Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
11 thg 6, 2019
Coi thức ăn là thuốc, bác sĩ Việt tại Mỹ chỉ cách ăn uống ngừa ung thư
28 thg 8, 2024
Chuối - Bs Wynn Tran
Xem Thêm :
1./
Ở nơi chuối là linh thiêng và phép màu chữa lành bệnh
2./
17 thg 12, 2020
20 Câu hỏi & trả lời về Vaccine Covid-19 từ BS Wynn Tran
Hôm nay, ngày 12/14/2020 là một ngày lịch sử trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 khi những mũi vaccine đầu tiên đã được tiêm cho các nhân viên y tế khắp nước Mỹ.
Tôi viết bài này trả lời 20 câu hỏi thường gặp về vaccine Covid-19 dựa trên các khuyến cáo về vaccine gần đây nhất của CDC và bài nghiên cứu đăng trên trên NEJM. Lưu ý là các khuyến cáo này có thể thay đổi.
1. Vaccine là gì? Vaccine mRNA của Pfizer là gì?
- Là cách chúng ta tập cho hệ miễn dịch của chúng ta quen với virus/vi khuẩn một cách nhân tạo. Khi virus hay vi khuẩn thật xuất hiện thì chúng ta đã có kháng thể đặc hiệu để giảm tổn thương do các virus hay vi khuẩn gây ra. Như một quốc gia tập trận, khi có
- Vaccine Covid-19 mRNA Pfizer là vaccine dùng công nghệ mới, lấy một phần nhỏ mã di truyền (mRNA) của virus Sars-Cov-2, để chích vào cơ thể người (1). Phần mã này chịu trách nhiệm tạo ra cầu gai ở bề mặt virus giúp bám vào tế bào người. Khi chích vào cơ thể, các tế bào kháng thể sẽ tạo ra các protein giống cầu gai virus, từ đó tạo ra kháng thể đặc hiệu vào các cầu gai này.
- Khi virus Sars-cov-2 thật xuất hiện, các kháng thể đặc hiệu sẽ bám vào, trung hòa virus và giảm thiểu khả năng nhân đôi, từ đó giảm bệnh nặng Covid-19.
- Vaccine mRNA của Pfizer cần 2 lần chích cách nhau 3 tuần để phát huy tác dụng tối đa.
2. Chích vaccine mRNA có làm thay đổi gene DNA của bệnh nhân?
- Không. Đây là một phần rất nhỏ gen trích từ virus và sẽ bị đào thải sau tế bào miển dịch dùng để tạo ra proten cầu gai. Việc chích vào không ảnh hưởng đến DNA (2).
3. Làm sao phân biệt giữa nhiễm virus Sars-Cov-2 và mắc bệnh Covid-19?
- Phần lớn bệnh nhân nhiễm virus sẽ tự phục hồi, chỉ một số ít có triệu chứng nặng phải nhập viện, và số ít trong số đó tử vong. Do vậy, nhiễm virus Sars-Cov-2 không nghĩa là có bệnh Covid-19, được định nghĩa là có các triệu chứng về hô hấp, mệt mỏi, đau nhức hoặc nặng hơn cần phải nhập viện.
4. Vaccine Covid-19 có giảm rủi ro mắc bệnh Covid-19?
- Có. Nghiên cứu lâm sàng chỉ ra chích ngừa vaccine mRNA giảm rủi ro bị bệnh nặng, chứ không nghiên cứu giảm rủi ro bị nhiễm virus hay phát lán lây nhiễm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi chích liều đầu tiên thì bệnh nhân đã có thể phát triển kháng thể đặc hiệu, giảm trên 50% rủi ro phát triển bệnh và đến giảm đến 95% rủi ro mắc bệnh sau khi chích liều thứ hai.
- Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ ra giảm rủi ro bị nhiễm virus Sars-cov-2 hay giảm rủi ro lây truyền virus cho người khác. Dù vậy, ở góc độ miễn dịch học, khi cơ thể sản sinh kháng thể đặc hiệu chống virus thì khả năng bị nhiễm virus và lây lan cho người khác có thể sẽ giảm theo do mật độ virus giảm hẳn.
5. Vaccine mRNA có an toàn?
- Có. Dựa trên dữ liệu giai đoạn 3 gần 40,000 người tham dự, FDA đã cho phép sử dụng vaccine này trong tình huống khẩn cấp.
6. Ai nên chích?
- Theo FDA khuyến cáo thì tất cả mọi người trên 16 tuổi nên chích. Hiện nay, do lượng cung cấp vaccine giới hạn nên vaccine dành cho nhân viên y tế và người lớn tuổi tại các viện dưỡng lão. Trong vài tuần tới, sẽ có thêm vaccine cung cấp cho nhiều người tại văn phòng BS, tiệm thuốc, bệnh viện, và các nơi khác. Mục tiêu là tất cả mọi người sẽ được chích vaccine.
7. Các triệu chứng nào có thể gặp sau khi chích vaccine?
- Đau nhức chỗ chích hay cảm giác như bị cảm, sốt nhẹ, đau nhức. Đây là dấu hiệu cho thấy hệ miễn dịch đang học cách phản ứng với các protein cầu gai được tạo ra.
8. Chích vaccine rồi vẫn có thể lây bệnh cho người khác?
Có thể vì như tôi giải thích ở trên, vaccine chỉ ngăn ngừa việc nhiễm virus Sars-cov-2 phát triển thành bệnh Covid-19 chứ không hẳn là giảm khả năng lây lan hay nhiễm virus mặc dù khả năng lây nhiễm sẽ thấp hơn sau khi chích vaccine.
9. Chích vaccine rồi có nên giữ khoảng cách, rửa tay, và đeo khẩu trang?
- Có. Vẫn phải làm cho đến khi đại dịch kiểm soát hoàn toàn, khi chúng ta đã có miễn dịch cộng đồng.
10. Phụ nữ mang thai và đang cho con bú có nên chích không?
- Có. Trong khi nghiên cứu của Pfizer không thử nghiệm vaccine trên phụ nữ mang thai và cho con bú, Hội BS sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) vừa ra khuyến cáo đồng ý phụ nữ có thai và đang cho con bú chích vaccine (3).
11. Đang bị bệnh Covid-19 thì có nên chích vaccine hay không?
- Không. Bệnh nhân nên đợi hết các triệu chứng của Covid-19 rồi chích vaccine (5). Các nghiên cứu chỉ ra khả năng tái nhiễm rất thấp trong vòng 90 ngày sau khi nhiễm bệnh Covid-19 nên bệnh nhân có thể đợi hết 90 ngày rồi chích vaccine, mặc dù thực tế bệnh nhân có thể chích ngay khi hết bệnh Covid-19 (không còn bằng chứng virus qua test PCR).
12. Đã khỏi bệnh Covid-19 có nên chích không?
- Có. Vì khả năng tái nhiễm là có thể và khả năng phát triển bệnh nặng hơn có thể giảm bằng vaccine nên CDC vẫn khuyên người đã khỏi bệnh Covid-19 vẫn nên chích (2).
13. Chích vaccine sẽ bảo vệ trong bao lâu? có cần chích lần nữa vào năm sau?
- Hiện nay nghiên cứu chỉ ra ít nhất là hai tháng mặc dù thực tế có thể kéo dài lâu hơn. Hãng Pfizer đang tiếp tục theo dõi khả năng miễn dịch của các bệnh nhân sau khi chích.
14. Có cần phải chích cả mũi 2 vaccine?
- Có. Để có hiệu quả tốt nhất.
15. Bị dị ứng có nên chích vaccine?
- Có. Trừ khi bệnh nhân bị dị ứng nặng như đã có tiền sử sốc phản vệ, phải mang theo "bút" chống phản vệ Epipen thì bệnh nhân nên thảo luận với BS để quyết định có nên chích hay không. Hiện nay CDC vẫn khuyến cáo chích vaccine với người bị dị ứng nặng (6) và cần theo dõi kỹ hơn sau khi chích (30 phút so với 15 người ở người bình thường).
16. Bị méo mặt (Bell's palsy) có phải do chích vaccine?
- 4 người tham gia vaccine bị méo mặt trong khoảng 3 đến 48 ngày sau khi chích. Tỉ lệ này là tương đương với tỉ lệ thường bị Bell's palsy trong dân số và FDA cho rằng vaccine không phải là nguyên nhân gây ra.
17. 6 người tử vong trong khi thử nghiệm Covid-19 do đâu?
- Theo báo cáo thì có 4 người tử vong trong nhóm giả dược, không chích thuốc, và 2 người tử vong trong nhóm chích thuốc, do đột quỵ và đau tim. Tỉ lệ là 2/18,000. Hiện nay tỉ lệ tử vong do đột quỵ và bệnh tim mạch trong dân số Mỹ là 45/100,000 người (thống kê từ CDC), tức khoảng 8/18,000 người. Do đó, tỉ lệ tử vong 2 người trên 18,000 người tham gia nghiên cứu còn thấp hơn tỉ lệ tử vong do đột quỵ/bệnh tim ở ngoài.
- Nói cách khác, tử vong khi tham gia thử nghiệm không liên quan đến tiêm vaccine.
18. Có phải Vaccine sẽ kết thúc đại dịch?
-Vaccine chỉ là một phần quan trọng trong việc chống đại dịch. Chúng ta cần làm nhiều thứ chung để cùng nhau chống dại dịch này như giảm lây lan, giữa khoảng cách, rửa tay, đeo khẩu trang, và quan trọng nhất là tạo ra hệ miễn dịch tốt.
19. Khi nào dịch Covid-19 sẽ hết tại Mỹ?
- Sẽ mất thêm một thời gian, ít nhất là đến hè năm sau khi chúng ta có miễn dịch cộng đồng (khoảng 75% dân số đã có kháng thể với virus) thì virus sẽ không thể lây lan. Vì vậy, chích ngừa vaccine là một trong những cách hữu hiệu nhất để mau chóng xây miễn dịch cộng đồng.
20. Xét nghiệm sau khi chích vaccine sẽ như thế nào?
- Sẽ thấy sự có mặt của kháng thể IgM/IgG cho thấy cơ thể đã có miễn dịch với virus Sars-Cov-2. Lưu ý là xét nghiệm tìm virus PCR sẽ không bị ảnh hưởng sau khi chích vaccine vì bệnh nhân vẫn có thể bị nhiễm virus, nhưng ít khả năng phát triển thành bệnh nặng.
BS Wynn Tran, Los Angeles, Hoa Kỳ.
4 thg 3, 2021
Đột quỵ ngăn ngừa được không?
Mấy hôm nay, tôi bàng hoàng nghe tin một người tôi quen qua đời vì đột quỵ.
Tôi cũng nhận được nhiều câu hỏi về làm sao ngăn ngừa hay tầm soát đột quỵ. Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ phân tích lại bệnh đột quỵ, đặc biệt loại đột quỵ nguy hiểm do vỡ túi phình, các khuyến cáo ngăn ngừa, các
xét nghiệm có thể giúp ngăn ngừa và cách tầm soát đột quỵ.
# Đột quỵ là gì?
- Đột quỵ là do một vùng não bị mất oxygen đột ngột do mạch máu bị ngưng tuần hoàn. Có 2 loại đột quỵ chính là đột quỵ do nghẽn mạch máu (ischemic stroke), chiếm phần lớn (85-90%) và đột quỵ do vỡ mạch máu (hemorrhagic stroke), chiếm ít hơn (dưới 10%). Loại đột quỵ khác là TIA (cơn thiếu máu thoáng qua) cũng có thể coi là một dạng đột quỵ cho nghẽn mạch máu, nhưng cục máu đông sau đó lọt qua được khe hẹp và dòng máu lưu thông trở lại (nên gọi là cơn thiếu máu thoáng qua)
- Đột quỵ là một quá trình phát triển bệnh từ từ, không có triệu chứng, đến một giai đoạn nhất định thì bùng phát như giọt nước tràn ly. Với đột quỵ do nghẽn mạch máu (ischemic stroke) thì quá trình này bắt đầu từ cao huyết áp không kiểm soát, cao mỡ, tiểu đường, và các yếu tố viêm như hút thuốc lá khiến mạch máu dần dần bị nghẹt. Với trường hợp vỡ mạch máu (hemorrhagic stroke) cũng vậy, thường bắt đầu bằng cao huyết áp không kiểm soát, dẫn đến xơ vữa cứng động mạch làm dễ vỡ khi áp lực trong mạch máu quá lớn.
# Đột quỵ do vỡ túi phình mạch máu não (brain aneurysm rupture)
- Loại đột quỵ vỡ mạch máu do túi phình (Aneurysm) là loại nguy hiểm hơn do vỡ mạch máu dạng này thường lớn, tổn thương nhiều hay toàn bộ vùng não, và khó can thiệp. Vỡ túi phình thường dẫn đến xuất huyết dưới màng nhện (subarachnoid hemorrhage) khiến cho phần không gian dưới nhện, là nơi dịch não tủy lưu thông, bị nghẽn, khiến cho bệnh nhân bị liệt, hôn mê, thậm chí tử vong rất nhanh.
- Túi phình là giãn nở một đoạn của động mạch khiến cho thành mạch vùng này mỏng hơn so với chỗ khác (tương tự như phù ruột xe đạp). Thường túi phình phát triển chỗ nhánh rẽ của động mạch do thành mạch nơi này thường mỏng hơn so với chỗ khác.
- Túi phình trong não có nhiều kích cỡ khác nhau, từ vài milimet đến vài cm. Khoảng 6.5 triệu người Mỹ có túi phình trong não (1 trong 50 người), nữ có nhiều hơn nam, và túi phình thường xuất hiện trong khoảng tuổi 35 đến 60, phần lớn túi phình phát triển sau 40 tuổi. Phụ nữ, nhất là sau 55 tuổi, có rủi ro vỡ túi phình gấp 1.5 lần so với nam. Ước tính khoảng 50-80% túi phình cỡ nhỏ không bị vỡ (1). Kích cỡ túi phình trên 2.5 cm (khoảng 1 inch) là nguy hiểm do khả năng vỡ cao và khó chữa.
# Triệu chứng vỡ túi phình: ngoài các triệu chứng thường gặp của đột quỵ như liệt yếu, thay đổi giọng nói, ..bệnh nhân bị vỡ túi phình còn có những triệu chứng sau
- Mờ mắt hay mất thị lực, mí mắt sụp một bên, giãn đồng tử
- Nhức đầu kinh khủng, nhất là bên trong mắt
- Tê liệt và yếu
- Ói mửa và buồn nôn
- Cứng cổ, co giật, động kinh
Lưu ý là bệnh nhân có thể có những triệu chứng khác ngoài những triệu chứng trên.
# Cách ngăn ngừa đột quỵ theo khuyến cáo của hội đột quỵ Hoa Kỳ và hội tim mạch hoa kỳ
- Ai cũng có rủi ro bị đột quỵ, càng lớn tuổi thì các rủi ro càng cao. Các khuyến cáo ngăn ngừa hiện nay nhằm vào kiểm soát các bệnh mãn tính (lâu dài), thay đổi lối sống, và cùng chủ động chăm sóc sức khỏe với BS.
- Hội đột quỵ Hoa Kỳ đưa ra 8 điều nhằm giảm rủi ro đột quỵ (2)
+ Tìm ra rủi ro đột quỵ của mình dựa mình các yếu tố như huyết áp, các lab, và chỉ số khác. Hội đột quỵ Hoa Kỳ khuyên bệnh nhân nên thử tính toán rủi ro đột quỵ của mình tại https://ccccalculator.
+ Ăn uống khỏe mạnh với chế độ cân bằng, gồm có rau củ quả tươi, fiber, đạm và chất béo vừa phải. Quý vị có thể xem các video về dinh dưỡng ăn uống của tôi.
+ Giữ cơ thể vận động thường xuyên (physical active) như tập thể dục đều đặn. Tập thể dục được tính là 150 phút tập nhẹ mỗi tuần (hay gần 1g tập 3 lần mỗi tuần) hoặc 75 phút tập nặng (25 phút một lần và 3 lần mỗi tuần). Quý vị xem lại video tập thể dục sao cho đúng của tôi (video # 122 )
+ Theo dõi cân thường xuyên. Cân nặng, đặc biệt là thừa cân và béo phì là những rủi ro rất nguy hiểm cho đột quỵ
+ Không hút thuốc vì đây là một rủi ro cao có thể dẫn đến đột quỵ. Lưu ý là hút thuốc thụ động (ở chung nhà với người hút thuốc) cũng tăng rủi ro đột quỵ
+ Kiểm soát các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, hay cao mỡ. Các bệnh này đều làm mạch máu dần dần nhỏ hẹp, xơ cứng, dẫn đến đột quỵ
+ Uống thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của BS, ngay cả khi các bệnh đã kiểm soát hoàn toàn. Một số bệnh nhân khi thấy huyết áp đã ổn định thì ngưng thuốc. Quý vị xem lại có nên uống Aspirin để ngăn ngừa đột quỵ (video #261)
+ Chủ động trong việc chăm sóc sức khỏe của mình cùng với BS, hỏi các câu hỏi liên quan và tìm ra cách chăm sóc thích hợp nhất cho quý vị
# Có nên tầm soát đột quỵ bằng siêu âm động mạch cảnh?
- Tầm soát là cách tìm bệnh sớm mà chưa có triệu chứng. Hiện nay ngăn ngừa đột quỵ chủ yếu dựa vào các khuyến cáo nói trên. Trường Y khoa Harvard có phân tích một bài về siêu âm động mạch cảnh (3), là cách mà quý vị có thể nghe nói trong việc tầm soát đột quỵ.
- Động mạch cảnh là động mạch chính cung cấp máu lên não từ tim. Chúng ta có 2 động mạch cảnh ở hai bên cổ. Khi BS kiểm tra mạch đập ở cổ là kiểm tra mạch này. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đột qụy có liên quan đến hẹp động mạch cảnh, vì vậy, siêu âm động mạch cảnh được xem là một cách có thể tầm soát đột quỵ sớm.
- Thực tế thì đột quỵ phức tạp hơn nhiều so với việc siêu âm động mạch cảnh. Các nghiên cứu chỉ ra phần lớn đôt quỵ xảy ra ở bệnh nhân không bị hẹp động mạch cảnh. Và quan trọng hơn, việc đo lường chính xác độ hẹp của động mạch cảnh lại tùy thuộc vào kinh nghiệm của chuyên viên siêu âm. Vì vậy, trường Harvard và tổ chức chuyên khoa như Hội Đột Quỵ Hoa Kỳ không khuyến cáo dùng siêu âm để tầm soát đột quỵ.
# Xét nghiệm tìm túi phình trong não (brain aneurysm)
- Hiện nay, các BS không khuyến cáo bệnh nhân làm xét nghiệm tìm túi phình trong não nếu không có các điều kiện sau
+ có bệnh sử về túi phình trong não
+ bị đột quỵ xuất huyết dưới nhện
+ có người thân bị túi phình trong não
+ có các bệnh di truyền như Marfan Syndrome, Ehlers-Danlos syndrome IV, hoặc đa nang thận (Polycystic kidney disease)
# Tóm lại
- Đột quỵ là bệnh nguy hiểm dẫn đến tử vong hàng đầu tại Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới. Có 2 loại đột quỵ là nghẽn mạch máu và vỡ mạch máu, đều do quá trình tích lũy dần dần của bệnh lý.
- Đột quỵ do vỡ túi phình trong não là loại cực kỳ nguy hiểm.
- Cách tốt nhất để ngăn ngừa đột quỵ là tập thể dục, thay đổi lối sống, bỏ thuốc lá, ăn uống cân bằng.
BS Wynn Tran, Los Angeles, Hoa Kỳ
13 thg 1, 2018
2018 và tương lai: sức khỏe con người "tiến bước" theo xu hướng nào?
1. Được chăm sóc sức khỏe tại nhà
Các nghiên cứu cho thấy chăm sóc tại nhà bệnh nhân, liên kết sau bệnh nhân khi xuất viện hoặc sau khi bệnh nhân khám tại phòng khám, cho một số bệnh mãn tính làm bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn và chất lượng chăm sóc tốt hơn.
Bác sĩ và y tá cũng bớt việc hơn, và có thể tiết kiệm được chi phí nếu bệnh nhân nhập viện.
Thêm nữa, việc khám chữa bệnh tại nhà giảm hẵn các rủi ro về nhiễm trùng, té ngã, hoặc bị mê sảng khi nhập viện.
2. Bác sĩ giỏi là bác sĩ giữ cho quý vị khỏe mạnh, chứ không chỉ là bác sĩ chữa bệnh
Bằng cách ngăn ngừa bệnh dựa trên các rủi ro, các bác sĩ gia đình có thể giúp cho bệnh nhân khoẻ mạnh thay vì chữa bệnh cho họ.
Triết lý "phòng bệnh hơn trị bệnh" của Á Châu dần lan toả qua nền y khoa Phương Tây khi mọi người nhận ra tầm quan trọng của ngừa bệnh.
Kết hợp các phương pháp điều trị hiện đại và phán đoán rủi ro của Tây Y với triết lý Đông Y, chăm sóc sức khỏe toàn diện cho bệnh nhân sẽ là xu hướng mới.
3. Bệnh nhân và bác sĩ sẽ trở thành "cặp" trong các quyết định về sức khoẻ
Bác sĩ và bệnh nhân trở thành "cặp" để cùng chia sẽ và ra quyết định các vấn đề về sức khoẻ sẽ thường xuyên hơn thay vì luôn nghe lời bác sĩ hoặc mong muốn bác sĩ ra quyết đính điều trị.
Các nghiên cứu cho thấy nhiều bệnh nhân chọn cách này hơn vì chất lượng chữa bệnh tốt hơn và bệnh nhân được lắng nghe và ra quyết định.
4. Chữa cơn đau sẽ có "toa thuốc" mới
Các trị liệu về tinh thần ngày càng đóng vai trò trong việc chữa trị đau. Có người được trị liệu viết văn. Các trị liệu khác như thú cưng hoặc cây kiểng dần dần được chú trọng.
Điểm mấu chốt của các chữa đau này là để bệnh nhân làm chủ cơn đau hơn qua các hoạt động yêu thích, từ đó giảm chú tâm vào cơn đau.
5. Hiểu về gen giúp ngăn tử vong sớm
Năm 2015, diễn viên Angelina Jolie cắt bỏ 2 bên vú của mình để ngừa bệnh ung vú sẽ phát triển, dựa trên các phân tích gen BRCA1 của cô, mặc dù cô chưa có khối u nào.
Một nữ bệnh nhân khác, 40, tuổi, cũng được phân tích về gen và các bác sĩ tìm ra một số gen dị biến trong mã gen của cô. Mã dị biến này có thể khiến cô bị ung thư buồng trứng.
Các bác sĩ lập tức chụp hình vùng chậu và tìm ra một khối u 3cm mà cô không hề có bất kỳ triệu chứng nào. Sinh thiết khối u cho thấy ung thư ác tính. Bệnh nhân được cứu sống nhờ vào phân tích gen của cô.
Việc giải mã thành công ngân hàng gen và theo dõi các dị biến gen của chúng ta đã khiến việc sàng lọc các bệnh nhân rủi ro cao tốt hơn, dẫn đến chữa ung thư từ khi còn trong trứng nước.
6. Khám bệnh từ xa sẽ như khám tại phòng mạch
Các kỹ thuật hiện đại cho chất lượng video và hình ảnh tốt khiến việc chẩn đoán và khám bệnh từ xa dể dàng hơn. Các phòng khám bệnh từ xa liên tục mọc trên mạng những năm gần đây.
Các loại bệnh được chẩn đoán ngày càng nhiều hơn ví dụ như tim mạch, cơ xương khớp, và tự miễn. Đặc biệt, tâm lý và tâm thần là 2 khoa phát triển nhanh nhất về khám bệnh từ xa gần đây do nhiều bệnh nhân tâm thần không cần phải đến văn phòng bác sĩ mà vẫn được chữa bệnh.
7. Tế bào gốc trị liệu cho tất cả các loại bệnh sẽ gần hiện thực
Những năm gần đây, trị liệu tế bào gốc nổi lên như một trị liệu mới khi mà tế bào gốc, về mặt lý thuyết, sẽ phát triển thành bất kỳ các loại tế bào nào.
Tuy nhiên, tất cả những trị liệu tế bào gốc cho đến nay vẫn là thử nghiệm.
Các cập nhật mới nhất cho phép tạo ra tế bào gốc từ mô mỡ hoặc da, mở ra hướng trị liệu hoàn toàn mới. Trước kia, các tề bào gốc thường lấy từ cuốn rốn, khiến cho nguồn tế bào gốc giới hạn và tạo ra những tranh luận về đạo đức.
Các thử nghiệm về tế báo gốc của chính bệnh nhân trong việc trị thoái hoá khớp hoặc tổn thương sụn đang cho những kết quả rất khả quan.
Một ngày gần đây, tế bào trị liệu sẽ còn đi xa hơn và có thể được xem là một bước phát triển mới, y như tìm ra "thuốc kháng sinh" cho ngành y những năm 1940s.
8. Trị liệu ung thư bằng liệu pháp miễn dịch
Năm 2015, cựu tổng thống Mỹ được chẩn đoán ung thư hắc tố da di căn lên não và tiên lương rất xấu.
Ông được chữa bằng Keytruda (Pembrolizumab), một loại thuốc đặc biệt nhắm vào các "trạm kiểm soát' (checkpoint inhibitor) của hệ miễn nhiễm và tháo bỏ các trạm này. Các tế bào của hệ miễn nhiễm được tự do, sống lâu hơn, và tấn công vào tế bào ung thư.
Kết quả là cựu tống thống Mỹ vẫn còn sống đến nay.
Dùng chính tề bào miễn nhiễm để tân công ung thư, một dạng như tự thanh trùng nội bộ, cho các kết quả khả quan. Trị liệu này ít có tác dụng phụ vì kích thích hệ miển nhiễm tấn công ung thư chứ không dùng hoá trị.
Một liệu pháp miễn dịch khác là dùng vaccine để kích hoạt hễ miễn dịch. Sau khi thành công của Keytruda, rất nhiều thuốc trị liệu miễn dịch đã được FDA chấp thuận.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có kết quả tốt với liệu pháp miễn dịch. Chỉ có khoảng 15-25% bệnh nhân có tác dụng thật sự và các bác sĩ vẫn chưa tìm ra lý do tại sao.
Với các nghiên cứu và kỹ thuật mới, liệu pháp miễn dịch chắc chắn sẽ đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến ung thư.
9. Khám bệnh với bác sĩ robot và trí tuệ nhân tạo
Đầu năm 2017, bệnh viện El Camino vùng Sillicon Valley, California, giảm hẳn tị lệ té ngã trong bệnh viện đến gần 40%. Lý do là bệnh viện dùng trí tuệ nhân tạo để tìm ra các bệnh nhân có khả năng rủi ro té ngã cao trong hàng trăm bệnh nhân nằm viện và đưa ra cách ngăn ngừa.
Bằng cách dùng trí tuệ nhân tạo, các bác sĩ cũng đã kiểm soát nhiểm khuẩn tốt hơn và tạo ra các vùng an toàn ít nhiễm khuẩn trong bệnh viện.
Ở bên kia bán cầu, Xiaoyi, bác sĩ robot của Trung Quốc, đã thi đậu bằng hành nghề bác sĩ vào đầu tháng 11-2017 sau khi trải qua kỳ thi y khoa cam go và ghi điểm 456/600 (điểm đậu là 300/600).
Bác sĩ robot Xiaoyi sẽ tiếp tục "học" thêm và các nhà khoa học hy vong bác sĩ này sẽ giúp việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở vùng sâu xa, nơi cực kỳ thiếu bác sĩ, sẽ tốt hơn.
Điểm đặc biệt của bác sĩ robot Xiaoyi là anh "học" cực kỳ nhanh và nhớ lâu hơn bác sĩ người.
Úng dụng của trí tuệ nhân tạo và bác sĩ robot sẽ còn đi xa hơn do khả năng phân tích và tra cứu nhanh cộng với làm việc không hề kiệt sức, chỉ tốn điện.
10. Biến đổi khí hậu toàn cầu khiến dễ bệnh hơn
Các nghiên cứu gần đây cho thấy khí hậu ấm lên đã dẫn đến nhiều bệnh hơn do ô nhiễm không khí, nhiễm trùng, dị ứng, hoặc do qua nóng.
Năm 2009, Trung Tâm kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) lập chương trình "Bệnh và khí hậu" nhằm theo dõi các thay đổi của khí hậu và tần suất bênh tăng.
Virus Zika phát triển do muỗi có thể liên quan đến khí hậu ấm hơn, dẫn đến thay đổi độ ẩm và tăng mật độ muỗi.
Mặt khác, khí hậu ấm lên khiến tăng mật độ của phấn hoa tăng, dẫn đến các bệnh suyễn và dị ứng nhiều hơn.
Các cơn sốc nhiệt cũng tăng gần đây do nhiêt đột tăng cao.
Như vậy, tương lai của ngành y đang liên tục thay đổi để cung cấp chất lượng khám chữa bệnh tốt hơn.
Chúc quý vị qua năm mới đầy sức khoẻ.

