16 thg 9, 2026

Chữ nghĩa làng văn kỳ 15/9/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 Chữ nghĩa làng văn

***


Chữ nghĩa làng văn


“Áo ấm” tương đương với…“áo lạnh” và  “Nín thinh” giống như …“làm thinh”. 


Trong khi “ấm” và “lạnh” phản nghĩa nhau, 

nín” và “làm” cũng là những động từ đối nhau.


(Lê Anh Tuấn – Báo Sài Gòn Nhỏ)


image027

Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?



Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Ăn kĩ no lâu, cày sâu mau mệt


Cái hay cái dở của Bùi Giáng


Một điểm này thì vui vui. Điều chính của bài Quang Dũng (trang 88, cuốn Một) là bình bài thơ Kẻ Ở để chứng minh nhận định: 

"Thi ca hiện đại hay thi ca ngàn đời, thi ca Việt Nam hay thi ca thế giới – vâng – cũng chỉ riêng một Quang Dũng thôi". 


Đoạn bình Kẻ Ở và toàn bài Quang Dũng có thể xem là thành công. Nó chỉ "thất bại" ở chỗ, tác giả lời bình cũng bị số phận như đa số dư luận yêu thơ khác – đó là biết bao nhiêu năm đã bé cái lầm về tác giả bài thơ quen thuộc. Quang Dũng "người Sơn Tây" không phải là tác giả của nó đâu ạ! Từ những năm 1989-1992, báo chí trong nước, rồi ngoài nước, đã "trả cát bụi về cho cát bụi": bài thơ Kẻ Ở trước được biết của Quang Dũng chính là bài Dặm Về (hay Mai Chị Về) của Nguyễn Đình Tiên.

 

Báo Cánh Én (Đức, số 15, 1992) đã có bài của V.X.L. tổng kết vụ này. Các nghi án văn học đều kèm theo tai nạn. Trời giáng ai nấy chịu. Đến "người trời" như Bùi Giáng cũng không thoát được. 


(Đỗ Quyên)


Đừng tưởng


Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc không trông là mù

(Bùi Giáng)


Ngộ


Tất bật hơn thua rồi cũng bỏ
Thong dong tự tại vậy mà vui


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...


Bao nhiêu đồ phụtùng xe ngựa của bạn bè giải nghệ, ông đềuthu mua, gom lại chất đầy kho. Không ngờ sauđó trở thành “kho tư liệu” quý hiếm không dễai cũng có được. Nói về con người đặcbiệt này, nhạc sĩ Võ Đông Điền - một nhạcsĩ nổi tiếng ở Bình Dương đã viết:“Giữa cái tất bật hối hả của cuộc sốngcông nghiệp vẫn còn có một người âm thầm muốnníu lại hồn quê”. Người đó chính là nghệ nhân Hai Sộp.


Như thế, nghề chế tác và chạy xe thổ mộ là một nghề truyền thống khá lâu đời, gắn bó, quenthuộc với cư dân Bình Dương trong nhiều thậpkỷ. Tuy nay nghề này không còn hoạt động nữa,nhưng vẫn còn ghi lại nhiều dấu ấn đậm nét trong trí nhớ nhiều người ở đây. Hình ảnh chiếc xe ngựa trên các nẻo đường làng, trongcác lễ hội, đám cưới quê... đã từng tồntại như một nét sinh hoạt văn hóa củangười Bình Dương và có lẽ của cả vùngquê Đông Nam bộ xưa. Vì thế, đến nay vẫncó nhiều người, trong đó không ít người trẻtuổi vẫn luôn hy vọng rằng, chiếc xe thổ mộthân quen ấy rồi sẽ tái hiện ở đâu đótrong những không gian của các lễ hội hoặc ởcác khu du lịch văn hóa, sinh thái của đô thị BìnhDương cũng như các đô thị đang trênđường công nghiệp hóa và hiện đại hóa...


(Hiếu Học - Hoàng Anh)


Gặp nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ


Tôi gặp nhà văn Thụy Vũ lần đầu tại nhà riêng của nhà thơ Ý Nhi nhân một dịp bà ghé Sài Gòn. Cuộc gặp mặt có nhiều người tham dự, có đồng nghiệp và có cả học trò của bà trước kia.


Hôm ấy, khoảng tháng 9-2017, bà nói nhiều chuyện, từ chuyện viết lách cho đến những giai thoại trong giới văn chương trước 1975 rồi dẫn đến cả những kỷ niệm đời sống riêng tư. Bà nói chuyện hóm hỉnh cho dù trong tất cả những điều bà kể đều có bóng dáng những nỗi buồn bã, bất lực mà người nghe không khỏi cảm thấy ái ngại. Nghe bà kể bằng một giọng diễu cợt về những nỗi đau và số phận hẩm hiu của chính bà cứ như đang nghe bà nói về nỗi đau và số phận của ai khác. Tôi nghĩ không dễ gì có thể tự trào được như vậy nếu bà không có một nghị lực để vượt qua nghịch cảnh và vượt qua cả chính mình.

Sau cuộc lần đó, bà phát hiện mình ung thư, bị cắt 2/3 dạ dày.


Tôi vẫn thường tự hỏi cái gì làm cho một người thấy mình có nhu cầu phải cầm bút. Trả lời câu hỏi này cũng đồng thời trả lời cho câu hỏi kế tiếp vì sao mà nhà văn từ bỏ sáng tác. Trong trường hợp của Thụy Vũ, số phận hình như không định đoạt bà trở thành một nhà văn, mà là một cô giáo. Bà có viết lách nhưng là viết cho riêng bà. Người em trai của bà, Hồ Trường An, khuyến khích bà gửi đăng báo. Và bà đã xé từ trong cuốn sổ một truyện để gửi cho tờ Bách Khoa chỉ với mục đích là để kiếm thêm thu nhập cho đồng lương khiêm tốn của nghề giáo mà thôi. Nhưng (số phận nào cũng bắt đầu từ cái phản đề này), cái truyện đó đã lọt vào mắt xanh của nhà văn Võ Phiến.


(Vũ Thành Sơn)


Tác giả : Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật: Nguyễn Băng Lĩnh sinh ngày 19-8-1939, quê ở Vĩnh Long. Vào nghề gõ đầu trẻ từ năm 1957. Vào nghề viết văn năm 1963, do sự dìu dắt của ông Võ Phiến. 

Tác phẩm : Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông, Thú Hoang, Khung Rêu

Thương nhớ thầy Nguyễn Đăng Mạnh


Thầy lâm nạn Hồi ký, rất nhiều học trò thương thầy và lo cho thầy. Có bạn viết cho tôi: “Đưa lên mạng chưa phải là xuất bản, không thể quy tội, anh nhỉ? Nhưng em lo cho thầy quá”. Anh Đỗ Ngọc Thống gọi điện cho tôi bảo: “Tranh thủ lúc này “nó” chưa làm gì, nếu viết gì được về thầy hãy viết ngay đi, để ít nữa là khó đăng đấy”. Tôi vội viết ngay một bài (Thầy Nguyễn Đăng Mạnh: nhà giáo-nhà văn), và nhân dịp 20-11 năm ấy, gửi đăng ở tạp chí Thế giới mới do anh Trọng Thanh, phó tổng biên tập, phụ trách bài vở, là người tốt và hiểu biết, nên đăng ngay, chứ phải người khác có khi lại ậm ờ rồi “quên”, để khỏi liên lụy.


Anh Thống dự báo đúng. Chuyện Hồi ký mỗi ngày một nóng lên. Thỉnh thoảng tôi điện hỏi thăm thầy, thầy đều bảo “mình chưa thấy một công an nào đòi gặp mình cả”. Ấy thế mà đã có người bảo tôi: “Thầy Mạnh bị công an trói giật cánh khỉ đưa đi rồi”. 


Ở cái đất nước này, nói khác đi đồng nghĩa với “phản động”; công an đã làm việc nghĩa là có tội; công an đã bắt là phải “trói giật cánh khỉ”. Sau này tôi nhắc lại chuyện ấy, thầy bảo: “Chả biết đồn đại thế nào mà đến Hội Nhà văn Thụy Điển cũng tưởng mình đã bị bắt”.


(Đào Tiến Thi)


Ngộ


Nghe trong vận chuyển đất trời
Có ta hạt bụi giữa đời phù du


Chế Lan Viên


Tôi không nghi ngờ thái độ của  ông mà tôi cứ tự hỏi mình : Thế là  thế nào nhỉ? Tiếng còi tàu cất lên, tàu đang vào ga và tôi chào “Kẻ thù số Một” của mình rất trân trọng.

 

Một lần vào năm 1968 có cuộc họp người viết trẻ ở  Hà Nội. Nhà thơ Yên Đức ở  Quảng Ninh về họp ghé thăm tôi,anh kể  :

- Hôm họp vừa rồi giờ giải lao bọn em quây quần bên anh Chế  Lan Viên, bất ngờ anh ấy hỏi : “Các cậu có ai nghe được chân dung của Xuân Sách chưa?”.

Một cậu trả lời : “Bọn em chỉ nghe loáng thoáng….”

“Các cậu nên đọc nên biết,theo tôi đó là tinh hoa của Xuân Sách”


Lại một lần nữa tôi bất ngờ. Vậy là sao? Ngoài bài thơ  tôi viết về ông tôi còn viết một bài về nhà  văn Nguyễn Thị Thường thuộc loại ác chiến. Có lần nhà thơ Khương Hữu Dụng đã đến gặp tôi nói “Cậu viết về Chế Lan Viên hơi ác”. Một thời gian sau ông lại đến, tôi xin nói thêm về cụ già Khương (tên thân mật chúng tôi thường gọi ông). Ông say thơ một cách kỳ lạ. Thỉnh thoảng ông hay đến chơi với tôi, tôi rất vui và kính trọng ông, nhưng trong bụng cũng lo là mỗi lần như vậy thường mất đứt một buổi để hầu chuyện cụ.

 

Lần  đó tôi mất đứt cả buổi sáng hầu chuyện cụ  mỗi một đề tài thơ. Đến trưa tôi cầm cái bát, đôi đũa nói với cụ :

- Bây giờ  cháu xin lỗi phải đi ăn cơm, ăn ở nhà ăn tập thể đi muộn là mất suất.

Cụ  vui vẻ đi cùng tôi và vẫn tiếp tục nói về  thơ, đến tận cửa nhà ăn cụ mới nói :

- Hôm nay mình đến gặp cậu chỉ để nói một câu, hôm trước mình nói cậu viết về Chế Lan Viên hơi ác, nhưng bây giờ mình thấy hình như cậu viết đúng.


Tôi không nhớ là bao lâu nữa cụ lại đến, vừa trông thấy tôi cụ giơ cả hai tay lên trời phấn khích nói to :

- Tiên sư mày, mày là thằng tiên tri. Mày viết về Chế  Lan Viên rất đúng.


Được cụ già Khương mắng câu “Tiên sư thằng Tào Tháo” thì còn gì hơn nữa.


(Xuân Sách)


Ngộ 


Trần gian mắc đọa nợ nần
Mai sau hóa kiếp bụi trần tìm vui


Nguyễn Bính - 1


Trong sáu nhân vật ra đi vào tháng giêng của cuốn 1, chỉ có một vị của lịch sử Phật Giáo dân tộc xa xăm là Viên Chiếu Thiền Sư và một vị là nhà thơ Nguyễn Bính thời tiền chiến, là hai vị chúng tôi không thể thấy tận mắt, còn đều là những vị chúng tôi từng tiếp xúc, quen biết, thân hay sơ. Do đó bộ sách Lịch sách chân dung nhà văn Việt Nam còn là một bộ hồi ký, với hình ảnh bút tự hay bút tích, có thư từ riêng và giai thoại in kèm.


Viên Chiếu sống trong thế kỷ 11, khi 92 tuổi, thiền sư cho gọi tăng chúng đến dạy rằng: “Trong thân ta đây, thịt xương gân cốt, tứ đại giả hợp, đều là vô thường, ví như ngôi nhà kia khi sụp đổ, cột kèo đều đổ. Cùng các con giã từ, hãy nghe bài kệ của ta đây:

Thân như tường vách đổ xiêu rồi
Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi.
Nêu rõ tâm không, không tướng sắc
Sắc không ẩn hiện mặc xoay đời.

(Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam 1)


(Những người vĩnh biệt tháng giêng – Viên Linh)


Ngộ 


Cuộc lữ trăm năm cũng dài
Nhưng rồi không quá một tầm tay
Thiên thu là những gì khoảnh khắc
Chợt mất chợt còn như gió bay.


Nguyễn Bính - 2


iBia - Nguyen Binh - PGW - 1Đã 46 năm kể từ trưa 29 tết, năm Bính Ngọ, 1966, nhà thơ Nguyễn Bính đã chết trong nghèo đói, bệnh tật tại nhà ông lang Hứa. Tôi (Trần Mạnh Hảo) có gặp ông lang tại tư gia nhà thơ Vũ Quốc Ái ở Nam Định. Ông lang Hứa làm thơ, bút hiệu Tân Thanh kể rằng:


Sau 1958, Nguyễn Bính bị nhà nước đuổi về quê vì làm báo Trăm Hoa. Nguyễn Bính về quê làm nhân viên hợp đồng sửa bản in cho ty văn hoá Nam Định nên đói lắm. Sau cơ quan ty văn hoá sơ tán lên huyện Lý Nhân, nên Nguyễn Bính hay đến nhà ông lang Hứa ở thôn Mạc Hạ tá túc. Tết đến, không có tiền, Nguyễn Bính tới nhà ông Hứa mượn đỡ chút tiền về cho vợ con có chút tiền ăn tết. Trưa 29 tết, Nguyễn Bính do đói quá, lại làm tí rượu, chóng mặt, ra bờ ao nhà ông Hứa rửa mặt, rơi xuống ao. Ông Hứa và người nhà vớt Nguyễn Bính lên bờ. Nhà thơ thổ huyết, tắt thở. 


Về đám tang nhà thơ, bà Nguyễn Bính Hồng Cầu con gái Nguyễn Bính thuật lại:

Cha tôi được đưa về nghĩa trang Cầu Họ. Mùng hai tết, bác cả tôi là nhà viết kịch Trúc Đường và con gái về Nam Định đưa tang cha tôi, dọc đường thấy một đámkhông kèn trống, không người đưa tang, đâu ngờ đó lại là đám tang em trai ruột thịt của mình.


Với Trần Mạnh Hảo thì Nguyễn Bính chết đói. Nhưng Tô Hoài nói khác, cho rằng Nguyễn Bính chết no, chứ không phải chết đói như bọndiễn biến hoà bình” xuyên tạc.


Ngộ 


Trăm năm nhìn xuống đời hư ảo
Phút chốc nhìn lên ngộ lẽ trời


Giai thoại Tô Hoài 


Thích chuyện tào lao


Lớp học của Tô Hoài hồi đó lổn nhổn tuổi tác, với muôn vàn lí do. Có người học Tây, có người học Nho, có người sau 1945 mới tập ngoáy chữ. Hầu hết các học viên đầu đã bạc tóc hoặc đương bạc.


Những lúc ngồi chuyện tào lao, Tô Hoài thường cùng bè bạn lôi đủ thứ ra bàn bạc trêu chọc. Chẳng hạn chuyện có cán bộ mấy chục năm vùi đầu công tác dân vận, thuế khoá…chưa từng bước chân vào lớp một văn hoá chính trị nào, thế mà cuối khoá học vẫn làm bài thi ổn cả. Có ông thường xuyên trốn học, nhưng cũng được ra trường với danh cao cấp. Có người đi học vì sắp được lên chức. Có người học được dăm bữa nửa ngày, thì nhận được giấy gọi đi chiến trường B. Có người bỏ vợ bỏ con về trường bồi dưỡng tri thức, sau đó cũng chỉ để về hưu. 


Rồi việc ngày xưa Nguyễn Công Hoan nhờ bạn vào làm bài thi vấn đáp hộ, bây giờ thì nhờ thi viết hộ. Muôn nỗi buồn cười. Tô Hoài có cái tật ngồi lê đôi mách và hay hóng chuyện.



Ngộ


Ta nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời


Chữ nghĩa làng văn


Qua truyện Kiều, cụ Tiên Điền Nguyễn Du gửi gấm một cái gì đó cho người tình cũ họ Hồ của cụ. Đầu đuôi xuôi ngược khi cụ về đến Thăng Long để hoài cố nhân, đàm trường Cổ Nguyệt Đường đã cửa đóng then gài. Vì sau khi chồng mất, bà Hồ Xuân Hương vào tu chùa Hoa Yên núi Yên Tử. Ngó quanh ngó quẩn, cụ chỉ thấy có một ít người quen biết với cụ lại gần gũi với những nhân vật trong Kim Vân Kiều truyện:


Thảng như hai người tình cũ của cụ là hai chị em ruột cô Uy, cô Sạ, cụ mường tượng là Thúy Kiều, Thúy Vân. Như Nguyễn Hùynh Đức, Tổng trấn Bắc thành bạn cụ, liên tượng đến Hồ Tôn Hiến. Đến khi cụ vướng vất bà Hồ Xuân Hương là thiếp của Trấn ải quan Trần Phúc Hiển, sau bị chết chém. Cụ khởi, phục, đóng, mở, ngọn bút tung hòanh trên mặt giấy như dấu ngựa dập dồn in trên con đường thiên lý cô lý, cô liêu. Nét mực căng như cành cây trĩu nhựa để cụ cho Từ Hải Trần Phúc Hiển…chết đứng. Còn vãi Giác Duyên trong truyện Kiều, không ai ngoài hình ảnh bà Hồ Xuân Hương khi bà tu ở chùa Hoa Yên núi Yên Tử. Qua nét thảo chập chờn gieo trên giấy ngà hoa tiên như những gịot sương xuân để…Thúy Kiều Hồ Xuân Hương tái hồi…Kim Trọng Nguyễn Du.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Nhà thơ ở cạnh nhà thờ

Nhà thơ tắt thở nhà thờ đổ chuông


(Lm Jos Chính sưu tầm)


Ngôi chùa thiêng lưu giữ 

“Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du


Thường vào ngày chủ nhật, thầy Thước sang  đàm đạo với vị sư trụ trì học vấn uyên thâm, mê văn chương. Đó cũng là thời kỳ thầy Thước say mê nghiên cứu về Nguyễn Du, ông đã viết cuốn "Truyện cụ Nguyễn Du"... Công phu của thầy đã được một phần thưởng lớn mà chỉ người làm công tác nghiên cứu văn học cổ - trung đại mới thấm hết: lẽ đương nhiên, với mối tình thâm, sư thầy đã đưa nhà nghiên cứu văn học Lê Thước xem bản “Văn chiêu hồn” được in từ bản ván khắc duy nhất tại nhà chùa  (1)


Thế là ông tìm được tác phẩm Nôm đã từng lưu lạc hàng trăm năm chưa hề được nhắc đến... Bắt đầu từ đó, các thế hệ người dân Việt Nam mới bắt đầu được khóc cùng nhà thơ họ Nguyễn qua những câu thơ xé lòng xé ruột không kém kiệt tác “Thiên thu tuyệt diệu từ” Truyện Kiều:

“Thương thay thập loại chúng sinh”

“Thương thay cũng một kiếp người”

“Đau đớn thay phận đàn bà”

“Lòng nào lòng chẳng thiết tha”

“Cõi dương còn thế nữa là cõi âm”


Ngày hôm nay khi vào một ngôi chùa quê - đặc biệt là những “Chùa xưa ở lẫn cùng cây đa. Sư cụ nằm chung với khói mây” (Nguyễn Khuyến), ta như còn nghe văng vẳng lời cảnh báo của nhà thơ trong tiếng khóc lớn của ông: con người sẽ còn chịu cảnh trầm luân mãi mãi cùng “thập loại chúng sinh”, nếu không mau chóng kịp thời bừng tỉnh để thoát khỏi vòng mê đắm của bả phú quý vinh hoa, của dối lừa, tham lam… “Vòng mê đắm” này đang bắt đầu tràn ngập xã hội ta, và cũng đang dần “nhuộm đen” cả không ít nơi thờ tự linh thiêng của Phật giáo…


(Nguyễn Anh Tuấn)


(1) Có tài liệu nói: 

Bản “Văn chiêu hồn” cổ hơn là bản khắc ván năm 1895 của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh


Rau sắng Chùa Hương


LTS - Học giả Thái Văn Kiểm, bút hiệu Hương Giang, Việt Điều, sinh năm 1922 ở Huế, tác giả các cuốn Cố Đô Huế (1960), Đất Việt Trời Nam (1960). Hiện ông tị nạn tại Paris, đỗ tiến sĩ văn chương Pháp năm 1988, và viết đều cho các tạp chí văn học.


Bài viết sau đây trình bày giai thoại về Rau Sắng Chùa Hương giữa Tản Đà và nữ sĩ Song Khê (hiện sống ở Hoa Kỳ).

Câu chuyện Rau sắng Chùa Hương chiếm một vị trí khá đặc biệt trong nền văn học Việt Nam cận đại. Câu chuyện này phát xuất từ đầu năm 1923 giữa hai nhân vật trong làng thơ văn thời đó: Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và nữ sĩ Song Khê họ Đỗ, em ruột của nữ sĩ Tương Phố.

Rau sắng vốn là một thứ rau hiền lành, lá trông giong như rau ngót (bồ ngót), mọc ở những vùng núi đá vôi, nhất là ở chung quanh chùa Hương. Ca dao có câu:

Ai đi trẩy hội chùa Hương

Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm

Mớ rau sắng, quả mơ non

Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?




Tiểu sử : Thái Văn Kiểm sinh năm 10.2.1922 tại làng Bao La, Quảng Ðiền, Huế, bút hiệu là Hương Giang; biệt hiệu là Bao La Cư Sĩ. Mất ngày 21.2.2015 tại Sài Gòn, anh táng ở Bình Dường.

Tác phẩm : Thiên phóng sự Thám Hiểm Ðộng Phong Nha - Cố Ðô Huế - Ðất Việt Trời Nam.


Lợn ỉ 


Ỉ hay ỷ (chữ Hán, bộ Nhân) nghĩa là dựa vào sự giúp đỡ của người khác. Nôm na là ỉ lạI vào người khác.  Lợn ỉ là "ông lợn" được dân làng nuôi với mục đích là nhờ ông đi sang thế giới bên kia cầu xin thần thánh phù hộ cho mọi người. 
Nuôi ông ỉ phải cẩn thận từ việc ăn uống đến việc tắm rửa hàng ngày cho ông. Để bảo vệ ông chống lại ma quỷ, yêu quái người ta vẽ bùa "thái cực âm dương" lên mình và đùi ông.  
"Thái cực âm dương" là một hình tròn, chia thành hai phần màu đen và màu trắng bằng nhau. Trong phần trắng có một chấm đen, trong phần đen có một chấm trắng. Muốn khắc in đúng hình "thái cực âm dương" thì chỉ có hai cách: hoặc phải "trổ tài" thao tác khắc ván, hoặc phải tô vẽ bằng tay. 

 

http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyendu/nddg_ConLonUnIn/1-Lon%20I-Dumoutier.jpg                      http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyendu/nddg_ConLonUnIn/5-Lon%20Nai-Dong%20Ho.jpg

Lợn ỉ (sách Dumoutier)         Lợn nái. (tranh Đông Hồ)

                       

Nhiều nghệ nhân đã chọn giải pháp thứ ba là... "xí xoá", bỏ hai cái chấm, không tô màu đen. Hình "âm dương" trông như cái khoanh tròn.  Rốt cuộc, tranh Lợn có hình "thái cực âm dương" được vẽ đúng thì chỉ có sách  của Dumoutier (1908). Tranh Oger (1908-1909) và tranh Đông Hồ vẽ sai. 

                                                  

(Nguyễn Dư)


Từ điển và từ ngữ Việt Nam


Những sai lầm tai hại trong hai quyển Từ điển từ và ngữ Việt NamTừ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân.

Ả đào. Người phụ nữ làm nghề ca xướng trong chế độ cũ


Cứ theo lời giảng của tác giả thì những nữ ca sĩ trong chế độ cũ đều là «ả đào» tất chăng? Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã giảng chính xác hơn: “Người phụ nữ làm nghề hát ca trù trong các nhà hát riêng thời trước


(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)


Tên phố, tên đường


Và cũng không được viết tên phố sai. 

Có tên phố viết sai khiến người đọc sai rồi không sửa được. Phố Quán Thánh (quán Trấn Vũ có tượng ông thánh đồng đen) gọi nhầm là phố Quan Thánh không có nghĩa


Vừa qua, vài tên phố đã được sửa đúng, nhưng vẫn còn Tạ Hiện (thành Tạ Hiền), Đồ Hành (thành Đỗ Hạnh), Hà Hồi (thành Hạ Hồi)... và có người bây giờ vẫn gọi hồ Thuyền Quang là hồ Ha Le - tên một đốc lý Pháp ngày trước.


Vấn đề tên phố không chỉ là việc đặt ra mỗi khi có việc phải bàn về tên phố, mà đây là công việc của một tổ chức có nhiệm vụ rõ ràng và hoạt động thường xuyên. Tổ chức này gồm những người trong các ngành nghề hiểu biết về Hà Nội, đề xuất được các vấn đề khi đặt tên phố ở nội ngoại thành và theo dõi giúp mọi việc chỉnh đốn hình thức về tên phố và số nhà. Nếu không sẽ xảy ra như đã xảy ra những tên đường, tên phố lạc lõng. 

Chẳng có lý do gì mà đoạn đường Bưởi đến dốc Nhật Tân thật dài lại được đặt tên Lạc Long Quân. Đường Bưởi trổ xuống Cầu Giấy không một chút nào dính đến vùng Bưởi


(trích "Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè" – Tô Hòai)


Thế nào là một bát phở Hà Nội


Giữa phố phường Sài Gòn. Bên ngoài treo biển: Phở Hà Nội. Nhưng khi người ta bưng tô phở ra, nhìn vào tô phở, tôi biết ngay không phải phở Hà Nội. Tô phở Hà Nội chính hiệu thì trên cùng bao giờ cũng phải có hai củ hành đập dập. Vì thế, vào một hiệu phở Hà Nội, đập ngay vào mắt khách hàng là một bó hành củ to đùng, treo ngay trước mặt người đàn ông chủ hiệu. Khi anh ta trình bày xong bát phở thì thiến hai củ hành, đập dập, đặt lên trên cùng tô phở. Nếu là phở gánh bán rong trên hè phố Hà Nội, thì lủng lẳng trên gánh phở cũng là một bó hành to đùng. Nhìn vào bó hành vơi đi, người ta biết là anh ta sắp bán hết gánh phở.


Về cách trình bày một bát phở, phải theo trình tự: bánh phở được nhúng nước sôi rồi đặt ở đáy bát. Thịt chín, chín nạm hay chín gầu, được thái thật mỏng, càng mỏng càng tỏ rõ tay nghề của chủ quán. Mỏng đến mức cho vào miệng là nó tan ra, không cần phải nhai! Nếu là tái, thì thịt bò sống được thái mỏng, lấy dao phay miết khối thịt đó trên mặt thớt cho nó mỏng, càng mỏng càng tốt, sau đó băm nhiều lần trên khối thịt đã được miết cho mỏng đó, lấy dao phay luồn dưới khối thịt đó để gạt xuống tô, che kín khối bánh ở bên dưới. Nếu là thịt chín thì xếp từng miếng che kín mặt bánh. Sau đó hành đã được thái nhỏ, được bốc từ một cái rổ để kế bên, thả lên trên, trên cùng mới là hai nhánh hành củ đập dập. Sau cùng mới là nước dùng được ninh xương suốt cả đêm hôm trước dội lên mặt tô phở. 


Tô phở được bưng ra, khách chỉ thấy hành thái nhỏ và hai củ hành nổi trên mặt nước. Không nhìn thấy thịt và bánh đâu cả! Khi ăn, khách mới dùng đũa trộn đều lên. Người ăn phở, dùng thìa húp một thìa nước dùng trước tiên để xem chất lượng của phở. Nếu nước ngọt xương mới là phở ngon. Ngọt đường là dởm! Nên nhớ, bát phở phải cách miệng bát ít nhất là hai phân. Người Hà Nội vốn thanh cảnh, không ai muốn một tô phở đầy phè đến miệng bát!


(Lê Phú Khải)


Mắm bò hóc


Trong đầu đậu phụng của tầm khảo tôi lúc này chỉ toàn…mắm không thôi. Bèn sa đà với mắm bò hóc của người Miên. 


Mắm bò hóc hay prahok là mắm làm từ  nước ngọt do người Miên làm ra từ cá lóc. Cá bỏ ruột, đánh vẩy, rồi giã nát, để một nắng rồi đem nén trong vại với muối và gia vị. Gia vị là đườngtiêutỏiớtcơm nguội. Cá hơi ươn được ủ với các nguyên liệu, và xác cá tiếp tục được sấy tương đối khô, cho vào hũ phơi vài tháng.


Mắm bò hóc được người Khmer dùng để đãi khách đến nhà và là nguyên liệu thích hợp để làm nước lèo trong món bún nước lèo. Từ mắm bò hóc, họ đã chế biến ra bún nước lèo, bún mắm hóc, bún num bò chóc,... Món ăn đậm hương vị mắm hóc nhất phải kể đến là bún num bò chóc. Nhiều người mới nghe tên gọi e ngại mùi vị của mắm hóc mà không dám thưởng thức món ăn đầy hấp dẫn này. Khi ngửi mùi thơm của nước lèo thì sẽ không thể cưỡng lại được bởi mùi vị đậm đà của mắm, cái hương thơm của ngải bún, sả và trái chúc... Các nguyên liệu đó hòa cùng với mắm bò hóc làm nên nước lèo có vị ngọt đậm đà, vị chua thanh thanh rất đặc trưng.


Nguyên liệu nấu bún mắm hóc gồm có trái chúc (giống trái chanh dây nhưng có mùi vị khác), ngãi bún (có mùi giống củ riềng) chỉ có ở Campuchia. Nước lèo được nấu từ cá lóc tươi nguyên và nước mắm bò hóc, nêm các gia vị gồm trái chúc lấy vỏ giã nát cùng ngãi búng và củ sả. Khi thưởng thức, bún được ăn kèm với các loại rau như bắp chuối, rau muống, đậu đũa, dưa leo thái nhỏ, giá đỗ, bông súng…


Theo người Miên hũ mắm phải “có giòi” ăn mới ngon. 


Chữ nghĩa làng văn


Truyện Kiều, câu 1160:

Một tay chôn biết mấy cành phù dung

Nó cũng xuất hiện trong Chinh Phụ Ngâm:

Vẻ phù dung một đoá khoe tươi.


Phù dung có 2 loại:

- Mộc phù dung (mộc liên) mọc ở trên đất tức hoa dâm bụt (hibiscus).

- Thảo phù dung mọc ở dưới nước tức hoa sen (lotus).


Phù dung trong câu thơ Kiều và Chinh Phụ Ngâm trên không thể là hoa sen, vì sen chỉ có cuống lá, cuống hoa, không có cành. Vả lại sen nở hoa trong hồ, trong đầm, chứ không trên sông.

Như vậy, phù dung trong Truyện Kiều là một loài hoa dâm bụt.


(Trần Văn Tích - Cỏ cây trong truyện Kiều)


Small Contribution to the Windmill Series” 

Nanos Valaoritis


Don Quixote tấn công những cái cối xay gió [1] với một chiếc gương soi làm khiên trên đó phản chiếu cái cối xay gió chính nó lại cũng có một chiếc gương phản chiếu Don Quixote đang tấn công cái cối xay gió, v…v…

Hoặc: Don Quixote với một cái khiên có hình Don Quixote ngồi trên lưng con ngựa của mình mang một cái khiên với hình Don Quixote vẽ ngồi trên lưng con ngựa của mình.

Hay Don Quixote là một bức sơn dầu vẽ ông ngồi trên chiếc ghế bành, phản chiếu vào một chiếc gương soi trong đó Don Quixote đang nhìn mình, là một bức minh họa trong một cuốn sách mà một cậu bé ngồi cạnh ông đang nhìn trong khi Don Quixote áo giáp trên người đầy đủ với một vẻ thích thú đang xem bức minh họa vẽ chính mình đang ngồi trên một chiếc ghế bành với một cậu bé ngồi đọc một cuốn sách bên cạnh ông.

Bức tranh sơn dầu để ở Dinh Công Tước [2] treo ở cuối phòng ăn trong một lâu đài ở Bavaria vào thời Phục hưng ở Anh.



Hai thầy trò Don Quixote & Sancho Panza trước những cái cối xay gió...


[1] Hình ảnh “Đánh nhau với những cái cối xay gió” ngày nay biểu tượng cho chuyện “đánh nhau với kẻ thù tưởng tượng”.

[2] Palazzo Ducale [Dinh Công tước] kiến trúc gothique, nằm giữa Rio della Paglia, Quãng trường Piazzetta San Marco, đền thờ San Marco và con kênh San Marco – chạy dọc theo con Kênh lớn ở thành phố Venice, Ý.

 

***

“Đóng góp cho Cối Xay Gió” dịch từ nguyên tác tiếng Anh “Small Contribution to the Windmill Series” của Nanos Valaoritis trong My Afterlife Guaranteed (San Francisco: City Lights Books, 1990). 


Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm


Bài 3

Kỳ II: Thanh Tịnh – Tiếng thở dài có thật…


Chuyện đời buồn


Lên 11 tuổi Thanh Tịnh học ở trường Pen-lơ-ranh, cách nhà Ga Huế khoảng 300 mét, trên đường Lê Lợi –Huế. Bạn học toàn con nhà giàu, gia đình danh giá. Con nhà nghèo, nên ông quyết tâm học thật giỏi. Năm 22 tuổi ông thi đỗ đip-lôm (trung học), bắt đầu sống tự lập, xin làm nhân viên thư viện ở trường Prô-vi-đăng (nay là cơ sở của trường Đại học Khoa học Huế), để vừa làm, vừa học thi Tú tài. Thi đỗ ông được nhận vào sở Điền địa. Do công việc chuyên môn, ông đi nhiều, về các vùng nông thôn. Đây là những chuyến đi thực tế quan trọng, mở rộng vốn hiểu biết về người nông dân, chuyện làng, xã, phong tục tập quán. Từ đó, phần lớn truyện ngắn của ông được hình thành như truyện “Ngậm ngãi tìm trầm”, là chuyện ông được nghe dân tiều phu ở núi Truồi Phú Lộc kể. Sau đó, do bất đồng với trưởng phòng người Pháp, Thanh Tịnh đến với nghề báo, làm thư ký biên tập cho tập san nghiên cứu nổi tiếng “Những người bạn của Huế cổ” (Les amis du vieux Huế), gần 6 năm, nhờ vậy ông biết nhiều về văn hoá, kiến trúc, phong tục của cố đô Huế. Trong thời gian làm thư ký tòa soạn, ông còn làm thêm hướng dẫn viên du lịch.


Sinh thời, Thanh Tịnh không muốn nói về gia đình. Do đó tên vợ ông, người ở đâu, nghề nghiệp…không có tài liệu nào công bố. Chỉ sau khi ông qua đời tại Hà Nội (17-7-1988 ), mới biết ông có vợ, và một con trai tên là Trần Thanh Vệ trước khi từ Huế, ra Việt Bắc họp Đại hội Văn hóa (năm 1946, Thanh Tịnh lúc ấy là Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung bộ). Đúng thời điểm Toàn quốc kháng chiến, ông đi theo cách mạng, vào bộ đội. Từ đó, chiến tranh đã chia cắt ông với quê hương, gia đình. 


Nguyễn Vỹ kể lại trên tạp chí Phổ Thông (Sài Gòn): Do hoàn cảnh chia cắt và điều kiện bất khả kháng, vợ Thanh Tịnh tái giá với một sĩ quan cộng hòa. Khoảng năm 1958 hay 1959 gì đó, một hôm nữ sĩ Trinh Tiên ở Nha Trang, vợ nhà văn Bửu Đáo vào Sài Gòn, ghé thăm ở tòa soạn. Sẵn điện thoại, bà Trinh Tiên gọi cho bà tỉnh trưởng Long An. 


Gọi xong, Trinh Tiên mỉm cười hỏi tôi:

– Anh có biết bà tỉnh trưởng Long An này là ai không?

– Tôi không quen.

– Vợ của anh Thanh Tịnh đấy.


Đất nước 30 năm chiến tranh, bao người phải chịu nỗi đau chia ly, nhưng hoàn cảnh Thanh Tịnh bi đát nhất. Cả đời ông chịu cảnh “ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân” (chữ Thanh Tịnh). 


Xót xa hơn, đất nước thống nhất, Thanh Tịnh chỉ về Huế duy nhất một lần, và việc ông làm trong lần ấy là viết đơn xin bảo lãnh cho người chồng sau của vợ. Một đại tá cách mạng bảo lãnh cho một đại tá chế độ cũ vì một người phụ nữ mà họ yêu thương!

Sau đó ông lại ra đi để lại sau lưng vợ con cùng một phần ký ức.


(Nguyễn Thanh Huệ)


“Cheo Leo”, quán cà phê ‘xưa’ nhất Sài Gòn

206180-CheoLeo-01-4

Bên trong quán “Cheo Leo”


Cheo Leo là tên quán cà phê “xưa” nhất Sài Gòn, ở căn nhà số 36, hẻm 109, đường Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Khu vực này chi chít ngõ hẻm ngang dọc, nên từ lâu đã có tên gọi là khu Bàn Cờ. Chúng tôi được biết quán Cheo Leo hình thành từ năm 1938, trước cả thời gian xảy ra Ðệ Nhị Thế Chiến, 1939-1945.

Tồn tại đến hôm nay, quán Cheo Leo đã 75 năm, đặc biệt quán Cheo Leo vẫn pha cà phê bằng vợt, còn gọi là cà phê bít tất. 

Vào thập niên 60 của thế kỷ trước, khi còn là học sinh trường trung học Chu Văn An, tôi đã biết có quán cà phê Cheo Leo. Bạn đồng lứa tuổi chúng tôi, học tại trường Chu Văn An và trường Pétrus Ký, cả hai trường không xa khu Bàn Cờ. Khi tập tành ngồi quán cà phê, nhiều bạn đã lui tới thường xuyên quán Cheo Leo.


Riêng tôi, theo đòi những “ông anh văn nghệ,” đã tìm tới quán có cà phê phin, để được làm dáng trầm tư, nhìn ngắm từng giọt đậm đen nhỏ từ cái phin xuống đáy ly cốc.


(Nguyễn Đạt)


Tiểu sử
Nguyễn Đạt sinh năm 1945 tại Vĩnh Tường, Vĩnh Yên, Bắc Việt. Hiện ở Đơn Dương, Đà Lạt. 

Ông là cháu nhà văn Nguyễn Mạnh Côn
Tác phẩm

Hiện viết truyện ngắn cho riêng báo mạng Tiền Vệ và Khởi Hành.


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Xóm đêm, Trăng rụng xuống cầu 

Tình buồn biến sắc hoa màu nhớ thương 

Cho em Đôi bóng bên đường

Sá gì ảo ảnh Đêm đông 


(Sưu tầm từ VMQH)


Hui nhị tỳ


Về tới nửa đường, bạn quẹo qua tay trái, theo đường Hai Mươi (Phan Thanh Giản) để vô vườn Bà Lớn!


Đây là nhị tỳ tư gia, nhưng đồ sộ không kém một nhị tỳ công cộng.

Trước chiến tranh, từ đường của họ Đỗ Hữu nầy nằm riêng biệt một nơi hẻo lánh, đứng trước cổng có thể ngắm mặt trời lặn trên cánh đồng hoang bên kia đường Hai Mươi.

Nghĩa địa ngày trước được một lũy tre dày mịt bao bọc lấy.

Nhưng vì chiến tranh ở thôn quê nên người sống đã tràn đến đây đốn rụi lũy tre xanh mà cả vườn xoài bên trong cũng không còn một cây để che mồ.

Những con đường trải sạn trắng trong nghĩa địa đã biến thành những lối mòn ngập đất bột và cáo ao sen ở giữa ngày xưa liễu rũ soi bóng dưới nước xanh lơ, bây giờ dùng làm hầm đổ rác.


Kẻ chết củng cố thành trì cẩn thận bằng dây kẽm gai nếu không, làn sóng người cứ xung phong vô mãi thì nguy mất. Tuy thế, đám đất giữa nhà mồ và những ngôi mộ chánh cũng đã bị người ta vun vồng để trồng hoa và người ta thả bò nghỉ mát.


(Bình Nguyên Lộc)


Nhà văn Mai Thảo viết về tiếng hát Thái Thanh


Chẳng phải vì Thái Thanh đã hát hai mươi năm, còn hát, chỉ đơn giản là chúng ta đã nghe bằng cái trạng thái thuần túy, trong suốt nhất của thưởng ngoạn, nghe bằng cái không tuổi thênh thang phơi phới của mình. Tôi gọi vùng cảm xúc và liên tưởng cố định ấy là quê hương tiếng hát Thái Thanh. Như cây kim trong địa bàn chỉ xoay về hướng bắc, người nghe nào cũng gặp lại, bằng và với tiếng hát Thái Thanh, một thứ quê hương tình cảm muôn thuở trong mình. Chúng ta nói tiếng hát này gợi lại kỷ niệm, đánh thức trí nhớ, đâu phải vì tiếng hát Thái Thanh chỉ hát những bài hướng về kỷ niệm. Chúng ta nói tiếng hát Thái Thanh thân ái, tình nhân, bằng hữu, chỉ là người nghe đã thân ái, bằng hữu, tình nhân với chính mình, từ tiếng hát. Tôi nghĩ đó là nguyên nhân xâu xa đích thực nhất giải thích chu đáo cho khối lượng cảm tình đằm thắm, vững bền, không lạt phai, không lay chuyển, mà quần chúng yêu nhạc ba miền đã dành cho Thái Thanh từ hai mươi năm nay.


Đặt vào tiến trình và hình thành của âm nhạc VN những năm bảy mươi, tiến trình đó nhất định phải đưa tới một đoạn tuyệt hoàn toàn với những giòng nhạc cũ, hình thành đó tất yếu sẽ nâng đẩy âm nhạc tới những biểu hiện sinh động bay múa nghìn lần hơn cõi nhạc quá khứ, tiếng hát Thái Thanh, hơn mọi tiếng hát khác ở điểm này, hội đủ điều kiện cho một thăng hoa và một hòa nhập lý tưởng. Bởi sau hai mươi năm, nó vẫn là một ra khơi, một lên đường, của những năm bảy mươi và cho những năm bảy mươi, âm nhạc đang được định nghĩa lại, từ phía sáng tác, trình diễn, đến phía thưởng ngoạn. Trước đòi hỏi của một lớp người yêu nhạc càng ngày càng vươn tới những vùng nghệ thuật đích thực, những bước tiến lớn lao ghi nhận được về nghệ thuật hoà tấu, kỹ thuật hoà âm chúng ta thấy thể hiện trong một băng nhạc bây giờ, là những dấu hiệu mở đầu cho một trưởng thành toàn diện.


Tiếng hát Thái Thanh là một đồng nghĩa toàn vẹn với hiện tượng trưởng thành này. Không phải là trong quá khứ, mà bây giờ mới vẹn toàn tiếng hát Thái Thanh. Trên tinh thần này, và trước viễn tượng sáng tươi của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tôi không nghĩ Thái Thanh đã tới, mà nói Thái Thanh mới bắt đầu. 

Đừng đặt câu hỏi là sau hai mươi năm, bao giờ Thái Thanh vĩnh viễn giã từ âm nhạc. Mùa nhạc này, chúng ta mới chỉ đang nghe những bài hát thứ nhất của Thái Thanh, những bài hát đánh dấu cho một khởi hành mới, những bài hát mở đầu cho một sự nghiệp thứ hai.Những người yêu mến tiếng hát Thái Thanh từ hai mươi năm nay, chắc đều nhận thấy với tôi như vậy.


(Mai Thảo)
(lời tựa cho băng nhạc Tơ Vàng 4 – tiếng hát Thái Thanh)



Góp nhặt 


Có nguồn cho là tên nước Việt Nam có từ đời Trân, đời Lê. Lý do có ngộ nhân này vì chữ Tàu không viết hoa 2 chữ "Việt Nam". Mà là “việt nam”, thế nên với Dư địa chí của Nguyễn Trãi, người sau nên hiểu theo chữ quốc ngữ là đất đai phía nam đất Việt


Còn Hồ Tông Thốc viết Việt nam thế chí thì tạm hiểu là sách ghi chép các đời vua phía nam đất Việt. Vì rằng các vua triều Lý (1010-1225), Trần (1226-1400), và Lê (1428-1527) rõ ra tên nước ta là Đại Việt.


Sài Gòn: Hành trình ẩm thực 

(bút ký Trường Kỳ 2)


II-  Lan man về ẩm thực… 

Với câu hỏi: dân Sài Gòn ăn lúc nào, câu trả lời sẽ là “lúc nào cũng ăn!”. Còn ăn ở đâu? “Nơi nào cũng có!”. Vậy dân Sài Gòn thường xơi món gì? “Món gì cũng xơi ráo!”, bất kể chuột, dơi, kỳ nhông, kỳ đà, rắn, bọ cạp. Ngay đến con cóc sần sù cũng được chiếu cố để trở thành món cháo cóc độc đáo. Nền văn hoá đớp hít của Sài Gòn là như vậy.  Bất kể giờ giấc nào, từ sáng tinh mơ đến đêm hôm khuya khoắt, nếu bạn bất chợt thèm ăn thì chẳng phải là một vấn đề.

Như ở Tây, Mỹ hay Úc, Canada chẳng hạn, nhất là về khuya. Sau 9, 10 giờ tối tìm được một tiệm Việt Nam còn mở cửa kể là cũng hiếm. Trong khi ở Sài Gòn thì sáng, trưa, chiều, tối, khuya hoặc khuya hơn nữa; lúc nào cũng đầy đủ các món đáp ứng đúng nhu cầu của ông thần khẩu. Từ hang cùng ngõ hẻm, đến những nơi lịch sự, sang trọng ở khắp nơi tại Sài Gòn và các vùng phụ cận đều có thể cung ứng cho bất cứ sở thích đớp hít nào của bạn.


(bút ký Trường Kỳ 2)


Nhà giáo Hà Mai Anh &

tác phẩm Tâm Hồn Cao Thượng – 2


Vào đầu thế kỷ XVIII, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch thi phẩm Chinh Phụ Ngâm của danh sĩ Đặng Trần Côn đã lưu lại trong văn đàn Việt Nam áng thơ tuyệt tác. Thi phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn viết bằng Hán văn, vào đời Lê Trung Hưng, năm 1741, gồm 483 câu, theo thể thơ cổ phong trường đoản cú, câu dài đến 13 chữ, câu ngắn có 3 chữ. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển dịch sang quốc âm, thể thơ song thất lục bát, dài 412 câu. Qua bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, Đặng Tân Côn đưa cho danh sĩ Ngô Thời Sĩ xem và ông ta ngỏ lời thán phục: “Văn chương tới mức nầy thì Lão Ngô tôi chỉ còn biết bái phục mà thôi”. Nhờ bản dịch bằng quốc âm của Đoàn Thị Điểm, tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn mới được lưu truyền và áng thơ Chinh Phụ Ngâm gắn liền với tên tuổi nhà thơ Đoàn Thị Điểm.


Vì vậy có những tác phẩm mà bản dịch lột tả văn phong lẫn nội dung, thể hiện tinh hoa của nguyên tác cũng được nổi danh và lưu truyền qua nhiều thập niên; điển hình như tác phẩm của Edmondo De Amicis qua bản dịch của Hà Mai Anh.


(Vương Trùng Dương)


***


Phụ đính 


Vào hè nói dóc chuyện La ve (La de)


Đã từ lâu rồi anh chị em bạn bè khi gặp tôi, sau khi biết tôi đã từng làm việc tại Hãng BGI, Sàigòn, tức là Hãng Brasseries, Glacières d'Indochine, công ty chủ nhà máy nấu La De ở Chợlớn, cạnh sân vận động Cộng Hòa, đều yêu cầu tôi phải viết về La De, kể những giai thoại về La De. Câu chuyện thường được mọi người nhớ về La De, thường hỏi tôi là chuyện Chai La De lớn đặc biệt gọi là La De Trái Thơm


Theo lời đồn, trong mỗi thùng 6 chai chỉ có một chai Trái Thơm, giá đặc biệt và cũng là quà tặng đặc biệt mỗi khi có khách quý. Ai đã được uống La De Trái Thơm đều khen là ngon đặc biệt, và khen ngon hơn chai La De thường. Thiệt tình mà nói là La De Trái Thơm, La De thường, La De Quân tiếp Vụ cũng là một thứ. Vô chai có hình trái thơm thì nó Trái Thơm, vô chai thường thì nó là La De thường, gặp chai Quân tiếp Vụ thì nó biến thành La De Quân tiếp Vụ. Hãng BGI lúc ấy chỉ có nấu hai loại La De thôi: 


biere_larue

biere_331) La De thường, vào chai lớn (dung tích 66) thường gọi La De Con Cọp vì chai có cái đầu con cọp màu vàng và để nhãn hiệu Bière Larue, và… 

2) La De 33, nấu thơm hơn, độ rượu nhiều hơn, vị uống đậm đà hơn, vô chai nhỏ (dung tích 33, tên nhãn hiệu là Bière 33 Export. 


(Phan Văn Song)


Phan Văn Song sanh ngày 7-7-1942, nơi chôn nhao cắt rống của là Xóm Vạn Chài, vào hẻm 148 đường Trần Quang Khải (hẻm nằm sau đình Thành Công là một Rạp Hát Bộ, xế bên kia đường là rạp Ciné Văn Hoa). Nhà ở số 8. Quê hương ba mệ t. ở Huế. Quê nội làng Mậu Tàu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Sang Pháp du học. Năm 71, về Sài Gòn vào BGI, chức vụ Directeur Marketing. Năm 75 xập tiệm. Đi cải tạo 4 năm, ra tù bị trục xuất đi Pháp. Tác giả Phan Văn Song mất ngày 8 tháng 11 năm 2021.


***


MOI72I XEM LAI :


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét