28 thg 11, 2024

CHUYỆN GẦN ĐÂY GIỜ MỚI KỂ (tt) Chuyện 2.

 Chuyện 2.


Sáng thứ Tư 20/11/2024 - đúng vào ngày NGVN, chúng tôi - nhóm cựu giáo sinh trường SPSG thuộc các Khoá 8, 9 và 13 (tự gọi là “Nhóm Chalohe”, hay tụ tập tại Càphe 203 CMT8) đã đến thăm Thầy Nguyễn Duy Linh tại nhà con gái của Thầy ở Gò Vấp. Nói cho chính xác hơn là Thầy đã có “lệnh triệu tập” các học trò cũ đến “trình diện” Thầy!😅.
Thầy nguyên là cựu giáo sư - người Thầy chung của hầu hết giáo sinh 13 khoá ở trường SPSG (1962-1975), một người Thầy rất gần gũi, thân tình với tất cả - từ đồng nghiệp cho đến học trò.
Thầy định cư ở Mỹ và hầu như năm nào cũng về VN thăm con cháu, học trò và làm giỗ cho Cô. Lần này cũng vậy.
Gặp nhau tay bắt mặt mừng. Mừng vì thấy ông Thầy 92 niên kỷ vẫn khoẻ, minh mẫn, linh hoạt, nhớ và có thể kể đủ mọi chuyện, nhất là những việc liên quan đến SPSG.
Ở nhà Thầy, chúng tôi lại được gặp 2 bào đệ của Thầy: Thầy Nguyễn Đức Lưu (90t - từ Úc về gặp anh trai), thầy Nguyễn Vinh Hiển (82t, Việt kiều Mỹ đang sống ở VN). Tất nhiên chúng tôi cũng được gặp lại vợ chồng chủ nhà: chị Vân và anh Xiển - con gái & con rể của Thầy.
Hàn huyên một lát, chúng tôi được Thầy và gia đình khoản đãi điểm tâm & coffee ớ các quán gần đấy. Và ở đó, các Thầy & các Trò - những người cùng… già cả, tóc đều bạc như nhau, thư thả chuyện trò vể đủ mọi chủ đề, “tri tân” thì ít nhưng “ôn cố” thì nhiều! Xét cho cùng đó cũng là lẽ thường tình đối với những người đã… cũ!
Sau khi điểm tâm xong, tất cả quay lại nhà Thầy. ĐVL có việc xin rời sớm, các anh vẫn ở đấy tán gẫu với Thầy và nhận quà Thầy cho - mỗi người tự chọn một chiếc mũ đẹp. Tôi vẫn hay tếu táo đúa: Các học trò lại… “được” Thầy Linh “chụp mũ”. Hôm trước, tôi đã được “chụp 1 cái mũ” ưng ý rồi đấy thôi! Cám ơn Thầy!
Vui vì được gặp lại Thầy.
Chúc Thầy vui khoẻ, bình an ạ!
P/s Thầy cũng là một nhà thơ nữa đấy. Mọi người đã biết nhưng ĐVL vẫn phải lưu ý! 👏👍🎉











Trái đất mọc - Lê Học Lãnh Vân (Văn Việt )

Lê Học Lãnh Vân

Chuyến tàu vũ trụ Apollo 8 đã chụp được hình Trái Đất “mọc” lên từ đường chân trời của Mặt Trăng. Điều này cũng giống như người trên Trái Đất thấy Mặt Trời mọc buổi sáng từ đường chân trời của Trái Đất.

Khi con người đứng trên Trái Đất, lấy Trái Đất làm trung tâm, nói kiểu Toán học là lấy Trái Đất làm gốc tọa độ, thì con người thấy Mặt Trời mọc, Mặt Trăng mọc. Thời xưa, con người chưa đủ tiến bộ về khoa học, kỹ thuật để có thể bay lên Mặt Trăng. Khi con người lên tới Mặt Trăng, cái nhìn của người đứng trên Mặt Trăng phải khác cái nhìn của người đứng trên Trái Đất! Trái Đất đã mất vị trí độc tôn là gốc tọa độ rồi!

Bây giờ khoa học kỹ thuật của con người đã tiến bộ rất xa so với năm 1969, tức năm con người đặt bước chân đầu tiên lên Mặt Trăng. Con người hiện nay đủ sức đưa phi thuyền lên Sao Hỏa cách Trái Đất gần hai trăm lần so với Mặt Trăng! Kiến thức của con người cũng cách thời đó một khoảng xa tương ứng!

Vậy mà có người lại nói chuyện Apollo 11 đổ bộ lên Mặt Trăng là dàn dựng! Những người này không chấp nhận thay đổi, không tin vào các chứng cớ khoa học được công khai rất rõ ràng.

Điều này không khác gì một người chỉ chăm chăm cho rằng cái mặt đồng xu mình nhìn thấy là hình ảnh thực của đồng xu mà không chấp nhận mặt bên kia. Chỉ việc xoay đồng xu lại xem mà họ cũng không chịu làm, lại ngăn cản người khác xem nữa chứ!

Những người như vậy cũng giống như những người chỉ biết có triết thuyết mình học từ thủa mới vào đời, rồi bám vào triết thuyết đó mà hoạt động, mà sống, mà tranh đấu giành giật… Họ ngoảnh mặt với tất cả các triết thuyết khác dù thực tế cuộc sống cho thấy những triết thuyết khác phù hợp hơn với cuộc sống, họ phủ nhận tất cả các bằng chứng rất thuyết phục rằng triết thuyết họ theo đã lỗi thời. Họ dùng tất cả sức lực và tinh thần bảo vệ cái triết thuyết mang lợi cho họ theo phương châm “còn triết thuyết còn mình”, mặc kệ triết thuyết đó đang gây chậm tiến cả xã hội…

Hơn nữa, kiến thức con người là một dòng chảy không ngừng. Thế hệ sau đứng trên vai thế hệ trước, thu thập, tổng hợp kiến thức của các thế hệ trước mà đưa kiến thức thế hệ mình lên một mức cao hơn của vòng xoáy kiến thức đi lên. Sao có thể đóng đinh mình và thế hệ mình vào một kiến thức ra đời hàng trăm năm trước và cho đó là đỉnh cao nhất của kiến thức loài người? Có phải những người tự đóng đinh đó đang cố gắng chặn tiến trình diễn biến và diễn tiến của xã hội, một quy luật tiến hóa của nhân loại?

Ông Kant, người mà năm nay thế giới kỷ niệm ba trăm năm ngày sinh, cho rằng những người chỉ nhìn một mặt triết thuyết như thế là những người nếu không bị dẫn đường bởi cảm nhận mù quáng thì cũng bởi nhận thức thiếu thực tế !


27 thg 11, 2024

Chị Tôi Trời Bắt Xấu - Thuyên Huy

 Chị Tôi Trời Bắt Xấu

Viết mà nhớ chị tôi, sinh ra trời bắt xấu, đã ngủ yên đâu đó từ lâu lắm rồi  Chuyện tưởng tượng mà như thật

 



Tôi và chị không phải là chị em ruột, cả hai là con nuôi của ba má, tôi không biết mình sinh ra ở đâu, ngày tháng năm nào vì ba má không hề nói tới, và cũng không biết là ở đây từ hồi nào, chỉ biết chị lúc đó chừng bảy tám, tôi chập chửng lên ba. Tôi chưa hề nghe tiếng ru nằm nôi hay bầu sửa mẹ, cái võng đong đưa cho con nồng giấc ngủ và không biết gọi tiếng ba tiếng má khi nào, đơn giản là ở nhà này, ba má tôi là đó. Ba má thương hai chị em nhiều lắm, không la rầy, mắng chữi gì cả nhưng có phần thương tôi nhiều hơn chị một chút, không biết tại sao. Chị thương tôi lắm, ẳm bồng, dắt díu đi chơi chỗ này chỗ nọ quanh chợ xã, tôi đòi ăn cái gì thì chị cũng cười cho, tôi ngủ với chị nhiều hơn ngủ với ba với má, ít khi thấy ba má buồn, nói vậy chứ từng tuổi đó mà biết buồn là cái gì, cứ cười cứ khóc, cứ đòi cứ hỏi cái này cái kia cho được, vậy thôi. Nhà nghèo nhưng không túng quẩn, cũng đủ ăn đủ mặc, ba má tôi lúc này chắc hơn năm mươi ngoài, không còn trẻ nhưng vẫn mạnh khỏe, ít khi đau ốm, trời chắc thương nên hai chị em cũng vậy, lâu lâu sổ mũi, ho hen chút chút vậy thôi.*

Nhà tôi, căn nhà mái tôn vách ván, miếng chầm miếng vá, miếng hở miếng khít, trên khoảnh đất thịt nhỏ, nằm cách khu phố chợ xã, một cái xã nghèo, nửa quê nửa chợ, con đường mòn chia đôi nhà tranh nhà ngói, có sân trước sân sau, lại cách căn nhà kế bên về phía dưới ấp một hàng cây chùm ruột thường có trái muộn, chị cũng hay trèo hái, hái chơi thôi chứ không ăn vì chua quá. Cái sân cũng khá rộng, má trồng đủ thứ rau cà, có ba bốn bụi chuối sứ to đùng, và hai cây ổi xá lị rậm tàng nhưng không cao, chị nói ba trồng, trồng hồi nào chị không biết, đầu mùa trái tới, trái nhiều lắm, mẹ sai chị trèo lên, bắt thang hay chuyền từ nhánh này qua nhánh kia, lấy bao giấy má làm hình cái giỏ nhỏ, cột che từng trái một, ba má nói cột như vậy, trái sẽ lớn, trắng tinh và ngọt lịm cũng như không bị chim ăn quạ rĩa. Má nói trúng thiệt, lúc ổi chin, chị phụ má hai xuống, mùa nào cũng cả hai cần giỏ lớn, trài lớn bằng chén ăn cơm, trắng xanh thấy thèm, má lựa ba bốn chục ở nhà ăn, còn lại đem bán. Lúc đầu chưa có nhiều lắm, đâu đó chừng cở trăm trái, chị phụ má đem ra chợ xã bán, người ta mua cũng bộn, sau đó không biết trong chợ có ai mách bảo mà hai ba thiếm từ dưới quận lên, mua mảo hết, trả tiền ngay, má cho biết họ chở xuống bán lại cho mấy vựa chuyên buôn bán trái cây ở tận dưới Sài Gòn.

Ba đi làm người giữ kho xuất nhập của xưởng làm đồ nhôm nồi nêu soong chảo của ông cựu cai tổng thời còn Tây dưới quận, sáng đi chiều về với cái xe gắn máy hiệu gì đó của Đức, cơm nước chiều xong, ba ngồi dạy hai chị em học, chị đọc bài làm toán tôi thì đánh vần ê quanh ngọn đèn dầu lớn, sau này nhờ chú thiếm chủ tiệm vàng quen, nhà cuối dãy phố gạch, kéo dây điện chuyền qua, phụ trả tiền chút đỉnh, ba gắn được mấy bóng đèn nhà trước nhà sau nên sáng sủa hơn.

Chị học dở và xem ra, theo má nói chị chậm hiểu và hơi ngu ngu một chút, tôi chả hiểu ngu ngu là gì nhưng thấy ba bắt chị đọc đi đọc lại, làm tới làm lui nhiều lần, cũng không xong, chị nhìn ba cười trừ, ba cũng chịu thua cười với chị thôi. Chị học tới lớp Nhất, thôi học năm tôi vào lớp Năm, trường tiểu học xã cách chợ một khoảng sân cỏ rộng, đầy hoa Mười giờ, cách nhà tôi không mấy xa, đi bộ chừng bốn năm phút, trống trường vào học ra về nghe rõ mồn một, tội nghiệp chị, ba má muốn chị học nữa nhưng, chị không mấy thiết tha vì mình kém và chậm nhớ quá, ba má buồn đó nhưng đành thôi, dù sao thì chị là con gái nên cũng không sao.

*

Từ ngày nghỉ học, chị lăng xăng làm gần hết mọi việc trong nhà, dù mới mười một mười hai, chị biết nấu cơm, rửa chén, phụ má giặt quần áo, nhúm lửa bếp ông táo rất hay, má thường khen, nói vậy là vì thời đó ở nhà chụm lửa bằng củi khô, nhánh nhỏ thì chị ưa dắt tôi đi theo ra con đường làng rộng, sau nhà lượm mấy nhánh khô từ mấy cây sao cao ngất đem về, còn củi lớn thì ba nhờ xe kéo của ai đó mua về, chất đầy ngay ngắn bên hàng rào, phơi nắng mau khô, mưa thì hai chị em phụ má lấy mấy tấm tranh đậy lại khỏi ướt. Sáng chiều chị quét sân trước sân sau, lo cho đám gà mười mấy con, sáng mở chuồng, cái chuồng ba làm, để sát cạnh hàng rào cây cuối sân cho ăn trùng ăn dế, chiều rải thóc cho ăn rồi lùa vào chuồng nhốt lại cẩn thận, ngày nào cũng có trứng, nhà ăn không hết.

Tôi học lớp Năm chừng đâu độ nửa năm, hình như là ăn Tết xong, thì cô dạy tôi và thầy hiệu trưởng, đến nhà nói chuyện với ba má, không biết nói gì nhưng tôi xách tập vở lên lớp Tư, hỏi ra mới biết vì giỏi quá nên cho lên lớp, ba má vui quá đổi, nhưng nhờ ba tôi đó, không uổng công đã dạy tôi biết đọc viết, mà viết rất đẹp từ lâu rồi, chị khoái chí dẫn tôi tới tiệm tạp hóa bà hai Tựu mua cho cây cà rem nước cam, khi đón tôi chiều tan trường về.

Chị ít khi long nhong, tụ năm tụ ba ngoài đường, ngoài chợ như đám con gái bên dãy phố gạch, lẩn quẩn trong nhà, phụ tay phụ chân với ba má khi có việc đó cần phải giúp, ngay cả những ngày còn đi học. Chị chỉ có người bạn duy nhất, chị Vạn, cùng lớp, con của chú thiếm tư Tấn, nhà làm ruộng ở cuối ấp, xế con đường đất làng tới bờ con sông lớn, chị Vạn cũng nghỉ học cùng lúc với chị, hai người có vẻ hợp tính nhau, vui cười những khi gặp gỡ, chị cũng thường tới nhà chị Vạn cũng như chị Vạn cũng thường tới nhà tôi, chị Vạn dễ thương lắm, hiền hậu, ăn nói nhỏ nhẹ dạ thưa như chị tôi, cho nên hai nhà đều thương đều mến.

*

Năm tôi lên lớp Nhất, chị cũng đã mười lăm mười sáu, với tuổi này, tôi không thấy chị soi gương, thay quần đổi áo, cứ những thứ mà chị thường mặc từ đó tới giờ, với tôi tuổi lên mười thì cũng biết, hiểu những gì mà còn nhỏ không hiểu, không biết được. Dù mọi thứ đều như cũ nhưng, tôi chợt nhận ra, chị tôi đã biết buồn, hình như tuổi biết buồn con gái, một vài lần thấy chị đứng cuối sân, mắt nhìn đâu đó xa xăm, trông ngóng vời vợi mỗi khi chiều xuống, chắc má cũng nhận ra, nhìn chị mà thở dài quay mặt đi, rồi thoáng qua phút chốc, chị lại cười nói như thường.

Buổi sáng hôm thứ bảy nghỉ học, chị Vạn tới đem theo cho ba má tôi một rổ cá lòng tong tươi, hai chị kéo nhau ra ngồi trước sân nhà, nắng rực lên hâm hấp ấm, đứng trong nhà ngó ra, má buồn buồn lắc đầu, không nói gì rồi bỏ đi, cũng trong nhà ngó ra, chợt dưng nhớ lời má mấy bữa trước khi tôi hỏi chuyện người ngoài chợ nói chị tôi “con nhỏ lùn tịt, xấu hoắc, thấy ghê” , mà tôi nghe thằng bạn cùng lớp, má nó là thiếm làm cô mụ đở đẻ, nhà bên cạnh tiệm tạp hóa bà Hai Tựu nói lại, má cười mĩm, nhưng buồn bảo “má biết từ lâu rồi”, ngoài sân hai chị nói qua nói lại gì đó, xem ra vui hơn là buồn.

Cũng biết phân biệt chút ít, đẹp xấu màu này màu nọ khi vẽ hình vẽ lá vẽ bông trong lớp, trúng hay trật, tôi ngó hai người thật kỹ, thật lâu, so với chị Vạn và mấy chị bán hàng ngoài chợ, thở dài như má, chị tôi xấu thiệt. Chị lùn thấp hơn chị Vạn nhiều, chắc không hơn tôi, những cái từ đó tôi chưa hề nghĩ tới, chỉ biết chị tôi là người tôi thương nhất sau ba má, chị tôi là người con gái đảm đang giỏi giang, nhưng bây giờ, lúc này chị tôi khác quá, da chị ngâm đen, người mập mạp, tóc ngắn cụt, mặt tròn, không có đường nét gì và mắt hình như hơi hí một chút. Đó là hình ảnh của chị tôi trong đầu của thằng em chưa tròn mười tuổi, tôi chạy vụt ra, ngồi bên chị, ôm đầu chị hun mấy cái, chị Vạn thấy tức cười, kéo tôi qua, lấy tay chỉ đầu mình, nghe tiếng má kêu, tôi đi vào, ngoảnh đầu ngó lại, nói thầm “chị vẫn là chị trong tim”. Từ hôm đó, cứ len lén ngó, xem chị có gì đổi khác không, ngày qua ngày lại chị vẫn vậy, vẫn nói vẫn cười, vào lớp học hình dáng chị tôi mang theo, nhớ tới tôi chỉ biết buồn mà không biết tại sao và buồn cái gì.

*

Đậu đệ Thất lên trường tỉnh trọ học, xa nhà nhớ chị nhiều hơn, nhớ gay nhớ gắt, nhớ để rồi giận, ghét những người quanh phố chợ xã nhà, ghét vì lời xì xầm nhỏ to về chị. Mấy hôm đầu trên tỉnh, nhà lạ, lẻ loi một thân một mình, đêm rấm rứt khóc, khóc nhớ ba nhớ má, nhớ chị, ngóng chờ ba cỡi xe gắn máy lên đón về mỗi chiều thứ sáu, hai cha con chưa vô tới nhà đã thấy chị đứng chờ trước sân sẳn rồi, nắm tay, xách túi xách, cười luôn miệng, vậy đó, ở nhà tôi lẩn quẩn bên chị, kể chuyện phố xá tỉnh thành dù chưa đi hết bao con đường có cột đèn điện sáng choang, đếm chưa hết cây cao bóng mát, xe cộ dập dìu, kể không đầu không đuôi, chị nghe hoài mà không chán, tôi vẫn nghĩ, chị tôi vẫn là chị tôi. Vui nhất là mùa hè, bải trường, về ở nhà, bên chị mấy mươi ngày, vậy mà vẫn thấy không đủ, chị có vui thật không tôi không biết, chị vẫn cười như cái cười của từng bao năm qua. Tuy vậy, bất chợt có đôi lần ngó chị ngồi giặt áo quần hay loanh quanh cho gà ăn, buồn buồn se thắt lòng thương chị, chị tôi xấu như xưa. Chắc ba má tôi cũng buồn, ba thì ít nói còn má thở ra thở vào, không biết ba má có nói gì với chị không, theo tôi nghĩ chắc là có, chị vẫn như ngày nào, không hề mở miệng than van buồn chán, tươi cười, nhỏ nhẹ, niềm nở với những ai, chú bác, thiếm dì, tới nhà thăm, nhất là ông cựu cai tổng, chủ của ba, có chuyện tới kiếm ba, đều cho chị mấy xấp vải đẹp tốt và tiền lì xì cho hai chị em dù chưa tới ngày Tết.

*

Mới đó mà đã sắp hết hè, cuối năm đệ Ngũ, hè lần này không như mấy hè trước, ít khi thấy chị Vạn tới chơi, hỏi chị, chị cho hay, chị Vạn đã thành hôn với một anh cũng con nhà ruộng rẫy, đã về quê chồng tận miệt dưới Mộc Hóa, Tuyên Nhơn rồi, chị nói mà cười, không thấy có vẻ gì buồn trên mặt. Chị Vạn kêu chị đến chung vui, nhà nghèo mà, gọi là đám cưới cho vui chứ, theo lời chị kể, đâu đó chừng hơn mười mấy người khách, bên chồng bên chị Vạn, tạm đủ chỗ ngồi, bữa tiệc cũng ráng có thịt gà, thịt heo, rau cải, hơn thường ngày một chút,vậy thôi, ba má có tới nhưng chị không đi, tặng cho chị Vạn số tiền nhỏ, gọi là quà mừng cưới. Khi chị nói không đi, chợt dưng tôi hiểu được lý do tại sao, nghe lòng mình đau nhói, đau nhói mà thương cho chị và cũng là lần đầu, buổi chiều sau cơm nước, dọn dẹp rửa chén xong, chị ra ngồi sau sân, ngó trời chiều mông lung, không kêu tôi như mọi bữa, hơi ngờ ngợ, tôi rón rén bước tới, thấy tôi chị cười rồi quay đầu qua, lẹ tay quẹt mặt, làm dấu cho tồi ngồi xuống, lần đầu chị tôi khóc.

Trước hôm trở lên trường tỉnh học lại, năm nay lớn rồi, lên đệ Tứ, ba không còn chở đi như mấy năm trước, hai chị em bên nhau, ngoài sân trong nhà, chị vui vẻ nhắc lại chuyện cũ, chuyện xưa, chuyện cả hai còn nhỏ, làm gì, đi đâu, khóc cười vòi vĩn, miếng ăn cái bánh chia hai, phần tôi nhiều phần chị ít, phần tôi lớn phần chị nhỏ, chuyện lung tung, cười và cười, ít khi nào chị nói nhiều như vây, tôi thấy cũng là lạ nhưng thôi, không biết sao mà chị nhắc lại đủ thứ, chị vẫn vậy. Buổi sáng, ba đi làm từ sớm, má và chị theo đưa tôi ra đường lộ đón xe đò lên tỉnh, chợ xã cũng vừa mới nhóm, đám người dọn hàng ngưng tay, đứng ngó ra khi chị nắm tay tôi đi ngang qua, có tiếng xầm xì sau lưng, má không nói gì, ra tới đường, chị dặn dò đủ thứ, những thứ mà chị đã dặn mấy năm trước rồi, má bỏ về trước, chị ở lại, xe tới, tôi lên, xe chạy đi, chị còn đứng đó, vẫn đứng đó tới khi xe qua khúc quanh, không còn thấy chị nữa, không biết chị đứng đó tới bao giờ.

*

Đám tang chị, không có mấy người đưa, không kèn không trống,ba má đem chị ra chôn tại một góc nhỏ, bên cạnh gốc cây Sao già, cao và tàng lớn rậm lá, của cái nghĩa địa làng nghèo nàn. Đứng quanh mồ là ba má chị Vạn, thiếm Tựu chủ tiệm tạp quá, chú thiếm chủ tiệm vàng và má thằng bạn lớp nhất hồi tiểu học, làm cô mụ đở đẻ, chừng đó người, ai nấy buồn so, lâm râm khấn vái gì đó, tôi không biết, rồi thì cũng mấy người này, chung tay chung sức cùng ba má lấp huyệt, má tôi khóc. Trời lưng lửng trưa, nắng rực lên lâu rồi, những tàng cây Sao già phủ rợp bóng trên mồ chị, nấm mồ cao tới đầu gối người bằng đất ươn ướt nước mưa mấy ngày qua, không mộ bia, ba lấy nhánh cây chỉa ba khô cắm phía trước làm dấu để nhớ. Chú thiếm chào ba má, lần lượt ra về, ba má cũng theo sau không lâu sau đó, tôi ngồi lại, một mình bên mồ chị, khóc sướt mướt thì thầm hai tiếng “chị ơi”, nước mắt tuôn dài, rớt xuống trên từng khe đất nứt nẻ.

*

Chiều, ra thăm mồ chị lần nữa, sáng mai trở lên trường lại, một lần nữa tôi khóc, nhìn nấm mồ nhớ lời má kể và nhớ lời chị nói hôm ra đường đón xe lên tỉnh cuối hè năm đệ ngủ “mai mốt chị đi làm xa, lâu lắm mới về một lần, chắc em về nhà không gặp chị, đừng buồn, ráng lo cho ba má” mà lòng quặn thắt đau.




Hôm đó, trời sáng, thả gà ra cho ăn, quét sân trước sân sau, cũng quần áo thường ngày, giường chiếu xếp ngay ngắn, khác ngày thường, nói má chị đi xuống nhà chú thiếm Tấn, ba má chị Vạn chơi một chút rồi về. Chị có ghé ngang đó rồi đi về hướng sông lớn, chỗ này thì chị và chị Vạn thường tới, ba má chị Vạn không lấy gì làm lạ. Tời gần trưa trời sụp nắng, mây đen từng cụm thấp xuống, lừ đừ kéo về từ miệt trời bên kia sông, trời sắp mưa, hai ba người đi gở chài, hớt hơ hớt hãi chạy về, la hoáng lên, có người chết đuối đang bập bềnh bên bờ, nhấp nhô trên đầu lau sậy, hình như là con gái, người trong xóm rủ nhau chạy túa xuống, phụ nhau khiêng xác chị tôi về để trên khoảnh đất trống thiếu cỏ, gần nhà ba má chị Vạn. Chị tôi chết, tự kết liểu đời mình hôm đó. Một lần nữa, người ta đem chị về nhà, đứng bên xác chị, da đã đen giờ trở thành đen xám hơn, má và chú thiếm Tấn buồn thiu nhìn, chỉ biết khóc mà không biết nói gì hơn.

*

Cuối cùng, sau những năm câm nín, mang nổi khổ riêng mình, chắc chỉ một mình chị hiểu, chị đã chọn cái chết, tư kết liểu đời, giải thoát cho mình, không còn chịu đựng đau buồn trong cỏi đời ô trọc. Không ai ngờ lời chị nói hôm chờ xe năm đó lại là lời vĩnh biệt. Tôi khóc vì mất chị, vì thương nhớ chị, không biết chị giờ ở nơi nào, nhưng chắc là nơi đó xa và xa lắm, chị sẽ không về như đã nói và chắc không bao giờ về, khóc nức nở không cầm được nước mắt, tôi mân mê mồ đất thầm gọi hai tiếng “chị ơi”. Con quạ đen lẻ bạn từ đâu đó bay về đậu trên cành cao cây Sao già, cất tiếng kêu gọi bạn, tiếng kêu kéo dài và nảo nuột. Vĩnh biệt chị, chị tôi trời bắt xấu.


Thuyên Huy

Đầu thu, cuối hạ xứ người 2024.

Mời Xem :

Phát hiện bất ngờ khi uống 3 tách cà phê mỗi ngày (thanh Niên )

Nghiên cứu mới quy mô lớn vừa được công bố trên tạp chí khoa học Nature Microbiology đã phát hiện thêm tin vui cho người yêu thích cà phê.

Theo đó, cà phê có liên quan tích cực đến hệ vi khuẩn đường ruột, dẫn đến những tác động sâu rộng tiềm tàng đối với sức khỏe.

Hệ vi sinh đường ruột rất quan trọng đối với nhiều quá trình trong cơ thể, từ tiêu hóa, hấp thụ chất dinh dưỡng, thói quen đi vệ sinh, sức khỏe tâm thần, khả năng miễn dịch... 

Hệ vi sinh đường ruột của mỗi người rất khác nhau tùy theo chế độ ăn uống.

Phát hiện bất ngờ khi uống 3 tách cà phê mỗi ngày- Ảnh 1.

Những người uống hơn 3 tách cà phê mỗi ngày có mức vi khuẩn Lawsonibacter asaccharolyticus trong ruột cao gấp 8 lần

Ảnh: Pexels

 
 
 

Kết quả bất ngờ khi uống 3 tách cà phê mỗi ngày

Nghiên cứu quốc tế do các nhà khoa học từ Trường Y khoa Đại học Washington (Mỹ) dẫn đầu, đã sử dụng dữ liệu của tổng cộng 77.000 người tham gia, nhằm tìm hiểu tác động của cà phê đến hệ vi khuẩn đường ruột của con người.

Họ cũng phân tích hơn 400 mẫu huyết tương và hơn 350 mẫu phân, tiến hành 2 thí nghiệm trong ống nghiệm để tìm hiểu cà phê có thể ảnh hưởng đến đường ruột của con người như thế nào.

Một trong những tác giả nghiên cứu, giáo sư - tiến sĩ Tim Spector, nhà dịch tễ học, bác sĩ y khoa và người Anh, cho biết họ chọn cà phê để nghiên cứu vì đồ uống này được tiêu thụ rộng rãi, tốt cho sức khỏe, như làm giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và ung thư.

Phát hiện bất ngờ khi uống 3 tách cà phê mỗi ngày- Ảnh 2.

Kết quả đã phát hiện ra rằng uống cà phê có tác động đáng kể đến đường ruột

Ảnh: Pexels

Cụ thể, những người uống hơn 3 tách cà phê mỗi ngày có mức vi khuẩn Lawsonibacter asaccharolyticus trong ruột cao gấp 8 lần so với những người uống ít hơn 3 tách hoặc không uống.

Các tác giả phát hiện ra rằng mối quan hệ này nhất quán đáng kể giữa các nhóm người ở 25 quốc gia khác nhau và khi họ cho vi khuẩn Lawsonibacter asaccharolyticus uống cà phê trong ống nghiệm, vi khuẩn này đã phát triển.

Giáo sư Spector cho biết: Vi khuẩn Lawsonibacter này lơ lửng trong trạng thái hoạt động treo, chỉ chờ một tách cà phê để phát triển mạnh. Các nhà khoa học suy đoán rằng những vi khuẩn này có thể biến các thành phần trong cà phê thành các hợp chất có lợi cho sức khỏe.

Giáo sư Spector giải thích sở dĩ cà phê mang lại vô số lợi ích cho sức khỏe là nhờ bản chất hóa học phức tạp của nó. Khi được lên men tạo ra hàng trăm hợp chất, bao gồm nhiều polyphenol, cung cấp năng lượng cho hệ vi sinh đường ruột và có thể giúp giảm lượng đường trong máu và huyết áp

Thiên Lan

CHUYỆN GẦN ĐÂY GIỜ MỚI KÊ - Đặng Việt Lợi

 Chuyện 1.

Thăm, vấn an và tri ân các Thầy Cô nguyên là Cựu Giáo sư Trường SPSG (1962-1975)

Mặc dù gần đây thực trạng tổ chức của Gia đình SPSG có một số biểu hiện bất ổn, tuy nhiên đến mùa kỉ niệm ngày NGVN 2024, bài học về lòng biết ơn đối với các Thầy Cô giáo của một thời sư phạm xưa vẫn luôn được các thế hệ cựu giáo sinh ghi nhớ và tìm cách thực hiện.
Theo tinh thần đó, sau khi tham khảo ý kiến của một số anh chị là thành viên lâu năm trong Ban Liên Lạc GĐ.SPSG, một vài người chúng tôi đã sắp xếp kế hoạch đến nhà từng cựu Giáo sư một để, thay mặt toàn thể cựu giáo sinh, thăm, vấn an, gửi thiệp, quà và chúc sức khoẻ từng người. Cụ thể
@ Ngày 16/11/24 thăm
- Thầy Nguyễn Văn Lượm (U100; nhà Q8);
- Thầy Huỳnh Văn Ngôn (U90; nhà Q11)
Người thăm: Lê Thị Tuyết Hồng (K12) & Nguyễn Huy Hoà (K13)
- Thầy Dương Mạnh Thường (U90, nhà Tp TĐ)
Người thăm: ĐVL (K13)
- Thầy Nguyễn Duy Linh (U100, vừa từ Mỹ về và ở tại Tp TĐ)
Người thăm: LTTH, ĐVL
- Thầy Phạm Hữu Thành (U90)
- Cô Trịnh Thị Sanh (U90)
Cùng ở Q.PN
Người thām: Anh Nguyễn Văn Trung (K8)
@ Ngày 20/11/24, thăm
- Thầy Đoàn Viết Bửu (Nguyên HT, U90, nhà Q.PN)
Người thăm: anh Lê Văn Danh (K11) & Nguyễn Văn Trung (k8)
- Cô Ngô Thị Bảnh (U90, nhà Q.😎
Người thăm: chị LTTH
Do tuổi đều rất cao, sức khoẻ ít nhiều đều có vấn đề này khác nhưng nhìn chung, vào thời điểm chúng tôi đến thăm, các Thầy Cô mà chúng tôi được diện kiến đều ổn. Điều quan trọng hơn cả là các Thầy Cô, ai cũng đều vui và trân trọng tính cảm thương quí của tập thể cựu giáo sinh - những học trò cũ thuở rất xưa vốn cũng là những người “đưa đò” không còn trẻ nữa.
_______________
HÌNH ẢNH KỶ NIỆM
Ghi nhận lần đến thăm từng Thầy Cô. Hình ảnh cho thấy cả Thầy lẫn Trò thần thái đều vui.
P/s
- Do không được gặp Thầy Đoàn Viết Bửu và Cô Ngô Thị Bảnh nên không thể ghi hình kỷ niệm được.
- Thầy Thành không có nhà nên chỉ được chụp hình với Cô Sanh (phu nhân của Thầy)

Phạm Công Luận: MÙI SÁCH CŨ (Nguyên Lạc và Bạn Hửu )


                                            Ảnh Sutterstock

Có lần, tôi được một người bạn sống ở nước ngoài tặng vài món quà nhỏ, trong đó có hũ thủy tinh đựng nến thơm, một món đồ xinh xắn không có gì đặc biệt. Một buổi tối mất điện, tôi mang hũ nến ra đốt và dần cảm nhận một mùi thơm thoang thoảng, không phải mùi hương hoa mà là một thứ mùi lạ lùng lại rất thân quen, gợi nhớ một điều gì rất xưa cũ.

Lúc đó tôi mới nhìn lại nhãn dán trên hũ nến. Đó là loại nến có mùi hương của… sách bọc bìa da thuộc, loại sách quý được đóng bằng kỹ thuật kinh điển, thường nằm trong các tủ sách giới thượng lưu hoặc là loại sách cổ lưu truyền nhiều đời trong một gia đình bình thường. Nhà tôi chỉ có vài cuốn sách như vậy, bằng tiếng Pháp, để lại từ thời ông ngoại còn làm ở sở Hỏa xa Đông Dương trước năm 1945. Mùi hương đó có mùi giấy cũ, mùi da thuộc và một chút mùi vani, mùi trà cũ… là những gì tôi cảm nhận.
Việc nghiên cứu và kinh doanh mùi hương của sách ở nước ta nghe có vẻ lạ lẫm, nhưng thế giới, nhất là phương Tây, đã đi rất xa trong chuyện này. Ở Anh có một viện mang tên “Viện Số hóa khảo cổ học” đã làm chuyện độc đáo là thu lại mùi từ những cuốn sách cổ thế kỷ XIII tại hai thư viện của Anh và Mỹ rồi tổ chức triển lãm cho khách đến thăm ngửi mùi.
Họ lấy mùi bằng cách đặt sách trong hộp kín 72 giờ, thổi khí tinh khiết vào và thu mùi hương, xong phân tích thành phần hóa học của nó rồi mô phỏng lại. Một số công ty nước hoa và làm nến thơm nắm bắt ngay ý tưởng này, cho ra lò các sản phẩm của mình cho dân “mọt” ngửi mùi sách.
Có nơi còn tạo mùi hương lấy cảm hứng từ một tác giả cụ thể, như một người ở Mỹ kể rằng đã được mẹ anh tặng cho một cây nến Charles Dickens có mùi quýt, mùi cây bách xù và đinh hương. Tất nhiên, anh ta là một con mọt sách sống ở một đất nước nhiều người thích đọc sách.
Hình ảnh người mua sách ấp cuốn sách vào mặt hít mùi sách mới rất dễ bắt gặp đâu đó ở nhà sách, ngoài đường sách. Vậy sách có mùi gì? Tôi nhớ sách thường có mùi thơm nhẹ như vani, có khi có mùi chua nhẹ. Người ta nghiên cứu rằng giấy làm từ gỗ có chứa chất clignin, một hóa chất có liên quan mật thiết với vanillin là hợp chất tạo ra hương vani.
Ở Anh, từ một cuốn sách cổ xuất bản năm 1928, người ta ngửi thấy một phần của cuốn sách này là một trong tám mùi không xác định, bao gồm mùi sô cô la, mùi lửa than, mùi… nhà trọ cũ, mùi chợ cá, mùi vải lanh, bã cà phê, nước xốt và cà ri. Ở nhiều nơi, người ta cảm thấy mùi sôcôla là phổ biến nhất. Sau đó là mùi cà phê, mùi cà ri, gỗ và mùi than củi. Sách trong một nhà thờ ở Anh có mùi gỗ, khói, đất, vani, mùi mốc, hạnh nhân, mùi cay nồng, dược liệu, hoa, trái cây, mùi bánh mì, cam quýt, mùi chua, và mùi kem… Tôi nghĩ, nếu có ai thích ngửi mùi sách, thật ra đó là tình yêu đối với sách mà mùi hương là chất dẫn truyền.
Chắc chắn mùi của sách ở châu Âu khác mùi sách ở xứ nhiệt đới. Cuốn sách trong căn nhà ẩm thấp hay thiếu vệ sinh dễ hình thành mùi của sách. Sách càng cũ càng có mùi riêng. Mùi sách có được còn từ những thói quen của người đọc sách. Có ai ăn vặt khi đọc không? Có ai đã làm đổ rượu, hút tẩu, hay vừa đọc vừa nấu bếp đốt bằng củi? Có cuốn sách nào được dùng đế… chống chân ghế hoặc đập con ruồi, con muỗi hay con gián không? Có ai ép lá thuộc bài, cánh hoa hồng hay cánh hoa phượng không? Tất cả đều tạo nên hương của sách.
Vậy sách ở Việt Nam có mùi gì?
Thập niên 1940, khi giấy in khan hiếm, người ta dùng giấy dó in sách, vậy sách bằng giấy dó có mùi gì? Sau năm 1975, giấy in sách dùng giấy tái chế có mùi gì? Trong trí nhớ, tôi nghĩ đó là mùi than củi khét, mùi cỏ khô, có đúng vậy chăng? Mùi sách in bằng giấy tái chế gắn chặt với thời bao cấp khốn khó, thèm đọc sách đến độ không thể tưởng tượng rằng mình có thể đọc được những cuốn sách giấy đen xỉn đến như vậy.
Mua lại vài cuốn sách xưa như Đội săn của quốc vương Xtac hay Nhà nguyện Critxtốp, lại cảm thấy có mùi ẩm mốc và mùi bụi lâu năm không thoát được Mùi sách gắn với những kỷ niệm. Tôi nhớ ba tôi thích vừa đọc sách vừa rít ống điếu (bây giờ gọi là tẩu). Khi giở mấy cuốn sách ba thường đọc đi đọc lại như bộ Con đường đau khổ của Alexey Tolstoi hay bộ Sông Đông êm đềm của Solokhov, thoảng qua mùi thuốc lá Gò Vấp. Tuy nhiên, khi giở ra bộ Tam Quốc Chí mà ông đọc thường xuyên thời trước 1975, lại có mùi thuốc lá nhồi Half and Half mà sau này tôi biết đó là mùi anh đào.
Những ngày hè mùa mưa tuổi nhỏ, không đi chơi được, tôi ôm bất cứ sách gì đang có để đọc. Ánh sáng ngày mưa ngoài cửa sổ không đủ nên sách được dí sát vào mắt. Tôi nhớ nhiều cảm giác lúc đó với mùi sách ấm, hơi chua sát tận mũi.
Tôi nghĩ, nếu có ai thích ngửi mùi sách, thật ra đó là tình yêu đối với sách mà mùi hương là chất dẫn truyền. Cuốn sách mới mua, nâng niu trên tay nhưng chưa đọc được ngay thì động tác ấp sách vào mặt để cảm nhận mùi hương là cách tiếp nhận ban đầu chóng vánh nhất. Đối với những cuốn sách xưa cũ, sách quý trong thư viện mới có, sách do người Pháp viết về Đông Dương, sách giấy dó của Tản Đà, sách L’art à Hue… mùi sách đôi khi ẩm mốc, đôi khi khô cứng hay bụi bặm…. tỏa ra mùi quá khứ, mùi thuộc địa, mùi của những ngày xưa lạc hậu, lễ nghĩa cũ mòn… Ai đã cầm đến những cuốn sách này: ông Tây thực dân? Cụ Vương Hồng Sển? ông Sơn Nam?… Nó đã nằm ở đây từ khi nào, lưu lạc vào Nam từ biến cố 1954, Huế 1968 hay được thu mua sau này?
Người ta có thể đoán tuổi một cuốn sách dựa vào mùi giấy cũ in ra cuốn sách đó đang trong quá trình tự hoại dù rất chậm. Điều đó được giới bán sách cổ nghiên cứu kỹ. Trong số đó, vài người đã tìm cách làm sách cổ giả, ngoài hình thức cũ kỹ và tàn tạ bằng kỹ thuật in ấn, kỹ thuật đóng sách theo kiểu cổ điển và nhiều thủ thuật khác, họ bắt buộc cần phải tạo mùi mốc, ẩm lâu ngày, bụi và những mùi khác để đẩy tác phẩm giả mạo tinh vi của mình lên giá rất cao mà chỉ giới siêu giàu mới mua nổi. Đó là câu chuyện ở nước ngoài và biết đâu nó sẽ lan tới thị trường sách Việt!
Tôi nhớ mấy năm đầu thập niên 2000, thị trường sách khởi sắc do các công ty văn hóa tư nhân được làm sách liên kết. Sách tồn nhiều nên vài nơi bắt đầu bán sách giảm giá, đến tận kho chọn lựa. Cảm giác được bò dưới sàn xi măng lựa sách, lúc đó đã bề bộn không theo thứ tự nào, thật sung sướng.
Mùi sách cũ lưu kho thoảng trong không khí, không giống lắm mùi của những tiệm sách cũ… kiểu gì cũng là những khoảnh khắc hạnh phúc, nhắc tôi nhớ tuổi nhỏ cùng anh đi mua sách ở mấy cái sạp gần khu vệ sinh công cộng trên đường Lê Lợi, và những lần tự đón đi xe lam ra chợ sách cũ Đặng Thị Nhu sau năm 1975.

Phạm Công Luận

__________

Đọc thêm: 

Vì sao nhiều người ‘ghiền’ mùi sách cũ?

Mọi người đều quen thuộc với mùi của những cuốn sách cũ, nhưng ít ai biết mùi của chúng đến từ đâu, và vì sao có nhiều người say mê mùi sách cũ đến mức ‘đóng đinh’ ở thư viện hoặc hiệu sách cũ.
Nghiên cứu khoa học mới đây đã chỉ ra chính các hợp chất hữu cơ trên giấy và mực dễ bay hơi đã tạo ra mùi quyến rũ cho sách cũ.

Mùi sách cũ: “Di sản văn hóa”
Theo trang IFLScience, giáo sư Matija Strlič của Đại học College London là người đi đầu trong công trình nghiên cứu về sự phân hủy của vật liệu.

Trong công trình này, ông và các cộng sự đã xác định được một số hợp chất dễ bay hơi được tạo ra từ sự phân hủy nhựa thông trong mực và lignin trong giấy theo thời gian. Lignin là một loại polyme hữu cơ phức hợp đặc biệt quan trọng trong việc hình thành tế bào, đặc biệt là trong gỗ và vỏ cây.

Nghiên cứu lưu ý rằng giấy tạo ra acid acetic, thành phần thiết yếu trong giấm, khi nó cũ đi.

Ngoài ra, ông Strlič đề xuất một số mùi nhất định có thể được coi là di sản văn hóa, trong đó có mùi của sách cũ.

Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi ông Strlič nói về mùi sách theo cách mà những người sành rượu hoặc cà phê mô tả. Ông đề cập đến “sự kết hợp của các mùi hương cỏ với một chút acid và một chút vani bên dưới lớp mốc”.

Mùi sách cũ là từ đâu?
Trang Compoundchem.com (Hợp chất hóa học) đã báo cáo có 6 phân tử tạo nên mùi hương thường thấy trong sách cũ. Chúng bao gồm benzaldehyde tạo thêm mùi hương giống hạnh nhân; vanillin thêm mùi hương vani; etyl benzen và toluen tạo mùi ngọt; và 2-ethyl hexanol có đóng góp ‘mùi của hoa’.

Biến phòng riêng thành nơi trao nhận sách cũ
Sách mới không có mùi giống như vậy, một phần vì các thành phần của chúng ít bị xuống cấp hơn, phần vì trong khoảng một thế kỷ qua chúng ta đã sử dụng giấy có chất lượng gỗ thấp hơn.

Tùy thuộc vào thời điểm một cuốn sách được in, có thể có các hóa chất bổ sung và những hóa chất này thậm chí hữu ích khi văn bản không xác định được ngày tháng. Ví dụ, nồng độ furfural cao là dấu hiệu của những cuốn sách được xuất bản trước những năm 1800.

Nghiên cứu này được đăng trên các tạp chí ACS Sensors, Analytical Chemistry và Heritage Science.

Gia Minh