29 thg 9, 2022

Tranh Vui

Như Nguyệt chuyển

 

TÌNH NHƯ KHÓI SƯƠNG - ConGàQuè Azalea

 

TÌNH NHƯ KHÓI SƯƠNG
 
1. Môt ngày hiu hắt bóng tà dương,
Chiều nhẹ nhàng trôi tựa khói sương.
Bỗng chốc hồn ngập tràn cảm xúc,
Bất ngờ lòng chất ngất thê lương.
Nơi đây dạo ấy còn vương vấn…
Chốn đó hiện giờ vẫn nhớ thương?
Bước vội qua đời như mật đắng,
Lệ nào tím ngắt chút dư hương !
 
2. Lệ nào tím ngắt chút dư hương,
Người vội ra đi chẳng luyến thương.
Bên dấu ái nhòa, nhung nhớ tỏa,
Trong khung cửa hẹp, khổ sầu vương.
Trải bao ngày tháng gom tình khúc,
Hòa bấy phút giây quyện khói sương.
Ngơ ngẩn đớn đau hồn mộng tưởng,
Giữa chiều hiu hắt bóng tà dương !
 
ConGàQuè Azalea
(Mpt,Nov.15,2021)

 

Mời Xem :

CHỜ - Thơ Con Gà Què Azalea

Đế quốc Anh: Di sản của bạo lực? - (Diển Đàn Khai Phóng )

Tác giả: Peter Bergen phỏng vấn Caroline Elkins, CNN 25.9.2022
Người dịch: Tôn Thất Thông

Ghi chú của CNN: Peter Bergen là nhà phân tích an ninh quốc gia của CNN, phó chủ tịch New America, người viết sách và là giáo sư tại Đại học Bang Arizona. Lớn lên ở London, Bergen tốt nghiệp về lịch sử hiện đại tại Đại học Oxford. Quan điểm thể hiện trong bài bình luận này là của riêng các tác giả. 

***

Sự nổi tiếng của Vua Charles III có thể ảnh hưởng như thế nào đến tương lai của Khối thịnh vượng chung?

CNN – Nữ hoàng Elizabeth II đã được an táng vào tuần trước tại Lâu đài Windsor, nơi ở của các vị vua trong hàng nghìn năm qua. Điều không được mang theo quan tài của Nữ hoàng là một câu hỏi quan trọng: Tương lai đối với các quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung sẽ như thế nào, nơi mà quốc vương Anh vẫn là nguyên thủ quốc gia?

Charles III ngày nay là Vua của 14 “tiểu quốc” bên ngoài quần đảo Anh. Ở một số tiểu quốc đó, chẳng hạn như Úc, Canada và Jamaica, đang có những lời kêu gọi bãi bỏ chế độ quân chủ và thay vào đó là đòi hỏi thành lập nước cộng hòa, giống như Barbados đã làm vào năm ngoái .

Một câu hỏi liên quan cũng đang nổi lên hiện nay: Di sản của Đế quốc Anh vĩ đại là gì? Học sinh Anh từ lâu đã được dạy những câu chuyện cổ tích về điều tốt đẹp của đế chế lớn nhất trong lịch sử, nhưng giới học thuật lịch sử gần đây đang vẽ nên một bức tranh hoàn toàn khác.

Dẫn đầu cáo buộc đó là giáo sư sử học Caroline Elkins của Đại học Harvard, tác giả cuốn sách xuất bản năm 2005, “Tổng kết một đế chế: Câu chuyện chưa được kể về Gulag của Anh quốc tại Kenya“, phát hiện ra rằng người Anh đã giam giữ khoảng 1,5 triệu người Kenya trong các trại giam hoặc trong những ngôi làng có rào dây thép gai trong thời gian nổi dậy của phong trào Mau Mau ở đất nước đó vào thập niên 1950, hàng nghìn người đã chết và một số người trong số đó đã bị tra tấn. Cuốn sách đã được trao giải thưởng Pulitzer cho tác phẩm phi hư cấu vào năm 2006.

Một số người ban đầu chỉ trích phát hiện của Elkins là cường điệu, nhưng chúng đã được minh oan nhiều năm sau đó sau khi các nạn nhân bị tra tấn người Kenya kiện chính phủ Anh yêu cầu bồi thường thiệt hại. Các quan chức cấp cao của Anh cuối cùng đã thừa nhận công khai vào năm 2013 rằng, các lực lượng Anh đã thực sự tra tấn người Kenya, và chính phủ Anh đã trả một khoản tiền gần 20 triệu bảng Anh cho hơn 5.000 nạn nhân người Kenya cao tuổi.

Trong những năm gần đây, Elkins đã mở rộng phạm vi khảo sát của mình ra ngoài Kenya, xuất bản một cuốn sách mới vào tháng 3 có tên “Di sản của bạo lực: Lịch sử của Đế quốc Anh”. Tôi đã chuyện trò với Elkins tuần trước về công việc của bà ấy. Nội dung trò chuyện của chúng tôi đã được biên tập lại cho rõ ràng.

Peter Bergen: Khi Nữ hoàng Elizabeth qua đời, điều gì xuất hiện trong tâm trí của bà?

Caroline Elkins: Đầu tiên, đó thật là một cuộc sống phi thường. Bảy mươi năm làm quốc vương. Là một con người, là một nhà sử học, làm sao tôi có thể không ngạc nhiên về điều đó? Thứ hai, sự khác biệt trong phản ứng của công chúng ở Anh và ở các cựu thuộc địa. Quốc tang đáng kinh ngạc và sự đau buồn dâng trào ở Anh, tuy nhiên ở đế chế trước đây và bây giờ là Khối thịnh vượng chung lại có những phản ứng khác nhau – rằng Nữ hoàng đã giám sát một đế chế đầy bạo lực và bóc lột.

Bergen: Vua Charles III không gợi ra những cảm xúc hoàn toàn giống như mẹ ông ấy đã có: Điều này sẽ ảnh hưởng đến Khối thịnh vượng chung như thế nào?

Elkins: Có 56 quốc gia trong Khối thịnh vượng chung, hầu hết trong số đó là thuộc địa cũ của Anh, và trong số những thuộc địa cũ, 14 quốc gia được chúng ta gọi là “Các tiểu quốc của khối thịnh vượng chung”. Có nghĩa là, họ không phải là nước cộng hòa, và họ vẫn công nhận Nữ Hoàng Anh là nguyên thủ của họ. Vì vậy, Charles III cũng là Vua của Canada, Vua của Úc, và chính ở những quốc gia này đã có sự thúc đẩy các cuộc trưng cầu dân ý để thay đổi thể chế và trở thành nước cộng hòa.

Và câu hỏi đặt ra là, mục đích của 56 quốc gia rộng lớn hơn trong Khối thịnh vượng chung này là gì? Nữ hoàng bị ám ảnh bởi Khối thịnh vượng chung; nó là đoạn kết của đế chế Anh. Trong triều đại của mình, bà đã giám sát việc giải thể phần lớn đế chế và theo dõi sự thành lập, với một kiểu suy diễn theo chế độ quân chủ, của Khối thịnh vượng chung như một lực lượng tốt lành, một lực lượng cho hòa bình, một lực lượng dân chủ trong thế giới hiện đại đương thời mà bà ta vẫn là người đứng đầu.

Vì vậy, Vua Charles III đang ở trong một tình huống khó khăn bởi vì, nhìn theo một cách nào đó, Khối thịnh vượng chung là một trò lừa bịp của lòng tự tin. Ngày nay các quốc gia này có còn tin rằng họ là một phần của cái gì đó vĩ đại hơn chính họ hay không? Khi các quốc gia này gia nhập Khối thịnh vượng chung vào những thập niên 50 và 60, người ta có thể đưa ra tuyên bố đó. Nhưng tôi cho rằng hiện nay có rất nhiều quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung nhìn vào điều này và tự hỏi mình, “Vấn đề thực sự như thế nào?” Nền kinh tế của Anh đang ở trong tình trạng tồi tệ ; việc tự cô lập mình với Brexit là một sai lầm, và về mặt địa chính trị, nước Anh đang suy yếu.

Bergen: Nữ hoàng Elizabeth II phát hiện ra rằng bà là tân Nữ Hoàng của Kenya vào năm 1952 khi bà đang đi săn ở đó. Hãy cho chúng tôi biết về nghiên cứu của bà ở Kenya và phản ánh thực tế là Nữ hoàng Elizabeth mới được lên ngôi vào khoảng thời gian lúc ở đất nước này, cuộc nổi dậy của kháng chiến quân Mau Mau chống Anh đang bắt đầu trở nên nghiêm trọng.

Elkins: Có một câu chuyện nổi tiếng rằng Elizabeth, ở tại khách sạn Treetops trong Vườn quốc gia Aberdare ở Kenya, đã leo lên một cành cây khi còn là công chúa và trở thành Nữ Hoàng khi bước xuống. Đồng thời, ngay bên ngoài nơi Nữ hoàng Elizabeth đang xem trò chơi, thì nhóm dân tộc Kikuyu lớn nhất ở Kenya, đang tuyên thệ tham gia một phong trào có tên Mau Mau, với mục đích là tống cổ tất cả người da trắng ra khỏi đất nước, tức là những người Anh đến định cư và chính quyền thuộc địa Anh.

Gần như ngay từ đầu năm 1952, đã có những người tố cáo ở Kenya. Các nhà truyền giáo xác nhận sự tra tấn của người Anh đang diễn ra. Quả thật, Hiệp hội Truyền giáo Nhà thờ đã xuất bản một tập sách nhỏ có tên “Kenya – Thời gian để hành động!” mô tả những điều khủng khiếp đang xảy ra ở đó.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu về lịch sử của cuộc khởi nghĩa Mau Mau, rất khó để viết cuốn sách bởi vì trong thời gian phi thực dân hóa, nước Anh đã tiêu hủy một cách có hệ thống các tài liệu về đế chế. Trong trường hợp Kenya, tôi ước tính rằng khoảng 3 rưỡi tấn tài liệu đã bị tiêu hủy, và một số tài liệu khác đã được mang về Anh và cất giữ trong kho lưu trữ được khóa kín. Vì vậy, điều có ý nghĩa đối với một nhà sử học như tôi là phải cố gắng ghép câu chuyện này lại với nhau, và tôi đã mất khoảng 10 năm để hoàn tất điều đó.

Trong cuốn sách năm 2005 của tôi, “Tổng kết của đế chế: Câu chuyện chưa được kể về Gulag của Anh ở Kenya“, tôi kết luận rằng trong khi chính phủ Anh nói rằng họ đã giam giữ 70.000 đến 80.000 người Kenya, thì trên thực tế, nghiên cứu của tôi cho thấy 1,5 triệu người Kenya đã bị giam cầm trong trại hoặc trong các làng bị rào kín bởi dây thép gai. Các trại giam và làng tập trung này không phải là địa điểm thực hiện các chiến dịch “trái tim và khối óc” mà là nơi diễn ra bạo lực rất có hệ thống từ cấp cao nhất của chính phủ Anh và được thực hiện một cách thuần thục đi kèm với những biện pháp để che đậy điều đó.

Cuốn sách ra mắt được “hoan nghênh với phê phán“. Có vẻ như người ta nhấn mạnh nhiều hơn vào “phê phán” và ít nhấn mạnh hơn vào “ca ngợi”, một phần vì đây là một trong những cuốn sách đầu tiên thực sự thách thức những câu chuyện về chủ nghĩa ưu việt của người Anh trong đế chế. Vào thời điểm đó, năm 2005, tôi còn là một nhà sử học trẻ . Sự tiếp nhận xem ra thật tồi tệ.

Và sau đó, tôi được yêu cầu làm nhân chứng chuyên môn cho một vụ án liên quan đến việc người Kenya kiện chính phủ Anh về tội họ bị tra tấn trong khi bị giam giữ trong cuộc nổi dậy Mau Mau. Trong quá trình khám phá trường hợp này, lần đầu tiên chính phủ Anh thú nhận: “Chúng tôi vừa phát hiện ra các thùng chứa các tài liệu chưa được tiết lộ trước đây mà chúng tôi đã tìm thấy tại Công viên Hanslope.” Công viên Hanslope là nơi lưu giữ tất cả các tài liệu rất nhạy cảm của chính phủ Anh. Và cùng với những thùng tài liệu đó từ Kenya, còn có thêm 8.800 hồ sơ từ 36 thuộc địa khác của Anh được đóng gói tương tự và mang đi thu giấu vào cuối thời kỳ đế chế.

Các tài liệu này rất quan trọng đối với vụ án. Tôi đã tập hợp một nhóm sinh viên Harvard lại với nhau, và chúng tôi đã làm việc 24/7 để xem xét các tài liệu này và điều trở nên rõ ràng là chúng tôi có hàng nghìn trang bằng chứng bổ sung xác minh cho kết quả nghiên cứu và tuyên bố của tôi về những gì đã xảy ra ở Kenya, và cuối cùng thì chính phủ Anh đã giải quyết vụ việc được các nạn nhân người Kenya đưa ra tố cáo.

Bergen: Kenya có phải là trường hợp đặc biệt trong Đế chế Anh hay không?

Elkins: Để trả lời, tôi đã mất khoảng 15 năm và hơn 800 trang trong cuốn sách mới của tôi, “Di sản của bạo lực”. Kenya không chỉ không phải là ngoại lệ mà chỉ là một câu chuyện ngắn trong một khoảng thời gian dài hơn, cho thấy cách mà người Anh tạo ra các hệ thống và phương pháp để thực thi quyền kiểm soát thuộc địa, chẳng hạn như lao động cưỡng bức, tra tấn và giết người trên khắp Đế quốc Anh.

Trong Chiến tranh Boer từ năm 1899 đến năm 1902, lần đầu tiên trong lịch sử các trại tập trung rộng lớn được sử dụng để giam giữ một dân tộc thiểu số, trong trường hợp này là những người châu Phi da trắng, những người mà người Anh coi là không văn minh, mặc dù người châu Phi da đen cũng bị giam giữ.

Nước Anh đã thực hiện các chính sách giam giữ tương tự đối với tội phạm , cũng như nạn nhân của bệnh dịch và nạn đói, ở Ấn Độ bắt đầu từ khoảng năm 1857. Một trong những điều tôi đã dành nhiều thời gian là theo dõi các chính sách này phát triển như thế nào – những cách thức tập trung dân cư cũng như cưỡng bức di dời họ.

Bergen: Trong sự đánh giá lại này của Đế quốc Anh, Bà đang dẫn đầu cuộc tấn công. Và thêm nữa, tác phẩm“Tình trạng vô chính phủ: Công ty Đông Ấn, Bạo lực tập thể và sự cướp bóc của một Đế chế” của William Dalrymple, lịch sử của ông ấy về Công ty Đông Ấn thuộc Anh cũng là một phần của sự đánh giá lại này?

Elkins: Có rất nhiều sử gia nghiên cứu về vấn đề này. Khi bạn nghĩ về loại công việc phải thực hiện cho từng thuộc địa, bạn có rất nhiều người là chuyên gia thực sự trong các lĩnh vực cụ thể, những người có thể chuyên về đảo Síp hoặc chuyên về Ấn Độ. Một số điều tôi đang làm trong cuốn sách gần đây, “Di sản của bạo lực”, thực sự đang tạo ra phong trào lớn thúc đẩy sự xét lại.

Bergen: Có phải tất cả lịch sử đều là lịch sử của sự xét lại hay không?

Elkins: Luôn luôn. Lịch sử luôn được sửa đổi bởi những người như tôi. Tôi nghĩ trong trường hợp này, đó thực sự là một cuộc sửa đổi lớn trong chừng mực nó thực sự nghi ngờ về điều gì tiếp tục là niềm tin vững chắc về chủ nghĩa ưu việt của Anh khi nói đến đế chế.

Bergen: Vậy, những người Anh ở trường trung học khi học về lịch sử nước Anh có được kể một loạt các câu chuyện tốt đẹp hay không?

Elkins: Tôi nghĩ rằng họ đang được kể những câu chuyện chính thức rất cụ thể đã được trau chuốt cẩn thận, từ cả chính phủ Anh và chế độ quân chủ. Lịch sử luôn được sử dụng cho bản sắc dân tộc để kích thích dân chúng, để tưởng tượng mình là một cái gì đó vĩ đại hơn bất kỳ ai khác. Và điều quan trọng cần nhớ là bắt đầu từ giữa thế kỷ 19, một cách rất cố ý dưới thời Thủ tướng Benjamin Disraeli, đã có một sự gắn kết chặt chẽ giữa quốc gia, chế độ quân chủ và đế chế vốn đã trở thành nền tảng của bản sắc dân tộc Anh, một loại bản sắc đế quốc của nước Anh mà chế độ quân chủ là một bộ phận. Và điều đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.

Sách giáo khoa lịch sử trong trường học của Anh có nên được sửa đổi? Hiện đang có một cuộc đấu tranh về vấn đề này ở Anh. Sẽ là một thời khắc quan trọng khi chúng ta bắt đầu thấy các bản sửa đổi trong sách giáo khoa của học sinh ở Anh phản ánh kiểu trò chuyện thú vị đang diễn ra hiện nay giữa các nhà sử học và công chúng.

Bergen: “The Crown” trên Netflix là một bộ phim truyền hình được thực hiện rất tốt. Điều đó đóng góp như thế nào vào cách nước Anh và thế giới nói chung nhìn toàn bộ lịch sử này?

Elkins: Tôi phải nói, một tiết lộ đầy đủ, tôi đã xem tất cả “The Crown”. Nó rất hấp dẫn và tôi đã viết cuốn sách “Di sản của bạo lực” trong khi xem phim đó. Một trong số rất ít lần mà Nữ hoàng Elizabeth cân nhắc với quyền lực của mình là xung quanh vấn đề phân biệt chủng tộc ở Nam Phi.

Bergen: Điều đó nói gì?

Elkins: Về cơ bản bà không đồng ý với Thủ tướng Margaret Thatcher, khi nói rằng chế độ phân biệt chủng tộc không thể tiếp tục, rằng Anh không thể đi ngược lại với lịch sử, và bà đã sử dụng Khối thịnh vượng chung như một phương tiện để làm cho điều đó được hiển lộ.

Điều thứ hai khiến tôi kinh ngạc là cái chết của người anh họ Louis Mountbatten. Mountbatten là phó vương cuối cùng của Ấn Độ. Ông giám sát sự phân chia của Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947, nơi có khoảng 200.000 đến 2 triệu người chết vì bạo lực giáo phái tàn bạo, theo ước tính.

Quân đội Cộng hòa Ireland, tức IRA, là một tổ chức bán quân sự, được thành lập vào năm 1919 để đấu tranh giải phóng nền cai trị của Anh ở Ireland và tạo ra một nước cộng hòa, đã tham gia vào một cuộc đấu tranh lâu dài để chấm dứt sự cai trị liên tục của Anh ở Bắc Ireland sau năm 1922. Có nhiều cuộc tấn công khủng bố, bao gồm việc IRA đặt một quả bom trên thuyền của Mountbatten ngoài khơi bờ biển Bắc Ireland vào năm 1979, giết chết ông Mountbatten và ba người trên thuyền. Và cảnh đó cũng có trong “The Crown”. Mountbatten có lẽ là người bạn tâm giao và người cố vấn thân cận nhất với Thái tử Charles, nay là Vua Charles III.

Câu chuyện này có phần hơi giống nhau sau khi Nữ hoàng trở thành quốc vương Anh, lần đầu tiên sau 100 năm đến Ireland vào năm 2011 và (sau đó) đã dang rộng cánh tay của mình đến một trong những nhà lãnh đạo cũ trong IRA.

Bốn năm sau, Thái tử Charles gặp cựu lãnh đạo IRA Gerry Adams và làm một động tác tương tự. Họ đã có một cuộc trò chuyện riêng. Điều này cho bạn thấy những gì chế độ quân chủ Anh có thể làm được, bằng một loại thẩm quyền đạo đức mà nó có và cách đưa tay ra để hòa giải.

Bergen: Người Anh có tự khen ngợi mình vì họ đã xóa bỏ chế độ nô lệ tương đối sớm, và điều đó đã tô đẹp cho việc họ tự nhận mình là những người xây dựng đế chế?

Elkins: Vâng, tôi nghĩ đó là một điểm quan trọng. Tôi nghĩ người ta thường cho rằng nước Anh dẫn đầu về phong trào bãi bỏ việc buôn bán nô lệ (năm 1807) và nhiều thập kỷ sau đó bãi bỏ việc sử dụng lao động nô lệ (năm 1833).

Đồng thời, tôi nghĩ điều quan trọng cần lưu ý là đây cũng là quốc gia tích lũy lịch sử đế chế lớn nhất từng được biết đến, với 1/4 diện tích trên quả đất và 700 triệu người ở đỉnh cao của nó.

Sau khi bãi bỏ việc buôn bán nô lệ và sử dụng lao động nô lệ, người Anh đã phát động cái gọi là “sứ mệnh văn minh” của họ. Ý tưởng này cho rằng, trên thực tế, đế chế không phải là vì lợi ích quốc gia và sự bóc lột, mà đó thực sự là nhiệm vụ của chúng ta, “gánh nặng của người da trắng” chúng ta là đi lên, vực dậy và đưa các “dân tộc lạc hậu” vào thế giới hiện đại.

Phần thú vị đối với tôi là làm thế nào mà người Anh nói chung có thể tiếp tục làm việc và củng cố lại sự hiểu biết của họ về ý nghĩa thực sự của đế chế. Sứ mệnh văn minh là gì? Làm thế nào họ có thể đưa tất cả những điều này vào câu chuyện vĩ đại hơn về cái mà cuối cùng là chủ nghĩa ưu việt của đế quốc Anh, bằng cách này hay cách khác – và đó là một câu chuyện tồn tại cho đến ngày nay – rằng Anh đã có quyền đế quốc, đặc biệt là khi so sánh với tất cả các nước khác ở châu Âu.

Và vì vậy, đối với tôi, điều đó cũng gói gọn trong việc ngày hôm nay Nữ hoàng được tưởng nhớ như thế nào. Đối với một số người, bà ấy được nhớ đến như là người mẹ của đế chế, vốn dĩ là một thế lực tốt đẹp trên thế giới, thực sự mở rộng các khái niệm về pháp quyền và thương mại tự do – tất cả những điều mà chúng ta đang trân trọng ở các nền dân chủ tự do – trong khi đối với nhiều người khác thì họ cho rằng, không, không có điều gì thực sự tốt đẹp như thế.

Hãy nhìn tất cả bạo lực này trong đế chế. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang ở trong một thời điểm đặc biệt, bởi vì những người dân thuộc địa trước đây đang đòi hỏi một sự tính toán sòng phẳng, không chỉ về mặt thừa nhận những điều đã xảy ra, mà còn về cách chúng ta viết và nhớ lại quá khứ.

Bergen: Dự án 1619 đã định hình lại lịch sử của Hoa Kỳ chung quanh lịch sử của chế độ nô lệ ở đất nước này. Có điểm tương đồng nào giữa Dự án 1619 và những gì bà và các đồng nghiệp khác đang làm trong quá trình đánh giá lại Đế chế Anh không?

Elkins: Vâng, tôi nghĩ vậy. Nếu chúng ta nhìn vào cách thức mà những cố gắng để hiểu chúng ta là ai trong ngày hôm nay và những gì tương lai nắm giữ cũng là cuộc đấu tranh về những gì trong quá khứ. Điều gì mang lại cho chúng ta tính chính danh? Làm thế nào chúng ta trở thành con người như chúng ta ngày hôm nay? Ở Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ rằng tội lỗi nguyên thủy là thời kỳ nô lệ, và chúng ta phải đấu tranh với điều đó nếu chúng ta muốn tiến lên với tư cách là một quốc gia.

Giờ đây, nhiều người ở cựu thuộc địa đưa ra gợi ý rằng “tội lỗi nguyên thủy” trên phạm vi toàn cầu là đế chế. Họ đang hỏi: Làm thế nào để chúng ta đối mặt với điều này, và làm thế nào để bạn, nước Anh, giải quyết vấn đề này để cho tất cả chúng ta có thể tiến lên phía trước, từ quan điểm xã hội và cả quan điểm kinh tế? Và nó không chỉ là vấn đề bồi thường. Đó là việc xem xét sự bất bình đẳng có tính cơ cấu trên quy mô toàn cầu và làm thế nào và tại sao thế giới lại trở thành như ngày nay.

Hãy nhìn vào Bangladesh, một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới hiện nay. Vào giữa thế kỷ 18, Đông Bengal là một trong những khu vực giàu có nhất trên thế giới. Điều gì xảy ra ở giữa hai giai đoạn đó? Đó là một thời kỳ rất dài của sự bóc lột và tiêu hủy của cải dưới sự cai trị của thực dân Anh.

Hãy nhìn Jamaica và tưởng tượng thực tế là quốc gia này đông dân bởi vì công dân của họ bị xích và cùm – theo đúng nghĩa đen – bên dưới những con tàu và được đưa đến đó. Lúc đầu, đây thậm chí không phải là một quần thể tự tái sinh sản bởi vì việc ép con người làm việc cho đến chết sẽ tiết kiệm hơn so với việc cho phép họ tự sinh sản.

Và do đó, các quốc gia này được sinh ra từ một loại nồi bạo lực vốn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về xã hội và kinh tế, và tôi nghĩ điều này đang đến điểm cao nhất, cũng giống như Dự án 1619 đang thực sự nêu lên tất cả những vấn đề về sự bất bình đẳng cơ cấu mà chúng ta đang đối mặt ở Hoa Kỳ ngày nay. Chúng ta phải hiểu quá khứ và thực sự có một tổng kết toàn diện về nó. Và tôi nghĩ đó là những gì chúng ta đang thấy theo nhiều cách khác nhau với lịch sử của Đế chế Anh.

./.

Nguồn: The British Empire: A Legacy of Violence?

Caroline Elkins tốt nghiệp tiến sĩ ngành lịch sử tại Đại học Harvard vào năm 2001. Kể từ đó, bà đã giảng dạy ở Harvard và được phong chức giáo sư từ năm 2009. Bà là giáo sư thỉnh giảng tại Viện Radcliffe và giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Châu Phi của Harvard, hiện là một trong những viện nghiên cứu lớn nhất về Châu Phi. Trọng điểm nghiên cứu của Caroline Elkins là châu Phi và chính sách thuộc địa của Anh.

Vài tác phẩm tiêu biểu của Caroline Elkins:

* Elkins, Caroline (2000). “Reckoning with the Past: The Contrast between the Kenyan and South African Experiences”. Social Dynamics. 26 (2): 8–28. doi:10.1080/02533950008458693. S2CID 143334588.(subscription required).

* Elkins, Caroline (2000). “The Struggle for Mau Mau Rehabilitation in Late Colonial Kenya”. International Journal of African Historical Studies. 33 (1): 25–57. doi:10.2307/220257. JSTOR 220257.(subscription required).

* “Detention, Rehabilitation, and the Destruction of Kikuyu Society”. In A. Odhiambo & J. Lonsdale, eds., Mau Mau and Nationhood: Arms, Authority and Narration. Oxford: James Currey. 2003. pp. 191–226. ISBN 978-0-85255-484-5.

* Imperial Reckoning: The Untold Story of Britain’s Gulag in Kenya. New York, NY: Henry Holt. 2005.

* Elkins, Caroline; Pedersen, Susan, eds. (2005). Settler Colonialism in the 20th Century: Projects, Practices, Legacies. New York, NY: Routledge.

* Elkins, Caroline (2011). “Alchemy of Evidence: Mau Mau, the British Empire, and the High Court of Justice”. The Journal of Imperial and Commonwealth History. 39 (5): 731–748. doi:10.1080/03086534.2011.629084. S2CID 159551587.

* Legacy of Violence: A History of the British Empire. New York, NY: Alfred A. Knopf. 2022

 

28 thg 9, 2022

CHỢT NGHĨ - Thơ Ngô Kế Đang


 
CHỢT NGHĨ
 
Sáng mở mắt cả nhà đi hết
Sáu người thôi , đi đủ sáu người
Hai người chính , hai người hưu trí
Hai học trò , nào được thảnh thơi
 
Đời sống khó , mỗi ngày thêm khó
Về hưu rồi còn phải làm thêm
Già cả hết , sức thì không có
Chỉ lặt rau , lau củ kiếm tiền
 
 
Chẳng nuôi ai , nuôi thân lây lất
Cháu học chi , tất bật cả ngày !
Học chính khóa lại còn tăng tiết
Lương mẹ cha nộp đủ là may
 
 
Cứ tính kỹ bình quân thu nhập
Trừ chi tiêu con số thường âm
Phải kiếm cách mà lo bù đắp
Không chân tình thì động lòng tham
 
Chỉ thấy tội dân nghèo chân chất
Cố sạch trong , mong được đổi đời
Kẻ tham ô, tội hơn thằng giặc
Hại dân nghèo mãi mãi chơi vơi
 
Có thằng bạn nói lời chua chát
Dân Việt nam mắc nợ là thường
Dân thì vậy , quan thì phó mặc
Bảo kê khai , tài sản là không ?
 
Sáng ra bụng đói trống không
Đèo đi cho sớm , nếu không kẹt đường
 
 
Thằng giàu có , xe thường bóng loáng
Xe ông quan thì choáng lối đi
Dân nghèo so sánh mà chi
Nếu là dân Việt , đúng thì nợ thôi !
8g27 . 28/9/2022.NKĐ
Ảnh Lê Anh Thanh

Mời Xem :

 THÀNH PHỐ GÒ CÔNG - Ngô Kế Đang

NASA mới phát hiện ra “báu vật” trên sao Hỏa - Phan Anh

Perseverance sử dụng cánh tay robot để làm việc xung quanh một mỏm đá tên là Skinner Ridge. (Ảnh: NASA)

Theo thông tin mới nhất từ các nhà khoa học tại NASA (Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ), robot tự hành Perseverance vừa mới phát hiện ra “báu vật” là chất hữu cơ (được xem là nền tảng của sự sống) trên sao Hỏa, theo hãng tin CNN.

Cụ thể, khi thăm dò địa điểm thuộc vùng châu thổ sông cổ bên trong miệng núi lửa Jezero, Perseverance đã thu thập được một số mẫu quan trọng nhất trong nhiệm vụ xác định xem có sự sống trên sao Hỏa hay không.

Một số mẫu được thu thập gần đây bao gồm chất hữu cơ, cho thấy rằng miệng núi lửa Jezero, nơi có thể từng là một hồ nước và vùng châu thổ đổ vào đó, đã có môi trường có thể sinh sống được cách đây 3,5 tỷ năm.

“Những tảng đá mà chúng tôi đang nghiên cứu ở vùng châu thổ có nồng độ chất hữu cơ cao nhất mà chúng tôi từng tìm thấy trong nhiệm vụ thăm dò sao Hỏa. Và tất nhiên, các phân tử hữu cơ là nền tảng của sự sống. Vì vậy, tất cả điều này rất thú vị, ở chỗ chúng ta có những tảng đá được lắng đọng trong một môi trường có thể sinh sống được trong một hồ chứa chất hữu cơ trên sao Hỏa”, Ken Farley, nhà khoa học thuộc dự án Perseverance tại Viện Công nghệ California ở Pasadena, California (Mỹ) cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Năm 15/9/2022.

Nhiệm vụ của Perseverance, bắt đầu trên Hành tinh Đỏ 18 tháng trước, trong đó bao gồm việc tìm kiếm các dấu hiệu của sự sống vi sinh vật cổ đại. Perseverance đang thu thập các mẫu đá có thể bảo tồn những hình dạng sinh học bật mí về sự sống cổ đại trên sao Hỏa cách đây hàng tỷ năm.

Trước đó, tính đến tháng 7/2022, Perseverance đã thu thập thêm được bốn mẫu từ quá trình hình thành đồng bằng Jezero. Cả 4 đều được khoan từ đá cho thấy phần này của sao Hỏa có khả năng đã hỗ trợ sự sống cho các sinh vật giống Trái Đất trong quá khứ cổ đại – và thậm chí có thể bảo tồn các dấu hiệu của sự sống vi sinh vật như vậy.

Hiện tại, Perseverance đang có trong tay 12 mẫu đá. Dự kiến, robot tự hành này tiếp tục thu thập các mẫu đá hiếm có nữa rồi tập hợp và chuyển cho nhiệm vụ có tên Mang mẫu vật sao Hỏa về Trái Đất vào những năm 2030.

Vị trí của châu thổ tạo nên miệng núi lửa Jezero, kéo dài 45 km, được các nhà khoa học NASA đặc biệt quan tâm. Đặc điểm địa chất hình quạt, từng hiện diện nơi sông hội tụ với hồ, lưu giữ các lớp lịch sử của sao Hỏa trong đá trầm tích, được hình thành khi các hạt hợp nhất với nhau trong môi trường trước đây chứa đầy nước.

Perseverance đã điều tra đáy miệng núi lửa và tìm thấy bằng chứng về đá lửa. Trong chiến dịch thứ hai nghiên cứu vùng đồng bằng trong vòng 5 tháng qua, Perseverance đã tìm thấy các lớp đá trầm tích phong phú góp phần bổ sung thêm vào câu chuyện về khí hậu và môi trường cổ đại của sao Hỏa.

Nhà khoa học NASA Ken Farley cho biết: “Vùng châu thổ, với các loại đá trầm tích đa dạng, tương phản tuyệt đẹp với đá magma – được hình thành từ sự kết tinh của magma – được phát hiện trên đáy miệng núi lửa Jezero. Vị trí liền kề này cung cấp cho chúng tôi sự hiểu biết phong phú về lịch sử địa chất sau khi miệng núi lửa hình thành và một bộ mẫu đa dạng. Ví dụ, chúng tôi đã tìm thấy một loại đá sa thạch mang theo các hạt và các mảnh đá được tạo ra ở xa miệng núi lửa Jezero”.

Nhóm nhiệm vụ đặt biệt danh cho một trong những tảng đá mà Perseverance đã lấy mẫu là Wildcat Ridge. Đá có thể được hình thành khi bùn và cát lắng trong một hồ nước mặn khi nó bốc hơi hàng tỷ năm trước. Perseverance đã cạo bỏ bề mặt của tảng đá và phân tích nó bằng một công cụ được gọi là SHERLOC.

Sunanda Sharma, nhà khoa học SHERLOC tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA ở Pasadena, cho biết tia laser phá vỡ đá này hoạt động như một ánh sáng đen lạ mắt để phát hiện ra các hóa chất, khoáng chất và chất hữu cơ.

Phân tích của thiết bị cho thấy rằng các khoáng chất hữu cơ có thể là chất thơm, hoặc các phân tử ổn định của cacbon và hydro, được kết nối với sunfat. Các khoáng chất sunfat, thường được tìm thấy nằm trong các lớp đá trầm tích, lưu giữ thông tin về môi trường nước mà chúng hình thành.

Các phân tử hữu cơ được quan tâm trên sao Hỏa vì chúng đại diện cho các khối cấu tạo của sự sống, chẳng hạn như carbon, hydro và oxy, cũng như nitơ, phốt pho và lưu huỳnh. Không phải tất cả các phân tử hữu cơ đều cần sự sống để hình thành vì một số có thể được tạo ra thông qua các quá trình hóa học.

Mặc dù chỉ phát hiện ra lớp sinh vật này không có nghĩa là chắc chắn có sự sống ở đó, nhưng tập hợp các quan sát này bắt đầu giống như một số thứ mà chúng ta đã thấy ở đây trên Trái Đất. Trên Trái Đất, các mỏ sunfat được biết là có tác dụng bảo tồn các sinh vật hữu cơ và có thể ẩn chứa các dấu hiệu của sự sống, được gọi là các hình dạng sinh học. Điều này làm cho những mẫu này và tập hợp các quan sát này ở sao Hỏa trở thành một trong những điều hấp dẫn nhất mà chúng tôi đã thực hiện cho đến nay trong nhiệm vụ.

Nói một cách đơn giản, nếu đây là một cuộc săn tìm kho báu cho những dấu hiệu tiềm tàng của sự sống trên một hành tinh khác, thì chất hữu cơ là một manh mối. Và chúng tôi ngày càng có nhiều manh mối mạnh mẽ hơn khi tiến hành chiến dịch thăm dò vùng đồng bằng sao Hỏa của mình, Sunanda Sharma vui mừng cho biết.

Perseverance cũng như tàu thám hiểm Curiosity đã tìm thấy chất hữu cơ trước đây trên sao Hỏa. Nhưng lần này, sự phát hiện xảy ra ở một khu vực có thể đã từng tồn tại sự sống. Điều này bừng lên hy vọng của rất nhiều nhà khoa học NASA trong hành trình kiếm tìm sự sống cổ đại trên sao Hỏa.

Laurie Leshin, Giám đốc Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA, cho biết: “Tôi đã nghiên cứu khả năng sinh sống và địa chất của sao Hỏa trong phần lớn sự nghiệp của mình và biết được giá trị khoa học đáng kinh ngạc của việc trả lại một tập hợp các loại đá trên sao Hỏa được thu thập cẩn thận để đưa về Trái Đất”.

“Việc chúng tôi mất vài tuần kể từ khi triển khai các mẫu hấp dẫn của Perseverance và chỉ vài năm kể từ khi đưa chúng đến Trái Đất để các nhà khoa học có thể nghiên cứu chúng một cách chi tiết thực sự là một sự kiện gây phấn khích. Chúng tôi sẽ học được rất nhiều điều từ chúng”.

Một số tảng đá đa dạng ở đồng bằng cách nhau khoảng 20 m và mỗi tảng đá đều kể những câu chuyện khác nhau.

NASA cho biết, vùng đồng bằng trong miệng núi lửa Jezero trên sao Hỏa là khu vực mà các nhà khoa học phỏng đoán rằng, hàng tỷ năm trước, một con sông từng chảy vào hồ và lắng đọng đá và trầm tích theo hình nan quạt. Các vùng đồng bằng được cho là những nơi tốt nhất trên sao Hỏa để tìm kiếm các dấu hiệu tiềm ẩn của sự sống vi sinh vật cổ đại. Đến đồng bằng Jezero là mục tiêu chính của sứ mệnh Perseverance kể từ khi nó hạ cánh xuống miệng núi lửa vào tháng 2 năm 2021.

Các sứ mệnh tiếp theo của NASA, hợp tác với ESA (Cơ quan Vũ trụ Châu Âu), sẽ gửi tàu vũ trụ đến sao Hỏa để thu thập những mẫu vật được niêm phong này từ bề mặt và đưa chúng về Trái Đất để phân tích chuyên sâu.

Phan Anh


 

Vô Tình / Thơ Quách Như Nguyệt và Nhạc


Vô tình

Anh vô tình trách em ...vô tình

Biết nói gì, đành phải lặng thinh

Em gặp anh có duyên không nợ

Chuyện chúng mình dang dở, dở dang

 

Trưa hôm nay nhìn nắng chang chang

Nắng chói mắt nhớ tình ngày cũ

Trưa hôm nay thấy buồn ủ rũ

Lời yêu nào lỡ nói mênh mang

 

Trưa hôm nay để hồn đi hoang

Nghe bản nhạc nhớ về dĩ vãng

Thuở mới lớn thẹn thùng, lãng mạn

Tập làm thơ, tình nhẹ mơ màng

 

Anh trách em... bảo em vô tình

Còn nhỏ quá, làm sao em biết?

Yêu là gì, sao không tha thiết?

Yêu là gì, là nhớ là thương?

Là anh nhìn, mắt ngọt như đường

Lời tỏ tình chưa nói….  mà thương!

 

Yêu là gì, môi đỏ má hồng

Là trông gặp, là mong là nhớ

Là e ấp, giả bộ làm ngơ
Là tình thơ, là mộng là mơ

Tình là gì, sao nhiều trắc trở?

Tội nghiệp em, mới lớn ngu ngơ

Tình đầu tiên hay chẳng là tình?

 

Anh yêu em, thương tính vô tình

Vì vô tình không biết anh thương

“Bé của anh”, gọi thế vài lần

Vì vô tình không biết anh yêu...

 

Vẫn mong anh an bình, khỏe mạnh

Đời sống này thoáng chốc qua nhanh

Quách Như Nguyệt

Mời Xem Trên Youtube

Nhạc & hòa âm:  Đỗ Hải

Thơ:  Như Nguyệt

Ca sĩ: Ngọc Mỹ


 

CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG RẤT ANH HÙNG CỦA NỮ TIẾP VIÊN HÀNG KHÔNG ẤN ĐỘ .

Neerja Bhanot: Nữ tiếp viên hàng không làm nên huyền thoại, đấu trí với 4 kẻ khủng bố, hy sinh thân mình cứu hơn 300 hành khách trên chuyến bay tử thần

Neerja Bhanot đã trở thành cái tên không thể nào quên được của ngành hàng không Ấn Độ. Câu chuyện về nữ tiếp viên xinh đẹp hy sinh mạng sống của mình cứu hàng trăm người khác đã trở thành một dấu ấn trong lịch sử ngành hàng không, truyền cảm hứng cho hàng triệu người.

Neerja sinh ngày 7/9/1963 tại Chandigarh, một thành phố ở phía bắc Ấn Độ. Thời đi học, Neerja nổi tiếng là một cô gái xinh đẹp, có tính cách điềm đạm và luôn được rất nhiều người ái mộ. Bạn bè nhận xét về Neerja là một người đáng tin cậy, khi họ gặp khó khăn cô luôn sẵn sàng giúp đỡ. Ngoài ra cô cũng rất chính trực, trung thực và thẳng thắn.

Cô tốt nghiệp đại học ở Mumbai và bắt đầu sự nghiệp làm người mẫu qua một cuộc gặp gỡ tình cờ. Khi 18 tuổi, trong một buổi tiệc cùng bạn bè ở khuôn viên trường, một phóng viên đã chụp ảnh cô để làm ảnh bìa cho tạp chí. Kể từ đó, cô trở nên nổi tiếng và thường xuyên xuất hiện trên các tạp chí thời trang. Công việc này đã cho cô một khoản thu nhập ổn định không phải phụ thuộc vào gia đình.

Neerja Bhanot: Nữ tiếp viên hàng không làm nên huyền thoại, đấu trí với 4 kẻ khủng bố, hy sinh thân mình cứu hơn 300 hành khách trên chuyến bay tử thần - Ảnh 2.

Neerja trở thành một người mẫu, xuất hiện trong nhiều quảng cáo ở Ấn Độ.

Vào tháng 3/1985, khi bước sang tuổi 21, cô gái xinh đẹp này buộc phải kết hôn với một doanh nhân theo sự sắp đặt của gia đình. Bất hạnh thay, cô thường xuyên bị chồng ngược đãi, đánh đập. Cô không được tự chủ về tài chính, thậm chí còn phải xin tiền chồng để gọi điện thoại. Chỉ vài tháng sau khi cưới, Neerja sụt mất 5kg khiến cô buộc phải chạy trốn về nhà cha mẹ ruột.

Cuối cùng, Neerja đã có một quyết định dũng cảm thời bấy giờ đó là ly hôn chồng, thoát khỏi cuộc hôn nhân ngục tù. Nhìn thấy con gái không được hạnh phúc, cha mẹ Neerja cũng không ngăn cấm mà ủng hộ cô tự quyết định cuộc đời mình.

Không lâu sau, hãng hàng không Pan Am Airline tuyển dụng 80 phi hành đoàn cho các chuyến bay châu Á, Neerja quyết định đăng ký thi tuyển để bắt đầu lại cuộc sống mới. Vào tháng 1/1986, cô được lựa chọn từ hơn 10,000 người để trở thành tiếp viên hàng không. Neerja đam mê với công việc mới nhưng không ngờ rằng, sau 6 tháng làm việc, bi kịch đã ập đến khiến cô mãi mãi ra đi ở tuổi 22.

Vào ngày 5/9/1986, hai ngày trước khi cô gái trẻ đón sinh nhật lần thứ 23, chuyến bay mang số hiệu 73 Pan Am đã bị bốn tên khủng bố người Palestine mang theo vũ trang tấn công ở sân bay quốc tế Jinnah, thuộc thành phố Karachi, Pakistan.

Những tên khủng bố giả dạng làm nhân viên an ninh đột nhập lên máy bay, mang theo súng, bom, lựu đạn nhằm cướp và hướng máy bay sang Israel để khủng bố. Lúc đó trên máy bay có 365 hành khách và 16 phi hành đoàn.

Khi nhìn thấy những tên khủng bố tiến lên máy bay và túm tóc một hành khách, Neerjia đã nhận biết được nguy hiểm. Cô nhanh chóng thông báo cho phi hành đoàn bằng bộ đàm, nhờ vậy mà ba phi công người Mỹ đã kịp thời trốn thoát, những tên khủng bố không thể ép máy bay cất cánh được. Nếu máy bay cất cánh, hậu quả sẽ khôn lường


Chỉ hai ngày trước khi bước sang tuổi 23, bi kịch đã ập đến với cô gái trẻ.

Neerja (ngoài cùng bên phải) cùng phi hành đoàn của chuyến bay Pan Am 73.

Nhưng điều đó cũng có nghĩa là trên máy bay hiện tại chỉ còn đoàn tiếp viên và hành khách. Vào đúng ngày định mệnh ấy, tiếp viên trưởng bị bệnh, xin nghỉ nên Neerjia trở thành người chịu trách nhiệm cao nhất ở đây và phải đối mặt trực tiếp với những tên khủng bố.

Những tên khủng bố yêu cầu Neerja đi thu hộ chiếu của tất cả hành khách trên chuyến bay nhằm xác minh xem ai là người Mỹ để gây áp lực với chính quyền Mỹ. Neerja ngay lập tức nhận ra mục đích của những tên khủng bố, vì vậy cô đã cùng với phi hành đoàn giấu 41 hộ chiếu của 41 người Mỹ dưới ghế, không để chúng phát hiện ra. Kết quả, trong số 41 người chỉ có 2 người bị thiệt mạng.

Trong suốt 17 tiếng bị những tên khủng bố tấn công, Neerja vẫn bình tĩnh, tiếp đồ ăn và thức uống cho hành khách trên máy bay. Cô vẫn mỉm cười và khuyến khích họ vượt qua sợ hãi. Cuối cùng máy bay hết nhiên liệu, cabin tối đen những tên khủng bố bắt đầu xả súng không chủ đích vào không trung.

Nhận thấy đây là cơ hội để cứu mọi người, Neerja đã can đảm mở một lối thoát hiểm để hành khách thoát ra khỏi máy bay một cách an toàn. Cô có thể thoát ra đầu tiên từ lối thoát hiểm ấy nhưng Neerja lại tiếp tục ở lại trên máy bay tử thần. Cô đã dùng thân mình để che đạn cho 3 đứa trẻ trên chuyến bay. Cô gái 22 tuổi bị bắn vào bụng, vai và ở cánh tay, máu chảy ướt đẫm cơ thể mảnh mai nhưng kiên cường của cô. Sau đó, nữ tiếp viên hàng không đã trút hơi thở cuối cùng khi được đưa lên xe cấp cứu còn 3 đứa trẻ thì đã bình an.

            Chân dung 4 tên khủng bố.

Tổng cộng có 22 người thiệt mạng trong đó có Neerja và 359 hành khách sống sót sau vụ khủng bố này. Vào ngày hôm đó, Neerja đã hứa với gia đình sẽ trở về nhà vào đúng ngày sinh nhật nhưng cha mẹ cô không bao giờ chờ được nhìn thấy con gái mình đón tuổi mới nữa. Khi gia đình cô biết về thông tin vụ khủng bố, phản ứng đầu tiên của họ là sốc, tức giận rồi thất vọng. Thời điểm đó, tất cả các cổng thông tin bị đóng lại, họ chỉ nhận được vài thông tin lẻ tẻ qua truyền hình.

Một vài ngày sau, gia đình Neerja mới được xác nhận tin dữ. Gia đình nữ tiếp viên hàng không đến sân bay để nhận thi thể của con gái rồi mang cô đi hỏa táng. Trong tang lễ của cô, họ cùng nhau hát vang bài hát mà cô yêu thích, rồi cùng nói: "Tạm biệt Neerja yêu dấu".

Cha cô chia sẻ Neerja là người rất có chính kiến và lý tưởng công lý. Quả thực vậy, cô đã cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình cho đến phút cuối của cuộc đời. Vào năm 1988, cả 4 tên khủng bố đều bị chính phủ Pakistan bắt và tuyên án tử hình, nhưng sau đó lại giảm nhẹ xuống tù chung thân. Điều này đã dấy lên một làn sóng phẫn nộ trong công chúng. Năm 2008, cả 4 tên này được chính phủ Pakistan thả tự do, FBI ngay lập tức phát lệnh truy nã chúng với tội danh khủng bố nhưng cho đến hiện tại vẫn chưa thể bắt giữ được.

Neerja được chính phủ Ấn Độ trao tặng huân chương anh hùng Ashok Chakra – Huân chương cấp cao nhất để ghi danh những anh hùng chiến đấu bảo vệ hòa bình của Ấn Độ. Neerja là người phụ nữ đầu tiên nhận được huy chương này. Hoa Kỳ và Pakistan cũng trao tặng cho Neerja những huy chương danh dự khác.

Neerja Bhanot: Nữ tiếp viên hàng không làm nên huyền thoại, đấu trí với 4 kẻ khủng bố, hy sinh thân mình cứu hơn 300 hành khách trên chuyến bay tử thần - Ảnh 8.

Mẹ của Neerja thay mặt con gái nhận huân chương Ashok Chakra của chính phủ.

Neerja Bhanot: Nữ tiếp viên hàng không làm nên huyền thoại, đấu trí với 4 kẻ khủng bố, hy sinh thân mình cứu hơn 300 hành khách trên chuyến bay tử thần - Ảnh 9.

Tem có hình ảnh và huân chương anh hùng của Neerja.

Năm 1987, mẹ của Neerja thay mặt cô nhận huân chương Ashok Chakra của chính phủ. Năm 2004, Bưu điện Ấn Độ đã phát hành tem có hình ảnh và huân chương anh hùng của cô để tưởng nhớ Neerja. Cha mẹ cô đã dành số tiền bảo hiểm và số tiền do hãng hàng không Pan Am Airline gửi tặng để tạo ra một quỹ từ thiện mang tên Neerja, đóng góp cho những người không may gặp tai nạn hoặc bất trắc trong quá trình bay và dùng để bảo vệ quyền lợi cho những người phụ nữ Ấn Độ, tổng cộng có 150,000 Rupee (khoảng 52 triệu đồng).

Theo thông tin từ One India, một trong ba đứa trẻ mà nữ tiếp viên hàng không quả cảm bảo vệ và cứu sống, đã trở thành cơ trưởng của một hãng hàng không lớn. Ông này nói rằng Neerja đã trở thành trụ cột tinh thần của ông và ông sống mỗi ngày cho cô ấy.

Cuộc đời của Neerja cũng là nguồn cảm hứng để bộ phim mang tên cô ra mắt vào năm 2016, do nữ diễn viên Bollywood Sonam Kapoor đóng vai chính. Cho đến tận bây giờ, câu chuyện về sự hy sinh cao cả của nữ tiếp viên Neerja vẫn khiến nhiều người xúc động và vô cùng cảm phục người con gái mảnh mai nhưng có một tinh thần thép, không hề tỏ ra run sợ trước cái ác.

Neerja Bhanot: Nữ tiếp viên hàng không làm nên huyền thoại, đấu trí với 4 kẻ khủng bố, hy sinh thân mình cứu hơn 300 hành khách trên chuyến bay tử thần - Ảnh 10.

      Poster phim về câu chuyện quả cảm của Neerja.

Nguồn: Tổng hợp

Kênh 14