16 thg 3, 2025

VĂN HÓA PHỤ NỮ – ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ- Nguyễn Hửu Đồng ( Diển Đàn Khai Phóng )

 Tác giả: Nguyễn Hữu Đổng

Phụ nữ trung thực là văn hóa phụ nữ, phụ nữ không trung thực không văn hóa phụ nữ; văn hóa phụ nữ chính là phát triển phụ nữ, phụ nữ không văn hóa không phát triển phụ nữ – tức không bảo đảm môi trường sống lành mạnh, công bằng, bình đẳng, công lý cho phụ nữ loài người. Văn hóa phụ nữ là gì?Đây là khái niệm chưa được loài người hiểu biết. Bằng sự trung thực, tác giả lý giải làm sáng tỏ khái niệm này, đồng thời khuyến nghị hiểu đúng đắn giới phụ nữ, phụ nữ văn hóa, xây dựng phụ nữ loài người văn hóa.

Honest women are women's culture, dishonest women are not culture women; women's culture is the development of women, women without culture do not develop women - who do not ensure a healthy living environment, fair, equal, justice for human women. Women's culture? This is a concept not yet understood by human. By honesty, the author explains and clarifies this concept; at the same time, it is recommended to properly understand women's gender, cultural women, building human women culture.

Thực chất văn hóa phụ nữ

Bằng sự trung thực, văn hóa phụ nữ được hiểu như sau: tính chất sức sống cá nhân người không thật, phụ nữ không văn hóa không phát triển; bản chất sự sống nhóm người chưa thật, phụ nữ chưa văn hóa chưa phát triển; thực chất cuộc sống cộng đồng người chân thật (chân thực, trung thực), phụ nữ văn hóa phát triển. Điều đó có nghĩa, văn hóa phụ nữ là loài người sống chân thật; loài người chân thật là có văn hóa phụ nữ, hay văn hóa phụ nữ là loài người văn hóa; văn hóa loài người hay văn hóa phụ nữ là phụ nữ phát triển – tức phụ nữ có môi trường sống lành mạnh, công bằng bình đẳng và công lý. Văn hóa phụ nữ gắn với cuộc sống loài người; chẳng hạn gắn với ngày tháng năm, bọc trăm trứng trong truyện huyền thoại của người Kinh, hòa bình hay pháp luật.

Văn hóa phụ nữ gắn với ngày tháng năm cho thấy rằng, phụ nữ gắn với ngày không có văn hóa, không có bình đẳng giới; phụ nữ gắn với tháng chưa có văn hóa, chưa có bình đẳng giới; phụ nữ gắn với ngày tháng năm văn hóa, có bình đẳng giới. Điều đó có nghĩa, mùng 8 tháng 3 không phải ngày phụ nữ như giới lãnh đạo nêu ra, mà là ngày kỷ niệm về cuộc đấu tranh đòi bình đẳng giới, quyền lợi của phụ nữ. Nói cách khác, cần hiểu đúng đắn ngày quốc tế phụ nữ (ngày quốc tế phụ nữ 08/03), ngày quốc gia phụ nữ (ngày phụ nữ Việt Nam 20/10); phụ nữ Việt Nam không chỉ có hai ngày này, mà có hơn 364 ngày trong năm; không chỉ chúc mừng phụ nữ nhân các ngày này, mà cần thực hiện đảm bảo quyền phụ nữ – quyền con người (but it is necessary to ensure women’s rights – human rights).

Văn hóa phụ nữ gắn với bọc trăm trứng trong truyện huyền thoại của người Kinh cho thấy rằng, phụ tương tự Âu Cơ chưa văn hóa; nữ tương tự Lạc Long Quân không văn hóa; phụ nữ tương tự bọc trăm trứng văn hóa. Điều đó có nghĩa, không phụ nữ không có bọc trăm trứng văn hóa; không phụ nữ không có tổ tiên loài người. Tức Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng là chưa thật, mà phải là nghi lễ thờ cúng tổ tiên, hay lễ hội nhớ về cội nguồn người Kinh-Việt nói riêng, loài người nói chung; bởi vì Kinh chính là “kinh nguyệt” – tức huyết tộc người gắn liền với phụ nữ. Do vậy, không nên tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương, mà tổ chức lễ tưởng niệm nguồn gốc người Kinh, hay tưởng niệm nguồn gốc loài người; bởi vì, không có loài người cũng chẳng có người Kinh, cũng chẳng có Hùng Vương để mà làm giỗ tổ (there is also no Hung King to celebrate death aniversary of his ancestors).

Gắn văn hóa phụ nữ với hòa bình cho thấy rằng, tính chất giới nam không thật không văn hóa, thế giới có chiến tranh, phụ nữ không hòa bình phát triển; bản chất giới nữ chưa thật chưa văn hóa, thế giới còn chiến tranh, phụ nữ chưa hòa bình phát triển; thực chất giới người chân thật văn hóa, thế giới hết chiến tranh, phụ nữ hòa bình phát triển. Điều đó có nghĩa, văn hóa phụ nữ là giới người chân thật phát triển; không văn hóa phụ nữ loài người không văn hóa không phát triển, hay loài người còn chiến tranh không được bảo đảm môi trường sống lành mạnh, công bằng bình đẳng và công lý. Tức là, loài người không thể để “trật tự hòa bình và an ninh quốc tế hiện đang gặp nguy hiểm, vì những nhà độc tài Nga, sau khi tàn sát những người vô tội trong ba năm …” [1]; đặc biệt, cấp thiết cần xây dựng văn hóa phụ nữ, văn hóa loài người trong các quốc gia. Nói cách khác, phụ nữ chân thật là văn hóa phụ nữ; còn không chân thật không có văn hóa phụ nữ (without authenticity, there is no women’s culture); hay không chân thật không có văn hóa loài người; chẳng hạn, như chiến tranh làm đau khổ phụ nữ loài người (for example, as war afflicts human women).

Gắn văn hóa phụ nữ với pháp luật (luật) cho thấy rằng, luật không chân thật không phát triển, không văn hóa phụ nữ; luật chưa chân thật chưa phát triển, chưa văn hóa phụ nữ; luật chân thật phát triển là văn hóa phụ nữ. Điều đó có nghĩa, luật phát triển là có văn hóa phụ nữ; văn hóa phụ nữ chính là luật phát triển; luật không phát triển là không văn hóa phụ nữ, là phụ nữ không phát triển – tức phụ nữ không có môi trường sống, công bằng bình đẳng và công lý; luật không phát triển là phụ nữ bị kỳ thị, phụ nữ bị bạo lực và thiếu quyền con người. Chẳng hạn, luật không phát triển là phụ nữ bị bạo hành; luật không phát triển là phụ nữ không được độc lập, tự do, hạnh phúc; đặc biệt, luật không phát triển là nguyên nhân dẫn đến “hơn 600 triệu phụ nữ và trẻ em gái đang chịu ảnh hưởng của chiến tranh, tăng 50% so với thập kỷ trước … xung đột vũ trang và bạo lực ở mức kỷ lục, tiến bộ trong nhiều thập kỷ qua đối với phụ nữ đang biến mất và “những thành tựu thế hệ về quyền phụ nữ đang bị đe dọa trên toàn thế giới”” [2].

Khuyến nghị hiểu đúng đắn giới phụ nữ, phụ nữ văn hóa, xây dựng phụ nữ loài người văn hóa

Hiện nay, loài người nói chung, giới nghiên cứu học thuật nói riêng thiếu hiểu biết văn hóa phụ nữ. Ngay cả thuật ngữ phụ, nữ, khái niệm văn hóa, phụ nữ, sự thật, sự trung thực hay phát triển cũng chưa hiểu rõ. Chẳng hạn, khi phân tích thuật ngữ phụ, người nghiên cứu chỉ nhìn tính chất phụ không quan trọng, bản chất phụ chưa quan trọng, chứ chưa nhìn thực chất phụ quan trọng, dạng mô hình: bản chất phụ chưa quan trọng – thực chất phụ quan trọng-tính chất phụ không quan trọng; khi phân tích thuật ngữ nữ, người nghiên cứu chỉ nhìn tính chất nữ giới, bản chất giới nữ, chứ chưa nhìn thực chất giới phụ nữ, dạng mô hình: bản chất giới nữ – thực chất giới phụ nữ -tính chất nữ giới; hay khi phân tích khái niệm sự trung thực, người nghiên cứu chỉ nhìn tính chất không trung thực, bản chất chưa trung thực, chứ chưa nhìn thực chất sự trung thực, dạng mô hình: bản chất chưa trung thực – thực chất sự trung thực -tính chất không trung thực. Tức giới nghiên cứu học thuật không hiểu rằng, phụ, nữ, sự thật hay giới phụ nữ đều là ngôn ngữ, thuật ngữ, khái niệm; không có loài người thì không có khái niệm; không có khái niệm thì không có phụ nữ – tức không có loài người. Nói cách khác, phụ nữ là khái niệm – khái niệm phụ nữ; loài người là khái niệm – khái niệm loài người; phụ nữ là loài người – loài người phụ nữ; sự trung thực là khái niệm – khái niệm sự trung thực; v.v… Do vậy, bằng sự trung thực, người viết có các khuyến nghị như sau:

1) Hiểu đúng đắn giới phụ nữ:

Giới phụ nữ chưa được loài người hiểu biết. Giới phụ nữ gồm các mặt sau: tính chất cá nhân giới phụ nữ không chân thật, không phải loài người; bản chất nhóm giới phụ nữ chưa chân thật, chưa phải loài người; thực chất cộng đồng giới phụ nữ chân thật, là loài người, dạng mô hình: nhóm giới phụ nữ loài người chưa chân thật – cộng đồng giới phụ nữ loài người chân thật – cá nhân giới phụ nữ loài người không chân thật. Điều đó có nghĩa, để hiểu đúng đắn giới phụ nữ đòi hỏi giới nghiên cứu hiểu rõ các mặt sau: nhóm giới phụ nữ chưa là loài người chân thật;cá nhân giới phụ nữ không là loài người chân thật;cộng đồng giới phụ nữ là loài người chân thật. Nói cách khác, phụ nữ là giới người hay loài người chân thật (women are the real human race or humanity), không hiểu loài người chân thật là không hiểu giới phụ nữ.

2) Hiểu đúng đắn phụ nữ văn hóa:

Phụ nữ văn hóa chưa được loài người hiểu biết. Phụ nữ văn hóa gồm các mặt chủ yếu sau: tính chất hiện tượng tinh thần không thật, cá nhân người không là phụ nữ văn hóa; bản chất sự vật vật chất chưa thật, nhóm người chưa là phụ nữ văn hóa; thực chất hiện thực ý thức chân thật, cộng đồng người là phụ nữ văn hóa, dạng mô hình: bản chất phụ nữ chưa văn hóa – thực chất phụ nữ văn hóa – tính chất phụ nữ không văn hóa.Điều đó có nghĩa, phụ nữ văn hóa là ý thức chân thật của loài người; loài người chân thật là loài người có văn hóa; loài người không chân thật thì không có văn hóa.Nói cách khác, phụ nữ văn hóa là loài người văn hóa, hay loài người văn hóa là phụ nữ văn hóa (or cultural humans are cultural women); không hiểu loài người văn hóa là không hiểu phụ nữ văn hóa; không hiểu phụ nữ văn hóa là không hiểu được loài người văn hóa – tức loài người phát triển văn minh.

3) Xây dựng phụ nữ loài người văn hóa:

Phụ nữ loài người văn hóa biểu hiện thực chất văn hóa phụ nữ, hay sự chân thật của phụ nữ loài người.Tuy nhiên khái niệm này chưa được nhận thức rõ. Phụ nữ loài người văn hóa gồm các mặt chủ yếu sau: phụ nữ không chân thật cá nhân người không văn hóa, phụ nữ chưa chân thật nhóm người chưa văn hóa, phụ nữ chân thật là cộng đồng người văn hóa, dạng mô hình: nhóm phụ nữ chưa chân thật chưa văn hóa – cộng đồng phụ nữ chân thật văn hóa – cá nhân phụ nữ không chân thật không văn hóa.Tức xây dựng phụ nữ loài người văn hóa đòi hỏi giới nghiên cứu hiểu rõ cộng đồng phụ nữ chân thật, hay cộng đồng người chân thật; không hiểu cộng đồng phụ nữ chân thật không xây dựng được phụ nữ loài người văn hóa.

Kết luận

Văn hóa phụ nữ là loài người chân thật và phát triển, hay loài người văn hóa chân thật sống trong cộng đồng.Văn hóa phụ nữ là loài người văn minh; phụ nữ không văn hóa loài người không phát triển – tức loài người không có môi trường sống lành mạnh, không được đảm bảo công bằng bình đẳng và công lý.

Hiện nay, văn hóa phụ nữ chưa được loài người hiểu đúng; giới nghiên cứu chưa rõ tính chất không văn hóa, bản chất chưa văn hóa, thực chất văn hóa phụ nữ, chưa rõ phụ nữ loài người văn hóa. Sự bất cập này là nguyên nhân dẫn đến đối xử thô bạo, chưa nhân hậu với phụ nữ trong các quốc gia và toàn cầu. Do đó, để có loài người văn hóa văn minh, giới nghiên cứu và lãnh đạo cần phải hiểu đúng đắn giới phụ nữ, phụ nữ văn hóa, xây dựng phụ nữ loài người văn hóa.

………………..

Tài liệu trích dẫn:

[1] https://diendankhaiphong.org/do-la-mot-cuoc-phuc-kich/.

[2] https://hanoimoi.vn/chien-tranh-anh-huong-den-hon-600-trieu-phu-nu-va-tre-em-gai-682601.html.

15 thg 3, 2025

Vườn Thơ Mới Kỳ 166- Bài Xướng : NÓI VỚI -Tâm Quả

 VTM 166_Nói với_Tâm Quã

 

Xướng:

Nói với
Ngàn xa luôn nhớ lại gần
Nhiếp tâm miên mật cùng lân mẫn lòng
Trăng nghiêng gió lướt cửa không
Diệu âm từ tuệ nương dòng suối reo
Mạch tình quanh quyện chân đèo
Vượt muôn ghềnh thác dần theo sông hồ
Ngàn trùng sóng biển nhấp nhô
Chan hòa sương trắng mây mù cùng nhau 
Thương yêu xóa hết ưu sầu
Thấu tình toại ý ở đâu vẫn mà
Hai đầu trái đất chẳng xa
Không như thời chiến... Mình là của nhau.!
Tâm Quã
Feb. 26, 2025
 

Họa 1:

Ảo tưởng
Gặp em qua xích lại gần
Một nguồn hấp lực lân lân nổi lòng
Biết rằng có đặng gì không
Nhưng sao vẫn cứ như dòng thác reo
Vượt qua nghìn suối trăm đèo
Vạn đồi muôn núi men theo đại hồ
Gió mơn mặt nước lô nhô
Ngỡ mình song bước tít mù với nhau
Ngờ đâu vỡ mộng tình sầu
Ngây ngô ảo vọng có đâu chăng mà
Nàng ta người đẹp cao xa
Ta ngồi đáy giếng tưởng là có nhau
THT
 lân lân 轔 轔 : rầm rầm


Họa 2:


Đời
Tưởng xa nhưng lại rất gần
Tu tâm tích đức ái lân cõi lòng
Cuộc đời sắc sắc không không
Khi diều gặp gió theo dòng mừng reo
Những ngày lên ải xuống đèo
Như hoa héo úa rõi theo ao hồ
Ngoài kia sóng vỗ lô nhô
Ở đây gió đẩy sương mù quyện nhau
Dặm trường có biết bao sầu
Thứ tha xóa bỏ biết đâu mặn mà
Giã từ nghiệp chướng rất xa
Dang tay rộng mỡ nghĩa là hòa nhau
PTL
愛憐  ái lân: thương yêu quí mến
Trong Phật giáo Thiền có câu: Nhân thế vô vô sắc sắc 人 世 無 無 色 色: Cuộc đời sắc sắc không không
Họa 3:

Hữu duyên

Hữu duyên tri thức đến gần 
Thân tâm hợp chúng ai lân một lòng 
Học thầy sắc tức thị không 
Tâm từ tuệ nhãn như dòng nước reo 
Thiền hành quanh quẩn chân đèo 
Nhiếp tâm chánh định lần theo bờ hồ 
Xa xa mặt nước lô nhô 
Một màu xám trắng sương mù quyện nhau 
Quy y sám hối buông sầu 
Thế gian phủi sạch đi đâu dể mà 
Nương vào chánh kiến không xa 
Tâm hồn buông xả đạo là như nhau 
Hương Lệ Oanh 
Mar. 04, 2025
ai lân 哀憐 : thương xót

Họa 4:


Một thoáng hương xưa

Dẫu xa mà ngỡ như gần, Một đời luôn nhớ hương lân trọn lòng. Nhìn mây lãng đãng tầng không, Mơ màng nghe sáo trên dòng sông reo. Chim bay xa khuất lưng đèo, Ánh trăng lặng lẽ hòa theo sắc hồ Thấp cao ngọn núi lô nhô, Sau màn sương trắng lù mù chen nhau. Trời đêm ai khéo gợi sầu Tiếng đàn theo gió từ đâu mượt mà. Tri âm nào kể gần xa, Nghe trong cung bậc biết là cho nhau. Minh Tâm

Họa 5:

Còn chăng kỷ niệm

Trường Sa sóng vỗ cũng gần
Tình cô hàng xóm đông lân ngập lòng
Chiều rơi bước nhỏ chân không
Tâm tư lắng đọng nghe dòng sông reo
Quanh co sạn đạo lưng đèo
Mạn thuyền sóng vỗ trôi theo biển hồ
Xa xa đò nhỏ lô nhô
Lang thang mây trắng mịt mù đuổi nhau
Tình tang uống cạn chén sầu
Thiên thu một cõi về đâu hỡi mà
Hai đầu nỗi nhớ xót xa
Nếu không chạy loạn chắc là có nhau
Nguyễn Cang
Mar. 04, 2025

Chùa Keo (Nam Định )

Mời Xem :

Những ngôi mộ cổ trên núi A Man

 Vanvn- Sau gần chục năm tôi mới trở lại núi A Man trong nắng xuân mơ màng buổi sáng tháng giêng. Dãy núi nằm ở ngã ba sông Hà Yến, đổ ra phía hữu ngạn dòng sông Cái, thuộc địa phận thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên – nơi có dòng gốm Quảng Đức ra đời cách đây hơn 300 năm và là một trong những di sản văn hóa tiêu biểu ở “xứ sở hoa vàng trên cỏ xanh”. Từ bao đời nay, phía Nam dãy núi này tồn tại hàng trăm ngôi mộ cổ trên diện rộng với nhiều bí ẩn chưa được giải mã.


1. Vẫn con đường làng quanh co bên chân núi với những ngôi nhà mộc mạc ẩn mình dưới tán cây xanh và những người dân hiền lành, chân chất. Trong số họ có người tôi đã gặp gần chục năm về trước, cho dù nét thời gian xếp dày trên gương mặt, mái tóc bạc màu mây nhưng vẫn nhớ rõ đường ngang lối tắt dẫn đến từng ngôi mộ cổ lẩn khuất dưới những bụi cây xanh hoang dại.

Đứng bên hiên nhà chỉ tay về phía triền núi, lão nông Nguyễn Minh Hoa chia sẻ: “Hàng trăm ngôi mộ cổ ở đây đã có từ thời nào xa lắc xa lơ, nhiều thế hệ cư dân không ai biết cội nguồn. Sau hàng trăm năm không được tu tảo, những ngôi mộ cổ đã và đang hóa thành phế tích, trong đó có một số ngôi mộ đã sập đổ dần, có mộ chỉ còn nền móng”. Còn ông Nguyễn Hoan bày tỏ: “Kể cũng lạ thiệt. Không biết người xưa xây mộ bằng loại vật liệu gì mà rất bền chắc nên sau hàng trăm năm vẫn còn tồn tại hàng trăm ngôi mộ cổ”.

Đường vào thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An – nơi có hàng trăm ngôi mộ cổ.

Len lỏi theo những lối mòn phủ đầy cỏ cây hoang dại dưới tán rừng cây bạch đàn, tôi cẩn trọng gạt từng bụi cây quan sát bốn bề mặt những ngôi mộ cổ. Dòng chảy thời gian và tác động của thiên tai với nắng mưa, gió bão khiến cho bề mặt những ngôi mộ cổ đã bị bong tróc lớp vỏ nham nhở, rêu phong phủ kín.

Từ dấu tích của những ngôi mộ bị sập đổ, hư hỏng có thể nhìn thấy dưới nền móng, tường bao quanh có những viên đá tự nhiên ở núi A Man, còn các chất kết dính để xây mộ được nhiều người xưa nhận định đó là hợp chất hình thành bởi vôi bột được nung từ vỏ sò, ốc, hến, san hô kết hợp mật đường chế biến từ cây mía cùng bột than củi và cát trắng được gạn lọc kỹ sau khi múc dưới lòng sông. Người xưa sử dụng hợp chất này để xây mộ rồi đổ phủ trên bề mặt một lớp dày, rắn chắc để bảo vệ mộ phần.

Là một người trong nhóm nghiên cứu di sản văn hóa đá ở Phú Yên, theo thạc sĩ Phan Thanh Bình, hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi An Man chỉ có 4 kiểu dáng kiến trúc: yên ngựa, mai rùa, búp sen và mái nhà. Nhiều nhất là mộ hình yên ngựa và mai rùa được xây dựng khá đơn giản, gọn nhẹ; ít hơn là mộ hình búp sen và mái nhà có lối kiến trúc xây dựng khá công phu. Trên bia mộ ở phía trước đều có những nét khắc họa trang trí hoa văn chìm – nổi. Một số ngôi mộ xây tường thành bao quanh với bức bình phong cùng với trụ biểu, cũng có mộ xây cổng hình vòm.

Có một đặc điểm chung trong quần thể mộ cổ trên núi A Man gần như nguyên tắc, đó là tất cả các ngôi mộ đều hướng mặt về phía Đông và Đông Nam, nghĩa là khi mai táng, thi hài người quá cố quay đầu về phía đỉnh núi, chân xuôi về phía triền thuộc hướng Tây và Tây Bắc. Nhiều ngôi mộ xây dựng với bề thế khác nhau, tùy theo địa vị xã hội lúc sinh thời của người đã được an táng.

Ngôi chùa Châu Lâm, phía Nam chân núi A Man.

Dò tìm trên các trụ biểu, bình phong và cổng vòm còn sót lại trên một số ngôi mộ sẽ nhận ra dấu tích những nét khắc chữ Hán nhưng đã bị bào mòn, hoặc có thể người thân chủ động đục phá để che giấu tên tuổi vì những biến động thời cuộc lịch sử. Một số người cho rằng trên vùng đất Phú Yên giai đoạn thế kỷ XVII đến XVIII đã có nhiều cuộc chiến diễn ra, nên phải che giấu danh phận người quá cố trên bia mộ để tránh đối phương khai quật, phơi xác trả thù (?)

2. Đến nay, chưa có cơ quan chức trách nào tổ chức phát dọn cây cỏ để kiểm đếm toàn diện số lượng mộ cổ còn tồn tại trên núi A Man. Trong tác phẩm “Di sản văn hóa đá Phú Yên” – 2011, do thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn chủ biên với sự tham gia của 6 nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở địa phương ước tính còn hơn 500 ngôi mộ cổ trên núi A Man có thể khảo sát và nhận dạng được.

Nhận định về nguồn gốc hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Man, có nhiều thông tin khác biệt từ các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa và người dân địa phương. Đã có giả thuyết khu mộ cổ này của người Hoa, vì một số kết quả khảo cổ trước đây cho thấy thời xưa kia địa hạt bên núi A Man và dòng sông Cái – hạ lưu sông Kỳ Lộ là cửa ngõ giao thương đường bộ lẫn đường sông, nên nơi này hội tụ dân cư đông đúc, nhiều người Hoa đến đây sinh sống, buôn bán, an cư lạc nghiệp. Cũng có nhiều người nhận định nơi đây là nghĩa địa người Chăm thời xưa, dân dã thường gọi là mộ Hời.

Trong khi đó một số nhà nghiên cứu cho rằng sau những cuộc khảo sát trên núi A Man không tìm thấy yếu tố văn hóa mộ táng người Hoa hay người Chăm, mà có rất nhiều đặc điểm người Việt. Từ góc nhìn phong thủy dân gian trong mai táng cho đến những nét hoa văn khắc họa, trang trí trên mộ và cách thức bài trí các ngôi mộ đều có dấu ấn văn hóa thuần Việt.

Mộ cổ có kiểu dáng kiến trúc hình búp sen.

Thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn nhận định quần thể mộ cổ trên núi A Man hình thành từ thế kỷ XVIII, vì cốt cách xây dựng giống như những ngôi mộ của nhiều dòng họ ở Phú Yên đã xác định niên đại. Trong giai đoạn này, cuộc chiến giữa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Trần Quang Diệu và Lê Trung với quân của chúa Nguyễn Ánh luôn tái diễn gần 9 năm, kể từ tháng 4.1793 đến tháng 7.1801. Ác liệt nhất là những trận đánh diễn ra nơi vịnh Xuân Đài, vùng ven sông Cái và Bảo La Hai.

Từ mốc thời gian và những sự kiện lịch sử nêu trên, một số nhà nghiên cứu đặt câu hỏi: Phải chăng những người đã an nghỉ bên dưới hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Man là binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh đã hy sinh sau những trận chiến khốc liệt với binh sĩ nhà Tây Sơn? Bởi lẽ nhiều người suy đoán trong những trận chiến đó, tướng quân, binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh tử trận được chôn cất ở phía nam dãy núi A Man, nên hầu hết các ngôi mộ cổ đều có kiểu dáng kiến trúc yên ngựa được ví như phương thức cách điệu “da ngựa bọc thây”.

Mộ cổ có kiểu dáng kiến trúc hình mái nhà.

Trong một cuộc trò chuyện với phóng viên chuyên đề ANTG khi còn đương nhiệm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, ông Phan Đình Phùng – người đã có hơn ba chục năm làm công tác bảo tồn, bảo tàng, quản lý nhà nước về văn hóa – xã hội ở địa phương cho rằng, chưa thể nhận định hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Man là nơi chôn cất binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh. Xưa kia, vùng đất Phú Yên làm nhiệm vụ trấn biên gần 200 năm (1471-1658). Thời ấy, Dinh trấn biên – thủ phủ đầu tiên của tỉnh Phú Yên xây dựng tại xã An Ninh – nay là xã An Ninh Tây, huyện Tuy An ở vùng hạ lưu sông Cái.

Dặm dài thời gian qua nhiều thế kỷ cùng với những tác động bất thường của thiên tai khiến cho sông Cái sạt lở, bồi lấp và biến đổi dòng chảy, phế tích thành lũy Dinh trấn biên xưa đã bị vùi sâu dưới cát. Bên Dinh trấn biên và vùng hạ lưu sông Cái lúc bấy giờ hình thành nhiều khu dân cư sầm uất, nên nhiều khả năng quần thể mộ cổ trên dãy núi A Man là của người Việt chôn cất lần lượt sau nhiều đời cộng cư ở vùng đất này và đã tạo nên hàng trăm ngôi mộ cổ có nét kiến trúc, văn hóa mộ táng của người Việt xưa.

3. Quần thể mộ cổ trên núi A Man của người Hoa, người Chăm, người Việt hay là khu mộ dành riêng cho việc chôn cất binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh thời xa xưa? Tất cả vẫn còn là những giả thuyết, nhận định chưa có đầy đủ luận cứ khoa học. Vì thế, sau khi tận mắt nhìn thấy hàng trăm ngôi mộ cổ đậm nét rêu phong ẩn mình trong những bụi cây hoang dại dưới tán rừng bạc hà thưa thớt đang dần hóa thành phế tích và có nguy cơ bị xóa sổ, nhiều người đều chạnh lòng lo ngại! Hàng trăm năm qua, những ngôi mộ cổ trên núi A Man không ai tu tảo, hương khói; chẳng có ai đến nhận phần mộ cổ nào đó là thân nhân trong dòng họ, tổ tiên của mình.

Tổng quan một ngôi mộ cổ lớn.

Rời dãy núi A Man khi tiếng chuông chùa Châu Lâm bên chân núi đang ngân lên cùng tiếng gió lùa xao xác lá và dường như có cả tiếng thì thầm của các bậc tiền nhân! Rất nhiều người mong muốn các cơ quan chức trách và địa phương mời các nhà khoa học có chuyên môn sâu, mở cuộc khảo cổ trên diện rộng, giải mã tiềm tàng bí ẩn hàng trăm ngôi mộ cổ ở nơi này để minh chứng nguồn gốc, giá trị văn hóa, lịch sử.

PHAN THẾ HỮU TOÀN / CAND


14 thg 3, 2025

VỀ LẠI NƠI XƯA - Nguyễn Đăng Hà - SPSG K.11

 

Hồn đã cù,anh về thăm chốn củ

Bầy chim non ngô ngáo ngó quên chào

Anh lảm nhảm,làm nhàm dăm câu hát

Nghe dòng sông mời gọi bước qua cầu


Hồn đã củ,anh về thăm đất củ

Gặp cơn mưa nồng mặn phut ban đầu

Anh tưởng đến những người quen một thuở

Biết còn không trong buổi kiếm tìm nhau


Hồn đã củ,anh về thăm  trời củ

Nhìn cây cao lá rụng xuống chân đời

Anh lẩn thẩn như con sâu cái kiến

Tha hồn mình gầy guộc tới lui


Hồn đã củ,anh về thăm người củ

Thoáng hương đưa lòng rộn lại xuân thì

Em cười lanh- mắt xa từ độ ấy

Anh nhủ thầm năm cũ đã ra đi


Nguyễn Đăng Hà -trich tâp thơ "Còn Vương Bui Phấn 2021


Tranh Hưa Xuân Trường


Tìm hiểu lịch sử khẩn hoang và định cư thời Nguyễn

Vanvn- ‘Lịch sử khai khẩn Cao nguyên An Khê, 1864-1888’ là một công trình nghiên cứu lịch sử của Andrew Hardy, về quá trình khai hoang và định cư triều Nguyễn vùng An Khê trong giai đoạn (1864-1888). Cuốn sách do Omega Plus Books chuyển ngữ và ấn hành, giới thiệu tới độc giả trong dịp đầu năm mới.

Cuốn “Lịch sử khai khẩn Cao nguyên An Khê, 1864-1888”. (Ảnh: Omega Plus Books)

An Khê là địa danh thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay, là nơi từng có nhiều phát hiện khảo cổ giá trị, chứng minh rằng đây là cái nôi cổ xưa nhất của loài người. Từ năm 2014 đến nay, các nhà khoa học khảo cổ cũng đã phát hiện ra cả một quần thể di tích Sơ kỳ đồ Đá cũ, được xác định là niên đại khởi đầu của toàn bộ tiến trình lịch sử đất nước. Khảo cổ học cũng đồng thời phát hiện hàng loạt các di tích, “công xưởng” thuộc thời Hậu kỳ đồ Đá mới cách ngày nay từ 3.000 đến 4.000 năm, ở nhiều nơi thuộc địa bàn thị xã An Khê và các huyện Kbang, Đăk Pơ, Kông Chro, tỉnh Gia Lai.

An Khê không chỉ là cửa ngõ lên rừng xuống biển, nối liền đất liền với đại dương, mà còn là trung tâm đầu mối của các tuyến đường thủy, bộ hay kết hợp cả thủy lẫn bộ từ đông sang tây và từ tây sang đông; từ bắc xuống nam và từ nam lên bắc. Do vị trí vô cùng đặc biệt này, mà người Việt trong công cuộc mở cõi về phương nam cũng sớm tìm đến An Khê.

“Lịch sử khai khẩn Cao nguyên An Khê, 1864-1888” do tác giả Andrew Hardy, một nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại và đương đại Việt Nam ở Viện Viễn Đông Bác cổ thực hiện.

Cuốn sách tập trung vào chính sách di dân của triều Nguyễn tại An Khê, khu vực có vị trí chiến lược quan trọng – cửa ngõ của Tây Nguyên.

Cuốn sách đề cập đến các giai đoạn khai khẩn và di dân (1864-1888): gồm Dự án 1 (1864-1867) do Nguyễn Đức Thăng lãnh đạo, Dự án 2 (1870-1872) do Đặng Duy Hanh lãnh đạo, Dự án 3 (1877-1885) do Phan Văn Điển lãnh đạo.

“Lịch sử khai khẩn Cao nguyên An Khê, 1864-1888” như một cuốn phim được mở ra với cuộc hành trình của Thống đốc Nam Kỳ bấy giờ là Auguste Eugène Navelle từ cảng Quy Nhơn lên cao nguyên An Khê vào những ngày giữa tháng 12.1884. Những điều tai nghe, mắt thấy của “người trong cuộc” đã giúp cho Andrew Hardy hình dung ra các bước triển khai của toàn bộ lịch sử tái khẩn hoang cao nguyên An Khê hồi cuối thế kỷ 19.

Điều đặc biệt, hình ảnh trên trang bìa của cuốn sách là hình từ An Khê Đình nhìn về phía núi Mò O do tác giả chụp vào năm 2018.

Andrew Hardy là giáo sư sử học, chủ nhiệm ban nghiên cứu lịch sử hiện đại và đương đại Việt Nam ở Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Thành viên của Trung tâm Đông Nam Á (CASE), UMR8170, điều phối viên của Dự án Horizon 2020 ‘Competing Regional Integrations in Southeast Asia’ (www.crisea.eu).

Các tác phẩm của ông tập trung vào những cuộc di cư của người Việt Nam, lịch sử của Champa và miền trung Việt Nam, các mối quan hệ liên sắc tộc trên bán đảo Đông Dương. Cùng với Arlo Griffiths và Geoff Wade, ông đã xuất bản cuốn “Champa: Territories and Networks of a Southeast Asian Kingdom”, EFEO, Paris, 2019.

Sách thuộc Tủ sách Lịch sử Việt Nam của Omega Plus.

HÀ CHI/ NDO 

13 thg 3, 2025

BẤT NGỜ GẶP BẠN XƯA ,LỜI TRẦN TÌNH CỦA “HẮN” - ĐVL

1./ BẤT NGỜ GẶP BẠN XƯA (1)
Vừa vào từ Quảng Ngãi
Có… “hiền nội” theo cùng (2)
Bạn ghé thăm bè bạn
Vui - tay bắt mặt mừng
Ra là đồng môn cũ
Khi tuổi còn thơ ngây
Chung lớp, trường từ thuở
Còn thích ngậm ô mai
Ngẫu nhiên mà gặp gỡ
May còn nhận ra nhau
Sau vô vàn dâu bể
Hơn nửa đời hư hao
Giờ thì ai cũng vậy
Đều… “già như… trái cà”
Bạn có phần trẻ lại
Khi ngồi bên “người nhà”
Hoá ra quen biết cả
Môi… tràn lời hỏi han
Những thanh âm Quảng Ngãi
Cứ len đầy không gian
Chuyện sáng nay là thế
Vui - niềm vui bất ngờ
Quán thành nơi hội ngộ
Bạn bè xưa - rất xưa
Lúc chia tay, bóng nhỏ
Xoay tròn - vàng nắng trưa
SG_100325
ĐVL
Note
(1) Bạn Trần Thưởng. Nhắc mới nhớ là bạn cùng lớp ở Trung học Đệ nhất cấp, từ hơn 5 chục năm trước ở TQT_QNg
(2) Hoa - Bà xã bạn Thưởng cùng đến và cà phê với cả nhóm tại quán quen ĐTT/GVap!
P/s Sáng nay, tại 18 ĐTT.QGV, cánh TQT_QNG Tây SG vẫn cà phê như mọi khi! Ngoài Sách, Khai, Phúc, Dũng, Thu cò có cả bác Uyên ghé đến nữa.
Nhưng bất ngờ nhất là sau cùng lại có bạn Trần Thưởng và bà xã bạn ấy cùng tới!
Nhờ vậy, quán rộn ràng hẳn lên so với mọi khi!


+25




2./ LỜI TRẦN TÌNH CỦA “HẮN”

Vẫn đến đây mỗi tuần
Vẫn ngần ấy những.. “mặt mày” Quảng Ngãi
Vẫn tếu táo cợt đùa, trêu ghẹo, bông lơn
Góp từng tràng cười vang dậy
Là thế đó như một thói quen cứ mỗi tuần lặp lại
Vẫn trà, cà phê, các câu chuyện tiếu lâm, dăm câu chữ xen vài từ nói lái…
Vậy mà vẫn chưa thấy… ngán bao giờ
Vẫn mong tới đây ngồi
bất kể nắng hay mưa.
Có thể…
chỉ vì muốn được quay về với dĩ vãng xa xưa
Nơi trú ẩn của điệp trùng kỉ niệm
Để thấy lại hình ảnh của chính mình lúng túng theo sau những tà áo dài trắng như mây bay rập rờn luýnh quýnh
Thường tái hiện trong…
những câu chuyện bạn bè
Tất nhiên
Cũng có ít nhiều nguyên cớ khá nhiêu khê
Tuỳ kẻ kia người nọ
Nhưng tựu trung ai cũng thích tới đây theo cách của con cá hồi tha hương muốn trở về lội bơi trong ngọn nguồn quá khứ
Ôn lại thời tuổi nhỏ
Để được nói, được cười như thuở hồn nhiên
Và quên đi mình…
Đang bóng xế, chiều nghiêng
SG_120325
ĐVL
P/s
Lần này có thêm Võ Duy Toản - em của Thám - về VN, theo anh trai ghé dến chơi!
Các bạn khác, nhìn hình là biết ngay, mỗi người mỗi vẻ! 😊

 

AMOS GOLDBERG: GAZA LÀ MỘT CUỘC DIỆT CHỦNG (Diể Đàn Khai Phóng )


 Amos Goldberg, sử gia người Israel: “Điều đang xảy ra ở Gaza là một cuộc diệt chủng, vì Gaza không còn tồn tại”

Tác giả: Stéphanie Le Bars
Biên dịch: Đỗ Tuyết Khanh

Sử gia Amos Goldberg, giữ chức “Giáo sư Jonah M. Machover” (1) chuyên về Holocauste (2) tại Đại học Do Thái ở Jérusalem, đã đăng tháng 4 năm nay trên báo mạng Local Call [Tiếng Do Thái: Siha Mekomit] (*) một bài viết cáo buộc Israel tiến hành “diệt chủng” ở Gaza. Ông giải thích luận điểm này trong một cuộc phỏng vấn của báo Le Monde.

Hỏi: Tháng 4 năm nay, ông đã cáo buộc Israel tiến hành “diệt chủng” ở Gaza. Điều gì đã đưa ông đến kết luận ấy sáu tháng sau khi chiến tranh bắt đầu?

Đáp: Tôi cần thời gian. Ngày 7 tháng 10 là một cú sốc, một thảm kịch, một cuộc tấn công rùng rợn. Một sự bi thương, một tội ác như chúng ta chưa bao giờ thấy. Chỉ trong một ngày có 850 thường dân [tổng cộng 1.200 người] bị giết. Đàn ông, đàn bà, trẻ con, kể cả trẻ sơ sinh, người già bị bắt làm con tin. Những kibboutz bị hoàn toàn huỷ diệt. Rồi những câu mắt thấy tai nghe về cuộc tấn công hung tợn, bạo lực tình dục, những tàn phá do Hamas gây ra. Trong số các nạn nhân có những người tôi quen biết, nhiều người rất thân thiết. Có người chết, có người bị bắt làm con tin, có người chỉ đủ sống sót. Tôi không có lời nào để giải thích sự kiện này, để tiêu hoá nó, để vượt qua nó. Một sự kiện ghê tởm, đánh vào bản thân, để lại chấn thương.

Tôi rất hiểu hoàn cảnh chiếm đóng, chế độ apartheid [ở Cisjordanie] sự vây hãm [Gaza], nhưng cho dù những điều ấy có thể giải thích những gì đã xảy ra, vẫn không thể biện hộ cho những hành động tàn bạo tới mức ấy. Ngay sau cuộc tấn công, Israel đã bắt đầu dội bom ồ ạt và chỉ trong vài tuần hàng ngàn thường dân ở Gaza đã chết. Và đâu chỉ có ném bom. Những lời lẽ sặc mùi diệt chủng xuất hiện nhan nhản trên các phương tiện truyền thông, trong công luận và giới chính trị: “Chúng ta phải loại trừ chúng [người Palestine], bọn chúng là những con thú đội lốt người” [Yoav Gallant, bộ trưởng quốc phòng, ngày 10.10.2023];“Cả một dân tộc phải chịu trách nhiệm” [Isaac Herzog, tổng thống Israel, ngày 14.10.2023]; “Chúng ta phải ném một quả bom nguyên tử xuống Gaza [Amichai Eliyahu, bộ trưởng di sản, ngày 5.11.2023]; “Đây là Nakba của Gaza 2023” [Avi Dichter, bộ trưởng nông nghiệp, ngày 11.11.2023, nhắc đến sự kiện 700 000 người Palestine bị ép buộc di tản và trục xuất trong chiến tranh 1948, sau khi Israel được thành lập]. Những phát biểu tàn nhẫn tới mức tôi không còn biết có thể nói gì.

Tháng giêng năm nay, cùng với 50 học giả chuyên về Holocauste và Do Thái học, tôi ký một lá thư yêu cầu Yad Vashem [Viện quốc tế tưởng niệm Holocauste ở Jérusalem] lên án những phát biểu công khai hay gián tiếp kêu gọi diệt chủng ở Gaza. Nếu đây không phải là bài học từ Holocauste thì chúng ta đã học được gì? Một trong những văn kiện đầu tiên Israel thông qua lúc thành lập là Công ước về tội diệt chủng [9.12.1948], trong đó một điều lệ khẳng định tội diệt chủng không chỉ là những tội ác đã gây ra mà còn là xúi giục gây ra tội ác. Ở đây rõ ràng là vậy. Yad Vashem đã từ chối không lên án những lời nói ấy.

Cho nên tôi bắt đầu viết, ý thức rằng một thảm hoạ nhân đạo và chính trị hết sức lớn đang diễn ra trước mắt chúng ta. Tháng 4 năm nay, tôi viết, bằng tiếng Do Thái, “Đây đúng là một cuộc diệt chủng”. Bài này đã được dịch sang tiếng Anh và nhiều người đọc trên thế giới.

Điều gì đã đưa ông đến lời cáo buộc này, đối với một nước “đã được thành lập để phản ứng với Holocauste” như ông nhắc nhở?

Trước hết tôi muốn nói đây là một điều hết sức đau đớn, vì tôi tố cáo xã hội của chính tôi, tôi tố cáo chính tôi. Từ nhiều năm nay tôi đấu tranh chống lại sự chiếm đóng và chế độ apartheid, và tôi biết Israel đã gây tội ác trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, nhưng tôi chưa bao giờ tưởng tượng chúng ta có thể gây ra biển máu và độc ác tới mức này, ngay cả sau ngày 7 tháng 10.

Có một định nghĩa pháp lý về diệt chủng được Liên Hợp Quốc thông qua trong Công ước về tội diệt chủng, tôi không phải là chuyên gia về luật, nhưng nhiều luật gia trên thế giới tin rằng Israel đã vượt qua ngưỡng của tội diệt chủng, và tôi đồng ý với họ. Tháng giêng năm nay, Tòa án Công lý Quốc tế đã khẳng định lời cáo buộc diệt chủng là “có cơ sở”. Tháng 3, bà Francesca Albanese [báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng] kết luận trong báo cáo là có cơ sở hợp lý để nghĩ rằng Israel đã vượt qua ngưỡng của tội diệt chủng. Hàng trăm học giả, trong đó có những luật gia, đã ký nhiều thư ngỏ bày tỏ những quan ngại ấy.

Theo tôi, Israel tuyệt đối có quyền tự bảo vệ sau ngày 7 tháng 10, nhưng đã phản ứng quá mức, gây ra tội ác. Nền tảng của diệt chủng là gì? Theo Công ước về tội diệt chủng, đó là hành vi được thực hiện với với ý định tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần một quốc gia, dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo. Điều cần nhấn mạnh là ý định huỷ diệt một tập thể chứ không phải là giết tất cả mọi người trong đó. Không nhất thiết cứ phải giết tất cả các thành viên của một tập thể mới là diệt chủng. Thảm sát Srebrenica, nơi “chỉ” có 8 000 người đàn ông bị giết, đã được Toà án hình sự quốc tế về Nam Tư cũ thừa nhận là một cuộc diệt chủng. Tháng 3.2023, Hoa Kỳ đã thừa nhận những hành vi của Miến Điện đối với người Rohingya là một cuộc diệt chủng, dù rằng đa số “chỉ” bị trục xuất và “chỉ có” 10 000 người của cộng đồng này bị giết, theo Bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Những thí dụ này khác với Holocauste hay cuộc diệt chủng người Arménie là những mưu toan tiêu diệt toàn bộ hay gần hết một tập thể. Người Israel và nhiều người khác nghĩ rằng mọi cuộc diệt chủng phải giống Holocauste. Nhưng họ lầm.

Điều đang xảy ra ở Gaza là một sự diệt chủng, vì Gaza không còn tồn tại. Lãnh thổ đã hoàn toàn bị huỷ diệt. Mức độ và nhịp độ tàn sát không phân biệt vô số người vô tội, kể cả những nơi Israel ấn định là khu vực an toàn, nhà cửa, cơ sở hạ tầng, hầu hết bệnh viện và đại học bị phá huỷ, hàng ngàn người phải di tản, nạn đói được cố tình tạo ra, giới tinh hoa bị trấn áp và chính sách phi nhân hoá người Palestine, tất cả vẽ lên bức tranh một cuộc diệt chủng.

Vậy chúng ta thấy ở đây có tàn phá, có chủ đích, và có một mô hình bạo lực dữ dội giáng liên tiếp lên thường dân. Chúng ta vẫn chưa biết Toà án Công lý Quốc tế sẽ phán quyết thế nào trong hồ sơ Nam Phi kiện Israel (3), nhưng nếu chúng ta đọc Raphael Lemkin [1900-1959], luật gia người Ba Lan đã đặt ra thuật ngữ này và có vai trò then chốt trong việc thiết lập Công ước về tội diệt chủng, thì đây chính là những điều ông phác hoạ khi nói đến diệt chủng.

Cuộc tranh luận này có thể diễn ra ở Israel?

Chưa. Nhưng tuy họ không dùng cụm từ “diệt chủng” và không nghĩ là có xảy ra diệt chủng, càng ngày càng có nhiều người ngờ vực về lý lẽ và mục đích của cuộc chiến này. Nhiều người phản đối tiếp tục cuộc chiến vì họ hiểu là phải chấm dứt nó các con tin mới được thả về. Chỉ một thiểu số nhỏ chống lại cuộc chiến vì những lý do đạo đức, nhưng có lẽ có thêm một chút không gian cho những tiếng nói đơn lẻ như tôi; tuy nhiên tôi có thể bị thực tế phản bác.

Chiến tranh phải chấm dứt. Ngay bây giờ. Mở rộng cuộc chiến sang Liban tai hại cho cả hai bên. Đồng nghĩa với án tử hình cho các con tin và hàng ngàn người trong vùng.

Bạo lực của nhà nước Israel và các người Do Thái lập cư ở Cisjordanie vẫn ác độc và sát nhân như trước. Israel không có lời giải nào cho mọi vấn đề ngoài sự hung bạo. Giải pháp duy nhất, mà Israel từ chối, là thừa nhận người Palestine với những quyền của họ. Chúng ta không thể chờ phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế. Sẽ quá muộn cho người Palestine ở Gaza, người Israel, đối với dân chúng Liban và các con tin. Với nhiều bằng chứng như thế trong tay, chúng ta phải dũng cảm nói đây là một cuộc diệt chủng, ngay cả trước phán quyết, vì nếu không thì có ích gi mà tìm hiểu về khái niệm diệt chủng, chỉ để thốt lên sau khi mọi sự đã an bài: “À phải rồi, đúng là diệt chủng đó”? Lịch sử sẽ xét đoán như thế tình hình hiện nay.

Tôi nghĩ có nhiều khả năng Toà án Công lý Quốc tế sẽ thừa nhận là đã có xảy ra tội diệt chủng hay ít ra những hành vi mang tính cách diệt chủng như tấn công bệnh viện Al-Shifa hoặc cố ý làm cho hàng trăm ngàn người đói khát. Và tôi muốn nói thêm, cho những ai không nghĩ đây là diệt chủng: thực tế không thể chối cãi là đã có những tội ác chiến tranh nghiêm trọng và những tội ác phản nhân loại. Như vậy cũng đủ trầm trọng rồi!

Từ sau ngày 7 tháng 10, những lo sợ về sự tồn tại bị khơi lại ở cả hai bên: Holocauste cho người Do Thái, Nakba cho người Palestine. Lo sợ đó có cơ sở không?

Không có đối xứng. Không phải là một holocauste cho người Do Thái, vì Israel có một trong những quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Israel đã bị giáng một cú ngất ngư nhưng đấy không là một mối đe doạ có thể so sánh với Holocauste. Còn đối với người Palestine, Nakba vẫn tiếp tục từ năm 1948. Và sẽ phải trải qua nhiều thế hệ mới hồi phục sau những cuộc tấn công vào Gaza.

Đây quả là một Nakba thứ nhì. Người Palestine đang trải qua một cảnh ngộ gây rất nhiều chấn thương, đe doạ cả sự sống còn của họ. Chúng tôi, người Israel, cũng trải qua một cảnh ngộ gây rất nhiều chấn thương, nhưng theo tôi, [chúng tôi] không phải [đứng trước] một đe doạ sống còn.

Những tội ác gây ra ngày 7 tháng 10 tàn bạo như chưa từng thấy. Quy mô cuộc phản công của Israel cũng thế. Giải thích thế nào sự phi nhân hoá ở cả hai bên?

Tôi không phải là chuyên gia về xã hội Palestine. Tôi không thể trả lời điểm này. Nhưng chiến tranh bao giờ cũng đi cùng với phi nhân hoá phía bên kia. Và chúng tôi sống trong chiến tranh từ mấy chục năm nay, từ 1948. Israel không thể biện hộ cho Nakba, sự chiếm đóng, chế độ apartheid và bây giờ chiến tranh diệt chủng ở Gaza, mà không phi nhân hoá người Palestine. Nếu chúng tôi công nhận họ là con người, chúng tôi không thể bắt họ phải chịu những điều ấy. Sự cố ngày 7 tháng 10, với sự tàn bạo và quy mô khủng khiếp, đã đẩy nhanh hơn quá trình này.

Khi anh phi nhân hoá người khác, anh tự cho phép anh hành động vô nhân đạo. Và hiện tượng này càng tồi tệ hơn giữa giới trẻ. Nhiều thế hệ sinh ra sau năm 1967 và chỉ biết Israel như một nước thi hành chiếm đóng; ngay cả tôi, sinh năm 1966. Nhưng đối với những người sinh sau cuộc Intifada thứ nhì [2000-2005], khái niệm hoà bình là cái gì hoàn toàn xa lạ. Lúc họ trưởng thành, không có thảo luận về hoà bình hay đàm phán đúng nghĩa, một bức tường phân chia được dựng lên… Và sau bấy nhiêu năm tháng với những chính quyền cánh hữu, một phần do Benyamin Nétanyahou lãnh đạo, hậu quả ra sao ai cũng thấy.

Lại còn có quan điểm Israel hùng mạnh – ít ra cho đến ngày 7 tháng 10- việc gì phải nhượng bộ và từ bỏ những đặc quyền của mình? Năm 2018, Israel đã ban hành đạo luật về “Quốc gia dân tộc” [qui định quyền tự quyết trong quốc gia Israel chỉ dành cho dân tộc Do Thái], một văn bản chỉ liên quan đến chúng tôi [người Do Thái]. Người Palestine không thuộc vào dân tộc được xem như nền tảng của quốc gia, và do đó sẽ luôn bị phân biệt đối xử, ngay cả trong quốc gia Israel. Trong bối cảnh ấy, những người trẻ [Do Thái] khó mà nhân tính hoá người Palestine, và đây là một thảm kịch rất lớn.

Trong quyển « The Holocaust and the Nakba. A New Grammar of Trauma and History »,, cùng viết với chuyên gia chính trị Bashir Bashir (Columbia University Press, 2018), ông cổ vũ cho sự đồng cảm lẫn nhau giữa người Israel và người Palestine. Điều này còn khả thi không?

Với Bashir Bashir, bạn tôi, chúng tôi đề nghị một tầm nhìn: một “chủ nghĩa hai dân tộc bình đẳng”, trong đó người Do Thái và người Palestine có thể chung sống “từ sông đến biển” (4), trên cơ sở bình đẳng trọn vẹn, cả hai dân tộc đều hưởng tất cả các quyền cá nhân. Không bên nào có đặc quyền, như người Do Thái hiện nay. Chúng ta cần phải có không chỉ đồng cảm mà còn một “sự lung lay thấu cảm” qua đó thông cảm nỗi đau của người khác khiến ta nhìn lại, suy nghĩ lại những gì là căn bản của chính mình. Trong cái biển máu hiện nay, những ý tưởng này giống như khoa học giả tưởng.

Ông nghĩ thời gian tới sẽ ra sao?

Máu đổ, máu đổ, và máu đổ. Tôi không thấy gì khác ngoài một tương lai kinh hoàng. Nhưng chúng ta phải bám víu vào nhân tính chung của chúng ta và hi vọng một ngày, chưa biết bao giờ, mọi chuyện sẽ khác.

Stéphanie Le Bars
Đỗ Tuyết Khanh dich
Nguồn bài tiếng Pháp :

https://www.lemonde.fr/idees/article/2024/10/29/amos-goldberg-historien-israelien-ce-qui-se-passe-a-gaza-est-un-genocide-car-gaza-n-existe-plus_6364702_3232.html?random=2053421546

Nguồn bản dịch tiếng Việt: https://www.diendan.org/the-gioi/amos-goldberg-su-gia-nguoi-israel-201cdieu-dang-xay-ra-o-gaza-la-mot-cuoc-diet-chung-vi-gaza-khong-con-ton-tai201d

Chú thích :

(*) Những câu chữ viết nghiêng trong ngoặc […] là của báo Le Monde.

(1) Đại học Israel theo truyền thống Anh Mỹ, một số chức vụ giáo sư được gắn tên một nhà văn hóa, khoa học để vinh danh người ấy.

(2) Trong bài này, chúng tôi không dịch một số thuật ngữ đã được ghi vào lịch sử chính trị quốc tế, vì tầm quan trọng của sự kiện hay địa danh gắn với thuật ngữ ấy : holocauste, apartheid, intifada, kibboutz…, bạn đọc có thể dễ dàng tìm hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ đó trên nhiều trang mạng như từ điển Wikipedia.

(3) Xem bài viết về vụ kiện này, “Mười điểm cáo buộc của Nam Phi chống lại Israel“, bản tiếng Việt của Phân tích kinh tế đã được giới thiệu trong mục « Thấy trên mạng » của Diễn Đàn.

(4) Cụm từ “từ sông đến biển” là một phần của khẩu hiệu nói lên ý muốn Palestine tái lập lại chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình, từ sông Jourdain, đến biển Địa Trung Hải : “Du fleuve à la mer, la Palestine sera libre”, “From the river to the sea, Palestine will be free”. Câu này đã xuất hiện trên các băng-rôn trong các đại học ở Mỹ và châu Âu khi các sinh viên ủng hộ Palestine và phẫn nộ trước sự huỷ diệt ở Gaza, đã biểu tình, chiếm phòng ốc, tháng 4 và tháng 5 năm nay, như ở các đại học Columbia, Harvard ở Hoa Kỳ, Sorbonne, Science Po ở Pháp, và các đại học Genève,  La Sapienza  ở Roma,  Amsterdam, Berlin, Cologne, London, v.v

Ảnh từ Google