6 thg 3, 2021

TÔI CÓ DỄ QUÊN NHƯ VẬY KHÔNG - Thơ Nguyễn Cang

  TÔI CÓ DỄ QUÊN NHƯ VẬY KHÔNG ?

 















Bến mới, đò đưa tiễn sang sông

Dòng đời  hai ngã sầu ly biệt

Sao nghe như nổi  sóng trong lòng

 

Lỡ yêu rồi làm sao quên được

 Không thể nào để em bỏ đi

Bỏ cả tình yêu từng ươm mộng

Mà trong tôi chỉ một lối về

 

Lỡ yêu rồi làm sao quên được

Em tiếc không khi bỏ địa đàng

Vội vàng quên những ngày vui cũ

Cho lòng anh cứ mãi vấn vương

 

Lỡ yêu rồi làm sao quên được

Hãy chọn người yêu em hơn anh

Cho xứng đáng tình em trao gởi

Anh thà coi chưa gặp, thôi đành!

 

Nguyễn Cang (1/3/21)

(phỏng dịch)



🌸🌸🌸🌸






Chu Mộng Long: Thực hư chuyện bắt buộc trẻ em học tiếng Đức, tiếng Hàn



 Sáng nay các báo đồng loạt đăng tin Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định bắt buộc học sinh từ lớp Ba phải học tiếng Đức, tiếng Hàn. Dư luận hoảng hốt, tôi cũng hoảng hốt. Lẽ nào kết quả học tiếng Anh qua kỳ thi tốt nghiệp THPT năm vừa rồi đội sổ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuyển hướng cho trẻ em sang học tiếng Hàn, tiếng Đức dễ hơn?

Hay lẽ nào do nhu cầu xuất khẩu lao động hàng triệu người sang Đức, sang Hàn (kể cả chạy trốn sang Đức như Trịnh Xuân Thanh hay đi nhờ máy bay của chị Ngân sang Hàn) mà Bộ phải tạo điều kiện cho đối tượng này? Và lẽ nào ông Thuyết ông Thống và các quan bộ có con du học bên Đức, bên Hàn nên muốn tạo điều kiện cho con em mình có vị trí việc làm là về nước dạy tiếng Đức, tiếng Hàn?
Nếu đúng vậy thì giáo dục Việt Nam đang diễn hề, cái vai hề giả ngu ngốc để tham lam hơn là làm giáo dục.
Tôi thận trọng truy lại văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì thấy không phải như vậy. Quyết định 712/QĐ-BGDĐT do Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ vừa ký ban hành Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Hàn và Tiếng Đức - Ngoại ngữ 1, hệ 10 năm thí điểm chỉ là cập nhật để bổ sung, mở rộng các môn ngoại ngữ trong hệ thống "lựa chọn bắt buộc".
Dễ hiểu thế này. Trước đó, ngoại ngữ 1 bắt buộc lựa chọn là 1 trong 5 ngoại ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung, Tiếng Nhật. Nay bổ sung, mở rộng thêm Tiếng Hàn, Tiếng Đức tuỳ theo điều kiện địa phương (có giáo viên dạy hay không), nhu cầu của người học (trẻ em muốn học tiếng Đức hay tiếng Hàn thay vì học ngoại ngữ khác).
Tóm lại, không có chuyện trẻ em bị bắt buộc học tiếng Đức và tiếng Hàn như báo chí và dư luận ồn ào, hoang mang. Nếu cơ quan chức năng hăng xử phạt để tăng ngân sách thì vụ này nên phạt báo chí cái tội đưa tin sai sự thật.
Việc mở rộng hệ thống môn ngoại ngữ để người học lựa chọn theo điều kiện dạy học và nhu cầu cá nhân là điều tốt nên khuyến khích. Và đã như vậy thì theo tôi, sao cứ phải giới hạn trong 7 ngoại ngữ để lựa chọn? Nếu tôi có nhu cầu học tiếng Ả Rập, tiếng Hy Lạp, tiếng Nam Phi, tiếng Lào, tiếng Cambot... thì các thứ tiếng này cũng có giá trị tương đương như các ngoại ngữ kia chứ chẳng nhẽ chúng bị kỳ thị đó là tiếng "thiểu số"?
Mà đã dựa vào điều kiện và nhu cầu thì có khi cũng chẳng cần áp đặt số 1, số 2 chi cho thêm rắc rối, gây tranh cãi.
Theo tôi, chất lượng của dạy học ngôn ngữ mới là tiêu chuẩn hàng đầu của một nền giáo dục. Trong tình trạng giáo dục hiện nay, hãy chăm lo dạy học tiếng Việt cho tốt đã mới nghĩ đến các loại ngoại ngữ. Dạy học tiếng Việt như sách Cánh Diều và sử dụng tiếng Việt như các quan chức đầu đàn, diễn đạt như báo chí thổ tả, mà ham học nhiều ngoại ngữ để làm sang thì là tai hoạ của sự mất gốc, mất hồn, mất vía cả giống nòi.

04/03/1918: Ca nhiễm đầu tiên trong đại dịch cúm Tây Ban Nha ( Nghiên Cứu Quốc Tế )


 Nguồn: First cases reported in deadly Spanish flu pandemic, History.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1918, ngay trước khi dùng bữa sáng, Binh nhì Albert Gitchell của Lục quân Mỹ đã được chuyển đến bệnh viện ở Fort Riley, Kansas, sau khi xuất hiện các triệu chứng giống như cảm lạnh – bao gồm đau họng, sốt và đau đầu. Đến buổi trưa cùng ngày, hơn 100 đồng đội của anh cũng đã báo cáo về các triệu chứng tương tự, và người ta chính thức ghi nhận các trường hợp được cho là những ca bệnh đầu tiên trong đại dịch cúm lịch sử năm 1918, sau này được gọi là cúm Tây Ban Nha. Sau cùng, căn bệnh đã giết chết 675.000 người Mỹ và khoảng 20 – 50 triệu người khác trên khắp thế giới, trở thành nguyên nhân gây tử vong cao hơn cả Thế chiến I.

Theo sau đợt bùng phát ban đầu tại Fort Riley vào tháng 3 là hàng loạt những đợt bùng phát tương tự tại các doanh trại quân đội và nhà tù ở nhiều vùng khác nhau của đất nước. Căn bệnh nhanh chóng lan sang châu Âu, theo chân những người lính Mỹ tới hỗ trợ quân Hiệp ước trên các chiến trường của Pháp. (Chỉ riêng trong tháng 3/1918, 84.000 lính Mỹ đã vượt Đại Tây Dương; sau đó một tháng, 118.000 người khác cũng lên đường.) Khi lan truyền đến lục địa thứ hai, dịch cúm không hề có dấu hiệu thuyên giảm: 31.000 ca nhiễm đã được ghi nhận vào tháng 6 ở Anh. Về sau, căn bệnh được gọi là cúm Tây Ban Nha bởi vì mọi người lầm tưởng Tây Ban Nha là trung tâm của đại dịch.

Dịch cúm cũng chẳng hề bỏ qua binh lính ở bên còn lại của chiến hào. Trong suốt mùa hè, làn sóng dịch bệnh đầu tiên đã tấn công người Đức ở Mặt trận phía Tây, nơi họ đang tiến hành cuộc tấn công không giới hạn cuối cùng – được tin là sẽ quyết định kết quả của cuộc chiến. Nó đã ảnh hưởng đáng kể đến tinh thần quân đội vốn đang suy yếu – theo lời Tư lệnh quân đội Đức, Thái tử Rupprecht, viết vào ngày 03/08: dự phòng nghèo nàn, tổn thất nặng nề và dịch cúm ngày càng trầm trọng đã làm tinh thần của binh sĩ trong Sư đoàn Bộ binh III suy sụp nặng nề. Trong khi đó, dịch cúm đã lan nhanh ra ngoài biên giới Tây Âu, do tỷ lệ độc lực đặc biệt cao và việc quân lính được điều chuyển ồ ạt, trên bộ và trên tàu, để phục vụ nỗ lực chiến tranh. Đến cuối mùa hè, nhiều trường hợp nhiễm bệnh đã được báo cáo ở Nga, Bắc Phi và Ấn Độ; Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines và thậm chí New Zealand cuối cùng cũng trở thành nạn nhân.

Đại chiến kết thúc vào ngày 11/11, nhưng dịch cúm Tây Ban Nhan vẫn tiếp tục tàn phá thế giới. Nó bùng phát trở lại tại Mỹ trong một làn sóng thậm chí còn tồi tệ hơn trước, khi những người lính trở về quê hương sau cuộc chiến và cuối cùng đã lây nhiễm cho khoảng 28% dân số Mỹ trước khi dịch bệnh suy yếu. Trong số báo ra ngày 28/12/1918, Hiệp hội Y khoa Mỹ đã thừa nhận sự kết thúc của một cuộc xung đột quan trọng và kêu gọi mọi người chấp nhận một thách thức mới: chống lại bệnh truyền nhiễm.

5 thg 3, 2021

Cái cối xay dưới đồng bằng - (Y Uyên 1968 )



Cái cối xay dưới đồng bằng


"Cha mầy vẫn chưa về sao?"

Má anh Kiều Con hỏi:

"Chưa má".

 

Hà ngồi thẳng lưng thở một hơi dài. Tay Hà múc từng lon nước đổ đều lên lớp gạo trong lòng cối. Bà già lẩm bẩm điều gì không rõ. Tiếng cối đá xoay tròn rít rít quen tai. Bà đứng doãi chân ở cuối tay cối, hay tay bấu chặt cái then ngang, đẩy lên kéo xuống lầm lì. Hà loay hoay trên cái đầu kê sát cối, chốc chốc lại quay ra sau nhìn bà già. Hai mắt bà khép kín, khuôn mặt nom phẳng lặng. "Để tôi xay, coi má muốn mệt rồi".

"Ngồi đó còn trông bếp, còn ra vô lo chuyện này chuyện khác. Mới xay làm sao mệt".

Má anh Kiều Con nếu đều đặn.

"Tôi muốn nói với má cho tôi đi thăm anh Hai một chuyến".

"Chờ cha mày về hỏi ổng coi".

 

Hà yên lặng gạt lớp gạo trồi viền quanh cối vào giữa. Bột nhão chảy đều quanh thớt cối dưới. Hai bàn tay Hà ẩm, trắng. Người Hà như cũng nặn bằng bột với trái tim dư máu nhiều lúc đè nặng ngực đột ngột. Chiếc cối đá xoay đều đều sao không nghiền được Hà thành nước. Tiếng rít rít như tiếng động trong nhà, của riêng hai má con. Anh Kiều Con nghĩ sao mà nói đá làm bạn được với người? "Chờ cha mày về…" Ông già quyền thiệt. Chuyện gì cũng cần tới ông. Hai mươi mấy năm ông vắng mặt ở nhà này, quyền hành của ông vẫn không giảm sút.

"Ổng có về, cũng nhờ má nói giúp".

"Mày đi e thiếu người làm".

"Mười một tháng Chín ta đi bầu mà cho đông…" Ngoài đường làng một chiếc xe thông tin cổ động bầu cử chạy dập dình. Cùng với tiếng hát trong máy phóng thanh có tiếng trống thì thùng, xe dừng ở chỗ lò gạch để một giọng nữ lên tiếng hô hào… Chiếc cối xoay đều, Hà lại nghĩ về người con gái bằng bột có trái tim dư máu đè nặng ngực đột ngột. Những lần Hà đứng doãi chân hăm hở xay bột, nhiều lúc xây xẩm mặt mũi Hà tưởng mình đang vồ vập khối đá trước mặt. Đá mà làm bạn được với người. Anh Kiều Con nghĩ sao mà nói đá là bạn với người? Anh cũng có lúc khó hiểu như ông già. Ông già quyền thiệt. Từ ngày ông về nhà tới giờ Hà vẫn chưa quen được ông. Sự có mặt của ông như chỉ giúp cho má anh Kiều Con mỗi cuối tháng khỏi phải lên trụ sở xã trình diện hoặc về mùa mưa khỏi đi canh cầu và có chuyện để lẩm bẩm trong miệng những lúc xay bột. Lòng tội nghiệp lúc mới nghe tin ông về không còn. Nói sao cho ông chịu nghe? Nói sao cho ông chịu thương người con trai ông chưa một lần gặp mặt? Lại mang thư của anh Kiều Con ra đọc như mọi lần? Anh Kiều Con hiền…[1]

 

… đại bác của anh, phải coi ông già như một người vắng hẳn tuổi thơ, vắng hẳn tuổi trưởng thành. 

Bữa cơm dọn ra giữa những người uể oải. Ông già vừa ăn vừa gãi, máu nhỏ ròng trên cánh tay. Má anh Kiều Con hít hít đánh hơi, bỏ bát đũa quờ lấy tay chồng. Ông già nói thật mạnh: "Bỏ ra!". Má anh Kiều Con như không nghe, hai bàn tay vẫn chờn vờn trên mâm cơm toan nắm lại cánh tay ông già. Ông thu tay lại, nhấp nhỏm cố dằn cơn ngứa. Bà già la:

"Tay gì mà máu những máu vậy na?"

"Ngứa gãi hoài hoài thì máu ra có gì mà la như cháy nhà vậy".

 

Giọng ông già bực bội. Bà già đưa tay lên ngửi, lẩm bẩm rồi cầm đũa bát lên ăn. Ông già bỏ ra ngoài giếng nước, vừa đi vừa gãi. Hà bảo bà già:

"Máu độc không hà. Hết gãi máu hết ra liền có chỉ mà má hãi".

 

Hà gắng dàn xếp, mong thầm bà đừng làm ông bực mình thêm. Nội tối nay phải tạo nhịp gần ông, nói nhiều với ông, câu chuyện mới dễ đưa đẩy. Hà lau những vệt máu quanh chỗ ông già ngồi, đặt lại đôi đũa của ông ngay ngắn bên thành mâm. Ông già trở vào lầm lì nhai cơm. Những câu hỏi của vợ không được ông đáp. Được hai chén ông đứng dậy ra ngoài hiên ngồi trên chõng vấn thuốc lá, người có vẻ bồn chồn. Những mụn ngứa đã thành mề đay khó trị.

 

Mỗi lúc nhớ tới cơ thể chân tay lại không yên, muốn cắn chặt môi mà cho cào cấu. Câu chuyện tổ tiên dắt dao đeo gùi chống gậy vô núi kiếm trầm, kiếm kỳ nam lúc về hóa cọp như có điều gần gũi. Bóng cọp ngồi chầu suốt đêm bên kia khe nước gà gáy cào cấu da thịt vừa bò vừa dựng hai chân khom người chạy vô núi đâu chỉ là một nỗi khổ không di truyền. Sau những năm tháng không hoàn thành mình như mẫu người dự muốn, không trở về được hình dạng cũ nữa thì sao. Có còn cánh đồng nào thấp hơn đồng bằng này một bực? Bữa cơm đã xong. Bà già kiếm guốc rửa chân, mang bông trái lần theo những bực đá xuống ngôi chùa dưới cánh đồng sau nhà. Hà rửa bát đũa rồi ra hàng rào ngoài đuổi đàn chim sẻ sà xuống mổ những phên bánh tráng. Bầu trời dịu màu. Hà ngồi xuống bờ đá nhìn ra phía lò gạch hai tay vuốt ngực. Hơi thở lại đầy lại nặng. Hà thở từng hơi dài. Trăng chưa lên nhưng bầu trời sáng xanh. Hà lại muốn ưỡn người vùng vẫy, muốn bật miệng rên. Hàng tre lả ngọn bên kia lò gạch, phía sau mất hẳn nền núi thường màu đá xanh. Tảng đá có bài thơ của nhà vua Nam tiến không còn dấu tích.

 

Những con chim sẻ nhào xuống vội vã mổ những tấm bánh tráng phơi trên mặt phên dựng ngoài hàng rào. Nắng tắt, tiếng bánh khô tách dần khỏi mặt phên vẫn lắc rắc đều đều mọi chỗ. Hà vỗ mạnh tay xua đàn chim, mồm kêu "ui da, ui da". Lò gạch vẫn còn khói trắng đùn lên cao. Một người thợ quần áo đen trèo thang lên miệng lò, khom lưng luẩn quẩn trong lớp khói. Một chiếc xe ngựa chạy muộn dừng lại trước một cái quán bên kia lò gạch. Một đứa bé gái đầu lắc lư cái mũ vải cong vành màu xanh đậm tò mò nhìn vào nhà Hà. Hà vỗ tay thành nhịp đều, "ui da, ui da". Những con chim vẫn lấp ló trên mái tranh, phía ngoài bờ rào. Con ngựa tiểu trên mặt đường, nước bắn như bụi. Trong quán, có hai người lật đật bước ra chiếc xe dập dình, cái mũ xanh của con bé lắc lư rồi chiếc xe chạy. Hà xếp những tấm phên thành từng chồng ôm vào nhà. Tối nay nếu má anh Kiều Con về sớm, chắc phải thắp đèn xay hai chục ký gạo để có bánh kịp ngày kỵ của nhà họ Đặng. Hà đứng dậy, nhìn trời kêu bâng quơ:

"Lại có rồi đó".

 

Ở trong nhà, ông già nằm chèo khoeo trên chõng, mặt nghiêng ra sân. Hà tần ngần trông theo trái sáng le lói đung đưa trên nền trời chưa tối phía thôn Lâm. Một cái dù trái sáng lúc này bán cả hai trăm đồng bạc. Đêm qua, cả nhà cùng thức vớt được một chiếc rơi xuống ngoài khe. Hà ôm từng xấp phên bánh vào nhà chốc chốc lại kêu "Lại có rồi đó". Ngoài lò gạch khói loãng dần trên miệng lò. Những người làm ở đó đã về. Chiếc xe thông tin đã quay lại một lần nữa. Máy xe nổ tuôn khói mù mù. Giọng người con gái vội vã lập lại. "Dậy sớm thu xếp cửa nhà. Mười một tháng Chín thời ta đi bầu". Tiếng trống khua rộng cùng chiếc xe rồ máy chạy. Ông già gọi Hà lấy một cái chậu nhôm đã móp để sẵn ngoài hiên để rạng sáng khua theo lệnh ấp. Hà nhìn ông già, ngập ngừng rồi lại quay vào nhà thắp đèn. "Nội tối nay phải nói cho xong". Căn nhà rạng sáng theo ngọn đèn được vặn cao lần lần. Người con gái màu xanh ôm bó lúa trong tranh nghiêm mặt. Những bông lúa xác xơ. Hà ngắt một hạt cắn cho đỡ buồn miệng, bước ra sân.

"Tối nay có xay bột sửa soạn đi. Để tao xuống chùa hối má mày về".

 

Ông già nhỏm dậy khỏi chõng, kéo ống quần xuống, quơ guốc vào nhà. Hà ngạc nhiên nhìn theo. Có bao giờ ông săn sóc ai đâu. Hà nói:

"Tối nay xay bột tráng bánh cho nhà họ Đặng".

"Ờ, thì sửa soạn đi. Họ Đặng lo kỵ bao giờ cũng lớn".

"Tráng hai chục ký bánh".

"Ờ, sửa soạn đi. Sớm mai còn đi bầu cử… làm gấp mới kịp".

Giọng ông già như giọng một người biết lo chuyện nhà. Hà quay vào ôn tồn:

"Có đèn bấm trên bàn thờ cha nhớ mang đi. Bực đá thứ tư có chỗ lở…"

"Từ ngày về nhà tới giờ mới gặp thầy dưới đó một lần. Bữa nay xuống thăm thầy một thể".

 

Ông già thay quần áo, lại bàn rót nước uống, giọng kể lể:

"Thầy dưới đó hồi chưa tu hành nổi tiếng gan dạ không ai sánh kịp. Trước kia mấy thôn Lâm, thôn Ngọc Hoài đâu có thuộc xã mình. Nhờ thầy mà có đó. Hồi đó từ trên núi Ông có một xác người chết đã thúi rữa trôi về. Tới thôn Lâm thì dạt vô bờ. Người xã bên đó không ai dám lại gần. Xã bên này cũng hãi, có một mình thầy dám lội qua sông mang xác chết về chôn ở Gò Hồ. Quan huyện hồi đó là ông Ngô Cứ thấy vậy gọi thầy lên khen, rồi cho nhập vùng đất thôn Lâm, Ngọc Hoài về xã bên này để thưởng công cho cả xã. Sau này có nhiều vùng được thêm dất cũng vì biết thương kẻ xấu số. Vớt được xác chết ở đâu là đất mình ở đó.

"Truyện hồi đó giờ không nghe ai nói".

"Ờ, thầy đã tu hành rồi, còn nhắc lại làm chi".

 

Hà muốn nói thêm để giữ ông già lại nhưng ông đã lấy đèn bấm đi ra ngoài. Hà lại đầu nhà nằm xuống tấm võng hai đầu treo cao. Người Hà gần như dựng đứng. Thầy thuốc đã dạy treo võng cách đó nằm cho đỡ nặng ngực. Chân Hà đưa đẩy trên nền xi măng thấy mát. Phút nghỉ ngơi tạm bợ mang ít nhiều thảnh thơi. Câu chuyên vừa rồi nghe như cổ tích. Hà nhăn mặt vuốt ngực dưới người vì một cơn đau bất chợt, mồm kêu "ui da, ui da". Cơn đau thoảng qua. Hà cười một mình. Tiếng "ui da" nghe như của Hà hồi nhỏ.

 

Lúc ông già, bà già về, trăng vẫn chưa lên. Hà đã bắt đầu xay bột. Bà già từ trong nhà ra mắt nhắm nghiền, tay cầm cây đèn ánh sáng chao chao. Bóng Hà xô lên xô xuống, lúc xa lúc gần cối đá, vồ vập. Ông già lẩn quẩn bên hai người, vẫn với vẻ săn sóc khó hiểu. Khi ông đã ôm mùng ra mắc ngoài chõng, Hà nghe tiếng ông trở mình luôn. Trăng hạ tuần lên chênh chếch phía ngoài lò gạch, hai người nghỉ tay. Hà lại gần chõng nhìn vào, thấy phía trong trống trơn. Ông vừa ở trong nói vọng ra dông dài chuyện bầu cử, giờ đã đâu mất. Hà thở dài, chợt nhớ ra. Ông sợ ngày mai bầu cử, đêm nay có những chuyện không hay xảy ra.

 

Chắc ông lại ngủ nhờ nhà một người quen nào hoặc chui vào một bụi rậm, chờ gà gáy lần về ngủ yên trong mùng như hồi trước kia.

 

Hà đóng cửa, nằm ngủ, thấy hơi thở lại nặng nhưng không dám xuống võng nằm sợ bà già lại mất công gọi lên giường. Về sáng Hà chợt thức giấc thấy lạnh. Ngoài nhà như có tiếng mưa rào rào, Hà loay hoay không ru được đầu óc ấm áp như lúc bắt đầu nằm để ngủ lại. Tiếng gió nghe thiệt dữ, như bão. Hà nhỏm dậy xuống giường. Qua khe cửa, ngoài sân trăng thiệt sáng. Hà ra hiên thấy ông già đã về. Chiếc mùng gió bạt vào tường. Ông già nằm co, bụng chặn mền, hai cánh tay có những đường máu đọng. Gió nam từ ngọn núi trước lò gạch ào ào thổi. Những thân dừa ngoài gò đất lá đập dồn dập như mưa. Sau nhà, ngoài khe nước, đâu đâu cũng dậy tiến động mưa xối nước đó.

"Sáng rồi còn gì".

 

Tiếng ông già nói tỉnh táo. Sau lò gạch, mơ hồ những tiếng gà gáy tạt gió. Hà ngồi bệt xuống bực cửa, không ngờ giấc ngủ đã dài thế.

"Kêu má mày dậy vừa rồi".

"Để ngủ thêm chút nữa. Tôi lo sửa soạn trước".

Hà ra giếng sau nhà với cần kín nước, bưng gạo ra cối, tra lại cái cần xay. Tiếng trống mõ bắt đầu nổi lên từ trụ sở ấp vọng về. Trong chốc lát khắp nơi đều vang tiếng đập, gõ. Tiếng ông già gọi Hà vào hiên. Ông đang vấn một điếu thuốc.

"Hồi hôm định nói với má mày để tao đi thăm thằng Hai, một chuyến mà e má mày lại kêu tốn tiền". 

Hà đứng bên cái chậu nhôm đã móp. Giọng ông già như giọng nói chơi. Mặt trăng lên cao vàng đậm. Hà lại thấy ngực nặng, muốn ưỡn người vùng vẫy. Ông già nói chơi thiệt. Nhưng rồi ông sẽ đi. Ông nào biết anh Kiều Con ra sao mà nói nhớ. Ông muốn mượn cớ để đi mà thôi. Đối với ông, anh Kiều Con có khi chỉ là một người con trai như bất cứ người con trai nào khác.

"Sáng thật rồi còn gì".

 

Ông không tìm đến người con trai đó đâu. Ông muốn mượn cớ. Ông muốn đi để kiếm một cánh đồng bằng nào khác đó thôi.

"Bả không kêu đâu. Bả nhớ anh Hai nhiều đến không ngủ".

Ông nhìn Hà rồi bập bập từng hơi thuốc. Ông cứ đi đi, đi hoài tới bao giờ ông kiếm được một vùng đất thấp hơn những nơi ông đã đặt chân, ông đã hình dung từ trước tới giờ. Hà nhường ông mà không oán trách. Hà còn có những ngày chờ anh Kiều Con về.

"Để sáng tôi nói với má".

 

Hà cúi xuống cầm cái chậu tôn ra gần khe nước. Trăng cuối mà sáng tỏ như ban ngày. Hà cúi xuống cầm một thanh tre gõ vào thành chậu. Giờ đây Hà mong anh Kiều Con về lắm. Những lúc về sáng anh vẫn ưa gọi Hà dậy nói chuyện về đứa con sau này. Hà mong anh về như không lẽ bắt chước giọng người con gái trong vắt của một đài phát thanh bí mật trên núi trên rừng, ngày đêm đơn chiếc gọi xuống đồng bằng, kêu giết thiệt nhiều? Hà không kêu được thế. Hà chỉ muốn anh mau về. Muốn anh đừng để chiếc cối đá ăn ở với Hà. Đừng để Hà hoài hoài treo võng dựng đứng, chặn ngực, mơ cõng một đứa con của đá cắm đầu chạy vào ngọn núi có vua Nam tiến đề thơ.






CHUYỆN "ĐIÊN NẶNG" Ở TEXAS: VÌ ĐÂU NÊN NỖI?

 Nguyễn Văn Hoa

Sau ngày 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, tôi khấp khởi mừng thầm vì năm Canh Tý – năm tuổi của tôi – sắp hết mà chưa có điều gì xui xẻo lớn xảy đến. Không dè đến đêm 27 và 28 tháng Chạp, trời Austin (Texas) trở mưa lớn, và nhiệt độ tụt xuống đến 20° Fahrenheit (khoảng ­7° Celsius); và sáng hôm sau, 29 tháng Chạp, khoảng 11 giờ sáng nhà tôi bị cúp điện. Điện nhà tôi do thành phố Austin cung cấp dưới cái tên nghe rất kêu là “Austin Energy”. Nghĩ trong đầu là không bao lâu sẽ có điện trở lại, vợ chồng tôi hồn nhiên ăn cơm trưa dưới ánh nến (mua dùng cúng Tết), và rồi kiên nhẫn ăn tối và bực bội cúng giao thừa cũng dưới ánh nến. Đồng thời, chúng tôi lạnh cóng vì không có điện thì máy sưởi dùng động cơ điện thổi hơi ấm ra ngoài không chạy, đành phải mở lò gas nấu ăn lên để giữ ấm một phần nào. Bước sang năm Tân Sửu lạnh lẽo trong bóng tối, không có máy sưởi ấm, không có Internet, không ti-vi tin tức, và cạn pin điện thoại di động, chúng tôi vào giường buổi tối với hai ba lớp quần áo dày cộm.

Theo lời khuyên của thành phố, để giữ ống nước khỏi đóng băng, chúng tôi để tất cả các vòi nước trong nhà nhỏ giọt suốt ngày đêm. Mấy ngày đầu năm mới, trời Austin lạnh kinh hồn, hai đêm liền nhiệt độ tụt xuống đến 5 và 6°F (khoảng ­15°C), và tuyết rơi liên miên chồng chất đến 10-12 inch (khoảng 0.3 m), phủ lấp mái nhà và đường đi. Ở Austin, hai điều kiện thời tiết hà khắc này chưa bao giờ xảy ra cùng một lúc. Trong mấy ngày kế tiếp, nhiệt độ nằm lì dưới nhiệt độ đóng băng 32°F, chúng tôi bị “cầm tù” vì đường sá đầy tuyết và nước đá, không đi lại được, và chỉ có cách “tử thủ” và tìm cách sống còn trong nhà mình. Nhờ để nước nhỏ giọt, ống nước lạnh từ ống nước chính của thành phố vào nhà không bị đóng băng, nhưng nhiệt độ quá thấp khiến cho ống nước nóng chạy trong tường từ lò đun nước vào nhà kém may mắn hơn, bị đóng băng (và vỡ nứt vì nước đóng băng thì tăng thể tích); vậy là chúng tôi mất nước nóng.

                    Austin, thủ phủ của Texas, trong những ngày băng giá

Houston – Ngày Valentine trên xa lộ

Dallas – Quạt trần đóng băng

Houston – một vườn chơi dành cho trẻ em chỉ còn là băng tuyết

Sau hơn một tuần mất điện, chúng tôi có điện lại tối mồng 7 Tết. Trước đó hai ngày, lúc trời ấm lại bình thường, ống nước nóng rã băng và phun nước ào ào từ trong tường ra ngoài, và chúng tôi phải gọi người khóa nước từ ống dẫn chính của thành phố và như thế hoàn toàn mất… nước.

Hôm nay, ngày mồng 10 Tết, chúng tôi đang chờ thợ ống nước tới sửa. Từ năm cũ đến nay, vì lúc đầu thiếu ánh sáng và sau đó thì mất nước, hàng ngày chúng tôi nấu nước nóng và dùng khăn mặt lau người; đó là phương pháp “tắm khô” tôi từng dùng thời còn trẻ bỏ nhà đi bụi đời. Vẫn cố gắng nấu ăn (vì không thể ra ngoài) nhưng khi rửa chén và nồi niêu soong chảo phải dùng phương pháp rửa tô của các bà bán bún bò gánh ngày xưa ở Huế: chỉ một thau nước nhỏ và cái khăn lau mà các bà “rửa” hết tô này sang tô khác suốt ngày. Ngày nay, chúng tôi “tiến bộ” hơn vì có các cuộn paper towel rất tốt và dễ dùng. Và phương pháp cổ điển này sẽ còn được dùng ít nhất là ba, bốn ngày nữa.

Thực ra, trong tuần lễ “mất điện” đó, điện có trở lại vài ba lần, nhưng lần nào cũng chập chờn khoảng 10 hay 15 phút rồi biến mất. Lần điện tái xuất giang hồ lâu nhất là khoảng nửa tiếng đồng hồ trước nửa đêm mồng 4 Tết. Sau đó, tôi nghe tin tức nói ERCOT (Electric Reliability Council of Texas) lúc đó đã ra lệnh cho Austin Energy và các công ty điện lực ở Texas cúp điện luân phiên. ERCOT là cơ quan điều hành hệ thống điện và chỉ huy các công ty điện lực trong tiểu bang.

Cúp điện luân phiên là một cách giải quyết vấn đề thiếu điện; công ty điện lực chia vùng phục vụ thành từng khu, cho mỗi khu có điện 45 phút rồi cúp đi, và đóng điện cung cấp cho khu khác. Không may cuộc cúp điện luân phiên thất bại ê chề và khiến cho hơn 40 phần trăm khách hàng toàn tiểu bang bị mất điện tuốt luốt. ERCOT cho biết, lúc đó nếu không ngưng kịp thời, chỉ trong vòng vài phút hay vài giây là tai ương xảy đến: toàn thể hệ thống điện Texas sẽ sụp đổ hoàn toàn, và sẽ cần vài tháng mới có thể phục hồi. Về mặt kỹ thuật, các viên chức có trách nhiệm trong việc quyết định và thi hành công tác cúp điện luân phiên này xứng đáng được thưởng huy chương vàng về… bất tài.

Houston – một vòi phun nước đã bị đóng băng
Làm sao để rửa xe đây
Dallas – Trong toilet

Quả trứng cũng bị đóng băng!

Thậm chí vòi nước cũng đóng băng
Cảnh có một không hai – cây xương rồng vốn chỉ quen với sa mạc nay cũng đắm mình trong tuyết
Một cách dọn tuyết đầy sáng tạo
Người ta trượt tuyết ngay trên đường phố

Vì đâu nên nỗi?

Khi biết những khổ ải chúng tôi trải qua trong tuần lễ cúp điện vừa qua, một người bạn trẻ ở California đã đặt câu hỏi, “Tại sao dân Texas phải gánh chịu những ngày ‘thảm thương’ như thế. Lỗi tại ai hay lỗi tại… Trời?”. Là một kỹ sư điện hồi hưu, chúng tôi đã từng làm việc gần 40 năm trong ngành điện lực Hoa Kỳ, trong đó khoảng 13 năm là hội viên của Reliability Assessment Subcommittee (RAS) là tiểu ban có nhiệm vụ nghiên cứu, giám định, tiên liệu, và tìm cách ngăn ngừa những vụ cúp điện rộng lớn ở Bắc Mỹ. RAS là một ủy ban thuộc North American Electric Reliability Council (NERC), NERC là cơ quan tầm Bắc Mỹ chỉ huy và bao gồm các cơ quan như ERCOT. Dưới đây, chúng tôi xin ghi lại một số cảm nghĩ về vấn đề này, vừa để trả lời bạn vừa để giải thích với chính mình.

Lỗi tại… Trời

Dĩ nhiên đổ lỗi cho ông Trời, hay “khoa học” hơn là đổ thừa cho hiện tượng “biến đổi khí hậu,” là cách giải thích dễ dàng và an toàn nhất. Mưa lạnh và tuyết rơi cộng thêm nhiệt độ cực kỳ (nói một cách tương đối) lạnh giá lúc đầu khiến cho các đường dây tải điện đến khách hàng bị đứt, khách hàng mất điện. Đồng thời, thời tiết giá lạnh làm cho các cơ quan điện lực thiếu khả năng cung cấp điện (thiếu điện), càng làm cho việc phục hồi điện cho khách hàng khó khăn và trì trệ.

Nước mưa và tuyết tan thành nước đọng trên dây truyền điện, gặp lạnh đông thành đá, và khiến cho dây nặng quá sức, bị đứt ra rơi xuống, và không thể tải điện từ nhà máy đến người tiêu thụ. Texas lại có rất nhiều cây cối; nước đọng trên lá và cành cây khiến cành cây trĩu nặng, gãy lìa ra khỏi thân cây, và hoặc là rơi đè lên nối tắt hoặc là kéo đứt các dây phân phối dẫn điện vào nhà khách hàng. Tóm lại, dây điện đứt là do thời tiết ông Trời gây ra, người đành ngậm đắng nuốt cay mà khó có thể làm gì được.

Nhưng tại sao thiếu điện? Trong một số năm gần đây, do chính sách của chính phủ và khuynh hướng của quần chúng cổ võ việc bảo vệ môi sinh và ngăn ngừa hiện tượng sưởi ấm toàn cầu, Texas cũng như nhiều tiểu bang khác đã thiết trí nhiều nhà máy phát điện dùng năng lượng gió cũng như khai thác triệt để năng lượng mặt trời. Cả hai loại “nhiên liệu” tái tạo này có sẵn trong thiên nhiên, người ta chỉ tốn tiền xây nhà máy và dụng cụ, sau đó líu lo dùng miễn phí. Austin Energy lôi cuốn khách hàng tư gia thiết trí các tấm pin quang điện trên mái nhà để giảm bớt nhu cầu dùng điện, và do đó giảm nhu cầu xây cất nhà máy phát điện, bằng cách tặng tiền mặt (gọi là “rebate”) cho khách hàng giảm bớt chi phí. Thí dụ, các tấm pin quang điện giá 25.000$, Austin Energy có thể tặng cho khách hàng 10.000$ tiền mặt. Khách hàng còn có thể được miễn thuế lợi tức một phần (40 phần trăm chẳng hạn) của chi phí 15.000$ còn lại. Từ các chính trị gia đến công ty điện lực, công ty sản xuất nguồn điện tái tạo, và khách hàng, ai nấy đều thơ thới hân hoan, cố tình quên rằng sẽ có một lúc nào đó gió không thổi và mặt trời không hiện ra, lấy điện đâu ra để khách hàng dùng và có được những tiện nghi của đời sống văn minh?

“Lúc nào đó” đã xảy ra. Trời mưa lạnh và tuyết rơi tan thành nước và đông đá trên cánh quạt của các trụ phát điện dùng năng lượng gió, bão tuyết dữ với gió thổi mạnh có thể bẻ gãy các cánh quạt này, và các trụ phát điện phải ngưng hoạt động. Năng lượng gió trở thành vô dụng. Tuyết và mây mù che khuất mặt trời, dân Texas đành hôn chia tay với năng lượng mặt trời; nhu cầu dùng điện tưởng là đã giảm nay lại càng gia tăng hơn vì trời lạnh giá và thiếu ánh sáng mặt trời. Ôi thôi, thế là anh em ta cùng nhau hô lên là thiếu điện.

Lỗi tại… người

Theo ý kiến thô thiển của chúng tôi, đổ lỗi “thiếu điện” cho ông Trời thì quả là lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Nhà nghiên cứu kế hoạch điện lực luôn luôn tâm niệm công ty điện lực có “nghĩa vụ phụng sự” (obligation to serve) khách hàng trong mọi trường hợp. Ở một cửa hàng bách hóa, nếu khách hàng đến mua một đôi giày mà cửa hàng không có, khách phải ra về hay tìm mua ở cửa hàng khác. Công ty điện lực không thể làm như thế, bất cứ lúc nào khách hàng bật đèn lên hay cắm một dụng cụ vào ổ điện, khách mong đợi đèn đỏ lên hay dụng cụ hoạt động ngay lập tức.

Để thực hiện sứ mạng của mình, công ty điện lực phân biệt hai loại khả năng của hệ thống phát điện: Một là “năng lượng” (energy) tương tự lượng kilowatt-giờ công ty điện lực đọc đồng hồ điện tính tiền khách hàng tư gia. Hai là “khả năng cung cấp điện” (capability) là công suất điện có thể cung cấp bất cứ lúc nào khách hàng cần tới. Trước đây, khả năng “được công nhận” (accredited) của các nguồn điện dùng năng lượng tái tạo bị quy là rất thấp. Thí dụ, căn cứ theo thống kê về hoạt động thực sự của nhà máy phát điện dùng gió, người ta chỉ công nhận khả năng của chúng khoảng 6-10 phần trăm, và các nguồn điện mặt trời khoảng 3-5 phần trăm. Ngoài ra, NERC và các cơ quan như ERCOT còn đòi hỏi mỗi công ty điện lực phải có đủ khả năng cung cấp điện cho khách hàng ở thời điểm dùng điện cao nhất trong năm, cộng thêm “số dư dự trữ” (reserve margin) thường là 15-18 phần trăm nhu cầu tối đa của khách hàng. Như thế, dù “có chuyện gì xảy ra,” công ty điện lực vẫn đủ khả năng đối phó với tình thế bất trắc.

Trong những năm gần đây, do chính sách của chính phủ, các yếu tố kinh tế, và tâm lý quần chúng, nguồn điện dùng năng lượng tái tạo trở thành những mặt hàng quý giá. Khả năng được công nhận của nhà máy gió được nâng lên đến 60-80 phần trăm, năng lượng mặt trời đến 30-50 phần trăm. Song song với sự “sáng tạo” ra khả năng cung cấp điện giả tưởng, người ta không còn đòi hỏi công ty điện lực có thêm số dư dự trữ, với lý do các hệ thống điện nối liền với nhau và có thể giúp đỡ lẫn nhau khi cần. Họ vờ quên mất rằng khi thời tiết khắc nghiệt xảy đến trong một diện tích rộng lớn như cơn bão lạnh Texas vừa qua, công ty nào cũng bị ảnh hưởng, cũng bị thiếu điện, và không thể trợ giúp công ty khác. Không còn tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn (chứa lúa để ngừa đói, để dành áo phòng khi lạnh) như cái thuở không mấy xa xưa ấy.

Xem ra, lý do khiến Texas thiếu điện và nạn cúp điện kéo dài hơn mười ngày là lỗi tại… người. “Người” ở đây trước hết có thể hiểu là các chính trị gia hay các nhà quản trị điện lực ở cấp cao nhất; từ năm, mười, hay mười lăm năm nay, họ đã dần dần tạo nên những chính sách và đường lối đưa lại hậu quả chẳng đặng đừng. Khách hàng mất điện cũng có thể trách cứ các kỹ sư điều hành hệ thống điện, họ thiếu khả năng tìm ra bột để khuấy thành hồ. Nhưng trong một quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ, trách nhiệm tối hậu là của người dân. Người dân đã bỏ phiếu bầu người lãnh đạo, đặt viên chức có thẩm quyền vào những chức vụ quyết định, và chấp thuận chính sách đề ra. Đó là chưa kể bao nhiêu dân chúng đã có cơ hội hưởng lợi lộc do chính sách đó phát sinh.

Tôi đã thấy rõ và tiên liệu những gì sẽ xảy đến, và dĩ nhiên không đồng ý với những chủ trương “cấp tiến” đó. Nhưng tôi thuộc phe thiểu số. Đành chịu vậy thôi!

 Ngày 21 tháng Hai, 2021

* Bài nầy viết về Điện ở  Houston Texas trong cơn bão tuyết vào cuối thàng/2021


4 thg 3, 2021

NGỠ NGÀNG - Thơ Đào Anh Dũng

 Ngỡ Ngàng

Xa em anh đếm lóng tay
Bao hôm xa cách, bấy ngày nhớ thêm
Tiền đồn heo hút sương đêm
Mong kỳ phép tới cho mềm môi em.
Nhớ ai ánh mắt buồn tênh
Tay ghì báng súng bấp bênh sóng lòng
Hỏa châu soi sáng Cỏ Đông*
Bao giờ ta được tình nồng bên nhau?
Thương em giọng nói ngọt ngào
Anh theo cơn gió lọt vào phòng ai
Ngất ngây tình ngấm men say
Tạch đùng tiếng súng bên tai ngỡ ngàng...
Thôi đành rủ giấc mộng vàng
Đạn bom khói lửa dở dang tình mình
Mong sao sớm dứt chiến chinh
Anh về tìm lại người tình trăm năm.
đào anh dũng
Tây Ninh 1969
*Sông Vàm Cỏ Đông

🌸🌸🌸🌸