Tại D5/171 ấp 11, xã Tân Nhựt, Bình Chánh.
Những Người Bạn Sư Phạm Saigon
20 thg 3, 2025
CHỦ NHẬT XANH 16/03/2025 Đặng Việt Lợi
"SƠN TÂY TỨ QUÝ" - Nguyễn Xuân Diện
Sơn Tây tứ quý
Nguyễn Xuân Diện
Trong số bạn bè của tôi, có một tay rất sành sỏi trong sự ẩm thực, có nhiều dịp được thưởng thức của ngon vật lạ khắp nơi. Riêng đất Hà Tây, anh khoe đã đến bánh dầy Quán Gánh, rượu làng Chuôn, bánh tẻ Cầu Liêu, chè lam làng Thạch, thịt chó - cháo vịt Vân Đình... Tôi phải công nhận đấy là những đồ ăn thức uống ngon.
Nhưng ngon chưa hẳn đã là quý. Chưa có món nào trong “ranh mục” của anh là quý hiếm đã từng được đem tiến vua cả. Ấy vậy Sơn Tây quê tôi có 4 món tiến vua: Dân gian vẫn thường gọi là “Tứ quý”. Đó là:
Sài Sơn chi biển bức
Cấn Xá chi lý ngư
Khánh Hiệp chi kỳ bành
Linh Chiểu chi úng thái
(Dơi mặt ngựa Sài Sơn,
Cá chépvàng Cấn Xá,
Cua kềnh Khánh Hiệp,
Rau muống Linh Chiều).
Dơi, cua, cá, rau muống chỉ là những món tầm thường chốn dân gian, cớ sao gọi là quý được? Từ nhỏ tôi đã nghe các cụ kể về bốn thức đó, lớn lên lại đem phô cùng bạn bè. Thực tình tôi cũng chẳng biết nó thế nào. Tôi bèn rủ anh bạn “tốt bụng” của tôi làm một chuyến du khảo tìm về những nơi sản ra bốn thứ quý đó. Chúng tôi gọi đó là chuyến đi tìm về với cội nguồn văn hóa dân tộc. Chứ sao, Ai bảo chuyện ăn uống của người xưa không phải là câu chuyện văn hóa?
.
Đây rồi Sài Sơn non xanh nước biếc. Ngồi lân la ở quán nước cô Tuyết dưới chân núi Thầy, bọn tôi túm ngay được một “ông văn hóa xã”. Việc đầu tiên là phải “điều trị” nhau vài chén rượu để cho chủ khách nóng mặt lên cái đã. Sau ba chén rượu, mặt đỏ như tô phẩm, tiếng thời đã méo như tiếng loa thùng đầu phố huyện, “ông văn hóa xã” cứ day đi day lại một câu rằng: Các vị chớ có mà coi thường con dơi ở đất này!
Loanh quanh thế nào, bọn tôi cũng đã có được một cặp dơi Sài Sơn “chính hiệu” trong tay. Một cái mặt ngựa gân guốc với đôi mắt chòng chọc nhìn bọn tôi rồi nghiêng ngó cái đầu như bảo rằng: Khách ở nơi nào lại? Trời? Béo núc! Cầm lún cả những ngón tay. Lông nó ngắn, màu tro bếp và mịn như lông chim vành khuyên. Thôi đúng là loại dơi được chép trong sách “Đại Nam nhất thống chí” rồi! Bạn tôi khư khư giữ lấy nó, cứ như là nó sắp vụt bay vào đám khói lam chiều mà về với thiên nhiên xứ này vậy. “Ông văn hóa xã” bảo dơi ở đây cũng có vài loại. Dơi mặt chuột là loại thường. Dơi đặc biệt chia làm hai hoại: Trung cách, ức màu vàng nhạt, Thượng cách, là bạch dơi (dơi trắng). Những con dơi mà chúng tồi có trong tay là Trung cách.Người ta đồn rằng lợn ốm chỉ một bữa cám có da, ruột dơi là khỏi hết. Người ta còn đồn rằng thịt dơi ngon đã đành, lại còn chữa được cả bách bệnh.
Đôi dơi của chúng tôi được “hóa kiếp”, đặt xuống đất một lúc (đáng lẽ phải “hạ thổ” thế những một đêm mới phải), cho nó tự sinh ra mỡ, rồi đem lột da. Một bà cụ đi qua xin ngay cái bộ da quý hóa ấy về cho con lợn ốm đã mấy ngày. Đôi dơi được rán lên, không cho gia vị, vậy mà thịt nó chẳng có mùi hôi cứ thơm nức mũi. Hoa thơm quả ngọt xứ này thấm vào da thịt chúng, chạy trong máu chúng để có mùi thơm dễ chịu này chăng? (Đây là loại dơi “sang”, chỉ ăn hoa quả chín chứ không thèm ăn muỗi như bọn dơi tầm thường khác).
Thịt dơi rán giòn được bày lên một cái đĩa sứ trắng muốt đã được phủ một làn rau xanh mát. Khi miếng thịt được đặt lên đầu lưỡi, thì lạ chưa cứ nức lên mùi hoa quả chín? Chả thế mà ông bạn tôi, một người rất nhiệt tình trong “cuộc sát sinh” này, đã bảo rằng không cần phải “gia” một tí “vị” nào sất. Đám tục khách trong quán nhìn bọn tôi với con mắt đầy ghen tỵ...
Bắt loại dơi này cũng chẳng dễ dàng gì. Và không phải lúc nào cũng bắt được, mà phải là trong những tháng đông - xuân rét đậm. Người đi săn dơi phải lên núi từ chập tối, lúc đàn dơi đi ăn, ngồi đợi trong hang đá, chịu khí đá buốt thấu xương cho sạch hơi người, đến canh ba canh tư căng lưới lên đón dơi đông hàng vạn con như những luồng khói xám ùa vào hang động.Con dơi có tên chữ là PHÚC, đồng âm với PHÚC là hạnh phúc, là may mắn, là tốt lành. Mới hay con dơi Sài Sơn mang đúng ý nghĩa của từ này. Bạn tôi bản: Ai có phúc lắm mới được ăn thịt dơi Sài Sơn đấy? “Ông văn hóa xã” bảo năm trước cụ Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ về thăm Sài Sơn, trong bữa tiệc đãi khách do Huyện ủy tổ chức, cũng mỗi người được một con dơi Sài Sơn “chính hiệu”. Ăn dơi Sài Sơn bên chùa Thiên Phúc (chùa Thầy) thì thật là thiên phúc: Phúc lộc giời cho. Sài Sơn thật đại phúc vì hàng năm được dâng lên vua một món, tưởng là tầm thường hóa ra lại là một món “Thời Trân” thượng hạng.
Từ biệt Sài Sơn sau khi đã vào thắp hương Đức Thánh Từ Đạo Hạnh, đọc vài đôi câu đối trong chùa Thiên Phúc và ngước trông núi chùa Thầy hùng vĩ, thầm cảm tạ trời đất đưa lại duyên lành, chúng tôi vội về Cấn Hữu (cũng thuộc huyện Quốc oai) để “khảo” về cá chép ngay.
.

Anh bạn tôi vốn là tay láu cá có hạng, bảo tôi dứt khoát phải vào ngày chợ Bung, là cái chợ to nhất Phủ Quốc đã vào chợ, xông ngay vào mấy chị hàng cá để khảo giá và xem cá mú ở đây thế nào mà dám liệt vào “Sơn Tây tứ quý” như thế. Chúng tôi thấy cũng chẳng có gì lạ cả.Hỏi thăm đường vào làng Cấn Xá Thượng, bọn tôi tìm đến nhà cụ Lê Hữu San, 75 tuổi, nhà nho cuối cùng của làng Cấn để hỏi cho ra nhẽ. Chúng tôi được cụ trò chuyện rất niềm nở. Cụ bảo: Xã này bây giờ là Cấn, nhưng ai đọc: “Cấn Hữu chi lý ngưu” là sai đấy các bác ạ phải đọc là “Cấn Xá chi lý ngư” mới đúng. Vì Cấn Xá Thượng và Cấn Xá Hạ mới sáp nhập với Hữu Quang thành ra Cấn Hữu thôi? Cụ còn cho biết làng Cấn, gần cả làng mang họ Cấn. À, thi ra Cấn Xá là cái làng được định danh bởi họ Cấn. Cấn Xá, nơi cư trú của họ Cấn, cũng giống như Nguyễn Xá, Đào Xá vậy.
Cụ san dẫn chúng tôi ra đầm Bung, một cái đầm rộng và sâu, trước đây gồm cả “tứ xã”. Cấn Xá là cái rốn của đầm Bung. Dân ở đây có câu “Nhà con một chớ đi đò đầm Bung” là vì thế. Người có công khai phá đầm Bung là một bà họ Cấn, mà trong văn khấn gợi là “Cấn tôn tỷ khảo”, nay còn được thờ ở Đền Nhà Nhà Bà. Đầm Bung rộng và sâu nên có nhiều cá chép lưu niên, có con nặng đến vài ký. Cụ San bảo đầm Bung có một loài cá chép đặc biệt, da vàng hộm, đuôi đỏ hồng, béo múp đầu, trông chẳng khác gì con cá trong tranh “Lý ngư vọng nguyệt”. Loài cá này thịt béo mà không ngấy, mềm mà không nát, thơm chứ không tanh. Mỗi năm dân làng Cấn có một ngày đi đánh cá đầm Bung. Ai được cá chép loại này đều nộp lại cho làng để hội đồng lý dịch tuyển chọn lấy những con to nhất, đẹp nhất đưa về kinh dâng vua. Nay loài cá này đã ít đi, nhưng thỉnh thoảng người ta vẫn gặp ở chợ Bung.
Cụ bà Dương Thị Nhiên bảo, mới năm ngoái thời cụ đi chợ Bung còn gặp được con cá chép như thế. Con cá có chiều ngang bằng quyển vở học trò, da vàng hộm, miệng còn ngoáp ngoáp. Cái đầu nó nhỏ thôi, béo múp lại, trơn nhẫy; hai cái râu ngắn ngắn bên miệng trông thật xinh. Vây cá đều đặn xếp chồng lên nhau tang lớp. Đuôi cá xòe ra, vẫy vẫy Mắt cá trố lên nhìn mọi người. Ấy thế mà dân chợ chỉ xúm lại xem chứ không ai dám mua về ăn. Họ bảo “Chim trời cá nước”, nhỡ “phạm” thì khốn, biết đâu họa phúc thế nào.
.
Đây là cái “kỳ” của con cá chép Cấn Xá. Chuyện con cua Khánh Hiệp còn “kỳ” hơn chăng?Thôn Khánh Hiệp (thuộc xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Tây) có một cái chợ. Chợ nằm trên một cái gò, gọi là gò Ma Khống. Xưa gò này nẩy ra một loài cua to bằng cái bát ăn cơm, da vàng xôm. Mỗi năm cua chi ra có một lần, mà oái oăm thay, nó ra vào một ngày bất kỳ trong năm. Ai thấy cua ra phải hô hoán để mọi người cùng bắt. Ai bắt được, nộp ngay cho lý trưởng để giống dâng vua. Ngày cua bò ra, chợ Hiệp như một ngày hội huyên náo.Vào một năm nọ, đã lâu lắm rồi, cua bò ra, vết chân cua in xuống nền đất sỏi như những mũi dùi sắt chọc vào đất. Người ta đã bắt được vài con. Vô phúc thế nào, ai đó đã Làm gãy chân của một con cua. Lý trưởng sợ xanh mắt. Hội đồng lý dịch gồm đủ mọi quan viên lớn bé ra công khảo xét, cố công tìm cho ra kẻ làm gãy chân con cua quý để phạt tội. Thủ phạm không tìm được, đành chịu. Dân làng bí mật làm thịt con cua gãy chân đó. Người ta làm một bữa canh cua trong cái nồi đồng tám. Bữa đó dân làng được nếm một bữa canh cua mà trong đời mỗi người không có cơ may được nếm thêm một lần não nữa. Cũng may, lần đó không có ai tố giác chuyện đó với quan trên.
À ra thế. Thế mới gọi là quý chứ! Quý vì ngon và lạ. Ở đồng Thùi (xã Đồng Quang, Quốc Oai) có một loài cua ngon nổi tiếng, nổi tiếng đến nỗi:
Lòng em cũng muốn lấy vua
Nhưng em còn tiếc con cua đồng Thùi
(Ca dao Quốc Oai)
Nhưng lạ và hiếm thì đâu dám sánh với cua Khánh Hiệp.
Khác với dơi Sài Sơn, cá chép Cấn Xá, cua KhánhHiệp là những loài được tạo nên bởi trời đất; rau muống Linh Chiều là một sản phẩm của con người. Linh Chiều thuộc “vành đai rau xanh” của Sơn Tây. Rau muống Linh Chiểu (huyện Phúc Thọ), Sen Chiều hay Tiền Huân thì cũng chẳng khác gì nhau cả; cũng thân mềm, xanh mướt, rễ trắng và hơn đứt thứ rau muống Trung Quốc dễ mềm nát, bở và nhão. Vậy đâu là cái thứ “Rau muống tiến vua” đây? Các cụ già làng Linh cho biết rau tiến vua là thứ rau muống của làng Linh Chiểu, nhưng được mọc mầm trong một con ốc. Người ta bắt ốc về, làm cho chết đi rồi cấy mầm rau vào đấy Cái mầm rau xanh màu cốm ấy sẽ lớn lên nhờ chất béo của con ốc. Khi rau đã tầy một gang tay, người ta đem cả cái con ốc - rau ấy lên kinh dâng vua. Chúng tôi cùng “à” lên một tràng. Một kiểu gieo trồng độc đáo, kỳ lạ; đến nỗi dân cả vùng ấy cũng chẳng làng nào nghĩ ra được. Nó quý vì nó không sống bằng đất mà nhờ vào xác một con ốc đã từng ăn rêu xanh, bùn đất xứ này. “Thiên nhiên” đến thế là cùng?
Từ Linh Chiểu ra về, trong bảng làng hoàng hôn xứ Đoài bạn tôi phấn chấn bảo với tôi rằng: “Sơn Tây tứ quý” quả là “danh bất hư truyền”; thỉnh thoảng ông lại cho tôi về chơi nhé? Chứ sao!
.
1995
19 thg 3, 2025
MỘT THỜI KỶ NIỆM - Pham Bắc - SPSG K.13
MỘT THỜI KỶ NIỆM
Tháng 11, ở miền Nam chỉ còn vài cơn mưa rải rác. Nắng đôi lúc đã có một chút gì hanh hao. Gió thỉnh thoảng vương một chút hơi lạnh của những cơn gió mùa đông bắc đến sớm, chợt đến rồi chợt đi. Thời tiết đó làm mình nhớ đến thuở đầu đời khi vừa từ giã tuổi thư sinh, từ giã ngôi trường Sư phạm Saigon. Vậy mà đã 47 năm rồi. Thời gian trôi qua mau quá! Những ngày xưa ấy, có lúc mình ngỡ như vừa mới hôm qua, nhưng có khi mình tưởng như là chuyện xa xôi mông lung nào đó không có trên cuộc đời này. Rồi mỗi khi nghe gió lùa lành lạnh trên làn da, lòng mình lại quay quắt nhớ về những kỷ niệm xưa. Dưới đây là những bài viết mình đã đăng trên trang Facebook của mình năm trước để nhớ lại những ngày đầu tiên mình và bạn bè đặt chân đến vùng đất Đức Linh thân yêu này. Nay mình biên tập lại theo thứ tự thời gian để các bạn có thể liên tưởng lại những khoảng thời gian ở Đức Linh của chúng mình.
RA ĐI
Ngày thứ bảy 08/11/1975, mình đến trường Sư phạm Saigon nhận quyết định đi dạy học tại tỉnh Bình Tuy (bây giờ thuộc Bình Thuận). Sau khi nhận quyết định, mình đạp xe về nhà cách trường gần 20 km. Trên đường về, mình cứ suy nghĩ miên man, vừa muốn xa nhà, trải nghiệm cuộc sống tự lập, khám phá những vùng đất mới, vừa day dứt vì thương gia đình có bà nội, bố mẹ và các em nhỏ đang khó khăn vất vả. Sau khi biết mình đi xa, mẹ mình đã bỏ hết thời gian hơn một ngày còn lại để chuẩn bị cho mình từng cái quần, cái áo, vật dụng cần thiết để mình mang theo.
Sáng sớm ngày thứ hai 10/11/1975, mình có mặt tại trường SPSG để lên xe đi Bình Tuy. Bố mình vừa mổ răng hàm, một bên mặt sưng to hẳn lên nhưng cũng chở mình đến trường bằng chiếc xe máy cũ. Mình chào từ biệt ông rồi vào trường, ông vẫn dựng xe trước cổng trường, cái dáng lom khom làm mình xúc động, rồi mình cũng không biết ông về lúc nào vì quá đông. Những giáo sinh ra Bình Tuy gồm các bạn các lớp Nhất 4, Nhất 5, Nhất 6 và các bạn nữ ban Mẫu giáo. Lớp Nhất 6 của mình có mình và 11 bạn là Ngọc, Lan Hương, Lệ Chi, Trang, Triệu, Thắng, Tuấn, Mỹ, Hùng, Đức Hạnh và Hoạch, (sau này còn bạn Ngọc Thu ở Biên Hoà ra đợt sau). Tổng số người ra Bình Tuy là 68 người, đi trên một xe lớn và một xe nhỏ. Các bạn đi các tỉnh khác cũng có xe đến trường đón. Trước giờ lên xe, sân trường rất đông người, vừa là người đi, vừa là người tiễn, tiếng nói, tiếng cười lẫn tiếng khóc nghẹn ngào tạo nên một khung cảnh không thể nào quên được. Các tân giáo viên tuổi vừa đôi mươi có lẽ là lần đầu xa nhà, mỗi người mang một tâm trạng khác nhau, nhưng trong giờ phút đó ai cũng rưng rưng, bồi hồi trước một cuộc chia tay lịch sử. Bạn bè cùng lớp nhưng có người đi lên vùng Nam Trung bộ như mình, có người đi tới miền Đông Nam bộ, có người ở lại thành phố, có người về miền Tây sông nước, có người xuống tận đất mũi Cà Mau. Hồi đó ai cũng nghĩ rằng sẽ khó có dịp gặp lại nhau vì phương tiên liên lạc và giao thông không thuận lợi như bây giờ. Buồn nhất là những bạn đã có tình cảm với nhau nhưng mỗi người mỗi nơi. Có một số bạn ra đi mà chưa biết người thương của mình đi đâu vì người đó chưa được xếp nhiệm sở. Đến giờ lên đường, bạn bè từ giã nhau, từ giã người thân trong nước mắt, những bàn tay nắm chặt, những vòng tay ôm tiếc nuối, những câu nói nghẹn ngào. Rồi nén lại nỗi buồn, hơn một ngàn cánh chim bay đi khắp mọi miền đất nước, mang theo những kiến thức, những suy tư, những ước mơ của tuổi trẻ để vun đắp cho những thế hệ mai sau. Ngồi trên xe, nhìn thấy thành phố thân yêu dần dần mờ khuất sau lưng, trong lòng mình dậy lên một cảm xúc khó tả.
Nhưng rồi cảnh vật xa lạ hai bên đường từ từ khơi lên trong lòng mình một sự tò mò khám phá. Càng xa thành phố tầm nhìn càng mở rộng, đất trời mênh mang làm cho lòng càng háo hức. Xe dừng bánh tạm nghỉ trên đỉnh đèo Mẹ bồng con. Bước xuống xe, nhìn cảnh vật xung quanh thật hùng vĩ mà lòng lâng lâng. Khi qua ngã ba Ông Đồn, mình ngỡ ngàng khi nhìn thấy những rặng núi xa xa, những vùng đất bao la tới tận chân trời, những cảnh vật xa lạ, những hình ảnh mà ở thành phố mình chưa từng nhìn thấy. Gần trưa, xe đến thị xã La Gi, huyện Hàm Tân, trung tâm của tỉnh Bình Tuy. Xe dừng trước Ty Giáo Dục, mọi người xuống xe. Cảm nhận ban đầu là ở đây rất vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt, khác xa thành phố. Sau khi vào chỗ ở tạm, cất hành lý, bọn mình ra phía trước cổng Ty Giáo Dục xem xét tình hình rồi thuê một chiếc xe lam ra bãi biển chơi. Biết bọn mình là giáo viên mới ra trường, những người dân quanh đó cho biết là ai may mắn sẽ được ở lại huyện Hàm Tân, còn ai phải đi huyện miền núi Đức Linh thì chắc chắn sẽ bị sốt rét. Mình thì lại thầm mong được đi Đức Linh vì rất thích cảnh núi rừng bao la hùng vĩ.
Sáng hôm sau, thứ ba 11/11/1975, trong buổi họp để phân công, kết quả là các bạn Nhất 4 ở lại Hàm Tân, các bạn Nhất 5, Nhất 6 và 5 bạn nữ ban Mẫu giáo về Đức Linh. Mình còn nhớ 5 bạn ban Mẫu giáo là Thanh, Công, Minh Thu, Quý Anh và Thoại Anh. Đêm hôm đó về chỗ ngủ, không ai có thể ngủ được vì những suy nghĩ về cuộc sống bắt đầu từ hôm sau. Một anh bạn lớp mình nói với mình ngày mai anh ấy sẽ bỏ về Saigon, vì anh ấy có người yêu ở lớp khác chưa biết đi đâu. Mình bảo đã ra tới đây thì cứ đi tới Đức Linh cho biết, rồi muốn về thì về. Thế là anh ấy đồng ý ngày mai sẽ đi Đức Linh. Còn chuyến hành trình về Đức Linh thế nào thì lúc nào rảnh mình sẽ đăng tiếp.
12/11/1975, NGÀY ĐẦU TIÊN Ở ĐỨC LINH
Sáng hôm sau, ngày thứ tư 12/11/1975, nhóm ra đi mang theo hành lý, từ giã nhóm ở lại để lên xe về Đức Linh, nơi mà chưa ai hình dung được ở đâu, như thế nào. Từ Ty giáo dục đi trở ra tới ngã ba Hàm Tân, xe quẹo trái đi một lúc lâu lại thấy trở về địa giới của Long Khánh. Mình thấy xe như đang quay về hướng thành phố Saigon. Mình nói giỡn với các bạn hình như họ trả mình về lại Saigon thì phải. Ai cũng thắc mắc nhưng không tiện hỏi ai. Đến khi tới ngã ba Ông Đồn thì xe quẹo phải về hướng bắc. Từ đó, cảnh vật hai bên đường khác dần, đường vẫn là đường nhựa nhưng hẹp hơn, cây cối hai bên nhiều hơn, nhà cửa thì thưa thớt. Một chỗ bên phải đường, có một quả đồi trồng toàn là chuối. Đi khoảng hơn 10km thì đến cầu Gia Huynh, ranh giới giữa Long Khánh và Bình Tuy. Vậy là từ La Gi không có đường về thẳng Đức Linh nên phải trở về ngã ba Ông Đồn rồi đi ngược lên Đức Linh. Từ chỗ này đường chỉ là đường đất và đường rất xấu, nhiều ổ gà nên xe đi chậm. Xe phải chật vật đi qua nhiều cây cầu chênh vênh bắc qua những con suối nhỏ, ngồi trên xe ai không quen đều cảm thấy sợ. Có một cây cầu mà người ta gọi là cầu “nín thở” vì nó chỉ là hai thân cây to đặt song song qua suối, vừa đủ chỗ cho hai bánh xe ô tô lăn qua. Đất ở đây là đất đỏ, đường bụi mờ mờ phía sau xe. Xa xa ở hướng trước mặt là những dãy núi xanh xanh ngày càng rõ dần. Hai bên đường là những cánh rừng xen lẫn những vạt nương rẫy và những căn nhà lá đơn sơ. Bên phải, thỉnh thoảng là những dải núi đá trên có cây mọc lưa thưa. Ở lưng chừng một ngọn núi, có một bức tượng một người cỡi ngựa, cả người và ngựa đều bị mất đầu trông rất kỳ dị. Cảnh vật nhìn chung hoang sơ vắng vẻ nhưng không hiểu sao mình lại thấy có cái gì thú vị.
Rồi đến một nơi gọi là thị trấn Võ Đắt, trung tâm hành chính của huyện Đức Linh (hồi đó Đức Linh gồm cả Tánh Linh bây giờ). Xe dừng lại cho mọi người ghé vào một quán cơm bên đường ăn trưa. Thị trấn này vẫn chưa hết dấu tích của chiến tranh. Nhiều căn nhà bị bom đạn đổ nát chưa được dọn dẹp. Quán mà cả nhóm đang ngồi ăn cơm cũng chỉ là một căn nhà không vách, mái lợp lá buông đơn sơ. Trên nét mặt nhiều người dân nơi đây còn hằn lên những nét ưu tư. Có lẽ cuộc sống nơi đây còn nhiều khó khăn sau một cuộc chiến tranh khốc liệt, đau thương mất mát.
Nghỉ ngơi một lát, xe lại tiếp tục đi đến phòng giáo dục của huyện đặt tại xã Nam Chính cách Võ Đắt khoảng 4km. Vừa xuống xe, mọi người thấy có hai người khiêng một chiếc võng bằng một khúc cây tre dài. Trên chiếc võng có một người nằm, khuôn mặt xanh mét, mắt nhắm nghiền. Hỏi ra thì biết người đó bị sốt rét, được khiêng đi trạm y tế. Đúng là một màn hù doạ phủ đầu cho những con người mới đến vùng đất này. Nhiều bạn đến giờ vẫn nhớ hình ảnh ám ảnh này trong đầu.
Phòng giáo dục là một căn nhà rộng, mái tranh, vách bằng tre. Anh trưởng phòng tên Nam Hải, còn khá trẻ, mặc bộ quần áo xanh bộ đội, chân đi dép râu tươi cười ra đón, gọi chúng mình là các “đồng chí” nghe thật lạ tai. Đặc biệt anh trưởng phòng này có đôi bàn chân rất to, có thể nói là quá khổ. Buổi chiều hôm đó, phòng giáo dục đã họp và đưa quyết định phân công cho từng người về các trường ở các xã trong huyện. Nghe thông tin thì huyện Đức Linh gồm hai khu vực : các xã phía bắc sông La Ngà gọi là bắc sông, phía nam gọi là nam sông và phía bắc sông thì rừng thiêng nước độc hơn. Lớp Nhất 6 mình có hai bạn qua bắc sông là Đức Hạnh đến Mépu và Hoạch đi Sùng Nhơn. Bên nam sông thì có mình và Trang qua Gia An, các bạn còn lại thì về thị trấn Võ Đắt. Các bạn ở lớp Nhất 5 thì mình không nhớ rõ. Năm bạn ban mẫu giáo thì ở lại làm việc tại phòng giáo dục. Vì lúc đó đã là chiều muộn nên tất cả phải ở lại để hôm sau mới đi về các nơi.
Tối hôm đó, tụi mình ở tạm trong một cái lán trại của các anh du kích xã. Lán là một dãy nhà mái tranh mà không có vách. Bên trong có mấy chiếc bàn gỗ dài, kê sát nhau rồi trải chiếu lên. Đêm hôm đó các bạn ngồi quây quần trên chiếu dưới ánh sáng leo lét tứ những chiếc đèn bão, đèn khí đá treo trên cột. Nhóm thì chuyện trò, nhóm thì đàn hát. Bạn Hoạch mang theo cây guitar chơi rất hăng. Càng về khuya, từng cơn gió núi lùa về lạnh buốt. Tiếng đàn hát, tiếng nói chuyện im dần, không gian chìm vào một sự vắng lặng cô liêu đến nao lòng. Đôi lúc có những âm thanh lạ lẫm của núi rừng mà không ai biết là gì. Nhiều bạn đã bắt đầu thấm thía cái nỗi nhớ nhà. Thỉnh thoảng có tiếng khóc thút thít đâu đó. Tất cả nằm im nhưng chắc không ai ngủ được. Đó là cái đêm đầu tiên ở Đức Linh, và có lẽ là cái đêm không thể nào quên được trong cuộc đời. Còn những ngày sau đó thì mỗi người mỗi nơi, có người ở lại hai, ba năm, có người năm, bảy năm, có người nhận nơi này làm quê hương. Mỗi người đều có những kỷ niệm riêng ở vùng đất thân thương này, và đó là những kỷ niệm không thể nào quên được.
BA NĂM Ở GIA AN
Sáng sớm thứ năm ngày 13/11/1975, các bạn về Võ Đắt thì được một chiếc xe của huyện đội cho đi nhờ về Võ Đắt, còn mình và bạn Trang chờ xe về Gia An. Khoảng hơn 10 giờ sáng, một anh du kích chỉ một chiếc xe từ xa đang đi đến, nói là xe đó sẽ về Gia An. Khi xe dừng, mình không nghĩ đó là xe chở khách vì nó giống như xe chở hàng. Trên xe đã đông người, chỉ còn một chỗ có thể ngồi trong xe. Mình nhường bạn Trang ngồi trong xe, còn mình bám phía sau xe, đứng trên chỗ bậc lên xuống. Đoạn đường từ đó về Gia An khoảng 15 km, toàn đường đất, rất nhiều ổ gà lớn nhỏ, hai bên đường hầu hết là rừng rậm. Xe chầm chậm lắc lư trên đường, nhiều lúc như nghiêng hẳn về một bên. Mình đứng phía sau có lúc tưởng rớt xuống đường, thật là một trải nghiệm thú vị! Gần đến nơi, xe đi qua một chiếc cầu sắt màu đỏ gọi là cầu Loăng Quăng. Qua cầu thì hai bên đường là đầm lầy, ruộng lúa rồi đến đầu xã Gia An bắt đầu là thôn 1. Hai bên toàn cây ăn trái như xoài, mít, vú sữa. Đi hết thôn 1 khoảng gần 1km là đến thôn 2, xe dừng ngay trước cổng ủy ban xã. Xuống xe, lơ xe là bà vợ ông tài xế không hiểu vì sao biết mình là giáo viên mới ra trường, gọi mình bằng thày làm mình vừa ngỡ ngàng vừa ngại ngùng. Bà ấy chỉ đường cho mình đến trường cấp một Gia An cách đó khoảng hai trăm mét. Mình và Trang đi bộ đến trường khoảng 12 giờ trưa. Trước sân trường là một cây cám rất to, che mát cả góc sân. Dưới bóng cây, có vài người dân đang ngồi nghỉ ăn cơm trưa. Mình đến chào và hỏi thăm thì có một bác chỉ tay vào trong trường và nói ông hiệu trưởng đang ở trong đó. Trường là một dãy nhà cũ kỹ tường gạch, mái tôn có 3 phòng, phòng đầu là văn phòng. Mình đến văn phòng nhìn vào thì không thấy ai, đi suốt dãy phòng học cũng chẳng thấy ai. Quay lại văn phòng thì mình nghe có tiếng đàn guitar vọng lên từ phía sau. Mình đẩy cửa vào thì thấy có một cửa thông ra phía sau. Mình đi ra sau thì thấy có một căn phòng nhỏ, bước vào thì thấy có hai anh, một anh cởi trần nằm trên võng, một anh ôm đàn ngồi trên giường. Mình chào và tự giới thiệu là giáo viên sư phạm Saigon đến nhận công tác. Anh cởi trần mặc áo vào rồi cả hai anh dẫn mình và Trang lên văn phòng nói chuyện. Khi mình hỏi hiệu trưởng ở đâu thì anh cởi trần lúc nãy cười và nói anh ấy là hiệu trưởng. Mình ngạc nhiên vì trong đầu cứ nghĩ hiệu trưởng phải là người lớn tuổi chứ đâu phải người mới 25 tuổi như anh ấy. Sau đó anh ấy dẫn mình và Trang đến nhà người quen, gửi Trang ở đó, còn mình về trường ở chung với hai anh ấy. Anh hiệu trưởng là Vũ Khắc Long, học sư phạm Saigon khoá 8, trước mình 5 khoá, quê Saigon, là hiệu trưởng ở đó từ 1971, anh ấy rất tốt và có tính khôi hài, nổi tiếng cả tỉnh Thuận Hải hồi đó. Anh kia là Đoàn Văn Thuận, người Phan Thiết, học khoá 3 Sư phạm Phước Tuy, ra trường năm 1974, là một tay đàn guitar classic điêu luyện. Một tuần sau lại có thêm Lê Văn Hùng và Hứa Trường Xuân quê Đồng Nai, cùng khoá mình ra bổ sung. Từ đó, suốt 3 năm, chúng mình 5 anh em ở chung, thân thiết hoà đồng với nhau và đến bây giờ vẫn liên lạc và thỉnh thoảng gặp gỡ nhau.
Từ đó mình bắt đầu cuộc đời giáo viên ở đó trong 3 năm học. Mặc dù cuộc sống thiếu thốn những mình đã có những trải nghiệm tuyệt vời ở đó. Gia An là một xã nằm sát bờ phía nam của dòng sông La Ngà, cảnh vật đẹp tuyệt vời với rừng núi, sông nước, đầm hồ, ruộng lúa mênh mông. Mình đã có những buổi vào rừng đốn củi, tìm lan, hái trái rừng; những ngày bơi thuyền ra sông La Ngà, bàu Sấu, biển Lạc câu cá. Một trải nghiệm đáng nhớ nữa là những lần một mình đi bộ vào lúc đêm khuya trên đoạn đường từ Võ Đắt, Võ Xu, Gia An với những cảm giác đặc biệt. Và trân trọng nhất là tấm lòng quý mến của các em học sinh và những người dân thật thà chất phác nơi đây.
NHỮNG NĂM THÁNG Ở HUY KHIÊM
Sau ba năm học ở Gia An, đầu năm học 1978-1979 mình được điều qua trường cấp 1+2 Huy Khiêm bên bắc sông. Biết mình đi, bạn bè và học sinh ai cũng lo cho mình. Anh Long nói anh sẽ lên phòng giáo dục xin mình ở lại. Có em học sinh khóc và nói thày đừng qua đó, sốt rét chết thày ơi. Nhưng vì máu phiêu lưu, mình quyết định đi. Mình rất xúc động khi các em học sinh tặng mình những món quà nho nhỏ nhưng với tấm lòng lo lắng và đầy sự thương mến. Có em tặng mình một bịch chừng nửa kg gạo nếp và ba quả trứng gà, có em tặng mình một bịch cá khô, có em tặng một bịch đậu phộng… Ngày đi qua Huy Khiêm, vì đường xấu, không có xe nên mình khoác ba lô, mang theo cây đàn guitar đi bộ. Đi được hơn 10km thì mình đến Tánh Linh, may sao đang đi thì có một chiếc xe máy cày đang trên đường đến Bắc Ruộng có đi ngang qua Huy Khiêm. Trên rơ móoc sau xe có bạn Quý Anh cùng khoá mình đang công tác mẫu giáo ở phòng giáo dục. Bạn Quý Anh kêu xe ngừng lại đón mình, nếu không thì phải đi bộ thêm 15 km nữa mới đến Huy Khiêm.
Trường cấp 1+2 Huy Khiêm lúc đó là hai dãy nhà mái tranh, vách bằng tre tiếp nối nhau. Hai đầu là hai dãy phòng vuông góc với dãy phòng học, một bên là văn phòng, một bên là nhà ở của giáo viên. Sân trường thì một bên trồng me tây đã cao lớn, một bên là những cây phượng mới trồng, cao hơn đầu người. Mình vào trường thì gặp bạn Quách Thanh Xuyên cùng khoá mình đang là hiệu phó ở đó. Xuyên hỏi mình đi đâu, mình trả lời đến dạy ở đây. Xuyên không tin, tưởng mình đùa, mình đưa quyết định cho Xuyên xem, Xuyên mừng quá vì có thêm bạn bè, thêm chiến hữu ở nơi hiu quạnh, khó khăn này. Khi mình đến Huy Khiêm, đất nước vừa trải qua một giai đoạn lụt lội, mất mùa, gạo không có nhiều. Mỗi tháng mỗi giáo viên chỉ có 3 kg gạo, chúng mình có những ngày chỉ ăn rau muống hái ở các hố bom ngập nước quanh trường. Sau đó nhờ có lúa mì của Liên Xô viện trợ (lúc đó hay gọi là bo bo) mà có cái để dằn bụng. Anh hiệu trưởng lúc đó là anh Hiệp, kêu gọi giáo viên tự túc lương thực bằng cách trồng cao lương, khoai lang và đặc biệt là trồng lúa nước. Trường có nhiều đất phía sau, lại có một lạch nước từ trên núi chảy qua. Chúng mình liền cải tạo thành một ruộng lúa nước. Anh Hiệp xuất thân từ trường nông lâm súc ra nên rất rành kỹ thuật trồng lúa. Anh hướng dẫn cho giáo viên gieo mạ, cấy giống IR5 và năm đó trúng mùa, thu được nhiều lúa, khoai, cao lương. Mình và anh Hiệp còn làm được một vườn rau, trồng đủ các loại rau, cả trường ăn không hết. Anh Tuấn ở Phòng GD đến thăm thấy vườn rau thì thích lắm. Ở Huy Khiêm còn có thú mùa mưa đi bắt ếch, ếch ở Huy Khiêm to và nhiều lắm, tối đến đi quanh trường cũng bắt được nhiều, muốn ếch to và nhiều hơn thì vào rừng ngay sau trường. Mùa khô thì có thú đi săn trong rừng, săn về anh em nhậu cả đêm.
Ở Huy Khiêm mùa mưa không có xe khách chạy qua, có những lần về Võ Đắt họp phải đi bộ trên khoảng đường hơn 40km từ sáng sớm đến tối mịt mới tới. Huy Khiêm rất vắng vẻ và hoang sơ, xung quanh toàn núi rừng bao la mịt mùng nhưng những đêm trăng thì đẹp tuyệt vời. Những buổi tối trăng sáng mình hay đi bộ dưới trăng cùng người bạn đến Tàpao cách đó 4km rồi quay về. Một kỷ niệm đáng nhớ ở Huy Khiêm là hè 78-79, sau khi cấy lúa xong, mình tình nguyện một mình ở lại trường để chăm sóc lúa. Hơn một tháng trời, mình ở trường một mình. Ban ngày còn có các em học sinh đến trực vệ sinh trường, nhưng ban đêm chỉ mỗi một mình với bảy căn phòng tập thể âm u, mình ở phòng đầu tiên. Có đêm giật mình thức dậy, xung quanh tối mịt, những âm thanh kỳ dị trong màn đêm cho một cảm giác rờn rợn. Rồi một lần đang ngủ thì nước lũ tràn về, dâng tới mép giường. Mình trèo lên đầu tủ ngồi chờ đến gần sáng nước mới rút. Nhưng đối với mình, đó là những trải nghiệm thật thú vị.
Nói chung, cuộc sống ở Huy Khiêm thiếu thốn và vất vả hơn ở Gia An nhiều, nhưng có nhiều kỷ niệm khó quên.
A ĐỨC HẠNH, HAI NĂM CUỐI CÙNG Ở ĐỨC LINH
Đầu học kỳ 2 năm học 1979-1980, đang ở Huy Khiêm, mình nhận được lệnh điều về Võ Đắt phụ trách lớp bồi dưỡng toán lớp 5 của huyện. Mình được biên chế vào danh sách giáo viên của trường A Đức Hạnh và ở chung phòng với anh bạn cùng khóa tên Cao Văn Bắc phụ trách lớp văn 5. Suốt học kỳ đó, mình chỉ dạy bồi dưỡng, không tham gia giảng dạy ở trường. Cứ mỗi sáng sớm, mình và Cao Văn Bắc đi bộ từ trường ra phố chợ khoảng 1km, vào quán cà phê của chị Yến gần cổng nhà thờ Võ Đắt. Mỗi người uống 1 ly cà phê kho, hút hai điếu Bastos rồi về trường ăn vài củ khoai lang hoặc khoai mì rồi lên lớp.
Năm học 1980 – 1981, anh Cao Văn Bắc về Đồng Nai, anh Sơn và các cô cấp 2 quê Thái Bình, các cô cấp 1 quê Hà Tĩnh ra trường đến trường nhận công tác. Cô Tôn Nữ Mai Phương, cô Lương Thị Hường từ Tánh Linh, anh Trần Ngọc Minh từ Đồi Giang chuyển về. Lúc ấy anh Phúc là hiệu trưởng. Trường đông vui hẳn lên, giáo viên ở tập thể, chia nhau chẻ củi nấu cơm, mình và anh Minh ở chung phòng và cùng nhóm ăn cơm chung với hai cô Phương và Hường. Lớp bồi dưỡng chỉ có hơn 10 em, công việc không nhiều, thì giờ rảnh rỗi nên đầu năm học 1980-1981 trường đề nghị mình nhận thêm một lớp cấp một vì giáo viên thiếu nhiều. Năm học đó, buổi chiều mình dạy một lớp 4, buổi sáng thì mình dạy lớp bồi dưỡng chung với anh Phan Minh Châu cùng khóa quê Đồng Nai. Mỗi tuần mình chỉ dạy 3 buổi sáng, nên mình thường dạy các tiết cấp 2 thiếu giáo viên. Những buổi tối trời mưa, mình và anh Minh, cô Phương, cô Hường hay kiếm khoai lang, khoai mì nấu ăn vui lắm.
Đến đầu năm học 1981-1982 thì anh Đinh Xuân Thủy làm hiệu trưởng thay anh Phúc về Vũng Tàu. Anh Minh, cô Phương, cô Hường về Phan Thiết, Đào Văn Ngay và Phượng từ CĐSP Thuận Hải được điều về trường. Ngay ở chung phòng với mình và cùng nhóm ăn cơm chung với mình và Phượng. Cuộc sống tập thể của giáo viên trong trường hai năm đó rất vui vẻ hòa đồng, không phân biệt vùng miền, coi nhau như anh em thân thiết, thật là một thời gian đáng nhớ. Hết học kỳ 1 năm đó, mình được chuyển về Saigon và dự định ngày 27 Tểt sẽ về. Sáng sớm hôm 26 Tết, mình đưa Phượng ra xe về Phan Thiết ăn Tết. Phượng nói sau Tết trở lại đây không có mình thì buồn lắm, chắc Phượng không lên đây nữa đâu. Mình không biết trong lòng Phượng nghĩ gì, chỉ an ủi Phượng là cũng đến lúc phải giã từ, buồn rồi cũng qua thôi. Rồi Phượng lên xe, từ biệt mình bằng đôi mắt buồn vời vợi, mình cũng cảm thấy trong lòng bồi hồi luyến tiếc. Phượng nhỏ hơn mình 5 tuổi và thường chơi guitar chung với mình ở khu tập thể nên rất thân với mình. Có lẽ vì vậy nên Phượng thấy buồn khi mình không còn ở đó nữa. Từ đó đến giờ, mình chưa một lần gặp lại Phượng. Mãi gần đây mình mới biết Phượng đã lập gia đình và định cư ở Mỹ lâu rồi. Tối hôm đó, mình đến từng phòng từ giã các cô trong khu nhà tập thể. Sáng 27 Tết, mình dậy sớm, mang ba lô ra bến xe để về Saigon. Các cô đứng trước cổng trường, bùi ngùi tiễn mình, mình cũng thấy rưng rưng. Trên đường ra bến xe, nhìn những hình ảnh quen thuộc hai bên đường mà lòng đầy lưu luyến. Mình đến Đức Linh với một tâm hồn trai trẻ vô tư cùng hành trang là một va li đầy đồ đạc, còn khi rời Đức Linh chỉ có một ba lô gọn nhẹ nhưng cõi lòng nặng trĩu.
Trên đường về, ngồi phía sau xe, nhìn bóng những ngọn núi mờ dần phía chân trời, mình thấy trong hồn trào lên một cảm xúc không thể nào tả được. Mình biết là mình sắp sửa xa nơi mà mình đã gắn bó suốt 7 năm trời với biết bao nhiêu kỷ niệm… Thời gian qua mau quá, mình đã xa Đức Linh hơn 40 năm rồi đấy! Vậy mà mình ngỡ như vừa mới hôm qua…
Saigon 10/11/2022


TÂM TÌNH NGƯỜI Ở LAI -Hồi Ức GHIM HO (SPSG K.13 )
Mong rằng với thời gian, những tấm lòng người con đất Việt dù xa hay gần sẽ ngồi lại được với nhau để nói lời tình yêu, chia sẽ và xây dựng.
NGƯỜI GIÀ, AI NUÔI?
Mẹ tôi giờ đây lặng lẽ bên góc nhỏ, tỉ mẩn luồn từng sợi chỉ, đan từng mũi kim để tạo ra những chiếc khăn và món đồ chơi bán trên mạng. Mỗi sản phẩm chỉ mang về vài chục nghìn đồng, bà vẫn rất vui vì tìm thấy niềm an nhiên và ý nghĩa trong từng đường kim mũi chỉ. Còn ba tôi, đã ngoài 65 tuổi, vẫn miệt mài đến công trường, không phải vì cơm áo mà ở nhà quá lâu khiến ông thấy trống trải. Với ông, tiếng máy móc ồn ã, những bản vẽ kỹ thuật và nhịp sống công trình đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời. Dù đã qua tuổi lao động, cả ba và mẹ tôi vẫn chọn tiếp tục làm việc, không chỉ để lấp đầy thời gian mà còn để tìm lại chính mình trong những thói quen thân thuộc.
Có công việc phù hợp sau tuổi nghỉ hưu như ba mẹ tôi không phải là thực tế phổ biến. Đây chỉ là một góc nhỏ trong bức tranh lớn hơn.
Việt Nam đang già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm cao nhất thế giới. Dự báo của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho thấy, đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn xã hội già, khi người từ 60 tuổi trở lên chiếm 20% tổng dân số hoặc nhóm từ 65 tuổi trở lên chiếm 14%. Đến năm 2049, Việt Nam sẽ trở thành một xã hội siêu già, với tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên đạt 25% và nhóm từ 65 tuổi trở lên chiếm hơn 20% dân số.
Già hóa dân số không chỉ là xu hướng nhân khẩu học mà còn đặt ra thách thức lớn cho hưu trí, y tế và an sinh, đòi hỏi chính sách toàn diện để chăm sóc sức khỏe và tạo cơ hội việc làm phù hợp nhằm nâng cao đời sống cho người cao tuổi.
Để chăm sóc sức khỏe, không sớm thì muộn, Việt Nam vẫn phải dựa vào mô hình nhà dưỡng lão. Ở các nước phát triển, đây không chỉ là nơi trông coi, nuôi dưỡng mà còn tổ chức giao lưu, giải trí, giúp các cụ bớt cô đơn và giữ tinh thần lạc quan. Nếu phát triển hợp lý, nhà dưỡng lão có thể trở thành giải pháp hiệu quả, mang lại môi trường sống phù hợp mà không ảnh hưởng nhiều đến con cháu.
Nhưng thực trạng chăm sóc người lớn tuổi ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Phần lớn các cụ sống phụ thuộc vào con cháu. Quan niệm truyền thống khiến nhiều gia đình xem việc gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão là điều khó chấp nhận, bản thân các cụ cũng e ngại vì định kiến xã hội. Trong khi đó, dịch vụ hỗ trợ và nhà dưỡng lão chưa phổ biến.
Đến năm 2024, theo Tổng cục thống kê, Việt Nam chỉ có 32/63 tỉnh thành có cơ sở chăm sóc người lớn tuổi, với khoảng 400 nhà dưỡng lão (tính cả hệ thống tư nhân). Hệ thống y tế chưa đáp ứng đủ chăm sóc dài hạn, còn các hoạt động cộng đồng cho người lớn tuổi thường mang tính tự phát, thiếu sự đồng bộ và kế hoạch bền vững. Nếu không có chính sách hỗ trợ, chi phí chăm sóc sẽ trở thành gánh nặng cho cả gia đình lẫn xã hội.
Vậy làm thế nào để giải quyết vấn đề này? Theo tôi, cần phân nhóm người lớn tuổi để kết hợp với chương trình việc làm, đưa ra giải pháp phù hợp. Tôi tạm chia thành ba nhóm: nhóm sống cùng con cháu, nhóm neo đơn không nơi nương tựa và nhóm mất khả năng lao động do bệnh tật.
Với nhóm sống cùng con cháu, nhiều người sẽ cảm thấy cô đơn khi con cái đi làm, cháu nhỏ đi học. Việc đi lại khó khăn và hạn chế tiếp cận công nghệ càng khiến họ dễ buồn chán. Giải pháp là phát triển mô hình sản xuất sinh lợi tại chỗ, như trồng rau sạch, đan lát thủ công mỹ nghệ, khâu vá gia công hoặc bán hàng tạp hóa nhỏ. Những công việc này dễ triển khai, chi phí thấp, mang lại thu nhập tuy không cao nhưng giúp các cụ tìm thấy niềm vui và giữ đầu óc minh mẫn.
Với nhóm neo đơn, không nơi nương tựa, cần sự chung tay của Nhà nước và cộng đồng để xây dựng viện dưỡng lão giá rẻ, kết hợp mô hình sinh lợi như sản xuất nông sản hoặc hàng thủ công qua hợp tác xã địa phương. Điều này giúp các cụ có nguồn thu nhập ổn định và duy trì cuộc sống ý nghĩa. Thách thức nằm ở chi phí đầu tư và vận hành các mô hình này, đòi hỏi sự phối hợp tốt giữa khu vực công và tư nhân.
Nhóm yếu thế nhất là những người mất khả năng lao động do bệnh tật. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào trợ cấp xã hội hoặc làm các công việc bấp bênh như bán vé số, thậm chí ăn xin. Nhiều cụ đối mặt với thiếu thốn dinh dưỡng, điều kiện sống kém và không được chăm sóc y tế đầy đủ. Để hỗ trợ, cần mở rộng mạng lưới bảo trợ xã hội, đảm bảo họ có cuộc sống tối thiểu. Các chương trình tái hòa nhập, như tham gia công việc nhẹ nhàng - ví dụ gói hàng, phân loại sản phẩm - có thể cải thiện chất lượng sống và giảm tình trạng người già lang thang cơ nhỡ.
Để những giải pháp này thực sự hiệu quả, rất nhiều công việc cần được triển khai, từ thay đổi nhận thức xã hội, nâng cấp hạ tầng đến việc đảm bảo nguồn ngân sách bền vững. Nguồn lực Nhà nước bao giờ cũng hạn hẹp, nên sự chung tay của các doanh nghiệp tư nhân là yếu tố quyết định đến mức độ thành công của các chương trình chăm sóc và tạo việc làm cho người già.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện làm việc linh hoạt. Các công ty có thể tuyển dụng người lớn tuổi vào những vị trí phù hợp nhằm tận dụng tay nghề và kinh nghiệm của họ. Muốn được như vậy, Nhà nước cũng cần nghiên cứu áp dụng các ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã phát triển các mô hình kết hợp hiệu quả giữa nhà nước và doanh nghiệp tư. Nhật Bản khuyến khích người lớn tuổi làm việc bán thời gian, tư vấn hoặc đào tạo thế hệ trẻ, với chương trình "Silver Human Resources Centers", nơi họ có thể góp sức trong các lĩnh vực phù hợp. Đức hỗ trợ họ tham gia hoạt động cộng đồng và doanh nghiệp xã hội, giúp duy trì sự kết nối và cảm giác có ích đồng thời phát triển hệ thống bảo hiểm chăm sóc dài hạn (Pflegeversicherung). Singapore xây dựng chính sách linh hoạt, cho phép làm việc theo giờ mà vẫn đảm bảo sức khỏe.
Những mô hình này có thể là kinh nghiệm để Việt Nam tham khảo, xây dựng kế hoạch cho người lớn tuổi, giúp họ vừa đóng góp cho xã hội vừa nâng cao chất lượng sống.
Tôi luôn cảm thấy an lòng khi hàng ngày trở về nhà, thấy mẹ bận rộn khâu vá, thấy ba hào hứng kể chuyện công trường. Tôi nghĩ một quốc gia cũng vậy, sẽ vững tâm theo đuổi các mục tiêu lớn hơn khi tạo dựng được một hệ thống an sinh hỗ trợ những người đã đóng góp hơn nửa đời mình cho gia đình, cộng đồng và đất nước.
18 thg 3, 2025
NHỮNG “CỤ GIÀ” CÒN… TRẺ,, ĐƯỢC đặng Việt Lợi
(Thơ cóc)























.jpg)


