3 thg 9, 2026

Chử Nghĩa Làng Văn Kỳ 1/9/ 2026 - Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

 Chữ nghĩa làng văn


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ Việt cổ


Nói vấy: nói bậy bạ, quay quá


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Viễn phố


Gác mái, ngư ông về viễn phố của bà huyện Thanh Quan thì phố nghĩa là bến sông


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Con cò mà đi ăn đêm

Lỡ mà bị bắt vặt lông nấu liền


Chữ Việt cổ


Tum: cái chum, đồ đựng bằng đất nung


(Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương

Trống thủng
hoxuanhuong_trongthungCủa em bưng bít vẫn bùi ngùi,
Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi,
Ngày vắng đập tung dăm bảy chiếc,
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi,
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi
Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi.
Nhắn nhủ ai về thương lấy với,
Thịt da ai cũng thế mà thôi.



Góp nhặt cát đá


Mộng


Ngày mai mơ mộng làm chi
Sẽ tàn sẽ mất còn gì nữa đâu


Cái hay cái dở của Bùi Giáng


(Bùi Giáng – tranh Trịnh Công Sơn)


Võ Phiến đã tinh tường nhìn ra vài bất cập ở cách bình luận trong hai cuốn sách, khi tác giả động đến các thi sĩ cùng thời, các bạn thơ của ông: "Khi khác, Đi vào cõi thơ (1969) của các thi sĩ cùng thời với mình, Bùi Giáng càng tỏ ra tinh quái quá lắm. Chẳng hạn về trường hợp một thi sĩ nọ – đồng hương với ông – ông nói qua nói lại một hồi, rồi ông bảo trót đánh mất tập thơ của bạn nên không trích được bài nào. 


Sau này, có dịp cầm chính tập thơ nọ trong tay, tôi loanh quanh tìm mãi không thấy có bài nào trích được! Vậy Bùi Giáng có mất sách thực chăng? Và không tìm ra cuốn sách nào khác của bạn thực chãng? Lẽ nào ba muơi nãm trước ở Việt Nam thơ ấy khó tìm hơn ba muơi nãm sau ở Mỹ? Vả lại, không chỉ có trường hợp người bạn vừa kể. Chuyện như thế xảy ra đều đều". 


Hai tác giả được Võ Phiến nhắc đến mà Bùi Giáng "chạy làng" là: Tạ Ký (trang 109, cuốn Một) và Đặng Tấn Tới (trang 168, cuốn Hai). Có thật Bùi Giáng không có sách của hai-ba người đó hay không. Cũng không cho việc cả Bùi Giáng lẫn Võ Phiến không chọn được bài thơ nào thì tập thơ đó phải dở. Nhưng nếu Võ Phiến có lý thì, xin thưa rằng bảo "tinh quái" là ông nói yêu đấy thôi.

(Đỗ Quyên)


Đừng tưởng


Đừng tưởng cứ nghèo là hèn... 

Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.


(Bùi Giáng)


Góp nhặt cát đá


Mộng 


Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng
Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không.


Chú Tư Cầu Lê Xuyên


Nha-Van-Le-XuyenTrong văn học cận đại nước ta có một số ít tác giả đã bị nhân vật của mình một sớm một chiều chiếm đoạt mất tên mình, chẳng hạn nhà văn Vũ Trọng Phụng bị (hay được) độc giả gọi là Xuân Tóc Đỏ, sau 1954 nhà văn Lê Xuyên thành Chú Tư Cầu, tên nhân vật và cũng là nhan đề tác phẩm nổi tiếng của ông.


Trong có bài thơ cùng tên Thề Non Nước, số nhân vật “sống” cùng với tác giả, và sống sau khi tác giả đã qua đời, rất hiếm. Chí Phèo sống mãi dù tác giả Nam Cao đoản mệnh (1917-1951), Anh Vọi còn như tượng đồng trên bãi biển dù tác giả Khái Hưng (1896-1947) đã bị dìm chết trên Châu Giang, Phủ Lý. Tương tự, người ta coi Phi Lạc là Hồ Hữu Tường, gọi Vũ Khắc Khoan là thần Tháp Rùa, Trần Đức Lai là Cậu Chó của văn chương nhật báo Sài Gòn. 


Nhân vật dính liền với tác giả, nhân vật không giống tác giả, nhân vật chỉ sống thôi, linh động thôi, hay, một cách nào đó, người thưởng ngoạn muốn tán dương, rằng ông đó là người đã tạo ra nhân vật đó, dù tác giả có cãi lại rằng “nhân vật đó là… nhân vật, nhân vất đó không phải là tôi!”


Chú Tư Cầu là nhan đề một truyện dài, là nhân vật đáng yêu của Lê Xuyên. Có đọc kỹ tiểu sử của tác giả Chú Tư Cầu, tác phẩm đầu tay của Lê Xuyên, 1965, mới thấy nhân vật của ông từng sống nơi đồng quê miền Nam, nơi có những Rặm (Trâm Bầu), Kinh (Cầu Muống), Nguyệt (Đồng Xoài), ít ai biết Lê Xuyên (Lê Bỉnh Tăng) là tay tham gia đảng Đại Việt cùng lớp với Phạm Thái, Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa.


Người viết bài này đã nhiều lần phỏng vấn Lê Xuyên, đăng trên Khởi Hành trước 1975 tại miền Nam, và cũng được anh mời viết truyện dài đăng trên nhật báo Quật Cường, khi anh làm tổng thư ký tòa soạn nhật báo này. Trong hồ sơ Lê Xuyên tới nay còn giữ được, tôi đã 3 lần phỏng vấn anh, một về thành phố chúng tôi đang sống (Sài Gòn), một về phụ nữ Việt Nam, một về nhà văn và tác phẩm đầu tay (Chú Tư Cầu). 


(Tháng ba nhớ Lê Xuyên – Viên Linh)


Góp nhặt cát đá


Tín


Nhất độ thất tín, vạn sự bất tin.
(Một lần không giữ lời hứa, vạn chuyện không thể tin tưởng)


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy


Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Cao Xuân Huy tôi nghĩ chính là như thế. Nó không giải thích gì với tôi, nhưng nó thôi thúc tôi không ngừng nghĩ, nghĩ thêm, nghĩ nữa, về cuộc chiến tranh mà mình mãi mãi và luôn luôn nghĩ tới.


***

Sau lần gặp nhau ở Bờ Hồ tôi không còn dịp nào gặp lại nhà văn Cao Xuân Huy. Nhưng tôi đọc được thêm nhiều hơn của anh. Có một trang thế này, viết về Tết hoà bình Quí Sửu, mà tôi lại thấy như là anh kể lại buổi tối đó của hai chúng tôi.

" ... Mới vừa choảng nhau trí mạng, nhưng sau khi hai bên đã hoàn toàn ngưng bắn, lính tráng ùa lên phía trước, ôm nhau hò hét: Hết đánh nhau rồi! Hết chiến tranh rồi. 

Cố không khóc nhưng nước mắt Toàn cứ ứa ra, không kềm được. Nhưng việc gì phải kềm chứ! Toàn mặc cho nước mắt trào. Có tiếng nghẹn ngào bên canh: "Anh khóc đấy à ?".

Toàn quay qua, một người bộ đội nước mắt cũng đang nhòe nhoẹt. Chẳng nói chẳng rằng, cả hai ôm chầm lấy nhau…”


(Bảo Ninh)


Góp nhặt cát đá


Đức


Khi tôi nằm xuống: những gì tôi xài đã mất, 

những gì tôi để lại thì người khác xài, 

tôi chỉ đem theo được những gì tôi đã cho.


Thương nhớ thầy Nguyễn Đăng Mạnh


Một hôm thầy bảo tôi: “H. nó lại vừa đánh mình đấy. Có lẽ tại mình vừa được tái bản Chân dung và phong cách. Tôi nói: “Tay ấy nó đánh thầy mãi rồi, thầy bận tâm làm gì, mà sao nó đánh thầy nhiều đến thế, thầy có hiềm khích gì không?”. Thầy lắc đầu: “Không. Không hề. Hồi “Đổi mới”, hai vợ chồng H. còn đến nhà mình chơi và chụp ảnh chung…”. “Vâng, thế thì chỉ có lý do chính trị thôi”. Thầy chua chát bảo: “Có lần mình đã phát biểu: Tôi thấy đảng dùng TMH (Trần Mạnh Hảo?), tôi thương đảng quá”.


Vào khoảng mùa thu năm 2007, thầy tiết lộ với tôi rằng thầy đang viết hồi ký. Tôi thầm nghĩ sẽ rất nhiều chuyện, vì thầy là cả một kho về chuyện các nhà văn đương đại, chẳng kém gì cụ Tô Hoài, lại nhìn bằng con mắt của nhà phê bình nữa thì đáo để lắm

Thế rồi năm sau, Hồi ký bất ngờ bị được đưa lên mạng, gây chấn động dư luận. Thầy bị đánh tới tấp. Những kẻ nịnh hót bị thầy “phang” cho thời “Đổi mới” bây giờ được dịp đánh lại thầy. Thóa mạ, quy kết, đủ trò. Có ông tiến sỹ nọ viết: “Mạnh muốn gi? Mạnh muốn tổ quốc này sụp đổ”. (Kỳ thực, trong Hồi ký, thầy chỉ nhắc lại một câu nói của một nhà văn: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ, chỉ có chưa biết nó sụp đổ theo kịch bản nào”). Đánh nhằng và đồng nhất tổ quốc với chế độ ở ai chứ ở một ông tiến sỹ học ở nước ngoài về chắc chắn không phải do ngu dốt. Một ông khác tung tin nhảm về đời tư của thầy, giải thích theo cách hoàn toàn khác. Sự đời đúng là tre lướt là cò đậu, giậu đổ bìm leo.


(Đào Tiến Thi)


Góp nhặt cát đá


Ngộ

Trải qua mấy bận long đong
Ngộ ra chẳng sắc thì không cũng đành.


Mồ côi cảm thọ mồ côi: 

Thế hệ hậu chiến hai miền Nam Bắc truy nhận nhau


Nghe Chị Thơ Thơ rủ rê, tôi hưởng ứng ngay: “Cám ơn Chị báo tin. Em vẫn còn thừa mệt thiếu giờ nên không lên các trang thường xuyên. Em sẽ đọc phản hồi và trả lời cho Lưu Thủy Hương. Rất cảm kích sự trao đổi của tất cả mọi phía. Bàn tròn Hậu hội thảo là ý kiến tuyệt vời:” Khi đăng ý kiến của Nhà văn Lưu Thuỷ Hương, Toà Soạn Da Màu đã có lời dẫn:


Ý kiến dưới đây của nhà văn Lưu Thủy Hương cho bài tham luận 40 Năm Văn Học Miền Nam Thất Thủ: 

Thế Hệ Hậu Chiến Khước Từ Thân Phận Mồ Côi của Trangđài Glassey-Trầnguyễn nên được xem như một lời chứng cá nhân cùng nỗ lực khai phá sự kết nối giữa Văn học miền Nam với các khuynh hướng sáng tác trong và ngoài nước Việt Nam sau 1975. Nếu nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong bài nhận định của ông khuyến khích những nghiên cứu ngược thời gian về cuộc đối thoại “ngầm” giữa Văn học miền Nam và Văn học miền Bắc trong thời chiến như “một phương cách thiết yếu để đẩy tới cuộc đối thoại giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hôm nay,” 


Thì Lưu Thủy Hương cụ thể hơn trong cách đặt câu hỏi với Trangđài Glassey-Trầnguyễn:

 “Ngoài sự ảnh hưởng trực tiếp của nền Văn học miền Nam tới nền văn học hải ngoại hiện nay, những nhà văn, nhà thơ ‘hưởng trọn một nền giáo dục XHCN’ như Đỗ Phước Tiến, Lynh Bacardi, Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Quốc Chánh, Bùi Chát, Lý Đợi v.v… có  mang chút ảnh hưởng nào của dòng Văn học miền Nam trước 1975 không? Đây là  “câu hỏi bạc triệu.” Nếu chúng ta khai phá tận cùng câu hỏi này, liệu chúng ta có thể thúc đẩy một cuộc đối thoại tích cực và đa nguyên giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hiện nay, hay chúng ta sẽ thấy rõ hơn những thất bại của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa và những hậu quả đã và đang xảy ra cho những người cầm bút đối lập trong nước?


Đây là tâm thư của Nhà văn Lưu Thuỷ Hương,

Thưa chị Trang Đài,

Tôi đọc bài tham luận của chị với cảm giác rất thú vị. Chúng ta cùng sanh ra trên một…

(…)

Nếu có dịp, mong chị tạo một bàn tròn cho nhóm văn sĩ trưởng thành trong lòng… “nhân dân” thảo luận với nhau. Nghen, chị. Mỗi “chúng tôi” sẽ có tiếng nói riêng.

Thân mến,

Lưu Thủy Hương


(Trangđài Glasssey-Trầnguyễn)


Góp nhặt cát đá


Ngộ 


Ngỡ chỉ là một cuộc chơi
Ngoái lại sau thấy một trời phù vân


Mồ côi cảm thọ mồ côi: 

Thế hệ hậu chiến hai miền Nam Bắc truy nhận nhau


Tôi đọc tâm thư của Lưu Thuỷ Hương với sự trân trọng, với lòng biết ơn, với hưng phấn từ một dòng văn đẹp, với xúc động chất ngất từ những tâm tình gởi gắm trong mỗi chữ mỗi câu. Bức thư đã làm tôi choáng ngợp, như một đứa con mồ côi gặp được anh chị em ruột đã bốn chục năm thất lạc.


Tôi hồi âm cho một người tôi chưa hề gặp, không biết là gái hay trai (1), không biết chút gì về người đó ngoài một số bài viết trên Da Màu và phản hồi của người đó về bài nói của tôi. Nhưng tôi viết, như viết cho một người rất thân quen tự thưở nào. Gọi là gì bây giờ? Gọi là bạn vậy. 3:33 sáng 28.12.2014, tôi nối Tình Mồ Côi từ Quận Cam qua Berlin, từ miền Nam ra miền Bắc:

Xin mến chào, và chân thành cảm ơn những câu hỏi mẫn cảm và tâm tình bao dung của Lưu Thuỷ Hương (xin phép viết tắt là LTH trong phần còn lại).


LTH đề nghị tôi tạo một bàn tròn cho văn sĩ ‘nhân dân’ Ý kiến tuyệt vời. Chính LTH đã làm điều này, với bức thư của bạn, trên mảnh đất Da Màu. Như đã trả lời cho Black Racoon, “Tôi tin nếu có một tác giả khác viết về đề tài từ một góc nhìn khác, black raccoon cũng sẽ cảm thông vì ông vốn là một người đọc đầy thiện chí.” Nên tôi rất mong có những tác giả khác viết về đề tài này qua góc nhìn khác. Rất cảm kích những trao đổi từ mọi phía.


Xin nói thêm về hai chữ ‘tôi’ và ‘chúng tôi’ ở trong bài. Trước hết, dù tin vào sức mạnh của cộng thể và những cuộc đấu tranh đại chúng, tôi không nghĩ là bất cứ ai có thể đại diện cho một ai khác. Vì vậy, trong phần 2, tôi nói về kinh nghiệm cá nhân, như một cách hướng tới những điểm chung của những người sinh sau cuộc chiến. Một cách định vị, để tìm một lối vào con đường vạn nẻo. Tôi của sáng hôm nay đã khác với tôi của chiều nay, nên không có một ‘tôi’ và lại càng không có một ‘chúng tôi.’ Chính qua bức thư của mình, LTH đã đưa ra một tiếng nói khác của ‘chúng tôi.’ Xin cho ‘tôi’ và cả ‘chúng tôi’ được nghe thêm.


Tôi nghĩ, những gì chúng ta ghi lại được và tặng cho nhau (đối với tôi, viết là một hành động trao tặng, dù “…bọn bị hút sạch máu chẳng còn chút hơi thở mà vẫn xì ra được tiếng chửi thề.” LTH, “cõi lang thang,” Da Màu) chỉ là hữu hạn từ cõi vô hạn. Nên, viết là một cách chống chọi lại cái giới hạn – và ngay cả bế tắc – của chữ nghĩa. Những suy nghĩ đi từ não, truyền qua tay, vọng lên bàn phím, biến thành chữ trên màn hình đã trãi qua mấy lượt đầu thai. Những điều thật sự muốn nói không bao giờ nằm hết trong những kết hợp trập trùng của 24 chữ cái. “Văn chương chẳng phải vì kết cuộc, văn chương chỉ đặt ra vấn đề.”.


(Trangđài Glasssey-Trầnguyễn)


Luu Thuy Huong(1) Lưu Thủy Hương sinh năm 1968 tại Sài Gòn.

Hiện đang ở Tây Bá Linh, Đức


Tác phẩm: Miên miên kỷ niệm, Phố xưa mưa bụi. 

Phố ly hương, Bay đi chim bồ câu


20 năm văn học hải ngoại 


Ở một đoạn trên, tôi có dùng mấy chữ "trong chiến tranh lạnh". Những nhận định trên của tôi cũng chỉ nói đến các nền văn học Việt Nam trong thời kỳ ấy. Khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, các nền văn học ấy khởi sự thay đổi: Hải ngoại trước chỉ có Bắc Mỹ và Tây Âu, nay thêm Đông Âu. Trong nước trước chỉ có Xã hội chủ nghĩa, nay thêm Cởi trói. Chính do biến cố chính trị ấy mà chúng ta mới có chuyện để nói. Không có biến cố chính trị ấy thì không có đổi mới hay cởi trói, cái cày văn và cái bừa thơ vẫn buộc vào vai trâu, và con trâu được vất ngang ruộng đất thì cày ngang ruộng đất, được vất dọc cải cách thì bừa dọc cải cách; con trâu vẫn là con trâu dù ruộng đất có cải cách hay không cải cách.


(Viên Linh)


Chữ nghĩa làng văn


Nam Cao, Kim Lân 



Bia - Nam Cao - GTU 1





Theo nhà văn Nhật Tuấn (em nhà văn Nhật Tiến): 

Nhà văn Nam Cao, cha đẻ của Thị Nở, Chí Phèo, giả dụ ông còn sống như các nhà văn Phùng Quá, Phùng Cung cùng thời khác, không hiểu có còn đứng vững trong cơn “tai biến” Nhân văn Giai phẩm không? Xuân Sách viết về ông đầy ưu ái:
“Em còn đôi mắt ngây thơ 
Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai 
Thương cho thị Nở ngày nay 
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo”


Trong văn học Hà Nội, Tố Hữu có tên…đao phủ thủ (cụm từ của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn gọi Tố Hữu). Và chuyện là:

Nguyễn Đình Nghi con nhà văn Thế Lữ thổ lộ: “Ông cụ tôi không hề hé ra một lời nào về hoạt động cộng sản của cụ. Nhưng khủng bố đỏ thì ghi lại và nói cho con trai ghi chép hết cả như đoàn kịch Anh Vũ của cụ đang dựng diễn ở Huế thì Việt Minh lùng bắt ông cụ để thủ tiêu (thời gian này Thế Lữ hoạt động cho VNQDĐ), may mà cụ trốn được.

Dạo ấy Tố Hữu phụ trách Xứ ủy Trung Kỳ để trừ Việt gian ghê lắm. Chính dạo ấy Tố Hữu truy sát Phạm Quỳnh (1945) và các trí thức thân sĩ khác (Nguyễn Bá Trác) suốt cả dẻo Trung bộ.


Chữ nghĩa làng văn


Chế Lan Viên


Căn phòng ông Chế có treo tấm biển “Ai vào chơi xin không ngồi quá 5 phút”. Kể cũng phải, dân văn nghệ vốn vui đâu chầu đấy cái kiểu ông Lý trưởng vào nhà ai ăn giỗ thấy ông hương kiểm , hương bạ đi qua lại gọi vào thì chủ nhà chỉ có chết. 


Tôi chưa vào đó lần nào và cũng chưa bao giờ thấy ông đến Văn nghệ Quân đội. Tuy nhiên tôi lại từng bị phê bình vì ông tội xuống các đơn vị nói chuyện thơ chỉ trích thơ ông mà  không trích thơ Tố Hữu. Chẳng lẽ bây giờ tôi lại trở thành kẻ thù số một của ông.

Một buổi tối tôi ra ga Hàng Cỏ đón một nhà văn đi Hungary về. Thời đó đi nước ngoài thường bằng tàu hỏa liên vận..Đang đứng ở sân ga tôi nhác thấy nhà thơ Chế Lan Viên đang đi bộ lững thững dọc đường ke. Tôi hiểu ra ông đi đón vợ là nhà văn Vũ Thị Thường cũng đi trong đoàn.

 

Tôi biết  ông đã đọc bài thơ tôi viết về ông. Một anh bạn kể với tôi anh đã đánh máy bài thơ  tôi viết gửi ông Chế và đề nghị ông đưa vào tuyển tập thơ mà ông đang lựa chọn. Tôi bảo anh bạn “Cậu làm thế khác gì thư nặc danh”. Anh bạn cười : “Em khoái lắm viết về ông Chế như vậy mới đã”

 

Nhà  thơ lớn thấy tôi, ông ôm vai tôi vừa đi vừa nói :

- Mình vừa đọc một truyện cực ngắn và cực hay của Pháp mình kể cho Sách nghe.


Câu chuyện như sau.Một nhà tư bản lớn nổi tiếng giàu có một lần đi nghỉ mát nhưng lại chọn một thị trấn hẻo lánh ven biển.Viên thư ký của nhà tư bản đến gặp ông thị trưởng của thị trấn nọ trình bày ý định. Ông thị trưởng vừa mừng vừa lo.Viên thư ký nói chỉ cần ông đồng ý,ông chủ tôi sẽ xây một biệt thự. Rồi biệt thự lộng lẫy được xây lên. Viên thư ký lại nói ông chủ tôi không thích màu cát trắng mà thích cát vàng, cả một dải bờ biển được đổ cát vàng. Rồi ông chủ tôi không thích nước biển màu xanh,biển lại được phun hóa chất đổi thành màu tím biếc theo ý nhà tư bản,rồi nữa ông chủ tôi không thích thứ mây lãng đãng ở vùng  trời này mà thích các khối mây hình lục lăng, bát giác. Thế là đại bác được đưa tới bắn lên trời để nén mây. Ông thị trưởng như người trong. Máy bay hạ cánh nhà tư bản đi dạo ngắm biển tím và mây nén sung sướng thốt lên : “Chao ôi  thiên nhiên đẹp như thế này mà có những kẻ chỉ lo làm giàu thì thật ngu ngốc”


(Xuân Sách)


Bia - Xuan Sach 2 - DZTiểu sử : Xuân Sách tên thật Ngô Xuân Sách. Bút hiệu khác: Lê Hoài Đăng. Sinh ngày 7.41932, tại Nông Cống, Thanh Hóa. Mất ngày 2.6.2008 tại Hà Nội.


Tác phẩm : Chân dung nhà văn

Tác giả 4 tiểu thuyết, 4 tập truyện, 4 tập thơm


Ngôi chùa thiêng lưu giữ 

“Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du


Nhưng dân gian lại có cách giải thích hợp tình hợp lý hơn - dựa theo câu chuyện về một loài diệc do trời phái xuống làm mưa cho vùng đất hạn hán lâu ngày rồi chết đi, dân thương tiếc xếp xác diệc lại thành gò, và từ gò, một ngôi chùa được xây lên được gọi là chùa Diệc... Chắc là xuất phát từ họ Diệc là họ chứa một số loài chim lội nước, từng có lúc được xếp trong bộ Hạc

Các tên gọi phổ biến của chúng trong tiếng Việt là vạc, diệc, diệc bạch hay cò. Chữ Hồng (鴻) trong từ Hồng Bàng (鴻龐) chính là để chỉ một con chim nước thuộc họ diệc. Phải chăng, đàn diệc huyền thoại kia của ngôi chùa thiêng cũng nằm trong cõi Thập loại chúng sinh mà Nguyễn Du chiêu hồn?


Các ghi chép và lời truyền miệng cho biết: Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng chừng 3 ha. Chùa có 17 pho tượng cổ, những bức đại tự lưỡng long chầu nguyệt, tòa sen, hương án, lũy cây, vườn tược, hồ sen, v.v như nhiều ngôi chùa quê... Đặc biệt có hai bia đá lớn với những hình chạm khắc tinh vi. Các đôi câu đối: Thiền môn quang phổ độ/ Vĩnh thủy viễn trường lưu ( Cửa thiền rạng sáng sự tế độ và dòng nước sông Vĩnh đón nguồn từ xa) - Nhân tâm cầu hòa lạc/ Phật pháp thượng tín trung (Lòng người cầu mong sự hòa mục và phép phật ưa chuộng điều tín điều trung )...


Phía bắc chùa là trường Quốc học Vinh thành lập từ năm 1920... Thầy trò trường Quốc học với chùa có mối liên hệ mật thiết. 


Năm 1926, tại chùa, thầy giáo Lê Thước đã phát hiện được bản in từ ván khắc gỗ duy nhất tác phẩm “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du.


(Nguyễn Anh Tuấn)


Chữ nghĩa làng văn


Hồ Xuân Hương


Qua một nhà biên khảo ở ngòai nước:

Những năm tháng ở cái tuổi hoa xuân nơi chốn dân giã, bà đã mang phong dao tục ngữ vào thơ với âm điệu gần gũi, bình dị và mộc mạc rất tài tình và dễ nhớ: Chẳng hạn như bài Mời trầu có hai câu thành ngữ xanh như lá và bạc như vôi được bà đưa vào câu thơ đừng xanh như lá, bạc như vôi


Hoặc giả bài Quan thị: đố ai biết đó vông hay trốc, còn kẻ nào hay cuống với đầu được bà ví von từ hai câu tục ngữ ngồi lá vông, chổng mông lá trốc và đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên…Rồi đến bảy nổi ba chìm với nước non của bài Bánh trôi nước….


Ngũ phụng tề phi :
Những ai ? Nơi đâu ? - 1


Niên hiệu Tự Đức XVIII, khoa Ất Hợi 1875, Nghệ An đỗ 4 TS Đỗ Hữu Chính, Đinh Nho Điển, Đinh Văn Chất, Phan Du. 


Niên hiệu Thành Thái thứ nhất, khoa Kỷ Sửu 1889, cũng Hà Nội đỗ 3 TS Nguyễn Viết Bình, Nguyễn Trung Khuyến, Nguyễn Khuê, cùng 2 PB Nguyễn Tích Trù và Nguyễn Hoan (7) (thời ấy huyện Bình Lục thuộc tỉnh Hà Nội, nay thuộc tỉnh Hà Nam). 

Niên hiệu Thành Thái thứ VII, khoa Ất Mùi 1895, Nghệ An đỗ 5 PB Hoàng Mậu, Đặng Nguyên Cẩn, Vương Đình Trân, Nguyễn Văn Chấn và Cao Xuân Tiếu (8)

Niên hiệu Thành Thái thứ IX, khoa Đinh Mùi 1907, Nghệ An đỗ 2 TS Nguyễn Đức Lý, Trần Đình Tuấn, cùng 3 PB Nguyễn Thúc Doanh, Nguyễn Thạc Tính, Phan Duy Phổ. 


Niên hiệu Duy Tân thứ IV, khoa Canh Tuất 1910, Nghệ An lại đỗ 2 TS Vương Hữu Phu, Bùi Hữu Tuỵ, cùng 5 PB Lê Trọng Phan, Nguyễn Thúc Hiên, Nguyễn Cừ, Lê Xuân Mai, Phan Vũ.


(Phanxipăng)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Ra đi gặp vịt cũng lùa

Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu…


Ngũ phụng tề phi :
Những ai ? Nơi đâu ? - 2


Rõ ràng, Nghệ An là tỉnh độc chiếm 2 kỷ lục: 4 đại khoa với số người thi đậu từ 5 trở lên, trong đó có lần 7 sĩ tử đỗ đạt cùng lúc. Như thế, có thể nói:

* Miền ngũ phụng: Hà Nội và Quảng Nam.

* Miền lục phụng: Thừa Thiên.

* Miền thất phụngNghệ An.


Ắt một số bạn đọc "hơi bị" ngạc nhiên trước những cứ liệu nêu trên. Có thể do bạn ít tài liệu tham khảo, hoặc tham khảo tài liệu nhưng ít quan tâm thống kê và đối chiếu. Gặp dịp về Huế thăm di tích Văn Thánh để xem pho "sách đá" gồm 32 tấm bia TS (9), hay chỉ cần tra cứu vài ấn phẩm liên quan được công bố gần đây như Các nhà khoa bảng Việt Nam do Ngô Đức Thọ chủ biên (NXB Văn Học, Hà Nội, 1993), Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn (sđd), v.v., bạn dễ dàng kiểm chứng loạt thông tin mà tôi vừa trưng dẫn.


Qua đó, mọi người hẳn nhất trí nhận định: cùng với đất Quảng, trên toàn quốc còn nhiều tỉnh thành xứng đáng là "miền ngũ phụng". Sẽ không ngoa khi phát biểu:

- Nếu biết tích cực phát huy truyền thống hiếu học rộng hơn nữa là chu đáo phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, thì cả Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng cất cánh... "đa phụng tề phi". 


(Phanxipăng)


 (3) Cống sinh: học trò giỏi các tỉnh xét hạch đạt kết quả tốt và cấp lương ăn học để thi tiến sĩ. Ấm sinh: con quan lại. 

(7) Con của thi sĩ Nguyễn Khuyến.

 (9) Kết quả 2 khoa tiến sĩ Mậu Tuất 1898 và Tân Sửu 1901 được khắc chung 1 bia, dựng trong khuôn viên di tích Văn Thánh ở Huế. Về khoa Mậu Tuất, bia ghi:


Thằng người có đuôi


«Nơi em về trời xanh không em... » Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử... đã bị đánh bật rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức người già. Các tay «yêu» lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành Xuân Diệu Xuân Xang Xuân... Tóc đỏ. Người ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến «yêu» cũng phạm húy, phải gọi là «tìm hiểu», người yêu là «đối tượng tình cảm» (đối tượng đoàn, đối tượng đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành «lập gia đình». Chữ «chàng» và «nàng» được cách mạng hóa thành những chữ «anh», những chữ «chị», những «gã», những «hắn» trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là «quan hệ bất chính», «tác phong thiếu lành mạnh». Ða sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm Duy dám đi cải tạo không có ngay về.


Tình yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, «hủ hóa» với nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu chuẩn «3B» (Bôn sê vích, buồng ở, bia cung cấp) để «tìm hiểu». Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng «Ðồng chí công tác ở cơ quan nào ?...»


Tôi cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo...

- Thật đúng là đồ quái dị.


(Thế Giang)


Giai thoại làng văn xóm chữ 


Một lần tại nơi Cao Bá Quát làm việc ở bộ Lễ, Quát chứng kiến một vụ cãi cọ giữa hai vị quan đồng sự, mới đầu hai người đấu khẩu nhau rồi đi đến ẩu đả. Bộ Lễ tâu lên vua Tự Đức để phân sử. Vua bắt lính dẫn cả hai bên và nhân chứng là Cao bá Quát để xét hỏi. Quát làm tờ khai sau đây, cốt để “chửi xỏ” tất cả bọn quan lại cùng làm việc ở bộ. 


Tờ khai bằng chữ nho như sau:
Tiền thần bất tri
Hậu thần bất tri
Trung gian thần tri
Đản kiến:
Thượng bàn hô cẩu!
Hạ bàn hô cẩu!
Thượng hạ giai cẩu.
Lưỡng tương đấu ẩu
Thần gián bất đắc
Thần kiến thế nguy
Thần hoảng thần tẩu.

Nghĩa là: “Trước ra sao, sau thế nào, thần không được biết. Thần đến lúc nửa chừng thấy bàn trên hô: "Chó!", bàn dưới cũng hô: "Chó!" Trên dưới đều là chó. Rồi hai bên đánh nhau. Thần can không được. Thần thấy nguy, thần sợ thần chạy”.

Vua Tự Đức đọc tới câu “Thượng hạ giai cẩu”, biết là Quát lợi dụng lời khai để hỗn xược, gọi tất cả là chó, nhưng vì lời khai đúng sự thực nên không làm gì Quát được phải cho Quát ra về.


Tên phố, tên đường


Thành phố cần thống nhất gọi là phố, là đường, là ngõ (hẻm)... Đường Hà Nội trước kia được phân biệt: phố, đường hai bên có nhà ở, cửa hàng, có vỉa hè rộng, cây to giao cành (đại lộ Gămbetta - phố Trần Hưng Đạo bây giờ), đường dẫn ra ngoài thành phố (đường Huế, phố Huế bây giờ - cuối phố đa là huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông)


Phố nhỏ: phố ngách cạnh phố lớn. Ngõ: phố nhỏ chỉ có lối vào không thông qua phố khác gọi là ngõ 1, ngõ 2 của phố lớn ở ngoài (hoặc gọi là hẻm như ở Sài Gòn)... Chúng ta có thể định lại lối gọi của ta không để lộn xộn như hiện nay, ngõ hẻm, ngõ cụt cũng gọi là phố, lại có nơi dịch chữ Xitê (cité) là xóm, cho nên giữa thành phố mới có xóm Hà Hồi (ngày trước đấy là Xitê Giôrêghibery).


Hiện nay, các thành phố đang mở thêm nhiều khu vực mới. Các huyện ngoại thành và những xã, thị trấn, huyện lỵ đang trở thành những phường phố vệ tinh của Hà Nội.


Thị trấn Cầu Giấy, thị trấn Nghĩa Đô nhiều khu nhà mới chưa được đặt tên phố, chưa có số nhà hoặc số nhà đặt ngược xuôi tùy tiện. Trương Định, Kim Giang, Giảng Võ, Thành Công, Trung Tự, Kim Liên... chỉ là tên khu vực, mỗi khu vực đang cần có tên đường. Câu tục ngữ mới hiện nay “nhà không số, phố không tên” có ý chế giễu cái Hà Nội không Hà Nội hiện nay. Ở mỗi khu vực, mỗi khối nhà khu tập thể các đường đặt tên danh nhân, đặc điểm lịch sử hay tên tạm bằng con số 1, 2, 3... thế nào tùy theo.


Vấn đề tên phố còn liên quan đến vẻ đẹp thành phố.

Không thể để cái biển phố lệch lạc, méo mó, đóng đinh vào thân cây, vào cọc, chỗ cao chỗ thấp không nhất định hoặc cả quãng dài không có biển, mất biển. Không thể trước cửa mỗi nhà tùy tiện phết phẩm xanh, đỏ ngoằn ngoèo viết số nhà to, bé và trái ngược nhau. Không thể để khối nhà, tầng nhà đánh số linh tinh vào chỗ nào cũng được.


(trích "Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè" – Tô Hòai)


Mắm rau


Nói mắm rau ai cũng nghĩ tới mắm kho. Ăn mắm kho không thể thiếu rau. Mắm kho thường là mắm cá sặc hay mắm cá linh. Kết hợp hai loại mắm nấu chung sẽ có hương vị thơm ngon thay vì chỉ sử dụng một loại mắm. 

Đất phương Nam cá mắm không thiếu nhưng ít ai kho mắm bằng mắm cá lóc, vì không ngon bằng hai loại mắm trên. 


Người ta cho rằng các loại cá da trơn nấu mắm kho sẽ béo hơn các loại cá có vảy. Cá được ưa chuộng như: cá bông lau, cá lăng, cá hú, cá ngát, cá dứa, cá kèo...Và các thủy sản như: tôm, tép, mực, ốc... Người ta kho chung với thịt ba rọi thay vì thịt nạc. Đương nhiên không thể thiếu: cà tím, khổ qua, nấm...giúp nồi mắm đậm đà hơn.


Nồi mắm kho ăn khi còn nóng với cơm hay với bún. Trên bàn không thể thiếu trái ớt hiểm, cay xé họng! Ăn mắm kho có người cho rằng phải dùng nhiều loại rau mới ngon. Tuy nhiên, những tay sành ăn mắm cho rằng rau chỉ cần 6 thứ: bông súng, rau dừa, bắp chuối bào, rau húng cây, giá, bông điên điển. Nghe tay “đạo mắm” này luận nghe cũng hợp lý làm tôi nhớ tới câu ca dao nhắc về bông súng với mắm kho gắn liền với nhau như hình với bóng từ bao đời: “Muốn ăn bông súng mắm kho/ Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm”.       


Từ nồi mắm kho “lên đời” thành lẩu mắm, món ngon dân dã. Thời còn trẻ, nhóm bạn chúng tôi thường ghé quán quen nhậu sương sương với lẩu mắm. Từ nơi xa xôi, tự nhiên thèm mắm và rau ở quê nhà. Nhớ tha thiết những món ăn dân dã từ lâu không được thưởng thức. Người miền Tây luôn gắn bó với mắm. Dù cuộc sống có nhiều thay đổi nhưng mắm vẫn còn được yêu thích. Mỗi lần đi Châu Đốc, nhìn cảnh người bu quanh các quầy mắm mua về làm quà cho người thân, sao thấy thân yêu vô cùng.


(Tuấn Ba)


Don Quixote


Tác phẩm Don Quixote đã được dịch sang rật nhiều thứ tiếng, người ta còn nói số bản dịch này chỉ đứng sau bộ Kinh Thánh. 


Don Quixote với Samurai Nhật


Trở lại xứ hoa Anh Đào, khi tác phẩm này truyền tới Nhật, một cuốn truyện tranh tựa đề "Ehon Don Kiote" do một nhà in nhỏ ở Kyoto ấn hành năm 1937 ra đời. Trong đó hoạ sĩ Nhật Serizawa Keisuke đã thuật và vẽ lại câu chuyện Don Quixote dưới hình ảnh, trang phục và cung cách của các Samurai Nhật.  

Mục đích là ban biên tập cố gắng mang đến một tầm nhìn mới về "Don Quijote", và đưa nhà quý tộc xứ Castilla của Tây Ban Nha đến Nhật Bản thời thế kỷ thứ 16 để biến thành hình tượng của chiến binh Samurai. Phiên bản giải cấu trúc này của Don Quixote, không phải là một ý thích biên tập đơn thuần, mà còn có những sự tương đồng trong quy tắc ứng xử của nhân vật, mang lại một sự tôn sùng tối thượng cho danh dự và lòng trung thành của các hiệp sĩ cũng như những võ sĩ đạo. 


Sự biến dạng được ghi nhận như Don Quijote Samurai biến thành hiệp sĩ vũ trang giáp sắt khi nhận thanh katana (kiếm samurai). Cối xay gió có được phong cách đặc trưng của Hokusai nên chúng được biến thành cối xay nước. Trong khi cuộc chiến chống lại Biscay là cuộc đấu tranh khốc liệt giữa các chiến binh Samurai và hình ảnh lý tưởng hóa của Dulcinea trở thành hình tượng tinh tế của một geisha. Bằng cách này, tất cả các nhân vật chính và tình huống của tác phẩm đã được "biến" thành các nhân vật và địa điểm của bản địa là Nhật Bản. (nguồn: Trịnh Thanh Thủy)


Thanh Tịnh: Những bước chân âm thầm


Lần theo “Tôi đi học”


Theo lời kể của những bậc bô lão trong làng, đã vào hàng “thượng thọ”, mới biết thế hệ của ông và họ thường đi học chữ Hán trước khi học chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Cậu bé Thanh Tịnh được học chữ Hán 3 năm với một vị sư chùa Ba La Mật, cách nhà ông 300 mét, nên Thanh Tịnh viết văn rất sinh động về tuổi học trò ê a câu Tam Tự kinh. Học với một vị sư hay chữ trong chốn thiền môn, ông được tiếp thụ nhiều điều lễ nghĩa.


Đi học chữ quốc ngữ, ông được mẹ dẫn đến trường trong “buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh….” Tôi lần theo trang văn ông viết: “Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quí và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa. Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.” Được bô lão thôn Tây Thượng, làng Dương Nỗ chỉ dẫn, tôi chạy xe dọc theo con sông nhỏ chảy vào chợ Phổ (xã Phú Thượng huyện Phú Vang Thừa Thiên Huế). Bây giờ con sông đã hẹp vì người ta đổ đất bán nền nhà đô thị hóa, cánh đồng cũng không còn. Nhà cửa san sát, con đường “Tôi đi học” của cậu bé Thanh Tịnh ngày xưa vẫn nhỏ hẹp nhưng được láng nhựa và đặt tên ông- đường Thanh Tịnh, nối với con đường mang tên nhà thơ Tùng Thiện Vương.

(…)

Buồn! Tôi ghé thăm ông Trần Đại Vinh- nhà nghiên cứu Huế, người cùng họ, cùng làng Dương Nỗ với Thanh Tịnh. Ông Vinh có nhiều công trình nghiên cứu về làng xã ở Thừa Thiên Huế, ông cho biết: “ làng Mỹ Lý là cái tên hư cấu. Ông Thanh Tịnh họ Trần Văn (Trần Văn Ninh) có thể là người ngụ cư trên đất Dương Nỗ thôi. Họ Trần chính gốc có 3 phái là Trần Đại, Trần Phước và Trần Văn”. Địa phận làng Dương Nỗ rất đặc biệt, bắt đầu từ Bến Cạn giáp ranh phường Vỹ Dạ, đến tận chợ Mai xã Phú Thượng, trước đây gọi là thôn Tây Thượng thuộc về làng Dương Nỗ, có đình làng, nghĩa địa và khu dân cư họ Trần đông đúc, gia đình ông Thanh Tịnh sống ở đây. Sau đó các bậc tiền bối đi thêm 5 km, đến cuối làng Nam Phổ, khai canh khai khẩn thành làng Dương Nỗ hiện nay.


Dừng lại ở giai đoạn ấu thơ và bắt đầu đi học của Thanh Tịnh, với cái mốc “Tôi đi học”, người viết bài cảm nhận trong ông tất cả văn mạch ray rứt nỗi buồn, thấp thoáng giữa ngôn ngữ và hình tượng văn chương, tạo thành nỗi rung động cho người đọc…


(Nguyễn Thanh Huệ)


Câu đối Tết


Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đem quỷ tới

Sáng mùng một, lỏng then tạo hóa, mở toang cửa cho thiếu nữ rước xuân vào


(Hồ Xuân Hương)


Đám ma Lý Toét  


Mấy hôm sau, dân trong xóm đã quên hẳn Lý Toét. Xã Xệ về uống rượu ở nhà. Cô Ba Vành đi với ông Tây mỏ. Trừ có bà Lý, đêm nào cũng sụt sịt khóc chồng.


Rút từ tập truyện ngắn Vỡ lòng,
Nxb. Đời Nay, Hà Nội, 1940

(Nguồn : chimvietfree.fr)


(Đỗ Đức Thu)


Tác giả: Đỗ Đức Thu sinh ngày 28-12-1909 tại Thái Bình, nguyên quán quê ông ở làng Mọc, huyện Thanh Trì, Hà Đông. Thuở nhỏ, ông học ở Thái Bình, ở Hà Nội, rồi bỏ học sau lần bãi khóa để tang chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Từ đó, ông viết văn. Ông gia nhập nhóm Tự lực văn đoàn năm 1936, sau lần truyện ngắn của ông được tặng giải khuyến khích của văn đoàn này và viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo Ngày Nay.. Sau 1954, ông vào Sài Gòn. Ông mất ngày 5-3-1979 tại Tân Định, thọ 70 tuổi.

Tác phẩm: Vỡ lòng (tiểu thuyết) NXB Đời Nay, Hà Nội 1940, Nhà bên kia (tập truyện ngắn) NXB Công Lực, Hà Nội, 1943, Đứa con tạp chí Thanh Nghị 1943


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Bao giờ em bước Sang ngang

Giọt lệ sầu khóc chiều hoang vắng người

Ga chiều như giọt sầu rơi  

Tầu đêm năm cũ biết người về đâu 


(Sưu tầm từ VMQH)


Hui nhị tỳ


Riêng dân chết của Nam Việt họ tự trị mỗi tỉnh một ô riêng ngăn ranh giới bằng giây kẽm gai, ý chừng để ngừa xâm lăng.

Có một bà kia người Cần Thơ mà lấy chồng là dân Biên Hòa. Khi bà mãn phần, gia đình bà bối rối hết sức không biết đưa linh cữu của bà về xứ hay về quê chồng, mặc dầu hai nơi đó chỉ cách nhau có mấy mươi bước.


Rốt cuộc người ta kết luận: Cần Thơ và Biên Hòa xa nhau không tới một cắc tiền xe thì ai nằm xứ nấy.

Ngày sau hai vợ chồng ông nầy thăm nhau chắc tiện lắm.




Bức tượng Địa tạng vương trong hình đã được đưa về 

Quan Âm Tu viện Biên Hòa khi Nghĩa địa Đô Thành bị giải tỏa .


(Bình Nguyên Lộc)


***


Phụ đính I


Vợ nhà thơ


Nhà thơ Chế Lan Viên


Chế Lan Viên trước cách mạng, có thời gian dạy học ở Đà Nẵng. Có một nữ sinh tên là Giáo rất mê. Giáo nhà giầu, gia đình không cho lấy Chế Lan Viên. Cô cứ đến ở với Chế Lan Viên, mãi đến cách mạng tháng Tám mới cưới.


Hoà bình lập lại ở miền Bắc, hai vợ chồng sống ở Hà Nội. Chế Lan Viên ốm, phải sang chữa ở Trung Quốc. Giáo ngoại tình với một tay làm báo tên là Quang. Chế Lan Viên chữa bệnh về, biết chuyện nhưng định bỏ qua. Hai vợ chồng đêm nằm đắp chung chăn, nói chuyện. Giáo nói, cái đầu của em thì thuộc về anh, nhưng thân mình em thì thuộc về Quang. Vậy là họ không trở lại

với nhau được. 


Sau Chế Lan Viên lấy Vũ Thị Thường, cán bộ phụ nữ, quê Thái

Bình, đã quá lứa lỡ thì. Thường xui Chế vào Sài Gòn ở, một là Thường có bà con di cư ở trong ấy, hai là vì vợ cũ (bà Giáo) của Chế hay đến bám quấy nhiễu, xin tiền...

Đúng là chẳng có chuyện gì dấu ông được. 


Khi Chế Lan Viên chết, Vũ Thị Thường lăn quay ra ngủ cho sướng, ngủ dậy mới khóc.


(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)


Tiểu sử : Chế Lan Viên tên thật: Phan Ngọc Hoan. Bút danh khác: Thạch Hãn. Sinh ngày 20.10.1920 tại Quảng Trị. Mất ngày 19.6.1989 tại Sài Gòn.

Tác phẩm : Tập thơ Điêu tàn (1937), Tập văn Vàng sao (1942), Ánh sáng và phù sa (1960, Hoa trên đá (1984)


***


Phụ đính II


Chữ nghĩa làng văn


Nhà văn Nhất Linh với những ấn tích 


Ông có thói quen viết làm hai bản tất cả những tài liệu quan trọng. Ngay cả lúc cuối đời thói quen đó ông cũng không bỏ. Giây phút trước khi tự kết liễu đời mình ông cũng cẩn thận ngồi chép hai bản chúc thư giống hệt nhauÐời tôi để lịch sử xử... 


Tôi nhớ tới niềm vui bèo bọt của tôi lúc ấy khi thấy ông trở lại vẻ thanh thản, tới thái độ quả quyết của ông như sẵn sàng với phiên tòa xử ông ngày hôm sau, tới việc ông lừa anh Triệu và tôi đi mua rượu cho ông uống và đôi mắt cuối cùng của ông nhìn tôi rất lạ. 

Lúc tôi sắp bước xuống cầu thang, cha tôi gọi giật tôi lại, tôi nghe ông gọi tên tôi bằng một giọng xúc động nhưng ngay lúc ấy tôi không để ý. Ông nhìn lâu vào mắt tôi, ngập ngừng đưa một cánh tay về phía trước như muốn nói điều gì lại thôi, chỉ hỏi: 

‘’Ði có 15 phút thôi à?’’.


Ðến bây giờ nghĩ lại tôi còn nhớ rõ cái nhìn của cha tôi lúc ấy ánh mắt như gửi đến tôi những điều mà ông không thể diễn tả bằng lời” (trích Niềm vui chết yểu - NTT Nguyệt san Văn Học - 1964).


(Chuyến tàu trong đêm - Nguyễn Tường Thiết)


Chữ nghĩa làng văn


Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ - 1


Sau tháng Tư, 1975, anh cũng kẹt lại như tôi và cùng vào trại tù Long Giao rồi cùng đi chuyến tàu thuỷ “lịch sử” từ Nam ra Bắc, suốt 3 ngày đêm nằm dưới hầm tàu nơi dành để chuyên chở súc vật, đúng là cảnh “cơm đưa xuống phân đưa lên” nói trắng ra là khi đến giờ cơm, bọn cai tù mắc rổ cơm vào chiếc dây thừng thòng xuống, chúng tôi đại tiểu tiện ngay tại chỗ nên lại phải thu gom phân vào bao đưa lên cho chúng mang đi đổ. Ra đến Vĩnh Phú, anh Phan Lạc Phúc nằm cùng phòng với tôi, cùng đi “nao động” phờ phạc và cùng ăn bo bo thay cơm. Những ngày Chủ Nhật nghỉ không được ăn sáng, chúng tôi đói meo, ngồi thừ nhìn nhau mãi cũng chán nên làm những quân bài mạt chược bằng gỗ đánh với nhau cho quên đói. 


Sau đó chúng tôi bị đày lên Sơn La cùng Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ và Thục Vũ chết ở Bệnh xá này, chính anh Phan Lạc Phúc báo tin đó cho tôi khi cùng làm ở vườn rau sát bên bệnh xá.


(Những chuyện xưa - Văn Quang Viết từ Sài Gòn)

Chữ nghĩa làng văn


Đám tang nhạc sĩ Thục Vũ - 2


Môt buổi chiều khi hoàng hôn gần xuống, đồi núi Sơn La bắt đầu có sương mù, chúng tôi cùng đứng lặng nhìn sang bên kia bờ ao có mấy anh lính vác súng AK đi đầu, theo sau là mấy anh tù khiêng chiếc quan tài đi trên con đường mòn vòng theo dẫy núi rồi mất hút sau khúc quanh con đường mòn nhỏ xíu. Đó là đám ma nhạc sĩ Thục Vũ. Nước mắt chảy dài, anh Phan Lạc Phúc quay mặt vào trong lấy tay áo sờn rách che giấu nỗi đau buồn tức tủi. 


Sau chúng tôi mới biết phần mộ Thục Vũ nằm trên sườn đồi cô quạnh đi vào thị xã Sơn La.

(Những chuyện xưa - Văn Quang Viết từ Sài Gòn)


mời xem ;


Chữ nghiã làng văn - Kỳ 15/8/ 2026 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét