4 thg 6, 2022

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN -Kỳ 1/6/2022

Chữ nghĩa làng văn

 

“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.

*

 Vực

 Vực : giúp đỡ

(vực lên ngựa)

 (Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

“rò: rò lan. → không viết: dò, giò”. (Gs Nguyễn Văn Khang)

 Viết “dò” mới đúng. dò phong lan ~ dò thuỷ tiên”.

 (Hòang Tuấn Công)


Tiếng nói miền Nam xưa

Làm nhăng: Làm chuyện gì không đúng.

 


(Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký

Nguyễn Văn Sâm chú thích từ ngữ)

 

 

 

 

 

 

Nõ

nõ : bộ phận sinh dục của phái nữ

(cái nõ nường)

(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

“rỏ = nhỏ rãi”. (Gs Nguyễn Văn Khang)

 Viết “nhỏ dãi” mới đúng. “Về đến nhà, con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi (…) bôi đầy mặt.” (Nam Cao)”.

(Hòang Tuấn Công)

 Chữ Việt cổ

 Do điều kiện về thời gian những từ cổ đã bị đẩy khỏi vị trí vốn có của chúng nhưng vẫn còn để lại dấu vết của mình, trở thành thành tố cấu tạo trong một vài từ nào đó

 Quan: cái hòm chôn người chết

Quàn: để quan cửu lại một ít lâu, chưa chôn

 (Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của)

 Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

 “ròm: ống ròm. → không viết: dòm”. (Gs Nguyễn Văn Khang)

Viết chuẩn là “nhòm”. “ống nhòm dụng cụ quang học dùng để quan sát những vật ở xa. quan sát bằng ống nhòm - ống dòm”.

 (Hòang Tuấn Công)

 Tự điển thành ngữ

Câu “bám anh em xa, mua láng giềng gần” là cách nghĩ và ứng xử mối quan hệ nhân văn trong nhà ngoài ngõ bị biến thành: “bán anh em xa? Mua láng giềng gần”. “bám” biến thành “bán”, thì quả là sai một li, đi một dặm, chỉ vì nghĩ chữ “bán” đối với chữ “mua”.

 Từ điển chính tả sai lỗi…chính tả

 “ron: con ron. → không viết: don”. (Gs Nguyễn Văn Khang)

 Viết “don” mới đúng. Loài hến nhỏ, sống ven biển”.

 (Hòang Tuấn Công)

 Qua với bậu

 

Theo Giáo sư Hán nôm Nguyễn Văn Sâm chữ qua  là tiếng biến âm từ tiếng quá (hóa) giọng Triều Châu của chữ ngã 我 (tôi).

Dùng tiếng “tôi” bình thường, thấy không thân mật, nên người ta dùng tiếng qua. 

 (Nguyễn thị Cỏ May)

 Văn bút, nhân sự và sự kiện

 Những gương mặt tiêu biểu

 Lần chót tôi (Mai Thảo) tới Gác Mây, nhà của Mộng Tuyết, Vũ Hoàng Chương thuật lại nguyên nhân trường hợp Mộng Tuyết bị tẩy chay cho tôi nghe. Ông nói:

– Tao không trách Mộng Tuyết. Chẳng thể bình tĩnh thản nhiên như mình được. Vợ Đinh Hùng lên nhiều lần, lần nào cũng khẩn khoản mời vợ chồng tao về ở cùng, nói sống chết thế nào còn có nhau. Chính tao cũng đã định về phường Cây Bàng từ lâu. Chỉ ngại dọn nhà. Gặp Vũ Hạnh xong, Mộng Tuyết không dám nói rõ sợ tao giận, nhưng tao đã hiểu. Mày nghĩ tao có nên rời khỏi Gác Mây của Mộng Tuyết không?

 

Đó là một tòa biệt thự lạnh lẽo. Hai cánh cổng sáng chiều đóng chặt. Một nữ chủ nhân hoang mang lo sợ trước đổi đời. Thời thế tối thẳm, hung dữ đã giết chết cái không khí thanh lịch. Gác Mây đâu còn là Gác Mây nữa. Từ ngày Vũ Hoàng Chương bị làm khó ở căn nhà vách ván lụp xụp ở khu Bàn Cờ, rồi Mộng Tuyết hết lời mời mọc, thi sĩ đành tới nhờ Úc Viên, có Gác Mây.

 

Trong truyền thống những thi sĩ lớn của dòng thơ Việt mọi thời, hoàn cảnh đời sống hàng ngày của Vũ Hoàng Chương phải được trải mãi trên tấm thảm bần bách và đạm bạc như trên tấm thảm ấy đã Tú Xương, đã Tản Đà, đã Nguyễn Bính…. Tôi mừng rỡ:

– Bọn nó làm khó mày rồi đấy. Làm khó từ chỗ ở trước. Ở đây ra vào kiểu cách, khó chịu lắm. Về phường Cây Bàng đi.

Vũ Hoàng Chương có vẻ vui thích trước ý nghĩ ông về sống trên căn gác xép ngày trước của Đinh Hùng. Ông đã gần Đinh Hùng một đời. Bây giờ gần thêm nữa. Ông nói:

– Một tuần lễ nữa, tao đi.

Năm ngày sau tôi trở lại Úc Viên, để thấy Vũ Hoàng Chương đã đi sớm hơn ông đã hẹn. Hai ngày trước, một nhóm sinh viên luật, trước là học trò ông, tới thăm thầy đã đi mướn xe, khuân đồ đạc dùm thầy xuống khỏi Gác Mây.

 

Lần trở lại Úc Viên này, tôi không vào. Chỉ đứng lại với Mộng Tuyết ít phút ở cổng. Mộng Tuyết có vẻ ngượng:

– Anh Chương đi rồi. Giữ ảnh ở thêm ít ngày cũng không chịu.

Tôi không giấu được buồn bã:

– Từ phút anh Chương rời khỏi đây, Hà Nội chấm dứt tẩy chay chị rồi chứ? Ai đã tới thăm chị rồi? Chúng mình cùng một cảnh ngộ, đã sống thân thiết với nhau mấy chục năm trời, bây giờ chết cũng phải tình nghĩa cố kết hơn lúc nào hết. Cho họ khỏi coi thường. Không ai đến thăm thì thôi. Chị đã bẩy mươi tuổi, còn sợ gì nữa?

 

Về sau tôi được biết Vũ Hoàng Chương về phường Cây Bàng buổi chiều thì ngay buổi tối ngày hôm đó, Vũ Hạnh chở vespa Xuân Diệu tới thăm Mộng Tuyết. Rồi hôm sau, Huy Cận, Chế Lan Viên tới. Khi Mộng Tuyết nói thi sĩ đã rời khỏi Gác Mây, đám nhà thơ miền Bắc đã giả vờ tỏ vẻ hối tiếc là không biết trước để tới thăm thi sĩ sớm hơn…”

(Trung tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975 - Nhật Tiến)

Bên lề chữ nghĩa

Hà Nội những điều nhỏ bé bạn nên làm khi…”quởn”

Đi mua sách ở phố sách Đinh Lễ

(Nguồn: Tôi đi đâu)

Nhà văn Nhất Linh với những ấn tích

Ông có thói quen viết làm hai bản tất cả những tài liệu quan trọng. Ngay cả lúc cuối đời thói quen đó ông cũng không bỏ. Giây phút trước khi tự kết liễu đời mình ông cũng cẩn thận ngồi chép hai bản chúc thư giống hệt nhau. Ðời tôi để lịch sử xử...

Tôi nhớ tới niềm vui bèo bọt của tôi lúc ấy khi thấy ông trở lại vẻ thanh thản, tới thái độ quả quyết của ông như sẵn sàng với phiên tòa xử ông ngày hôm sau, tới việc ông lừa anh Triệu và tôi đi mua rượu cho ông uống và đôi mắt cuối cùng của ông nhìn tôi rất lạ. 

Lúc tôi sắp bước xuống cầu thang, cha tôi gọi giật tôi lại, tôi nghe ông gọi tên tôi bằng một giọng xúc động nhưng ngay lúc ấy tôi không để ý. Ông nhìn lâu vào mắt tôi, ngập ngừng đưa một cánh tay về phía trước như muốn nói điều gì lại thôi, chỉ hỏi:

‘’Ði có 15 phút thôi à?’’.

Ðến bây giờ nghĩ lại tôi còn nhớ rõ cái nhìn của cha tôi lúc ấy ánh mắt như gửi đến tôi những điều mà ông không thể diễn tả bằng lời” (Niềm vui chết yểu - NTT Nguyệt san Văn Học - 1964).

(Chuyến tàu trong đêm - Nguyễn Tường Thiết)

 Bên lề chữ nghĩa

Hà Nội những điều nhỏ bé bạn nên làm khi…”quởn”

Ăn cháo sườn chợ Đồng Xuân

 (Nguồn: Tôi đi đâu)

 Nhìn lại một số tạp chí miền Nam


 

Tạp chí có mặt cùng thời và nổi tiếng hơn nhiều so với Bách Khoa là tạp chí Sáng Tạo của chủ nhiệm Mai Thảo. Sáng Tạo có mặt vào tháng 10/1956. Tập truyện Đêm Giã Từ Hà Nội đưa Mai Thảo từ vị thế vô danh trở thành cây bút nổi tiếng thời đó không do nội dung mà chính là do hình thức nghệ thuật với phong cách và ngôn từ mang nhiều nét mới mẻ, hào hoa, bay bướm.

 

Hai tác giả trên Sáng Tạo thường bày tỏ quan điểm về cộng sản là Doãn Quốc Sỹ và Quách Thoại đều biểu hiện hướng nhắm chủ yếu là nỗ lực đạt tới quan điểm chính trị của mình. Điều này không khó nhận ra qua các truyện của Doãn Quốc Sỹ và các bài thơ khô lạnh của Quách Thoại, dù hình ảnh diễn tả trong thơ là hình ảnh những cuộc đấu tố man rợ kinh hoàng.

Sự có mặt của Quách Thoại cũng giúp xác nhận Sáng Tạo không hẳn là một nhóm nhà văn trẻ miền Bắc di cư, nhất là trên Sáng Tạo còn có tên Tô Thùy Yên và nối tiếp là những Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa...

Sáng Tạo sớm gây ồn ào dư luận chỉ vì lối thơ được gọi là thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền . Sáng Tạo vẫn được nhắc tới như tờ báo mở đường cho thể loại thơ tự do và đã giới thiệu nhiều tên tuổi thi sĩ trong hàng ngũ này nhưng những gì còn lưu lại trong trí nhớ người đọc chắc chắn không ngoài những bài thơ tình của Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng và các sáng tác của Tô Thuỳ Yên chẳng vướng vất chút hơi hướng nào của Thanh Tâm Tuyền qua Tôi Không Còn Cô Độc. Tác giả tiêu biểu của Sáng Tạo là Doãn Quốc Sỹ với tác phẩm Sợ Lửa.

Về hội hoạ thì Ngọc Dũng, Duy Thanh vẫn là những Ngọc Dũng, Duy Thanh của thuở xuất hiện tại Hà Nội, Thái Tuấn chưa định hình hẳn cho mình dù có những đường nét thanh thoát, nhẹ nhàng, còn Tạ Ty không rời khỏi nồng độ mầu sắc chói lói, hình thể gồ ghề kỳ dị, chen nhau nhô lên góc cạnh, lồi, lõm... cố hữu đầy bí hiểm với người xem.

 

(Hai mươi năm miền Nam 1955-1975 - Nguyễn Văn Lục)

Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực


Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường.
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ.
Ai bảo chăn trâu là khổ.
Tôi đây…chăn nàng còn khổ hơn trâu...

Thuở mơ làm văn sĩ

Tối nay công việc của tôi là đến nhà in trông coi cho thợ lên khuôn trang báo chót. Khoảng tuần sau báo phát hành, chỉ còn gần một tháng nữa thì tết thôi. Tôi nghĩ đến truyện ngắn của tôi được in trên báo mà lòng mừng phấn khởi. Tờ báo và bài vở được những tay hoạ sĩ “cây nhà lá vườn” trình bầy đẹp đáo để. Bìa in “ốp xét” kỹ thuật in tối tân thời đó, bóng láng thơm phưng phức mùi mực in. Tôi bắt đầu say mê không khí nhà in, nhất là làm việc đêm. Tiếng máy in tipô chạy xoành xoạch, mùi mực mùi giấy.
Người thợ in ngồi nhẫn nại trên máy giở từng tờ (cahier) giàn xếp chữ tí tách làm việc, đám con gái ngồi đóng xếp báo, cái que gạt trong tay các cô thoăn thoắt, tiếng giấy xoàn xoạt, chuyên nổ như bắp rang. Tôi thấy cảnh đó như cảnh thu hoạch vụ lúc ở quê nhà, chỗ thì đập lúa, chỗ xay lúa, chỗ giã gạo và chỗ sàng xảy. và tôi, tôi cũng thấy mình quan trọng, dù tôi chỉ là anh thầy cò tâp sự, kiểm soát lại bản sửa lỗi cuối cùng trước khi lên khuôn. Cảnh tượng ấy như có ma lực hấp dẫn tôi.

Tôi tới nơi và thấy anh Lê Đình Điểu đã ở đó, anh cắm cúi sửa bản in. Anh ngẩng lên nói với tôi, giọng có vẻ nhà nghề:
- Cái “bát chữ” đã xong, nếu không có tôi tới sớm thì cái “cliché” này nằm lộn ngược, không đúng với “makét”.
- Sửa lại thôi, nhưng tôi đến đúng giờ mà.
- Biết rồi, tôi có trách bạn đâu, sớm thì vẫn hơn, anh em chạy máy phải “đềpa” sớm. Cả 10 ngàn tờ báo chứ có ít đâu.

Lê Đình Điểu nháy, tôi hiểu ý ra ngay quán cà phê ngoài đường mua một ly cà phê đá đậm và nửa gói thuốc Ruby vào mời anh chạy máy. Anh thợ tỏ ra vui vẻ, uống cà phê và nói chuyện với chúng tôi rôm rả như nói với người lớn:
- Các cậu còn trẻ mà biết làm ăn “điệu nghệ” trong nghề này, cứ sửa khuôn kỹ đi, tôi hứa là sẽ chạy máy không hao giấy, từ tờ đầu đến tờ cuối không khác nhau. Tôi có kinh nghiệm 10 năm trong nghề này rồi đó, trước đó tôi chạy máy “pê đan” chứ đâu có được chạy máy Tipô tối tân như ngày nay, tin vào tài năng tôi đi, nhà in này tuy nhỏ nhưng tuyển toàn thợ giỏi không hà....

Chúng tôi, hai đứa loay hoay sửa bài gần một tiếng đồng hồ. Rồi đến xếp Tipô xuống sửa lỗi lần chót. Khi máy chạy thử, cầm một cahier lên coi thấy hết hẳn lỗi, chúng tôi mới an tâm ra về.

(Nguyễn Thụy Long)

 Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

Lời nói chẳng mất tiền mua.
Lựa lời mà nói cho... lòi tiền ra!

 Góp nhặt phố văn ngõ chữ

 Ngọc Thứ Lang với chữ nghĩa

 

Theo nhà văn Hoàng Hải Thủy thì ông đã gặp Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, công tử Bắc Kỳ vào năm 1951 tại Sài Gòn. Đó là năm mà cả hai ông đều mới ở tuổi đôi mươi. Thế nhưng ở vào tuổi đó anh Tú đã là người chơi trội hơn Hoàng Hải Thủy nhiều: Đánh roulette ở sòng bạc Kim Chung và hút thuốc phiện.

 

Năm 1955, mới chừng 25 tuổi, Nguyễn Ngọc Tú đã kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển Tại sao tôi di cư cho Bộ Thông Tin chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời bộ trưởng Phạm Xuân Thái. Năm đó Nguyễn Ngọc Tú đã có trong tay cả trăm ngàn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ.

Anh ăn diện như một tay chơi thứ thiệt: áo sơ mi hàng nhập từ Paris chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, máy chữ, hút thuốc lá Phillip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát,...

 

Vào giai đoạn đó, Nguyễn Ngọc Tú gặp tình yêu. Nhưng mối tình trắc trở. Người yêu anh tự tử và cuộc đời anh bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong căn nhà bán thuốc phiện ở hẽm Monceaux, Tân Định. Ăn, hút và ngủ luôn trong nhà đó. Để có tiền hút, Tú bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da,... Anh trở thành người nghiện hút nặng.

 (Nguyễn Xuân Hòang)

Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

Thuận vợ thuận chồng, con đông mệt quá.

Những ca từ khó hiểu trong nhạc Trịnh Công Sơn

 Dấu Chân Địa Đàng

Bài hát Dấu Chân Địa Đàng, ban đầu có tên làTiếng Hát Dạ Lan, được Trịnh Công Sơn viết trong thời gian ông dạy học ở B’Lao – Lâm Đồng. Trong bài này có hình ảnh ẩn dụ vô cùng khó hiểu như “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, “lời ca dạ lan”… 

May quá, những hình ảnh đó sẽ được chính TCS giải thích, nếu bạn đọc được cuốn Thư Tình Gửi Một Người (tổng hợp những bức thư tình ông Trịnh gửi cho Dao Ánh). Khi hiểu được những ca từ này, người nghe sẽ thấy bài hát sẽ trở nên hay hơn.

 

Loài sâu này chính là một phiên bản khác của phận người, ôm chất chứa những buồn vui của nhân sinh, điều này được thấy rõ hơn trong những bức thư của Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh: 

“Ngôn ngữ đã mất đi với những ngày nằm co như một loài – sâu – chiếu ở Blao” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Ở đây có loài sâu đất reo đêm” (thư Đà Lạt, 19.9.1964),“Đêm sáng mờ bên ngoài. Sâu đất reo rắt trong ở bãi cỏ” (thư Blao,23.10.1964), “Đêm đã lạnh và đã buồn. Cây cỏ lao xao. Anh chỉ còn nghe rõ tiếng sâu đất và tiếng dế reo…” (thư Blao, 29.12.1964), “Đêm rất dày đen. Sâu đất của núi rừng cũng đã reo lên âm thanh rất nhọn”(thư Blao, 23.9.1965).

 

***

Hình ảnh “dạ lan” cũng được nhắc tới trong bài này: “Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”. Dạ lan là gì? Nhà cô gái 16 tuổi Dao Ánh ở Huế (cách nhà Trịnh Công Sơn ở Huế một cây cầu là cầu Phú Cam) trồng nhiều hoa dạ lan và loài hoa này không chỉ thơm ngát trong vườn nhà Dao Ánh mà còn lừng hương trong nhạc Trịnh và trong nhiều bức thư tình tha thiết, da diết của Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh: “Dạ lan giờ này chắc đã ngạt ngào cả một vùng tối đó rồi, đã cài lên từng sợi tóc của Ánh” (thư Blao, 31.12.1964), “Anh ao ước bây giờ mở cửa ra bỗng dưng có chiếc cầu bắc qua dòng sông và anh bước qua cầu rồi rẽ về phía tay phải đi đến căn nhà có mùi thơm dạ lan và đứng đó gọi tên Ánh thật thầm để chỉ vừa đủ Ánh nghe” (thư Blao, 26.9.1965).

(Đông Kha)

Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

Làm trai bốn bể là nhà.
Cái loại giai ấy chắc là... ăn xin

 Đường văn ngõ chữ

 Nhà thơ Bùi Giáng, Hữu Loan, lần gặp mặt - 1

Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó thể hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị cô lập trong bao nhiêu năm. Ông vào thăm Sài Gòn khá muộn màng, có thể do điều kiện quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông bảo, “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi Duy Th. đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng và mấy anh em văn nghệ.

Bùi Giáng ngạo nghễ. Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng. Sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng.

 Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau. Luôn nhìn quanh, ưa quay nhìn lui sau lưng. Nói ít, nói nho nhỏ. Cẩn trọng, đề phòng. Lâu ngày thành thói quen, trong một chế độ không thể “Trong bụng có gì ta có thể nói ra thế ấy”. “Khó thể thật tình với nhau, thì phải nói khéo, để che chắn sự thật, đậy nắp cái cốt lõi sự việc”. Mèo phải nước sôi phải biết sợ cả nước lạnh.

Hữu Loan có khác. Trong đau đớn tột cùng hãy còn phảng phất cái thanh cao. Bắt tay nhau, tôi chạm phải một bàn tay thô tháp. Những ngón to, cứng. Gân nổi trên lưng bàn tay. Sau này biết, đôi bàn tay ấy từng đẽo đá, từng đẩy xe cút kít, xe thồ, ròng rã mấy mươi năm, để sống qua ngày, nuôi vợ con trong tình thế một nhà thơ bị vây khổn, bị khủng bố, cái giá treo cổ là không vô hình. Tất cả là bóng tối, thất nghiệp cả nhà, đói khát, cơ cực. Là cả hoạn nạn thời thế, cách ly, nghiệt ngã.
(Cung Tích Biền)

Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

Nhà sạch thì mát.
Bát mẻ thì sứt môi.

Đường văn ngõ chữ

 Nhà thơ Bùi Giáng, Hữu Loan, lần gặp mặt - 2

Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà nhớ lại, để được ngắm nhìn Hữu Loan. Cùng một bàn. Những tách cà phê đã vơi. Sắp mời ông đi tiệc tùng buổi trưa đây. Nhưng cuộc trò chuyện càng lúc càng gần gũi hơn, dù ông chỉ lắng nghe. Ít cả nụ cười.

 


Ông được đón tiếp nồng hậu. Bùi Giáng khinh bạt nhưng rất mực yêu mến những tài năng, từng rất mê đắm Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà. Lúc này, Bùi Giáng nhìn Hữu Loan một cái nhìn trôi nổi, một ánh mắt có thể gọi là thơ dại, trong ngần như ánh trăng. Thường khi ngồi uống rượu hay cà phê cùng anh em, Bùi Giáng chỉ ngồi một lúc rồi đứng dậy đi nghêu ngao, Ra đường chặn xe cộ, đùa chơi. Có khi biến mất luôn chẳng chào ai. Hôm nay, Sáu Giáng ngồi rất lâu. Bùi Trung Niên Thy Sỹ một thời trẻ chăn dê [bò đấy] nơi núi đồi Quảng Nam, là rất đắm đuối với “Lá hoa cồn”, cùng “Đồi sim trái chin”.

 


Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi. Gặp ông, ngoài những chia nhau nỗi oan giữa đời, còn là một điều khá thú vị, vì chúng tôi có một cái thói, rất “thoái trào” trong thời đại “cơm áo gạo tiền”, là lúc chung trà chén rượu cùng nhau, chỉ rặt bàn luận văn chương, triết học, âm nhạc nghệ thuật.

(Cung Tích Biền)

 Tục ngữ hiện đại, thành ngữ hiện thực

 Cá không ăn muối cá ươn.
Chồng cãi lại vợ ra đường…bơm xe.

 172 Chữ nghĩa làng văn xóm chữ

 Phóng sự và tuỳ bút

 

Phóng sự là thể văn mới của chữ quốc ngữ có từ đầu thập niên 1930 ở nươc ta. Phóng sự là thể loại có tính cách thời sự dưới góc canh đặc biệt mà tác giả ghi lại những điều tai nghe mắt thấy với nhận xét và phê bình.

 

Ký sự (hay bút ký) là “phóng sự” mà thời gian tính đóng vai thứ yếu. Nếu phóng sự là con đầu lòng của nghề viết báo, thì đồng thời nó là con đẻ của ký sự. Phóng sự và ký sự cạ hai nặng về ghi chép sự việc: Nhưng “ký sự” có trước, phóng sự ra đời sau do nhu cầu của nghề báo.

 

Thiên ký sự đầu tiên ở nước ta là “Thượng kinh ký sự” (Ký sự lên kinh) của Hải thượng Lãn Ông, tập bút ký thuật lại hành trình từ quê lên Thăng Long để chữa bệng cho con của Trịnh Sâm.

 

Phóng sự có hai loại: Phóng sự xã hội và phóng sự chiến trường. “Tôi kéo xe” (1932) của Tam Lang vũ Đình Chí là phóng sự đầu tiên ở Hà Nội. Sau đó tiếp đến với Trọng Lang, Vũ Trọng Phụng.

Về loại bút ký chiến tranh 1965-1975 có “Đời pháo thủ” của Nguyên Vũ, “Một ngày tại Hà Nội” của Phạm Huấn, v…v…

 

(Trần Bích San) *

 - * Trần Bích San tên thật Trần Gia Thái, sinh ngày 31-8-1940.  

- Sinh quán:  Mỹ Lộc, Nam Định, Việt Nam. Mất ngày 9-1-2021.

Tác phẩm: Văn khảo (2000) - Giai thoại văn chương (2006)

Chân dung hay chân tướng nhà văn?

 

Bùi Huy Phồn (1911-1990)


 

Nhà văn Bùi Huy Phồn tức Đồ Phồn thuộc lớp tiền chiến, năm 1941 đã viết tiểu thuyết trào phúng “Một chuỗi cười”, năm 1946 cũng tiểu thuyết trào phúng “Khao”, năm 1961 ông viết tiểu thuyết “phất” hưởng ứng phong trào cải tạo tư doanh ở Hà Nội .

 

Ông thuộc hàng quan chức văn hóa văn nghệ,, ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa II (1962-1972)i. Trong vụ Nhân văn Giai phẩm ông viết bài “đánh” Trương Tửu rất nặng. Xuân Sách viết chân dung ông không lấy gì làm ưu ái khi gọi trệch “đồ phồn” thành “đồ phấn”, “đồ vôi” :
“ Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác cho tôi ăn mừng …”

 

(Nhât Tuấn)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lát
Nào ngờ đâu.. bi đát đến hôm nay

(Thích Tánh Tuệ)


Văn hoá ẩm thực
Hủ tiếu

 Hủ tiếu là món ăn gốc Tàu. Gọi người Hoa là dân Tàu hoàn toàn không có ý khi dễ. Nguyên xưa kia người Hoa "phản Thanh phục Minh" trốn chạy nhà Thanh di cư xuống bằng tàu biển nên dân Việt gọi họ là dân Tàu. Người Việt là anh Hai rồi thì người Hoa là Ba Tàu thôi chứ biết sao.

Hủ tiếu có ba loại là Hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho và hủ tiếu Tàu. Không biết ba loại này khác nhau ra sao. Có dịp ở Phnom Pênh, tui hỏi ngừơi Miên, họ gọi đó là món đọc nghe như “Ku Tíu”. Vậy có thể đoán mò món đó “Ku Tíu” (hủ tíu) từ người Tàu ở Nam Vang có trước rồi mới truyền sang miền Nam.

 Hủ tiếu nước thì có nhiều quán ăn được nhưng như tui là fan của hủ tiếu khô thì hơi khó tìm quán nấu ngon. Trước kia kêu tô khô, chỉ cần trộn đều là vừa ăn, đi kèm là chén nước lèo có thịt bằm và hành lá nổi đầy mặt chén. Còn giờ bắt buộc phải xịt thêm nước tương, còn chén nước lèo trong veo, nhiều khi hơi mặn.

 (Ngã thuật nhi bất tác - KT)

 Lịch Tầu, lịch Ta

 Người Việt nói lịch Ta là lịch Tầu. Nhưng người Tầu gọi tên 12 con giáp khác hẳn Ta:

- Thử, ngưu, hổ, miêu, long, xà, mã, dương, hầu, kê, khuyển, trư.

 Với lịch Ta, riêng năm sửu bắt nguồn tiếng Mường: “tru”, sau này phiên âm Hán-Việt từ “tru” thành…”trâu”.

Với năm thìn. Chữ thìn chỉ con rồng vốn có nghĩa là…con rùa.

 Xưa kia, tiếng Việt cổ gọi con rùa, con ba ba là con đìn địn. Ca dao có câu “Mồng tơi chưa chín, đìn địn đã rừ”.

Người Phúc Kiến gọi con thìn là con đìn. Cung thìn, trong thiên văn cổ Tầu gọi là cung huyền vũ và ứng với chòm sao thọ tinh (huyền vũ là rùa đen, loại rùa sống lâu).

 (Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)

 Hình ảnh cũ

Cái chạn trong miền ký ức

Đôi khi ngồi hàn huyên với nhau, chúng tôi lại tự hỏi: Ngày ấy sao chúng ta không cần tủ lạnh? Đơn giản thôi, bởi đồ ăn làm gì có nhiều như bây giờ mà cất.. Các bà mẹ luôn tính toán để thức ăn vừa hết trong ngày. Hầu như không có thức ăn nào lưu cữu quá 2 ngày.


Thức ăn để trong chạn, đóng cửa lại thì mèo, chuột không vào được nhưng lũ kiến vẫn kéo đàn vào đánh chén. Để khắc phục việc này, các nhà thường kê 4 cái chân chạn lên 4 cái bát mẻ đổ ngập nước pha dầu luyn. Thế là kiến đành chịu thua.

 Thời gian trôi, giờ đây những loại tủ lạnh hiện đại, to đẹp đã thay thế cho chiếc chạn bát năm nào. Nhưng tôi tin, bất cứ ai đã từng sống qua một thời xa xưa ấy đều không thể quên chiếc chạn bát “thần thánh”. Đó không chỉ là nơi cất giữ thức ăn, bát đũa... mà còn thể hiện sự vén khéo, tình yêu thương của những người mẹ dành cho cả gia đình.

 Tôi tin, trong miền ký ức của mỗi người đã từng sống qua thời đó, sẽ vẫn còn lưu dấu vài kỷ niệm nho nhỏ, vui vui về cái chạn bát.

 (Vy Anh)

 Phúc đại lai

Một ông phú hộ, giầu lại muốn sang, nhân thấy quan tỉnh là tay đại khoa có tiếng văn hay chữ tốt, đến xin mấy chữ về khắc vào bức hoành treo chỗ ngồi để tỏ rằng mình giao du với hàng quyền quý. Quan biết ý, bèn sai trải giấy, mài mực, rồi cất bút đề cho ba chữ đại tự: Phúc đại lai
Không ai hiểu lấy ở điển nào, ai cũng khen là tay đại khoa có khác, học rộng đến nỗi có ba chữ rất thông thường mà cũng không ai biết nổi xuất xứ. Sau có người diễn nghĩa Phúc đại lai, nghĩa đen là phúc lớn lại, nói lái lại là phúc lái lợn.

Thì chủ nhân ông vốn xuất thân làm cái nghề lái lợn

(Chơi chữ - Lãng Nhân Phùng Tất Đắc)

Nhớ Sài Gòn, chốn cũ đường xưa

Tân Định & Đa Kao những ngày xưa cũ


 Cho đến bây giờ, dù đã xa Tân Định và Đa Kao nhiều năm, nhưng trong tôi hai cái tên lúc nào cũng là một nỗi nhớ khôn nguôi. Chúng cứ thôi thúc tôi hoài. Đã bao năm qua, tôi muốn tìm về chốn này, để sống lại với kỷ niệm thuở học trò. Tôi cứ hẹn đi, hẹn lại, nhưng chưa bao giờ thực hiện được ước mơ này. Rồi một dịp tình cờ đưa đến, năm 2010, tôi đã toại được ý nguyện. Tôi đã có hai tuần lễ đi qua, đi lại trên những con đường kỷ niệm của Tân Định và Đa Kao. Điều làm tôi rất đỗi ngạc nhiên và thích thú là tên nhiều con đường trong khu vực này vẫn như cũ.

Thật vậy, sau 1975, một số tên đường của thành phố Sài Gòn thân yêu đã bị đổi bằng những cái tên khác. Nay được thấy lại các tên đường ở khu Tân Định và Đa Kao không bị thay đổi nhiều, trong lòng tôi bỗng nhiên dâng lên một sự xúc động và niềm sung sướng vô cùng.

 (Trần Đình Phước)

 Giai thọai làng văn xóm chữ

 Hồn bướm mơ tiên

Nhân dịp đầu xuân, vua Lê Thánh Tông (1442-1497) ngự thăm nhà Thái học (Văn miếu), lúc về ghé qua chùa Ngọc Hà ở thôn Thanh Ngô gần đấy
(1). Tới nơi, vua thấy cảnh trí u nhã, hoa cỏ xanh tươi, lại nghe tiếng ni cô tụng kinh vang vang trong chùa. Giọng ni cô uyển chuyển lạ thường , khiến người nghe dường như cũng phiêu diêu trong thế giới cực lạc. Nhà vua hứng tình, nguồn thơ lai láng, liền đề ngay lên vách chùa hai câu thơ : 
Tới nơi thấy cảnh thấy người
Tuy vui đạo Phật chưa nguôi lòng trần


Rồi nhà vua lấy hai câu ấy làm đầu đề, bắt các quan tùy tòng ngâm vịnh. Lúc ấy, Thân Nhân Trung, một trong hai vị phó soái của "Tao đàn nhị thập bát tú" có thơ vịnh như sau : 
Ngẫm sự truyền duyên khéo nực cười, 
Sắc không tuy bụi, hẫy lòng người. 
Chày kình một tiếng tan niềm tục, 
Hồn bướm ba canh lẳn sự đời.
 
Bể ái ngàn trùng mong tát cạn, 
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi. 
Nào nào cực lạc là đâu tá? 
Cực lạc là đây chín rõ mười! 

Vua trao bài thơ cho ni cô xem, ni cô chê hai câu "thực" thiếu ý cảnh và sửa lại rằng:
Gió thông đưa kệ tan niềm tục, 
Hồn bướm mơ tiên lẳn sự đời. 

Nhà vua khen hay, rồi đưa luôn ni cô về cung. Nhưng kiệu đi tới cửa Đại Hưng
(2) thi ni cô biến mất. Lấy làm lạ, vua bèn sai dựng ở đó một cái lầu gọi là "Vọng tiên lâu" để lưu dấu người tiên. 

(1) Đền Ngọc Hà ở phố Nguyễn Khuyến (phố Sinh Từ Hà Nội) 
(2) Chợ cửa Nam bây giờ 

Thành ngữ tục ngữ sai

“Xưa kia ai cấm duyên bà, bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi”

Lời oán thán của người con gái muốn lấy chồng nhưng không được người trong gia đình ủng hộ lại chê bai, thậm chí cấm đoán.

 

Thực ra, nghĩa đen tục ngữ nói đến một trường hợp rất cụ thể:

Cô con dâu (tôi) là góa phụ, muốn “đi bước nữa” (tái giá), nhưng bị (bà) mẹ chồng ngăn cấm. Tuy nhiên, xưa kia khi còn trẻ, gặp chuyện “nửa đường đứt gánh”, chính bà mẹ chồng cũng từng tái giá. Ấy thế nên cô con dâu góa chồng mới “vặn” lại mẹ chồng: Xưa kia, chính bà đã từng muốn tái giá như tôi (và thực tế bà đã tái giá), không bị ai ngăn cấm, sao bây giờ tôi muốn “đi bước nữa” như bà từng đi, lại bị bà ngăn cấm?

 

Cái hay của câu tục ngữ ở cụm từ “bây giờ bà già”. Vì bà đã già, bà không còn lửa lòng, khát vọng của tuổi trẻ nữa nên bà mới ngăn cấm người khác một cách ích kỷ. Nghĩa bóng và cách dùng rộng hơn: Bản thân mình từng mong muốn hoặc làm việc gì đó không bị ai cấm đoán, bởi vậy, nếu người khác cũng có mong muốn giống mình thì không nên ích kỷ cấm đoán.

(Hoàng Tuấn Công)

 Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

 Những sai lầm trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân

 tông tích 蹤跡 

Tông nghĩa là dấu vết (đọc là tung thì đúng hơn), tích nghiã là vết chân. Nghĩa chung của tung tích có thể hiểu là lai lịch, là nguồn gốc của một sự việc hoặc của một nhân vật. Vì không đọc được chữ Hán, do đó không thể biết rằng, “tông” ở đây chính là do chữ “tung” bị biến âm mà ra nên soạn giả đã giảng giải rằng, tông nghĩa là dòng họ. Chúng tôi đã tra cứu ở các từ điển Từ nguyên và Từ hải thì chỉ thấy chữ tung là dấu vết (mà có khi được đọc là tông) chứ không phải chữ tông là dòng họ. 

(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)

***

 Phụ đính I

 Chân dung hay chân tướng nhà văn

 

Thành tích Nguyễn Quang Sáng lớn vậy nên ông cũng được đảng và nhà nước tưởng thưởng đích đáng như: 
Ông Năm Hạng - giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất (1959).
Tư Quắn - giải thưởng cuộc thi truyện ngắn (1959) Tạp chí Văn Nghệ Quân đội.
Con mèo của Fujita - tập truyện ngắn, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994.
Cánh đồng hoang (kịch bản phim) Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim ở Moskva (1981).
Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (Hà Nội 1980).

Sự nghiệp văn chương Nguyễn Quang Sáng như vậy cũng đã hiển hách.

Tuy nhiên, nhà thơ Xuân Sách còn muốn ông sáng tác sao đó cao hơn nữa chứ không chỉ dừng ở “thằng nộm hình rơm”, bởi vậy đã làm thơ chân dung Nguyễn Quang Sáng:
“Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm”.


Chẳng biết nhà thơ Xuân Sách còn muốn điều gì ở Nguyễn Quang Sáng nữa đây?

 

(Nhật Tuấn)

*

Phụ đính II

 Chữ nghĩa làng văn

 Tố Hữu - 1

 Thơ Tố Hữu có những vết nhơ không thể tẩy xóa, như đoạn thơ “Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi “Sta-lin” ! Ý thơ ấy, ngay tầm gần, đã trái hẳn lẽ thường nhân loại: trẻ con tập nói thì gọi “mẹ” chứ đâu đã biết ai xa lạ? trẻ Việt làm sao tập nói được cái từ đa tiết xịt xoạt như thế kia? (Bài đăng tạp chí Văn nghệ 1953 là Tiếng đầu lòng nó gọi ‘Ông Lin’ , bản in vào sách Việt Bắc  1955 sửa thành Tiếng đầu lòng con gọi ‘Stalin’).

 (Nhà biên khảo Hà Nội Lại Nguyên Ân)

 Lại Nguyên Ân sinh ngày 18-1-1945 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.. Ông là biên tập viên sách văn học, hoạt động trong tư cách nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học, cây bút biên dịch thông tin văn học nghệ thuật.

 Chữ nghĩa làng văn

Tố Hữu - 2

 Lại nữa, người đàn bà Việt dân quê làm sao có thể “Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông (Stalin) thương mười”  (!?!). Đây quả là một quái tượng trong thơ ca tiếng Việt, khi nhà thơ lại ngợi ca “công đức” một Bạo chúa, một Hung thần, một Độc tài khét tiếng, một Đao phủ thủ (chữ của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn) vĩ đại, và để làm cái việc ngợi ca trái lẽ ấy, người làm thơ đã hoàn toàn xé bỏ những giới hạn thông thường của tình cảm nhân loại.

 (Lại Nguyên Ân)

 


 MỜI XEM : 

CHỬ NGHĨA LẢNG VĂN 15/5/2022 - Ngô Không Phí Ngọc Hùng  

BẰNG CHỨNG KINH NGẠC : ĐỀN ANGKOR WAT THUỘC NỀN VĂN MINH KHÁC

Phương Lam

image.png
Rất nhiều người đã từng sửng sốt trước sự vĩ đại và bí ẩn của Angkor Wat khi tham quan ngôi đền này ở Campuchia. Những nghiên cứu khảo cổ gần đây cho thấy Angkor Wat không thuộc về nền Văn Minh của nhân loại lần này, mà rất có thể từ một nền Văn Minh viễn cổ có công nghệ cao hơn.

Điều kỳ lạ là Angkor Wat có các hoa văn điêu khắc mô tả những con thú đã tuyệt chủng hàng triệu năm trước, còn có hình chạm khắc chiếc kính Viễn Vọng và hệ Mặt Trời - lại là hình ảnh của tương lai. Làm sao mà những người thợ điêu khắc ngôi đền này có thể biết những sự việc của quá khứ hàng triệu năm trước, và cả chuyện của hàng trăm năm sau ? Ai mới là người thật sự xây dựng ngôi đền huyền bí này ?

Giáo sĩ người Bồ Đào Nha António da Madalena – người đến thăm ngôi đền vào năm 1586, đã kinh ngạc trước vẻ đẹp và sự vĩ đại của Angkor Wat và viết rằng: “ Đó là công trình xây dựng đặc biệt đến mức không thể miêu tả nó bằng bút mực, đặc biệt là vì nó không giống bất cứ công trình xây dựng nào trên thế giới. Nó có các tòa tháp, các họa tiết và các đường nét tinh tế mà chỉ những thiên tài mới có thể thực hiện được ”.

Angkor Wat được UNESCO đánh giá là công trình Tôn Giáo lớn nhất thế giới. Biểu tượng của nó được in trên lá cờ của đất nước Campuchia xinh đẹp.


Angkor ở phía Tây Bắc Biển Hồ, thuộc tỉnh Xiêm Riệp, Campuchia, với hơn 1.000 ngôi đền có quy mô khác nhau; bao gồm 2 cụm quần thể cách nhau 1,7km là Angkor Wat và Angkor Thom.

Theo nghĩa hiện đại, Angkor Wat, nghĩa là “ Thành phố của những ngôi Đền ”, có diện tích lên đến 1,6 triệu m2. Đền Angkor Wat được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các tượng Thần được trang hoàng trên tường đá.

Tháp trung tâm của Angkor Wat cao đến 65m, cao hơn bất cứ một tháp chuông nhà thờ nào ở châu Âu được xây dựng trước thế kỷ XV.

Sau khi đế chế Khmer lụi tàn, Angkor Wat dần bị quên lãng. Vào năm 1860, Angkor Wat được nhà tự nhiên học và nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot phát hiện ra.

Ông cảm thấy chấn động và viết: “ Một trong những ngôi đền này có thể chiếm một vị trí danh dự bên cạnh những tòa nhà đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn bất cứ thứ gì mà Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta ”.

Một trong những giả thiết nổi bật nhất về Angkor Wat là công trình này không phải được xây dựng bởi người Campuchia vào thế kỷ XII, mà được xây dựng bởi một nền Văn Minh Tiền Sử - dựa trên các ghi chép và phát hiện của các nhà khảo cổ học.

Phải chăng đây là công trình của người Tiền Sử ?

1. Trình độ Kỹ Thuật

Những phát hiện gần đây của Ông Praveen Mohan, một Vlogger và là nhà khảo cổ học nghiệp dư người Ấn Độ, đã mang đến những bằng chứng rất thuyết phục rằng: Với công nghệ 900 năm trước, Angkor Wat khó có thể được xây dựng bởi người Campuchia.

Ông Praveen Mohan tính toán rằng để xây dựng Angkor Wat có diện tích 1,6 triệu m2, phải xử dụng ít nhất 10 triệu m3 đá.

Giả thiết Vua Suryavarman II là người đã xây dựng Angkor Wat trong 37 năm, và rằng những người công nhân đã liên tục làm việc 12 đồng hồ/ngày, thì tổng thời gian xây dựng trong 37 năm sẽ là 9.723.600 phút. Vậy khối lượng đá cần khai thác sẽ tương đương với 1 tấn trong 1 phút.

Mỏ đá tại Phnom Kulen cách Angkor Wat 80km được coi là nơi cung cấp đá chính cho công trình này. Nhưng có thể dễ dàng nhận ra rằng việc khai thác, vận chuyển 1 tấn đá qua quãng đường 80km, rồi sau đó gia công, gọt, đẽo, lắp ghép… tất cả diễn ra trong vòng 1 phút là điều không thể làm được, thậm chí kể cả với công nghệ hiện nay.

Giả sử Vua Suryavarman II huy động được 1.000 nhóm thợ để làm việc, thì khả năng hoàn thành tất cả các công đoạn trên để lắp ghép 1 tấn đá trong vòng 1000 phút, tương đương 17 giờ - cũng không khả thi với trình độ công nghệ thô sơ của Campuchia 900 năm trước.

Cũng cần lưu ý rằng, để xây dựng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh có diện tích chưa đến một nửa so với Angkor Wat, người Trung Quốc vào thế kỷ XV cần xử dụng đến 1 triệu công nhân, với hơn 100 ngàn thợ thủ công xây dựng liên tục trong 14 năm. Rất khó có thể hình dung rằng trong thế kỷ XII, người Khmer lại có tiềm lực ngang bằng hoặc hơn so với Trung Quốc ở thế kỷ XV, để có thể xây dựng được đền Angkor Wat vĩ đại.

2. Trình độ chế tác khác nhau

Một điều rất dễ nhận ra là hình tượng Thần được tạc trên các cột đá từ thời Vua Suryavarman II rất đẹp, nhẵn nhụi; khớp nối giữa các khối đá được làm rất khéo và tỉ mỉ. Trong khi các bức tượng Phật được tạc thời Vua Jayavarman VII sau này lại vô cùng gồ ghề và xộc xệch. Vì sao công nghệ chế tác giữa 2 thế hệ cách nhau chỉ vài chục năm lại khác nhau một trời một vực như vậy

Ông Praveen Mohan còn phát hiện trong quần thể Angkor Wat có một tòa tháp nhỏ bằng đá được xây dựng rất xấu - tương phản hoàn toàn về kích thước, công nghệ, kỹ thuật chế tác, độ bền và mức độ thẩm mỹ so với các công trình khác ở Angkor Wat.

So với Angkor Wat, Angkor Thom bị đổ nát khá nhiều và trình độ kiến trúc cũng thua kém xa. Ông Mohan cho rằng những công trình xấu xí và kém bền vững này mới chính là sản phẩm mà người Campuchia 900 năm trước tạo ra. Còn đại công trình Angkor Wat thì có lẽ không phải là di sản của người Campuchia thời đó.

Mặc dù người ta tìm thấy bức phù điêu khắc hình Vua Suryavarman II với Angkor Wat trong quần thể di tích này, nhưng, so với sự vĩ đại, tinh xảo, phức tạp của Angkor Wat thì bức phù điêu về đức Vua lại quá đơn giản, nhỏ bé và mờ nhạt; khiến chúng ta tự hỏi làm thế nào mà người đã sáng tạo ra một công trình vĩ đại lại có thể được lưu danh theo hình thức này ?

3. Nằm trên một đường thẳng chạy vòng quanh trái đất

Vài chục năm gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện rằng: Nhiều công trình cổ đại nổi tiếng trên thế giới đều nằm trên một đường thẳng ( còn gọi là đường Ley ) chạy vòng quanh trái đất.

Một trong những đường như vậy có lộ trình chạy qua: Đảo Phục Sinh - Kim Tự Tháp Ai Cập - Các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru - Angkor Wat - Kinh Đô Persepolis của Đế Quốc Ba Tư cổ đại - Thành Phố cổ Mohenjo-Daro - Đền thờ thần Ammon trên ốc đảo Siwa - Thành Phố bị thất lạc Petra - Thành Phố Ur của nền văn minh Sumer cổ đại - Vùng Biển Chết ở gần Địa Trung Hải - Dãy núi Himalaya - Sông Tiền Đường ở tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc - Khu di tích lục địa Atlantis trong huyền thoại…

Như vậy, Angkor Wat cũng nằm trên đường Ley này. Ngày nay, nhiều người gọi những đường Ley này là kinh mạch của trái đất, vì nó chạy qua những công trình cổ đại có kiến trúc phi thường, và vô cùng bí ẩn; thậm chí có trình độ khoa học kỹ thuật vượt xa nền văn minh nhân loại ngày nay.

4. Dùng kính viễn vọng để quan sát vào 900 năm trước ?

Tại một công trình ở Angkor Wat, có chạm khắc cuộc chiến giữa Thần Vishnu và Thần Indra, Ông Praveen Mohan phát hiện ra một chi tiết mô tả một người phía Thần Indra xử dụng một vật kỳ lạ để quan sát Thần Vishnu. Vật thể đó được xác định là một ống kính viễn vọng.

Lịch sử khoa học hiện đại ghi nhận rằng kính viễn vọng được Hans Lippershey phát hiện ra vào năm 1608, cách đây 400 năm. Vậy làm sao người Campuchia có thể xử dụng chiếc kính này vào 900 năm trước ?

Một điều kỳ lạ tương tự, Ông Praveen Mohan cũng phát hiện tại ngôi đền Hoysaleswara ở Ấn Độ - được cho là xây dựng từ thế kỷ XII - có hình chạm khắc một trận chiến giữa 2 vị Thần, trong đó cũng có một người xử dụng kính viễn vọng để quan sát; còn có hình chạm khắc của những thứ như tên lửa chiến đấu.

Hai ngôi đền trên đều bằng đá, có kiến trúc cực kỳ phức tạp, được cho là xây dựng trong cùng một thế kỷ, ở 2 đất nước khác nhau; và cùng mô tả kính viễn vọng - một vật thể được coi là phi hiện thực tại thời điểm xây dựng. Điều này mang lại câu hỏi lớn cho giới khoa học hiện nay.

Nhưng đây chưa phải là điều kỳ lạ nhất…

5. Những hình thú đã tuyệt chủng

Trên bức tường đá tại Angkor Wat, Ông Praveen Mohan đã phát hiện ra hình chạm khắc một con voi 4 sừng. Đây là loài thú có thật trong lịch sử và đã bị tuyệt chủng 2 triệu năm trước. Một bộ xương hóa thạch của loài thú này được tìm thấy ở Sulawesi, Indonesia và đang được trưng bày tại Bảo Tàng Quốc Gia nước này.

Ở một trụ đá tròn, Ông Praveen phát hiện ra hình chạm khắc của một con thú khác với cái đuôi lúc nào cũng nằm ngang và cái đầu kỳ dị, gọi “ linh cẩu răng ” ( Hyaenodon ). Theo các nhà khoa học, thì những con linh cẩu này đã tuyệt chủng 26 triệu năm trước.

Vậy, vào 900 năm trước - khi ngành khảo cổ học còn chưa phát triển - làm thế nào mà những người thợ điêu khắc có thể nghĩ ra được những con thú đã tuyệt chủng này ?

6. Những bí ẩn về Thiên Văn Học

Hàng năm, cứ vào 2 ngày Điểm Phân (Equinox), tức khoảng ngày 20/3 và 20/9, các du khách có thể chiêm ngưỡng hiện tượng kỳ thú duy nhất trong năm: cảnh mặt trời lên (lúc sáng ngày 20/3) hoặc xuống (lúc chiều ngày 20/9) vào đúng vị trí đỉnh tháp cao nhất của Angkor Wat - khi nhìn từ phía cổng vào của ngôi đền. Chỉ vào 2 ngày này mặt trời mới có thể đi vào đúng vị trí đó.

Làm sao mà những người Campuchia 900 năm trước có thể xác định được hiện tượng Điểm Phân và xây dựng Angkor Wat chính xác đến mức độ như thế ?

Tại một công trình khác có khắc bức tranh, trong đó Thần Mặt Trời của đạo Hindu ngồi ở giữa và 9 người đang ngồi dưới chắp tay nhìn lên Ông. Điều này mô tả hệ Mặt Trời gồm Mặt Trời và 9 hành tinh lớn đang xoay quanh. Nhưng cần lưu ý rằng sao Hải Vương mới được phát hiện gần 400 năm trước bởi nhà thiên văn học Galileo; còn sao Diêm Vương thậm chí mới được phát hiện vào năm 1930. Cả 2 ngôi sao này không thể được nhìn thấy bằng mắt thường nếu không có kính Viễn Vọng.

Vậy, vì sao mà những người thợ điêu khắc 900 năm trước ở Campuchia lại có thể có được những kiến thức thiên văn chuẩn xác; và có cả kính viễn vọng để quan sát được 2 hành tinh mới trong hệ Mặt Trời này ?


7. Trung tâm của một thành phố tiền công nghiệp lớn nhất thế giới

Vào năm 2007, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã sử dụng ảnh vệ tinh và các kỹ thuật hiện đại khác - kết luận rằng quần thể Angkor là trung tâm của một thành phố tiền công nghiệp lớn nhất trên thế giới.

Thành phố này có một hệ thống cơ sở hạ tầng phức tạp - kết nối một khu đô thị rộng từ 1.000 đến 3.000km2, tới những ngôi đền nổi tiếng ở trung tâm của thành phố. Đây được coi là một “thành phố thủy lực” vì có một mạng lưới quản lý nước phức tạp, được sử dụng để ổn định, lưu trữ và phân tán nước một cách có hệ thống nhằm phục vụ sản xuất và sinh sống của lượng dân số từ 750.000 đến 1 triệu người.

Nếu thành phố này thực sự tồn tại vào những năm 1100, thì khi đó, chắc chắn Khmer là một nước hùng cường nhất thế giới, và văn minh của họ hẳn sẽ được lưu truyền đến ngày nay. Nhưng rõ ràng không phải thế.

Như vậy, chỉ có thể nghi vấn rằng thành phố “ tiền công nghiệp ” có chứa Angkor Wat là một thành phố tiền sử - được xây dựng bởi những người xuất hiện trước nền văn minh 5.000 năm lần này của chúng ta.

Vậy, ai là chủ nhân thực sự của Angkor Wat vẫn còn là câu hỏi bí ẩn ?


Lịch sử nhân loại chứa đựng bao điều bí ẩn và hoàn toàn vượt xa khỏi trí tưởng tượng của con người hiện đại. Có lẽ chúng ta cần thoát khỏi lối tư duy cố hữu, những định kiến, có như vậy, ta mới có thể nhận thức và lý giải một cách rõ ràng và minh xác về nguồn gốc thực sự của những công trình bí ẩn như Angkor Wat.

Phương Lam
 
H.Phi chuyển
 

Mời Xem :.Chủ nhân thực sự của đền Angkor Wat là ai?

 

Chụp X quang bức tranh tự họa ở bảo tàng Pháp, chuyên gia phát hiện bí mật giấu kỹ 160 năm

Họa sĩ táo bạo bậc nhất nước Pháp đã giấu kín một bí mật đằng sau bức tranh tự họa "Người đàn ông bị thương".

Người đàn ông bị thương

Jean Désiré Gustave Courbet (1819 – 1877) là một họa sĩ người Pháp nổi tiếng, một nhân vật tiên phong của chủ nghĩa hiện thực. Ông sinh ra ở miền nam nước Pháp và đến Paris lập nghiệp với một quan điểm thẩm mỹ mới. Với Courbet "Hội họa cơ bản là một nghệ thuật cụ thể và hội họa phải dùng để thể hiện những vật có thật và hiện đang tồn tại".

Cái tên của Gustave Courbet gắn liền với những tác phẩm táo báo, nổi bật nhất là bức tranh "Cội nguồn nhân gian" vẽ một người phụ nữ khỏa thân thể hiện rõ hình ảnh bộ phận sinh dục nữ đang được trưng bày tại bảo tàng Orsay, thành phố Paris nước Pháp.


                       Chân dung họa sĩ Gustave Courbet. (Hình ảnh: Wikipedia)

Cùng được trưng bày tại bảo tàng này còn có tác phẩm "The Wounded man" (tạm dịch: Người đàn ông bị thương) - một tác phẩm nổi bật của họa sĩ Courbet. Bức tranh sơn dầu có chiều dài 97,5 cm và chiều rộng 81,5 cm, là bức tranh tự họa của chính họa sĩ người Pháp.

Người đàn ông trong bức tranh mang một vẻ đẹp điển trai lãng tử đúng chuẩn châu Âu đang dựa vào gốc cây và nhắm mắt lại, như thể anh ta chỉ đang nghỉ ngơi một chút nhưng trên ngực lại đẫm máu. Bên trái là một thanh kiếm và thực tế thì anh đang ở trong một cuộc chiến khốc liệt.

       Bức tranh "Người đàn ông bị thương" của Gustave Courbet. (Hình ảnh: Baijiahao)

Anh bị thương nặng nên không thể di chuyển, chỉ có thể nằm yên dưới gốc cây. Hoàn cảnh bức tranh "mưa bom bão đạn" là thế nhưng người xem lại thấy bình yên đến lạ lùng, thậm chí có người còn bảo người đàn ông trong tranh trông như một thiên thần!

Bức tranh được vẽ sơn dầu một cách điêu luyện với màu sắc có phần ảm đạm u tối nhưng lại toát lên vẻ bí ẩn đến ma mị. Điều này đã kích thích trí tò mò của người xem sau này đặc biệt là các chuyên gia về hội họa.

Và rồi khi nghiên cứu bức tranh này của họa sĩ Gustave Courbet, các chuyên gia đã chụp X-quang và phát hiện ra một phiên bản khác ẩn giấu bên dưới lớp "vỏ bọc" vốn đã quá quen thuộc với du khách tại bảo tàng Orsay. Hóa ra tâm tư đằng sau của "Người đàn ông bị thương" đã bị vị họa sĩ giấu kín hơn 160 năm qua.

Bí mật của Gustave Courbet

Bức tranh "Người đàn ông bị thương" mà mọi người vẫn luôn nhìn thấy thực chất đã được vị họa sĩ người Pháp sửa đổi so với phiên bản đầu tiên. Trên thực tế, từ bức tranh phóng to sau khi chụp X-quang, chúng ta có thể thấy người đàn ông điển trai này đang ôm một cô gái xinh đẹp với nụ cười mỉm trên môi, hai người hẳn là đang đắm chìm trong tình yêu nồng nàn. 

Câu hỏi đặt ra của các chuyên gia là tại sao vị họa sĩ lại xóa bỏ đi hình ảnh người phụ nữ này?

    Chi tiết người phụ nữ nằm trong lòng người đàn ông khi chụp X-quang. (Hình ảnh: Baijiahao)

Những ai yêu thích tranh của Gustave Courbet chắc hẳn đã nhiều lần nhìn thấy hình ảnh cô gái này xuất hiện trong những bức tranh khác của ông với dáng vẻ lả lướt yêu kiều.

Dựa trên những ghi chép về đời sống của họa sĩ người Pháp nổi tiếng này, mọi người sẽ thấy rằng ông yêu say đắm một người phụ nữ, và mối tình ngọt ngào của họ đều được họa sĩ thổi hồn vào tranh  vẽ mà nổi tiếng là bức "The happy lovers" (tạm dịch là Những người hạnh phúc trong tình yêu).

     Một bức tranh khác tên là "The happy lovers" của Gustave Courbet. (Hình ảnh: Baijiahao)

Vậy nên lý do khiến ông xóa bỏ đi hình ảnh người phụ nữ để rồi chỉ còn mỗi người đàn ông cô đơn đang bị thương trong bức tranh có lẽ là do sự tan vỡ của một chuyện tình ngọt ngào. Phải chăng vết thương trên ngực của người đàn ông không chỉ là do chiến tranh mà còn ẩn dụ cho vết thương lòng của vị họa sĩ?

Tất nhiên lý do này chỉ là suy đoán của các chuyên gia bởi không ai có thể chắc chắn về mối quan hệ này! Nhưng chi tiết người phụ nữ trong vòng tay người đàn ông trong bức tranh nổi tiếng của danh họa Gustave Courbet thì chắc chắn là một khám phá vô cùng thú vị đối với người xem.


 

2 thg 6, 2022

Xếp Tàn Y Mộng Tưởng - Thuyên Huy


Tàn y xếp lại đời khanh tướng

Bút nghiên hoang phế tận nỗi lòng

Ngựa xe chậm trễ tàn mộng tưởng

Xót xa hồn chìm cỏi hư không

 

Chần chừ chuyến xe đời đã lỡ

Tiếng ca thôi cũng lỗi nhịp đàn

Quằn vai gánh sầu thương đấp mộ

Đôi bờ không tiếng gọi đò sang

 

Gượng tay chấp vá tình dang dở

Thăm thẳm chờ mong hun hút đường

Lạnh lùng cửa vô thường rộng mở

Trời đất đã tàn phai sắc hương

 

Đêm chờ trăng lên trên đỉnh dốc

Để tìm đâu đó cõi thiên thai

Tuồng đời chưa trọn vai vinh nhục

Màn buông cũng còn nợ kiếp này

 

Thuyên Huy

Chiều lang thang trên con đường một chiều xứ lạ 2022


 Mời Xem :

Về Đứng Bên Sông - Thuyên Huy

HENRY FORD ĐÃ KHIẾN THẾ GIỚI CHUYỂN TỪ NGỰA SANG Ô TÔ BẰNG CÁCH NÀO?

(Câu chuyện về tầm nhìn và giai đoạn khởi nghiệp của Henry Ford - cha đẻ ngành công nghiệp ô tô sẽ mang lại những bài học, chiến lược kinh doanh kinh điển của một cá nhân sáng tạo đã làm thay đổi thế giới)

“Khi tôi hỏi mọi người rằng họ muốn phương tiện đi lại của mình như thế nào? Họ nói với tôi rằng họ muốn một con ngựa chạy nhanh hơn”, trích từ tiểu sử của Henry Ford.

Ford sinh thời khi mọi người sử dụng ngựa như là một phương tiện đi lại thông dụng và được ưa chuộng. Vì thế, khi ông khảo sát thị hiếu của mọi người từ sáng chế của mình, ông đã rút được bài học rằng không bao giờ có thị trường cho các hàng hóa mới.

Đó thật sự là thử thách. Thay đổi thói quen con người không dễ, tạo ra một cuộc cách mạng hóa để thay đổi ý niệm truyền thống thậm chí còn khó hơn. Nhưng Ford đã làm được. Ông đã thay đổi thế giới khi giờ đây có hàng triệu người đang sử dụng ý tưởng từ sáng chế của ông như một thói quen thông dụng. Vậy Ford đã làm điều đó bằng cách nào?

- Dũng cảm đi theo tầm nhìn của mình:

Ngay từ khi còn nhỏ, Ford đã nghĩ rằng có nhiều việc có thể được thực hiện tốt hơn bằng cách nào đó. Chính suy nghĩ này đã khiến ông đam mê ngành cơ khí, và ông được mẹ tả như là một thợ máy bẩm sinh.

Thuở bé, Ford đã có một cái xưởng nhỏ với các mẫu kim loại lặt vặt dùng làm công cụ. Hồi đó, tất cả đồ chơi của ông đều được chế tạo bằng tay thủ công, khác xa so với đồ chơi bây giờ. Khoảng khắc tuyệt nhất trong tuổi thơ của Ford là ông thấy động cơ đường sắt, một chiếc xe chạy bằng hơi nước. Đó là chiếc xe đầu tiên ông thấy chạy được mà không cần ngựa kéo.

Hay thích tháo gỡ, lắp ráp mọi thứ, khi 15 tuổi, ông có thể sửa mọi chiếc đồng hồ và được kỳ vọng sẽ trở thành một nhà sản xuất đồng hồ. Nhưng ý nghĩ về “một cỗ xe không cần ngựa kéo” quá kỳ diệu và với sự tự nỗ lực bản thân, Ford bắt đầu làm ra một chiếc xe từ phân xưởng xây trên trang trại của gia đình.

Khi được 17 tuổi, ông bắt đầu ông bắt đầu công việc của một người thợ máy học nghề, đủ điều kiện trở thành thợ trước thời hạn và được nâng lên các cấp cao hơn trong nhà máy động cơ Drydock. Khi rảnh rỗi, ông nghiên cứu cơ chế hoạt động của động cơ chạy bằng xăng và mơ đến việc làm nên một “chiếc xe hơi toàn cầu” có thể vận chuyển con người ít tốn chi phí và đáng tin cậy.

Trong một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với nhà phát minh Thomas Edison khi được hai mươi tuổi, Ford đã được truyền một nguồn cảm hứng vô tận. Cho dù lúc đó, điện đang được coi là một phát minh quan trọng của Edison và mọi người đều bảo rằng điện sẽ là tương lai, nhưng Edison vẫn nói với Ford rằng phải tiếp tục bền bỉ với hướng đi riêng của ông.

Sau đó, ông chủ của Ford tại công ty Detroit Edison đề cử ông lên một vị trí cao với điều kiện ông phải từ bỏ niềm đam mê cá nhân của mình để chuyên tâm vào công việc hữu ích hơn.

“Điều này khiến tôi phải đứng trước sự lựa chọn giữa công việc với cơ hội thăng tiến đang rộng mở và niềm say mê ô tô của bản thân. Cuối cùng, tôi đã chọn ô tô và thôi việc. Thật ra, tôi chẳng có sự lựa chọn nào khác bởi tôi biết rằng chính ô tô mới mang lại sự thành công cho mình, mặc dù nhiều người khác không nghĩ thế”, trích tiểu sử My life and work của Henry Ford.

Bỏ qua danh vọng trước mắt chỉ để có một cơ hội thay đổi thế giới bằng việc theo đuổi đam mê đòi hỏi sự dũng cảm của mỗi cá nhân. Ông đã chính thức thôi việc vào ngày 15 tháng 8 năm 1899 và bắt đầu bước vào lĩnh vực kinh doanh ô tô từ đó.

- Khởi nghiệp:

Không có nguồn vốn cá nhân, Ford kết hợp với một nhóm nhà đầu tư để lập ra công ty Detroit Automobile Company. Ông nhanh chóng nhận ra rằng những nhà đầu tư này chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt hơn là sản xuất ra một chiếc xe tốt hơn, vì thế chỉ sau một năm với 20 chiếc xe hơi được sản xuất, Ford rút ra khỏi công ty.

Bốn năm sau, người đàn ông 40 tuổi có dáng người mảnh khảnh lập ra công ty Ford Motor Company. Công ty huy động được số vốn là 100.000 đô la, và lần này Ford sở hữu ¼ cổ phiếu của công ty.

Trong năm đầu tiên, công ty đã sản xuất hơn 1.700 chiếc xe Model A và chúng đạt được thành công ban đầu nhờ tính năng đáng tin cậy. Sang năm thứ hai, do áp lực từ các cộng sự, Ford đưa ra ba mẫu xe và nâng giá bán. Công ty bán được ít xe hơn.

Từ đầy, Ford nhận ra cần phải nắm được số cổ phần lớn để có thể toàn quyền kiểm soát. Vì thế, ông dùng thu nhập hàng tháng của mình để mua lại số lượng cổ phiếu, từ 50% và sau đó là 100%.

Năm 1908-1909, công ty bán ra hơn 10.000 chiếc xe và chịu áp lực phải mở rộng dòng sản phẩm. Tuy nhiên, Ford lại đi theo hướng ngược lại hoàn toàn. Một buổi sáng năm 1909, ông tuyên bố từ này công ty chỉ sẽ bán ra một mẫu xe duy nhất với giá thành luôn giảm qua thời gian: Model T. Thêm nữa, chỉ có một màu.

“Khách hàng nào cũng có thể có được chiếc xe hơi sơn màu anh ta muốn nếu như nó màu đen”, là câu nói đã trở thành nổi tiếng của ông.

Trong khi nhiều người vẫn nghĩ rằng giá bán thấp sẽ khiến công ty phá sản thì Ford tin vào chiến lược này sẽ giúp thị trường mở rộng mạnh mẽ. Thực tế đã diễn ra đúng như ông kỳ vọng. Ông bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất dây chuyền lớn nhất thế giới, Highland Park, và công suất nhảy vọt từ 6.000 lên đến 35.000 chiếc/năm, trong khi số lượng nhân viên tăng chưa đến gấp đôi.

Chỉ 10 năm sau, công ty đã làm ra 4.000 chiếc xe mỗi ngày và năm sau là 5 triệu chiếc xe/năm. Vào cuối thập niên, 15 triệu chiếc xe Model T được sản xuất, đánh dấu cột mốc kỳ diệu trong việc sản xuất đại trà.

Sở dĩ nhà máy có thể mở rộng quy mô lớn đến như vậy đều bắt nguồn từ chính chiến lược kinh doanh của Ford. Trong quá khứ, những chiếc xe hơi đầu tiên được xem như là một thứ đồ chơi của người giàu có, được bán cho những người có nhu cầu giải trí hay muốn chứng tỏ địa vị.

Ford đã thay đổi quan niệm này bằng cách quảng cáo tính hữu dụng của những chiếc xe hơi hãng Ford. Xe cũng được bán ra nhờ việc dễ điều khiển, dễ sử dụng và từ đó có câu: “Bất kể ai cũng có thể lái một chiếc Ford”.

Tuy nhiên, chính chiến lược giá mới là yếu tố hàng đầu khiến công ty trở nên thành công ngoài mong đợi. Vào những năm 1909-1910, chiếc xe trị giá 950 đô la. Mười năm sau, giá xe chỉ còn 355 đô la.

Ford rất ghét ý tưởng làm cho chiếc xe hơi trở nên đắt đỏ. Thay vào đó, chiến lược của ông là định giá dựa trên chi phí sản xuất. Có nghĩa, nếu các nhà máy của ông có thể hoạt động ngày càng hiệu quả hơn thì người tiêu dùng sẽ được lợi.

Cũng giống như Sam Walton với chuỗi siêu thị Wal-Mart, Ford phát hiện ra rằng ông có thể kiếm được nhiều lãi hơn nhờ bán được nhiều sản phẩm với giá thấp hơn, thay vì bán số lượng ít với giá cao.

Nếu bạn bán được sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ, đây sẽ là lợi thế cạnh tranh khó vượt qua của doanh nghiệp, do đó “bạn sẽ tìm thấy nhu cầu cao hơn đến mức có thể gọi là toàn cầu”, Ford viết trong cuốn tiểu sử của mình.

Chiến lược này nghe có vẻ “quen thuộc” với thời đại chúng ta, nhưng đó là một trong những bí quyết kinh điển đã mang lại thành công đáng kinh ngạc trong kinh doanh của Henry Ford.

Theo Trí thức trẻ

#Tapchidoanhnhan

 

PHƯỢNG - Thơ Trần Phong Vũ


 
PHƯỢNG
 
Phượng của mùa hè hay của tôi
Rưng rưng tôi nhớ đến một người
Áo dài phơ phất trong chiều nắng
Và cánh phượng hồng lãng đãng rơi
Phượng mà tôi ấp ủ trong lòng
Giữa tờ lưu bút cũ bâng khuâng
Bài thơ tôi viết từ dạo ấy
Non trẻ như tôi hằng ước mong
Phượng đỏ trong ngày tôi chia tay
Mắt lệ buồn gửi lại những hàng cây
Màu hoa màu má hồng tươi thắm
Tiễn bước tôi đi có một ngày
Ngày mà rộn rã những tiếng ve
Sân trường rực rỡ nắng đầu hè
Có hai cô cậu hàng hiên vắng
Nụ hôn đầu giấu dưới nón che
 
TRẦN PHONG VŨ


Mời Xem : Tình già - Trần Phong Vũ