26 thg 3, 2014

Nam mô chiếc áo cà sa - Khuất Đẩu

Khuất Đẩu - Nam mô chiếc áo cà sa!
Truyện ngắn của Khuất Đẩu
Ngôi chùa ấy lợp tranh. Như thế đủ biết chùa nghèo lắm. Chùa lại nằm giữa một xóm còn nghèo thảm hại hơn. Những mái tranh xiêu vẹo, những tấm tôn rỉ sét, những tấm bạt cũ kỹ. Một mớ xệch xạc nằm chênh vênh cạnh một con đập đắp bằng lá. Cứ như một đám rác lều bều để lại bên bờ sau những cơn lụt.
Nhưng chùa có nhiều tượng Phật bằng gỗ. Tượng lớn to bằng trái bầu. Tượng nhỏ như trái chuối. Đen thui như bới từ trong đống than ra. Dễ chừng có đến hàng trăm tượng. Trước ngày Phật Đản, một chú tiểu nhỏ như cây tăm xỉa răng, lùa hết các tượng trong một cái thúng đem xuống sông tắm rửa. Chú dùng rơm kỳ cọ như các bà rửa xoong nồi. Vì thế có nhiều tượng sứt môi, gãy mũi. Sư cụ biết vậy nhưng cũng chẳng dám quở mắng. Chú chỉ là một đứa bé mà cha mẹ ép tới chùa để bớt đi một miệng ăn, chứ không phải nhất tâm thành chánh quả. Nhỡ chú buồn bỏ đi thì biết cậy nhờ ai trà nước, thỉnh chuông.
Có mỗi câu kinh học mãi cũng không thuộc, lại mắt nhắm mắt mở, nên tiếng chuông của chú cứ cà gật, cà gật. Mặc dù ở bên sông nhưng nó không đủ sức ngân nga để làm sực tỉnh một nhà thơ như chùa Hàn Sơn ở bên Tàu. Dù vậy có tiếng chuông vẫn hơn. Chùa mà không có tiếng chuông sao gọi là chùa.
Nhưng đó là những đêm về sáng, còn đầu hôm công phu chỉ mỗi mình sư cụ. Tuổi già sức yếu, cụ chỉ tụng có mỗi một bài kinh. Hơi thở ngắn, tay lại run nên người ta chỉ nghe thấy tiếng è è cùng tiếng mõ khành khạch như tiếng thở của một người bị bệnh hen và tiếng nấc của một người mắc chứng nấc cụt nằm cạnh nhau trong một đêm khó ngủ. Nhưng dẫu sao, đó cũng là những âm thanh dễ chịu giữa những tiếng ầm ĩ vợ chửi chồng, cha mắng con, tiếng cãi cọ của đám bầu cua cá cọp, tiếng hú hí cười cợt của đám đĩ rạc bị công an rượt đuổi ở thành phố đã trôi dạt tới đây.
Nhiều người ái ngại, lên tiếng chê trách. Ban hộ tự đâu, mà để chùa xơ xác như thời mạt pháp vậy? Nhưng chỉ dăm bà già ốm yếu, nghểnh ngảng đến chùa nhiều khi quên mất đường về nhà, thì đào đâu ra ban hộ tự! Người ta cũng chẳng mấy khi mời sư cụ đến nhà tụng kinh cầu siêu gia đạo hay cầu hồn. Mà nếu có, cụ cũng chỉ uống chén nước trà rồi về chứ không hề nhận một đồng công đức. Chùa như thế nghèo là phải lắm.
Sư cụ, gầy nhom như một con muỗi đói. Nói thế hơi hỗn, nhưng trông cụ gần như cái xác ve, chẳng có một hột máu nào. Ấy là bởi cụ thường nằm ngủ gối đầu lên một cái trống tum. Mà trống bị bể, cụ lại kiêng sát sinh nên bao nhiêu rệp của cả xóm đều kéo tới. Đương nhiên chúng không phải đến để nghe kinh, mà để hút máu cụ cho đến phễnh bụng ra rồi chui vào trống ngủ. Chúng càng béo tốt thì cụ lại càng gầy ốm.
Một hôm thằng bé nghịch lấy cây gõ lên mặt trống. Trống không kêu. Gõ nhiều lần cũng chỉ nghe cành cạch. Nó bực mình ném xuống đất. Trống vỡ toang. Một đám rệp căng tròn như đậu đen văng ra khắp chùa. Nếu đếm được, dám đến cả triệu con.
Dù phải hốt hoảng trốn chạy, nhưng rồi đâu cũng vào đó, không còn trống thì chúng lại chui vào kẹt ván, vào vạt giường, vào áo quần, ngay cả chiếc áo cà sa treo trên vách. Chúng vẫn cứ nhởn nhơ ăn, ngủ, rồi sinh sôi nảy nở cái giống nòi mà không hiểu thượng đế sinh ra làm gì khi đã có cái giống thượng đẳng là loài người.
Chùa nghèo chẳng ai buồn biết tới. Sư cụ ốm cũng chẳng ai hay. Nhưng cái sự vụ mà tôi sắp kể ra đây xứng đáng được coi như tiếng nổ giữa trời quang. Một tiếng nổ hất tung mọi sự và đổi thay biết bao số phận.
Đó là một buổi tối cuối tháng giêng khi cái máu ăn chơi của người mình, càng nghèo lại càng chơi, vẫn còn hừng hực: những quán cóc vẫn không ngớt dô dô, mùi thịt nướng (chẳng cần biết thịt gì, hễ cứ nướng là thơm) vẫn cứ bay ngào ngạt và các ả bán thịt người đắt khách đến nỗi không cần phải ra chào mời tận ngoài đường. Một buổi tối như thế trên quê hương tôi, khiến sư cụ nằm trên chiếc võng rách lơ mơ muốn ngủ mà không ngủ được.
Đương nhiên là vì rệp cắn. Mà cũng đương nhiên vì cái đạo hạnh của cụ chưa đủ đức độ cảm hóa cái cõi ta bà nhỏ bé kia. Cửa chùa vẫn cứ rộng mở nên bao nhiêu âm thanh và mùi vị cứ như nước lụt tràn vào. Chuông thì rè, mõ thì bể. Mà dẫu cho không rè, không bể, dẫu có hàng chục cái chuông, mõ, kể cả trống, cũng không át nổi cái cơn cuồng say của cả xóm. Chỉ có cây đũa thần mang phép nước, tục gọi là cây gậy của công an, mới mong có thể dẹp yên được.
Thì đúng là cầu được ước thấy, vì ngay lúc đó sư cụ nghe tiếng tu huýt, cùng tiếng chân chạy rầm rập, tiếng hô bắt lấy nó, tiếng tru tréo không phải tui đâu, tui đâu có làm đĩ, tiếng van xin nịnh nọt, thôi mà sếp, tha cho em lần này… Và chỉ đúng một khắc, tất cả đã trở lại cái trật tự đìu hiu, cái buồn muôn thủa của xóm nghèo. Lại nghe tiếng nước chảy rì rầm qua đập, tiếng giã bột bún thình thịch, tiếng các bà vợ chì chiêt chồng con. Chỉ thiếu có tiếng chuông, vì chú tiểu nhỏ mãi mê chạy theo coi đám con gái quần áo sáng ngời, bị công an còng tay dẫn đi.
Đó là nghe.
Còn thấy, thì Giời Phật ơi, có cái gì trăng trắng lao vào chùa, như một cái gối ôm bị ai quẳng vào chánh điện, nơi có đến hàng trăm tượng Phật sắp hàng ba trên bệ nhìn xuống. Ừ, thì cứ cho là cái gối ôm đi, nhưng là một cái gối ôm có tay dường như đã nhăm nhe từ trước, nên giống như một con cò mổ ruồi, nó phóng tới đúng chóc chiếc áo cà sa đang treo trên vách; rồi loáng một cái, nó cuộn tròn vào mình, nằm phủ phục trước bệ thờ như lúc sư cụ đảnh lễ.
Sư cụ ốm nhom có cảm giác thân mình bỗng dưng nặng như đá. Chiếc võng cọt kẹt rít lên, như sắp đứt phựt. Hả cái miệng không răng nhưng vẫn còn lưỡi, sư cụ muốn la to lên mà la không được (người ta bảo lúc ấy sư cụ sợ quá thụt mất lưỡi). Chiếc áo một năm chỉ có mấy lần giặt (sợ rách), dù cho âm ỉ mùi mồ hôi, mùi cáu ghét, có cả mùi rệp vẫn là chiếc áo thanh khiết không hề chung chạ, chỉ mặc khi tụng kinh gõ mõ, sao lại có thể khoát lên cái trăng trắng nhất định là không sạch đó! Nếu quát lên được cụ đã quát: “cái con đàn bà dơ dáy kia, mi có trả cái áo lại không thì bảo!” Nhưng nếu nó cởi ra trả, thì… cụ lại ú ớ như bị mộc đè, cái trăng trắng kia mà phơi ra lồ lộ, không chừng hàng trăm tượng trên bệ sẽ nổ bung hết cả hai con mắt!
Đang lưỡng lự chưa biết tính sao thì ngoài cửa có một vị mặc đồ công an cầm roi điện ngoái cổ nhìn vào, tưởng là sư cụ đang quì mọp, cất tiếng “mô Phật!” một cách diễu cợt, rồi bỏ đi.
Đợi cho kẻ săn đuổi đi khá xa, cái trăng trắng ngồi bật dậy lao ra khỏi chánh điện. Trước khi lẫn mình vào bóng đêm đã không quên ném trả lại chiếc áo và nói: “con xin thầy thông cảm!”
Phải một lúc lâu sư cụ mới đứng lên được. Cái lưng đau sẵn cọng với chiếc áo trên mình ả khiến cụ cảm thấy đau lịm cả người. Chiếc áo mà cụ giữ gìn cung kính là thế, giờ đang nằm hớ hênh một nửa vắt lên bệ thờ một nửa thòng xuống đất. Chao ôi! sao mà giống cái bộ da cáo của con hồ Nguyệt Cô quá! Đến nước này thì liệu có dám khoát lên mình mà đứng trước Phật đài?! Nó đã phủ lên cái gì trăng trắng đó rồi thì chính nó cũng đâu dám chường mặt ra trước cặp mắt của hàng trăm vị bồ tát.
Cụ run rẩy đặt mấy ngón tay lên lớp vải vàng ố vì đã quá cũ. Thường thì nó nhạt nhạt, lạnh lạnh. Nhưng giờ, như nó vừa được hơ lửa, nóng đến bỏng tay. Áo nóng hay tay mình nóng? Cụ ngơ ngác tự hỏi. Nó đã được cái gì trăng trắng cuộn tròn vào mình, khít rịt từ đỉnh đầu cho đến gót chân, đã từng nghe máu chạy dưới da, từng hít cái hơi son phấn nồng nàn, nó nóng là phải. Đó là cái mùi của tội lỗi. Còn mình? Mình cũng có tội chứ không à? Sao không nhào tớí mà ngăn nó laị? Cùng lắm thì cứ đè nó ra mà lột, đến tuổi này thì còn sợ gì cái trăng trắng đó nữa! Nhưng như thế thì ác quá! Nó sẽ bị công an lôi đi đưa vào những trại giáo dưỡng như nhà tù. Con nó ai nuôi, cha mẹ nó ai săn sóc?! Giá như hôm nay có đức Phật, chắc ngài cũng để cho nó mượn áo mà thôi. Có phải vì thế mà chiếc áo trở nên ô uế đâu. Khi hành đạo chính ngài đã nhặt nhạnh từng miếng vải vụn trên đường đi, kết thành một tấm vảỉ lớn quấn quanh mình. Chẳng thịt da nào là có tội. Cũng chẳng quần áo nào là đáng khinh. Không chừng chiếc áo vừa rồi đã làm nên ơn phước vì cứu được một người. Như thế cũng là công đức.
Sư cụ bình tĩnh nhặt lên, vuốt lại cho thẳng thóm, ướm thử lên ngực, ngần ngừ một lúc rồi treo lại trên vách.
Ngay sau đó, cái tin con điếm mượn áo cà sa để che cái ba vạn chín nghìn đã lan xa nhanh hơn cả điện. Người từ trên phố ùn ùn kéo tới. Kẻ thì đòi xé xác con đĩ đó ra vì làm ô uế cửa Phật, kẻ thì hí hửng muốn nhìn tận mặt con nhỏ chịu chơi dám đùa dai với sư cụ. Người ta xông vào chùa tranh nhau: sờ, ngửi, hít rồi khạc, nhổ, khiến chiếc áo được kết bằng trăm miếng vải vụn rớt rơi thành nhiều mảnh. Nhiều kẻ đòi đem đốt hoặc thả trôi sông, nhưng cũng nhiều người đòi giữ lại. Có kẻ muốn mua với giá lên đến bạc triệu.
Thôi thì mạnh ai nấy nói, la hét, cười cợt, vung tay, múa chân cứ như phát rồ. Sư cụ ngồi co ro trong góc, ngơ ngác, sợ hãi. Một người được xưng tụng là đại gia bổng chen vào, xốc áo sư cụ lên như xách một con nhái.
“Giữ chùa mà thế này à? Tôi xin hỏi bà con: để làm trụ trì hay nên thôi?”
"Thôi! Thôi!" Người ta gào lên. "Đuổi lão ra khỏi chùa, đồ sư hổ mang!"
Nhưng cũng có kẻ bênh vực: «tại con đĩ đó chớ đâu phải tại thầy».
Kẻ khác lại nói: «chung qui là tại công an. Bắt bớ loạn cả lên. Hết chiến dịch lại thả ra chứ bài trừ được cái gì».
Có kẻ xỏ lá: «biết đâu là cái cơ duyên, không chừng con đĩ đó sẽ cạo đầu đi tu. Cái áo cà sa đó hãy để dành cho nó!»
Ngay lập tức, người ta lập ra ban hộ tự. Trưởng ban là ngài đại gia nhà đất, phó ban là một nữ doanh nhân kinh doanh vàng bạc. Hai mươi mốt vị, có người đang mặc áo ngủ, có người đang mặc quần lửng, có người đang mặc áo không dây, có người đang mặc quần xệ rốn đứng thành hai hàng mà ánh điện của nhà chùa yếu quá soi không rõ mặt. Nhưng trông cũng bừng bừng khí thế như ủy ban cách mạng lâm thời vừa được chọn sau một cuộc đảo chính. Các vị hứa sẽ mở cuộc lạc quyên để vận động xây chùa.
« Chùa phải ra chùa, đại gia trưởng ban nói, bước đầu tôi xin cúng dường một tỷ ».
Tiếng hoan hô như sấm dậy.
Đúng như lời hứa, chỉ trong vòng nửa năm thôi, trên nền đất của ngôi chùa cũ đã bị phá hủy, lễ khai kinh mừng đặt viên đá đầu tiên được cử hành dưới sự chứng giám của các vị đại sư mặc y vàng rực rỡ.
Và cũng chỉ hai năm sau, ngôi chùa mới đồ sộ với những mái ngói cong như đuôi rồng, với lầu chuông gác trống đứng uy nghi soi bóng xuống dòng sông.
Giữa chánh điện là một tượng Phật thếp vàng cao đến 2 thước. Hào quang bằng điện tỏa ra sáng ngời, vun vút lao đi như tên bắn. Hòa thượng trụ trì là một tiến sĩ Phật học từng du học ở Tích Lan. Ngài lúc nào cũng tinh tươm, áo cà sa bằng lụa tơ tằm vàng rực, hai tay chắp trước ngực như búp sen non, nhỏ nhẹ, dịu dàng giữa đám đệ tử kỉnh Phật chuộng tăng, đa phần là nữ, lúc nào cũng lượn lờ những mong được ngài sai bảo.
Sư cụ bị tước y bát, cho hoàn tục. Các tượng Phật bằng gỗ cùng với chiếc áo trơ trẽn hơn một lần khoát lên mình con đàn bà ô uế bị rưới dầu đem đốt trên bờ đập, lúc này đã xây thành đập tràn kiên cố. Mùi gỗ mít, mùi vải mục, mùi con đĩ cọng với mùi dầu tạo thành một thứ mùi, nặng đến nỗi những người đứng xem phải bịt mũi mà vẫn cứ ho sặc sụa.
Cái xóm nhà lá đầy bọn đĩ điếm, ma cô, xì ke, bài bạc bị hốt đem đi kinh tế mới. Khoảng đất trống biến thành tiểu công viên với những cây dương trồng từng khóm cắt thành những chiếc thuyền và những cái tháp nhỏ nhiều tầng.
Thôi thì cũng đành một nhẽ, chùa đẹp như thế, tinh khiết như thế, nhất định là sẽ có Phật vàng.
Đời tốt biết bao!
Đạo đẹp biết bao!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô chiếc áo cà sa!
25/3/2014



Từ điển tiếng Nghệ bằng văn vần (nguyentrongtao.info)

Thấy bài nầy hay ,rinh về đây cho bà con xem.
Cùng là người VN nhưng nhiều khi nghe dân miền Nghệ An ,Hà Tĩnh nói ,nhiều người VN ở vùng miền khác cũng "điếc"luôn



Con trâu thì gọi “con tru”


Con dâu thì gọi “con du” trong nhà


“Mấn” là “váy”, “ngái” là “xa”


“Đi mô?” để hỏi ai là “đi đâu? ”


“Nác su” ý nói “nước sâu”


“Trấy bù” để gọi “quả bầu” đấy nha


“Gác bếp” thì gọi là “tra”


“Lông cơn” thực chất đó là “trồng cây”


“Ra sân” thì nói “ra cươi”


“Đi nhởi” ý nói “đi chơi” ấy mà


“Chúng tao” thì nói là “choa”


“Các bạn”, thân mật gọi là “bọn bay”


“Tê” là “kia”, “ni” là “này”


“Mi” “mần” ý nói là “mày” “làm” thôi


“Chộ” là “thấy”, “nhác” là “lười”


“Mắm tôm” cứ gọi “ruốc bôi” đúng liền


“Đọi” là “bát”, ”nôốc” là “thuyền”


“Khủy chân” đích thị có tên “lặc lè”


“Đàng” là “đường”, “đấy” là “tè”


“Thế thôi” thì nói “rứa hè” là xong


“Rừng” là “rú”,“rào” là “sông”


“Ngá khu” tức thị “ngứa mông” thật rồi


“Mơ” là “mớ”, “thúi” là “hôi”


“Nỏ nhởi” ý nói “không chơi” đó mà


“Tê” là “kia, “tề” là “kìa”


“Cái môi” tên gọi “cái thìa” đó em


“Đánh nhau” – “đập chắc” nhớ liền


“Ra răng” là muốn hỏi em “thế nào”


“Ả” là “chị”, “tau” là “tao”


“Rứa” là “thế”, “răng” là “sao” đó mà


“Bổ” là “ngã”, “mả” là “mồ”


“Lọi cẳng” để nói đó là “duỗi chân”


Vải “đen” ắt hẳn vải “thâm”


”Trụt quỳn” ý nói “tụt quần” thế thôi


“Dốc” là “trôộc”, “đôộng” là “đồi”


“Mui” là để chỉ cái “môi” trước mồm


“Đầu” là “trôốc”, “hun” là “hôn”


“Ló” chưa hết là “Lúa” còn đấy em


“Ngượng” là “rầy” “thích” là “sèm”


Ai hỏi đến “lả” thì châm “lửa” liền


“Nỏ” là “không” nhé đừng quên


“Lá trù” chính xác là tên “lá trầu”


“Mắc” là “bận”, “mô” là “đâu”


“Ăn nể” , “ăn vã” như nhau cả mà


Có người gọi “bọ” là “cha”


“Nương” là “vườn”, “rẫy” gọi là “nương” thôi


“Bù rợ” “bí đỏ” đúng rồi


“Nước chè” quê bạn, quê tôi “nác chè”


“Nướng” là phải “náng” đó nghe


Gọi mang lọ “mói” thì bê “muối” liền


Trốc cúi” là “đầu gối” chân


Gọi “đài” múc nước phải cầm “gầu” ngay


“Chủi” là cái “chổi” đây này


Nói “rờ” thì cứ đưa tay mà “sờ”


“Lúc này” tạm nói là “dừ”


“Luộc kỹ gốc” nhé, “Loọc nhừ côộc” nha,


“Con ga” để chỉ “con gà”


“Con bê” choa nói đó là “con me”


“Con suối” cứ gọi là “khe”


”Châu chấu” ngoài đó, ở quê “cào cào”


“Hồ” nước được gọi là “bàu”


“Cá quả” cứ gọi “cá tràu” không sai


“Con người” thì nói “Con ngài”


”Cù cu” tên gọi của loài “bồ câu”


“tối” nói “túi”, “túi” nói “bâu”


“Con sâu” có chỗ gọi “trâu” thật mà


“Hổ bắt” thì nói “khái tha”


“Muỗi”, “giòi” thì gọi đó là “mọi”, “troi”


“Con ruồi” thì nói “Con ròi”


Bắt “tôi” “Nhúng” đít thì “tui” “trụng” quần


“Con giun” phải nói “Con trùn”


“Với chắc” có nghĩa là cùng “với nhau”


“Lộ mô” có nghĩa “chỗ nào”


Nói “vo trôốc” là “gội đầu” đó em


“Gạo” thì gọi “gấu” đừng quên


Ai nói đến “trự” nhớ liền “chữ” ngay


”Chạc” là để chỉ cái “dây”


Nói đi “đâm” gạo hiểu ngay “giã” rồi


Cả anh, em mẹ tới chơi


Đều chào là “cụ” thế thôi em ờ


“Sạu” thì phải hiểu là “ngô”


”O” là bác gái và “cô” đó mà


“Mẹ chồng” vẫn gọi “mụ gia”


“Ràn tru” phải hiểu đó là “chuồng trâu”


“Ròi bu” ý nói “ruồi bâu”


Hỏi nơi “rửa bát” là đâu “lộ chồ”


Gọi “vợ” là “gấy”nhớ cho


Nói “Nhôông” ắt hẳn chính là “chồng” thôi


“Dao khoắm” là “rạ” đúng rồi


Bảo đi lấy “toóc” thì lôi “rạ” về


“Ruộng” là gọi “roọng” đó nghe


“Anh nha” cứ nói “eng hè” là xong


“Suôn” là “thẳng”, “ngoẹo” là “cong”


“Nỏ mần răng cả” là “không việc gì”


“Gõ đầu” là “trọi trốc” mi


“Kệ tau” ý nói làm gì “mặc tôi”


“Trúp vả” để chỉ cái “đùi”


“Ả nậy” – “chị lớn” biết rồi chứ em,


“Ngong” là “ nhìn”, “coi” là “xem”


“Mệ va” – “chị ấy” mong em chớ cười


“Lớn” thì nói “nậy” thế thôi


“Lõi” ngô, lõi mít nói “cồi” đừng lo


“Cây cọ” choa nói “cơn tro”


Gọi “tắn”, gọi “tít” “rắn” bò “rết” ra


“Mạo” là cái “mũ” đó nha


Trong đó từ “rạc” nghĩa là “xác xơ”


“Anh” là “eng”, “cô” là “O”


“Mun” trong bếp củi là “tro bếp” mà…





(Mời các bạn nối vần)


SƯU TẦM



Van Anh Nguyen: “Hãi” ma tức là “sợ” ma


Nói ai “khun nậy” chính là “lớn khôn”


“Cái ghế” thì gọi “cấy đòn”


“Ăn vụng” – “ăn phúng” là con một nhà


“Bà già” thì gọi “mụ tra”


Mẹ kêu lấy “đúa” cầm ra “rổ” này


“Tâm thần” thì gọi “ra ngây”


“Nồi đất” thì lại gọi ngay “trách bù”







25 thg 3, 2014

Khi người thân yêu của bạn đã mất đến thăm bạn trong mơ...Đó có phải là sự thật??


Theo nhiều nghiên cứu, khoảng 20 đến 40% người Mỹ tin rằng họ đã từng gặp gỡ người chết. Phải chăng tất cả trong số họ đều ở trong trạng thái ảo giác hay họ thực sự đã gặp gỡ người thân của mình?
Bác sĩ Camille Wortman, người đã nhận bằng tiến sĩ từ trường đại học Duke và là một chuyên gia về nỗi đau buồn và mất người thân, cô viết trên blog của mình: “Mặc cho những giao thiệp này có thể an ủi mọi người, nhưng những người mất đi người thân thường lo lắng rằng nếu họ gặp phải những trải nghiệm đó, thì có lẽ họ đã bị tâm thần. Trong nhiều trường hợp, họ không sẵn lòng kể với mọi người về những trải nghiệm trên, vì lo sợ mọi người nghĩ rằng mình mất trí. Điều này có thể giải thích lý do niềm tin của mọi người vào những cuộc giao tiếp với người đã mất khá là thấp và cho rằng những cuộc giao thiệp đó có thể là vấn đề về mặt tâm lý.
Giao tiếp với người đã khuất có thể giúp những “người đau buồn”, Wortman cho biết, cô và các nhà tâm lý học khác đã thử dùng hiện tượng này làm phương pháp trị liệu tổn thương tâm lý
“Người còn sống sẽ hưởng được lợi ích từ việc nhận thức đúng đắn rằng những giao tiếp này thường xuyên xảy ra. Khi được trang bị kiến thức như vậy, khả năng họ được an ủi sẽ cao hơn, và bớt nghi ngờ về tâm trí của bản thân khi trải qua những trải nghiệm trên.“
Bác sĩ Camille Wortman trích dẫn một nghiên cứu trong đó phát hiện khoảng 60% người có thể cảm nhận được sự tồn tại của vợ/chồng, bố/mẹ hay con cái đã qua đời. Khoảng 40% nói rằng người thân đã mất từng nói chuyện với họ. Một vài nghiên cứu được thực hiện cách thời điểm người đã mất một khoảng thời gian ngắn, trong khi một vài nghiên cứu khác lại tiến hành cách nhiều năm sau đó.

Phiên điều trị cung cấp những đầu mối hấp dẫn.

Năm 1995, bác sĩ Allan Botkin phát triển một liệu pháp điều trị với tên gọi “tạo giao tiếp với người đã mất” (IADC). Một trong những bệnh nhân của ông rút ra  được nhiều điều khi trông thấy người bạn đã mất trong giấc mơ của mình và thừa nhận rằng trải nghiệm trên là thật, không phải ảo giác.
Một nhà báo tên Julia Mossbridge đã mất đi người bạn của mình Josh, khi đang học đại học. Cô đã thuyết phục được Josh tham dự một buổi khiêu vũ trong khi anh không có kế hoạch tham gia và anh đã chết trong một vụ tai nạn ô tô trên đường tới tham dự, Cô giải thích trong một báo cáo về trải nghiệm của mình.
Liệu pháp của Botkin sẽ khiến đôi mắt của bạn di chuyển giống như hiện tượng chuyển động-mắt-nhanh trong giấc ngủ REM. Giấc mơ xảy ra trong giai đoạn giấc ngủ REM. Vào lúc đó, ông giúp bệnh nhân chạm đến những cảm xúc sâu kín có liên hệ đến nỗi thương tiếc của họ.
Mossbridge chia sẻ trải nghiêm: “Đơn giản, đây không phải là ảo giác, tôi thấy Josh ở đằng sau cánh cửa. Người bạn của tôi nhảy khắp nơi với sự hăng hái trẻ trung của mình và tươi cười với tôi. Tôi cảm nhận một niềm hân hoan tột độ vào lúc đó nhưng lại không thể nói liệu chính tôi có phải là người gây nên tất cả. Anh ấy bảo rằng tôi không có lỗi và tôi tin anh ấy. Sau đó tôi thấy Josh đùa nghịch với con chó của chị gái anh. Tôi không biết rằng chị anh nuôi con chó đó. Chúng tôi chào tạm biệt nhau và tôi mở mắt, mỉm cười.”
Cô tiếp tục: “Sau đó tôi tìm hiểu và biết được con chó của chị gái anh ấy đã chết và cùng giống với con chó tôi đã thấy trong mơ. Nhưng tôi vẫn chưa biết được đâu là thực. Những gì tôi thấy là khi nghĩ về Josh, tôi không còn bị ám ảnh bởi cảnh tượng anh ấy gọi tôi hay cảnh chiếc xe bị đâm. Ngoài ra, tôi còn thấy Josh bước đến phía tôi, cười và đùa nghịch với chú chó thiên thần. Hiện tại, đây chính là những bằng chứng mà tôi cần đến.”
Botkin đã nói không cần quan tâm xem liệu bệnh nhân có tin tưởng vào trải nghiệm hay không, nó vẫn có một tác động tích cực.
Khoảng 60 triệu đến 120 triệu người Mỹ (chiếm 20 đến 40% dân số đất nước) có những trải nghiệm giao tiếp với người đã mất, theo Bill Guggenheim, người đã phỏng vấn 2000 người trên khắp đất nước trong vài năm.

Đi khắp lục địa để thu thập các trải nghiệm

Bill và Judy uggenheim đã lập nên một đội gọi là “giao tiếp với người đã mất.” Họ giành vài năm, từ năm 1988, để phỏng vấn khoảng 2000 người có trải nghiệm như trên từ 50 tiểu bang và 10 tỉnh của Canada
Bill Guggenheim là người môi giới ở phố Wall, người theo thuyết bất khả tri và ông không tin khả năng có thể giao tiếp một cách chân thật với người chết. Sau đó ông trải qua một chuyện, ông tin rằng người bố đã mất đã nói chuyện với ông.
Guggenheim đang ở trong nhà thì bỗng nghe thấy một tiếng nói “Ra ngoài và kiểm tra bể bơi đi,” Guggenheim hồi tưởng lại trong một cuộc phỏng vấn trên Afterlife TV. Ông ra ngoài và thấy cánh cổng của hàng rào bao quanh bể bơi mở hé. Khi ra đó đóng cửa, ông phát hiện con trai mình đang mềm nhũn dưới bể bơi.
May mắn, ông đến kịp lúc và cứu sống được con trai. Guggenheim nói ông không thể nào nghe được tiếng nước tung tóe khi đang ở trong nhà và thậm chí không nghĩ rằng con trai mình ở ngoài. Con trai ông ở phòng tắm tầng dưới và bằng cách nào đó đã ra khỏi ngôi nhà mặc dù có thiết bị bảo đảm an toàn cho trẻ bằng cao su bao quanh nắm đấm cửa.
Chính giọng nói giúp cứu sống người con trai đã thôi thúc ông dành phần đời còn lại của mình để tiến hành nghiên cứu về giao tiếp với người đã mất. Guggenheim không nghĩ rằng mọi người sẽ lắng nghe ông vì ông là một nhà môi giới chứng khoán, ông cũng không có giấy chứng nhận liên quan, như học vị tiến sĩ
Tiếng nói đó nói với ông: “Bill, con hãy thực hiện nghiên cứu của chính mình, viết thành sách, đó là công việc thiêng liêng mà con cần phải làm.”

“Một trăm trường hợp về sự sống sau cái chết”

Năm 1944, Bernard Ackerman biên soạn lại các bản tường thuật trong cuốn sách của ông: “Một trăm trường hợp về sự sống sau cái chết”
Ông lưu ý rằng những trường hợp ông biên soạn được điều tra nghiên cứu cẩn thận bởi “những con người dành nhiều thời gian, tiền bạc và cả sức nhẫn nại trong suốt quá trình điều tra”
“Họ vô cùng nghiêm túc trong việc cố gắng giải quyết dấu hỏi lớn của con người,” ông viết. Nhưng, Ackerman không tuyên bố những trường hợp này là các trải nghiệm chân thật, ông để dành phần đó cho người đọc.
Một trong những câu chuyện ông kể lại là về một người đàn ông trẻ tuổi tên Robert MacKenzie. MacKenzie được cứu khỏi chết đói trên đường nhờ một chủ sở hữu doanh nghiệp cơ khí ở Glasgow đồng thời là người tạo công ăn việc làm cho anh ta. Danh tính của chủ doanh nghiệp không được tiết lộ, nhưng ông là người thuật lại câu chuyện.
Một đêm, người chủ doanh nghiệp này có một giấc mơ trong đó ông đang ngồi tại văn phòng và MacKenzie xuất hiện. Họ có cuộc trò chuyện dưới đây:
“Chuyện gì vậy, Robert? tôi nói với giọng hơi giận dữ. “anh không thấy tôi đang rất bận sao?”
“Vâng, thưa ông,’ anh ta đáp, ‘nhưng tôi có chuyện muốn nói với ông ngay bây giờ.’
“‘Chuyện gì vây? tôi hỏi. “Có quan trọng lắm không?’
“Tôi rất muốn nói với ông, thưa ông,’ anh ta trả lời, ’rằng tôi bị kết tội vì đã làm một việc nhưng tôi thực sự không làm và tôi muốn ông biết điều đó và muốn nói với ông rằng, ông có thể tha thứ cho những gì tôi bị buộc tội, vì tôi thực sự vô tội.’
“Sau đó tôi hỏi, ‘Nhưng tôi không thể tha thứ cho anh khi mà anh chưa nói cho tôi anh bị buộc tội gì?’
“Tôi không thể quên câu trả lời đặc giọng Scotland của anh ta, ‘ông sẽ sớm biết thôi’.”
Người chủ doanh nghiệp tỉnh giấc và vợ ông xộc vào buồng, cuống cuồng thông báo với ông rằng MacKenzie đã tự tử. Ngay lập tức, ông đáp lại vợ “Không, anh ấy không tự tử.”
Sau đó người ta phát hiện ra MacKenzie không tự tử như mọi người nghĩ. Anh ta đã nhầm lẫn chai chứa chất độc dùng để nhuộm gỗ với chai rượu Whisky.

23 thg 3, 2014

Chợ chiều: Truyện ngắn của Đào Anh Dũng,lời bình:Ngân Triều

  1. Chôï  chieàu
  2. Truyeän ngaén Ñaøo Anh Duõng     
  3. Lôøi bình Ngaân Trieàu 


  4. Xóm Chợ Chiều của tôi có vẻ vui nhộn lên từ ngày có ông tư Thọ, Việt kiều Mỹ, về ngụ và “tuyển thê.” Vui nhộn vì xóm có thêm đề tài nóng bỏng để quí bà ngồi lê đôi mách, quí ông bàn tán trong lúc trà dư tửu hậu. Đọc báo thấy các trường đăng quảng cáo “tuyển sinh” thay vì tuyển sinh viên nên tôi dùng chữ “tuyển thê” cho có vẻ văn hoa hơn là “kiếm vợ.” Riêng “Chợ Chiều” tôi cam đoan không có “cường điệu.” Nghe nói ngày xửa ngày xưa xóm tôi chiều nào cũng có nhóm chợ nên thiên hạ đặt cho cái tên này.
     
    Ông tư Thọ tuổi đã tròm trèm 70, ông về ở xóm Chợ Chiều để nghỉ hưu gần hai năm nay. Ông sống thật rộng rãi, qua lại rất hậu hĩ với hàng xóm, không tiếc rượu lai rai với cánh đàn ông nên được lòng nhiều người. Nghe nói ông bị bà vợ Mỹ ly dị, con cái đã trưởng thành, ở riêng nên lúc trước ông sống rất cô đơn nơi xứ người. Tiếng là nghỉ hưu nhưng nếp sống của ông rất sôi động. Khi ông mới về, căn nhà của ông ngày nào cũng nườm nượp các bóng hồng, chân dài, chân ngắn, tóc uốn, tóc xõa ngang vai, mặc jupe hay áo dài hoặc jean ... Toàn là giới trẻ. Sau đó, nhịp độ lắng xuống, vài ba tuần một nàng, rồi đôi ba tháng. Người gắn bó với ông lâu dài nhất, khoảng sáu tháng nay là một thiếu phụ trung niên, lối xóm gọi là cô tư, theo thứ bậc của ông.

    Lúc đầu, cảnh nhộn nhịp ở nhà ông tư Thọ thật ra có làm gai mắt thiên hạ. Căn gác tôi ở trọ nằm kế bên nhà ông tư, ngó xéo qua quán chú hai Thanh, sáng bán cà-phê, chiều có thêm bia và đồ nhậu. Trước quán có xe bún riêu của bà hai Thoa bán vào buổi sáng, buổi trưa có gánh chè thưng của chị bảy Hồng. Hai năm nay thỉnh thoảng tôi bị thất nghiệp, nằm nhà nên phải nghe chuyện thiên hạ bàn tán về ông tư. Người nói các cô bồ của ông tư là toàn gái bao mà sao cô nào cô nấy “chảnh” ơi là “chảnh,” không bao giờ ghé uống tách cà-phê, ăn chén chè, nói chi đến tô bún riêu với bà con; kẻ cho rằng ông tư già rồi, có trục trặc trong chuyện chăn gối nên không ai thèm ở lâu. Vậy mà sao cô tư “trụ” lại với ông tư cả sáu tháng nay rồi? Bàn tán vậy thôi chứ ai dám hỏi. Vậy mà tôi biết được câu trả lời. Nó cũng khá đơn giản.
     
    Nói nào cho ngay, cô tư lớn tuổi hơn mấy cô trước nên cô biết lo lắng chuyện cơm nước cho ông tư. Từ lúc cô về ở với ông, bà con thấy ông “có da có thịt” và “mướt” ra. Cô tư cũng biết “xả dao xả búa” với láng giềng, thỉnh thoảng nấu món ngon vật lạ cô mang biếu bà con ăn lấy thảo. Trưa trưa cô còn ngồi ăn chè, to nhỏ với cánh đàn bà trong xóm. Một hôm tôi đang ngồi nhâm nhi tách cà-phê trong quán chú hai Thanh bỗng nghe tiếng cười rú lên, ngó ra thấy mấy bà ngồi quanh gánh chè với cô tư, bà này cười, bà nọ đỏ mặt, bà kia bụm miệng ... Chắc là mấy bà nói trây, nói trúa chi đây.
     
    Tuần lễ sau, tôi nghe nói cô tư lấy xe đò về quê thăm nhà. Xế trưa hôm ấy, ông tư một mình ra quán uống cà-phê, ai gặp cũng hỏi thăm mà sao gương mặt ông buồn thiu. Lúc quán vắng khách, ông xề lại bàn tôi nói chuyện, hỏi thăm này nọ. Nói tới chuyện vợ con, ông khuyên tôi cưới vợ chứ đừng có lấy người tình. Được thể tôi hỏi ông về chuyện phòng the, sao ông đã trọng tuổi rồi mà còn “gân” vậy? Có bí quyết gì xin truyền lại cho hậu sanh. Ông cười nhẹ và trả lời: “Tao nhờ mấy viên thuốc tây chứ chợ chiều mà, tài giỏi gì mậy!” Rồi ông thở dài, nói tiếp: “Tao rầy cho bả một trận nên bả giận, bỏ về quê mấy hôm rày làm tao rầu thúi ruột đây. Thuốc tao mua qua Internet nên có mắc mỏ gì đâu mà tiếc với bà con, nhưng nếu không hỏi bác sĩ mà uống đại, uống đùa, bị phản ứng thì chết người như chơi. Vậy mà bả không nghe tao, lấy cho mấy bà trong xóm để ‘ông uống bà khen,’ mầy coi có chịu nổi không ?...”

    Tôi chưa kịp trả lời ông tư, bỗng nghe đâu đó tiếng vét nồi kêu rột rẹt. Nhìn ra vỉa hè, tôi thấy chị bảy Hồng đang nghiêng nồi, múc chè. Chắc là chén cuối cùng.
     


    đàoanhdũng
    Lời bình: Ngân Triều: 
  5. Nhớ câu ru em một thời, chỉ nghe mà ko hiểu, giờ hiểu được thì nó cũng hợp với "Chợ chiều" của Đào Anh Dũng:
  1. Chợ chiều nhiều khế, ế chanh,
    Nhiều cô gái lạ nên anh chàng ràng.
    Anh ơi! Đừng có chàng ràng
    Để xem cây quế, ngã tàng...về đâu.
    Khế và chanh là ẩn dụ cho giới nữ. Chợ buổi chiều...tuy vậy vẫn còn đông khách...hầu hết là nữ giới. Nhân vật trữ tình "anh" chỉ chú mục đến những đối tượng của mình, rất đông (nhiều khế) và chẳng thèm quan tâm đến những phái nữ vị thành niên, còn bé,chưa trỗ mã (ế chanh).
    Trong số những đối tượng đó, anh đã quen mắt lâu rồi thì nói làm chi! Buổi chợ chiều hôm nay, rất đặc biệt, vì có:
    "Nhiều cô gái lạ nên anh chàng ràng".Từ "chàng ràng" thật tuyệt, là lôi cuốn, thu hút "anh",để anh cứ quqanh quẩn, quyến luyến, ko thể rời xa...hay nói cách khác, anh đã phải lòng một người,bị tiếng sét nổ vang,tự làm kẻ khờ, si tình, cứ bám đuôi người đep...người đẹp như cây quế, như 1 bài ca dao lịch sử đã tiếc Ngoc Hân Công Chúa, gã cho Chế Mân:
    Tiếc thay cây quế giữa rừng,
    Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.
    Ở đây, "cây quế ngã tàng về đâu" là nhắc khéo, anh chàng si tình.Hãy cẩn thận anh ơi! Biết đâu cây quế đà có chủ rồi...hoặc là người đẹp đâu phải đi một mình...mà có ông xã (ox) đang quản lý tầm xa...Anh chàng ràng bên nàng, coi chừng...rắc rối to đấy.
    ***
    Chợ chiều của Anh Dũng, một bút ký nhẹ nhàng về 1 khu phố nhỏ thường thấy, có họp buổi chợ chiều. Đó là nghĩa thông thường mà ai cũng hiểu. Có điều hay là"chợ chiều" qua ngôn ngữ của tác giả nó còn hàm ý cho lớp tuổi của nhân vật Ông tư Thọ, tuoui63 tròm trèm 7o. Cụ thể qua câu trả lời của ông với tác giả kiêm người dẫn chuyện:
    Ông cười nhẹ và trả lời:
    “Tao nhờ mấy viên thuốc tây chứ chợ chiều mà, tài giỏi gì mậy!”
    Chợ chiều là tuổi già bóng xế, tuổi bên kia cái dốc cuộc đời, tuổi gần đất xa trời, tuổi ở tận cuối trời quên...theo tính đa nghĩa của từ, tính hàm ẩn của từ...như thế thì thật là sáng tạo ...(còn tiếp)

    00:57 Ngày 20 tháng 03 năm 2014
    Xóa
    Trả lời
  2. Tôi bị lôi cuốn theo lời dẫn chuyện của tác giả. Bối cảnh làm nền của truyện, chỉ là một xóm chợ chiều, đơn sơ,gần gũi,quen thuộc...trên những khu phố, thị trấn, tỉnh lỵ, thành phố.CHỢ CHIỀU, nhóm họp đến chiều,có
    "quán chú hai Thanh, sáng bán cà-phê, chiều có thêm bia và đồ nhậu";
    "có xe bún riêu của bà hai Thoa bán vào buổi sáng, buổi trưa có gánh chè thưng của chị bảy Hồng";
    có quí bà ngồi lê đôi mách, quí ông bàn tán trong lúc trà dư tửu hậu";
    và có "Ông tư Thọ tuổi đã tròm trèm 70, ông về ở xóm Chợ Chiều để nghỉ hưu gần hai năm nay"
    Tiếp theo là chuyện ông Tư Thọ...một Việt kiều già đã về sống ở khu Chợ Chiều gần hai năm nay.
    Tính cách ông rất lạ, sựb tồn tại của ông như 1 cái gai của khu phố, qua nếp sống thác loạn, công khai của một người gần đất xa trời...mà còn "ham chơi trống bỏi". Người dân đâm ra khó chịu, dị ứng với cái chuyện ông già "tuyển thê", chuyện đó đã sôi động rộn ràng trong một thoáng...và kết thúc với chuyện cô Tư là vợ chính thức của ông.
    Tính cách của cô tư được phác họa tương đối rõ ràng, ko chú trọng ngoại hình xinh hay ko xinh,chỉ biết tuổi cô trung niên (tứ tuần,
    "cô tư lớn tuổi hơn mấy cô trước nên cô biết lo lắng chuyện cơm nước cho ông tư. Từ lúc cô về ở với ông, bà con thấy ông “có da có thịt” và “mướt” ra. Cô tư cũng biết “xả dao xả búa” với láng giềng, thỉnh thoảng nấu món ngon vật lạ cô mang biếu bà con ăn lấy thảo. Trưa trưa cô còn ngồi ăn chè, to nhỏ với cánh đàn bà trong xóm"...
    Vậy là ông tư có bí quyết gì mà cô tư "trụ" với ông lâu thế? Thật là bí mật...
    Điểm đỉnh thất nút được tác giả kể thật ấn tượng qua những nhân vật phụ cười rơn đầy thắc mắc cho người nhìn thấy:
    " Một hôm tôi đang ngồi nhâm nhi tách cà-phê trong quán chú hai Thanh bỗng nghe tiếng cười rú lên, ngó ra thấy mấy bà ngồi quanh gánh chè với cô tư, bà này cười, bà nọ đỏ mặt, bà kia bụm miệng ... Chắc là mấy bà nói trây, nói trúa chi đây". Có thể là vậy, chuyện nữ giới mà!
    Phần mở nút hóa giải cũng rất hay. Ô tư buồn vì cô về quê/ ông có rầy cô/ việc đem chia sẻ với chị em trong xóm/ thuốc "ông uống bà
    khen" của ông tư...
    Hóa ra, đó là một nét văn hóa mới cho người cao tuổi...về sinh hoạt tình dục mà có lẽ thời điểm đó, người bình dân trong khu phố chợ chiều chưa biết.
    Câu chuyện đưa duyên khép lại một cách rất nhẹ nhàng,qua "tiếng vét nồi kêu rột rẹt",nồi chè thưng của chị bảy Hồng đã hết!
    "Chắc là chén cuối cùng" Hay hết chuyện...tùy người đọc tự luận...
    Có thể nói Chợ chiều của Anh Dũng rất nhẹ nhàng vui tươi chừng mực phản ánh một nét nhân bản của đời thường...nhất là những nhu cầu thầm kín và tâm lý tinh tế của lớp người cao niên.
    Thân ái, Ngân Triều

    09:46 Ngày 20 tháng 03 năm 2014

21 thg 3, 2014

Tiếng Việt lý thú - Nguyễn văn Luận,Nguyễn Khắc Sơn




Tiếng Việt là độc âm nghĩa là nói từng tiếng góp lại thành một câu, viết từng từ góp lại thành một bài văn. Tiếng Việt dùng 32 chữ cái của mẫu tự La Tinh để viết, nguyên thủy do các Linh mục Bồ Đào Nha và Pháp mang vào Việt Nam từ thế kỷ 16, phiên âm tiếng Việt để truyền đạo Thiên Chúa, dần dần lập thành Chữ Quốc Ngữ thay thế Chữ Nho cho đến nay.


Tôi nhận thấy so với tất cả các nước dùng mẫu tự ABC trên thế giới thì chỉ có từ ngữ Việt Nam mới có thể chỉ dùng những từ có cùng một Phụ âm đứng đầu để kể một câu chuyện có vần Phụ âm đó, hoặc viết một bài văn với cùng một Phụ âm ở đầu từ.
Để chứng minh, tôi đã viết được 5 Chuyện với cùng một Chữ bắt đầu:


1. Chữ B : Bà Ba Bán Bún
2. Chữ C : Chuyện Cậu Chính
3. Chữ H : Hẹn Hò (404 chữ H)
4. Chữ T : Tiểu Truyện Toàn Tê
5. Chữ V : Viết Văn (378 chữ V)



Nguyễn Văn Luận

BÀ BA BÁN BÚN

Bà Ba buồn bã bế bé Bưởi bủng beo, bi bô, biết bò. Bà bẽ bàng bởi bà bị bắt ba bốn bận, bố bé Bưởi bội bạc, bỏ bà, biền biệt, bà bị bịnh ...bón.
Bà Ba bán bún, bọn "bọ"(cán bộ) bảo bà bán bún bò. Bà bất bình, bà bảo bà bán bún bung. Ba bà bạn buôn, bán bún bị bắt. Bà Ba buồn, bèn bỏ bán bún, bán bánh bèo.
Bánh bèo bằng bột, bọn "bẩm báo" biết bà bán bánh bèo, báo bà ...bán bánh bằng bột! Bà bừng bừng bực bội, bóp bét bánh bèo, bôi bê bết "Biên bản bắt bán bánh bằng bột"
Bộ (công an) bắt bà Ba, bảo bà bán bánh bằng bột, bừa bãi, bướng bỉnh, báng bổ. Bọn bồ bịch "bác Bình bên Bộ" biết bà Ba bầu bĩnh, béo bở, bèn bô bô bảo bà: "Biếu bác Bình bốn bách", bác Bình bãi bỏ "Biên bản bán bánh bèo".
Bà Ba bấm bụng, biếu "ba bách". Bà biết bà bị bắt bí, bởi bánh bèo bà bằng bột ...bo bo . "Bầy bịp bợm, bọn bưng bô, bết bát, bê bối, bèo bọt, bắt bừa bãi ...!"
Bộ ban bố: "Bắt bún, bắt bánh bằng bột". Bọn bồi bút bênh Bộ, bốc "Bắt...bắt !" bất biết. Bọn "bọ" bắt bà Biên, bà Bích, bà Bạch bán bánh bao. Ba bà bàn bạc, bỏ bán bún, bánh bao, bánh bèo, buôn ....bắp !
_ Buôn bắp bấp bênh, "bị bắt bỏ bu ! ", bà Ba bảo bạn.
Bà Ba bèn bồng bé Bưởi bi bô, buôn ...bầu bí. Bầu bí buôn ba bán bảy !
Bập bùng, bì bõm bến bãi, bờ bụi, bà Ba bứt bí, bứt bầu, bó bầu, bó bí bỏ bị bự, bán buôn bớt bận bịu ! Bạn bè bốc: "bà Ba Bị bán bầu bí ...bộn bạc!"
Bà Ba buồn bời bợi bởi bố bé Bưởi bội bạc bỏ bà, bởi bịnh bón. Bà bực bội, bất bình bởi bọn "bọ" bám bà, bức bách bà, bắt bà bảy bận, bòn bóc bà bởi bà biết buôn bán. Bà bỏ Bất Bạt (Sơn Tây), Bắc bộ, bỏ bán bầu bí, bế bé Bưởi bụ bẫm, bôn ba, bao bọc bởi bác Bàng Bến Bính (Hải Phòng), bung buồm bám biển, bị bão, bồng bềnh... Bà Ba bế bổng bé Bưởi, bíu bác Bàng biết bơi.., bơi bì bạch biển Bắc bão bùng ... Bà bye bye bọn Bắc Bộ bẩm báo, bức bách, bắt bớ bừa bãi...!
Bóng bẩy, bảnh bao, bà Ba bước bên bờ biển Boston biêng biếc, bàng bạc. Bé Bưởi bắt bóng balloon bay bướm, bước bên bà, bé bảo: "Bờ biển Boston blue...beautiful !"
Bà Ba bưng bát bún bò, bảo bé Bưởi: "Bún bò Boston bát bự bằng bún bò Bolsa ...!". Bánh bao Bolsa...bôi bơ béo bổ, bánh bao Boston bềnh bệch, bánh bèo Boston bột ...bở!
Bé Bưởi bửa bánh bao, bỗng bảo bồi bàn : "Ba bát bún bò ....!". "Bún bò Boston Bistro bát bự, "bảy bucks","beautiful....beautiful...!


CHUYỆN CẬU CHÍNH

Cậu Chính con cả cụ Chánh Chợ Cầu, chững chạc, cứng cỏi, chăm chú, chần chừ chọn các cô Chanh, Cốm, Cẩm, Châu... cho chót chuyện cha cậu cấm cậu cặp cả ...chín cô!
Chấn chỉnh, cậu Chính compare các cô, confused...! Cô Cẩm cùng cục, cong cớn, cô Chanh chậm chạp, chắt chiu, cô Cốm chanh chua, cà chớn...Cuối cùng cậu Chính cảm cô Châu. Cậu chịu cô Châu: cô chăm chỉ, cần cù, cổ cao, co chuẩn, con cụ Chất có cồn cỏ cạnh Chùa Cam. Cụ Chất cám cảnh còm cõi, cơ cực, chuân chuyên, chợ chiều chen chúc, cụ chỉ có Châu, cụ chăm chút, chiều chuộng, cố chọn chồng có của cho con. Cụ chấm cậu Chính: "Con cả cụ Chánh Chợ Cầu cặp cùng con cụ, chắc chắn cha con cụ chứa chan...của cải!" Cụ Chánh Chợ Cầu cũng chịu cô Châu con cụ Chất Chùa Cam, cầu cho con cụ cùng cô Châu...chính chuyên, chặt chẽ!
Cô Châu cười chúm chím: "Con chịu...!"
Các cô Chanh, Cẩm, Cốm chắc chắn chuyện cậu Chính cặp cái Châu, cay cú, cau có, cãi cọ chán chê, cùng chạy cầu cứu cụ Còng, cầy cục cụ can cụ Chánh Chợ Cầu: "Chúng cháu cao cả, chẳng chịu cảnh chồng chung, cụ che chở cho chúng cháu, cậu Chính chỉ chực ...chôm của!" Các cô cũng cảnh cáo cậu Chính "Can chi cặp cái Châu chích chòe?" Cậu Chính chợt choáng, chẳng chịu các cô chỏng chảnh, chập chờn con chuồn chuồn, cuống con cào cào "Chết chắc...!"
Các cô cố chê, chéo chân, choạc cẳng chửi cô Châu:
Cô Cốm: " Con Châu cổ cò, chân cong...Cậu Chính cay con cà cuống, chó chầu cục cứt!"
Cô Cẩm: " Cái Châu còi cọc, chiu chít, cổ cáu chằng chịt chân chim, chồm chỗm con cú chê con chẫu chuộc!"
Cô Chanh: " Con Châu chảnh chọe, chủ chứa, cạp củ cải cháo chua, con cầy chộp con cóc chết!"
Các cô càng châm chọc cô Châu, cậu Chính càng chê các cô. Cậu chua chát: " Các cô cáo chồn, cà chớn, chán chết...!"
Cuộc chiến chiếm...con chim... cù cưa, con cò chết cháy...!
Cô Châu cột chặt...cột cờ, còng chân cậu Chính!
Các cô Chanh, Cốm, Cẩm cố công cầm cự chí chết, cãi chầy cãi cối chửi cô Châu, chung cuộc... chết chìm...! Các cô còn chỉ cậu Chính ca cẩm: " Con cá cắn câu, con cò cất cánh...cóc cần...coi chừng...cắt chim!", chửi câu cuối cùng, các cô cùng chập chững co cẳng ...chạy!
Cậu Chính chỉ cho cụ Chánh, cha cậu, chứng cớ các cô cạy cửa, chẹt cổ cô Châu, công chúa của cậu, còn cắn cậu , cấu cậu. Cụ Còng, con cô con cậu của cái Cẩm, cố chấp, che chở con Chanh, con Cốm cản cậu. Con Chanh chồng chết, cái Cốm cancer, cùng cực, chồng chê cõng con...chuồn...! Cái Cẩm cầm cái, cướp cơm của chú cháu con Chi, cả community chê cười !
Căn cứ cử chỉ của các cô "chuột chết", cụ Chánh Chợ Cầu chào cụ Chất Chùa Cam: "Cho các cháu...chập chùng, chũm chọe chuyện chiếu chăn..!"
Cậu Chính cắt cây cảnh, cắt cỏ, cô Châu chăm chậu cúc, cặm cụi chẻ củi, chặt con cá chép, cơm canh, cỗ cúng.
Chập choạng chiều, cô Châu chải chuốt, cậu Chính chững chạc cắp cặp cùng các cụ, các con, các cháu chuyển cỗ cúng, cùng chè chén chứa chan chuyện con cà, con cút, con chim cánh cụt.
Cơm cúng cỗ có : Canh chua cá catfish, Canh cải cà chua, Cá chép chiên, Chả chìa, Càng cua cặp củ cải chua chiên chảo, Cam, Chuối chín cây, có cả Chocolate cookies, Coconut candies .
Cụ Chánh cùng cụ Chất chạm cốc. Cụ Chất chúc: " Chúc cụ Chánh chân chính, cha chồng cháu Châu, cầm cân cho chắc, chống chó càn cướp của, chúc các con có cu Chính con coming!" Cụ Chánh chếnh choáng, chớp chớp, cầm chừng, chực cảm. Cụ cười, cất cao cổ ca câu chuyện chữ C:
Chiều chiều chênh chếnh cánh cò !
Con công, con cú, con chim chích, con cu,
Có con cóc cái, chu choa...chộp con cào cào...!

HẸN HÒ

Hăng hái học hành, Huệ, Hồng, Hương, Hảo, Hạnh, ham hội họp, hào hứng, hớn hở, hát hò. Hạnh hát "Hello", Hảo hát "Hoàng Hôn Hawaii", Hương hát "Haiti hiu hắt",
Hồng hết hơi "hông hát...!" Huệ hò Huế hay ...hơn hết!
Huệ hao hao Halle-Berry, Hồng... hot, hở hang, Hương hơi hư hỏng, Hảo ham hàng hiệu, Hạnh ...hiền hòa.
Huệ hợp Hảo, học hình họa, hí hoáy họa hình hổ, hình hươu, hình hoa hòe, hoa huệ. Hồng, Hương ham hóa học, hì hục hốt ...hành, hẹ, hột hồi, hoa hiên, hoa hồng hòa hỗn hợp...hăng hăng! Hạnh ho he học hàng hải...hão huyền!
Hết hè, Hồng háo hức, hí hửng hỏi Hương: “Hương hẹn hò Huỳnh Hữu Hải, hứa hôn hả?”
Hương hốt hoảng, hậm hực: "Hải Hủi, hắn hippy, hâm hấp, hẹp hòi...Hương hầu hạ hắn, hắn hờ hững, hắt hủi Hương, hằn học hành hạ Hương...!" Hương hụt hơi, hổn hển: “ Hắn hung hãn hành hung Hương, hích Hương, húc Hương, hét ‘Hương hooker’. Hắn hăm hở, hùng hục, hoạnh họe, hà hiếp Hương hai hôm, Hương hận hắn..hu..hu ...!”
Hồng hiểu hồi hôm Hương hốc hác, hết hồn, hắt hơi, ho hù hụ, héo hon, hết hồng hào. Hương hãi hùng, hối hận, hét hết hơi: "Hải Hủi hèn hạ, hôi hám...!". Hải hầm hầm, hắn hoảng, hắn hét, hắn hầm hè, hục hặc, hùng hổ ...hù Hương...
Hương hớt hơ hớt hải hỏi Hồng: "Hu hu..hỡi Hồng! help Hương... hầu hắn hết hung hăng, hãm hại Hương". Hồng hiểu hết, hối hả, hào hiệp, hét: "Hải hỗn hào! ha ha... hành hung hả?". Hồng hô:"Huệ, Hảo, Hạnh, ...Help...Help...!" Hải hoảng hồn...hết hung hãn!
Hảo: " Ha...ha...hì...hì Hải Hủi...hấp hối...!
Huệ hò Huế hay huyền hoặc hôm Holiday, hội họp. Hạnh hân hoan hỏi Huệ: "How...hè Houston..? Hẹn hò hay hứa hôn...?"
Huệ hoan hỉ: "Hôm hẹn hò, Huệ, Hoàng hái hoa hồng, hưởng hoàng hôn Houston huy hoàng. Hoàng: "Hân hạnh...hân hạnh...!" Huệ hơi hoảng hốt...Hoàng hào hoa, háo hức... hôn Huệ!...Huệ hiểu Him hơn hết. He hiểu Huệ hoàn hảo. He hiền hòa, hôn Huệ hoài...hôn hoài. Huệ hắt hơi, húng hắng ho. Hoàng hối hả, hà hơi... hôn Huệ, Huệ hết ho, hả hê, hú hí.
Hè Houston hồng hồng, Hoàng hugs Huệ, hái hoa hồng hỏi Huệ hứa hôn. Huệ hold Him, háo hức, Huệ... hò Huế. Huệ happy. Hallelujah !


TIỂU TRUYỆN TOÀN TÊ :

TÌNH THẢO TÓC TIÊN – TƯ THẸO TẠI TEXAS.

Trời tháng Tám, tiết Thu, thoảng từ tiệm Tầu tiếng tiêu thánh thót, trữ tình, Thảo Tóc Tiên thẹn thò, thủ thỉ:
_ Thảo thiệt tình thương Tư!
_ Thiệt thế? Tư thân Thảo từ thuở thiếu thời, Tư thương Thảo thành thực!
Tư Thẹo tỏ tình, thì thầm tha thiết, Thảo Tóc Tiên tức thời thút thít:
_ Thảo tức thiệt, thằng Tí Thộn theo Thảo, thấy Thảo thương Tư, trêu tức Thảo, to tiếng: “Thảo tóc thưa, tai teo, trán thẹo, tò te tí te!” Thảo thưa thầy Tám Thuốc Tễ (thằng Tí thường theo thầy tán thuốc), thì thầy Tám tủm tỉm, trơ trẽn, tức thiệt, tức thiệt!
_ Thiệt thế, Thảo? Tư trợn trừng.
Tư Thẹo trước theo thằng Trâu Trắng tập thiền Tây Tạng tám tháng, từng tấp tểnh trở thành thám tử tìm tầu Titanic. Thấy Thảo Tóc Tiên thút thít, Tư tất tưởi, tóc tua tủa, tức tốc tìm tới thầy trò Tám Thuốc Tễ, Tí Thộn. Thảo tòn ten theo Tư.
_ Tiểu tử Tí Thộn thật ti tiện, Tư Thẹo thét to.
_ Tao ti tiện? Tí Thộn thét theo,” Tư Thẹo tí tởn tán Thảo Tóc Tiên tai teo, trán thẹo,
tò te, tò te!”
_ “Thầy Tám Thuốc Tễ trơ trẽn trắng trợn, tiếng Thảo the thé, thằng Tí Thộn tồi tàn, trêu tao thì tao...” Thảo toan túm tóc thằng Tí thì tuột tay.
Tư Thẹo tung tay tống trúng trán thầy Tám. Thầy Tám thụp thật thấp theo thế Tề Thiên thỉnh Tam Tạng, tẩu thoát.
_ Trời! thằng tục tử tham tàn, tao thề tặng tí tiết!
Tí Thộn tiến tới, thuận tay thụi tới tấp Thảo Tóc Tiên, từ tai tới tim. Thảo té, te tua, tức thở, túi tiền tung toé, trông thực thảm thương!
Tí Thộn , tay thọc túi thách thức... Tư Thẹo tọa thân theo thế Tào Tháo Tế Thần, tay trái thọc Tí Thộn. Tí Thộn tài tình tránh thoát. Tư Thẹo thẳng thừng tống tiếp, Tí Thộn
teo tởn tưởng tiêu, trườn thân tạo thành thế Thám Tử Trèo Tường, thét to ”Tao tẩu!”
Thảo Tóc Tiên thích thú, thều thào: “Tư...ư ...thư...ơng!”
Tư Thẹo, Thảo Tóc Tiên, tay trong tay, tình tứ, từ từ, thong thả, thất thểu tìm tới tiệm...thuốc Tây!
Tí thộn thua trận, tới thầy Tám Thuốc Tễ than thở :
_ Thưa thầy, tôi thua thằng Tư Thẹo trận trước tại tôi tương tư Thảo Tóc Tiên, tâm thần thảng thốt. Thầy thật tử tế, thí tôi tí tiền, tôi tập tạ, tháng tới tôi trả thù, thách thằng Tư Thẹo thi tài.
Thầy Tám từ từ, thủng thẳng:
_ Thế thì tốt ...! Tao tức thằng Tư Thẹo tống tao trúng trán, tao toan tống trả thì tao thôi. Tao té te tua, tưởng theo tổ tiên tức thời. Tán thành tiểu tử tập tạ, tao tặng tám trăm. Tập tốt thì thắng, thua thì tao ...thiến! Tao tìm thuốc trợ tim, tháng tới tao trợ thủ.
Thầy Tám tán thuốc tễ, trộn tam tinh, thịt trăn, tương, trứng, tôm, tỏi, thêm tiêu, trà Thanh Tâm, thành thứ thuốc ...thất tộc! Tí Thộn thoạt trông tim tím thưởng tiết trâu.
Thầy Tám tán thêm: “Toa thuốc Trợ Tim từ thời thầy Tham Tán toà Thượng Thẩm
từng theo Tôn Thọ Tường truyền tới tao. Thuốc trợ tim thứ thiệt! Thừa tướng triều Thành Thái thử thuốc, thấy tim tốt, tâm trạng thảnh thơi, tâu Thái Tử, Thái Tử tâu Thánh Thượng, Thánh Thượng thăng thầy Tham Tán thành Thượng Thư!
Tiếp tục tìm tiền, Tí Thộn tới thăm Thỏ Thơm, tán tỉnh. Thỏ Thơm tuổi Tý, tha từ trại
tập trung trẻ theo Tầu tiêu thụ thuốc Tây, thích thằng Tí trẻ trung, trắng trẻo, tuy...thộn!
Thỏ Thơm thấy Tí Thộn thao thao thì tố thêm:
_ Tí thân thương ...! Thằng Tư Thẹo thắng tám thiên, tiền thưởng trận tháng trước, tậu Toyota tung tẩy. Thỏ thấy Thảo Tóc Tiên tí ta tí tởn theo Tư Thẹo tới tiệm thuốc Tây, tay thoa trán Tư Thẹo, tay thọc túi thằng Tư tìm tiền trả tiệm thuốc, trông thật tục tĩu.
Thỏ toan thét to :”thật tởm!”, thấy thằng Tư trợn tròn thì Thỏ thôi, tức thiệt!
Tí Thộn tiếp:
_ Tháng tới Tí trả thù thằng Tư Thẹo tục tằn! Thầy Tám trợ thủ Tí tất thắng. Thỏ thương, Tí tập tạ từ tuần trước, thiếu tiền. Thỏ thương Tí thì ...thảy tạm tí tiền, Tí thề trả thù tháng tới!
Thỏ Thơm tặng Tí Thộn tám trăm.

TRẬN TRANH TÀI TẠI TRẠI TRÂU, TEXAS.


Trời thanh thanh, tiếng trống tùng tùng. Ta, Tây, Tầu, từng tốp, từng tốp tới Trại Trâu từ trưa. Trọng tài tề tựu từ trước, trông thật trang trọng. Tụi thằng Tom thiếu ticket, tức tối tiểu tiện tứ tung!
Thầy Tám Thuốc Tễ thổi trumpet thôi thúc trận trả thù. Thầy thao thức tập thổi trumpet từ tuần trước. Thỏ Thơm tháo túi thuốc Trợ Tim từ tay thầy Tám, tiến tới thì thào: “Tí... thư...ơng, thoa thuốc...!
Thuốc thum thủm. Thỏ Thơm thoa từ trên trán, thoa tai, thoa tóc, thoa tay Tí Thộn.
Toyota Tư Thẹo từ từ tiến tới Trại Trâu trong tư thế thắng trận, Thảo Tóc Tiên thấp thỏm, trông trắng toát. Thầy Tám Thuốc Tễ tỉnh táo tiến tới trung tâm Trại, thổi trumpet tám tiếng toe toe...Toàn thể theo thứ tự, tạo thành từng tốp thẳng tắp.
Tư Thẹo thoạt trông Tí Thộn tay tím, tóc tai thum thủm thì tởn tận tim. Thầy Tám thổi tiếp ...tu...tu, tới tiếng “tu” thứ tư thì Tí Thộn theo thế Thăng Thiên, tống thẳng từ trên tới Tư Thẹo. Tư Thẹo tránh thoát, thận trọng từng tí: “thằng tiểu tử tận tâm trả thù!”
Thỏ Thơm thét: “Tiến tới...tiến tới.. .Tí thương!” Thảo Tóc Tiên tiếp theo: “Thận trọng...thận trọng...Tư thương!”
Tiếng trumpet thầy Tám Thuốc Tễ từ tu...tu thành toét...toét thì Tí Thộn, thuận tay trái,
tống tới tấp Tư Thẹo. Tuy Tư thụp thật thấp theo thế Tiểu Tăng Thoát Tục, Tí Thộn tống thêm thùm thụp, trúng từng trái. Tư Thẹo té, tả tơi! Thầy Tám Thuốc Tễ thổi
tiếp...té...té, Tư Thẹo thều thào: ”Tha tớ...thiệt tình tớ ...thua!” Tí Thộn thét to:
_ Thua thì tao tịch thu Toyota, trả tiền thì tao trả, thiếu tiền thì...thôi!
Thỏ Thơm thích thú, thét: “Ta thắng ...ta thắng!”
Thầy Tám thôi thổi trumpet, tủm tỉm: “Thuốc Trợ Tim thầy Tham Tám Toà Thượng Thẩm thật tuyệt!”
Thỏ Thơm thả tóc thướt tha, theo Tí Thộn, thầy Tám Thuốc Tễ tới tịch thu Toyota Tư Thẹo. Thầy Tám thong thả từng tiếng:
_ Ta thắng trận, toàn thể theo tao tới tiệm Tầu Tân Tiến tiệc tùng thỏa thích, thưởng thức trứng tôm tráng tương, trà tầu Tam Tỉnh, tiền tao trả...!
Tư thẹo tái tê, thều thào: “Ta thà tự tử, tiếng tăm ta tiêu tan, thân ta tơi tả...Trời!”
Thảo Tóc Tiên thương Tư thua trận, thút thít:
_ Tư ...thương! Từ từ tính toán, trận tới trả thù...Tư tới thầy Thông Thái tìm thuật triệt thuốc Trợ Tim thầy Tám Thuốc Tễ thì ta thắng.
Thất thểu, tủi thân, tiếc Toyota, Tư Thẹo theo Thảo Tóc Tiên tạ từ Trại Trâu trong tiếng tiêu thánh thót, thảm thê, thoảng từ tiệm Tầu trước Trại...
Tờ Tin Tức tường thuật:
Thầy Tám Thuốc Tễ trợ thủ Tí Thộn trả thù Tư Thẹo. Tí Thộn thoăn thoắt tựa Tề Thiên, Tư Thẹo tuy to, thua trông thấy. Tiếng Thỏ Thơm the thé, tiếng trumpet thầy Tám toe toe, tiếng trống thôi thúc tài tình, Tí thắng trận. Tí Thộn tịch thu Toyota Tư Thẹo, Tư tiếc Toyota toan tự tử.
Tờ Thời Thế thuật tiếp:
Tin từ Trại Trâu, Texas. Thầy Tám tức Tám Thuốc Tễ tìm tòi tạo thành thuốc Trợ Tim từ thuốc Tễ, trộn thêm tỏi, tôm, thịt, tương, tam tinh, trà Tầu thành thứ thuốc thần thông, trợ thủ Tí thắng Tư trong tích tắc. Toa thuốc truyền từ triều Thành Thái tới tay thầy Tám, truyền tụng từ Texas tới Toronto, tới tận Toà Thánh.
Tờ Tennesse Time thông tin:
Trận tới, Tư Thẹo tìm thầy Thông Thái triệt thuốc Trợ Tim thầy Tám Thuốc Tễ, thách thức Tí Thộn tranh tài tại Toronto Tower, tháng Tám, Trung Thu. Tiền thưởng tám triệu
tính theo tiền Tầu. Tuy thị trường tiêu thụ thụt từng tháng, từng tuần, Trump tính tài trợ thêm trăm triệu tính theo tiền Thái. Tổng Tống Tiệp, Thủ Tướng Togo trù tính tới Toronto. Thị trưởng Torocto, theo tin thất thiệt, thương thuyết tăng tiền ticket. Tin tức truyền trực tiếp trên Tivi, từ tầng thứ tám Toronto Tower.
Tickets ...tìm tại tiệm ta, tiêm Tầu, tiệm thuốc Tây, tiệm tóc, tại Toronto, tại Texas.

VIẾT VĂN


Vân vô vàn vất vả, vừa vun vườn, vừa việc vặt vãnh...Vân vào ven vách, vạch vali, vớ vuông vải viền vàng vắt vòng vai, vơ vẩn... vạch...vạch...vẽ vòng vèo, vo viên... Võ vẽ viết văn, Vân viết vào 'Vở Việt Văn'...viết về việc Vạn vụng về vần vò vợ, vì vậy Vân vương vấn Vũ Văn Vinh, viết về Valentine, Vermont và Virginia Vân Vinh vi vu, vui vẻ vacations.
Vân vất vuông vải viền vàng vào vali, vò võ, vẩn vơ...Vạn vừa về, vội vàng, vờ vồn vã với vợ. Vạn vồ vập vuốt ve Vân, vuốt vai, vuốt vế, vạch vú, vọc váy vợ...vòi vĩnh!
Vân vùng vằng: "Vớ vẩn...!" Vạn vẫn vân vê, vẹo vú, vớt vát, van vỉ...
Vân vươn vai, vênh váo: " Vất va vất vưởng , vờ vĩnh, vòng vo, vung vít, vụng về... Vợ vất vả vẫn vần vợ...võ vàng!"
Vạn vặn vẹo: "Võ vàng!...võ vàng với Vinh ? ..Vinh ve vãn, Valentine vui vẻ... vacations, vắng vẻ, vấn vương..?"
Vân vội vớ 'Vở Việt Văn' vừa viết vất vào vách, vạch vali vơ vài vuông vải, vờ vịt vắt vẻo vá víu...
Vạn vít vai Vân, vừa véo vai, véo vế, véo vú, vừa vụt Vân vèo vèo. Vạn vất vài vật vướng víu va vào vách vỡ vụn, vương vãi vung vít, vừa vụt vừa văng..."Võ vàng...võ vàng...!".
Vân vùng vẫy, vịn vào vách, vấp vuông vải, vật vã, vàng vọt, vật vờ, vì vậy...vội vàng vô Viện.
Vinh vạm vỡ, vác Volvo vòng Virginia vùn vụt về với Vân, vào Viện, vẫy vẫy Vân, vỗ vai, vỗ về Vân, vương vương vời vợi...!
Vạn vung vẩy, vênh váo vào Viện, vồ Vinh, vồ vào vai, vừa vụt Vinh vừa vụt Vân vút... vút...very violent!
Vinh vật Vạn, véo vành vai, vằn vài vết. Vân vén váy, vỗ vỗ, văng vào Vạn: " Vạn vẩu...! vượn Vẹm..!, vớ vẩn, vo ve, vô vị, vụn vặt, vật vứt vào vại...!"
Vạn vất vưởng về 'vòm', vật vờ, vô vọng, vơ vét vòng vàng vù về Vancouver.
Vân Vinh vọn vẹn vui vầy, ví với vầng vân vũ vằng vặc. Vân vịn vai Vinh vui vẻ vào Vương Viện vái...vái...
Vạn vật vô vi !
Nguyễn Văn Luận


Chúc Năm Mới
bằng chữ T
Thưa toàn thể thân thuộc !
Trước thềm Tết tới, tôi trang trọng tạm thời thay thế toàn tôi, trao tới toàn thể thân thuộc trọn Tết tươi tắn, trẻ trung, tinh thần thanh thản, trí tuệ thâm trầm, thân thể tròn trịa tựa trăng thu tháng tám, thêm tiền tài tuỗi thọ tăng tiến theo thời tiết.
Thưa toàn thể thân thuộc !
Tháng tháng từ từ trôi, tưởng tới tháng Tư tăm tối từ tân Tổng thống truyền tin thôi tử thủ, ta thất trận, tụi tham tàn thắng thế, tiếp thu từ thành thị tới thôn trang, tiếp theo thì trả thù tập thể, thôi thì thủ tiêu thanh toán tứ tung.
Trẻ thơ thôi tới trường trau trỉa trí tuệ, thả trôi theo tiệm trà, tiệm thuốc, tìm thùng thiếc, thau tét, tìm tiền tiêu tạm.
Trai tráng tới tuổi trưởng thành thì tin theo tin tuyên truyền thất thiệt, tạ từ thê thiếp, tất tả tìm tới trại tập trung, tưởng tới trăng tròn thì thôi, trăng tròn tới trăng tàn, tàn trăng tới tròn trăng, tại tư thất thê thiếp trông tin, tâm tư thắt thẻo tông tích thì thăm thẳm !
Thoạt tiên tư trang tiền tài tiếp theo tủ thờ từ từ tiêu tán, thêm tệ trạng tổ trưởng tống tình tống tiền tới tấp, tiếng than thấu trời thanh.
Tại trại tập trung, từ trung tá, thiếu tá, tỉnh trưởng, thợ thuyền, thầy thuốc, thượng toạ, thầy tu, thảy thảy tìm tre thiết trại, trồng tỉa tự túc. Tốp thì tê, tốp thì thũng, tốp thì trướng, tốp thì teo, tốp trĩ, tốp thì thòng. Tấm thân tám thước trở thành tiều tụy trong tình trạng thiếu thốn trầm trọng.
Thỉnh thoảng tụi tham tàn trả thù, thằng thì thoi, thằng thì tống, thằng thì thụi, thằng thì tát tai tới tấp, thân thể thân tù tơi tả trong tay tụi tham tàn, trông thật tàn tệ thương tâm.
Tối tối toàn thấy tử thần túc trực, tinh thần thật thấp. Tuy thế thỉnh thoảng thân thế tới thăm, tiếp tế trà thuốc thư từ, tình thương thật thắm thiết, thành thử thân tù thêm tin tưởng tới thời thắng trận, tụi tham tàn tận thế.
Trong tình trạng thê thảm, tụi tôi thu thập tư trang, tạ từ tổ tiên tìm thuyền tàu trốn tránh.
Trời trải thênh thang, thuyền trôi thong thả, từ thủy thủ tới thuyền trưởng toàn thứ tài tử, thêm trọng tải to tát, thôi thì tan tành thây trôi tới tấp !
Thuyền tốt, trời thương thì trơn tru tới trại, trớ trêu trúng tụi tặc Thái thì tiêu tùng, thân thể tan tác, thảm trạng thật thê thảm.
Thôi, Tết thì ta tránh truyện thương tâm, ta tường thuật truyện thực tại. Trời Tây thương tình tương trợ thật thắm thiết. Tại trời Tây thịt thà “tạt tin” thừa thãi. Tuy thế Tết ta tại trời Tây, tiết trời thật tê tái, từ thành thị tới thôn trang trải toàn tuyết trắng, tâm tư thắt thẻo ta tụ tập tại tựu trường, tiệc tùng trà thuốc, ta tưởng tới thân thích thê thảm trong tay tụi tham tàn.
Tuy thế tôi tin tưởng toàn thể thân thuộc thôi tiếc thương, tay trong tay thâu thắt tình thân trong tinh thần trang trải.
Tôi tin tưởng thời thế từ từ trở thành tươi tắn, ta thắng trận, tạ từ trời Tây tạm trú, tìm tới tình thương thất thoát thuở trước. Thế thôi.
Tiệc tùng trà thuốc thật tươm tất, tôi thấy tâm tư tựa thoát trần, tiếng trống thùng thùng thêm tiêu thổi, Tết ta toàn thể thắt tình thân.
Thâm tạ.
Nguyễn Khắc Sơn
Bruxelles, Tết Canh Ngọ


 Những câu chuyện nầy có thể bạn đã đọc qua,chỉ là xem cho vui thôi và trong những bài ,thỉnh thoãng kẹt từ thì người viết thêm tiếng Anh vào ....Dù gì thì cũng bái phuc sự sáng tao của tác giã..