3 thg 12, 2024

GÃ THIỀN GIÀ - Ngộ Không Phí Ngoc Hùng

 

GÃ THIỀN GIÀ 

        Gã ngồi cái nấm mọc, nhưng là cái nấm biết tu bia, và dẫu chuyện với tôi về cái hay hớm của thiền, để thuyết phục tôi thiền. Gã nhét vào tai tôi những nét thăng hoa phát tiết của thiền. Số là một lần tôi dại dột nói thiền có gì hay ho đâu. Gã “mổ” lại tôi: Có biết công án Thiền sư qua sông không? Không đợi trả lời, gã tiếp: Vậy là chú mày chả biết quái gì về thiền. Gã nhũn não hồi này ở trong nước có cao trào mang thiền vào quán nhậu. Vì cần thuyết phục người đối thọai, dùng công án thiền dễ hiểu hơn nhiều với "vô ngôn", "vô ngã", "vô sở đắc", "vô sở trụ"…rất rõ ràng, sáng tỏ.

            Cuối tuần này có mưa gió nhì nhằng, gã “nằm” liêu xiêu ở nhà, căng mắt quán chiếu lên trần nhà để thiền. Thấy lạ quá chừng, tôi hỏi gã…”nằm” thiền làm gì mà khổ vậy, hết ngồi lại…nằm, chẳng thiền có chết ai đâu. Thế là gã lên đồng với chữa nghĩa, nhập hồn nhập vía vào thiền qua khuôn mặt thiền tính, thiền quán, gã…thiền nhập môn cho tôi.

       Khi Mã Tổ còn là tăng và ngồi thiền. Bạn là Nam Nhạc hỏi:

       - Ông ngồi thiền để làm gì vậy?

       - Để làm Phật.

       Nam Nhạc vặn vẹo Mã Tổ:

       - Thiền không ăn nhằm đến nằm hay ngồi, học Phật như vậy là giết Phật. Phật vốn vô hình, vô tướng. Chấp tướng pháp vào ngồi thì không đạt được cái lý của thiền học.

        Nhân tướng pháp với vô hình, vô tướng, gã không có tướng lại có tính là tính học đòi theo cụ Tú non Côi sông Vị nhập thế tục bất khả vô văn tự, chẳng hay ho cũng húng hắng một vài. Bởi là bạn đời của gã nên tôi biết tỏng gã viết bài cho đặc san Đồng tu cho nhà chùa ở San Antonio. Phải gió cắn răng gì đâu, vậy mà ngày nào gã…tu hai chai bia. Bèn hỏi…tu gì ngon ăn vậy? Gã nhét thiền vào miệng tôi như vầy:

       Thiền sư Gazan được thiền sư Hakuin mời tới thiền viện, thay vì hầu trà như mọi khi, thiền sư Hakuin rót rượu vào mấy cái chén thố và bày ra một đĩa thịt chó.

       Thiền sư Gazan hỏi:

       - Tại sao ông uống rượu, ăn thịt chó.

       Thiền sư Hakuin đáp:

       - Tại tôi là người

      Thiền sư Gazan nổi cáu:

      - Ông là người còn tôi là gì.

      Thiền sư Hakuin chăm chăm nhìn vào mặt thiền sư Gazan:

      - Ngài là ông Phật vì ngài không uống rượu, ăn thịt chó.

            Tôi trộm nghĩ vụng hai ông thiền sư Nhật rõ rối chuyện, vặc nhau như mổ bò vì…đĩa thịt chó. Trong khi với chuyện thịt chó của ta có Phật tính hơn nhiều. Vì cụ Nguyễn Tuân kể chuyện từng được một ông sư đãi một bữa thịt chó độc đáo. Thịt chó ướp gia vị, đặt vào giữa bông sen, bó lại, đem đồ cho chín dừ. Món ăn vừa tục vừa thanh, vừa có vị chát của nhựa sen vừa có hương thơm hoa sen của nhà Phật.

        Gã viết...báo chùa bút hiệu…Ngộ Không. Bởi dựa thiền môn, gã nhang thơm đèn thắp, cảo mực đề văn, nuốt câu bớt chữ, thêm dấm thêm tương dăm khỏen chữ Nôm. Bởi nhuốm mùi nho phong mực tàu giấy bản bấy lâu gã hủ nho, hủ nút khủng khỉnh cọ đít nồi một mẻ chữ Nho chi, hồ, giả, dã để tô điểm cho cái ngộ của gã. Ấy là:

       Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ.

       Nói cho ngay nào tôi có khác gì con ếch, con bướm của Trang Tử. Vì con ếch ngồi trong đáy giếng, làm sao nói được chuyện biển cả. Con bướm chẳng sống qua mùa hè làm sao nói được chuyện tuyết rơi. Thấy mặt tôi bè ra như cái bướm, mắt trố ra như mắt ếch. Gã khai mê phá ngộ cho tôi qua cái ngã của gã:

        Nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, không nghi không ngộ.

        Gã tha ma mộ địa: Theo nhà Phật, mọi thứ trước khi giác ngộ đều mê lầm. Con người ta bị chấp trước mê lầm. Chỉ khi nào tống khứ được chấp mới có thể đạt ngộ. Từ đạt ngộ, gã vắt qua “ngộ không” là cảnh giới cao nhất. Khi con người ta tìm tới thanh tịnh, người đó có thể chống lại những cám dỗ chuyện đời thường và rất gần với chân nguyên. Hay nói khác đi. Ngộ không là giác ngộ với chữ Không.

       Bố khỉ, thà gã nói quách Ngộ Không là…’’không ngộ’’ cho tôi đỡ rối trí.




Một ngày với bất nghi bất ngộ, gã đi tìm ấn chứng của gã qua ông thiền sư Bồ Đề Đạt Ma. Ông thiền sư đứng trên thuyền lau không có mái chèo, chẳng ai hay ông từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Gã như ông chả biết gã từ đâu đến và mai này sẽ về đâu? Gã lọ mọ theo ông vào hang hốc thấy ông diện bích trong núi 9 năm, không nói một tiếng, mà nếu có nói ông nói tiếng Ấn Độ nên gã chả hay gã là ai. Gã chỉ thấy hình tướng gã qua bức tranh vác trên vai cây gậy quảy…một chiếc dép.

        Tại sao hình ảnh Bồ Đề Đạt Ma có 1 đôi dép lại không quảy hết, mà quảy 1 chiếc? Gã mài óc nghĩ không ra. Từ đó gã như người sống trên mây, gã hành thiền bằng cách ngồi trong thảo lư ở Trúc gia trang nhìn mây bay gió thổi, uống bia, loay hoay với chậu Bonsai, và dao kéo và bật cười khan một mình. Gã nào khác gì mấy ông thiền sư ẩn náu cả chục năm trong núi, suốt ngày hết chống gậy lên núi thấy núi không là núi, rồi lại chống gậy xuống sông thấy sông chẳng là sông. Đến khi mệt mỏi tựa gốc cây, ngửa mặt lên trời cười khan…như gã. Thế là gã nhân sinh quý thích chí vì gã đã…ngộ.

      Thấy tôi chưa ngộ nên láo ngáo về thiền, gã dậy: Công án của thiền, không nên luận giải hay phân tích. Công án vô nghĩa đến đâu nhưng vẫn có những ẩn tàng một cái gì sâu xa đằng sau câu trả lời. Nếu chú mày có căn tu, một ngày nào đó trái nắng trở trời, chú mày sẽ…ngộ ra thôi. Thảng như công án với khúc cây Bonsai vô ngôn hảo diệu, nụ non mãn khai nói lên một chuyện tình cùng những hệ lụy lây dây với thiền nằm ở…khúc sau (xem tr 5). Chuyện tu có sư ngay dưới đây, nhưng ở…chợ.

        Chuyện là một ngày như mọi bữa, sáng bảnh mắt ra tôi pha cà phê cho gã, chiều ngồi đồng hầu bia. Tôi hầu gã hơn hầu bố tôi không bằng, thế mới lạ. Ấy mà lạ hơn nữa sáng nay có tiếng réc réc như dế kêu, tôi đưa cái “cùi bắp” cho gã. Lát sau, gã xách xe ra khỏi nhà, biết có mục, tôi đeo theo vào một quán vắng trong chợ Hồng Kông ngay sau lưng nhà. Người gọi điện thọai cũng vừa tới, ấy là hai mẹ con. Qua chuyện hóa ra gã và bà ta là anh em họ. Bỗng bà bảo con ra chợ mua ít đồ mang về Sài Gòn, rồi lấy trong ví ra tấm hình đã cũ. Tôi dòm thấy ba người: Gã, bà ta và…một cậu trai.

       Cậu trai tóc chải ngôi giữa, mới đầu tôi nghĩ là họ hàng chi đây, hóa ra là bạn cùng xóm của gã và bà ấy khi còn trẻ. Bà ta thì thầm sụt sùi như ấm ức, cớ sự vậy nên tôi càng lắng tai với tiếng còn tiếng mất, nhưng nghe xong, tôi muốn bá thở.

       Giê-su-ma lạy Chúa tôi, cô con gái của bà là: Con của một…ông sư.

        Vì vậy từ trong quán ngòai phố chợ, tôi cứ năng nhặt chặt bị để viết thành truyện Gã thiền giả, bởi không phải là nhà văn nên chả cần cốt truyện. Tôi cứ dựa dẫm vào gã có sao kể vậy. Có trước có sau vừa từ phố chợ về, gã xách bịch bia ra vườn ngồi uống. Đang tu, mắt gã lóe lên như đom đóm đực, gã quơ tay chộp được hai con ruồi như ruồi trâu. Tôi nghĩ dại, hay gã bắt mồi đưa cay. Ực hết chai bia, gã nhón từng con, bỏ vào chai không, nhưng vẫn còn chút ít bia thừa. Vừa rơi tõm xuống lớp bia mỏng tang, chưa yên chỗ, con ruồi con đã thoả mái tắm táp, lau mày lau mặt, như con gái vậy. Còn con ruồi lớn đủng đỉnh chấm mút chút bia cặn, rất tửu đồ, rất nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ.


 

Mắt ngó chừng hai con ruồi, gã nhìn tôi ra ý dò hỏi ắt là một cái, một đực chăng? Gã và tôi, thấy mỗi lần con cái vo ve, con đực như bực bội và loi ngoi muốn bò ra khỏi cổ chai. Khi không gã nhỏm dậy đi lấy cái kéo, đồ nghề Bonsai. Tôi chắc mẩm gã ngứa mắt vì ba cái cành mọc ra lạc lõng nên muốn tỉa tiếc chi đây. Vì mỗi lần hòan tất xong một tác phẩm nghệ thuật…cây. Gã lỳ một lam, tôi làm một ly, rồi gã đổ vấy cho cụ Cao Bá Quát đọan tống nhất sinh duy hữu tửu và buồn tình ngâm nga khỏang trời đất cổ kim, kim cổ, mảnh hình hài không có, có không.

         Tôi chả cần mảnh hình hài không có, có không gì sất, lẫm đẫm theo gã, thấy con đực rất tửu đồ, tôi âm ử theo cụ Vũ Hòang Chương qua Say đi em: “chân rã rời, quay cuồng chi được nữa, gối mỏi gần rơi…”. Nghe câu ”gối mỏi gần rơi” với gối gần chân, gã nhón con đực vừa bò ra khỏi cổ chai, quơ cái kéo cắt béng...hai chân nó. Gã bỏ con đực vào lại chai. Lần này, con cái gặp lại chàng…ngày về nay đã cụt chân bèn nhẩy tót lên lưng con đực bắt nó cõng. Con đực cõng con cái nhẩy cà tửng, cà tửng. Ngứa mắt, gã dốc chai bia lôi con đực ra, cắt hết chân nó và bỏ vào lại. Rơi xuống đáy chai, con ruồi té cái bịch vào chút ít bia thừa.

        Là người trần mắt tục, dòm con ruồi đực cõng con ruồi cái, thêm …vũng bia như vũng nước. Hốt nhiên trong đầu tôi bật ra truyện Sư cụ và cô lái đò mà tôi viết về gã khươm mươi niên trước. Chuyện ấy tôi tam toạng về sư cọ, sư mô, sư tàng, tôi hư cấu gã chưa phải là sư, chỉ là sư mõ...gõ mõ nên chưa đạt tới sắc-không, nghĩa là gã không thể uống rượu mà đạt tới cõi...chưa hề uống. Như sắc giới và xác thịt, vì gã là chú tiểu nên sư cụ chùa làng kể chuyện ông sư già cõng cô gái qua vũng nước, ông sư trẻ cứ lậu bậu này kia. Ông sư già đáp: “Ông còn mang cô gái đó theo sao? Tôi đã bỏ cô ta lại rồi mà”. Qua sư cụ chùa làng: ông sư già vô ngã, vô chấp sẽ được an lạc, giải thóat. Còn ông sư trẻ vì chấp nhất, không giác ngộ được. Đó là ý nghĩa về bất chấp giới luật của ông sư già mà sư cụ chùa làng răn dậy gã khi gã là chú tiểu đầu còn ba chòm tóc.

        Vì là chuyện tôi viết, tôi chắc như cua đinh ông sư già nhận thức da thịt mình quả tình có vô tình…va chạm tí ti vào chút dư thừa của cô gái. Ông sư già chứng ngộ được cái ngã của mình ẩn nấp trong bộ áo nâu sòng cũng liễu đạt như ai, trần tục như bất cứ ai. Tạm hiểu ông sư già...không thật. Vì vậy trong Sư cụ và cô lái đò, tôi đưa cụ Tam Nguyên Yên Đỗ vào chuyện. Vì cụ để lại bốn câu thơ được thuật lại qua một bà. Bà này là con của người con gái nhà ai tắm vệ sông mà cụ Nguyễn Khuyến đã gặp một chiều trên bến nước:

      Con gái nhà ai tắm vệ sông

Vú vê để hở váy quai cồng

Ước gì ta được mà ta để…

Ta để mà ta lại…để chung

        Qua sông ai nỡ quên đò như cụ Nguyễn Khuyến. Cụ rất thật với “Ước gì ta được mà ta để, ta để mà ta lại để chung”. Nhất cụ nên tôi đưa cụ vào đây là vậy. Vì ai lại như ông sư già dấu biến cảm xúc của da thịt khi cõng cô gái trẻ.

       Hôm sau, mới sáng tinh mơ gã và tôi rời khỏi nhà. Ngồi trong xe, tôi lẫm đẫm chuyện hai con ruồi, làm như không đúng bài bản. Cuối cùng chịu hết nổi, tôi há họng hỏi. Gã cơm niêu nước lọ chả thiền tính chút nào: Hữu hình tất hữu họai…Mồi điếu thuốc lá, giọng khào khào: Âm động của vô thức, âm thanh không âm thanh. Nghe hãi quá thể, tôi nghĩ dại, thôi rồi cứ như Tiếng vỗ của một bàn tay. Mà giời ạ, tay chân con ruồi bị gã cắt béng đi còn đâu mà vỗ. Tôi chưa kịp “ngộ”, gã luận thêm công án thiền của riêng gã, nghe tức như bò đá: Khi con ruồi không còn chân tay. Nó sẽ bị…điếc. Khỉ thật, tôi đã hư cấu, gã còn hiện thực giả hư cấu thật hơn tôi nữa! Số là tôi dựa dẫm theo gã, tôi hư cấu gã chỉ là sư mõ...gõ mõ nên chưa đạt tới sắc-không, nghĩa là gã không thể uống rượu mà đạt tới cõi...chưa hề uống. Vì phái Tào Động có câu: ‘’Người ta say vì uống rượu’’, đến trần ai khoai củ này, thấy người ta trồng khoai cũng vác mai đi đào, cách đây mươi năm, tôi…đào thêm truyện Sư sở cuồng và người kỹ nữ.

        Vì gã là bạn thâm căn cố đế của tôi, trong Sư cụ và cô lái đò, gã chả biết sắc giới và xác thịt quái gì, vì gã chỉ là tỳ kheo. Qua Sư sở cuồng và người kỹ nữ tôi tôn gã làm sư ông và tôi để gã nếm mùi đời với sắc dục như…cụ Nguyễn Khuyến.

       Trong chuyện này, tôi nhồi nhét gã là sư ông theo tăng tịch Nhật với tên Seikichi, sống cuộc sống đời thường, sư ông mặc quần “ka-ki”, áo “sơ-mi” trắng giản dị như bất cứ ai khác. Nên chẳng mấy ai hay sư là…sư. Ít nữa sư có lấy vợ, cũng chỉ là chuyện đời thường. Một ngày sư ông Seikichi xâm thân thể cho một kỹ nữ. Bà bị lãnh cảm nên tới sư ông Seikichi chữa bệnh bằng cách xâm mình bằng kim xâm với mực tàu.

       Khúc kết tôi lấp lửng với nhân quả:

       “…Và sư đắm chìm trong tình cuồng, trong gieo duyên giải nghiệp. Trong sư đang tách bến phàm trần nhập vào thể tánh. Trong một chớp mắt, tay sư vung bút kim lên: Chấm…một dấu chấm li ti như…hạt bụi. Sau một ngày xâm mình xâm mẩy, sư vật người ra, không hẹn mà gặp, bà và sư đều lăn ra chiếu. Ánh trăng chui qua khung cửa sổ bò lên manh chiếu, leo lên tấm lưng bà loang loáng những vệt mờ ảo vàng ong ong. Dấu chấm rún rẩy như vừa thoát ra cái kiếp lai sinh và đang ngọ nguậy để tồn sinh…

       Ở góc phòng, mảnh tăng bào của sư nằm phủ lên áo kimono của người kỹ nữ… Giữa xáo động và tĩnh lặng…cảnh nói thay người, người chẳng có gì để nói. Chuyện xẩy ra là lẽ tất nhiên của đất trời với xuân hạ thu đông có bốn mùa..”

           Chuyện trên tôi vay mượn cảm hứng từ phim của Đại Hàn, tên Xuân, Hạ, Thu, Đông và Xuân. Cốt truyện có một tiểu tăng bỏ cổ tự, bỏ thầy lên đường không một lời chào. Hắn đi theo tiếng gọi của dục tính. Ngày hắn trở về sư phụ không còn nữa, hắn thay sư phụ trụ trì chùa. Trên đường bỏ chùa mà đi với có nhân có quả, một buổi sáng, hắn nghe tiếng trẻ con khóc ngoài cổng chùa. Bài Bát nhã tâm kinh qua giọng của người con gái nào đó của ngày nào đấy như về từ cõi mộng với từng câu chữ: Xá lợi tử! Sắc bất dị không. Không bất dị sắc. Hắn ở lại cổ am, một mùa xuân mới lại bắt đầu với cậu bé vừa nhập môn kia. Cậu bé là “phân thân” của hắn, hình ảnh hắn mươi năm trước. Mọi thứ lại bắt đầu. Ngoài kia nắng đã lên giữa một mùa xuân có rừng phong và núi đá xanh rêu. Trong cổ am, con rắn già chậm rãi bò ngang bàn Phật, lặng lẽ, và thành kính

         Thế là tôi hỏi về bạn gã mới gặp ngoài phố chợ. Gã trả lời bằng cách quay đi và phun khói mù mịt. Quay cửa kính xe xuống cho đỡ ngộp, ngó ra ngòai thấy bảng chỉ đường. Ủa, gã đang lái tới Sealy chỉ cách Houston mấy chục dặm đường. Tôi hỗng người, tất cả mọi sự từ hôm qua đến hôm nay ăn khớp với nhau như hai cái đĩa răng cưa quay vòng vòng. Vậy mà cái đầu đất tôi nghĩ không ra!  Vì gần đến thành phố Sealy nhỏ bé, rẽ vào con đường mòn có một cái chùa. Tại chùa có một ông sư trụ trì.

       Giống cuốn phim câm quay chậm…Rằng bằng vào cách đây không lâu tôi nghe bát nháo gã có một ông bạn nối khố du học ở Nhật, đang học nửa chừng bỏ đi tu theo phái Tào Động, không câu nệ hình thức như sư, thày, đại đức đều là người cả. Sư giống như người, có gì ăn nấy, có rượu saké càng vui, có vợ lại càng tốt.      

       Gã và sư gặp nhau, ở ngòai sân chắp tay thủ lễ bạch thầy với thí chủ. Bước vào trai phòng, họ mày, tao chi tớ đâu ra đấy. Bởi mới nhập môn với gã, tôi chân trong chân ngòai cửa thiền, nên rất ngại hầu chuyện sư. Nhưng gặp rồi tôi ngờ ngợ thấy sư có nét hao hao giống ai đấy hiện ra trong chốc lát ở đâu đó, tôi nặn óc nghĩ không ra. Khi sư chỉ cây Bonsai và chuyện trò với gã rằng một ngày như mọi ngày: Tối sư bê ra ngòai hứng sương đêm, sáng sư khiêng vào đặt trên bệ cửa sổ. Mà cây Bonsai nào có đẹp gì cho cam, chỉ là gốc mai rừng trơ trụi, với dăm chiếc lá èo uột, vật vờ trên khúc cây già cỗi chẳng có đến một cái nụ non mãn khai. Tôi hỏi tên chậu Bonsai, sư xa vắng…

       Gió thông đưa kệ tan niềm tục

       Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời

       (Trần Nhân Tôn)

        Vậy là “mọi sự” rõ như đêm giữa ban ngày. Mặc gã hục hặc lái xe về lại Houston. Tôi cỏ hoa lạc lối về ông sư trụ trì ở ngôi chùa lạc lõng tại Sealy và cô em họ gã. Họ giống đức Bồ Đề Đạt Ma đi trên chiếc thuyền lau về cõi ngộ, cả hai cùng đi chung một con thuyền hệ lụy, chưa ghé bến ngộ, đã tới bờ mê. Gần nửa đường, hình ảnh cây Bonsai ẩn hiện trong tôi hiu hắt gì đâu. Tôi quay qua gã, bóng gió xa xôi về ông sư đã chôn một quãng đời tục lụy trong lời kinh tiếng kệ, tiếng chuông tiếng mõ, nhưng hình như nghiệp vẫn chưa dứt còn theo mãi cho đến nay. Ngày ngày ông còm cõi bê ra, khiêng vào khúc cây khô. Tôi thu vén khúc cây ấy ắt sẽ có một mùa xuân như phim Xuân, Hạ, Thu, Đông và Xuân. Kết cấu có khúc: “Trong cổ am, con rắn già chậm rãi bò ngang bàn Phật, lặng lẽ…”. Vì vậy với chuyện ở trên thiên đàng có…con rắn quấy quả ông Adam, bà Eva chỉ là…chuyện đời thường thôi.

        Gã thao láo như mắt rắn ráo nhìn tôi. Trong một sát na với tiếng chuông tỉnh thức. Gã lẳng lặng vòng xe trở lại ở một khúc quanh gần nhất. Và bắt.. một bịch bia. Về đến nhà gã nói tôi ra vườn uống bia với gã. Trong khi gã nhẩy bổ vào phong lấy sấp bản thảo bảo tôi đọc. Thóang dòm bài tạp văn có tựa đề…“Gã thiền giả, hay thiền thật”:

       Gã viết về gã tòan công án thiền, đại thể: “Thiền là gì?”. Trả lời: “Thiền là một cái gì đó tròn và lăn…”. Nếu người học thiền ngớ ra không hiểu. Bèn tiếp: “Một cái gì không diễn tả được…”. Tôi đồ là cái mũi trước mắt gã…gã còn không nhìn thấy nữa là…là tôi. Vì vậy với tạp bút Gã thiền giả này, tôi thấy sao rót tồ tồ vào giấy. Tôi viết về gã khó hiểu một cách vừa phải về đàn ông và đàn bà qua…con ruồi đực, con ruồi cái. Tôi chả triết Đông, triết Tây gì sất, tôi chỉ dựa vào nguồn gốc con ngươi từ thời cổ đại La-Hy. Một cái gì đó tròn và lăn từ đỉnh núi xuống tách ra làm hai cục thịt: Một cái gì không diễn tả được chỉ là…cục thịt đàn ông và cục thịt đàn bà đi tìm nhau.

        Bởi gã quái vậy mới là thiền sư. Vậy chứ gã thiền thật hay thiền giả?. Giả hay thật. Câu trả lời có và không. Có đấy mà cũng…không có đấy. Tuy nhiên trong Gã thiền giả dường như “cái tôi” của gã là âm bản “cái ngã” của tôi nên tôi không biết…tôi là ai. Vì vậy đành bấm bụng…bấm cái “cùi bắp” hỏi sư trụ trì ở Sealy, ông cười nhín:

        - Ấy là Chứng bệnh Ferma ở phương Tây: ngẫu sự là cái đầu hiện thực giả, hư cấu thật của bạn tạo ra nhân vật thứ hai để nói chuyện. Cái xứ vật chất này đã nuốt chửng cái thằng người thực của bạn và khạc ra một thằng người khác là gã.

        Bạn chính là gã chứ chẳng ai khác.

 

                                                                                      Trúc gia trang

                                                                                     Canh Dần 2010  

                                                                            Ngộ Không Phi Ngọc Hùng

                                                                                (thêm bớt 2017, 2024)

 

Nguồn: Ngô Ngọc Trang, Nguyễn Hoài Phương

Tọai Khanh, Laiquangnam, Nguyễn Đại Thuật

 

 Mời Xem Lại :

Chữ nghĩa làng văn Kỳ 15/11/2024 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng


Cảm Tạ Cuộc Đời - Huỳnh Kim Quang


 Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ (Thanksgiving Day, ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 11 hàng năm) được cho là khởi đầu vào năm 1621 khi những người di cư đầu tiên từ Anh Quốc đến Bắc Mỹ tạ ơn và ăn mừng với người Mỹ Da Đỏ bản xứ về một vụ mùa màng được thu hoạch khấm khá. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ đến và đền đáp phần nào những ơn nghĩa mà mình đã nhận được trong cuộc đời này.

Trong bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên viết khi ra tù cộng sản sau cuộc đổi đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, có câu thơ mà tôi rất thích: “Cảm ơn hoa đã vì ta nở.”

Hoa nở rồi hoa tàn là chuyện rất bình thường theo luật tắc sinh trụ hoại diệt của vạn vật, như nhà Phật đã nói. Hoa có biết nó nở vì ai không? Làm sao chúng ta biết được hoa nở là vì chúng ta? Nhưng nếu không có hoa nở thì làm sao nhà thơ họ Tô kia có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên! Vì vậy mà khi nhìn đóa hoa nở nhà thơ Tô Thùy Yên đã nói lời cảm ơn vì cảm nhận rằng hoa đã vì ông nở.

Đó không chỉ là sự tinh tế trong tâm hồn của một nhà thơ đa tài, mà còn là sự sâu sắc trong nhận thức của một con người nhân hậu biết cảm nhận và tri ân sự hiện hữu của những thứ khác chung quanh cuộc sống của mình. Rằng trên cuộc trần thế này không phải chỉ mỗi mình ta tồn tại mà sự tồn tại của mình gắn liền một cách không thể tách rời với những tồn tại khác. Điều này đã được nói đến trong kinh điển nhà Phật rằng, “Cái này có nên cái kia có. Cái này không nên cái kia không. Cái này sinh nên cái kia sinh. Cái này diệt nên cái kia diệt.” Rằng sự tồn tại của mỗi người, mỗi vật trên trần gian này đều nhờ vào sự có mặt của những người khác, những vật khác dù là trực tiếp hay gián tiếp. Đó là mối tương quan, tương duyên vô tận giữa tất cả sự sự vật vật trong vũ trụ, theo quan điểm của Phật Giáo.

Nhìn theo ý nghĩa đó thì cuộc đời của một con người đã nhận được biết bao nhiêu ơn nghĩa, từ cha mẹ, vợ chồng, con cái, thầy bạn, láng giềng, dân tộc, xã hội đến núi rừng, sông biển, và môi trường sống, v.v…

Đời người có rất nhiều ơn nghĩa
Chính vì vậy, đời người có rất nhiều ơn nghĩa dù chúng ta biết hay không. Từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt lìa đời, chúng ta thọ nhận biết bao ơn nghĩa!

Trước hết là sự có mặt của chúng ta trên đời này. Chúng ta không thể tự mình bước vào thế gian này nếu không có những trợ duyên gần và xa. Duyên gần và trực tiếp thì có cha mẹ là những người sinh ra chúng ta. Duyên xa và gián tiếp thì có bệnh viện, trạm y tế, bác sĩ, y tá, bà mụ, thuốc men, v.v… hỗ trợ cho việc chào đời của chúng ta. Đó chỉ là kể đơn giản một số yếu tố dễ nhận ra nhất, nhưng chừng ấy yếu tố không phải là tất cả. Nếu kể thêm thì chúng ta không thể bỏ qua ông bà nội ngoại là người sinh ra cha mẹ của chúng ta. Bác sĩ, y tá, bà mụ cũng vậy. Họ đều có cha mẹ, ông bà. Bệnh viện, trạm y tế, thuốc men đâu phải tự nhiên mà có. Chúng cũng được tạo dựng từ nhân công, vật liệu mà những thứ này cũng phải nhờ các yếu tố khác hỗ trợ để có sẵn cho chúng ta sử dụng. Còn nhiều yếu tố, nhiều duyên lắm không kể hết.

Nhưng đâu phải chúng ta chào đời rồi thì tự nhiên trưởng thành nên người mà cũng phải cần đến rất nhiều điều kiện hỗ trợ khác, từ việc nuôi dưỡng của cha mẹ mà trong đó có tình thương yêu và các loại thực phẩm bổ dưỡng cơ thể đến môi trường giáo dục ở gia đình, học đường và xã hội mà trong đó có thầy cô giáo, bạn bè, sách vở, v.v… Còn rất rất nhiều yếu tố giúp chúng ta từ tuổi măng non đến khôn lớn nên người. Chẳng hạn, các thầy cô giáo cũng cần có cha mẹ sinh họ ra và nuôi lớn họ, cũng cần có môi trường giáo dục để có kiến thức và học vị rồi mới dạy lại được học sinh của họ. Bạn bè chúng ta cũng vậy. Họ cũng được sinh ra và nuôi dưỡng bởi cha mẹ. Họ cũng được các thầy cô giáo dạy trong các trường học, v.v…

Đến tuổi trưởng thành rồi chúng ta làm gì? Có người yêu, làm đám cưới, sinh con đẻ cái và tạo lập gia đình hạnh phúc mà trong đó có biết bao nhiêu là ơn nghĩa được thọ nhận. Người bạn đời của chúng ta đâu phải tự có mặt trên trần gian mà phải nhờ cha mẹ dẫn họ đến thế giới này và từ lúc ấu thời đến khi trưởng thành để lập gia thất thì cũng nhờ vào vô số các điều kiện trợ giúp. Chỉ nói việc tổ chức một đám cưới không thôi thì cũng có biết bao nhiêu yếu tố hỗ trợ để làm nên, từ nhà hàng, thức ăn, khách mời, gia đình hai họ nhà trai nhà gái cộng với bà con thân nhân và bằng hữu nữa, cho đến ban nhạc, chương trình văn nghệ, ca sĩ, nhân viên nhà hàng phục vụ từ trong bếp ra đến bàn ăn, v.v… Làm sao có thể kể hết nhân duyên và ơn nghĩa trong ngày mừng hôn lễ của cặp trai tài gái sắc! Ở đây chúng ta không thể không nói đến một trong những ơn nghĩa lớn lao trong đời mình, đó là người yêu của mình, là người đã trao cả trái tim và tình yêu nồng cháy cho nhau.

Khi lớn lên mỗi người trong chúng ta đều phải làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình. Môi trường làm việc có khác nhau tùy theo mỗi người. Có người làm giáo sư, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, tổng giám đốc công ty. Có người làm nhân viên hành chánh trong văn phòng. Có người lao động chân tay trong nhiều lãnh vực. Mỗi công việc đều cần có nhiều yếu tố, nhiều điều kiện hỗ trợ để tồn tại và phát triển. Người làm giáo sư thì phải có trường lớp, chương trình giảng dạy, học sinh, lương bổng đầy đủ. Người làm bác sĩ thì phải có phòng khám bệnh, bệnh viện, bệnh nhân, thuốc men, vật dụng y tế, v.v… Người làm tổng giám đốc công ty thì phải có tổng hành dinh hay văn phòng để điều hành công việc và không thể thiếu các nhân viên giúp việc. Người lao động chân tay thì phải có cơ sở, có công việc để làm, có nhiều đồng nghiệp khác, có lương bổng phù hợp với chức phận của mình. Đó là nói đơn giản còn nói chi tiết hơn một chút thì có thể nêu ra điển hình một công ty với 50 nhân viên làm việc. Cứ mỗi nhân viên trong công ty đó đều có ông bà, cha mẹ, anh chị em, các điều kiện để nuôi dưỡng họ từ lúc còn nhỏ đến khi trường thành để đi làm việc. Nếu chúng ta là một nhân viên trong công ty đó thì chúng ta hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp nằm trong một mạng lưới tương quan tương duyên ơn nghĩa rộng lớn mà chúng ta không thể nào kể ra hết.

Nhưng chúng ta không thể sống khỏe mạnh cả đời. Có lúc, nhất là khi tuổi già sức yếu, ai trong chúng ta cũng đều có bệnh, không nhiều thì ít, không nặng thì nhẹ. Đến khi bệnh thì chúng ta phải nhờ bác sĩ, dược sĩ, y tá, nhân viên y tế, phòng khám bệnh, bệnh viện, thuốc men, Medicare, Medicaid hoặc MediCal, các hãng bảo hiểm sức khỏe, v.v… Còn nữa, may thì bệnh có thể chữa khỏi trong năm ba ngày hoặc vài tuần. Nếu không may thì bệnh kéo dài nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm. Bệnh càng nặng càng lâu chúng ta càng phải nhờ nhiều điều kiện trợ giúp, trong đó có bà con thân nhân của chúng ta.

Đừng nghĩ rằng khi chúng ta chết là hết ơn nghĩa. Không đâu. Cho dù sau khi chết chúng ta không còn biết nữa nhưng khi còn sống thì chúng ta đều biết rằng làm đám tang cho mình thì cũng phải nhờ nhiều nhân duyên. Chẳng hạn nhà quàn, các nghi lễ tôn giáo với các vị tu sĩ thuộc tôn giáo mà chúng ta là tín đồ, bà con thân nhân, bằng hữu đến viếng tang và đưa tiễn chúng ta, tài chánh để chi trả cho tất cả những dịch vụ ở nhà quàn, v.v… Lúc đó, chúng ta không còn có cơ hội để cảm ơn nhưng con cháu của chúng ta sẽ làm điều đó thay cho chúng ta.

Hãy nghĩ xem rằng thực phẩm mà chúng ta ăn mỗi bữa, mỗi ngày do đâu mà có? Có hạt gạo để nấu cơm là do bác nông phu cày sâu cuốc bẫm, chăm sóc phân bón nước non đầy đủ từ lúc gieo mạ cho đến khi gặt hái đóng bao. Đó là nói chuyện ở các nước nông nghiệp còn lạc hậu. Nhưng ở các nước văn minh tiến bộ thì việc làm nông cũng không phải đơn giản nhẹ nhàng, nghĩa là phải cần đến nhiều công sức và vốn liếng.

Đường sá mà chúng ta đi dù đi bộ hay đi xe trong các thành phố và khu dân cư trên khắp địa cầu cũng do nhiều điều kiện tạo thành, từ các chương trình xây dựng đường sá của chính phủ tới ngân sách tài trợ và công lao đóng góp của biết bao công nhân làm đường sá và cầu cống. Trong đó còn có yếu tố vật liệu cũng được tạo ra từ vô số các điều kiện hỗ trợ khác. Nói đến đường sá thì không thể không nói đến sự có mặt của những hạt bụi. Đừng tưởng hạt bụi không có giá trị. Nên nhớ rằng cục đất, hòn núi được tạo thành bởi vô lượng vô số hạt bụi. Nếu không có một hạt bụi thì cũng chẳng còn mặt đất để chúng ta sống trên đó.

Nhà cửa mà chúng ta đang ở cũng không phải tự dưng mà có mà phải nhờ đến nhiều yếu tố góp thành như tiền bạc, vật liệu, công nhân mà tự thân những thứ này thì cũng có từ biết bao nhân duyên khác.

Gần hơn nữa là quần áo mà chúng ta mặc thì không phải chính mình làm ra nhưng nhờ rất nhiều nhân duyên khác kết thành để rồi mới có bán cho chúng ta mua. Đừng nghĩ rằng chúng ta đã bỏ tiền ra mua thì xem như là không còn duyên nợ gì với chúng. Không phải thế! Với trái tim nhân hậu của một người bình thường trên thế gian này làm sao khi mặc một chiếc áo, một cái quần mới chúng ta không nghĩ đến công lao khó nhọc của người khác dù đó là của được mua bằng tiền. Chỉ nhìn hoa nở bên đường mà nhà thơ Tô Thùy Yên cũng đã không tiếc lời cảm ơn “hoa đã vì ta nở,” thì làm sao mặc một chiếc áo mới mua chúng ta lại không nghĩ đến người đã làm ra nó và cảm ơn nó đã vì ta mà có!

Còn một thứ quan trọng khác nữa trên đời này mà chúng ta không thể không cảm ơn. Đó là không khí để thở. Nếu không có không khí trong lành để hít thở thì chúng ta không thể nào sống nổi trong vòng bốn phút. Không khí hay nói cho đúng hơn là oxygen để chúng ta thở mà sống phần lớn đến từ biển và phần còn lại đến từ cây cối trên mặt đất. Vì quá thân thiết trong từng hơi thở mà chúng ta thường không nghĩ đến việc cảm ơn không khí và đôi khi quên mất sự hiện hữu vô cùng quý giá của nó.

Đó chỉ là một số ơn nghĩa mà một người có mặt trên đời này đã, đang và sẽ thọ nhận dù trực tiếp hay gián tiếp, dù biết hay không biết. Còn vô lượng vô số ơn nghĩa mà không thể nào kể hết được.

Biết ơn thì phải đền ơn
Biết cảm ơn không những là nhận ra được sự có mặt của tha nhân và những sự vật khác chung quanh cuộc sống của chúng ta, mà còn thấy được giá trị hiện hữu bình đẳng giữa ta và người, giữa ta và các sự vật khác. Không có họ sẽ không có mình và vì vậy chúng ta mang ơn sự hiện hữu của họ. Điều này cũng có nghĩa là không phải đợi đến khi họ làm một việc gì đó có lợi cho mình rồi mình mới nói lời cảm ơn. Sự hiện hữu của họ đã là một yếu tố, một điều kiện, một nhân duyên, và món quà quý giá cho sự có mặt và tồn tại của chúng ta.

Ngày đầu tiên tôi đến Mỹ cách nay hơn ba thập niên điều làm cho tôi rất chú ý là lời cảm ơn được nghe ở mọi nơi, mọi lúc và từ mọi người. Đó là một trong những tập quán rất đẹp mà mọi người dành cho nhau. Lời cảm ơn được nói ra một cách tự nhiên từ một hành động rất nhỏ như nhường đường cho người khác đi hay nhặt và trao lại một vật rơi cho chủ nhân của nó. Trên những toa xe điện ngầm trong thành phố New York, tôi thường xuyên nhìn thấy cảnh một người đứng lên để nhường chỗ ngồi cho người khác, có thể là người lớn tuổi hay người phụ nữ mang thai. Cứ mỗi lần như thế tôi đều nghe lời cảm ơn được nói ra. Chính hình ảnh nhân hậu và tử tế đó đã khiến cho tôi cảm thấy rất tự nhiên để nói lời cảm ơn đối với người khác.

Nhưng không phải chỉ có lời cảm ơn là đủ. Có những ơn nghĩa trên đời này chúng ta cần phải làm một cái gì đó cụ thể để trả ơn thì mới thật sự xứng đáng. Chẳng hạn, đối với công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ thì những người con phải đền đáp bằng tấm lòng thành và việc làm cụ thể như quan tâm và chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của cha mẹ khi họ ở tuổi già nua bệnh tật. Truyền thống Việt Nam về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ nằm trong ý nghĩa này.

Đối với xã hội nơi mà chúng ta thừa hưởng rất nhiều di sản quý báu từ giáo dục, y tế, đạo đức, luật pháp, tôn giáo, văn hóa, tập tục, v.v…, thì sự cảm ơn đúng nghĩa nhất chính là đem hết khả năng và tâm huyết của mình để cống hiến trở lại cho xã hội. Hãy làm một nhà lãnh đạo biết xả kỷ để vì dân vì nước thực sự. Hãy làm một bác sĩ có lương tâm biết nghĩ cho những bệnh nhân để tận lực cứu chữa cho họ. Hãy làm một nhà giáo mô phạm đem hết sở học của mình để truyền lại cho thế hệ con em. Hãy làm một ông chủ không vị lợi mà biết quan tâm đến quyền lợi và cuộc sống của những người làm việc cho mình…

Khi thế giới còn rẫy đầy bất công, bạo lực và chiến tranh thì mỗi người sống trong đó đều có trách nhiệm đấu tranh cho bình đẳng và hòa bình. Tất nhiên, không phải ai cũng là Mahatma Gandhi của Ấn Độ, Martin Luther King Jr. của Mỹ hay Nelson Mandela của Nam Phi có tài năng và đức độ để thực hiện thành công những cuộc cách mạng vĩ đại làm thay đổi lịch sử của đất nước và cả thế giới. Nhưng mỗi người trong chúng ta với tư cách là những thành viên của cộng đồng nhân loại vẫn có khả năng xây dựng những viên gạch đầu tiên cho bình đẳng và hòa bình của thế giới này bằng chính cuộc sống thể hiện sự bình đẳng và hòa bình trong đời thường của chúng ta. Tạo sao? Bởi vì không có bình đẳng và hòa bình trên thế giới này nếu không bình đẳng và hòa bình trong tâm thức và cuộc sống của mỗi con người.

Trái đất mà chúng ta đang sống và thọ nhận vô số ơn nghĩa ở trên đó đã và đang ngày càng bị tổn hại với bão lụt khắp nơi bởi thảm nạn biến đổi khí hậu bắt nguồn từ tình trạng khí thải nhà kính do sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch, đốt phá rừng bừa bãi, đô thị hóa ngày càng mở rộng, quăng bỏ các đồ đạc làm bằng nhựa để chúng trôi ra biển giết hại sinh vật ở biển và phá hoại môi trường sinh thái ở đại dương. Không có lời cảm ơn hành tinh nào bằng hành động bảo vệ môi sinh cho trái đất của chúng ta. Còn có rất nhiều điều chúng ta có thể làm để đền đáp ơn nghĩa cho cuộc đời này.

Thay lời kết cho bài này xin mượn câu nói của nữ văn sĩ người Mỹ Ellen Hopkins đã từng viết rằng, “Đôi khi những điều nhỏ nhặt trong cuộc đời lại có ý nghĩa nhất.”

Quả thật vậy, đôi khi chúng ta nghĩ rằng lời cảm ơn có thể là việc nhỏ, nhưng sự thật nó lại có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của chúng ta. Nó là chìa khóa mở tung cánh cửa tâm thức của chúng ta để nhìn vào thế giới tương quan, tương duyên vô tận. Nó là lời chứng cho nhận thức của chúng ta về sự có mặt giá trị của tất cả mọi thứ trong cuộc đời mình. Nó mang đến cho chúng ta cảm giác hài lòng và an ổn về cõi đời này, bởi vì đó là cảm nhận rằng mọi thứ chung quanh mình đều không phải hoàn toàn bất thiện và không có giá trị.

Chúc mọi người mùa Lễ Tạ Ơn nhiều sức khỏe và an lành.

Huỳnh Kim Quang (vietbao.com)


2 thg 12, 2024

Mời Xem Để Nhớ : CHỨNG CHỈ KHẢ NĂNG SP 1972 của SP Saigon và SP. Long An

 


VƯỜN THƠ MỚI Kỳ 159, Bài Xướng : VỚI BẠN NGÀN XA -Tâm Quả

 

Xướng:


Với bạn ngàn xa

Ngày đông tuyết phủ lặng lờ trôi
Tuổi hạc đường mây đã cuối đời
Vạn nỗi thăng trầm chôn mộ địa
Muôn điều trắc trở mặc cơ trời
Buồn vui khép lại thời niên thiếu
Ủ rũ chia xa cuộc đổi dời
Cọp chết gìn da người giữ tiếng
Mai này sử sách rõ ràng thôi.
Nov 12, 2025
 TQ

Họa 1:

Sông nớ mô rồi

Ai để dòng sông rác rưỡi trôi
Ngắm nhìn đau quặn chán mơ đời
Lối xưa nước biếc ngời trong vắt
Vẩn đục bi chừ hôi thấu trời 
Lạ rứa vì răng mình tự hỏi
Quê ta oằn oại bởi di dời
Nghẹn ngào dân khóc không thành tiếng
Nhỏ lệ sầu than ấm ức thôi 
THT
Họa 2:

Vật đổi s
ao dời
 

Thân phận con người buộc nổi trôi 
Những ngày thế chủ ở trên đời
Cơ cầu vận nước theo năm tháng
Cuộc sống lầm than oán trách trời
Luyến tiếc hoài, cảnh thời thịnh vượng
Đau thương thay, vật đổi sao dời
Tang điền gây cảnh trầm luân ấy
Chấp nhận cuộc đời khổ nhọc thôi
PTL


Họa 3:


Khoảnh Khắc 

Lặng lẽ mơ màng nước cuốn trôi
Bao năm xuôi ngược quãng đường đời
Lang lang phiêu bạt theo ngày tháng
Tưởng nhớ băn khoăn một góc trời
Khoảnh khắc thanh bình thời cố quốc
Thuở xưa sâu đậm khó di dời
Lòng người yêu nước trời cao thấu
Mong ước mơ hồ ảo vọng thôi
Hương Lệ Oanh VA 
Nov.14, 2024


Họa 4:

Lẽ tuần hoàn

Muôn thuở, địa cầu cứ mãi trôi,
Bốn mùa lặng lẽ điểm trang đời.
Hạ nồng, đông giá thay màu đất,
Xuân nắng, thu mưa chuyển tiết trời.
Trăng khuyết trăng tròn vui mắt nhận,
Nước ròng nước lớn trách ai dời?
Trần gian sướng khổ trăm năm ấy,
Rồi cũng thành mây, mộng ảo thôi.
Minh Tâm

Họa 5:

Qua đông

Tuyết đổ sông băng nước hết trôi,
Tàn hoa xác lá hận tình đời.
Sương lam nhỏ lệ bay cùng đất,
Gió bấc tê da thổi khắp trời.
Đất khách, quê hương không thấy nữa,
Tha phương, bè bạn đã xa dời.
Qua đông lên nét tìm thi hữu,
Xướng họa chờ xuân sẽ đến thôi.
Mỹ Ngọc
Nov. 17, 2024.

Họa 6:

Nhắn người ở lại

Nắng tắt dòng sông lặng lẽ trôi
Buồn trong nghịch cảnh vẫn yêu đời
Bao năm trắc trở sầu lên mắt
Một phút suy tư ửng sắc trời
Bạn cũ ngày xưa còn mấy đứa
Gian nan khổ nạn chẳng di dời
Đôi lời nhắn gửi người còn lại
Cốt rũ xương tàn cũng giữ thôi
Nguyễn Cang
Nov. 12, 2024


CÁNH DIỀU MÙA XUÂN TRÊN ĐỒNG CHÓ NGÁP

CÁNH DIỀU MÙA XUÂN TRÊN ĐỒNG CHÓ NGÁP


Trời cuối năm gió nghiêng nghiêng thổi qua hàng cây sua đủa bông nở trắng xóa. Vài cánh hoa bị gió cuốn, giần giật bay về phía bờ ao xanh những nhánh rau nhúc bập bềnh. Phía xa là cánh đồng lầy đầy cỏ, cây tạp và những dề lục bình tím ngắt như một điểm nhấn u buồn trên bức tranh màu lạnh.

Mẹ tôi đang ngồi vo gạo bên lu nước mưa hứng từ tháng tám chợt ngừng tay rồi nhìn về phía cánh đồng. Hình như mẹ muốn nói điều gì? Tôi lên tiếng trước: “Sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”. Lúc đó tôi chỉ là một đứa bé mới bảy tám tuổi với rất nhiều thắc mắc về cánh đồng hoang dại nầy. Ở đây chỉ lác đác mươi ngôi nhà tre mái lá cách xa nhau chừng một tiếng hú. Chủ nhân của những ngôi nhà xiêu vẹo ấy là dân tứ xứ trôi dạt về đây sống hẩm hút bên mép bờ dãi đất cao lúp xúp những cây trâm bầu, sua đũa chùm lé gai. Về đêm, nhất là vào những đêm cuối năm khi trời trở mùa gió Bấc, gió vụt qua cánh đồng lầy chợt hú lên. Tôi rất sợ tiếng hú đó. Mẹ hiểu ý nên thường ôm choàng lấy tôi và nói thì thầm: “Đừng sợ, có mẹ đây. Đó chỉ là tiếng gió thế thôi”.


“Mẹ ơi, sao người ta lại gọi cánh đồng nầy là đồng Chó Ngáp, hở mẹ?”, tôi lập lại câu hỏi. Mẹ tôi nhìn tôi ngập ngừng một lát rồi lại nhìn ra cánh đồng mông quạnh, nén một tiếng thở: “Người ta nói cánh đồng nầy rộng lắm, một con chó săn giỏi lắm chỉ chạy chưa đến nửa cánh đồng là đã thè lưỡi ngáp dài rồi. Nói thế để thấy rằng cánh đồng này xa lắm, xa đến tận chân trời…”.

Tôi tự nghĩ trong lòng: sẽ có hôm tôi đi phiêu lưu mạo hiểm qua ngang cánh đồng bao la bát ngát nầy xem thử coi nó rộng đến đâu? Nó không thể nào cứ xa mãi, xa mãi được. Phải có một chỗ nào đó nó dừng lại, chỗ có xóm làng, nhà cửa và người ta. Lẽ nào cánh đồng lầy nầy sẽ đi vào nơi vô tận cho dù người ta có đi hàng tháng hàng năm trời vẫn còn thấy cái mênh mông còn mãi mênh mông trước mặt? Lẽ nào? Tôi nói với mẹ tôi khi hai mẹ con ngồi bên bếp lửa chiều: “Sẽ có một ngày con đi băng ngang qua cánh đồng nầy, chắc chắn ở cuối đường chân trời ấy phải có một thành phố nào đó đông vui”, Mẹ tôi ngưng tay đẩy mấy thanh củi vào cái bếp lò đang cháy mắt trợn lên kinh hãi: “Con nói gì, con sẽ đi qua cánh đồng Chó Ngáp à? Trời ạ, đừng

đừng, chỗ ấy có đi mà không có về đâu con trai của mẹ”.

Sao thế nhỉ? Cái gì có đi mà không có về? Nơi ấy có hùm beo, rắn rít hay yêu quái ăn thịt người? Tôi chẳng mấy tin. Mẹ âu yếm vuốt tóc tôi nói như muốn khóc: “Ngày xưa, lâu rồi lúc mẹ sắp sinh con thì có một hôm cha con cũng nói như thế. Ông ấy bảo phải đi qua được cánh đồng nầy mới có cuộc sống

tốt hơn. Cha con nói cuộc sống là phải sống ở giữa nhiều người, có nhà cửa, có đường phố, có ánh đèn, có quán xá. Ở giữa cánh đồng cằn cõi nầy không thể được coi là cuộc sống. Và con ơi, cha con đã đi qua cánh đồng đến nay quá tám năm mà vẫn chưa thấy trở về…”.Cha tôi là ai nhỉ? Ông ấy ra sao, cao gầy mà nghiêm nghị hay đẩm thấp mà vui tính? Tôi thử hình dung ra một khuôn mặt của người nhưng trong tâm trí non nớt của tôi những hình ảnh ấy chỉ mơ hồ, tản mạn như những lớp mây xốp biến ảo trôi bềnh bồng trên cánh đồng xanh hoang vắng nầy.

Trời đang rủ dần màu tối trên cái cỏi mênh mông nầy. Gió cuối tháng Chạp thổi vù qua ngang cánh liếp đưa chút giá lạnh vào chỗ hai mẹ con tôi ngồi. Ngọn lửa bếp cơm chiều cháy lay lắt. Trên nền trời thẳm đen nhú ra vài ngôi sao sáng xanh như màu sáng của những con đom đóm. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt mẹ tạo ra những mảng tối sáng sống động. Tội nghiệp mẹ, nét mặt mẹ hiện ra vẻ khắc khổ và một sự chịu đựng thật khó tả. Tôi nắm tay mẹ: “Lớn lên chút nữa con sẽ đi tìm cha và chắc chắn là con sẽ trở về với mẹ. Con ghét cánh đồng nầy, nó không thể dài mãi để không có người nào có thể vượt qua. Con thích nhà cửa, phố xá, xe ngựa đông vui. Ở đây buồn quá, sao chỉ có hai mẹ con mình?”. Mẹ tôi chỉ tay về phía những đóm sáng nho nhỏ hiện ra trong những chòm cây lúp xúp: “Đâu chỉ có hai mẹ con mình. Con quên rằng còn có những căn chòi lá kia sao? Ở đó người ta cũng đang nấu những bữa cơm chiều”.

Tôi nhớ ra rồi, cái đóm sáng leo lét nằm dưới ngôi sao Hôm là nhà của một cặp vợ chồng già, ông chồng chuyên đi bắt rắn bắt lươn. Xa hơn một chút mái nhà nằm dưới ngôi sao Vua là mấy căn chòi tả tơi nơi có mấy gia đình sống bằng nghề đi câu cá, câu ếch trong các ao hồ, đầm lầy giữa đồng Chó Ngáp. Một đóm sáng chập chờn phía cuối sao Lưỡi Cày là mái lều tả tơi của một lão trung niên đầu trọc tuếch chuyên đi lặn móc củ sen, củ súng. Người đàn ông nầy sống một mình mà năm nào đến mùa xuân tôi cũng thấy từ ngôi nhà nát ấy một con diều sáo màu đỏ thắm cũng vi vút bay lên giữa bầu trời xanh lồng lộng gió.

Năm nào cũng vậy vào ba ngày tết tôi cứ ngồi bên hàng hiên ngắm con diều giấy màu đỏ bay lơ lững giữa trời và nghe tiếng sáo vi vu của nó phát ra giữa thinh không. Có lúc tôi nghe tiếng sáo vui tai như một khúc nhạc xuân, song cũng có khi tiếng sáo diều lại tự dưng trở nên buồn bã, âm điệu nỉ non lan tỏa giữa cánh đồng mông quạnh. Có khi mẹ tôi cũng ra ngồi cạnh tôi cùng ngắm cánh diều và lắng nghe tiếng sáo của nó bay theo tiếng gió lúc gần lúc xa. Hồi đó cha con cũng biết làm diều, năm nào ông ấy cũng làm một con diều rõ to và thả bay ngày nầy qua ngày khác trên cánh đồng nầy”, mẹ nói chầm chậm giọng trầm trầm. Tôi mơ ước có được con diều ấy. Giá như cha tôi còn ở đây có phải giờ nầy tôi cũng có được một con diều màu đỏ thắm như thế bay lượn và ngân nga điệu sáo giữa trời xanh? Tôi biết cha tôi có thể làm mọi điều cho tôi nếu như có còn ông ấy.

Một buổi trưa tôi lén mẹ đi ra cánh đồng. Men theo những lối mòn uốn lượn giữa những lùm cây lúp xúp, những bụi cỏ cao quá đầu người tôi đi về phía nhà người đàn ông có một con diều sáo màu đỏ sáng như một điểm nhấn rất sinh động giữa màu trời xanh miên man oải chán. Lạ thật, ở xa trông thấy mái lều ấy cũng chỉ gần thôi nhưng đi rồi thì lại thấy hình như nó cứ lùi xa mãi, xa mãi ở đâu đó tận cuối chân trời. Có phải vì điều bí ẩn của một không gian không đơn điệu mà con mắt người ta dễ bị đánh lừa? Vì thế mà cánh đồng Chó Ngáp dường như vô tận, như thể nó luôn luôn chờ chực để đùa nghịch, để bẩy những bước chân của ai muốn đi qua nó, muốn chinh phục nó.

Nhưng cuối cùng tôi cũng đến được dưới chân cái điểm nhấn màu đỏ đang ve vẩy chiếc đuôi dài tha thướt trên khoảng trời cao. Có tiếng sủa của một con chó từ chiếc lều lá rách tơi tả phát ra. Một cái đầu trọc tuếch với một bộ mặt lừ đừ men rượu thò ra từ một lỗ thủng: “Ai đó? Vô đi”. “Dạ cháu, cháu đến thăm chú đây”, tôi nói nhỏ nhẻ ngập ngừng.

Người đàn ông nạt con chó cho tôi bước vào. Ông ấy ngồi trên một tấm chiếu trước một mâm rượu thịt ê hề. Như đoán được tôi sẽ nghĩ gì về chuyện nhậu nhẹt một mình với mâm cao cổ đầy nầy người đàn ông nhếch môi: “Gia tài có hai con chó mà một con tự dưng ngã đùng ra. Và ta đã làm thịt nó, miếng đem hon, miếng ướp muối xả nướng. Đúng là cao lương mỹ vị cho mấy ngày xuân sang. Sao, làm một miếng chớ nhỏ?”. Tôi lắc đầu, ông ta có vẻ không hài lòng: “Rượu ngon, thịt béo không dùng, vậy mày đến đây làm chi?”. Tôi nói tôi thích con diều sáo của ông ấy và năn nỉ ông nếu có thể thì làm cho tôi một con như thế.

Người đàn ông đầu trọc vói hai con mắt đỏ vì men rượu nhìn tôi chầm chậm từ đầu đến chân rồi hỏi có phải cái chòi lá của tôi nằm dưới mấy hàng cây sua đũa ở phía đông cánh đồng. Tôi nói phải, chính đó là nhà của mẹ tôi. Tự nhiên ông ta nhăn mặt: “Sao mẹ mày không có chồng để mày có người làm diều cho chơi? Mày thích con diều à, chuyện dễ như trở bàn tay. Nhưng mày chiều lòng tao đi, là ăn một miếng thịt chó mới được. Ăn đi con, trông mày còm cỏi quá, đâu phải dễ gì để có một bữa rượu thịt như tao.

Muốn có diều thì phải ăn một miếng với thằng Tư cô đơn nầy”.

Bất đắc dĩ tôi phải ngồi xuống tấm chiếu rách bươm của lão Tư cô đơn. Ông ta gắp cho vào chén tôi một miếng thịt cầy. Tôi ăn thử, xem ra cũng ngon. Nhìn tôi ăn với nét mặt khó khăn ông Tư cô đơn cười hà hà: “Ngon mà nhỏ. Ta là một tay thợ nấu ăn có tiếng đấy nhóc ạ, chẳng phải đụng ai ta cũng mời ăn nhậu đâu”.

Sau buổi ăn ông ta dắt tôi ra sân đến dưới gốc cây trứng cá kéo con diều xuống. Con diều lớn dần, lớn dần, và cuối cùng nó nằm gọn trên tay ông Tư: “Đây, chú cho cháu. Về hãy thả lên trời, nhớ cột một đầu dây vào mấy cây sua đũa cho chắc. Nhớ thả cho hết dây, ta ở đây vẫn muốn nghe tiếng nhạc của sáo diều vi vu trên cánh đồng Chó Ngáp nầy không có diều sao có thể là mùa xuân? Thôi về đi, nhớ cẩn thận đừng đi lạc vào các đầm lầy đấy”.

Tôi mang con diều về thấy mẹ tôi mặt xanh tái. Mẹ bảo đã chạy khắp nơi tìm tôi. Thế nhưng khi bà nhìn thấy con diều giấy to đùng mà tôi đang khệ nệ vác trên vai thì bà mắng: “Ai cho con đi qua nhà ông Tư ấy? Con xin con diều của ông ấy phải không? Lần sau còn sang bên ấy chắc chắn mẹ sẽ cho con một trận đòn”. Nói thì nói vậy rồi mẹ cũng phụ với tôi để thả con diều giấy từ từ lên cao. Ở đâu thiếu gió chớ trên đồng Chó Ngáp nầy gió rất hào phóng, và thổi lộng suốt ngày đêm. Vì thế con diều sáo của tôi sẽ bay mãi, bay mãi cho đến khi nào giấy bọc cánh diều bung ra khỏi cái khung tre thì sẽ chấm dứt đời diều và nó sẽ rơi xuống.

Buổi trưa ngày ba mươi tết tôi nằm ngoài mé hiên nhà gối đầu lên chân mẹ để ngắm con diều tung bay trên khoảng trời xanh lồng lộng gió. Tiếng sáo diều vi vút lúc bỗng lúc trầm ngân nga loang xa trên cánh đồng ngập ánh nắng xuân. Giờ nầy chắc ông Tư cô đơn bỏ cơn say và nằm ngữa trước hiên nhà ngước lên ngắm cánh diều quảy lộn giữa thing không. Mắt tôi và mắt ông ấy gặp nhau trên một điểm duy nhất là cánh diều đỏ thắm lay động giữa khoảng trời xanh. “Cám ơn ông nhé, ông Tư!”.

Mùa xuân năm tôi mười tám tuổi mẹ tôi đi thêm bước nữa với người chồng mới: ông Tư cô đơn. Tôi buồn nhưng không phản đối mẹ. Chính từ khi tôi xin ông ấy con diều đầu tiên thì cứ mỗi lần đến mùa xuân đến ông Tư lại mang tặng cho tôi một con diều mới. Tuổi thơ của tôi lớn dần theo từng con diều giấy và cũng từng năm tháng ấy mẹ tôi đã quen và phải lòng người đàn ông cũng sống một mình đơn chiếc như bà.

Bấy giờ tôi đã đủ lớn và đủ hiểu được rằng, không có người đàn bà nào sống thiếu một người đàn ông. Và ngược lại cũng không có người đàn ông nào sống được khi thiếu một người đàn bà bên cạnh.

Tôi cũng đủ lớn rồi, tôi cũng đã nghe trong tôi có tiếng gọi của một người con gái nào ấy, tiếng đó xa vắng và ngọt ngào giống như tiếng sáo diều vi vu trên cánh đồng Chó Ngáp. Buổi trưa trước khi ông Tư cô đơn dọn về đây mẹ ngồi ngoài hiên vuốt ve tóc tôi, giọng mẹ nghèn nghẹn: “Mẹ là đàn bà nên cũng cần phải có một người đàn ông phụ giúp mẹ để nuôi con. Hơn mười năm ông Tư đã thay cha làm cho con những con diều giấy, mẹ mang hơn mười lần cái ơn của ông ấy. Và nhà ta sẽ thêm một người để bớt cảnh quạnh hiu…”.

Tôi thấy mắt mẹ rưng rưng vì xúc cảm. Vâng, mẹ vẫn còn quá trẻ, mới bốn mươi thôi mà đã mười bảy mười tám năm thiếu vắng một người đàn ông bầu bạn.

Mai mốt đây thôi, tôi cũng sẽ như cha tôi, tôi sẽ đi băng qua cánh đồng nầy. Tôi sẽ đi về phía nơi có một thành phố nào đó, tôi sẽ thay tiếng sáo diều bằng tiếng nói êm đềm của một người con gái, thay cái nắng cái gió bằng ánh sáng của kinh thành, phố xá ngựa xe. Tôi yên lặng giấu mẹ chuyện nầy. Vâng tôi sẽ lên đường, tôi sẽ để lại nơi đồng Chó Ngáp nầy cuộc sống mới với mùa xuân và hạnh phúc cho mẹ. Tôi sẽ là một con diều thật, bay đi, bay đi…

Vẫn nằm trên chân mẹ ngắm cánh diều vi vu hay lượn trên bầu trời mùa xuân sao tự dưng có một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má tôi…


Trương Đạm Thủy

Nguồn: Văn Học Nghệ Thuật

Tứ trang DĐQGHCUC

1 thg 12, 2024

CGS .SPSG K.9 Trần Thị Kim Yến Tạ Thế

 Sáng nay 30/11/24 lúc 8g30 Nhóm bạn K9 SPSG cùng các bạn đồng nghiệp, thân quen ... hẹn có mặt tại Lễ tang bạn Trần Thị Kim Yến để chia buồn với giá đình và thắp hương cầu nguyện cho hương linh của bạn sớm siêu thăng tịnh độ nơi cõi vĩnh hằng.



Ảnh Trần Thị Kim Yến (họp mặt 15/9/2024

Tất cả cảm xúc:
Bạn, Hoi Dinh, Thong Lev và 28 người khác
Tin và Hình ảnh từ TrinhMon (SPSG K.9 )

THƠ HAIKU - Nguyễn Đình Đại

Tranh Pháp Hoan

 THƠ HAIKU

Thơ haiku đã được đưa vào chương trình sách giáo khoa môn ngữ văn lớp 10 của ta với một số bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Matsuo Basho (1644 - 1694).
Haiku (đọc là hai cư, nghĩa là "bài cú" tức "câu bày ra") là thể thơ có từ thế kỷ 17 của Nhật Bản.
Mỗi bài haiku chỉ được chứa tối đa 17 âm, đối với tiếng đơn âm như tiếng Việt là 17 chữ.
Thơ haiku chỉ được "gợi" (bày ra) chứ không "tả" cảm xúc!
Tác giả chỉ ghi lại sự việc xảy ra trước mắt chứ không mô tả cảm xúc, dành hoàn toàn cảm xúc cho người đọc "chịu trách nhiệm".
Thí dụ, bài haiku dưới đây của Trần Duy Khương (Bình Dương) chỉ chứa có 11 chữ và không nêu cảm xúc:
Mộ bên đường
Cơn mưa phùn ướt
Sân khấu dế non
Nhưng bài thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ haiku do lãnh sự quán Nhật tại Tp HCM tổ chức này đã nhận được lời bình "đầy cảm xúc" của ban giám khảo như sau:
"Chú dế kia hát ca trong mưa xuân mát mẻ, giữa cỏ và mưa. Vui hát giữa sinh và tử, giữa vô thường và vĩnh cửu nên nó lấy ngôi mộ âm thầm làm sân khấu cho cuộc đời mình... "
Nhà thơ Basho (Ba Tiêu) từng có bài:
Yoku mireba
Nazuna hana saku
Ka kine kana
Nhìn kỹ
Tôi thấy đóa hoa nazuna nở
Bên hàng giậu!
Người dịch đã dùng dấu chấm than (!) thay cho kana, một từ cảm thán.
Bởi Nazuna chỉ là một loài cây dại.
Nó đã kín đáo nở hoa trên một hàng giậu mục nát ở một nơi hoang vắng chỉ để mình nó vui thôi.
Nhưng khi được để ý tới, nó dịu dàng tỏa sáng và trở nên rưc rỡ vô cùng.
Đó là cảm nhận của một người đọc nhờ... kana hay dấu chấm than.
Còn với "toro toro" trong Đại Bi Chú nghĩa chỉ là những cọng sen rơi rơi nhưng bạn có nghe chăng tiếng nước chảy ra từ bình cam lồ của Phật Quán Thế Âm?
Gặp trường hợp này người dịch đành bó tay.
Thơ haiku cũng vậy, dịch khó hay!
"Bài thơ con cóc" nếu giản lược, còn 15 chữ như sau:
Trong hang cóc nhảy ra
Nhảy ra cóc ngồi đó
Ngồi đó cóc nhảy đi
Nhiều người hình dung ra cảnh mấy ông "cán bộ" đi làm, tới công sở ngồi chưa nóng chỗ đã vội... đi họp.
Riêng BBV nghỉ hưu rồi thấy mình cũng giống vậy, chỉ là an nhiên và tự tại.
Còn bạn, bạn thấy sao?
Liệu đó có phải là thơ... haiku không?
Có thể là hình vẽ ngẫu hứng về võ thuật và văn bản