2 thg 5, 2017

Đại bàng và thợ săn trên thảo nguyên Mông Cổ


Blindfolds are placed over eagles' eyes to keep them calm
Đại bàng được bịt mắt để tĩnh tâm

Vùng Altai ở Tây Mông Cổ là một trong những nơi xa xôi nhất hành tinh.
Chỉ có vài con đường ít ỏi chạy qua khắp vùng rộng lớn này. Các đỉnh núi cao băng giá của rặng Altai nằm dọc biên giới Mông Cổ, Trung Quốc và Nga tạo thành một bức tường bất khả xâm phạm, khiến những thứ văn minh từ bên ngoài không thể chen vào.
Tôi đứng ở một đỉnh núi cằn cỗi cao 3.000m tại tỉnh Bayan Olgii cùng Bikbolat, một người Kazakh trông dáng cao quý, đội trên đầu chiếc mũ lông cáo và tấm áo choàng dài làm bằng lông cừu. Một chú đại bàng đậu trên tay ông, mắt hau háu nhìn về phía chân trời lùng sục con mồi.
Bikbolat là một trong số chỉ 250 thợ săn chuyên dùng đại bàng còn sót lại ở vùng này, điêu luyện môn nghệ thuật berkutchi vốn được truyền lại từ nhiều đời và là một truyền thống từng tồn tại ở khắp thảo nguyên Trung Á trong suốt 6.000 năm qua.
Female eagles are the best hunters because they are more aggressive and heavier than males
Đại bàng mái săn mồi thiện nghệ hơn, bởi chúng hung hăng hơn và nặng hơn các con trống
Thành Cát Tư Hãn và Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đều có hàng ngàn con chim săn mồi; nghệ thuật luyện đại bàng của những vị vua này đã được Marco Polo mô tả kỹ lưỡng.
Tộc người Kazakhs chiếm đa số tại Bayan Olgii. Họ bị quân lính của Đế chế Nga dồn tới đây từ hồi giữa thập niên 1800.
Những thợ săn chuyên dùng đại bàng đã duy trì một lối sống khác xa so với đời sống hiện đại, trải qua được những mùa đông giá rét, sống sót trong những chiếc ger (tức những căn lều tròn có thể nhổ trại mang theo mỗi khi di chuyển), huấn luyện chim săn mồi và đi săn trên lưng ngựa.
Giữa người thợ săn và chim đại bàng có một mối liên hệ gắn bó vô cùng mật thiết.
Chim đại bàng là loài có tính độc lập cực kỳ mạnh mẽ, nên chúng cần phải được huấn luyện từ những ngày còn rất non nớt thì mới có thể tạo dựng được niềm tin giữa chúng với người chủ.
Bikbolat giải thích rằng huấn luyện chim non thì tốt hơn bởi chúng dễ thuần hóa hơn và không gây hại cho trẻ em hoặc bọn cừu, tuy các con chim trưởng thành thật ra có khả năng săn mồi tốt hơn, dễ dàng hạ gục được bọn sói, cáo.
Ông nói với tôi rằng chim mái thường săn mồi giỏi hơn chim trống, không chỉ bởi chúng dữ hơn mà còn bởi chúng nặng hơn một phần ba so với các con chim trống.
Training a bird can take several years
Viện huấn luyện kéo dài trong vài năm
Một khi đã được huấn luyện, là quá trình có thể kéo dài tới vài năm, một con đại bàng sẽ đi săn cùng chủ – người chủ cưỡi trên lưng ngựa, con chim đậu trên cánh tay trái.
Mối gắn bó giữa những người thợ săn kỳ cựu và chim đại bàng của họ có thể khăng khít tới mức bất kỳ thay đổi nhỏ nào trong áp lực móng vuốt con chim trên cánh tay cũng khiến người thợ săn nhận biết rằng con chim đã đánh hơi được con mồi.
Một số thợ săn Kazakh có những khẩu súng hơi cổ của Nga, mà họ dùng để bắn thỏ rừng, nhưng đa phần các thợ săn thường dùng đại bàng, bởi chúng có tầm nhìn tốt gấp tám lần so với chủ.
Các con mồi chủ yếu là cáo, thứ cung cấp bộ da mặc cực kỳ ấm, và marmot, thứ cho cả bộ da lông ấm áp lẫn thịt để ăn, nhưng những con đại bàng đầy uy lực còn hạ gục cả những con cú, sói, thậm chí cả báo tuyết.
Hầu hết việc đi săn được thực hiện vào mùa đông, là lúc bọn chim gầy nhất, đói nhất.
Nhưng tôi tới nơi vào mùa thu, và khi Bikbolat nhìn ra thảo nguyên xa xa bên dưới chúng tôi, ông lắc đầu và nói rằng việc thiếu tuyết rơi đầu mùa khiến cho việc phát hiện dấu vết con mồi trở nên khó khăn hơn.
Bây giờ không phải là thời điểm lý tưởng để đi săn. Tuy nhiên, ông vẫn duy trì trạng thái nhanh nhạy cho đại bàng của mình bằng cách bỏ vài miếng thịt nhỏ xuống dưới triền đồi, sau đó tháo băng che mắt con chim vốn được dùng khi đại bàng nghỉ ngơi, nhằm giúp nó tĩnh tâm và tỉnh táo.
Con chim liếc mắt sắc lẻm nhìn chúng tôi trong thoáng chốc, rồi nó bay khỏi bàn tay có đeo găng của Bikbolat, lượn tìm và lao xuống những miếng thịt như thể đang trong một cuộc đào tạo tiến hành ám sát.
Mỗi năm, vào tháng Chín, một lễ hội đại bàng thợ săn lớn lại được tổ chức ở Olgii, thủ phủ của vùng này, thu hút sự tham gia của hàng trăm thợ săn, nhằm tranh giải thưởng tiền mặt.
Ngoài chuyện thi triển kỹ năng khéo léo, các tay thợ săn còn tham gia các trò chơi truyền thống của Kazakh như kokbar, tức trò kéo co trên lưng ngựa, với sợi dây được bện bằng những tấm da cừu hoặc da cáo sống; hay trò tenge alu, một cuộc thi trong đó các thợ săn phải tìm cách nhặt được những món đồ trên mặt đất khi vẫn ngồi trên lưng ngựa.
Tuy đây rõ ràng là nơi dành cho đàn ông, nhưng phụ nữ cũng tới khoe tài trên lưng ngựa trong các cuộc thi kyz kuu, sự kiện mang tính hẹn hò tìm hiểu giao duyên nam nữ.
Nếu chàng trai giành chiến thắng, anh sẽ được một nụ hôn, nhưng nếu không đuổi kịp cô gái trước khi cô cán đích, thì cô sẽ quay lại, phi ngựa nước đại đuổi anh xuống cánh đồng, vung roi trói quanh người khiến anh bị khán giả đứng xem cười chê.
Tuy nhiên, những trò chơi dân gian này có lẽ rồi sẽ sớm biến mất.
Hunters form intimate bonds with their birds
Thợ săn và chim đại bàng hình thành tình cảm gắn bó thân thiết
Việc chăn thả gia súc quá mức tại Mông Cổ trong những năm gần đây khiến đời sống hoang dã trở nên ít đi, không còn nhiều thú để săn, và làn sóng du lịch đổ tới cũng gây áp lực cho việc bảo tồn đời sống tự nhiên của người Kazakh.
Ngày càng có nhiều gia đình Kazakh gửi con cái tới các thành phố để kiếm tiền hỗ trợ cho việc nuôi gia súc ở nhà, và Bikbolat nói việc săn bắt đã không còn là một công việc đủ để nuôi sống gia đình.
Thế nhưng những chú chim kiêu hùng vẫn luôn được các thợ săn trân trọng, và chúng luôn được thả vào đời sống tự nhiên sau 10 năm rong ruổi với chủ.
Quan trọng hơn, berkutchi được coi như nghi lễ để các nam thiếu niên Kazakh bước vào tuổi trưởng thành, bởi kỹ năng luyện đại bàng, tạo tình cảm gắn bó giữa đại bàng và thợ săn là thứ quý giá, được truyền từ đời cha sang đời con.
The eagle hunters live removed from the modern world
Những người thợ săn dùng chim đại bàng sống tách biệt khỏi thế giới hiện đại
Như trường hợp Bikbolat, nghề này đã được truyền qua 12 thế hệ, và là niềm tự hào của dòng họ ông.
Bikbolat nói với tôi về ngạn ngữ cổ của người Kazakh, nói về đời sống của người thợ săn nơi đây và thiên nhiên phóng khoáng của Altai: “Vó ngựa phi nhanh và những chú đại bàng thiện chiến chính là đôi cánh của người Kazakh.”
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

NHỚ - Đức Phan Trần (SPSG.k.3)


Akira Kurosawa : The Tunnel Pt 3 (Đường Hầm )

NTHH viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn "The Tunnel" trong tập phim Akira Kurosawa's Dreams (Những Giấc Mơ của Akira Kurosawa). Đoạn phim youtube trên đây chỉ là phần cuối của đoạn phim. Rất tiếc là có rất nhiều đoạn giấc mơ của đạo diễn Kurosawa đã được upload lên youtube nhưng tôi không tìm được đoạn phim Tunnel đầy đủ, có vẻ như người xem không thích hay không chú ý đến đoạn phim này. Theo tôi đây là đoạn phim cảm động nhất trong tập phim.

ĐƯỜNG HẦM- Chuyện Phóng Tác của Nguyễn thị Hải Hà


Tôi đi trên con đường ở một vùng núi non hẻo lánh. Trời đang mùa thu, cây cối khô héo và bầu trời ảm đạm. Trên sườn núi xa xa, có phủ một lớp tuyết mỏng. Đường đi ướt át lầy lội. Nước đọng thành vũng ở một vài nơi; có lẽ do tuyết tan. Khi thả tôi ra người ta trả lại bộ đồ tôi mặc lúc trước khi bị bắt. Tước bỏ huy hiệu và chức vụ, tôi vẫn còn đôi ủng, cái mũ kết, và nhất là cái áo khoác trây di khá tốt. Cái “náp sắc” khoác vai trong đó có vài thứ đồ dùng cần thiết và một ít tiền lẻ (tôi ngạc nhiên là người ta không tịch thu) khiến tôi giống một chàng trai trẻ du hành theo kiểu nghèo hơn là một quân nhân.

Trước mặt tôi là một đường hầm tối thăm thẳm. Không biết chỗ này ở đâu, tên làng là gì, và từ bao giờ người ta xây được một cái đường hầm bê tông kiên cố như thế. Cứ nghĩ mình phải đi xuyên qua đường hầm tối tăm này đã khiến tôi cảm thấy ớn lạnh ở xương sống, nhưng tôi không thể không đi. Sau lưng tôi là chặng đường hoang vắng, không hàng quán nhà cửa. Tôi cũng đã đói lắm rồi, cần tìm chỗ ăn và tạm trú qua đêm. Tôi không thể quay lại nên đành phải đi tới. Vắng vẻ đến nỗi không có cả tiếng chim hay tiếng côn trùng. Bước chân tôi khua vang như tiếng trống.

Cộp! cộp! cộp!

Tiếng chân tôi gõ đều trong im vắng. Thình lình, có tiếng chó tru từ xa. Từ trong bóng tối lao ra một con chó thật hung dữ. Con chó này không phải loại chó thường mà là loại chó được dùng để ra trận. Nó có mặc một cái áo nịt. Phủ xuống hai bên sườn của nó là túi dụng cụ chứa chất nổ dùng để chống chiến xa. Ánh sáng nhá nhem của cái đèn đỏ gắn ở đầu đường hầm chiếu xuống làm con chó ánh lên một màu đỏ như nhuộm máu. Con chó rất hung dữ. Bộ răng nanh của nó khiến nó giống quỷ hơn là giống chó nhà người ta nuôi và rất yêu mến. Nó gầm gừ, dường như muốn xé xác tôi ra thành những mảnh vụn. Tôi không có gì để tự vệ nếu cần phải đánh nhau với con chó; vì vậy tôi chỉ thủ thế, không cử động đột ngột khiến nó nghĩ là tôi tấn công. Tôi nhẹ nhàng bước lui, từ từ rời xa nó, có nghĩa là dấn bước sâu hơn vào đường hầm. Rất may, con chó không đuổi theo mà ngồi trấn ở ngay đầu đường hầm như ngăn chận không cho tôi trở ra.

Càng đi đường hầm càng tối, tiếng chân tôi càng vang to, át hẵn tiếng tim đập của tôi. Tôi muốn tìm đường về nhà, về quê hương, nhưng chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà. Đường vào địa ngục có lẽ cũng chỉ hoang vu đến như thế này thôi.

Bùm! Bùm! Bùm! Tiếng gót giày của tôi nện trên nền đường bê tông. Mười bước. Hai chục bước. Rồi trăm bước. Đường hầm dài như vô tận. Càng đi càng thấy lạnh, có lẽ do thiếu ánh sáng lâu năm. Cũng có thể là do âm hồn lẩn khuất đâu đây. Hơi thở tôi biến thành đám khói mờ trước mặt. Hơi nước đọng cả lên mi mắt tôi. Tôi đi như người mù cứ hướng phía trước mặt mà bước.

Rồi tôi cũng ra khỏi đường hầm. Trước mặt tôi là một vũng sáng lờ mờ. Mặt trời đã bắt đầu khuất bóng chỉ còn lại ánh sáng chạng vạng. Thứ ánh sáng của hai vùng âm dương giao nhau.

Tuy không phải là người nhát gan, nhưng phải nói là từ lúc bước vào đường hầm tôi luôn luôn thủ thế, bước chân chậm rãi vì dè dặt. Tôi luôn luôn liếc nhìn ở hai bên và thỉnh thoảng quay về phía sau lưng nghe ngóng. Tôi linh cảm là có một điều gì đó sẽ xảy ra.

Rồi tôi nghe, từ sau lưng, trong bóng tối thăm thẳm của đường hầm. Ban đầu nhỏ sau lớn dần. Tiếng bước chân. Độc hành, giống như tôi. Khi tôi ngừng lại lắng nghe thì tiếng bước chân im bặt. Mình chỉ tưởng tượng thôi. Tự nhiên sao mình lại đâm ra nhát cáy như thế này. Tôi tiếp tục bước đi xa đường hầm. Tiếng chân lại vọng ra, như đang bước theo tôi. Tôi dừng lại. Tiếng bước chân nhanh hơn, rõ hơn. Từ trong bóng tối bước ra một người. Bóng người rõ dần. Tôi giật mình, thảng thốt.

“Noguchi!”

Anh lính, binh nhì, đang bước mạnh dạn, thấy tôi vội vàng buông súng, đứng nghiêm. Chào.

“Xin chào. Đại úy!”

Giọng anh ta sang sảng như vẫn còn đang ở trong hàng ngũ quân đội.

“Cậu đã…”

“Thưa Đại úy, em đã… Có phải em đã chết trong khi chiến đấu hay không?”

Noguchi bước đến gần tôi. Tôi sợ hãi lùi lại. Noguchi đứng đó, hình hài nguyên vẹn nhưng da anh ta trắng bệch, đôi mắt là hai hố đen ngòm, dáng vẻ của một xác chết biết đi. Tôi lùi thêm hai ba bước. Noguchi lại bước tới. Giọng của anh ta đầy vẻ uất ức.

"Em không thể tin là em thật sự đã chết. Em đã được giải ngũ và về đến nhà. Em ăn bánh nếp mẹ em làm dành riêng cho em. Em nhớ rõ ràng như thế.”

Anh ta bước tới, nói như hét. Tôi lại bước lùi xa hơn, bị dí vào chân tường của đường hầm. Khi không còn thể lùi được nữa, tôi cố lấy giọng bình tĩnh nói chuyện với Noguchi.

“Cậu đã kể tôi nghe chuyện này. Cậu bị bắn, và cậu ngất xỉu. Trong lúc tôi đang săn sóc vết thương cho cậu thì cậu tỉnh dậy rồi cậu kể chuyện được ăn bánh của mẹ làm.”

Vẫn trong tư thế đứng nghiêm, Noguchi hơi nghiêng nửa thân người phía trên về hướng của tôi, chăm chú lắng nghe.

“Đó chỉ là giấc mơ cậu thấy trong lúc bị bất tỉnh. Câu chuyện nằm mơ của cậu sống động quá gây ấn tượng thật mạnh nên tôi không thể nào quên. Nhưng chỉ năm phút sau đó cậu trút hơi thở cuối cùng.”

Noguchi đứng thẳng người, trong tư thế báo cáo, dõng dạc nói:

“Em hiểu rồi. Đại úy! Nhưng bố mẹ em vẫn không chịu tin là em đã chết.” Nói dứt câu cậu binh nhì mím môi như muốn khóc.

Tôi nghẹn ngào, không nói nên lời. Các sớ thịt trên mặt tôi co giật mạnh. Noguchi nhấc nhẹ súng lên, hai tay ôm súng vào ngực, hướng về phía núi xa xa, bước thẫn thờ về phía bên phải của anh ta, hai hố đen ở vùng mắt có ánh sáng lấp lánh.

Phía trước tầm nhìn của Noguchi, có ánh đèn thấp thoáng, chắc là của một làng sơn cước nào đó. Quay lại đối diện với tôi, tay chỉ về hướng ánh đèn, vẻ mặt thiểu não, giọng Noguchi thiết tha:

“Chỗ ấy là nhà em. Bố mẹ em ở nơi ấy vẫn hằng tin và mong chờ em về.”

Noguchi nghẹn ngào. Tôi bước đến gần. Chúng tôi đứng cách nhau không đầy một sải tay. Bóng lá của cây rừng phất phơ trong gió. Tôi lạnh, không biết vì gió thu hay hơi sương. Hay hơi lạnh của tử khí bốc ra từ Noguchi. Ánh mắt cậu ta như dại hẳn đi.

"Nhưng, sự thật là cậu đã chết. Tôi rất là đau lòng dù rất vụng về tôi vẫn phải nói sự thật. Cậu đã chết trên cánh tay tôi.”

Môi Noguchi run bần bật, cố kềm tiếng nấc. Cậu quay nhìn tôi bằng một vẻ thê lương tôi không thể nào tả được. Tôi nghĩ chỉ cần tôi đưa tay ra là cậu ấy sẽ ôm chầm lấy tôi và khóc trên vai tôi. Tay ghì cây súng Noguchi nhìn về hướng làng. Mím môi. Cúi đầu. Noguchi quay người hướng vào bóng tối trong đường hầm. Bộ quân phục, phía sau lưng của Noguchi vẫn còn đẫm vết máu. Noguchi thất thểu lê bước. Tôi gọi vọng theo.

“Noguchi.”

Noguchi quay lại bồng súng chào.

Tôi ném cái náp sắc xuống đường. Giơ tay ngang vành mũ chào đáp lễ. Noguchi buông súng xuống. Sự im lặng giữa hai chúng tôi dài như hằng tiếng đồng hồ. Noguchi quay đi, tôi nghẹn ngào nuốt nước mắt. Noguchi mờ nhạt dần, khuất xa trong bóng tối.

Tiếng chân của Noguchi chưa mất hẳn thì tiếp theo là tiếng bước chân sầm sập của một đoàn quân sắp hàng như chuẩn bị lên đường ra trận. Tôi sợ hãi bước lùi mấy bước. Định thần nhìn cho kỹ đó là một đoàn quân xếp hàng ngang, mỗi hàng có sáu quân nhân, vừa đủ chật đường hầm. Tôi không biết có bao nhiêu hàng vì họ đứng khuất trong bóng tối của đường hầm. Theo mắt tôi có thể nhìn được thì toàn thể đại đội này đang sắp hàng có ít nhất là chín hàng, nghĩa là năm mươi bốn quân nhân cộng thêm người đại đội trưởng.

Đại đội trưởng cất giọng, quát to:
“Tất cả chuẩn bị. Chào Tiểu Đoàn Trưởng. Chào!”

Tất cả bồng súng lên chào. Đại đội trưởng giơ ngang thanh gươm chỉ xuống đất.

“Hạ súng! Xuống!”

Đại đội trưởng và tất cả quân nhân đều hạ súng đứng nghiêm.

“Đại đội Ba. Tất cả có mặt. Trình diện thượng cấp.”

Tôi nghẹn lời, nước mắt chực trào ra.

“Tất cả các bạn hãy nghe tôi nói!”

Tôi cố nuốt nước mắt.

“Tôi hiểu lắm. Suy nghĩ và cảm giác của các bạn. Tuy nhiên, toàn thể Đại đội Ba đã gục ngã trên chiến trường. Xin các bạn hãy tha thứ cho tôi. Tôi đã bảo toàn mạng sống của tôi. Tôi rất hổ thẹn đến độ không thể nhìn thẳng vào mắt các bạn, vì tôi đã không hoàn thành trách nhiệm bảo vệ sinh mạng của các quân nhân tùy thuộc quyền chỉ huy của tôi. Tôi có thể đổ thừa vào sự phi lý của chiến tranh hay sự nhẫn tâm của quân đội. Nhưng chối bỏ, lỗi lầm, sự do dự không dám quyết định, hay quyết định không chính xác của tôi, là một hành động hèn nhát.”

Tôi hít một hơi dài, cố nén cơn đau trào ra từ trái tim. Tôi đứng nhưng thật ra tôi muốn quì xuống trước mặt những người đã chết. Xin tạ tội. Và bày tỏ lòng kính phục sự hy sinh của họ.

“Tôi bị kẻ địch bắt, bị cầm tù. Đời sống trong tù đã cho tôi nếm đủ đòn đau đớn, cũng gần như cái chết. Và. Bây giờ. Khi tôi nhìn các bạn tôi lại trải nghiệm lần nữa những điều đau đớn ấy.”

Nước mắt tôi trào ra và chảy xuống mũi. Tôi nói để lấp đi tiếng nấc.

“So với cái chết của các bạn nỗi đau của tôi thật quá tầm thường. Nhưng tôi thành thật nói với các bạn điều này. Tôi ước gì. Tôi đã cùng chết với các bạn. Xin hãy tin tôi khi tôi nói những lời này. Tôi thông cảm với những oán hờn của các bạn. Chết trong trận mạc là cái chết tồi tàn như cái chết của loài chó! Nhưng xin hãy nghe tôi. Chẳng có gì tốt đẹp khi các bạn trôi lang thang vô định trong cuộc sống của loài người. Tôi van xin các bạn. Hãy quay lại. Quay về với bóng tối và an nghỉ muôn đời.”

Tôi đứng thẳng người, chỉnh đốn tư thế và quân phục. Rồi tôi dõng dạc ra lệnh.

“Đại đội Ba! Đằng sau! Quay!”

“Đằng trước! Bước!”

Đoàn quân sầm sập bước vào trong đường hầm. Tiếng kèn nhạc quân hành đâu đó trổi lên. Vang vọng. Xa dần. Khuất hẳn. Tôi đứng nghiêm chào cho đến khi đoàn quân và tiếng kèn không còn nghe thấy nữa. Tôi kiệt sức, phủ phục người trên mặt đất. Cơn đói ban chiều trở lại hành hạ tôi. Đêm càng khuya trời càng lạnh. Nếu tôi không đứng dậy đi tiếp tôi sẽ nằm xuống đây muôn đời.

Con chó quỷ bây giờ lại xuất hiện. Nó nhe răng, đỏ thẫm màu máu, có lẽ nó đang đói cần ăn thịt người. Tôi không biết đây là con chó thật sống sót sau chiến tranh, hay nó chỉ là một hồn ma không siêu thoát. Tại sao nó cứ theo sủa tôi, như sủa một tên trộm cướp, một kẻ hèn nhát. Người ta bảo rằng chó sủa ma; thế nhưng bao nhiêu oan hồn không siêu thoát xuất hiện lúc nãy nó chẳng kêu lên tiếng nào, mà bây giờ nó lồng lộn chực chờ xé xác tôi.


Nguyễn Thị Hải Hà

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html

1 thg 5, 2017

Thơ Thuyên Huy : THEO NGƯỜI CHUYẾN ĐÒ CHIỀU





Để nhớ một người quen không chịu quen ở bến đò Gò Dầu Hạ của một chiều cuối thu một chín bảy mươi.



Theo người qua chuyến đò chiều

Nắng lơi giọt rớt sầu hiu hắt buồn

Gầy vai đọng hạt tóc sương

Chân lơi nhịp bước gió luồng áo bay

Ngập ngừng thèm thoáng hương say

Đường về lối đó chợt dài nhớ nhung

Vội mang đi chút thẹn thùng

Người cho tôi phút ngại ngùng làm quen

Nghiêng vành nón khẻ gọi tên

Dài tay bóng ngã bên đèn phố lên

Gởi người đây khúc tự tình

Một mai gặp lại ừ mình biết nhau.



Thuyên Huy

Chờ chuyến phà chiều qua bên kia bờ Portsea về Queenscliff 2016






















Hoạt Động Các Bạn K.2 tháng 4/2017 (Hửu Phương,Đinh Hỏi...)

                                     
K2 tại Saigon hiện còn khoãng hơn 80 người nhưng một số bạn tuổi trên 70 đến 80,đi lai rất khó khăn nên chủ yếu liên kết nhau bằng điện thoại.Một số bạn còn khỏe thì làm những cuộc du lịch ngắn ngày.
Mời các bạn xem một số hình ảnh :

Bạn Vỏ Hửu Phương
Ngày 6-4-2017 hành hương lể Phật các chùa tại Long xuyên, Châu Đốc. Tịnh Biên ,Hà Tiên, Cà Mau , Bạc Liêu , Sóc Trăng . Cần Thơ kết hợp thăm thắng cảnh miền Tây Nam bộ
Ảnh nầy chụp ở khu vực chùa Hang,hòn Phụ Tử -Hà Tiên.

Đinh thi Hỏi  k.2  và các bạn SPSG khóa sau

Môt số hình ảnh kĩ niêm trong chuyến du hành nui Bà Đen và rừng Ma Thiên Lảnh ngày thứ bảy 8/4/2017.




Trong ảnh có 2 bạn DPSGk.2 k.2 Nguyễn văn Mum và Đinh thị Hỏi
Chụp ảnh trước Đền "Quan Lớn Trà Vong"
Xem Thêm :http://hoainiemtayninh.blogspot.co.uk/2014/05/tom-luoc-lich-su-thanh-lap-tinh-tay-ninh.html
 * 20/4/ Chúc mừng sinh nhật Từ Cảnh
 Ngày 23/4/2017,khóa 2 tổ chức tham qua Xẻo Quýt,Đồng Tháp.


 Ngày 28/4,các bạn SPSG và Mạc Đỉnh Chi đến thăm các em học sinh đang học nghề tai TT.DNNKT và TEMC xả Xuân Thới Thượng-Hóc Môn do Đinh Hỏi làm GĐ.Các bạn giúp nấu nương đãi các em 1 buổi trưa rất vui.
(Ảnh của  Hửu Phương,Đoàn Q.Tuấn, Hoa Trần, Đinh Hỏi,Hạnh Phạm)

LOÀI NGỰA CỰC HIẾM TRÊN THẾ GIỚI (Từ Dan news)

Chúng đến hòn đảo khi theo chân người Anh đến hòn đảo heo hút xa xôi và từ đó trở thành một giống loài đặc biệt đã góp công xây dựng nên vùng đất này.

Newfoundland and Labrador Tourism
Nếu Newfoundland trông như một thế giới tách rời hẳn khỏi đất nước Canada, thì bước chân lên Quần đảo Change là một điều gì đó khác hẳn.

Vẻ đẹp kỳ dị


Newfoundland and Labrador Tourism
Cách gần 450km từ thủ phủ St John của Newfoundland, Quần đảo Change xa xôi nằm giữa Vịnh Notre Dame và Biển Labrado là nơi ta chỉ có thể đến bằng phà.
Ở nơi đầy những cái tên thị trấn kỳ dị này, như thị trấn Heart’s Content and Cupids, rõ ràng là nguồn gốc của quần đảo Change cũng ẩn giấu trong những truyện cổ dân gian.
Người địa phương tin rằng biệt danh được đặt cho hòn đảo là khi những cư dân ở Đảo Fogo gần đó quyết định đến sinh sống ở Quần đảo Change [thay đổi] – có nghĩa là họ đã thay đổi quần đảo này. Tên gọi chỉ là một chi tiết nhỏ nhưng đã mở ra một góc nhìn vào tinh thần tuyệt đẹp và lạ lùng của cộng đồng nơi đây.
Trong khi vùng đất được tạo nên từ ba hòn đảo nhỏ, nối với nhau bởi một eo biển (gọi là ”tickle’ theo tiếng Anh của dân vùng Newfoundland), cộng đồng 300 dân này hầu hết sống ở khu vực phía nam và trung tâm đảo.

The Rooms Provincia Archives
Nhưng trên Quần đảo Change, còn có những cư dân khác, không phải ai trong số 300 người dân địa phương – được cho là đã giành lấy mọi sự vinh quang: đó là chỉ còn chừng một tá những chú ngựa lùn Newfoundland, một loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Loài vật khỏe mạnh


Newfoundland and Labrador TourismBản quyền hình ảnhNEWFOUNDLAND AND LABRADOR TOURISM
Ngựa lùn Newfoundland đã có mặt ở nơi này từ đầu thập niên 1600, khi những cư dân xa xưa nhất của hòn đảo từ Anh tới đây định cư. Chúng là hậu duệ của loài ngựa ở vùng thảo nguyên Exmoor, Dartmoor và New Forest – vốn quen với những vùng đất khô cằn và khí hậu khắc nghiệt của Bắc Đại Tây Dương. Nhờ vào vị trí hẻo lánh của vùng Newfoundland, các chú ngựa này kết đôi trong hàng trăm năm và cuối cùng tạo ra loài ngựa đặc biệt, một giống ngựa rất khỏe.
Những chú ngựa ở đây nổi bật với sự khỏe mạnh, vững chãi nhưng rất nhẹ nhàng. Chúng thường thấp lùn – cao chưa tới 14 gang tay, và đặc biệt chân của loài ngựa này thường có màu tối hơn phần còn lại trên cơ thể.

Xây dựng hòn đảo


Wade JanesBản quyền hình ảnhWADE JANES
Như hầu hết các nơi ở Newfoundland, ngựa lùn trên Quần đảo Change được sử dụng để làm các công việc nặng nhọc, để cày và làm ruộng, kéo gỗ xây nhà, vận chuyển sỏi đá để làm đường. Chúng thậm chí còn làm việc ở hầm mỏ. Trong nhiều tháng mùa đông, người ta thả ngựa tự do cho đến mùa xuân. Chúng được thả chạy tự do khắp nơi trên đảo.
Do công nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng ngựa trong các công việc nặng nhọc giảm dần. Ngựa được tự do đi dạo trên đảo, và dần bị lãng quên. Số lượng ngựa bắt đầu giảm dần, trong những thời gian khó khăn, người ta giết ngựa lấy thịt và bán đi nước ngoài.

Newfoundland and Labrador Tourism
Vào hồi thập niên 1970, số lượng ngựa ở Newfoundland là 12.000 con. Nhưng đến thập niên 1980, chỉ còn hơn 100 cá thể.

Bảo tồn loài ngựa


Carolyn Parsons Chaffey
Vào năm 1997, chính quyền tỉnh Newfoundland thông qua Đạo luật Bảo tồn Động vật của Newfoundland và Labrador, nhằm bảo vệ loài ngựa Newfoundland bằng pháp luật. Vận chuyển ngựa khỏi đảo là hành vi bất hợp pháp nếu không có giấy phép xuất khẩu đặc biệt, và luật đảm bảo rằng các chú ngựa chỉ được chuyển đến các nhà nhân giống và người yêu ngựa chứ không phải các lò mổ. Hiệp hội Ngựa lùn Newfoundland được thành lập nhằm quảng bá, đăng ký và bảo vệ loài ngựa này.
Số lượng cá thể ngựa từ đó tăng dần, ước tính khoảng 250 chú ngựa giờ đây có thể được nhân giống tiếp. Hầu hết chúng sống ở Newfoundland, nhưng cũng có một số lượng nhỏ sống ở Nova Scotia và Ontario.
Vì thế, thật ấn tượng khi quần đảo Change cô lập lại có thể bảo tồn rất nhiều ngựa, và hầu hết là tại Khu bảo tồn Ngựa Newfoundland, một cơ sở nhân giống và bảo tồn gần như chỉ do một phụ nữ vận hành.
Carolyn Parsons Chaffey
Netta Ledrew lớn lên ở Đảo Change và luôn sẵn có tình yêu với loài ngựa này. Bà là một người dân địa phương Newfoundland đã giúp khiến nơi này trở nên nổi tiếng về sự hiếu khách. Tài năng kể chuyện của bà càng nổi bật hơn bởi giọng nói du dương đúng kiểu người vùng Newfoundland

Khu bảo tồn do một phụ nữ trông nom


Carolyn Parsons Chaffey
Khu bảo tồn này lần đầu tiên được đưa vào hoạt động năm 2005 do một nữ người địa phương tên Beverly Stevens, nhưng để vận hành được một khu bảo tồn tại một nơi hoàn toàn cô lập ở một tỉnh heo hút như thế này đòi hỏi rất nhiều thứ. Khi Stevens quyết định đưa các chú ngựa lên đất liền, LeDrew không thể chịu được ý nghĩ sẽ mất các chú ngựa, và bà đề nghị sẽ nhận làm việc ở đây.
“Thật đáng xấu hổ nếu thấy chúng ra đi,” bà nói. “Vì thế tôi nhận làm phần việc của mình để giữ chúng sống.”
Ngày nay, Netta làm việc một mình, quản lý một nông trại 12 chú ngựa. Không có nhân viên toàn thời gian nào khác ngoài một mình bà làm việc ở đây.
“Tôi có nhiều tình nguyện viên trong thị trấn đến giúp khi tôi cần,” bà cho biết. Những hành động tử tế này không hiếm gặp ở vùng nông thông Newfoundland.

Gia đình hạnh phúc


Carolyn Parsons Chaffey
Lúc khởi đầu, LeDrew có 5 chú ngựa, và sau đó chúng bắt đầu nhân giống. Giờ đây, trong số 12 chú ngựa thì 10 là của LeDrew và hai chú ngựa là được gửi nuôi ở đây. Ngựa Lily sinh năm 2006, sau đó là Jigger sinh năm 2007. Ba chú ngựa sau sinh năm 2008. Chú ngựa Kate của Cove sinh năm 2010, sau đó là Charlie.
Những chú ngựa được coi như con bà và LeDrew nhớ ngày sinh của từng con. Bà cũng cho bạn biết chi tiết về dòng họ của bất cứ chú ngựa nào, bắt đầu với những anh em, rồi đến ông cố, ông tổ của chúng. Mạng lưới dòng dõi loài ngựa này phức tạp hơn bạn tưởng, khi chỉ có một số ít để nhân giống, những thông tin này là đặc biệt cần thiết để tránh chúng giao phối cận huyết.

Chăm sóc đặc biệt

Mỗi chú ngựa đều có môt tính cách riêng, và vòng đời dài của chúng có thể kéo dài đến 30 tuổi, nghĩa là LeDrew sẽ hiểu biết những sinh vật này hầu hết cả cuộc đời chúng. Chú ngựa già nhất ở khu bảo tồn đã 36 tuổi. Tên của nó là St George’s Princess (Nàng Công chúa của Thánh George), và theo LeDrew, nó có ‘hàm răng không tốt’. Công Chúa cần được ăn các loại ngũ cốc mềm đặc biệt làm từ cỏ linh lăng.
“Khi tôi ghé qua chuồng buổi sáng, nó sẽ đòi ăn món đó,” LeDrew cười.

Công việc yêu thương


Newfoundland and Labrador Tourism
LeDrew mất tới 10 giờ mỗi ngày để dọn rửa chuồng và cho ngựa ra ngoài ăn cỏ. Tất cả những người muốn đến mua ngựa đều phải qua kiểm tra và sàng lọc; LeDrew muốn những chú ngựa của bà sẽ có một mái nhà tốt. Về mùa hè, bà giới thiệu mọi người đến khu bảo tồn và cho mọi người cưỡi ngựa. Trong mùa đông, tìm ngũ cốc cho ngựa ăn có thể khó khăn và khi có bão, những chuyến phà không thể đến đảo.
Đó là công việc cực kỳ tốn tiền. Khu bảo tồn hoạt động hoàn toàn dựa trên sự đóng góp từ thiện, tất cả số tiền thường được chi cho thức ăn và chăm sóc móng ngựa. LeDrew không nhận tiền cho những nỗ lực của bà, nhưng sự tình cảm gắn bó lũ ngựa với bà khiến bà cảm thấy đáng bỏ công sức ra cho chúng.
“Tôi gọi chúng là những chú ngựa nhỏ đã kiến tạo nên Newfoundland,” Letta LeDrew nói.
Giấc mơ của LeDrew là số lượng ngựa sẽ trở lại như xưa, khi chúng còn hàng ngàn con.
“Đó là một loài động vật nhẹ nhàng, rất thân thiện với trẻ em và dùng để cưỡi cũng rất tuyệt,” bà nói.

Tác giả Candice Walsh
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.