Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn khuất đẩu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn khuất đẩu. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

23 thg 9, 2020

Khuất Đẩu

 *Lời cuối của Khuất Đẩu trước khi tạm chấm dứt loạt bài “Nghĩ vẩn vơ cuối đời”:

Bạn thân mến
Có nhiều chuyện muốn khóc mà không khóc được. Như chuyện Trà My và 38 người chết trong xe đông lạnh. Còn buồn hơn “em bé Napan”, bé Sirya và bé Phi châu.
Cả thế giới xúc động, nhưng thằng lú thằng ngoẹo không hề lên tiếng. Chỉ muốn chửi thôi, mà tôi chửi không bằng ai, nên đành thôi vậy.
Tôi rất biết ơn bạn đã đưa những “nghĩ vẩn vơ cuối đời” lên mạng,
Tôi cũng xin cảm ơn bạn đọc đã vẩn vơ suy nghĩ cùng tôi. Tôi thấy mình vẫn còn nợ bạn đọc rất nhiều. Tiếc rằng, tuổi già lại thêm bệnh tật, nên không dám hứa một điều gì.
Tôi đang ấp ủ về một truyện của những lưu dân ở Bình Định. Trở về xưa và nghĩ tới mai sau, tôi thấy dân tộc mình đâu có khác gì dân Do Thái. Nỗi buồn cố xứ vẫn còn mãi mãi.
Xin tạm biệt với tất cả lòng yêu mến.

Khuất Đẩu

🌹🌹🌹🌹

Mời xem :ÁO XƯA - Khuất Đẩu


23 thg 8, 2020

- ÁO XƯA - Khuất Đẩu

Khuất Đẩu: Viết ngắn giữa mùa COVI (5)-Trang T.Vấn và Bạn Hửu


Áo xưa dù nhàu

Cũng xin bạc đầu

Gọi mãi tên nhau

(Trịnh Công Sơn)


Áo xưa là áo cũ, chứ không phải áo của vua quan triều Nguyễn ngày xưa, bày ra khoe cho Tây mũi lõ lé mắt coi chơi. Cũng không phải chiếc áo của anh dân quê hôm qua tát nước đầu đình/ bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen/ em được thì cho anh xin/ hay là em để làm tin trong nhà. Lại càng không phải chiếc áo yêu nhau cởi áo cho nhau/ về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay!
Đó chỉ là những chiếc áo đơn sơ bình thường của những người thân trong gia đình và của chính tôi đã mặc trong những ngày tháng cũ.
Cha tôi mất sớm, nên tôi không nhớ ông mặc gì: áo trắng, áo nâu, áo vạt hò hay áo sơ mi, chỉ nhớ có mỗi chiếc áo dài lương đen ông mặc một lần khi cúng khai tâm cho tôi.
Cúng khai tâm là cái lễ của những người ngày xưa học chữ nho. Đến thời chữ quốc ngữ, vì ông và cha tôi đều biết chút ít chữ nho nên vẫn giữ lễ để mở cái tâm đang đóng kín của tôi ra, như cách những người làm tượng khai quang điểm nhãn hay vẽ mắt sau khi đóng xong thuyền. Cũng nghiêm trang trịnh trọng lắm. Nghe đâu cha mẹ tôi trước đó không được “gần” nhau, còn tôi được cúp tóc ca rê, tắm rửa sạch sẽ, thay áo mới, đứng trước bàn thờ bày giữa sân lạy ba lạy, chẳng biết lạy thần gì chỉ thấy trước mặt một con gà luộc tươm mỡ đang nằm bẹp trên một cái đĩa to tướng, cùng với mấy tô cháo và đĩa xôi giữa làn khói nhang trầm đang uốn éo bay lờ đờ.
Rồi tôi được ăn nguyên một cái đầu gà, để học cho được sáng trí và mau tấn bộ. Còn cha tôi, áo dài cũng đã cởi, đang ngồi uống rượu cùng ông tôi và bạn của ông có chòm râu dài tới ngực. Dường như họ đang cầm cái chân gà không phải để nhậu mà để coi xem thần phán thế nào về tương lai học vấn của tôi. Có lẽ đó là cái chân của con gà ăn quẩn cối xay hay bị què, nên chuyện học của tôi chẳng đi đến đầu đến đũa, cứ lẹt đẹt gần chót bảng!
Mấy tháng sau, cha tôi bệnh thương hàn mà ngày đó chưa có thuốc chữa, ông tôi chỉ biết xì xụp lạy cầu xin tổ tiên cứu giúp, còn bà tôi thì niệm quán thế âm bồ tát xin phù hộ, nên ông không qua khỏi! Chiếc áo để lại cho ông tôi mặc trong những dịp tết, cúng giỗ hay cúng đình. Áo lương đen rất mỏng và thưa, nếu chỉ mặc một mình nó thôi thì người khác thấy cà da lẫn thịt (kiểu như quý bà quý cô sành điệu bây giờ mặc áo xuyên thấu! may mà không có mốt quần xuyên thấu!) Chiếc áo mỏng quá, sợ rách không giặt nên bị dán nhấm càng lúc càng nhiều, đến một lúc nào đó không thể mặc được nữa, bà tôi đem cất kỹ trong rương, coi như kỷ vật của đứa con trai duy nhất.
Chiếc áo quen thuộc thường ngày của ông tôi lại là một chiếc áo bành tô của hải quân Pháp, được ông anh họ có một bà vợ đầm lai, khi tản cư về làng, cho. Áo dệt bằng len thô trộn với tóc, dày gấp chục lần áo lương, mùa hè mặc rất xót, nhưng mùa đông lại rất ấm. Áo có cả chục hạt nút bằng đồng đen xỉn, mỗi hạt đều có hình mỏ neo.
Ông mặc chiếc áo đó từ năm 1945 đến 1965 vẫn chưa rách. Nó chỉ bị đốt cháy cùng với ngôi nhà. Sau đó, khi làng bị đốt trụi biến thành vành đai trắng, ông lén trở về và bị trực thăng bắn chết bên hàng dậu. Phải chi còn chiếc áo ấy đắp lên mình, chắc ông đỡ lạnh khi phải nằm dưới mộ sâu!
Chiếc áo mà tôi lúc nào nhớ tới cũng muốn khóc, là chiếc áo của mẹ tôi.
Mẹ là người đàn bà khổ cực nhất trên đời mà con được biết. Cha con chết lúc em mới 3 tháng tuổi, con nghe mẹ gào chứ không khóc, rồi mẹ thảy em cho con bồng, tập buôn tập bán, chạy chợ trên xuống chợ dưới, kiếm từng hạt cơm manh áo để nuôi chúng con.
Có lần mẹ đi chợ về, trông thấy con bế em vụng về như mèo tha dưa cải, mẹ đã quăng cả gánh hàng, nhào tới bế em, mẹ thì khóc còn em và con đều cười toe vì em có sữa và con có quà!
Một lần khác, chưa kịp vào nhà mẹ đã hối “múc cho mẹ gáo nước, đi con”. Cầm gáo nước, mẹ uống như người sắp chết khát, nước vừa chảy vào miệng mẹ vừa chảy trên ngực áo cũng đang ướt vì căng sữa, trong khi lưng mẹ cũng ướt đẫm mồ hôi vì phải chạy trên đường xa dưới cái nắng đổ lửa.
Chiếc áo bạc màu ấy, không chỉ một mà rất nhiều vì cả đời mẹ tôi luôn mặc như thế, và lúc này đây tôi đang khóc vì đang viết về những chiếc áo xưa cũ của mẹ.
Một chiếc áo khác, cũng rất đơn sơ, là áo của bà tôi. Áo nhuộm màu nâu, tay áo dính vôi và nhựa cau, vì bà thường lau miệng khi ăn trầu. Chiếc áo ấy làm tôi vui mà cũng nhiều khi làm tôi sợ, mỗi khi bà leo cau bẻ buồng và bắt chim sáo cho tôi. Trên cao tít, cái dáng mong manh của bà in lên nền trời xanh, là hình ảnh xúc động nhất thường hiện ra trong những giấc mơ của tôi.
Từ khi con trai chết, bà gần như chìm khuất dưới sắc màu toàn là nâu: áo nâu quần nâu, khăn bịt đầu cũng nâu, một màu nâu mộc mạc thật buồn.
Tôi cũng hãy còn giữ một chiếc áo sơ mi, nút xương bò nhưng dệt bằng tơ tằm, gọi là đũi, rất chắc. Đó là chiếc áo được may bằng máy chứ không may bằng tay như áo mặc thường ngày. Bà đã đem bao nhiêu kén do bà nuôi đổi cho người ươm tơ để lấy đũi về may áo cho tôi, khi tôi thi đậu vào lớp 5 tức là lớp 6 cấp hai bây giờ. Kiệt Tấn được mẹ may cho chiếc quần có hai túi trông cũng le lói lắm, tôi thì áo đũi nhuộm nâu, cũng rất sang chảnh đâu có thua gì.
Đây đúng là áo xưa vì đũi lúc nào cũng nhàu nhò, hãy còn được vợ tôi cất kỹ để khoe với mấy đứa cháu nội.
Vợ tôi cũng có một chiếc áo mà tôi rất thích, áo lụa màu tím than, mặc trong dịp vợ chồng cùng được mời đi họ trong lễ cưới cháu trai một người bạn. Ngày ấy, ba vòng chưa bằng nhau, nàng 50  xúng xính bên một ông chồng già 60, trông cũng nhỏ nhắn dễ thương, nhiều người cứ tưởng lầm là gái Huế.
Không phải áo của Bác, cũng không phải áo của hoàng hậu Nam Phương, nên chẳng chiếc áo nào được cho vào viện bảo tàng. Chỉ có trái tim tôi coi như một bảo tàng tư nhân sống, được cho vào một cách nâng niu đầy thương nhớ thương mà thôi.
 Khuất Đẩu

18 thg 8, 2023

Khuất Đẩu: NỖI BUỒN MÂY TRẮNG (T.Vấn và Bạn Hửu )

                                                   Chóp Chài – Tranh: Mai Tâm

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

(Quang Dũng)

Trong các màu mây, đối với tôi, mây trắng là đẹp nhất. Nó tinh khiết, thơm tho và đẹp biết bao khi hiện ra trong đôi mắt “u uẩn chiều luân lạc” của người con gái Sơn Tây. Đôi mắt u uẩn là thực tại của người “ở thành Sơn chạy giặc về”, còn mây trắng là những ngày bình yên xưa cũ, khi “đường hoa không máu nhuộm” và Ba Vì nổi lên giữa nền trời xanh của xứ Đoài.

Có thể gọi “mây trắng” là chiếc cầu vồng chỉ có một màu trắng thanh khiết nối giữa hai ngọn núi cao, một là quá khứ thanh bình và một là hiện tại chiến chinh. Cầu vồng đó được Quang Dũng vẽ nên trong đôi mắt người Sơn Tây, tôi cho là đẹp hơn cả chiếc cầu “bạch vân” ở lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu. Phải đợi đến khi “nhật mộ” và trông thấy “yên ba giang thượng”, Thôi Hiệu mới buồn nhớ tới “hương quan”. Cũng như Hồ Dzếnh phải mượn tới khói thuốc mới nhớ tới quê nhà, mà quê thực của ông là “Tô Châu lớp lớp phù kiều, trăng đêm Dương tử mây chiều Giang Nam”, quê cha Tàu chứ không phải quê mẹ Việt Nam. Đó là nỗi nhớ của những người sống trong một xứ sở bình yên như mặt nước hồ lặng gió, đôi mắt trong vắt như dòng suối không có chút gì là u uẩn. 

Không chỉ Quang Dũng thấy mây ở quê hương mình rất trắng, nếu không muốn nói là không ở nơi đâu trắng bằng, mà những người xa quê hương, thiếu quê hương và mất quê hương đều thấy mây ở Mỹ, ở Pháp, Anh, Đức cũng đều không trắng bằng mây ở Việt Nam.

Rồi cả gió, cũng không ở đâu mát bằng!

Rồi cả nắng, cũng không ở đâu rực rỡ bằng!

Là sao vậy? Là vì yêu quá đấy mà thôi!

Và vì yêu nên con cá ở sông ở biển của quê mình cũng ngon hơn, ngay cả ngọn rau răm hay rau húng cũng thơm hơn. Có một người con gái Việt Nam lần đầu tiên trông thấy cây chuối trên đất Mỹ đã ngồi xuống ôm gốc cây mà khóc. Đâu phải thương cây chuối mà thương quê hương đã mất của mình.

 Tôi yêu bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây, càng yêu hơn khi Phạm Đình Chương phổ nhạc, nhất là khi ông đưa mấy câu “đôi mắt người Sơn Tây/ u uẩn chiều luân lạc/ buồn viễn xứ khôn khuây” vào đoạn kết. Lại càng yêu hơn nhiều lần khi nghe Thái Thanh hát, nhất là ba âm “buồn viễn xứ”, âm xứ lên cao vút như sáo diều bị đứt dây bay vút lên trời cao, bay mãi ngàn năm như “bạch vân thiên tải” của Thôi Hiệu.

Một đời cơ cực, bị ganh ghét trù dập, đến cuối đời không biết Quang Dũng đã được nghe Thái Thanh hát bài thơ phổ nhạc của mình chưa. Nếu chưa, giờ đây trên một cầu vồng mây trắng, người có tiếng hát song hành cùng thời gian thế nào cũng hát cho ông nghe.

Khuất Đẩu


 

Mời Xem :Khuất Đẩu: CHỐNG GẬY ĐẾN THĂM NHAU  

15 thg 7, 2021

Khuất Đẩu: KIẾP SAU MƠ LÀM CHỬ ĐỒNG TỬ (T.Vấn và Bạn Hửu )

 

Anh ở đây – Tranh: Thanh Châu

Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, nhẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 75, các xe xích lô ở Nhatrang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm  Ngựa Trâu!

Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía!

Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế…

Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả.

Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viễn vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một chàng đánh cá nghèo đến nỗi hai cha con chỉ có mỗi một cái quần để thay nhau mà mặc.

Thương con, lúc sắp mất, ông cụ khuyên con để lại Nhưng chàng họ Chử không nở để cha phải xấu hổ khi trình diện trước Diêm vương, nên đã chôn quần theo cha, còn mình thì cứ sống trần truồng cùng sông nước.

Nghề của chàng là lặn xuống các vực sâu, nín thở để rình bắt bằng tay những con cá anh vũ. Chúng là loài cá quý hiếm, có bộ vảy vàng óng như ráng chiều, có cặp môi dày và chắc đủ sức ngậm chặt vào khe đá ở những đoạn sông nước chảy xiết để tìm cách trở về nguồn, nên thịt rất dai và ngon.

Người ta tìm mua để tiến vua. Cá chàng bắt được thả trong lờ, người mua chỉ việc lấy cá, bỏ tiền vào là xong. Và cuộc đời chàng cứ thế lặng lẽ trôi đi từ mấy nghìn năm trước cho đến cả ngàn năm sau cũng chẳng ai buồn biết tới, nếu không có một buổi trưa lạ lùng ngẫu nhĩ.

Đó là một buổi trưa trời rất nóng, chiếc thuyền rồng của cô công chúa Tiên Dung sau khi dạo chơi trên sông Thương, con sông có hai dòng nước đục trong cùng chảy, đã đến lúc thả neo dừng lại. Đây là khúc sông rộng và đẹp, ở giữa nổi lên một cồn cát. Và, cô công chúa thường khi tắm trong những chậu bằng vàng, tuy rất đẹp nhưng chật chội, bỗng dưng muốn thử tắm giữa đất trời cao rộng.

Thế là quân sĩ vội lên bờ canh gác và các thị nữ chèo xuồng đến bãi cát quây màn cho cô thay đồ.

Đang nằm lơ mơ trên cồn, chàng họ Chữ hốt hoảng không biết trốn đâu, nên đành nằm im rồi kéo cát phủ lên mình đợi…chết.

Bọn thị nữ xong việc chèo xuồng ra xa, chỉ còn lại một mình Tiên Dung. Là công chúa nên người cô lớp lớp lụa là. Những thắt lưng hoa lý, hoa mơ, những áo mớ ba bằng gấm, áo mớ bảy bằng nhung và sau cùng là nội y bằng lụa bạch.

Giữa trưa, dưới ánh nắng trong vắt khiến người cô trong suốt, trông như ngọc Lam Điền. Một khối ngọc tinh khiết được thợ trời đẽo gọt tinh vi, bảo sao không đẹp.

Vì đây là lần đầu ngắm mình không quần áo giữa đất trời, nên cô thẹn với gió và mắc cỡ với nắng. Gió thì cứ vuốt ve chơi trò cút bắt quanh hông háng cô, nắng thì thô bạo đặt những cái hôn cháy bỏng lên vai và lưng. Nhưng mà rất vui và rất lạ. Và cô càng vui hơn khi thấy mình xinh đẹp đến không ngờ.

Thì lúc ấy, con sông êm đềm là thế bỗng dưng nổi sóng như sông Tiền Đường. Trên nền cát vàng, bỗng lộ ra không phải một con sên, hay con ốc, mà là một con mắt đen, có cái nhìn sâu thẳm.

Trải qua giây phút bàng hoàng, kinh ngạc như vừa gặp một cơn mộng dữ, nàng dần lấy lại bình tĩnh. Thay vì tra hỏi, quát tháo, nàng ra dấu bảo chàng ngồi dậy.

Chàng không thể không vâng lời, liền úp mặt xuống cát, quỳ phục để mong được tha tội chết.

Chỉ nhìn lướt qua, nàng cũng biết vì chàng không quần áo nên phải dấu mình trong cát. Và rồi nàng bất chợt hiểu hết nguồn cơn do số phận cắc cớ sắp đặt.

Lẽ ra cười thật lớn, nhưng cố giữ vẻ đài các, nàng chỉ liếc nhìn chàng rồi chỉ tay xuống sông. Chàng vâng mệnh lội trước, nàng lội sau. Khi ra đến giữa dòng, cả hai cùng lặn hụp, bơi lội tung tăng, như hai con cá anh vũ mạnh mẽ và xinh đẹp nhất.

Vậy đó, bảo sao tôi không mơ. Sao mà tôi yêu cái buổi trưa nghìn năm có một và cái bãi cát thiêng liêng đó quá chừng. Tôi chưa biết thiên đường nhưng chắc thiên đường không có buổi trưa và bãi cát nào lại thần tiên như thế.

Đương nhiên tôi yêu đến ngàn lần cô công chúa Tiên Dung, một cô công chúa xinh đẹp hơn hết thảy những cô công chúa xinh đẹp trên thế giới từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. Càng yêu hơn nữa tính thông minh, nhân hậu, tính quyết đoán mạnh mẽ, dám nắm lấy ngọn cờ đỏng đảnh của duyên số trao cho mình.

Và Chử Đồng tử, một chàng trai tốt số như thế sao lại không mơ. Tôi mơ được dấu mình trong cát chỉ chừa đôi mắt để từ dưới nhìn lên. Được nhìn người cõi tiên như thế, dẫu có bị chặt làm ba khúc ném xuống sông cũng ráng sống mà nhìn.

Chỉ mơ tới đó thôi, còn trở thành chồng nàng và cùng nàng bay về trời, thì mơ làm quái gì! Tôi thích sống ở trần gian này hơn.

 Khuất Đẩu

 (Những ngày giãn cách ngu ngốc vì covid 19, buồn và bực viết chơi.)

🌸🌸🌸🌸🌸🌸

Mời Xem Khuất Đẩu  :ÁO XƯA

Tranh Xuân Lộc

21 thg 9, 2022

Tôi Thật Sự Cảm Thấy Xấu Hổ - Khuất Đẩu

Hơn 300 năm trước, bằng 24 chữ cái và 5 dấu các giáo sĩ dòng Tên và cha Đắc Lộ đã cơ bản ghi lại trên giấy thứ tiếng “hót như chim” của người Việt.

Khuất Đẩu

Đó là cánh cửa thần kỳ mở ra cho cả Đàng Trong và Đàng Ngoài cơ hội tiếp cận với văn minh Âu châu.

Tiếc thay cánh cửa ấy đã bị đóng sập.

Phải chi các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong có được một phần mười cái tầm nhìn của Minh Trị thiên hoàng thì nước Việt Nam ta ngày hôm nay không cần phải đổ bao nhiêu xương máu mới giành được độc lập và dĩ nhiên không cần phải có một Điện Biên Phủ mới khiến cả thế giới kính phục.

Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du đã không phải viết bằng thứ chữ nôm khó đọc khó viết, nửa vay mượn của chữ Hán, nửa thêm thắt tùy tiện một cách rối rắm, thứ chữ mà giá như không có chữ quốc ngữ thì dù có ra sức đến đâu chắc chắn hãy còn một nửa nước mù chữ.

Một nước Nhật văn minh như thế, một nước Trung Hoa đang nuôi mộng bá quyền, vẫn đang loay hoay khốn khổ tìm cách La Tinh hóa thì ở ta, một đứa trẻ lớp một chỉ phải mất 3 tháng là có thể đọc thông viết thạo.

Sao mà dễ như lấy một viên kẹo trong túi.

Nhưng 300 năm trước, các giáo sĩ dòng Tên và cha Đắc Lộ không dễ như thế đâu. Trước hết họ phải học “thứ tiếng khó học khó nói như chim hót ấy”. Khó là vì những âm tiết lên bổng xuống trầm mà chỉ cần thay đổi một cái dấu trong 5 dấu là thành ra tiếng khác, chữ khác.

Chẳng những thông minh mà còn phải rất kiên trì nhẫn nại các giáo sĩ Bồ, Ý và cha Đắc Lộ mới có thể phát âm đúng, để từ đó tìm ra các ký tự. Nhận thấy các nguyên âm của la tinh không đủ, họ đặt thêm ă, â, ơ, ư. Rồi họ sử dụng các dấu huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã một cách tài tình để phân biệt các âm tiết trầm bổng.

Đồng ý, cha Đắc Lộ không phải là người phát kiến ra chữ quốc ngữ, nhưng ông là người có công tổng hợp, hệ thống hóa và sắp đặt để lần đầu tiên trên thế giới, in cuốn từ điển Việt-Bồ-La.

“Alexandre de Rhodes đã soạn cuốn từ điển khi nào? Không nghi ngờ gì nữa, trong những lần ông đến Việt Nam. Nhưng khoảng thời gian bảy năm ông ở xứ này luôn bị ngắt quãng bởi những lần đến rồi đi, từ giã rồi trở lại. Nếu lưu ý thêm rằng ông còn bị thúc bách bởi nhiệm vụ tổ chức truyền đạo và ông thường xuyên phải sống ở trong trạng thái bí mật hoặc nửa bí mật, một hoàn cảnh rất bất lợi cho công việc nghiên cứu ngữ nghĩa học, chúng ta có thể giả định, như Mục sư Bordreuil, rằng có lẽ ông đã làm cuốn từ điển trong thời gian khá dài tại Ma Cao, từ 1630 đến 1640: “Mặc dù ông không nói rõ trong các tác phẩm của mình, chúng tôi tin rằng Cha de Rhodes đã tận dụng khoảng mười năm yên ổn về tâm trí, nếu không phải để viết, thì ít nhất cũng là để đặt nền tảng cho hai cuốn sách quan trọng đối với Ki tô hữu An Nam và các nhà truyền giáo, chúng tôi muốn nói đến cuốn giáo lý và cuốn từ điển của ông. ” (Bordreuil, tr. 79) Mặt khác, thời gian ở Roma cho phép ông thực hiện thành công việc thu xếp tài chính để xuất bản tác phẩm của mình.

Cha Lèopold Cadière, người rất am hiểu vấn đề, nhấn mạnh vốn hiêu biết tiếng An Nam sâu sắc của ông: “Mọi điều liên quan đến tiếng An Nam, phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Nam Kỳ đều không phải là bí mật đối với ông… Ông còn cho chúng ta biết về thực trạng của tiếng An Nam cổ, những phong tục, tập quán ngày nay không còn và những thông tin mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác… Thêm nữa, về nghĩa của các từ, cuốn sách là một sự đảm bảo tuyệt đối, những khái niệm ngữ pháp ông thêm vào cuốn từ điển cho thấy ông hiểu biết sâu sắc về cấu trúc đôi khi rất phức tạp và tinh tế của cú pháp An Nam” (Cadière, 1915, tr. 238-39)

Cuốn “Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio”, phần tóm tắt ngữ pháp tiếng An Nam gồm 31 trang ở cuối, “đưa ra một tổng quan vắn tắt về sự vận hành của tiếng An Nam. Ông dành 6 trong số 8 chương để bàn đến vấn đề từ loại trong tiếng Việt.” (Bref aperçu sur l’histoire de l’étude des parties du discours vietnamien, tr. 143). Các chương này là:

– Chữ và âm tiết trong tiếng An Nam (Chương 1)
– Dấu thanh và các dấu của các nguyên âm (Chương 2)
– Danh từ, tính từ và phó từ (chương 3)
– Đại từ (Chương 4)
– Các đại từ khác (chương 5)
– Động từ (Chương 6)
– Các thành tố bất biến trong tiếng Việt (Chương 7)
– Một số thành tố của cú pháp (Chương 8)” *

Có thể nói đây là khởi đầu cho ngữ pháp Việt Nam.

Đành rằng ông kiên nhẫn tìm cách la tinh hóa tiếng Việt là để truyền đạo, nhưng bảo rằng ông chẳng có công trạng gì với dân tộc Việt Nam là vô ơn. Còn cho rằng ông có tội vì tìm đường cho thực dân xâm chiếm nước ta lại càng hồ đồ hơn nữa (Bùi Kha, công và tội của Đắc Lộ).

Khi các giáo sĩ dòng Tên và cha Đắc Lộ làm một công việc mà theo tôi, như Christop Colombo tìm ra châu Mỹ, các vị ấy chẳng bao giờ nghĩ rằng hậu thế sẽ ghi nhớ công ơn mình.

Nhưng biết ơn là bổn phận của mỗi chúng ta và các thế hệ mai sau. Cư xử bằng cách đem bia tưởng niệm làm bàn ăn và biến nơi đặt bia thành nơi đặt tượng tuyên truyền là hành động không xứng đáng đối với một dân tộc tự cho là có bốn ngàn năm văn hiến.

Là người có đôi chút dính líu với chữ viết, tôi thực sự cảm thấy xấu hổ.

Khuất Đẩu

 (từ tập tùy bút ” Nghĩ vẩn vơ cuối đời”)

 

21 thg 6, 2024

Để Tang Cho Sách - Khuất Đẩu

ĐỂ TANG CHO SÁCH

 Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp là cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi.

Khuất Đẩu


Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết… đứng sát bên nhau, phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà), mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một mòn tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thỏa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy cây vàng mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nỉ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm.

Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới.

Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rủ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng.

Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu. Đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biết tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy.

Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu.

Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cộng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ.

Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ.

Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên năm được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exupéry, Bùi Giáng… Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

***

Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt. Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn giấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.

Rồi hai đêm thức trắng.

Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách.

Một quyết định cháy lòng.

Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông cũng đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt.

Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẳm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục.

Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.

Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.

Đã nghe mùi mực và mùi giấy.

Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.

Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.

Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.

Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.

Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.

Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu.

Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.

Ông chết theo sách.

Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.

Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu.

Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi kiên nhẫn ngồi đợi cho đến khi tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà.

Lúc ấy, trời đã gần sáng.

Ông lặng lẽ pha trà, ngồi uống một mình.

Sau cùng ông mệt mỏi gục đầu xuống. Khi bà tôi đến lay ông dậy, mặt ông ràn rụa nước mắt chứ không phải nước trà.

Hai hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Rồi ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, bảo tôi viết nhãn để dán lên. Những hộp tro lại được xếp ngay ngắn lên kệ tủ, giờ không phơi cái gáy mạ vàng như những chàng ngự lâm quân, mà là những chiếc quách của những sinh linh vừa chết tập thể. Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.

Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, Ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.

Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.

Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng hộp tro đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi cái nhãn gợi nhớ đến màu bìa, con chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.

Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chớ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.

Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đó cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái hộp.

Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.

Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày.

Hơn ba mươi năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ.

Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lãng đãng bay về.

Khuất Đẩu

304Den – llttm- sgtc


 Mời Xem :


Khuất Đẩu

 

 Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 14) – MỘT MÌNH QUA PHỐ

27 thg 6, 2023

Khuất Đẩu: NHỮNG CON ĐÒ (Trang Nguyên Lạc Và Bạn Hửu )

                      Tranh Đỗ Duy Tuấn

Sắp qua sông Mịch La, con sông nối giữa hai bờ, bên này là trần gian, bên kia là âm phủ. Ngay cả một con chó chết bà tôi vẫn phải nhét vào miệng nó một đồng tiền kẽm để trả tiền đò. Không biết đến lượt tôi, giữa thời đại A.I này, vợ con tôi có tìm được đồng tiền kẽm nào không, nếu không chắc phải bơi qua, mà bơi giữa một bầy cá sấu, chết là cái chắc. Nhưng đã chết một lần rồi, thì chết một lần nữa, cũng đâu có sao!
Là nói chơi vậy thôi, chứ còn ngồi gõ thế này, thì chết sao được. Thây kệ lũ quỷ lái đò, chúng nó cứ dài cổ ra chờ, tôi dại gì mà gọi.
Con đò tôi muốn gọi, là con đò của những cô gái xa xưa tận những năm 50, 60 của thế kỷ trước, trên những sông Hồng, sông Hương, sông Tiền, sông Hậu…
Nguyễn Tất Nhiên, ngoắc đến mòn tay vì một nàng Bắc kỳ nho nhỏ từ trăm năm về qua sông rộng. Tôi cũng gọi hụt hơi khản tiếng, dù chưa tới trăm năm, gọi trong những chiều mưa rả rích, trong những ngày nắng chói chang, gọi ngay cả khi chạy xe qua cầu Tràng Tiền, hay ngồi trên một chiếc phà sơn xanh sơn đỏ ở Rạch Miễu.
Trần Tế Xương đêm nghe tiếng ếch bên tai/ giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò, bà huyện Thanh Quan nhớ tới lối xưa xe ngựa, nền cũ lâu đài của cố đô Thăng Long. Cả hai vị đều mượn cảnh tang thương để cau mặt với thời cuộc, tức là với Pháp và nhà Nguyễn tân triều.
Tôi thì không dám đâu, công an có mời lên uống trà, tôi cũng sẽ nói chẳng có chính chị chính em gì ráo, tôi gọi mòn hơi ná thở những cô lái đò xưa cũ, chỉ vì tôi nhớ quá. Làm sao mà không nhớ cái dáng xinh xinh khi cô rạp mình trên mái chèo, giữa bát ngát mênh mông của sông nước. Trông cô mảnh mai yếu đuối như một cành trúc la đà trong gió chiều, nhưng cũng dẻo dai mạnh mẽ trong mưa bão.
Những cô lái đò ngang là những chiếc cầu biết nói, biết cười, khách lên bờ rồi còn liếc mắt đưa theo khiến khách về đến nhà vẫn còn ngẩn ngơ. Nhờ những con đò ấy mà tràng giang không đến nỗi buồn điệp điệp, chỉ có bờ xanh tiếp bãi vàng. Đò ngang còn là mai mối cho những cuộc tình thường là dang dở và vì dang dở nên mới có một Nguyễn Bính lỡ bước sang ngang và Nhật Ngân, một anh học trò nghèo, dù đã nâng niu ân cần, sợ bến lấm ướt gót chân, sợ gió buốt trái tim mà em vẫn sang ngang bằng xe hoa hay con thuyền, khiến cho chiều nay tôi buồn!
Đò dọc miền Bắc và miền Trung, nhờ các cô mà măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên. Ở miền Nam với 9 cửa sông Cửu Long và kênh rạch chằng chịt, các cô xuôi ngược đem thổ sản, cá tôm tận những miệt vườn xa xôi đến họp chợ ở các ngã ba sông, nổi tiếng sầm uất nhất là chợ Cái Răng. Đò dọc còn là tên tiểu thuyết của nhà văn Bình Nguyên Lộc: một gia đình với 4 cô gái không còn trẻ và cũng không được đẹp, đã lần lượt đi lấy chồng, như một con thuyền chở nặng đã dỡ hết hàng, giờ thong thả xuôi dòng.
Đi dò dọc từ hạ nguồn lên thượng nguồn, là cả một trải nghiệm thú vị khó quên. Được tới những miền đất lạ, gặp những con người mới, chiều ngắm hoàng hôn trên sông, tối ngắm trăng sao vằng vặc. Lại còn được ăn cá tươi, nướng, kho hay nấu canh chua đều ngon, có thêm chút rượu tưởng không gì sướng bằng. Rồi ngủ một hơi tới sáng, đến khi chói mắt vì ánh mặt trời mới nhảy ùm xuống sông tắm, đã ơi là đã.
Xin đừng nhầm “ngủ đò” ở Hương giang hay ở bến Ninh Kiều! Chủ đò thường là các cụ già rắn rỏi có nhiều năm kinh nghiệm, nếu có dẫn bạn gái cùng đi thì chỉ ngồi mạn thuyền tâm sự chút đỉnh, chứ lạng quạng là bị ném xuống sông ngay!
Giờ, các cây cầu nhỏ, cầu to, cầu ngắn, cầu dài đều vươn những cánh tay mạnh mẽ bắc qua gần như mọi con sông, con suối…Trên bờ thì honda chạy rần rần, dưới sông vỏ lãi gắn máy đuôi tôm nổ phành phạch, đôi chiếc lại gắn loa quảng cáo ầm ĩ, nên những con sông đâu còn bình yên thơ mộng gì nữa, thơ cũng tắt nguồn thi hứng và nhạc thì chuyển qua Rap nghe cà giựt cà giựt cứ như cà lăm.
Những cô lái đò đành gác mái làm việc khác: xinh đẹp thì bưng bê hay trải drap cho khách sạn, nếu trời bắt xấu thì bán đậu phộng lép ở các bến phà. Đó là lúc chưa có các cầu dây văng, giờ Rạch Miễu và Cần Thơ điện thắp sáng trưng làm lễ thông xe, các phà cũng kéo đi chỗ khác làm nhà hàng nổi, bỏ lại cái bến một thời nhộn nhịp.
Vậy nên, những con đò nhỏ chỉ còn cắm sào đợi khách trong giấc mơ của những lão già chưa chịu chết như tôi mà thôi!
Những con đò trong mơ, trước hết phải nói tới con đò canh khuya đưa khách nổi tiếng ở bến Tầm Dương, nơi quan Tư Mã Giang Châu Bạch Cư Dị đang bị đày, đêm tiễn bạn xuống thuyền, bất ngờ nghe được tiếng đàn và tâm sự của một kỳ nữ tài danh đã hết thời, cảm được nỗi niềm của nàng cũng là của chính mình, bèn viết nên thiên tuyệt bút Tỳ Bà Hành, khiến cho thi đàn Đông phương cũng phải nhỏ lệ ướt áo cùng ông.
Phan Huy Vịnh, chuyển ngữ sang tiếng Việt còn làm tôi giật mình, không ngờ cái tiếng nôm na là cha mách qué lại kỳ diệu đến như vậy.
Tôi thử lẩm nhẩm một đôi câu:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
…
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua
Khúc tuy chưa trọn tình đà thoảng bay
Nghe não nuột mấy dây buồn bực
Nhường thở than tấm tức bấy lâu
…
Dây to dường đổ mưa rào
Tỉ tê dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy
Mâm ngọc đâu bỗng nẩy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh tơ mành gần đứt
Gần đứt nên phút bặt tiếng tơ
Ôm sầu đau giận ngẩn ngơ
Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay
…
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một bóng trăng trong vắt lòng sông

Một nhà thơ thuần Việt, gốc Bình Định cháu chắt xa xôi của nhà viết tuồng tài danh Đào Tấn là Hoàng Trúc Ly, đã có những câu thơ để đời được nhà báo nhà văn Tam Ích gọi là thiên tài mà không hề nói quá:

Tôi đứng bên này bờ dĩ vãng
Thương về con nước ngại ngùng xuôi
Những người em nhỏ bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi?

Bên này bờ dĩ vãng là cách nói của ông về hiện tại, một hiện tại xô bồ chật hẹp giữa Sài Gòn đầy xe nhà binh và lính Mỹ. Con nước ngại ngùng xuôi là dòng thời gian chảy qua giữa thời buổi không còn như xưa nữa.
Và ông ngậm ngùi thầm hỏi:

Em là em-tôi có là tôi?
Dù nghĩa thời gian ngăn cách rồi
Tôi đứng bên này lưu luyến quá
Hỡi người em nhỏ của tôi ơi!

Mượn ý thơ của ông và Vũ Đình Liên, tôi cũng muốn hỏi:

Những cô lái đò ngày xưa ấy
Hồn ở đâu bây giờ?!

5/2023

Khuất Đẩu

 

Mời Xem :

Khuất Đẩu: NGHĨ VẨN VƠ, CUỐI ĐỜI (bài 14) – MỘT MÌNH QUA PHỐ

2 thg 7, 2022

Hày Tìm Lại "Trí Thôn Ngưu" Trong Bài Thơ Của Phạm Ngũ Lão - Trần Hạ Tháp

Thuật hoài” của Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt – như một Anh hùng ca – mãi mãi còn vang danh sử Việt. Đời sau cảm nhận được tráng chí chói trời Nam, một thuở hào hùng đầy “Khí thôn Ngưu, Đẩu”.

Trần Hạ Tháp

“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu”
“Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”
“Nam nhi vị liễu công danh trái”

“Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt mà lo việc nước. Ảnh: internet

Học giả Trần Trọng Kim đã để lại bản dịch nắm bắt được phần nào nguyên nghĩa của bài thơ:

“Tỏ lòng”
“Múa giáo non sông trải mấy thu”
“Ba quân hùng khí nuốt sao Ngưu”
“Công danh nam tử còn vương nợ”
“Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

Tuy dịch giả tinh thâm Hán học chưa gạn lọc, phơi bày đầy đủ kết tinh tối hậu, song vẫn tốt hơn so đa số bản dịch khác – vô tình, do giới hạn của người dịch – làm lệch lạc nguyên nghĩa bài thơ rất đáng tiếc. Câu thứ hai – chính xác hơn tất cả chỉ gói trong ba chữ – thật đơn sơ, nhưng để gọi là ”Tỏ lòng” của Phạm Điện súy, e rằng không quá dễ dàng như ta tưởng…

Vâng, ba chữ ”khí thôn Ngưu” rất nên cẩn trọng, chính xác hơn trong nghĩa bóng để khỏi phải rơi vào các “diễn nghĩa” tầm thường, dung tục hoá làm oan uổng lập ngôn tác giả mang bản sắc anh hùng. Một nhân tài kiệt xuất mà ngay cả Hưng Đạo vương cũng hết lòng mến thương, cưng quý.

Phạm Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đối với Hưng Đạo vương, đầy đủ bốn tư cách: Thứ nhất, là thuộc tướng dưới quyền, người cộng tác đắc ý nhất, chưa bao giờ thất bại. Thứ hai, người học trò ưu tú thừa hưởng chân truyền học thuật, binh pháp do thánh sư Hưng Đạo vương khổ công tuyển tạo, kẻ vượt trổi toàn vẹn nhất trong hệ phái truyền gia Vạn Kiếp. Thứ ba, mặt quốc gia đại sự đấy là người tài đức nhắm chừng có khả năng gánh vác nhiều hơn hết những gì Hưng Đạo vương phải để lại lúc xa lánh cõi trần. Ngài hết lòng tiến cử đã đành, vua Trần còn thêm phần trân trọng. Thứ tư, trở thành con rể Hưng Đạo vương qua một thủ tục chưa từng có. Một biệt lệ sắp đặt nhằm vượt qua quy luật hoàng tộc đã an bài… Công chúa, quận chúa nhà Trần không được phép phối hôn người khác họ. Hưng Đạo vương đã làm lễ đổi họ cho con gái ruột để biến thành gái nuôi, ngài quyết một lòng có con rể Phạm Ngũ Lão bằng mọi giá – thực chất – không là người cùng họ với hoàng gia.

Tất cả những sự kiện ấy, quá đặc biệt đủ để nói lên tài năng, trí tuệ và công phu học thuật Phạm Ngũ Lão ra sao, tầm cỡ nào? Quả thực không thể chỉ đánh giá ông chung chung “Văn võ song toàn “, loại mà triều đại nhà Trần lúc này không thiếu người thành đạt… Đã có sắp xếp vị trí ông trên cả Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư và chỉ dưới Trần Hưng Đạo mà không ai dị nghị gì, dù đấy chỉ là người xuất thân ngoại tộc.

Văn chương ngày xưa mang tính ước lệ, mượn điển tích và học thuật, tư tưởng phương Đông để cấu thành thi pháp cổ điển. Đấy là việc hiển nhiên, không cách nào khác hơn nắm vững – hoặc tối thiểu đại cương – các điển tích, nhất là học thuật phương Đông trước khi dịch thuật, tuyên thuyết hoặc chê khen định luận… Đó là chưa nói tới tác giả, loại người như Phạm Điện súy ắt văn thơ tư tưởng của ông – dù ít số lượng – còn ẩn tàng dấu vết những học thuật cao đẳng – rất chuyên môn – chỉ các bậc quân sư, danh tướng, hoặc học giả căn cơ “vạn nhân hy hữu” mới mong thành đạt học thuật về Binh pháp, Kỳ môn hoặc Thiên văn quan tượng…

Trở lại với ba chữ ”khí thôn Ngưu”… Trước hết, thuật ngữ đầy đủ của chính nó “Khí thôn Ngưu, Đẩu” hoặc có khi “Khí xạ Đẩu, Ngưu” do vần điệu văn thơ đòi hỏi mà người xưa tuỳ nghi sử dụng… Ngay cả bỏ bớt chữ Đẩu như trường hợp bài thơ đang nói, cũng không làm xoá đi gốc chữ. Nhưng Ngưu, Đẩu đến từ đâu? Phải chăng đấy là hai chòm sao đặc biệt? Tại sao Ngưu, Đẩu thường đi đôi trong thuật ngữ thiên văn?

Vòng Hoàng Đạo trên bầu trời chia thành các khoảng cách tương đối không đồng đều, định vị hai tám chòm sao gọi vẫn gọi chung Nhị thập bát tú: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Trong đó vị trí thứ 8 chòm sao Đẩu, và thứ 9 chòm sao Ngưu kế cận, đi đôi. Chúng chủ trì hai “phân dã” trực tiếp liên quan phương đông bắc và đông bắc kiêm bắc, dưới mặt đất tương ứng…

Đế quốc Trung Hoa vẫn tự nhận là “Thiên triều”, là “ở giữa tinh hoa toàn nhân loại” vì thế, không lạ gì trong Thiên văn quan tượng – theo hệ quy chiếu của riêng mình – hai phân dã Đẩu, Ngưu của họ trực tiếp liên quan tới “rợ Địch” – một cách gọi trịch thượng, miệt thị đối với các lân quốc mặt bắc nói chung như Cao Ly (Hàn quốc ngày nay) chẳng hạn…

Cũng với hai chòm sao nầy theo hệ quy chiếu nước ta thì “phân dã” đông bắc và đông bắc kiêm bắc – thật trớ trêu, kỳ thú – tương ứng với ai? Nếu không là cương thổ vĩ đại của “Thiên triều”. Khi lấy Kinh thành Thăng Long làm chuẩn đặt vào trung tâm hệ quy chiếu riêng cho nước ta (để sử dụng học thuật Thiên văn quan tượng nhằm liệu định việc quân cơ trong Binh pháp)… Thì phương đông bắc và đông bắc kiêm bắc cũng là địa bàn chính Phạm Ngũ Lão được phân công, từng mấy lần làm Mông Nguyên khiếp đảm.

Ông đặc biệt được triều đình tin tưởng cử trấn thủ biên cương Hoa Việt, nhiệm vụ chặn đường rút và tiêu diệt quân thù. Cũng chính ở phương nầy Lý Quán, Lý Hằng các danh tướng của quân đội viễn chinh đã phải bỏ mạng dưới ngọn giáo kiêu hùng Phạm Điện súy. Hơn thế, Thái tử Thoát Hoan khi rút lui phải đối đầu cánh quân Phạm Ngũ Lão. Kẻ tổng chỉ huy quân xâm lược Mông Nguyên kia đã hai lần thoát chết nhờ chui ống đồng, lần khác cải trang lẫn vào tàn binh vượt biên trốn về “Thiên triều” cố quốc.

Học thuật Thiên văn quan tượng thường sử dụng hai chòm Ngưu, Đẩu để dự đoán vận mệnh anh tài, tướng soái. Án theo góc độ quan sát riêng của một nước, một địa bàn quản hạt rộng lớn… Khi thấy hai sao lu mờ, u ám bất thường do phạm phải ánh sáng sao khác bắn vào, lấn lướt gọi là “Khí xạ Đẩu, Ngưu” . Vẫn chưa tệ hại bằng ”Khí thôn Ngưu, Đẩu” không những bị lấn lướt lu mờ mà chìm khuất dưới ánh sáng sao khác trùm lên, phủ nuốt. Là lúc dự đoán sự tệ hại ở mức độ kinh hoàng. Anh tài đều tuyệt lộ. Điềm bại binh không cứu vãn.

Hãy đọc lại câu tuyệt bút văn chương, không những thế còn bao hàm một học thuật uyên bác, kinh nhân của Điện súy Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, học trò yêu quý nhất của thánh sư Trần Quốc Tuấn:

“Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”.

Vâng, quân ta như ánh sao chói lọi làm “Khí thôn Ngưu, Đẩu” – từ lâu vẫn tượng trưng cho hào kiệt, tướng soái “Thiên triều” trên bầu trời kiêu hãnh. Chữ ”thôn” – nuốt – trong thôn tính, động từ mà “Thiên triều” chưa bao giờ từ bỏ mộng áp đặt lên sơn hà cõi Việt. Với Phạm Ngũ Lão, cách chơi chữ của ông không còn bình thường như – cuộc chơi – người đời làm thơ để uống rượu tiêu sầu, hoặc thú tài điệu thi nhân lấy văn chương tỏ đôi chút tư tưởng cao xa so mấy người dung tục. Không, ông tuyệt nhiên không đứng vào hạng ấy. Hạng làm thơ dù chuyên môn rồi cũng chỉ để làm thơ.

Không chỉ qua chiến công giữ nước mà thôi, ông còn sử dụng văn chương để hiên ngang lấy lại công bằng. Phạm Ngũ Lão đã trả món nợ chữ “thôn” cho lịch sử Việt Nam, cho tự ái dân tộc và cả cho con cháu, hậu duệ – nhỡ có ai – còn tự ti về một nước Nam bé nhỏ. Với chỉ một bài thơ để lại kia – quá đủ, quá nhiều – giá trị đã tự nói, tự giải nghĩa với đời sau, rằng với ông có nhất thiết cần viết gì thêm nữa?

 Trần Hạ Tháp, (Thành nội Huế. 25 Tết Kỷ Sửu 2009)

Mời Xem :