28 thg 12, 2017

CA KỸ VÂN ANH - Đỗ Chiêu Đức

Cuối năm mời đọc một giai thoại văn chương...   

                                 CA KỸ VÂN ANH    
                                
         Theo " Đường Tài Tử Truyện " thì LA ẨN là chàng thư sinh đẹp trai, đa tài, giỏi cả văn lẫn thơ, nhưng cuộc đời lại nhiều lận đận với khoa trường, " Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy " ! ...                               
         Tương truyền, khi còn là một hàn sĩ, chàng bạch y tú sĩ này lúc  trên đường lai kinh ứng thí, khi đi ngang qua huyện Chung Lăng ( nay là huyện Tiến Hiền tỉnh Giang Tây ) quen với một nàng ca kỹ giỏi cả cầm kỳ thi họa ở Nhạc doanh là nơi dạy xướng ca nơi đó. Bẳng đi mười hai năm, chàng vẫn còn là một thư sinh lạc đệ, khi có dịp đi ngang qua Chung Lăng, chẳng hẹn mà nên, khi dừng chân nơi nhạc quán, chàng gặp lại cố nhân Vân Anh của ngày nào vẫn còn chìm nổi trong chốn phong trần ca xướng mà chưa có chỗ để yên thân. Quá xúc động cho số kiếp hồng nhan bạc phận của người xưa, và câu nói ngạc nhiên của Vân Anh khi vừa gặp lại : " Ôi, sao La Tú Tài vẫn còn là một thư sinh áo vải ?!". La Ẩn vừa cảm khái vừa xúc động mà viết một bài thơ tứ tuyệt để tặng nàng :

           贈妓雲英                   TẶNG KỸ VÂN ANH
                          羅隱                            
           LA ẨN
        鐘陵醉別十餘春,        Chung lăng túy biệt thập dư xuân,
        重見雲英掌上身,        Trùng kiến Vân Anh chưởng thượng thân.
        我未成名卿未嫁,        Ngã vị thành danh khanh vị giá,
        可能俱是不如人。        Khả năng cụ thị bất như nhân !                      
      
Inline image
CHÚ THÍCH :
* Chưởng Thượng Thân 掌上身 : là Cái thân mình ở trên lòng bàn tay. Từ dùng để hình dung thân hình yểu điệu dịu dàng của các người đẹp, theo " Phi Yến Ngoại truyện " thì nàng Triệu Phi Yến đời Hán Thành Đế có thân hình ẻo lả nhẹ nhàng đến nổi có thể múa trên lòng bàn tay của lực sĩ. Ở đây La Ẩn mượn điển tích nầy để chỉ Vân Anh là một giai nhân yểu điệu dịu dàng.
* Khanh 卿 : Nhân Xưng Đại Từ ngôi thứ 2 của ngày xưa dùng để xưng hô với những người mà ta yêu mến như : AÍ KHANH là từ của Vua gọi bề tôi hoặc phi tần; của chồng gọi vợ, ở đây La Ẩn dùng để gọi Vân Anh, người mà mình yêu mến.
* Thành Danh 成名 : là nói gọn của Công Thành Danh Toại, chỉ thi đậu hoặc hiển đạt vẻ vang.
* Cụ 俱 : là Đều.                          
    
DỊCH NGHĨA :
         Trong bửa tiệc chia tay say khước ở Chung Lăng thoáng chốc mà đã hơn mười năm rồi. Gặp lại nàng Vân Anh vẫn còn nét yêu kiều yểu điệu của năm xưa.( Nhưng than ôi ) Ta thì vẫn chưa công thành danh toại còn nàng thì vẫn chưa xuất giá.( Vì sao ?) Có phải là vì đôi ta không bằng được người khác hay chăng ?!

         Mười hai mùa xuân trước, chàng còn là một thiếu niên anh tuấn, một chàng thư sinh hào hoa phong nhã; nàng là một ca kỹ phong lưu đang độ xuân thì, cùng mến mộ nhau vì tài hoa vì tri kỷ, cùng vui say với nhau qua chữ " Tuý 醉 ". Nhưng sau " Tuý biệt thập dư xuân 醉别十余春" hơn mười năm cách biệt, chàng vẫn còn là chàng thư sinh áo vải và nàng thì đã qúa độ xuân thì, mặc dù vẫn còn nét phong lưu yểu điệu của " Chưởng thượng thân 掌上身 ", nhưng chốn phong trần phải đâu là nơi lần lựa dung thân. Nên...
       " Ngã vị thành danh 我未成名 " Ta chưa công thành danh toại cũng chẳng sao, nhưng cớ sao " Khanh vị giá 卿未嫁" Nàng đẹp đẽ tài hoa thế kia sao còn chưa có chỗ dung thân ? Nếu bảo " Bất như nhân 不如人 " là tài hoa của ta không bằng người, yểu điệu đẹp đẽ như nàng cũng không bằng người hay sao ? Thế thì tại sao ? Có thể là tại số kiếp của ta và nàng lận đận, chứ tài hoa và sắc đẹp của nàng đâu phải không bằng người; cũng như ta vậy, đâu phải tại tài hoa của ta không bằng người mà phải chịu lắm phen lạc đệ ! Sự cảm khái, bức xúc và bi phẩn dâng trào bức phá ở ba chữ " Bất Như Nhân 不如人 " của câu cuối nầy !
     Qủa là Đồng bệnh tương lân, cùng một bệnh nên càng thông cảm và thương mến nhau hơn như cụ Nguyễn Du đã nói :
                              Đoạn trường ai có qua cầu mới hay ! 

                      
Inline image

DIỄN NÔM :
                           Tặng Ca Kỹ Vân Anh


                    Say giả Chung Lăng mười năm lẻ,
                    Eo thon nàng vẫn tựa đôi mươi.
                    Ta chưa đậu đạt nàng chưa gả,
                    Có phải đôi ta qủa kém người ?!
 Lục bát :
                    Mười năm giả biệt Chung Lăng,
                Eo thon nàng đẹp như trăng thuở nào.
                    Ta chẳng đậu, nàng vì sao ?
                Đôi ta nào phải số cao thua người ?!

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

Inline image   LA ẨN 羅隱(833—909),ông là nhà thơ nhà văn ở cuối đời Đường, tự là Chiêu Gián, người đất Dư Hàng ( tỉnh Chiết Giang ngày nay ). Ông vốn tên là Hoành, vì đi thi Tiến Sĩ mười lần đều không đậu, nên mới đổi tên. Năm Đường Quang Khải, ông vào làm mạc khách cho Tiết Độ Sứ Tiền Liêu, sau chuyển qua chức Phán Quan, rồi Cấp Sự Trung. Thơ của ông thường châm biếm những hiện thực của xã hội, sử dụng nhiều khẩu ngữ bình dân, nên được truyền tụng rộng rãi trong dân gian. Tác phẩm của ông gồm có " Giáp Ất Tập ". " La Chiêu Gián Tập ".
    Sau đây là một bài thơ rất bình dân của ông được truyền tụng rộng rãi trong dân gian như những câu ngạn ngữ khuyên đời :

       自遣                           TỰ KHIỂN
                 羅隱                                  La Ẩn
得即高歌失即休,           Đắc tức cao ca thất tức hưu,
多愁多恨亦悠悠。         Đa sầu đa hận diệc du du.
今朝有酒今朝醉,           Kim triêu hữu tửu kim triêu túy,
明日愁來明日愁。         Minh nhựt sầu lai minh nhựt sầu


Dịch Nghĩa :
    Được thì hát lớn lên để vui, còn không được ( thất ) thì thôi, sầu nhiều hận nhiều thì cũng dằng dặc như thế mà thôi.
    Hôm nay có rượu thì hôm nay hãy uống cho say đi, ngày mai nếu ưu sầu có đến thì ngày mai hãy ưu sầu !
    Rất hiện thực, rất tự nhiên và cũng rất hồn nhiên lạc quan với cuộc sống, hơi sức đâu mà lo xa chi cho mệt !
    Hai câu chót của bài thơ được Tăng Quảng Hiền Văn đổi đi một chữ thành :


               今朝有酒今朝醉,       Kim triêu hữu tửu kim triêu túy,
               明日愁來明日憂。      Minh nhựt sầu lai minh nhựt ưu.


                    Nghĩa thì cũng như thế mà thôi !

Diễn Nôm :

                          Được thì hát lớn mất thì thôi,
                          Hận lắm sầu nhiều cũng thế thôi.
                          Có rượu hôm nay say với rượu,
                          Ngày mai sầu đến cứ sầu thôi !


                              
                ***
                          Được vui hát, mất xuôi cò,
                          Sầu nhiều hận lắm cũng nằm co.
                          Hôm nay có rượu hôm nay uống,
                          Sầu đến ngày mai, đến hãy lo !


                              
                                      Đỗ Chiêu Đức

Mảng tối sau sự lật đổ Nhà nước Hồi giáo (Từ Nghiên Cứu Quốc Tế )


Nguồn: Yassin al-Haj Saleh, “A Wary Return to Raqqa”, Project Syndicate, 13/11/2017
Biên dịch: Đinh Tỵ ~ Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Vào trung tuần tháng 10, Lực lượng Dân chủ Syria do Hoa Kỳ hậu thuẫn, gồm chủ yếu dân quân người Kurd có quan hệ mật thiết với Đảng Công nhân người Kurd (PKK) Thổ Nhĩ Kỳ, “đã giải phóng” thành phố Raqqa, nơi chôn rau cắt rốn của tôi, khỏi các tay súng Nhà nước Hồi giáo (ISIS). Trong khi đó, người Ả Rập vốn chiếm đa số ở đây, lại đóng góp không nhiều vào việc lật đổ ISIS. Tại một thành phố nơi cư dân bản địa từ lâu bị nếm mùi đày ải và bị xem như công dân hạng hai, việc Đảng Liên đoàn Dân chủ (PYD) – chi nhánh Syria của PKK – ca khúc khải hoàn chiến thắng đã làm người dân tại đây nơm nớp lo âu bi kịch lịch sử sẽ lặp lại.
Các nhà hoạt động tại Raqqa từ lâu đã hàm ý xem thành phố hoang phế của chúng tôi như là một “thuộc địa trong nước,” chủ yếu vì giới chính trị cầm quyền Syria bao đời nay luôn không quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của thành phố này. Đầu thập niên 1970, Raqqa, khi ấy còn nhỏ bé và xác xơ, đã hồi sinh và tiến tới đà hưng thịnh. Số học sinh đăng ký đông đúc và trường học mọc lên như nấm. Các dịch vụ công khác cũng ngày được cải thiện và các bậc phụ huynh lòng tràn trề hy vọng con em họ sẽ có được đời sống phồn vinh hơn hẳn thế hệ họ trước đây.
Đây là thực tế đối với cha mẹ tôi, vốn đã hy sinh rất nhiều để nuôi nấng 9 anh chị em chúng tôi. Lòng họ muộn phiền vì trong thập niên 1970, các anh trai tôi theo cộng sản, chống đối quyết liệt chế độ cai trị hà khắc của Hafez al-Assad, cha của đương kim tổng thống Bashar al-Assad. Nhưng đây không phải là một chuyển biến khó tưởng  tượng tại một thành phố nơi người ta hình thành những bản sắc mới – như những người theo chủ nghĩa Nasser, người theo Đảng Baath, người theo chủ nghĩa hồi giáo hay chủ nghĩa cộng sản – tất cả họ đều dần coi nhẹ nguồn gốc quê hương và xuất xứ bộ lạc của mình.
Tuy nhiên, vào thời điểm tôi bị bắt giữ năm 1980 khi đang là sinh viên đại học tại thành phố Aleppo, tương lai tươi đẹp mà cha mẹ tôi đã hằng tưởng tượng đã dần tan biến. Năm năm sau đó, đến lượt một người con trai khác của cha mẹ tôi bị bắt giam, tiếp đó là người thứ 3 bị bắt 6 tháng sau. Mẹ chúng tôi mất vì bệnh ung thư trong khi 3 anh em chúng tôi đang trong lao tù, đây không phải là trường hợp hiếm tại Syria thời điểm đó. Chúng tôi ở trong số nhiều người thuộc nhiều nhóm chính trị và ý thức hệ khác nhau bị bắt giam và bị tra tấn chỉ vì dám bày tỏ thái độ chống đối chế độ độc tài Assad. Người Syria phải chịu đựng các chính sách đàn áp hà khắc, mọi người không có quyền tụ họp hoặc thậm chí thảo luận các vấn đề bức bách một cách công khai, đất nước dần biến thành một “sa mạc chính trị”.
Mãi đến tận năm 1996 tôi mới được trả tự do khi bước sang tuổi 35. Trở về Raqqa sau 16 năm ở sau song sắt, tôi đau đớn trước những gì chế độ Assad – lúc đó đã cầm quyền được 26 năm – đã gây ra cho quê hương tôi. Đời sống chính trị không hiện hữu, tranh luận công khai bị cấm đoán, thanh niên không được bày tỏ ý kiến về những cuốn sách họ đọc hoặc bộ phim họ xem. Trước khi tôi bị ở tù, Raqqa có 3 rạp chiếu phim.Thời điểm tôi ra tù, chỉ còn lại một, nhưng thường chỉ được dùng trong các lễ cưới.
Nạn sùng bái Hafez đến lúc đó đã thay thế cho ý chí tự do của người Syria. Chân dung của cha Tổng thống Assad được treo khắp mọi nơi, trong số ấn tượng đầu tiên chào đón tôi khi tôi ra tù là một bức tượng cực lớn của vị cố tổng thống. Các bức tường được treo đầy các câu chữ nhạt nhẽo được trích từ các bài diễn văn rỗng tuếch của “nhà thông thái của đất nước.”
Raqqa bị xuống cấp thê thảm kể từ đó, và hiện trạng tuyệt vọng của thành phố hẳn sẽ còn kéo dài qua thập niên kế tiếp. Năm 2007, Abdullah Dardari, khi đó là đương kim phó thủ tướng đặc trách lĩnh vực kinh tế đồng thời là kiến trúc sư trưởng chương trình cải cách kinh tế Syria (bị chấm dứt vào năm 2011 do nội chiến) mô tả Raqqa như là thành phố từ lâu bị lãng quên. Sự xuất hiện của ISIS chỉ khiến quá trình “thuộc địa hóa” thành phố đoản mệnh của tôi tăng tốc nhanh hơn mà thôi.
Đáng buồn thay, thậm chí sau khi ISIS bị đánh bại, cảm giác bị vây hãm vẫn còn ngự trị. Lực lượng quân sự phương Tây và dân quân PYD được họ uỷ thác, vốn trung thành với các thủ lĩnh của họ ở Thổ Nhĩ Kỳ, hiện thời đang kiểm soát Raqqa. Một trong những điều đầu tiên mà PYD làm sau lễ tuyên bố giải phóng (hay chiếm đóng!) thành phố là thể hiện bản sắc ngoại quốc của họ bằng cách dựng lên bức chân dung khổng lồ của lãnh tụ PKK, Abdullah Ocalan, hiện đang bị chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cầm tù. Không một biểu tượng Syria nào được tôn vinh ngang hàng. Tệ hơn nữa, sau một chiến dịch quân sự phá huỷ 90% thành phố và cướp đi sinh mạng của khoảng 1.800 cư dân, những kẻ cai trị mới thậm chí vẫn chưa bắt đầu di dời thi thể những nạn nhân bị chôn vùi dưới đống đổ nát. Thay vào đó, những cư dân lâu nay của thành phố bị ngăn cản không cho về nhà.
Với những ai có ký ức đủ lâu, không thể nào không so sánh những kẻ cai trị hiện nay với những kẻ cai trị trước đây – chế độ Assad và Nhà nước Hồi giáo ISIS. (Tổ chức phát xít mà truyền thông phương Tây gọi là ISIS – một cái tên mang lại cho tổ chức này danh tính Hồi giáo – được thế giới Ả-rập gọi là Daesh, một cái tên được đặt ra bởi người em Khaled của tôi, người bị giam chung với tôi trong những năm 1980.)
Điều khác biệt lần này là việc xung đột sắc tộc dường như là điều không thể tránh khỏi. Các nạn nhân trước đây cũng chính là các nạn nhân mới nhất của xung đột này. Những người dân bị bóc lột, nghèo đói, không được đại diện bởi chính quyền, bị rẻ rúng, bị đối xử vô nhân đạo đang phải sống trong điều kiện thậm chí còn tồi tệ hơn, bị gạt ra bên lề đến mức chưa từng thấy. Người dân địa phương đang bị đối xử như các bộ tộc, theo mô hình thuộc địa kiểu hiện đại.
“Sự giải phóng” Raqqa không đồng nghĩa với sự giải phóng cho chúng tôi. Dân cư bị bóp nghẹt hơn bao giờ hết. Các cuộc tranh đấu trước đây của chúng tôi cho tự do và công bằng đang bị phớt lờ. Những cư dân từng chiến đấu chống ISIS và những người biến mất dưới bàn tay chúng (gồm em trai Feras của tôi, bị bắt cóc vào tháng 7/2013) vẫn đang bị mất tích. Và ISIS đóng vai trò như một “quái thú lý tưởng” cho những kẻ thực dân mới vốn háo hức tỏ vẻ ít ghê tởm hơn chúng trước đây.
Yassin al-Haj Saleh, một nhà hoạt động người Syria, viết bài cho Al-Jumhuriya.net, một tạp chí chuyên về các vấn đề chính trị được đồng bảo trợ bởi Quỹ Dân chủ Châu Âu.
Copyright: Project Syndicate 2017 – A Wary Return to Raqqa

27 thg 12, 2017

FM 974:Timor: Về Lại Mái Nhà Xưa Sau 40 Năm Bị Lính Nam Dương Bắt Cóc

Chuyện Thế Giới Trong Tuần
Thứ Hai 25/12/2017


39 năm trước, kể từ ngày Kauka lần cuối cùng đi một mình trên con đường dốc chiều đầy bụi từ trường học, chưa kịp về tới nhà, nó đã bị một người lính Nam Dương bắt cóc dẫn đi biệt tung biệt tích.

Từ đó, Kauka, đứa con gái vừa lên tám, đã không còn nhìn thấy nữa những cánh đồng cà phê xanh mướt, mấy đứa bạn cùng lớp, người hàng xóm và quê hương của mình, cô nhớ hôm ấy với sức lực yếu ớt, cô cố cắn vào vai người lính này chống lại nhưng vô hiệu. Lúc đầu người ta đưa Kauka đến một cái trại lính gần đó rồi không lâu sau, sang đảo Sulawesi của Nam Dương nơi cô đã sống và lớn lên cho tới hôm nay. Kauka bị bắt cóc năm 1978, những ngày đầu của 24 năm Nam Dương chiếm đóng đất Timor nhưng tháng rồi, giờ 49 tuổi, đứa con gái bị bắt cóc năm xưa đã trở về nhà cũ, gặp lại người mẹ già sau bao nhiêu năm trường không thấy mặt.

Con đường trở lại mái nhà xưa của cô là cả một chuỗi dài đau khổ, tuy mang tiếng là “con nuôi” nhưng Kauka thường xuyên bị gia đình người lính đánh đập, chữi bới, bắt phải nấu nướng, làm việc nhà và thêm nữa, cũng bị họ lấy tàn thuốc chích, tím bầm đầy người. Kauka bị ép phải bỏ đạo Tin Lành, đổi sang Hồi giáo và bắt đầu đội khăn choàng che kín đầu cổ, nhiều năm sau, chị của người lính Nam Dương cha nuôi này, đưa ra lời yêu cầu trối trăn, khi bà ta chết, cô phải kết hôn với chồng bà, như vậy có nghĩa là, Kauka bỗng nhiên trở thành người vợ thứ hai của anh rễ của cha nuôi, dì ghẻ của hai đứa con, một người hồi giáo ngoan đạo và một người nội trợ. Mọi việc dường như sẽ cứ như vậy mà qua đi theo năm tháng, nếu không có một tổ chức từ thiện ngoại quốc, lập ra giúp người ta tìm kiếm những đứa trẻ người Timorese bị bắt cóc, đưa về đoàn tụ với gia đình, theo bản báo cáo năm 2005 của ủy ban Tái thiết Phục hồi quốc gia Timor, có khoảng 4000 vụ bắt cóc như trường hợp của Kauka. Theo lời của Galuh Wandita, giám đốc văn phòng Công lý và Nhân quyền Á châu hay Ajar, một tổ chức phi chánh phủ, bất vụ lợi lo về việc đoàn tụ, trước kia, bất kể nơi nào có quân lính Nam Dương là có trẻ con bị bắt cóc.

Tháng rồi Kauka trở về làng Berleo là nơi mình đã sinh ra, chuyến đi của cô và một nhóm nhỏ người cùng cảnh ngộ được tổ chức Ajar đưa từ thủ đô Dili của Timor về làng bằng cái xe vận tải lớn, sau một ngày “lên thác xuống ghềnh” trên con đường dài bùn lầy, quanh co loang lở nhưng rồi cái xe lại chết máy trước khi tới làng, đám con trai trong làng ùa ra vừa đầy vừa kéo vào trong khi Kauka và những người trên xe ngồi lặng thinh nhìn, thật ra, chính Kauka cũng đã hầu như quên hết tiếng mẹ đẻ Tetum của cô rồi. Khi cô gần đến làng cũ, cái làng thứ ba trong số bảy làng trên ngọn đồi đầy sương Aileu, đám đông dân làng chạy ùa nhau ra nhìn nhìn ngó ngó, một người đàn bà trẻ đi tới bên cạnh Kauka nhìn chòng chọc, tò mò vì trong vùng ít khi nào thấy người lạ mặt. Bà ta hỏi Kauka “cô là người Nam Dương hay người Ti - Mo” bằng tiếng Nam Dương, Kauka cho biết “cô là người Ti - Mo nhưng sống ở Nam Dương”, bà kinh ngạc “sống ở bên đó bao lâu rồi”, Kauka buồn buồn “gần 40 năm”, người đàn bà lúc bấy giờ gục gặt đầu bực bội “đám quân lính hả”, Kauka gật đầu muốn khóc “đúng rồi quân lính”, rồi thì họ hiểu nhau sau câu trả lời này.

Mặt trời sắp lặn xuống bên kia rừng, cuối cùng chiếc xe vận tải ngừng lại ở làng Berleo, dân trong làng kéo nhau ra gặp vì nghe tin Kauka trở lại nhà và nhiều người trong số này là bạn học cùng lớp ngày đó, Kauka xem ra chết trân, không nói được tiếng nào, có vẻ không nhớ họ là ai cả, cô cũng không tin người đàn ông, gặp cô tại phi trường Dili khi người hướng dẫn của tổ chức Ajar đưa tới, xưng là em trai của mình mấy ngày trước đây. Em trai cô, là một sĩ quan cảnh sát, vượt qua hàng rào cản của nhân viên an ninh phi trường, cố ôm lấy cô, anh ta còn nhớ tên con chó của Kauka, có cái miệng rộng và đôi mắt lớn đen tuyền y hệt Kauka, nhưng cô lại không nhìn em mình. Sau đó dưới bầu trời đầy sao, cả làng theo Kauka từ xe về tới nhà cô, người đàn bà già, quấn mình trong tấm vải bạc màu ra mở cửa, Kauka ngại ngùng ôm lấy bà và cả hai cùng ngồi nhìn nhau dưới ánh sáng trong xanh của ngọn đèn nê – ông treo trên trần nhà, bất chợt cô nhớ ra diều gì đó, cô cầm lấy hai bàn tay của bà, mắt Kauka vụt sáng lên, trong bàn tay còn hiện rõ vết xẹo lớn, mẹ cô ngày trước đã bị gãy bàn tay khi cô còn nhỏ xíu, vết xẹo đó là cái mà cô nhớ hoài kể từ ngày người ta đưa cô xuống tàu, đi chuyến đi không về tới Nam Dương. Kauka buột miệng vui mừng trước đám người “đây là mẹ tôi, đây là mẹ tôi”. Nước mắt bà tuôn tràn trên mặt, và hai người ôm lấy nhau lần nữa, lần này chặt hơn, rồi cùng khóc, nếu đây là mẹ của Kauka, thì kia là em và ở một góc nhà cô em dâu, đứa bé gái hai tuổi đứng bên là cháu và những người đang có mặt chung quanh, đúng rồi là người Ti – Mo của mình.

Đêm đó cùng với Kauka còn mười lăm người nữa bị bắt cóc từ khi còn là đứa trẻ cũng với nước mắt chan hòa, tiếng nấc tiếng nghẹn gặp lại người thân trên khắp cái đất nước nhỏ bé Timor sau hơn ba bốn thập niên dài biền biệt. Những người này hiện giờ sống ở Java hay Sulawesi, làm nghề nông, lao động, công nhân xưởng ghe tàu, một số đã có tên mới và theo đạo Tin lành. Chính quyền Nam Dương, thời Suharto, chiếm đóng đông Timor từ năm 1975 tới 1999, quân đội Nam Dương bị tố cáo đã gây ra những vụ tra tấn, hãm hiếp, đói khát, tàn sát và bắt cóc trẻ con, nhất là con trai bị bắt cầm súng làm lính. Ajar, một tổ chức phi chánh phủ, chuyên tìm kiếm tội phạm hình sự trên khắp vùng đông nam Á châu, đã mang tổng cộng 57 đứa trẻ bị bắt cóc về đoàn tụ với gia đình. Trong tháng này, các chuyến đưa những người bị bắt cóc về Timor bắt đầu ở Dili, nơi đây họ gặp nhân viên chính quyền Timor và người đại diện cho tổ chức nhân quyền, chào đón và làm thủ tục để tái phục hồi quốc tịch Timorese.

Nhưng dường như nói dễ hơn làm, hầu hết những đừa trẻ bị bắt cóc ngày đó bây giờ quá nghèo, không có tiền mua vé máy bay, quên cả tiếng mẹ đẻ Tetum nên bị trở ngại trong việc hội nhập với cộng đồng chung quanh, bên cạnh đó, Timor vẫn còn là một quốc gia non trẻ, dân số không hơn 1 triệu 300 ngàn người, hạ tầng kiến trúc, cơ sở gần như không có gì cả và những sinh hoạt hàng ngày theo cách sống người Nam Dương hơn là Timor. Gia đình của những người có con bị bắt cóc được thông báo, cho người thay mặt gia đình đến gặp lại họ khi máy bay đáp xuống, một người đàn ông tên Maritu Fonkesa, ở đảo Sulawesi, khóc sướt mướt, ôm chầm cháu gái mình. Người đàn ông khác, Marsal Cimenes, ngồi lẻ loi bên tường rầu rầu chờ, nghĩ chắc không ai tới đón nhưng không lâu sau người đàn bà, bà dì của ông đến, bà dẫn ông vào phòng chờ đợi, ngồi bên nhau mừng rơi nước mắt, và hai đàn ông này, chỉ mới gặp nhau vài ngày trước giờ nhận ra rằng, họ không chỉ là đôi bạn mới quen thôi mà còn là người trong gia đình, họ là anh em bạn dì và sẽ cùng về nhà chung với nhau ở một cái ấp nhỏ gần dốc đồi làng Maubisse.

Tại một cái làng khác gần làng Maubisse, Miguel Amaral, một trong mấy người lớn tuổi nhất trong chuyến trở lại Timor, ngồi bên cạnh người anh bà con trong căn nhà đá màu xám nhỏ, lính Nam Dương đã đổi tên ông là Untung, có nghĩa “may mắn”, họ gọi vậy là vì ông đã bị bắn ba lần mà không chết, ông vẫn còn mang theo mình trên đường về, tấm hình người lính bắt cóc ông, phai màu cũ mèm trong 40 năm qua. Ông ngại ngùng cho rằng không cảm thấy may mắn lúc đó nhưng có lẽ bây giờ thì đó là điều may mắn thật.

Từ một người lạ ngập ngừng tới một đứa con gái của bà mẹ già, Kauka trìu mến gọi tiếng mẹ sau vài giờ trở lại nhà xưa, bằng tiếng Metum đứt quảng, phát âm trài trại, Kauka cười nói với người quen quanh mình trong lúc vừa chấm miếng bánh mì Bồ Đào Nha vào tách cà phê trên bàn “chắc là bạn không nhớ bất cứ cái gì về mẹ mình khi chỉ là một đứa trẻ con nhưng với cô thì nhớ rất rõ, tại sao vậy, bởi vì cô phải nhớ”.

 Thuyên Huy

Monday 25.12.2017

Lối sống, tên gọi mới của giáo dục đạo đức ở bậc tiểu học

Lê Phú Khải

(Bài phát biểu ở Hội thảo “Hành trình 8 năm của Nhóm Cánh Buồm” ngày 16/12/2017)

Xưa kia, một người mẹ dắt con đến nhà thầy để xin học, thường mở đầu: Ăn mày thầy dăm chữ để cháu làm người...

Vậy là, từ thuở bình minh của lịch sử dân tộc, ông bà xem mục đích cao nhất cao nhất của giáo dục là học-để-làm-người, để lớn lên đứa trẻ biết cư xử với cộng đồng như một con người có giáo dục, về đạo lý làm người.

Cái đạo-lý-làm-người ấy, được gia cố hàng ngàn năm ở nước ta, nó có tên gọi là Đạo đức. Do ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo, khái niệm đạo đức bao gồm: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo chồng vợ. Đức bao gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Thường được gọi là: Tam cương ngũ thường.

Thật là trớ trêu, hai đứa bạn đi học với nhau, một đứa trượt chân ngã xuống suối, đứa kia có đủ cả năm đức: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Nhưng không dám nhảy xuống suối cứu bạn!

Vì thế, Cụ Hồ trong 5 điều dạy thiếu niên nhi đồng, có một điều là: ... thật thà, dũng cảm! Không có dũng, người ta không dám làm việc nghĩa; không có dũng, không dám xả thân cứu bạn; không có dũng, Nhóm Cánh Buồm không dám soạn sách giáo khoa!

Thế giới đang thay đổi như vũ bão. Thế kỷ 21 chúng ta đang sống đã bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, được gọi tắt là cách mạng 4.0. Làm chủ một đống tài sản khổng lồ, nhưng loài người đang đứng trước hiểm họa khủng khiếp: Trái đất đang nóng dần lên, dẫn đến nước biển đang dâng cao, không khí bị ô nhiễm nặng nề ở nhiều nơi trên trái đất, nạn khủng bố gia tăng, di dân ồ ạt, mâu thuẫn tôn giáo sắc tộc không giảm, Bắc Triều Tiên đang phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân bất chấp sự cảnh báo của phần còn lại của thế giới, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Hà Nội vừa bị ca sỹ Mai Khôi giương biểu ngữ đòi: “Đái vào Trump”.

Chúng ta giáo dục cho trẻ em đạo đức gì đây trong cái thế giới đang quay cuồng đảo điên này?

“Lối sống đồng thuận”, đó là nguyên lý đạo đức đã được Nhóm Cánh Buồm trịnh trọng triển khai thành từng bài học trong 5 tập sách giáo khoa: Lối sống 1, 2, 3, 4, 5 cho bậc tiểu học sau 8 năm lao động nghiêm túc.

Trong lời nói đầu: “Cùng bạn đọc sách”, nhóm biên soạn Cánh Buồm “Mong bạn dùng sách chú ý thực hiện đường lối không theo lối giảng giải mà chỉ tổ chức việc tự học của trẻ em”. Nhà giáo Phạm Toàn, người sáng lập nhóm Cánh Buồm cho rằng: Tất cả các lời khuyên đều vô nghĩa, hãy để các em tự tìm ra lối sống!

Vẫn theo nhóm Cánh Buồm, thì một lối sống mới của trẻ em được hình thành theo một trục chính là năng lực sống đồng thuận. Thông qua trẻ em, chúng ta mới có thể thay đổi xã hội trong tương lai.

Bài học đầu tiên của sách Lối sống 1 là: Em đã lớn!

Hàng loạt vấn đề đặt ra cho các em là khái niệm thế nào là đã lớn? Các em thảo luận, lựa chọn, các em tự triển lãm để cho thấy các em đã lớn! Để đi đến kết luận là nhìn từ bề ngoài thì các em đã lớn... khi được bế từ nhà hộ sinh ra... Cho đến lúc vào lớp 1.

Nhưng “lớn” thực sự thì còn những gì nữa? Ta có thể thấy điều đó qua lần lượt 5 tập sách Lối sống cho cấp tiểu học của Cánh Buồm theo các chủ đề: Cá nhân, cộng đồng, gia đình, Tổ Quốc, nhân loại.

Ngay từ lớp 1, các em đã phải sống và hành động trong tư cách một cá nhân độc lập. Tự lập từ sáng sớm khi ngủ dậy cho tới lúc tắt đèn đi ngủ. Nguyên lý đồng thuận xuyên suốt 5 tập sách, có nội dung là cùng lao động, tôn trọng những giá trị của nhau và cùng tháo ngòi xung đột. Lối sống đồng thuận đó được thể hiện thành năng lực sống hàng ngày, thành hành vi trong đời sống thực.

Tôi cho rằng, Đồng thuận từ một lớp học mà nhóm Cánh Buồm nêu lên, còn mang cả đặc điểm và yêu cầu lớn lao của thời đại chúng ta, khi con người đã chế tạo ra cả một kho vũ khí hạt nhân đủ để tiêu diệt sạch sành sanh sự sống trên hành tinh này! Tôi cảm ơn nhóm Cánh Buồm về tư tưởng sống đồng thuận, và cũng hy vọng các bạn trong khán phòng sang trọng này đồng thuận với tôi.

Đọc bộ sách Lối sống, tôi rất cảm động với một chi tiết sau:

Ở trang 36 của sách Lối sống cho các em lớp 1, trước khi ăn trưa ở trường, cô giáo đề nghị các em mời nhau cùng ăn cơm bằng câu ca dao: “Ai ơi bưng bát cơm đầy; Dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần!”. Thật giản dị, nhưng thật là vĩ đại! Nếu tất cả chúng ta trước khi ăn đều mời nhau như thế thì nạn tham nhũng lãng phí đang tàn phá đất nước ta sẽ bị... đẩy lùi!

Từ lớp 1, con người cần có lối sống tiết kiệm. Môi trường sẽ bị hủy hoại nếu các chính phủ cứ tiếp tục bịp bợm dân chúng bằng chỉ số tăng trưởng GDP làm thước đo cho sự phát triển của đất nước (!).

Cuộc sống hạnh phúc vật chất và tinh thần của nhân dân mới là chỉ tiêu đích thực của sự phát triển đất nước. Sống khiêm nhường với trời đất mới còn trời đất để mà sống.

Mảnh đất chúng ta đang sống hôm nay là đất mượn của các thế hệ mai sau. Vì thế, phải trả lại cho chúng đất đai phì nhiêu và bầu trời trong sạch. Vì thế mà Cánh Buồm chủ trương tổ chức cho các em lối sống khiêm nhường mới mong có tương lai tươi sáng.

Chúc các bạn có tương lai tươi sáng.

Hà Nội 16/12/2017

clip_image002

Nhà giáo Phạm Toàn chủ trì Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

clip_image004

Giáo sư Ngô Bảo Châu phát biểu trong Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

clip_image006

Nhà báo Lê Phú Khải đọc tham luận trong Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

L. P. K.

Bản hùng ca trong rừng thẳm

(bộ phim hiếm hoi của Pháp làm năm 1927 về cuộc sống giữa thiên nhiên hoang dã của người Đông Dương)

Bản hùng ca trong rừng thẳm

AMAZING CALENDER 2018

(Thiệp của Blog Tin Game )

26 thg 12, 2017

Dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi ( 阮廌), bài "LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC"

Nguyễn Trải(1380-1442) là một nhà thơ, nhà chánh trị, sống dưói thời nhà Hồ và nhà sơ Lê . Thi đậu Thái Học Sinh năm 1400, ra làm quan cho nhà Hồ. Khi nhà Minh sang xăm lăng nước ta, cha ông là Nguyễn Phi Khanh không đầu hàng giặc nên bị bắt giải về Tàu. Nguyễn Trãi đi theo tiễn cha đến ải Nam Quan thì cha ông khuyên ông trở về lo việc phục thù báo quốc. Khi quân Mình đặt nền cai trị lên đất nước Đại Ngu, Nguyễn Trãi theo phò Lê Lợi kháng chiến chống quân xăm lược, ông trở thành một nhà quân sư bày mưu tính kế đánh giặc đồng thời soạn thảo lời kêu gọi toàn dân nổi lên kháng chiến .  Ngoài ra ông còn soạn văn thư ngoại giao với quân Minh. Sau khi kháng chiến thành công , vì không chịu nổi bọn gian thần hãm hại, ông xin vua trừng trị bọn họ, vua không nghe , ông từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn. Năm 1442 toàn thể gia đình ông bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên.
Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn có công xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc. Trong bài thơ có nói tới giai đoạn 10 năm lưu lạc của ông ( từ sau năm 1407 cho tới lúc yết kiến Lê Lợi), vẫn còn là một câu hỏi. Cho tới nay cũng chưa có tài liệụ nào xác minh rõ thời gian đó ông ở đâu làm gì. Còn Nguyễn Trãi thì đề cập nhiều tới thời gian "Mười năm lưu lạc" nơi góc biển chân trời trong các sáng tác thơ văn, cho nên con số 10 năm coi như một biểu tượng có giá trị tương đối. Hình ảnh 10 năm phiêu bạt cũng được Nguyễn Du tiên sinh lập lại trong cuộc đời của mình bằng tên gọi là "10 năm gió bụi", từ 20 đến 30 tuổi(1786-1796). Gia phả và sách vở giáo khoa trăm năm qua lại viết 10 năm đó ông sống tại quê vợ.
 Theo TS. Phạm trọng Chánh thì Nguyễn Du có thời gian ba năm yêu cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai nơi Gác Tía cạnh đền Khán Xuân, rồi lại về Hồng Lĩnh, bị quận công Thận Tây Sơn giam 3 tháng vì toan vào Nam theo chúa Nguyễn Ánh. Nguyễn Du ra Thăng Long trong cuộc tình lỡ làng,người yêu đã đi lấy chồng anh Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du tìm đến nhà người bạn văn chương Đoàn Nguyễn Tuấn rồi mới về Quỳnh Hải, Thái Bình cưới vợ chấm dứt "10 năm gió bụi".
Sau đây là bài thơ của Nguyễn Trãi :

Nguyên tác:     Phiên âm Hán Việt:
亂後到崑山感作   Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác

一別家山恰十年   Nhất biệt gia sơn kháp thập niên,
歸來松匊半翛然   Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên.
林泉有約那堪負   Lâm tuyền hữu ước na kham phụ,
塵土低頭只自憐   Trần thổ đê đầu chỉ tự liên.
鄕里纔過如夢到   Hương lí tài qua như mộng đáo,
干戈未息幸身全   Can qua vị tức hạnh thân tuyền (toàn).
何時結屋雲峰下   Hà thời kết ốc vân phong hạ,
汲澗烹茶枕石眠.  Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên.
Chù thích :
全(tuyền, âm nữa là toàn)
Côn Sơn:(theo Wikipedia): Một ngọn núi ở xã Chí Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), trên núi có động Thanh Hư, dưới có cầu Thấu Ngọc, đều là thắng cảnh (theo sách Quảng Dư Chí). Đời Trần, Trúc Lâm thiền sư dựng am ở đây, và trạng nguyên Lý Đạo Tái (tức sư Huyền Quang) sau khi từ chức trở về nhập thiền và trụ trì chùa Ân Tứ ở núi này. Triều Trần, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, thường ngâm thơ uống rượu ở núi Côn Sơn sau khi từ chức vì can gián Hồ Quý Ly chuyên quyền mà không được. Tác giả từng thừa hưởng cơ ngơi của ngoại tổ.

Dịch nghĩa :
   Sau loạn về Côn Sơn cảm tác
1. Thời gian xa quê hương vừa đúng mười năm
2. Nay trở về, tùng cúc một nửa đã tiêu sơ
3. Đã có lời hẹn với rừng suối mà sao nỡ phụ
4. Trong cát bụi cúi đầu tự thương mình
5. Vừa qua làng, tưởng như giấc chiêm bao
6. Chiến tranh chưa dứt, may mắn được toàn thân
7. Biết đến bao giờ mới được làm nhà dưới núi mây
8. (để) Múc nước suối nấu trà, gối lên đá mà ngủ.
Dịch thơ :
    Sau loạn về Côn Sơn cảm tác

Mười năm phiêu giạt kiếp long đong

Trở lại, cúc tùng úa héo bông
Đã hẹn suối rừng sao nỡ phụ
Thương mình cát bụi cúi đầu trông
Binh đao chưa dứt may còn sống
Làng cũ vừa qua tưởng mộng xong
Ước muốn dựng nhà mây phủ núi
Nấu trà, gối đá, ngủ bên sông.
Nguyễn Cang
Đền thơ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn