Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thổ là Đất-Đỗ Chiêu Đức. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thổ là Đất-Đỗ Chiêu Đức. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

16 thg 6, 2018

THỔ là ĐẤT - Phiếm Luận của Đỗ Chiêu Đức

Image result for thổ là đất
          THỔ 土 là ĐẤT, đất là ĐỊA 地, trong chữ Địa có Bộ Thổ, nên Địa cũng là Đất. Ta có từ kép Thổ Địa 土地 là Đất Đai. Thổ cũng thuộc một trong 214 bộ của CHỮ NHO... DỄ HỌC, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

            Giáp Cốt Văn    Kim Văn          Đại Triện       Tiểu Triện        Lệ Thư

          
Ta thấy :
         Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Triện đều là hình tượng của một mô đất trên mặt đất, nên Thổ vừa là chữ Tượng Hình vừa là chữ Chỉ Sự, chỉ một đống đất trên mặt đất, đến Tiểu Triện thì các nét mới được kéo thẳng ra thành biểu tượng của chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì mới hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay THỔ 土 là ĐẤT.

         Có tất cả 463 chữ được ghép bởi bộ Thổ nầy để chỉ những gì có liên quan đến Thổ là Đất. Ta có các từ về Thổ là Đất rất lý thú và cũng không kém phần rắc rối như sau :



  - Thổ Địa 土地 : là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất trên đời nầy.
  - Thổ Nhưỡng 土壤 : cũng là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất dùng để trồng trọt.
  - Thổ Cư 土居 : chỉ tất cả các loại đất dùng để ở.
  - Thổ Canh 土耕 : là tất cả các loại Đất dùng để canh tác, làm ruộng.
  - Thổ Trạch 土宅 : là tất cả các loại Đất dùng để cất nhà ở, biệt thự.
  - Thổ Mộ 土墓 : là tất cả các loại Đất dùng để chôn cất người trong gia tộc, còn gọi là Đất Hương Hỏa, là đất dùng để lo nhang đèn hương khói cho người thân đã chết.
   

          Theo Tử Vi đẩu số ta còn có 6 loại đất sau đây :

  * Lộ Bàng Thổ 路旁土 : Đất bên đường.
  * Thành Đầu Thổ 城頭土 : Đất đầu thành.
  * Ốc Thượng Thổ 屋上土 : Đất trên mái nhà.
  * Bích Thượng Thổ 壁上土 : Đất trên vách.
  * Đại Trạch Thổ 大澤 土 : Đất trong đầm lầy lớn.
  * Sa Trung Thổ 沙中土 : Đất trong cát.
    và...
           Mặc dù Mộc khắc Thổ, cây cối mọc lên hút hết chất bổ của đất làm cho đất trở nên cằn cỗi, và cây gỗ để ở dưới đất lâu ngày sẽ bị đất làm cho mục nát hết. Cái nầy kêu bằng tương khắc với nhau, nhưng...
           Lộ Bàng Thổ (đất ven đường), Đại Trạch Thổ (Đất trong đầm lầy lớn) và Sa Trung Thổ (Đất pha cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.
          Thành Đầu Thổ (Đất đầu thành), Bích Thượng Thổ (Đất trên vách) và Ốc Thượng Thổ (Đất mái nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. Ba hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bách Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.
              Inline image Inline image   
           


         Thổ là Đất, giá trị của đất tăng theo tỉ lệ thuận với số lượng của đất, chưa có một vật chất nào có giá trị từ số không, rồi sau đó cứ tăng dần đến vô tận như đất cả ! Hốt một nắm đất cho không, không ai thèm lấy cả, mặc dù họ không có đất để cắm dùi, nhưng nếu cho một vuông đất để che chòi ở, để cất nhà, thì không ai nở... từ chối cả ! Và cứ thế tăng dần, một công đất để trồng rẩy, một mẫu đất để cày ruộng... cho đến một xã, một làng, một huyện, một tỉnh, một nước... giá trị của đất cứ tăng mãi đến vô cực là... Trái Đất, là cả Quả Địa Cầu nầy !  

        Ông bà ta nói:
                   Tiền tài như phân thổ,        錢財如糞土,
                   Nhân nghĩa trị thiên kim.    仁義值千金。
Có nghĩa :
            Tiền của tài sản như phân như đất,
            Nhân nghĩa mới đáng giá ngàn vàng.
là ý ông bà muốn đề cao nhân nghĩa mà xem nhẹ tiền tài, tiền tài chỉ như phân như đất mà thôi, cũng như lời cô Kiều đã nói với Kim Trọng khi biết Kim đã nhặt được chiếc kim thoa của mình :

                         Chiếc thoa là của mấy mươi,
                  Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao !

         Nhưng người đời thường xem trọng kim tiền hơn nhơn nghĩa, nên câu nói trên còn được sửa lại một cách mĩa mai như sau :

                      Tiền tài như... ông tiên tổ,
                      Nhơn nghĩa tợ... cục cứt khô !

         Ông bà ta lại dạy rằng : " Tấc đất là tấc vàng " để con cháu biết quý trọng cái cuộc đất mà ta đang sở hữu, nếu biết sử dụng đất một cách thích đáng, biết bỏ công sức lao động canh tác trồng trot, thì " tấc đất sẽ cho một tấc vàng " như chơi mà thôi !

        Nhớ khi xưa cái miếu Thổ Địa ở đầu làng quê tôi có đôi câu đối như sau :

                     THỔ năng sanh bạch ngọc,       土能生白玉,
                     ĐỊA khả xuất hoàng kim.          地可出黃金。
Có nghĩa :
               Đất có thể sanh ra ngọc trắng, và
               Đất cũng có thể cho ra vàng ròng !

       Hạt ngọc trắng ở đây chính là hạt gạo trắng ngần đã nuôi sống chúng ta hàng ngày, còn vàng ròng sẽ có được nếu chúng ta chịu cày sâu cuốc bẫm. Đất chẳng những cho ta chỗ ở, cho ta việc làm, còn cho ta cái ăn cái mặc nữa, nên ông bà ta rất coi trọng đất và luôn quan niệm rằng : " Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá ". Thổ Công là ông thần đất, còn được gọi là Thổ Thần, nên khắp cả các thôn làng, nơi nào cũng có Thổ Công của nơi đó, và ông thần đất nầy cũng luôn luôn được cúng tế đầy đủ ở bất cứ lễ lạc nào. Trong Truyện Kiều tả lúc Bạc Hạnh thành thân với cô Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :    
           
                                Bạc sinh qùy xuống vội vàng,
                      Qúa lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ Công.

                             Image result for bạc hạnh truyện kiều 

        Câu đối thường thấy nhất của các miếu Thổ Thần ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh quê tôi là :

                       土旺人從旺,     Thổ vượng nhân tòng vượng,
                       神安宅自安。     Thần an trạch tự an.
Có nghĩa :
             Đất có vượng thì người cũng sẽ vượng theo, và...
             Thần có được yên ổn, thì nhà cũng sẽ tự nhiên được yên ổn mà thôi !

       Thổ ngoài nghĩa là Đất ra, còn có nghĩa là : Cái gì đó thuộc về bản xứ, bản địa. Ta quen miệng gọi là đồ lô-can (local). Bây giờ thì Thổ được sử dụng như là một Hình Dung Từ (Tính Từ), như :

  - Thổ Dân 土民 : Dân cố hữu của một địa phương hay của một vùng nào đó. Ví dụ : Thổ Dân của Châu Mỹ là những Bộ tộc mọi Da Đỏ chẳng hạn...
  - Thổ Sản 土產 : là Đặc sản riêng của một vùng nào đó , Như Thổ Sản của Lái Thiêu là Sầu Riêng chẳng hạn...
  - Thổ Cẩm 土錦 : là Gấm được dệt ở địa phương, là Gấm nội hóa.
  - Thổ Âm 土音 : là Tiếng nói và Âm sắc riêng của địa phương nào đó. Như Giọng Bắc, Giọng Huế, Giọng Nam của ta vậy...
  - Thổ Hào 土豪 : là Cường hào ác bá ở địa phương.
  - Thổ Phỉ 土匪 : là các phe nhóm băng đảng cướp bóc ở địa phương.
  - Thổ Công 土公 : là Ông Thần Đất của địa phương nào đó như ta đã nói ở trên...
  - Thổ Quan 土官 : là Ông quan ở địa phương, như Trưởng thôn, Trưởng Làng, hay cao hơn là Tri Châu, Tri Huyện... Như trong Truyện Kiều, Hồ Tôn Hiến sau khi ngủ với cô Kiều một đêm rồi sợ mang tiếng " Quan trên ngó xuống người ta trông vào ", nên sáng ngày mới ép nàng lấy Thổ Quan : 

                             Lệnh quan ai dám cãi lời,
                      Ép tình mới gán cho người Thổ Quan.

        Thổ còn là cái Phong Thổ 風土, là phong thủy thổ nhưỡng, phong tục tập quán, là nếp sống của một địa phương nào đó, mà người ta thường gọi là Phong Thổ Nhân Tình 風土人情, Đi đến đâu, ta cũng phải tìm hiểu cái phong thổ nhân tình của nơi đó để dễ dàng hòa nhập vào nếp sống của địa phương đó.
       Ngoài Phong Thổ, ta còn có Thủy Thổ 水土, là Nước và Đất của một nơi nào đó kể cả khí hậu thời tiết nắng mưa của nơi đó luôn. Nếu không hợp với Thủy Thổ của nơi đó sẽ làm cho con người sanh ra bệnh hoạn, súc vật thì gầy còm, cây cỏ thì èo ọt... như câu chuyện ứng đối lý thú của Tướng quốc nước Tề với vua nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc như sau :
             Yến Anh 晏嬰, còn được gọi là Án Anh, người đời sau tôn trọng ông, nên còn gọi là Án Tử, ông sinh năm 578 TCN ở Sơn Đông, mất năm 501 TCN ở Truy Bác, tự Bình Trọng là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, sống và làm quan ở hai triều vua Tề Trang Công và Tề Cảnh Công thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông có dáng thấp nhỏ như đứa bé, nhưng có trí tuệ thông minh và là một vị quan có tài ứng đối giỏi của nước Tề.
       Một lần Án Tử vâng lệnh vua Tề đi sứ sang nước Sở. Vua Sở định làm nhục để thử tài của Án Tử, nên sau khi ban rượu, thì cho lính dẫn một người bị trói đi ngang qua. Vua Sở mới hỏi là người đó phạm tội gì ? Lính đáp, đó là một người ở nước Tề, phạm tội ăn trộm ngựa. Vua Sở bèn cười mà quay sang hỏi Án Tử là : " Người nước Tề hay ăn trộm lắm hay sao ? ". Án Tử mới đứng dậy chắp tay thưa rằng : " Thần nghe nói, cây quít trồng ở phương bắc thì cho trái to và ngọt, nhưng khi đem trồng ở phương nam thì lại cho trái nhỏ và chua, là bởi vì đâu ? Đó là đều do Thủy Thổ mà ra cả ! Nay người nước Tề ở nước Tề thì không trộm cắp, sang qua ở nước Sở lại sinh ra trộm cắp, thần nghĩ chắc cũng do cái Thuỷ Thổ bất đồng mà sinh ra như thế chăng ?! ". Vua Sở cười rằng : " Ta vì muốn nói chơi mà bị nhục ! ". Thế mới biết kẻ cả không nên nói chơi bao giờ !

                      Inline imageImage result for 晏嬰
                                           Án Tử đi sứ nước Sở

        Thổ là Đất, mà đất còn là quê hương đất nước. Cố Thổ 故土 là Cố Hương 故鄉, là quê cũ, quê xưa, quê nhà , là Cố Quốc 故國, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi mà ta được sinh ra và lớn lên, như trong bài Độ Long Vĩ Giang 渡龍尾江 của cụ Nguyễn Du :

                    故國回頭淚,   Cố quốc hồi đầu lệ, 
                    西風一路塵。   Tây phong nhất lộ trần.
Có nghĩa :
                        Ngoảnh đầu quê cũ lệ rơi,
                   Dọc đường cát bụi tơi bời gió tây.



         Ngoảnh đầu trông lại quê hương mà khôn ngăn hai hàng lệ nhỏ. Lại thêm gió tây thổi suốt dọc đường gió bụi. Vừa qua khỏi sông Long Vĩ thì thân ta đã là người tha hương rồi... Trong Truyện Kiều, tả lúc Hoạn Thư bắt Kiều về làm nô tì, nguyễn Du đã viết :

                        Lâm truy chút nghĩa đèo bòng,
                        Nước non để chữ tương phùng kiếp sau.
                        Bốn phương mây trắng một màu,
                        Trông vời Cố Quốc biết đâu là nhà.

... và như lời than của một cung nhân đời Đường qua lời thơ của Trương Hỗ 張祜 là :

                   Cố quốc tam thiên lý,          故國三千里,
                   Thâm cung nhị thập niên.    深宮二十年.
Có nghĩa :
                   Quê cũ ba ngàn dặm,
                   Thâm cung hai mươi năm !

        Cách xa quê hương ba ngàn dặm và bị nhốt trong cung hai mươi năm thì còn gì là tuổi xuân nữa ! Trông người lại ngẫm đến ta, chúng ta đã lưu vong ở Mỹ trên bốn mươi năm và cách xa quê hương trên hai mươi ngàn dặm, chỉ còn đợi gởi nắm xương tàn nơi " Ngoại Thổ 外土" mà thôi !

        Theo Ngũ hành Sinh khắc thì Thổ khắc Thủy, có nghĩa là Đất khắc chế được Nước. Nói theo binh pháp ngày xưa là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn như cụ Đào Duy Từ  đã khuyên Chúa Sãi không nhận sắc phong của vua Lê do Chúa Trịnh áp đặt, với diễn tiến câu chuyện như sau :



      Năm 1627, chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi sứ, mang tiếng là phong tước cho chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét tình hình đàng trong. Lúc bấy giờ Đào Duy Từ là Tham Tán bèn khuyên chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Duy Từ khuyên là không  thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ, với ý là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn . Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.

       Về việc sắc phong, vào năm 1630 Duy Từ cho người làm một cái mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc của chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ. Trần Văn Khuông theo lời Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn vội vã đi về, sinh nghi, bèn cho lục mâm đồng thì thấy tờ sắc của mình trước đó còn có kèm theo một bài thơ như sau :

                  Mâu nhi vô dịch,          矛而無剔,
                  Mịch phi kiến tích.        覔非見迹.
                  Ái lạc tâm trường,        愛落心腸,
                  Lực lai tương địch!        力來相敵 !
Có nghĩa :
                Cây mâu mà không đâm, không khều.
                Tìm mãi mà không thấy tung tích gì cả.
                Thương đến nỗi rớt cả lòng dạ ruột gan.
                Nếu dùng sức mạnh đến đây, thì sẽ đối địch với nhau mà thôi !

         Cả triều không ai hiểu là ý muốn nói gì ?!. Giai thoại kể rằng :
         Chúa Trịnh cho mời Phùng Khắc Khoan (1528 -1613, trong khi sự kiện này xảy ra năm 1630 nên không chính xác) đến hỏi thì mới vỡ lẽ, trong chữ Hán cổ, chữ MÂU 矛 viết không có dấu phết thì thành chữ DƯ 予, nghĩa là ta; Chữ MỊCH 覔 mà bỏ chữ KIẾN 見 chỉ còn lại chữ BẤT 不 nghĩa là không. Chữ ÁI 愛  nếu viết thiếu chữ TÂM 心 thì ra chữ THỤ 受 nghĩa là nhận.  Chữ LỰC  力 ghép với chữ LAI 來 sẽ thành chữ SẮC 勑  là sắc phong. Ghép 4 chữ của bốn câu trên lại ta có câu :
      Dư Bất Thụ Sắc 予 不 受 勑 ( Có nghĩa là : Ta không nhận sắc phong ). Chúa Trịnh hiểu ý là Chúa Nguyễn trả lại sắc phong, nổi giận, cho người đuổi theo sứ đoàn của Chúa Nguyễn, thì cả sứ đoàn của Trần Văn Khuông đã đi xa rồi !
      Chuá Trịnh cả giận cử binh hỏi tội, nhưng đụng phải lũy Trường Dục của Đào Duy Từ, nên bị Chúa Nguyễn đánh cho thua chạy tơi bời ! 

        

         Đào Duy Từ được tiếng là nhà chính trị quân sự, vừa là thầy giáo, vừa là bậc khai quốc công thần lớn nhất của 9 đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn, trong khi Gia Cát Lượng chỉ phò trợ có 2 đời Thục Hán mà thôi !

         Thổ là Đất, mà Đất còn là Nước, ta có từ kép Đất Nước để chỉ Lãnh thổ 領土 của một quốc gia, còn được gọi là Quốc Thổ 國土, Cương Thổ 疆土 là phần đất ở sát biên cương với nước láng giềng mà ta có được, nói theo lịch sử của thời phong kiến, thì đó là Hoàng Triều Cương Thổ 皇朝疆土 là đất của vua , đất của triều đình. Hoàng Triều Cương Thổ lớn nhất, mở mang nhất nước ta là dưới thời vua Minh Mạng, tiêu diệt và đồng hóa Chàm (Champa), lấn chiếm Chân Lạp (Campuchia), sát nhập đất Phù Nam (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau) để có được bản đồ hình cong chữ S như hiện nay. Nên, không có Đất là không có Nước, dân không có đất là dân vong quốc, chính quyền không có đất là chính quyền lưu vong, sẽ không làm nên trò trống gì cả ! Từ đó cho thấy ĐẤT quan trọng biết chừng nào ! Nhưng, nếu chính quyền lưu vong mà lập quốc được như dân Do Thái, thì chữ Nho gọi là "Quyển thổ trùng lai 卷土重來" Có nghĩa là : Cuốn đất mà trở lại, theo như ý của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Đề Ô Giang Đình 題烏江亭" của Đỗ Mục khi đến bến Ô Giang nơi mà Hạng Võ Sở Bá Vương đã tự sát :



              勝敗兵家事不期,     Thắng bại binh gia sự bấtkỳ
              包羞忍恥是男兒.       Bao tu nhẫn sĩ thị nam nhi
            江東子弟多才俊,     Giang Đông tử đệ đa tài tuấn
              捲土重來未可知。     Quyển thổ trùng lai vị khả tri !

Có nghĩa :
                   Thắng bại chuyện binh ai biết trước ,
                   Làm trai nhịn nhục cứ dửng dưng.
                   Giang Đông tuấn kiệt còn đầy rẫy,
                   Cuốn đất làm nên chửa biết chừng !

        Ý của Đỗ Mục là : Nếu như Hạng Võ cố chịu nhục mà về Giang Đông chiêu mộ thêm anh tài còn đầy rẫy nơi đó mà phất cờ đánh lại Lưu Bang, thì chưa biết chừng đã làm nên cơ nghiệp lớn ! Cũng như Nhà nước Israel hiện đại đã được hoàn thành năm 1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và quyền tự quyết trên một Tổ quốc Quốc gia Do Thái vậy.
                
                          Inline image






          Thổ là Đất, Nhất Phầu Hoàng Thổ 一抔黃土 là Một nấm đất vàng, thường dùng để chỉ một nấm mộ, nhất là những nấm mộ hoang như của Đạm Tiên :


                              Xè xè nấm đất bên đường,
                       Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

          Còn sống thì phong lưu tiêu sái, hương trời sắc nước, nguyệt thẹn hoa nhường hay sự nghiệp lẫy lừng, danh vang bốn bể, anh hùng cái thế ... Nhưng khi chết đi rồi thì tất cả cũng đều vùi chôn dưới một nấm đất vàng ô trọc mà thôi ! Nên chi, Tào Tuyết Cần mới cho người đẹp u sầu muôn thuở Lâm Đại Ngọc chôn xác hoa rơi với " Nhất Phầu Tịnh Thổ 一抔淨土 " là một nấm đất tinh khiết không ô nhiễm bụi trần :
          Người đẹp Lâm Đại Ngọc 林黛玉 trong Hồng Lâu Mộng 紅樓夢 của Tào Tuyết Cần 曹雪芹, là người đẹp đa sầu đa cảm đa tài, rất giỏi về văn thơ đã thương khóc cho những cánh hoa rơi như thương cho thân phận của chính mình, rồi chôn hoa, rồi ngâm thơ điếu hoa hẵn hoi với bài TÁNG HOA NGÂM 葬花吟 với những lời thơ thật đẹp như sau :

              ... 願儂此日生雙翼﹐      Nguyện nông thử nhật sanh song dực,
                  隨花飛到天盡頭         Tùy hoa phi đáo thiên tận đầu.
                  天盡頭!何處有香丘﹖Thiên tận đầu ! Hà xứ hữu hương khâu ?
                  未若錦囊收艷骨         Vị nhược cẩm nang thu diễm cốt,
                  一抔淨土掩風流﹐    
  Nhất phầu tịnh thổ yễm phong lưu !...
Có nghĩa :
        Ước gì hôm nay ta chắp được đôi cánh, để cùng với các cánh hoa rơi bay đến tận cuối chân trời. Ở nơi cuối chân trời kia, không biết là nơi đâu có mồ hoa thơm đẹp. Ta chưa kịp may túi gấm để thâu táng thân xác đẹp đẽ của hoa, thôi thì đành mượn một nắm tịnh thổ để vùi chôn một kiếp phong lưu diễm lệ !...
       Lục bát :
                   .... Theo hoa bay đến cuối trời,
                  Chắp đôi cánh đẹp rạng ngời như hoa.
                        Cuối trời xa, cuối trời xa !...
                   Tìm hương mộ đẹp la đà xác thơm.
                        Chưa may túi gấm chiều hôm,
                   Vùi nông một nắm tủi hờn phong lưu !...              
               Image result for 葬花吟  Image result for 葬花吟
                           Người đẹp Lâm Đại Ngọc chôn hoa 
           

          Người xưa để lại một câu nói ý vị sâu xa để khuyên răn người đời là :

                        Đản tồn phương thốn thổ,      但存方寸土,
                        Lưu dữ tử tôn canh.               留與子孫耕。
Có nghĩa :
 
          Làm sao cũng phải chừa lại một tấc đất nào đó, để cho con cháu sau nầy có đất mà canh tác.

       Một tấc Ta ngày xưa chưa bằng được ba phân Tây bây giờ, thế thì một tấc đất làm sao mà canh tác ?! À, thì ra câu nói còn có " ý tại ngôn ngoại ". Đất là một thực thể chứng minh cho sự sở hữu ngày xưa, ai chiếm hữu đất nhiều thì người đó sẽ giàu có, sẽ là chủ đất đầy quyền uy. Nên đất được mượn để chỉ mọi vật chất qúy giá và khi dùng rộng ra thì chỉ cả những giá trị tinh thần nữa. Như câu "Quảng chủng phước điền 廣種福田" có nghĩa : Trồng cho rộng ra mảnh ruộng phước đức. Ruộng Phước đức không phải là mảnh ruộng có thật, mà là muốn khuyên ta nên làm nhiều chuyện phước để "để đức" lại cho con cháu. Nên câu nói " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " có ý khuyên ta :

   - Làm việc gì đó, đừng qúa cạn tàu ráo máng, đừng qúa tuyệt tình, hãy chừa một chút gì đó để lại cho con cháu về sau. Như đừng qúa cậy thế hiếp người, đừng ví người khác vào bước đường cùng, hãy chừa cho người ta một con đường sống, biết đâu sau nầy cũng vì thế mà con cháu ta cũng được người khác niệm tình mà tha cho con đường sống như thế.
   - Đừng sử dụng hết những uy tín, tín dụng mà mình có được, phải biết chừa lại cho con cháu. Ví dụ như : Ta dùng uy tín và sự tín dụng của mình để lừa hết người nầy đến người khác để thủ lợi, thì con cháu sau nầy sẽ bị mang tiếng là "Con cháu của tên lừa đão", chẳng những mọi người không chịu kết giao giúp đỡ, mà còn không tin tưởng để giao phó công việc nữa. Con cháu sẽ không còn "chút đất nào để cày bừa" nữa cả !

     Nói theo trào lưu trước mắt là :
   - Phải biết yêu qúi và bảo vệ môi trường sống trước mắt, đừng quá phung phí không khí trong lành mà phải biết tiết chế để chừa lại phần nào môi trường và không khí trong sạch cho con cháu sau nầy !
Mong Lắm Thay .
Đỗ Chiêu Đức
...

16 thg 8, 2018

ĐỊA cũng là ĐẤT - Đỗ Chiêu Đức

                 
       Thổ 土 là Đất, Địa 地 cũng là Đất, là Địa Cầu 地球 , là qủa đất mà chúng ta đang cư trú. Theo bài học thuộc lòng của lớp Đồng Ấu ngày xưa :
                    Đi cho biết đó biết đây,
                    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
                    Kìa thế giới năm châu quanh quất,
                    Đường bao nhiêu thì đất bấy nhiêu,
                    Sông to núi lớn cũng nhiều,
                    Đường đi lối lại trăm chiều ngổn ngang...

       Thế giới có Năm Châu Bốn Biển.
       Năm Châu là :
       Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc ( còn gọi là Châu Đại Dương  ). Nhưng theo quy ước của đa số các nước trên thế giới thì có đến 6 Châu, vì sau nầy người ta còn khám phá ra một vùng đất mới ở Nam Cực, gọi là Châu Nam Cực. Nhưng... lại nhưng, theo Mỹ thì Châu Mỹ gồm 2 châu lục là Nam Mỹ Châu và Bắc Mỹ Châu. Nên Thế Giới của người Mỹ có đến 7 châu lục, chớ không còn là 5 châu nữa ! Còn ...
        Bốn Bể là bốn Đại Dương gồm có :
        Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương. Ngày trước còn có thêm một Nam Băng Dương nữa, vì người ta cứ ngỡ là nếu băng tan chảy hết thì sẽ là một đại dương như ở vùng Bắc Cực, nhưng nay đã biết rằng nó là một châu lục : Châu Nam Cực chớ không phải là một băng dương nữa !
                        Image result for 地球

         Bốn Biển là do từ Tứ Hải 四海 của người Hoa mà ra. Khi xưa, khoa học địa lý chưa phát triển, người Hoa cứ tưởng Thiên Hạ là đất Trung Nguyên, và mảnh đất nầy được bao quanh bởi 4 biển Đông Tây Nam Bắc. Theo cái Thế Giới Quan nầy, Bốn Biển tức là Thiên Hạ đó, cho nên trong thi từ ca phú của văn học xưa hay nhắc đến câu : Tứ Hải giai Huynh đệ 四海皆兄弟 là " Bốn bể đều là anh em ". Vân du tứ hải 雲遊四海 là : Lang bạt khắp nơi, và để chứng tỏ có chí hơn người còn lớn giọng mà ngâm rằng : Đại trượng phu tứ hải vi gia 大丈夫四海為家 là : Đấng đại trượng phu thì lấy bốn biển làm nhà, để tỏ ra ta đây có chí lớn !
        Trở lại với từ Địa Cầu 地球 là Trái Đất, là hành tinh xanh trong Thái dương hệ có sự sống của trên hàng triệu sinh vật, trong đó có con người, có chúng ta. Chữ Địa 地 vốn nghĩa là "Mảnh đất" thuộc bộ Thổ 土 là Đất theo diễn tiến của chữ viết như sau :
              Đại Triện       Tiểu Triện          Lệ Thư  
                           
        Cách tính năm theo Tử Vi Đẩu Số thì trên có Thiên Can 天干 là : Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Qúy 甲、乙、丙、丁、戊、己、庚、辛、壬、癸, gọi là Thập vị Thiên Can; còn dưới thì có Địa Chi 地支 là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi 子、丑、寅、卯、辰、巳、午、未、申、酉、戌、亥”, gọi là Thập Nhị Địa Chi. Cứ một Thiên Can thì ghép với một Địa Chi, như :
              Giáp   ghép với   Tý là     Giáp Tý 甲子.
              Ất      ghép với   Sửu là   Ất Sửu 乙丑.
              Bính   ghép với   Dần là   Bính Dần 丙寅 ...
cứ thế mà ghép... Nhưng vì Thiên Can chỉ có 10 mà Địa Chi đế 12, cho nên ghép đến khi giáp một vòng trở lại Giáp Tý là 60 năm. Nói cho dễ hiểu : Đứa bé nào sanh ra trong  năm nay là năm Mậu Tuất 2018 ( 1 tuổi ), thì đến năm 61 tuổi ta  cũng sẽ là năm Mậu Tuất ( 2078 ).
      Thập Nhị Địa Chi còn dùng để tính giờ theo Tử Vi Đẩu Số, như :
      * Giờ Tý là từ 11 giờ đêm hôm trước cho đến 01 giờ sáng của ngày hôm sau. Cho nên ta mới thường nghe câu : 
                      Nửa đêm, giờ Tý, canh ba,
                   Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi !

               ... tất cả đều "sem-sem" như nhau !
      * Giờ Sửu là từ 01 giờ đến 03 giờ sáng.
      * Giờ Dần là từ 03 giờ đến 05 giờ sáng. Nên ta mới có câu : " Trời sáng giờ Dần, Nắng lên giờ Mão ". Vì...
      * Giờ Mão là từ 05 đến 07 giờ sáng. Nên các cụ Đồ xưa lại có câu :
                    Mạc ẩm Mão thời tửu,  莫飲卯時酒,
                    Hôn hôn túy đáo Dậu.  昏昏醉到酉。
Có nghĩa :
         Đừng bao giờ uống rượu vào giờ Mão, vì sẽ...
         Say say xỉn xỉn cho đến giờ Dậu (là 05 giờ chiều đến 07 giờ tối).
         Vậy là suốt ngày sẽ say xỉn mà không làm ăn gì được cả !, Và vì ...
      * Giờ Dậu là từ 05 giờ chiều cho đến 07 giờ tối, nên lại có câu :
                    Mạc mạ Dậu thời thê,   莫罵酉時妻,
                    Nhất dạ thụ cô thê.      一夜受孤悽。
Có nghĩa :
        Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì mắng vào giờ nầy thì...
        Suốt đêm phải chịu cô đơn lạnh lẽo một mình !( Vợ chồng cải lộn vào buổi chiều tối thì suốt đêm cũng sẽ chẳng "làm ăn" gì được cả !). Ông bà ngày xưa cũng "tâm lý" chán !
    
        Địa 地 là Đất, cho ta các từ Địa Cầu 地球 là Trái đất; Địa Xác 地壳 là Vỏ trái đất, Địa Chất 地質 là Chất cấu tạo và giá trị lịch sử của các lớp đất, Địa Tâm 地心 là Lòng đất, Địa tâm dẫn lực 地心引力 là Sức hút của lòng trái đất tạo nên trọng lượng trên mặt đất ... Nếu bỏ chữ Tâm ra phía trước ta sẽ có từ ...
     * Tâm Địa 心地 : Chỉ lòng dạ sâu kín của con người, như Tâm Địa Thiện Lương 心地善良 là Lòng dạ hiền lành; Tâm Địa Hiễm Độc 心地險毒 là Lòng dạ nham hiễm ác độc, như cô Kiều đánh giá Sở Khanh :
                       Nàng rằng thề thốt nặng lời,
                    Có đâu mà lại ra người hiễm sâu.

hay như cụ Nguyễn Du nói về Hoạn Thư :
                       Bề ngoài thơn thớt nói cười,
             Mà trong nham hiễm giết người không dao !
      Trong tiếng Nôm ta cũng có từ " Độc Địa " vốn để chỉ " Tâm địa độc ác ", nhưng sau dùng rộng ra để chỉ tất cả những thứ gì có hại, không có lợi, như : Món ăn đó độc địa lắm; lời nói đó thật độc địa...

       Mặt đất bằng phẵng thì gọi là Bình Địa 平地, nên thành ngữ Bình Địa Ba Đào 平地波濤 là Đất bằng dậy sóng, như khi về nhà thấy Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều là một cô gái lầu xanh về chung sống, Thúc Ông đã " sốt gan ông mới cáo quỳ cửa công ", gây nên cảnh :
                      Đất Bằng Nổi Sóng đùng đùng,
                 Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.

... và như  trong bửa tiệc đoàn viên, sau khi đã " Tàng tàng chén cúc dở say " Thúy Vân mới đứng dậy phân bua :
                      Rằng : Trong tác hợp cơ trời,
                    Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
                      Gặp cơn 
Bình Địa Ba Đào,
               Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...

             Image result for  Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...  Image result for  Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em...

        Bỏ hết đi phần ao hồ, sông ngòi, biển cả, thì một phần ba còn lại của qủa địa cầu nầy là Lục Địa 陸地, là phần Đất Liền mà chúng ta đang ở. Lục 陸là Bờ bến, là đất liền, nên Đăng Lục 登陸 là Đổ Bộ, như Đăng Lục Nguyệt Cầu 登陸月球 là Đổ Bộ lên mặt trăng; ; Thuỷ quân lục chiến 水軍陸戰 là Lính Thủy đánh bộ, Lục Quân 陸軍 là Lính tác chiến trên bộ để phân biệt với Hải quân 海軍 là Lính đánh nhau dưới biển và Không quân 空軍 là Lính bay trên trời bỏ bom xuống !
        Tất cả đất đai trên bề mặt địa cầu đều gọi là Thổ nhưỡng 土壤 hay Thổ Địa 土地. Đất để canh tác ruộng nương là Điền Địa 田地, đất để ở là Cư Địa 居地, ta gọi là Địa Cư. Cơ quan trông coi và quản lý đất đai gọi là Địa Chính 地政. Người sỡ hữu đất đai gọi là Địa Chủ 地主. Hình thể của miếng đất là Địa Hình 地形, Cái thế cao thấp hiễm trở hay thuận lợi của đất là Địa Thế 地勢...

        Địa 地 còn là từ chỉ nơi chốn, như Địa Điểm 地點, Địa Chỉ 地址, Địa Phận 地份, Địa Khu 地區, Địa Bàn 地盤, Địa Đầu 地頭 ... Ta có thành ngữ :
     * Địa Đầu Giới Tuyến 地頭界線 là nơi giáp ranh biên giới với nước láng giềng, nơi mà các anh lính thú ngày xưa trấn thủ lưu đồn, hay các anh lính chiến VNCH gát giặc ở tiền đồn hiu hắt.
      * Thử Địa 此地 là Đất nầy, là Nơi đây, như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay của Sầm Tham đời Đường như sau :
                 此地曾居住,   Thử địa tằng cư trú,
                 今來宛似歸。   Kim lai oản tự quy.
                 可憐汾上柳,   Khả lân Phần thượng liễu,
                 相見也依依。   Tương kiến dã y y !

                
Có nghĩa :
              Nơi nầy trọ những năm qua,
              Nay về thăm lại như là người thân.
              Thương thay hàng liễu sông Phần,
              Gặp nhau quyến luyến như không nở rời !
       Bề mặt của Địa Cầu là Mặt Đất, Nơi sinh sôi nẩy nở của các nguồn sống, kể cả động vật và thực vật, mà cũng là nơi an nghỉ cuối cùng cho muôn loài vạn vật. Vui từ đất mà ra, buồn cũng từ đất mà ra và oán hận thì lại tìm về với đất. Ta hãy nghe lời thơ của Vi Thừa Khánh 韋承慶 với bài Nam Hành Biệt Đệ 南行別弟 ( Giả biệt em trai xuôi về Nam ):
                澹澹長江水,     Đạm đạm Trường giang thủy,
                悠悠遠客情。     Du du viễn khách tình.
                落花相與恨,     Lạc hoa tương dữ hận,
                到地一無聲。     Đáo địa nhất vô thinh !
Nghĩa bài thơ :
       Nước sông Trường Giang lửng lờ nhạt nhẻo trôi một cách vô vị ( đạm đạm ), cũng như cái tình của kẻ xa quê hương dài dằng dặc và dai dẵng kia ( du du ). Cánh hoa rụng cũng tựa như cái hận sầu của kẻ xa quê, âm thầm rơi trên mặt đất mà chẳng buồn gây nên một tiếng động nào cả !
        Ví hoa rụng như lòng kẻ lưu vong, oán hận mà âm thầm không bày tỏ cùng ai được !
                 
DIỄN NÔM :
                 Lơ lửng nước Trường Giang,
                 Mênh mang tình viễn khách.
                 Hoa rụng hận chứa chan,
                 Im lìm không oán trách !
  Lục bát :
                 Lửng lơ giòng nước Trường Giang,
                 Như tình viễn khách mênh mang bời bời.
                 Hận cùng như cánh hoa rơi,
                 Âm thầm trên mặt đất rồi lặng yên !

                                         Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972

       Bề mặt địa cầu còn có những cơn động đất làm sập đổ lâu đài, chôn vùi thành phố, tạo nên những đợt sóng thần cuốn trôi nhà cửa, hoa màu súc vật... mà ta gọi là những cơn Địa Chấn 地震, tác hại lắm khi còn hơn cả chiến tranh. Trong chiến tranh thì ta có các từ về Địa như :
  - Địa Lôi 地雷: Ta quen gọi là mìm, chôn dưới đất.
  - Địa Đạo 地道 hay Địa Huyệt 地穴 là những con đường hay hang hầm được đào ở dưới đất nhằm phục vụ cho chiến tranh du kích.
  - Địa Cần 地勤 : là những chuyên viên kỹ thuật của Không Quân phục vụ ở sân bay dưới đất.
  - Chiến Địa 戰地: là Nơi mà hai bên dàn quân để đánh nhau, như trong Chinh Phụ Ngâm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm :
                       Xưa nay chiến địa dường bao. 
                Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.
              
      Chiến Địa còn gọi là Chiến Trường 戰場 hay Chiến Tuyến 戰線. Nhắc đến từ chiến tuyến lại làm ta nhớ đến lời hát của bài hát "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông :
           ... Dù nơi chiến tuyến ... mịt mờ mưa bay, Lòng anh vẫn nhớ ... tình người hôm nay...
        
              
         Nói đến chữ Địa, ta không thể không nhắc đến Địa Lý 地理, Địa Lý là cái Lý của Đất, là môn học chuyên nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên mặt Đất. Từ xa xưa đã có môn học nầy rồi, nên ta hay nghe các cụ khen những tướng cầm quân tài giỏi như Khổng Minh Gia Cát Lượng là " Trên thông Thiên Văn, dưới thông Địa Lý ", biết lúc nào thì trời có mưa gió sương mù, biết nơi nào có địa thế núi non hiễm trở mà điều binh khiển tướng...
         Địa Lý còn là những địa hình phong thủy có liên quan mật thiết đến đời sống con người mà các thầy Địa Lý phong thủy đã bày vẽ thêm để hù dọa và ăn tiền của những người cả tin nhẹ dạ. Ví vụ như nói " Nhà ở phải Bối Sơn Diện Thủy 背山面水 ". Có nghĩa là : Nhà ở phải cất xây mặt về hướng có nước và phía sau nhà phải dựa vào núi cho vững chãi. Điều nầy rất hợp với thực tế của cuộc sống mà không cần phải có thầy Địa Lý nói ta cũng thấy được : Nhà cất xây mặt về hướng sông nước sẽ dễ dàng cho việc lấy nước uống, chài lưới và tiện lợi cho việc giao thông bằng đường thủy... Sau nhà có núi sẽ dễ dàng cho việc tìm củi, hái rau trái, săn chim muông, thú rừng... Nên dân gian mới có câu nói mĩa mai rằng :
                            Hòn đất mà biết nói năng,
                     Thì thầy Địa Lý hàm răng chẳng còn !
 

           Image result for Địa Lý thế giới 
Image result for Địa Trung Hải 地中海
                     

         Học Địa Lý thế giới còn để mở rộng thêm kiến thức, biết thêm nhiều Địa Phương 地方 và Địa Danh 地名 của những nước khác, đồng thời cũng biết được thêm nhiều phong tục tập quán của tất cả các dân tộc trên thế giới nầy. Học Địa Lý để biết được rằng trong một phần ba đất liền nhỏ bé của Địa Cầu còn có một cái biển mà mấy năm nay đã nhấn chìm và chôn xác biết bao người Libya, Syria, Irak, châu Phi ... tìm cách vượt biên sang Châu Âu để tìm đất sống mới. Đó chính là Địa Trung Hải 地中海, phần biển cả ở giữa châu Á châu Phi và châu Âu.
        Học Địa Lý để còn biết được cái Địa Vị 地位, cái chỗ đứng của nước ta trong Đông Nam Á và trên trường quốc tế quan trọng đến cở nào, tác động đến những nước chung quanh ra sao, để còn biết tự hào mà đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình để xây dựng và bảo vệ đất nước.  
        Địa Vị 地位 là cái Vị trí địa lý được đặt để bởi thiên nhiên cho một nơi, một địa phương hay một nước. Dùng rộng ra Địa Vị còn chỉ vị trí, chức vụ, quyền hạn của một người nào đó trong công ty, trong xã hội... Nhưng ở đời hễ " Càng cao danh vọng thì càng dày gian nan ". Biết thế nhưng mọi người đều muốn với cao hơn để có một địa vị xã hội mà mình hằng mong ước, cho dù " gian nan" cũng mặc !
        Địa là đất, đất linh thiêng sẽ sản sinh ra người tài giỏi, như đất Hoa Lư sản sinh ra Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh , đất Lam Sơn sản sinh ra Bình Định Vương Lê Lợi, đất Bình Định sản sinh ra vua Quang Trung Nguyễn Huệ... Nên ta có thành ngữ Địa Linh Nhân Kiệt 地靈人傑 : Cuộc đất linh thiêng sẽ tạo nên những anh hùng hào kiệt. Thành ngữ này có xuất xứ từ bài " Đằng Vương Các tự 滕王閣序 " của Vương Bột 王勃, một trong Tứ kiệt đời sơ Đường :

           Image result for 滕王閣序 王勃 Image result for 滕王閣序 王勃        
        Vương Bột 王勃 (650-676), tự là Tử An 子安, người đất Giáng Châu,  Long Môn (tỉnh Sơn Tây ngày nay) cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Châu Hoan. Giao Chỉ. Lên sáu tuổi đã nổi tiếng thần đồng, thuộc làu kinh sử. 14 tuổi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình. Năm 16 tuổi trên đường đi thăm cha, hay tin Đô Đốc Diêm Bá Dư trấn nhậm Hồng Châu trùng tu Đằng Vương Các mở cuộc thi thơ văn và khoản đãi tân khách bốn phương. Chủ ý muốn khoe tài con rễ là Ngô Tử Chương, nên đã cho Chương trau chuốt sẵn một bài phú thật hay để ngày hôm đó viết lại. Bột hay tin muộn, thời may có cụ già mách cho Bột rẻ thuyền vào Chương Giang sẽ có gió giúp đưa đến Đằng Vương Các. Bột nghe theo lời, đến đêm quả có gió lớn nổi lên chỉ trong một đêm mà vượt qua 800 dặm đường ( có thể là nhờ gió của đêm Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 ). Kịp lúc Đằng Vương Các vừa phát giấy bút chiêu đãi khách làng văn. Thấy Bột chỉ là một thằng bé con, Đô Đốc Diêm Bá Dư không muốn cấp giấy bút, nhưng Bột kiên quyết muốn làm văn. Diêm bèn cho người đứng phía sau lưng Bột, hễ Bột viết được câu nào thì chép lấy dâng đến cho Diêm xem, hễ thấy không xong là tống cổ ra khỏi buổi tiệc ngay. Khi Bột mở đầu bài văn bằng câu : Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ 南昌故郡,洪都新府 ( Xưa là quận Nam Xương, nay là phủ Hồng Đô ), thì Diêm cười và bảo : Cũng là sáo ngữ của các thầy Đồ Nho mà thôi. Đến câu : Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hành Lư 星分翼軫,地接衡廬 ( chỉ địa thế của Đằng Vương Các : Phân chia giữa sao Dực và sao Chẩn, còn đất thì nối tiếp giữa Hành Sơn và Lư Sơn ) thì Diêm lặng thinh. Lại đến câu : Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu đẩu chi Khư. Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 物華天寶,龍光射牛斗之墟;人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻 ( Của đẹp báu trời, ánh long quang chiếu sao Ngưu sao Đẩu; Đất linh người giỏi, cao nhân Từ Trĩ hạ giường Trần Phồn ) thì Diêm lại tỏ ra vô cùng kinh ngạc. Kịp đến câu : Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc 落霞與孤鶩齊飛,秋水共長天一色 ( Ráng chiều cò trắng cùng bay, Long lanh thu thủy nước mây một màu ) thì ông không còn dằn được cảm xúc, vỗ bàn đứng dậy khen là tuyệt cú ! Rồi giấu nhẹm luôn bài phú làm sẵn của con rể không dám trình làng. Vương Bột nổi tiếng luôn từ đấy và bài Tự của Vương Bột cũng được lưu truyền thiên cổ với các câu trở thành Thành Ngữ như :

     * Lão Đương Ích Tráng 老當益壯 :  Già mà còn mạnh khỏe.
     * Cùng Thả Ích Kiên 窮且益堅 : Nghèo mà biết kiên trì phấn đấu.
     * Thiên Cao Địa Quýnh 天高地迥 : Trời cao đất rộng.
     * Hứng Tận Bi Lai 興盡悲來 : Hết vui tới buồn.
     * Quan San Nan Việt 關山難越 : Núi non khó vượt.
     * Bình Thủy Tương Phùng 萍水相逢 : Bèo nước gặp nhau .....

           Image result for 滕王閣序 王勃 Image result for 滕王閣序 王勃
   
    Vì tích của Vương Bột, nên ta lại có câu :
             Thời lai phong tống Đằng Vương Các    時來風送滕王閣
Có nghĩa :
        Khi thời đã đến rồi thì sẽ có gió đưa đến Đằng Vương Các ngay. Trong Truyện Kiều để tả tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư với Thúc Sinh, cụ Nguyễn Du cũng mượn tích nầy :
                 
  Duyên Đằng thuận nẽo gió đưa,
              Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.
   ... và như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, bài thứ 8 tả lại mối tình giữa Công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử có câu :
                
   Tiên-dung gặp buổi đi chơi, 
            Gió đưa Đằng-Các, buồm xuôi Nhị-Hà,
      Hay như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả lại mối tình tiên tục giữa Tú Uyên và Giáng Kiều cũng có câu :
                
   Gác Đằng Vương mấy dặm khơi, 
                 Có duyên đành đã gió trời thổi đưa
.
 

                 Trên trời thì có Thiên Đàng, tương tự dưới đất cũng có Địa Đàng. Nhưng Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh là câu chuyện thường được sử dụng để giải thích nguồn gốc của tội lỗi và sai phạm của con người. Theo quan niệm Á Đông thì đối chiếu với Thiên Đàng 天堂 nơi dành cho những người tốt, là Địa Ngục 地獄, nơi mà những người xấu xa tội lỗi phải bị đày đọa trừng trị. Phật Giáo thì gọi là Địa Ngục A Tỳ 地獄阿鼻, Tiếng Phạn là Avīci Naraka. A Tỳ là Không gián đoạn, nên A Tỳ Địa Ngục là nơi những người ác phải chịu khổ nhục liên tục không gián đoạn. Theo Đạo Giáo thì 18 Tầng Địa Ngục do Thập Điện Diêm Vương cai quản, và A Tỳ Địa Ngục nằm ở tầng thứ 18 nầy, dùng để chứa những người làm ác nhất thiên hạ !
      Địa Tạng Vương Bồ-tát 地臟王菩薩 là vị Bồ tát giàu lòng nhân ái, được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Ngài qủa là vị Bồ-tát của chúng sinh dưới địa ngục. Hình tượng trên các bàn thờ Phật của Ngài trong các đám tang, đội mũ thất phật và mặc cà-sa màu đỏ, có tạo dáng giống như là Đường Tăng trong Tây Du Ký vậy.
            
                       Địa Tạng Vương Bồ-tát 地臟王菩薩

        Con người sống giữa trời đất, hợp với trời đất thành TAM TÀI 三才 : THIÊN ĐỊA NHÂN 天地人, nên hễ có bất cứ sự cố vui buồn gì xảy ra là cứ lôi cả trời đất vào trong cuộc sống của con người, vì thế mà ta có rất nhiều thành ngữ, khẩu ngữ liên quan đến Trời Đất như :

    1. Đĩnh Thiên Lập Địa 頂天立地 : Ta nói là Đội trời đạp đất.
    2. Kinh Thiên Động Địa 驚天動地 : Ta nói là Động trời động đất.
    3. Hôn Thiên Ám Địa 昏天黯地 : Ta nói là Tối trời tối đất.
    4. Phiên Thiên Phúc Địa 翻天覆地 : Ta nói là Nghiêng trời lở đất.
    5. Mai Thiên Oán Địa 埋天怨地 : Ta nói là Than trời trách đất.
    6. Đàm Thiên Thuyết Địa 談天說地 : Ta nói là Nói trời nói đất.
        Nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
    7. Hoa Thiên Tửu Địa 花天酒地 : Hoa trời rượu đất, ý nói là :
        Ăn chơi đàn điếm mút mùa. Ăn chơi lu bù trời đất.
    8. Hồ Thiên Hồ Địa 胡天胡地 : Quậy trời quậy đất, ý nói là :
        Quậy cho tới bến. Quậy đến nỗi không còn biết trời đất gì cả !
    9. Hoan Thiên Hỉ Địa 歡天喜地 : Mừng trời vui đất, ý nói là :
        Vui mừng qúa đỗi. Vui qúa trời qúa đất !
  10. Tạ Thiên Tạ Địa 謝天謝地 : Ta nói là Tạ trời tạ đất, là :
        Cám ơn trời cám ơn đất, là Cám ơn Trời Đất !
        Mười thành ngữ trên, lúc còn đi học, chúng tôi gọi cho vui là " Thập Đại Thiên Địa 十大天地 ". Mười cái TRỜI ĐẤT lớn nhất mà ta thường thấy trong cuộc sống hàng ngày !
       Từ Địa cuối cùng của bài viết nầy là từ Nghĩa Địa 義地 : Vốn là nơi công cộng để chôn cất người nghèo; sau nầy là những nơi của tư nhân mua để cho người trong dòng họ chôn cất hay của đoàn thể, đồng hương mua để an táng người qúa cố. Ở Việt Nam ta thì thường là của người Quảng Đông hay Triều Châu lập nên để chôn cất đồng hương. Nghĩa Địa 義地 âm Quảng Đông là " Dì tì "; âm Triều Châu là " Nghì tỳ ", nên người Việt ta đọc trại thành " Nhị Tì ", và vì vậy mà ta có kiểu nói để chỉ cái chết là " Hui Nhị Tì nhập thổ ", hay đơn giản hơn là : " Nó đã Hui Nhị Tì rồi !"
      Từ Nhị Tì lại làm cho ta nhớ đến bài hát " Nủa Đêm Ngoài Phố " của Trúc Phương là :
          ... Buồn vào hồn không tên. Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người. Mà yêu thương trót trao nhau trọn đời....

            đã được các danh hài Tùng Lâm, Phi Thoàng sửa lại thành :
          ... Buồn vào hồn Ma-ri, tôi nhớ cái đêm nàng đi dưới ánh đèn bên Nhị Tì, nàng bước tới... trao tôi...khúc bánh mì, và đưa luôn cho con gà rô-ti ...

     Xin được kết thúc bài viết nầy, không phải với " Thâp Đại Thiên Địa ", mà với... khúc bánh mì , và... con gà rô-ti, nhưng không có Nhị Tì. Ở Mỹ nầy chỉ có Funeral home ( nhà Tang lễ ) và nhà Hỏa táng mà thôi ( Đất chôn người chết mắc quá không kể !).


                                                            Đỗ Chiêu Đức

Xem Thêm :THỔ là ĐẤT - Phiếm Luận của Đỗ Chiêu Đức