tôn kính, sai quần thần đưa về, không lâu sau, cụ mất. Học trò cụ có hàng trăm người, nhiều người làm quan to như Hành khiển Phạm Sư Mạnh và Lê Bá Quát, nhưng khi trở về làng thăm cụ cũng đều phải lạy dưới giường và đứng khoanh tay hầu chuyện cụ. Học trò cụ ai có điều không phải, cụ trách mắng ngay, có khi không cho bước vào nhà. Các đời vua sau nghĩ đến nhân cách của một kẻ sĩ, một người thầy mẫu mực, đã cho thờ cụ trong nhà Văn miếu.
Thời Nguyễn, cụ Võ Trường Toản cũng là một người thầy mẫu mực, sống ẩn dật, mở trường dạy học và học trò cụ nhiều người hiển đạt như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Phạm Đăng Hưng… làm quan đến chức Thượng thư (Bộ trưởng ngày nay), cụ xứng đáng với danh hiệu “Gia Định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh” do chúa Nguyễn Ánh (sau là vua Gia Long) ban cho.
Thầy đã thế, học trò ngày xưa cũng có rất nhiều câu chuyện về tôn sư trọng đạo mà mỗi hành vi vẫn còn có giá trị của những tấm gương trong sáng cho thế hệ ngày nay noi theo. Người ta kể rằng cụ Phan Thanh Giản, phẩm trật lên đến Hiệp biện Đại học sĩ, (tòng) nhất phẩm triều đình, song mỗi khi đi kinh lý gần quê nhà thầy học cũ, cụ luôn kêu lính khiêng võng ghé lại thăm thầy. Võng còn ở cách nhà thầy một quãng khá xa, cụ đã bước xuống, thân hành đi bộ vào nhà thầy. Chỉ một cử chỉ nho nhỏ như thế đủ nói lên tấm lòng của người học trò tôn kính thấy học cũ đến nhường nào!
Đầu tháng 11 năm 1888, sau hơn ba năm sống gian khổ giữa rừng thiêng nước độc ở Quảng Bình để nêu cao ngọn cờ Cần vương, vua Hàm Nghi sa vào tay giặc Pháp. Trong những ngày bị áp giải về cửa Thuận An, ông nhất mực không chịu nhận mình là vua Hàm Nghi. Nhưng bữa nọ, trong đám đông đứng hai bên đường, vua Hàm Nghi nhác thấy bóng dáng người thầy học, liền vội vàng nghiêng mình kính cẩn cúi đầu chào, thà để lộ chân tướng cố tình giấu giếm hơn là thất lễ với thầy học cũ.
Tình thầy trò ngày xưa không chỉ thể hiện ở phương Đông. Ở phương Tây cũng thế. Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự bị (nay là lớp 2) kể câu chuyện ông Carnot, người Pháp, làm quan to, khi về thăm quê nhà, đã ghé lại ngôi trường, nơi người thầy dạy ông năm xưa tóc bạc phơ vẫn còn đứng lớp. Ông đã “chạy ngay lại trước mặt thầy giáo, chào hỏi lễ phép mà nói rằng:”Tôi là Carnot đây, thầy còn nhớ tôi không?” Rồi ông ngoảnh lại khuyên bảo học trò rằng “Ta bình sinh, nhất là ơn cha, ơn mẹ, sau ơn thầy ta đây, vì nhờ có thầy chịu khó dạy bảo ta, ta mới làm nên sự nghiệp ngày nay” (trích)

***
Xem như thế, chúng ta thấy rằng tình thầy trò ngày xưa không chỉ thể hiện qua mỹ tục “mùng ba tết thầy” mà còn bàng bạc trong suốt cả năm, không chỉ trong đời học trò mà cả trong những giai đoạn hiển hách nhất của người từng đi học chữ thánh hiền. Cuộc sống hôm nay với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự thống trị của nền văn minh vật chất, tình nghĩa thầy trò đã ít nhiều phai nhạt, song cái gốc của đạo lý thánh hiền vẫn còn tồn tại dưới những góc nhìn khác. Ngày mùng ba Tết, có thể do sự xa cách về địa lý, những bận rộn, bon chen còn để lại dư vị đắng chát của mười hai tháng mưu sinh, người học trò không đến thăm và chúc tết thầy được, song cái nghĩa thầy trò vẫn luôn hiện diện trong tâm tưởng mọi người, vì đó là một trong những tình cảm sâu sắc nhất, không thể nào quên ./.


Lê Nguyễn
(Báo Giáo dục & Thời đại số Xuân Đinh Dậu 2017)

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và mọi người đang ngồi
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ngồi, trẻ em và ngoài trời
Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi
Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi
Nguồn Fb Lê Nguyễn

Người Đi Bỏ Lại Mùa Xuân Lỡ - Thơ Thuyên Huy



Người đi bỏ lại mùa xuân lỡ
Ở đây từ đó xuân cứ buồn
Đường về gốc Mai già thuở nhỏ
Thôi vàng như ngày mới biết thương

Cũng ba mươi tết chiều năm cũ
Vắng người trời cứ ngỡ đông sang
Trống lân giục ai vui ngoài ngõ
Trong tôi  rồi hết những rộn ràng

Còn nhớ gì không cho tôi hỏi
Bến xưa chắc đã trễ chuyến đò
Chờ người bên này tôi cứ đợi
Bao giờ xuân mới hết ngu ngơ

Thuyên Huy

Kiếm ngắn núi Nưa – bảo vật 2000 năm độc nhất Việt Nam

Được sưu tầm vào năm 1961, kiếm ngắn núi Nưa ở Thanh Hóa có niên đại khoảng 2000 năm hiện là bảo vật quốc gia đẹp và độc nhất Việt Nam.

Tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đang lưu giữ một bộ sưu tập độc đáo với rất nhiều bảo vật quốc gia như: trống đồng Cẩm Giang I, vạc đồng Cẩm Thủy, kiếm ngắn núi Nưa… Trong số đó, kiếm ngắn núi Nưa được xem là một bảo vật có một không hai ở nước ta và có niên đại khoảng 2.000 năm.
Kiếm ngắn núi Nưa - bảo vật quốc gia đang được lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa
Kiếm ngắn núi Nưa – bảo vật quốc gia đang được lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa
Đây là thanh kiếm được sưu tầm vào năm 1961, dưới chân núi Nưa (xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Năm 2013, thanh kiếm này được công nhận là bảo vật quốc gia.
Kiếm có kiểu chuôi và lưỡi hình lá tre mang đặc trưng phong cách sông Mã,gồm 2 phần lưỡi và cán. Lưỡi hình lá tre, mỏng, có hai rìa sắc, nhọn, chắn tay hình sừng trâu. Cán là khối tượng tròn thể hiện người phụ nữ được đúc liền lưỡi kiếm, người phụ nữ đứng nhìn thẳng, hai tay khuỳnh chống nạnh đầy uy quyền, đầu vấn khăn hình chóp giống hình búp hoa sen; khuôn mặt trái xoan, cằm hơi nhô ra, cặp mắt được thể hiện bằng hai vòng tròn đồng tâm, xung quanh có những chấm nhỏ, thể hiện cặp lông mày dài, cong, sống mũi thẳng, miệng thon nhỏ, tai dài đeo đôi vòng to chấm vai, ngực và tay đeo vòng trang sức.
Phần bụng được thắt một dải rộng như cạp váy, lưng thắt dải bao dài phủ cả đằng trước và sau trên chiếc váy dài trùm hết chân. Thân mặc áo chẽn dài tay, tay áo và thân bó lấy thân làm nổi rõ những đường cong cơ thể. Áo cánh xẻ ngực không cài khuy để lộ vạt yếm kín cổ bên trong… Đây là nét độc đáo riêng của thanh kiếm.
Theo cán bộ Bảo tàng Thanh Hóa, các nhà khoa học đều đánh giá với lối trang phục kín khắp người (áo, váy), được dệt may công phu, đẹp mắt, hoa văn trang trí trên váy và áo là dạng hình học, với những đường vạch ngắn song song, đường tròn đồng tâm đặc trưng của Văn hóa Đông Sơn. Lối mặc áo yếm này ngày nay vẫn phổ biến trong trang phục của phụ nữ Mường.
Mặt trước của thanh kiếm tượng người độc nhất ở nước ta hiện nay
Mặt trước của thanh kiếm tượng người độc nhất ở nước ta hiện nay
Nhìn tổng thể hình dáng, trang phục và cách trang sức tượng người phụ nữ trên cán kiếm ngắn Núi Nưa, đối chiếu với một số tượng chuôi kiếm, dao găm khác, có thể khẳng định đây là tượng người phụ nữ có hình thể đẹp, vẻ đẹp quyền quý, thuộc tầng lớp quý tộc hoặc tầng lớp trên giàu có. Việc phổ biến cán dao găm có hình tượng người phụ nữ ở Thanh Hoá chứng tỏ chế độ mẫu hệ trong khoảng trước và những năm đầu thế kỷ III sau công nguyên còn rất phổ biến tại đây, phản ánh vai trò và vị trí người phụ nữ vẫn được đề cao.
Được sưu tầm ở chân núi Nưa, nơi Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) từng đấy binh đánh đuổi quân xâm lược Đông Ngô, nên có nhiều giả thiết cho rằng hình tượng người phụ nữ trên thanh kiếm ngắn núi Nưa chính là nguyên mẫu Bà Triệu. Theo TS sử học Lê Ngọc Tạo, Trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Thanh Hóa, việc dân gian liên tưởng, gắn kiếm ngắn núi Nưa với Bà Triệu chưa có căn cứ khoa học xác đáng. Tuy nhiên, căn cứ vào niên đại của thanh kiếm, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ quyền uy trên chuôi kiếm cùng với lòng tôn kính của người dân với Bà Triệu thì sự liên tưởng đó là hoàn toàn dễ hiểu.
Mặt sau của Kiếm ngắn núi Nưa
Mặt sau của Kiếm ngắn núi Nưa
Kiếm ngắn núi Nưa còn tương đối nguyên vẹn, có sứt một miếng nhỏ ở mũi kiếm. Kiếm được làm bằng đồng, theo thời gian kiếm phủ lớp patin màu xanh xám. Nét độc đáo của thanh kiếm này ở chỗ đến thời điểm hiện tại, ở nước ta chưa phát hiện được ở nơi nào có chiếc kiếm ngắn, cán thể hiện hình tượng người phụ nữ uy quyền với dáng và trang phục đẹp như chiếc kiếm ngắn Núi Nưa.
Năm 248, Bà Triệu phất cờ khởi nghĩa ở vùng núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa). Đông đảo nhân dân khắp hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ) nổi dậy hưởng ứng. Bà Triệu đã chỉ huy nghĩa quân đánh thắng nhiều trận, quân Ngô tan rã.
Bọn quan lại thống trị từ Thứ sử Giao Châu trở xuống đến các huyện lệnh đều bị giết hoặc chạy trốn. Cả Giao Châu chấn động. Nhà Ngô phải cử tướng Lục Dận đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa.
Nghĩa quân đã chiến đấu anh dũng, kiên cường nhưng vì lực lượng quân sự còn yếu nên đã thất bại. Bà Triệu tuẫn tiết trên núi Tùng (huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa). Trên núi Tùng hiện có mộ Bà Triệu và dưới chân núi Tùng là Đền thờ chính của Bà Triệu, cạnh quốc lộ số 1, thuộc thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc.
Bài-ảnh báo NLĐ

Ý nghĩa của hoa đào ngày Tết

Cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, hoa đào lại rực rỡ khoe sắc khắp đất trời xứ Bắc. Từ trong nhà, ngoài vườn và cả trên đường phố, người ta đều bắt gặp sắc hồng của loài hoa này.
Thế nhưng không phải ai cũng biết ý nghĩa của nó. Và tại sao hoa đào lại là biểu tượng của ngày xuân phương Bắc?

1. Sự tích cây đào ngày Tết

Người thì bảo đào có nguồn gốc từ Ba Tư, nhưng cũng lại có ghi chép cho rằng tổ tiên của đào là từ đất Trung Quốc, tên khoa học là Prunus persica thuộc họ Rosaaceae. Đào được nhắc đến không chỉ là một loại cây phổ biến ở vùng châu Á mà còn gắn liền với câu chuyện tín ngưỡng giải thích tại sao đào là loại cây không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền.
Tương truyền, trên ngọn núi Sóc Sơn có một cây đào cổ thụ cành lá xum xuê che phủ một vùng đất rộng lớn. Ở đó có hai vị thần là Trà và Uất Lũy cư ngụ, dùng quyền năng của mình bảo hộ người dân khỏi sự quấy rối của ma quỷ, do đó chỉ cần nhìn cây đào thôi cũng đủ khiến tà ma phải khiếp sợ bỏ chạy. Vì thế, dân làng nơi đây quanh năm có một cuộc sống bình yên và sung túc. Nhưng đến những ngày cuối năm, hai vị Thần phải về thiên đình trình báo Ngọc Hoàng thì bọn yêu ma được dịp hoành hành can nhiễu tới cuộc sống người dân. Khi hai vị Thần quay lại, sau khi nghe dân làng kể lại sự tình, Thần bảo con người ngày Tết hãy chặt những cành đào rồi cắm trong nhà, nhìn thấy đào cũng như thấy Thần, tà ma sẽ khiếp sợ cũng phải tránh xa. Do vậy, cứ đến Tết, hầu như nhà ai cũng có cành hoặc cây đào, không chỉ để trang trí mà còn vì ý nghĩa sâu xa này.

 
Vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cây đào, cành đào đã trở thành một tục lệ. (Ảnh: deptutin.net)
Ý NGHĨA HOA ĐÀO NGÀY TẾT


Không chỉ tô điểm cho không gian ngày Tết thêm ấm cúng, tươi vui, hoa đào còn được người xưa gửi gắm rất nhiều tầng ý nghĩa.

Trước hết, đào được coi là tinh hoa của Ngũ hành, có thể xua đuổi bách quỷ mang đến cho con người cuộc sống bình an, hạnh phúc.

Không chỉ vậy, hoa đào còn tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở. Ai cũng mong muốn có một năm an khang thịnh vượng, làm ăn thuận lợi, phát tài, gia đình vui vẻ. Hoa đào như gieo vào lòng người niềm tin, hi vọng về những điều tốt đẹp trong tương lai.

Hoa đào đem đến nguồn sinh khí mới, mọi người trong gia đình dồi dào sức khỏe, vạn sự như ý.

Vẻ đẹp của loài hoa này còn tượng trưng cho người con gái xứ Bắc: dịu dàng, e lệ, kiều diễm …

Hoa đào còn gợi người ta nhớ tới tình nghĩa thủy chung. Trong Tam quốc, ba vị: Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi trong vườn đào đã cùng kết nghĩa huynh đệ và nguyện: “Không sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng.” Vườn đào là nơi đã chứng kiến cho tình bạn thắm thiết thật đáng khâm phục của ba con người. Thời gian cứ dần trôi qua, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của loại cây này,
chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cây đào, cành đào đã trở thành một tục lệ.
Thanh Mai
(daikynguyen.com)

29 thg 1, 2017

VÉ VỀ TUỔI THƠ - Thơ Trần Phong Vũ


Cho tôi một vé về quá khứ
Để thấy bé cười trong giấc mơ
Thế giới bao la và rộng mở
Khát vọng một thời tuổi ấu thơ....

Cho tôi lần nữa làm con trẻ
Đuổi bướm thả diều hay đá banh
Lăn hết một vòng trò dâu bể
Lại khoác lên người áo trắng quần xanh

Cho tôi bước lại con đường nhỏ
Nhặt cánh hoa vàng trên lối quê
Cài lên mái tóc tình một thuở
Khét nắng mà thơm hương tóc thề

Cho tôi hát lại bài ca cũ
Là xí bùm bum dỗ khóc nhè
Con dế gáy ran tràn nội cỏ
Tóc xanh xưa xúm xít dưới vòm me

Cho tôi gặp lại em ngày ấy
Tay bắt mặt mừng khẻ hỏi thăm
Má thắm còn hồng hay xuân tái
Để tôi mừng hay cúi mặt...ăn năn

18/1/2016
TRẦN PHONG VŨ