10 thg 3, 2025

LỜI HOA CHƯNG TẾT - Tân Tăng

 LỜI HOA CHƯNG TẾT

*****
HOA đẹp cũng chỉ vì người
Sắc hương thỏa mãn nụ cười thế nhân
Trong Tết được cưng trăm phần
Chìu chuộng, chăm sóc tình nhân không bằng
Chẳng cần mở lời nói năng
Vẫn được ở chỗ cao bằng gia tiên
Đèn nhang hương khói kỉnh kiềng
Còn được vái lạy, hứa nguyền thiết tha
Nhưng khi Tết đã đi qua
Loài người hất hủi quăng ra sau vườn
Đoạn tình, dứt nghĩa yêu thương
Lạnh lùng chẳng nhớ mùi hương hôm nào
Tàn tạ đêm nhìn trời sao
Tủi thân thấm thía lệ trào: kiếp HOA

(2-2-2025) Tăng Khắc Tân

5 bài waka của thiền sư Lương Khoan Đại Ngu (Ryokan Taigu; 良寛大愚) Pháp Hoan | 法歡 chuyển ngữ


 5 bài waka của thiền sư Lương Khoan Đại Ngu (Ryokan Taigu; 良寛大愚)

Pháp Hoan | 法歡 chuyển ngữ
Dẫu từ buổi ban đầu
tôi biết rằng thế giới
chẳng có gì dài lâu
nhưng cớ sao lệ thắm
cứ đẫm tràng áo nâu.
*
Tay áo choàng của tôi
đã nhuốm đen màu mực
giá như đủ rộng dài
để có thể chứa được
chúng sanh trên cõi đời.
*
Đôi khi ngồi lặng thinh
nghe lá rơi về cội
đời tăng lữ an bình
cách xa rồi thế giới
sao lệ dâng mắt mình?
*
Thế gian này hỡi ôi
mỗi khi tôi nghĩ đến
nỗi khổ của con người
khổ của người chợt biến
thành khổ của riêng tôi.
*
Dẫu tôi đã biết rằng
cuộc đời này huyễn mộng
tất cả trôi theo dòng
phù du của kiếp sống
cớ sao tôi nặng lòng?
=============
- Đặt thỉnh 4 ấn phẩm:
1) 100 bài Waka-Haiku-Kanshi
2) 100 bài Haiku của Matsuo Basho
3) Trời Cao Gió Lộng (100 bài Wka Haiku Kanshi của thiền sư Ryokan Taigu)
4) Tám Vạn Bốn Nghìn Cây (100 bài Haiku của Pháp Hoan)
conglapmai@gmail.com

9 thg 3, 2025

TÌNH XANH - Thơ Pham Bắc (SPSG )



 TÌNH XANH

Tà áo trắng, điệp vàng, chùm phượng đỏ,
Sân trường nào vương vấn mối tình thơ.
Nếu ngày xưa ai học được chữ ngờ
Thì đâu phải suốt đời ôm nuối tiếc.

Cái thuở ấy sắc tình xanh biêng biếc
Mái tóc dài hờ hững xuống bờ vai.
Đôi mắt ai ẩn chứa nét u hoài
Nhưng tha thiết nhìn nhau trong thoáng chốc.

Đi bên nhau những buổi chiều tan học
Áo em bay vương nắng của hoàng hôn.
Để cho ai xao xuyến ở trong hồn.
Tình cứ thế, mãi xanh mà không chín

Lời muốn nói, ngại ngùng rồi câm nín.
Để thời gian qua mất những ngày mơ
Và người xưa chẳng biết có đợi chờ
Bao năm tháng ra đi không trở lại

Mỗi mùa phượng hồn ai thêm tê tái.
Lòng bâng khuâng về lại những ngày xưa
Mà sao nghe thương nhớ mấy cho vừa
Thời gian hỡi, làm sao quay trở lại

.Ảnh từ Google

Trich từ HuongXua.Wordpress.com

Người Thầy Học Cũ - Mai Thảo

 

Y gặp lại người thầy học cũ một ngày mưa lớn. Con đê chạy dọc hữu ngạn sông Đáy chỗ đó là giữa quãng Ba Thá, Vân Đình. Đường lầy. Kẻ đi ngược, người về xuôi. Cuộc kháng chiến gian khổ thu lại trong giây phút gặp gỡ bất thình lình một nỗi tủi mừng rưng rưng và cái hình ảnh buốt lạnh của con đường dài thẳm, trùng điệp hầm hố dưới mưa bụi trắng xóa. Xa xa dấu vết những làng xóm tiêu hủy còn lại.

Hai thầy trò nắm chặt tay nhau, mưa vẫn đổ lớn – cùng chạy đến trú dưới một gốc cây. Nhiều năm tháng qua đi từ ngày bỏ trường lăn mình vào cuộc đời, bây giờ Y đã lớn, đứng cạnh thầy cao hơn thầy hẳn một cái đầu. Thầy thì tuổi già đã làm cho thân hình nhỏ lại. Nhưng giữa hai người vẫn không có sự thay đổi. Người thầy vẫn vững chãi và tự tin hơn. Thái độ gương mẫu và che chở bên trong cửa lớp ngày nào Y vẫn nhận được.

“Thầy ở đâu xuống?”

“Tôi ở Ba Thá xuống”.

“Thầy vẫn dạy học”.

Người thầy học cười hiền lành:

“Phải, tôi vẫn dạy học nhưng trường làng vừa bị bom đốt cháy chiều hôm qua. Hôm nay tôi phải về Ty báo cáo. Ty ở dưới Vân Đình. Tôi mất hết, chỉ chạy được những cái này.

Những cái này: một cái bị cói, mấy bộ quần áo nâu và một cái gậy trúc.

Y nhìn cái cơ nghiệp nhỏ nhoi vô nghĩa, những đồ tùy thân cuối cùng còn sót lại của một cuộc đời đạo đức và liên tưởng tới hai hình ảnh: vị chân tu của một thời đại nào đi truyền bá trong khổ hạnh những tư tưởng đẹp cho nhân loại và hình ảnh một con đường mưa bay, buổi chiều xuống trên liên khu rộng lớn, người thầy học cũ lại một mình bước đi trên con đường đó mang trên mớ tóc bạc cái nghề đạm bạc cao quý, mang nặng nó trong đêm tối và mưa bão.

Mưa vẫn đổ lớn. Hai thầy trò đứng sát vào nhau hơn. Thầy nhìn trò, gật đầu:

“Các anh đổi thay nhiều lắm. Trưởng thành cả rồi. Nhưng mà ở đâu và bao giờ các anh vẫn nhận ra tôi, tôi vẫn nhận ra các anh. Anh thì vẫn còn nguyên vẹn cái nhìn lơ đãng ra ngoài cửa lớp những buổi trưa mùa hạ”.

Y trả lời:

“Vâng, con vẫn thế. Con vẫn nhớ con như thế”.

Giọng thầy trầm trầm trong tiếng mưa đổ rào rào:

“Chúng ta vẫn thế”.

Đôi mắt sâu của thầy nhìn xuôi theo con đường dài, qua màn mưa về tận cuối đường, xa hơn cái xa của cuối đường:

“Chiến tranh đổi thay hình thể những ngả đường trên đó chúng ta đi. Tất cả trở nên khó khăn cực nhọc và chua xót hơn cũ. Những ụ đất. Những hầm hố. Những chiếc cầu đổ. Hình như mưa bão cũng nhiều hơn”.

Và thầy thở dài:

“Chúng ta là những con người cũ đang tập đi trên những con đường mới”.

Rồi thầy quay lại hỏi:

“Còn anh, bây giờ anh làm gì?”

“Thưa thầy con đi buôn”.

“Đi buôn?”

“Con bỏ học từ sau Cách mạng tháng Tám. Thuyền hàng của con chắc bây giờ đang ngược dòng đi lên ở giữa khoảng Rót Rét. Con sẽ đón thuyền ở vùng Bương Cấn và nếu đêm nay ngớt mưa sẽ đi thẳng tới Phú Thọ”.

Người thầy “Thế à” một tiếng nhỏ rồi không nói gì nữa. Tính thầy vẫn ít nói. Mưa ào ào trên đầu. Trước mắt họ dòng sông Đáy đục đỏ chảy đi hung dữ. Bãi xa mịt mùng bên kia. Người học trò đứng lùi lại phía sau và nhìn thấy sát tầm mắt, những sợi tóc bạc gió thổi lay tạt trên khuôn mặt mà trông nghiêng vẫn đựng đầy cái vẻ trầm lặng cũ, những ngày xưa nhìn xuống Y trên một nền bảng đen. Những kỷ niệm những hình ảnh của một lớp học vừa trở về lướt thướt và buốt lạnh trên khoảng đường này. Những chùm hoa mùa hạ đỏ chói chang trên góc cửa sổ, sự hé mở của những giấc mộng ban đầu nở từ những chùm hoa rực rỡ ấy, nhịp bồng bềnh đẩy đưa của tâm hồn chạy đến những chân trời những thế giới hoang vu. Cánh bướm mỏng của niềm rung động mới. Những tấm kính sáng trong. Tiếng giảng bài trầm trầm đi giữa hàng ghế. Tà áo thâm và cái đỉnh mũ trắng. Những bực gạch mưa làm mòn cạnh đi lên từng cửa lớp. Lối kiến trúc cổ kính của một mái trường xây cất trên nếp thành đổ nát cũ lượn vòng giữa những hàng cây và những ao đầm. Thành phố ở dưới với tiếng hú dài của một tiếng còi tàu kéo theo những vệt khói còn treo lâu trên nền trời. Ý niệm thứ nhất về không gian trong chuyến đi tưởng tượng. Vụ hè sắp tới thấp thoáng hình ảnh con đường mất hút dưới nắng.

°

Y nhớ thầy đã về sau một buổi tựu trường có nhiều thuyên chuyển. Cũng một buổi sáng mưa lớn. Có tiếng giày từ ngoài hành lang đi tới. Thầy vào, đứng lại một giây nhìn mọi người, nói: “Chào các anh”, đoạn đi thẳng lên bục cao. Giờ học thứ nhất được dành cho sự làm quen nhau. Người thầy bày tỏ nỗi vui riêng sau mười mấy năm ở rừng được đổi về một trường thành phố.

Thầy nói: “Trường cũ ở sát biên giới Hoa - Việt, học trò nửa Kinh nửa thiểu số. Trên ấy đêm rừng dài và buổi sáng nào cũng dầy đặc sương trong lớp học vừa mở cửa. Rừng thì trùng điệp ở chung quanh. Sân trường đôi khi còn in những dấu chân thú dữ. Và rét thì rét ghê rét gớm. Các học trò chân tay cũng cóng buốt và mặt mũi xám tái lại. Phải đóng kín cửa cho hơi nóng truyền đi một lúc sau mới làm việc được”.

Hình ảnh của một lớp học biên giới được gợi lên bằng giọng nói đặc biệt trầm trầm. Cái lối kể chuyện của thầy cũng khác. Và ngay lập tức, trong số bốn mươi lăm học trò chăm chú lắng nghe, từ một chỗ ngồi tận đáy lớp nhìn lên, Y cảm thấy mến yêu ngay người thầy học mới. Một nỗi mến yêu đặc biệt chưa từng có. Tưởng như một khám phá, một đổi thay lớn.

Trong một cuộc đời học trò, từng năm học đi lên, mỗi năm lại gặp một người thầy, nhưng trong tất cả những người thầy đó, thường vẫn chỉ có một người mà về sau lúc đã giã từ cửa lớp, ở mãi chỗ sâu xa cách biệt trong cuộc đời, mỗi lần nhớ lại là người học trò lại nhớ trước nhớ ngay đến người thầy ấy. Tại sao? Có thể vì một nét mặt, một giọng nói, được khắc sâu hơn vào dĩ vãng. Có thể vì một sự bắt buộc nào đó, trừu tượng và siêu hình, khiến cho tương quan tình cảm vượt khỏi mức bình thường, chứa đựng một ý nghĩa rộng lớn hơn.

Bài luận đầu tiên của Y được nhiều điểm nhất lớp. Một sự lạ. Ba hôm sau khi thầy trả bài, gọi đến tên, ngợi khen và mỉm cười bảo Y hãy đọc cho cả lớp nghe một đoạn văn hay, Y đứng dậy, tờ giấy trên tay run run và giây phút đó đã là cả một dấu son rực rỡ trong cái lịch sử học trò của Y từ trước đến nay vốn rất tầm thường tăm tối.

Y lười và lơ đãng. Trên tất cả các môn học, điểm số bao giờ cũng ở dưới cùng. Một sự đội sổ toàn diện. Suốt đời Y nhớ mãi cái giờ học lịch sử ấy của một tên học trò đội sổ ngồi tối tăm ở cuối lớp, lần đầu đứng lên ngượng nghịu, hồi hộp đọc cho cả một lớp im sững thán phục cái thành công thứ nhất của đời mình. Ngồi xuống còn cảm động.

Cả lớp không tìm hiểu được nguyên nhân sự đổi thay đột ngột này. Chính Y cũng không hiểu. Y đã viết bài luận ấy cho một người xem, nó là cái biểu tỏ cụ thể của một tình cảm chân thật và tốt đẹp gửi đến cho một người thầy đã tả được một cái trường học biên giới bằng “những dấu chân thú dữ” và “sương trắng dầy đặc cửa lớp buổi sớm”.

°

Mưa vẫn đổ lớn.

Buổi chiều như đã muốn đến từ bãi sông bên kia. Trời thấp và xám. Con thuyền đầy hàng ngược dòng ở giữa khoảng Rót Rét bồng bềnh trong ướt lạnh còn là điểm vui ấm bé nhỏ so với tâm sự của người thầy mất trường, không biết sẽ về một nơi nào trong mưa bay.

Hai người cùng cúi đầu suy nghĩ. Thầy nói:

“Anh vừa nói hiện anh đi buôn đấy nhỉ?”

“Dạ”.

“Các anh làm thật nhiều nghề. Mỗi người một đường. Cuối tháng trước tôi có gặp một anh không rõ đã học tôi năm nào, làm khẩn hoang ở một đồn điền Nho Quan. Vùng ấy lam chướng, nước độc, rất có hại cho sức khỏe. Trông anh ta xanh yếu đáng ngại. Cứ như anh đi đây đi đó trên một con thuyền, có lẽ lại hay hơn”.

“Kể thì mấy năm nay, từ ngày ra trường con chưa từng có dịp được đi nhiều, thấy nhiều như bây giờ. Nhưng nghề buôn không phải là một chí hướng thích hợp. Nhiều lúc con vẫn cảm thấy đang làm một việc vô ích”.

Người thầy đáp:

“Tôi biết. Nhưng chúng ta bây giờ thường vẫn phải làm ngay cái việc nhìn thấy trong tầm tay với mà không có quyền từ chối, lựa chọn. Thế hệ các anh biết bao nhiêu người hiện đang đứng lạc vị trí, băn khoăn tìm đường. Ở tuổi các anh thật đau đớn. Chúng tôi thì không nói làm gì. Nhiều lúc cực nhọc vất vả, tôi vẫn thầm cảm ơn trời còn cho mình được cầm cái thước kẻ giảng bài. Tôi làm gì khác được nếu thôi dạy học?”

Thầy cười khẽ:

“Thói quen của nghề nghiệp đấy: Thấy các anh là hỏi về dự định vào đời. Không thích đi buôn, anh muốn làm gì?”

“Có một lần trong giờ luận, thầy nói đùa con có thể trở thành nhà văn, con vẫn ao ước thực hiện được câu nói đùa ấy”.

“Thế ư! Tôi không nhớ nữa, nhưng nếu có nói thì nói thực đâu phải đùa. Phải rồi, Việt văn là môn học xưa kia anh ham thích nhất”.

Giọng thầy trở nên ân cần:

“Cố gắng đi. Biết đâu chẳng một ngày tôi được đọc văn của một người học trò cũ là anh. Niềm an ủi lớn nhất của một người thầy vẫn là được thấy người học trò cũ của mình đi vào tương lai trên lối đi đã được phác định từ trong cửa lớp”.

Mưa bỗng ngớt đi, tiếng đổ ào ạt dừng lại. Mé sông bên kia, bờ bãi mịt mùng ban nãy nổi lên dần dần. Nhưng vòm trời thì vẫn thấp nặng và nghi ngút hơi nước. Trận mưa lớn vừa ngớt chỉ để sửa soạn cho một trận mưa lớn khác sắp đổ xuống.

Hai người ra khỏi gốc cây. Người thầy nhìn lên trời:

“Đã có thể đi được rồi. Tôi phải đi xuống Ty bây giờ cho kịp”.

Thầy quay lại, cánh tay gầy yếu đặt lên vai người học trò cũ:

“Lâu lắm mới gặp nhau tôi cám ơn các anh còn nhớ đến tôi. Các anh bây giờ đã khôn lớn cả, đã tự trưởng thành trong những kinh nghiệm, tôi cũng không có điều gì phải khuyên bảo nữa. Thôi anh ở lại”.

Giây phút giã từ này thật là cảm động.

“Con ân hận không được gặp thầy lâu. Con theo thuyền độ nửa tháng bán hàng xong rồi sẽ trở lại vùng này. Xin thầy địa chỉ để con được lại thăm trường mới”.

Người thầy gạt đi:

“Chính tôi hiện giờ cũng không biết rồi sẽ được thuyên chuyển đi đâu. Liên khu trong, một trường mới mở trong núi hay là nghỉ dạy vĩnh viễn không chừng. Chắc khó gặp lại, anh còn nhớ đến tôi là đủ và đừng băn khoăn về vấn đề tìm thăm tôi”.

Người thầy bước đi, cái bị cói nằm trên bờ vai gầy, gậy trúc chống xuống đường lầy. Y chạy theo thầy:

“Con đi buôn cũng không đến nỗi túng thiếu lắm. Thật tình không dám nghĩ đến chuyện trả ơn, nhưng con có giúp thầy được điều gì không?”

Người thầy lắc đầu mỉm cười:

“Tôi một thân một mình cũng không cần gì. Cám ơn anh. Thôi anh trở lại”.

Y đứng sững giữa con đê nhìn theo bóng dáng cổ kính của người thầy. Cái bị cói, cái gậy trúc, những sợi tóc bạc cứ nhỏ dần mãi. Rồi những cái điểm bé nhỏ ấy nhòa đi sau màn mưa.

Y gặp lại người thầy học cũ của Y lần ấy là lần cuối cùng. Bán xong chuyến hàng, Y lên bộ về thẳng Vân Đình. Hỏi thăm Ty Học chính ở đó, Y được biết người ta đã nói với thầy là các trường bị phá hủy gần hết, phải đợi một thời gian để lập trường mới và người thầy đã bỏ đi không để lại địa chỉ.

°

Đến nay đã mười tám năm.

Viết văn, tôi thực hiện được cái ước vọng duy nhất của thuở nhỏ. Trong số những nguyên nhân thầm kín thúc đẩy tôi, tôi ghi nhận lời thầy khuyên nhủ cố gắng ngày nào trên quãng đường lầy.

Sự đổi thay quyết định một đời người thường vì những nguyên nhân nhỏ. Ở đây có thể vì lời khuyên của một người tôi kính yêu.

Từ đó tôi không gặp lại thầy, cũng không trở lại một cửa lớp nào nữa. Nhưng kỷ niệm còn giữ được của buổi học ấy, nỗi cảm động đứng giữa hàng ghế đọc bài luận ấy cho cả lớp nghe – nhớ lại – vẫn đưa tôi trở về được với cái thế giới học trò. Nó nằm trong chu vi một lớp học, nhưng rộng và riêng biệt đúng như một thế giới. Chùm hoa phượng, những phiến kính sáng trong, cái đỉnh mũ trắng, những ngày hè chói nắng. Câu văn đầu tay vụng dại, bỡ ngỡ. Trên tất cả, khuôn mặt trầm lặng của thầy ngó xuống như một nỗi bình yên.

Bây giờ đôi khi ngừng tay trên một trang bản thảo, lúng túng trước một danh từ, một ý tưởng diễn đạt khó khăn, tôi lại thấy những hàng chữ dập dập xóa xóa trước mắt bỗng phảng phất giống với trang giấy nháp của bài luận cũ. Hình ảnh người thầy lúc đó lại hiện lên. Tôi muốn được gặp lại, để nói, ít nhất cũng một lần, với thầy:

“Những trang giấy này có được một phần lớn nhờ thầy”.

Nhưng mà những dòng chữ tôi viết bây giờ chắc không bao giờ được biết tới những dòng mực đỏ phê điểm ấy nữa. Buổi gặp mặt cuối cùng. Con đường xa hút dưới mưa trắng. Số tuổi chất nặng lên cuộc đời đã xế chiều. Giọng nói trầm trầm ấy đã chìm lặng, tôi linh cảm như vậy. Cái gậy trúc ấy chắc đã rời khỏi cánh tay gầy yếu, rơi xuống một nơi nào đó, ở ngoài kia.

Mai Thảo

8 thg 3, 2025

THƠ ZUI NGÀY 8/3

 

THƠ ZUI NGÀY 8/3

Thuở đất và trời chửa có ngày tám tháng ba
Chỉ có gái, trai, đàn ông với đàn bà
Đã có nhớ, thương, yêu đương và ganh ghét
Khu vườn cuộc đời muôn sắc bướm và hoa
Thế rồi một ngày không biết bố nào đấy.."zặn" ra
Một ngày cả thế giới gúng động là ngày 8/3
Người ta chỉ tôn vinh người phụ nữ
Chứ đâu có chị em nào vớ vẫn đi đòi quà
Thế gian biến đổi người biến tướng
Chả có ai buồn đi tranh đấu quyền lợi cho đàn bà
Chỉ có mấy em gái vô công mà tinh tướng
Cứ chăm bảm ngày nay để quà... hoa
Có bố còn chế thêm cái món tình vờ vịt
Bắt đàn ông thi nấu với cắm hoa
Nay mai biết đâu may ô và xà lỏn
Cho anh em thi "chuối hậu" nữa thì bỏ bà
Thôi thôi ngứa miệng khéo mà xơi đá
Em về đóng cửa để chăm rau
Thời nay rau chợ đầy thuốc độc
Rau nhà chăm khéo vẫn tươi lâu...

p/s vui thôi xí...ko ném đá nha
TRẦN PHONG VŨ

QUÝ BÀ ĐÁNG ĐƯỢC TÔN TRỌNG

 


QUÝ BÀ ĐÁNG ĐƯỢC TÔN TRỌNG

(Tặng quý phụ nữ Việt Nam nhân ngày Phụ Nữ Quốc Tế)
Hôm nay ngày tám tháng ba
Thử dùng kính lúp để rà sót xem
Những gì quý bà đáng khen
Các ông nên biết để “em” được nhờ!
Trước tiên, chăm sóc con thơ
Quý bà tuyệt đến không ngờ, các ông!
Ngày đêm “làm mướn” không công
Vẫn yêu con trọn tấm lòng chăm nom
Chưa hết! Đi chợ, nấu cơm,
Vệ sinh nhà cửa sạch thơm vô cùng!
Chung tay, chung sức, chung lòng
Cùng chồng xây tổ ấm nồng, ngát hương
Quý bà sống để yêu thương
Thầm mong cũng được chồng thương yêu mình
Trí tim rực rỡ nghĩa tình,
Chữ chung, chữ thủy, chữ trinh, chữ đồng…
Muốn gì hơn nữa, các ông!
Mà không trân trọng, hết lòng yêu thương
Người bạn đời chung chiếu giường
Đồng cam cộng khổ luôn thương yêu mình?
8/3/2025- Tăng Khắc Tân

Tranh Lê thị Lựu ( 1911-1988 )

“TÁM…” VÀO MỘT NGÀY THÁNG BA ,QUÀ TẶNG 8/3 - ĐVL

(Thơ cóc)

“TÁM…” VÀO MỘT NGÀY THÁNG BA
Tháng 3, thèm được… “tám”
Thích “dê ngỗng - kê cà”
Rong xe về… “cố quận” (1)
Dẫu cho đường hơi xa
Chạy xe qua quán cũ
Cửa đóng im ỉm rồi
Phôn bạn bè mới biết
“Tản cư gần đây thôi!”
Thế là lò dò đến
Nơi trước đây đã từng
Có bốn tay ngồi sẵn
Đồng môn lẫn đồng hương
Thế là cùng nhau… “tám”
Những câu chuyện tháng 3
Lèm bèm; “Sao lại lắm…”
Ngày dành cho… mấy bà”?
Tất nhiên là than khẽ
Không dám kêu tới trời
Kiện thưa chi cho mệt
Trời chỉ hạng… nhì thôi
“Thiên thư” đã “định phận” (2)
Ga-tô chỉ luỵ phiền
Bớt - ai mà dám bớt?
Thêm được thì cũng nên!
Khi cả bàn thông suốt
Chia tay, mau về nhà
Phải đầu tư chuẩn bị
Mừng một ngày tháng 3
Sắp tới rồi, mai đấy!
Không được làm qua loa!
SG_070325
ĐVL
Chú thích:
(1) Quận Tân Phú
(2) “Định phận tại Thiên thư” (LTK)
P/s Như đã nêu trên, chạy về Tân Phú định ghé quán cà phê ở Ng Văn Tố! Quán đóng cửa! Gọi cho Tiensanh Nguyen mới biết tạm dời qua 86 T.Nhất
Đến nơi thấy có anh Tấn Điểu cùng các bạn đồng môn TqT K68/75: Tiến Sanh, Tín Dũng và Hoà (bạn Hoà chiều nay về lại QNg).
Và thế là “Nhà đài” cùng “Tám”. 😅


2./ THƠ - QUÀ TẶNG 8/3

8 tháng 3… lại tới
Biết lấy chi làm quà
Chút “mồng tơi” sót lại
Đã… “rớt” từ hôm qua (1)
Tặng hoa thì ái ngại
Vì… “cải lương” - màu mè
Sợ thị phi điều tiếng:
Thích… ba hoa chích choè
Xin thật thà bộc bạch
Nghèo - chỉ có… thơ thôi
Những câu từ thô kệch
Gieo mãi mới thành lời
Chắt chiu làm quà tặng
Dành dụm được vài bài
Thời gian sao nhanh thế
Loay hoay lại đến ngày
Tháng 2 tình nhân đã…
Tám tháng 3 đây rồi
Không lâu - vài quý nữa
Lại lo cho tháng 10 (2)
Thôi, có gì tặng nấy
Bảo đảm của “nhà làm”
(Tuy là thơ “chinh chủ”
“bao ngon” cũng ngại ngần)
Thơ, dẫu còn mộc mạc
Nhưng là lời trái tim
Đúng vào “ngày phụ nữ”
Tặng mọi người và… em
Mong bao niềm an hạnh
Từng ngày đầy đặn thêm./.
SG_080325
Ps
(1) Thành ngữ “Nghèo rớt mồng tơi”
(2) Các ngày lễ 14/2, 8/3, 20/10 😅