3 thg 3, 2021

TỰ SOI- Thơ Chu Hà và Bài Họa Của Các Thi Hửu


TỰ SOI


Đời người mấy chốc gẫm mà coi,
Bỏ chuyện ngoài tai kiếm chỗ ngồi.
Vạn vật hữu hình nhưng giả tạm,
Một vòng không có diễn chơi thôi.
Trăm năm ngắn gọn trong gang tấc,
Một phút dài ơi tận cuối trời.
Thở hết hơi ra... cho nhẹ nhõm,
Hít vào... chầm chậm... thế là soi...

Chu Hà

 
Họa :TỰ SOI

Gương vỡ,đèn khuya mảnh vụn coi
Hình không rõ bóng,lặng thinh ngồi
Tùy nghi với cảnh,dung hòa vậy
Thuận biến theo dòng,khế hợp thôi
Thực tại chênh vênh cùng ý nghĩ
Hoang mơ lãng đãng với mây trời
Thời gian gió bụi mờ nhân ảnh
Mộng đuối đêm dài trở giấc soi…

Lý Đức Quỳnh
28/2/2021



HỌA: TỰ TRÁCH


Cuộc sống con người hãy gẫm coi,
Lu bu bận bịu chẳng an ngồi.
Nốc cà phê sửa chê ..sao đắng
Uống cụm rượu nồng nhạt chán thôi.
Nghĩa bạn tình duyên tâm bất ổn,
Thâm ân bằng hữu trách do trời.
Hãy đem kính định nhìn tâm thấu,
Chớ luận đời nên tự kết soi.

HỒ NGUYỄN (02-03-2021)


 Họa :NGẪM NGHĨ


Ngẫm nghĩ thân mình để tự coi
Thân tâm trong sáng biết an ngồi
Miếng ăn tiếng nói theo ngôn hạnh
Buông bỏ tham lam dễ được thôi
Tự biết kềm lòng phương lục dục
Tu thân dưỡng tánh cảm lòng trời
Trai kỳ hành đúng theo tôn chỉ
Phật dạy vô thường để tự soi

Yên Hà
Atlanta, 2/3/2021


Họa :Tự soi hàng ngày

Tự gẫm lại mình năm tháng coi 
An bình kiếm một chỗ ta ngồi 
Nhân gian đặt chuyện vui đùa chút 
Tạo hóa bày trò dỡn hớt thôi 
Còn nhớ người xưa mơ hóa bướm ( Trang tử )
Lại thấy thời nay chọc giận trời 
Tham thiền nhập định , thân trôi nổi
Biết thở ra vào ...biết tự soi ...

Chung Văn
March 2-2021

 Họa :NGẪM SOI
  
 Thời tiết chuyển mùa đáng để coi
    Kề bên khóm trúc tĩnh tâm ngồi
Rừng cây bừng sống yên bình quá
Vạn vật hài hoà khởi sắc thôi
    Đâu biết bờ đông tràn ngập tuyết
    Ai ngờ bên ấy xé màng trời
Lặng nghe chiếc lá thì thầm bảo
Một kiếp phù du tự ngẫm soi

Vĩnh Thảo HL
Ottawa Feb.03.2021

 Họa :TỰ BIẾT LẤY MÌNH


Mỗi người cần tự lấy mình coi
Biết đứng xem ra phải biết ngồi
Bên bạn ngẫm mình tìm kiểm đã
Trên đường dò ý đến hay thôi
Biết thân tồn tại là nhờ đất
Giữ thế lung linh để ngắm trời
Đo đắn cho lòng tươi máu đỏ
Dìm tay vào suối nước liền soi.

Trần Như Tùng



Nguyễn Đức Sơn - Lão quái dị trên đồi Phương Bối

 Nguyễn Đức Sơn - Lão quái dị trên đồi Phương Bối




     

Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi

Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ

Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi

Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô             

Chân rục rã tôi đi luồn ra núi

Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô.

    (Một mình đi luồn vô luồn ra trong núi chơi)

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn được người đời phong hiệu là ba kỳ nhân trong làng văn nghệ Miền Nam trước năm 1975 cùng với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện. Cuộc đời của ông dị thường giống như những nhân vật quái dị trong kiếm hiệp Kim Dung. Họ quái dị không phải chỉ ở ngoại hình, động tác mà chủ yếu là ở cách sống và hành xử không giống ai, đi ngược lại lẽ thường của cuộc sống.

 Nếu như trong Tiếu ngạo giang hồ nhân vật Tiêu tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh, thân là chưởng môn phái Hành Sơn, nhưng luôn xuất hiện với bộ dạng một người ăn mày gầy gò đau khổ, chơi một cây dao cầm cũ kỹ và miệng luôn hát bài Tiêu tương dạ vũ, ông được xưng tụng là “cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm” (Trong đàn giấu kiếm, kiếm phát tiếng đàn), võ công lợi hại nơi chốn giang hồ. Nói như nhà văn Vũ Đức Sao Biển “Con người quái dị ấy thoạt ẩn thoạt hiện, mang phong cách của một đạo gia Lão Trang, ung dung tiêu sái giữa cuộc đời. Duy có tiếng đàn và điệu ca Tiêu Tương dạ vũ của tiên sinh luôn luôn trĩu nặng nỗi u buồn, chưa thoát khỏi vòng hệ luỵ của cuộc sống, như dòng nước có đi mà không bao giờ có lại. Mạc Đại là hình ảnh tiêu biểu của một thứ trích tiên bị đoạ”. (1)

 Cuộc đời nhà văn Nguyễn Đức Sơn cũng kỳ dị tương tự như vậy. Ông sinh năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận. Từng theo học Đại học Văn khoa Sài Gòn nhưng nửa chừng bỏ học, làm thơ sớm với bút hiệu Sao Trên Rừng, còn trẻ nhưng chớm hoài nghi và thắc mắc những câu hỏi siêu hình. Trước năm 1975 ông mưu sinh bằng nghề dạy kèm ngoại ngữ, ở trong chùa Tây Tạng, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Kết hôn với cô Nguyễn Thị Phượng, cháu của sư trụ trì chùa, Phượng là cháu mồ côi đẹp như Đầm Lai, nên bạn bè thường gọi là Phượng lai.

Sau năm 1975, ông thất nghiệp, không thể dạy kèm tiếng Anh vì không ai học, thời gian ấy tiếng Nga đang là mốt thời thượng, ngự trị tất cả các trường trung học, đại học, tôi nhớ hầu như các giáo sư dạy tiếng Anh và tiếng Pháp chính qui đều bị thất sủng, giảm biên chế hay chuyển sang các công việc khác, như làm văn phòng, thư viện thì thầy giáo dạy kèm tiếng Anh như ông thất nghiệp là việc đương nhiên. Sống lây lất mấy năm tại Bình Dương, đến năm 1979 ông dẫn cả nhà lên ngọn núi Phương Bối, Lâm Đồng, sinh sống. Thời ấy, sống trên dãy núi Đại Lào hẳn nhiên mưu sinh bằng nghề làm nương làm rẫy. Hãy tưởng tượng một người đàn ông ốm yếu với chiếc xe đạp cọc cạch, hàng ngày thồ đống củi gần 10 cây số đến chợ làng bán để nuôi đàn con nheo nhóc 9 đứa và một người vợ ốm yếu thì cuộc sống của ông cùng quẫn và nhếch nhác đến mức nào. Nhiều người, lên án ông đã để con mình thất học. Theo tôi, có lẽ vì một lý do nào đó nên một thầy giáo, một nhà thơ như ông lại chủ động không cho con mình đi học, không cho con mình bén máng đến chốn bụi trần, sống xa lánh tách biệt với xã hội, đi ngược lẽ thường của cuộc sống là một lý do chẳng đặng đừng, nhưng cái thế bắt buộc phải vậy. Từ đó, gia đình ông ăn chay trường, con ông hầu như đều tu tại gia, trong các am thất trên núi, giai đoạn đói khát một người con trai của ông hái trúng nấm độc, ăn và chết, gây cho ông một cú sốc.

 Dân trong vùng Đại Lào đồn thổi ông là người quái dị, ham đọc sách nhưng lại đối xử hà khắc, gia trưởng với vợ con, đêm về nghe tiếng ông hò hét vang xa khắp rừng thông. Tính ông ngông cuồng, nói chuyện chửi bới, văng tục một cách tự nhiên trước mọi người, không kể bất cứ ai, còn thích làm trò khỉ, banh mồm, nhăn răng, trợn mắt. Ông sống riêng một mình trong một tịnh thất nhỏ làm bằng gỗ, chưa có bất cứ người nào bước chân vào, vì ông đái chung quanh góc nhà nói là để diệt mối. Những chi tiết này, làm tôi nhớ đến những dị nhân sống trong các tịnh cốc kiếm hiệp Kim Dung. Thực hư cuộc đời của ông ra sao tôi không biết, nhưng với riêng tôi, người có tâm hồn nâng niu từng bước chân con đi, dõi theo từng bước con lật tập phải là người có tình cảm sâu lắng, tuy bên ngoài bao giờ ông cũng hành xử trái ngược với lòng mình, tâm hồn ông là một trời mâu thuẫn, hãy xem ông nhìn con tập lật:

 Nắm tay lật úp đi con

Co thân tròn trịa như hòn đá lăn

Muốn cho đời sống không cằn

Tập cho quen mất thăng bằng từ đây

(Nhìn con tập lật)

 

Xem cha đốt cỏ ngoài rừng

Nâng niu mẹ ẵm theo mừng không con

Có vài chiếc lá còn non

Gió xua lửa khói nổ giòn trên không

Nắng tà trãi xuống mênh mông

Bước theo chân mẹ cha bồng hư vô

(Đốt cỏ ngoài rừng)

 

Ngày xưa, trong bài Mai kia ông từng viết

 Mai kia tan biến hận thù

Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông

Cha về ôm cả biển sông

Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời

Cho con cha hứa một lời

Đuổi mây thiên cổ rong chơi tối ngày

Thu nào tóc bạc òa bay

Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già

Cúi hôn trời đất đậm đà

Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên

 Thời thế đổi thay, ông có biết rằng ngày sau, con ông sẽ nghĩ về ông như thế nào khi cho con hình hài và cuộc sống như vậy.

 Trong Mùa hạ, về Phương Bối, Hàm Anh viết:

(Phương Bối Am là một vùng đồi rộng ở Bảo Lộc từ Sài Gòn đi quốc lộ 20 lên Đà Lạt, qua cầu Đại Lào, bên tay trái, đi sâu vào xã Lộc Châu tới con dốc dẫn lên một vùng đồi rộng là Phương Bối Am. Thầy Nhất Hạnh đã xây một thiền thất giữa đồi thông mênh mông, thơ mộng ấy. Sau năm 1975, ngôi nhà bị sập, cả vùng đồi tan hoang, chỉ còn lại cái bể cạn lớn, khô nước, trơ bốn vách tường xi măng). Sơn đã đưa gia đình lên đó, che cái mái tranh, vách ván, cả nhà chui vào ở. Sơn, Phượng vợ Sơn cùng chín đứa con, bảy trai hai gái: Thạch, Vân, Thảo, Thủy, Không, Lão, Yên, Phương Bối, Tiểu Khê…” Những đứa trẻ lớn lên cũng hoang dại như núi rừng, không cách chi sinh sống được, nên tất cả đều lần lượt được gửi vào nương náu nơi cửa chùa. Ngoại trừ Thạch đã có cuộc sống riêng và cắt đứt liên hệ với gia đình, Thảo nằm kia từ lâu lắm, nấm mồ chơ vơ trên ngọn đồi yên ả mây bay. Vân từ chối cơ hội sang Pháp tu học, tạm quay về để gom tất cả bốn người em trai, nuôi ăn học lại dưới một mái nhà tại chân Phương Bối, trong đó Thủy đang theo học cao cấp Phật học tại Sài Gòn. Yên, Không, Lão rời chùa về nhà theo thế học”. (2)

Và Phượng, người đàn bà đẹp một thời, nay tiều tụy xanh xao vẫn một lòng lặng lẽ bên ông như một cái bóng, chấp nhận cùng ông đi suốt cuộc đời cơ cực.

 một ngày đau khổ chín trong tôi

tôi đến bên cây lẳng lặng ngồi

cây thả trái sầu trên nước lắng

mặt hồ tan vỡ ánh sao trôi

thôi nhé ngàn năm em đi qua

hồn tôi cô tịch bóng trăng tà

trời sinh ra để chiều hôm đó

tôi thấy mây rừng bay rất xa

(Tôi Thấy Mây Rừng)

 

Một đêm trăng mờ ảo

anh tìm về thăm em

phố buồn như hoang đảo

gió ngừng ru bên thềm

ánh đèn sao le lói

căn phòng sao đìu hiu

anh lặng người thầm hỏi

kiếp người sao tiêu điều

anh đi vòng sau nhà

một mình như bóng ma

giật mình anh nghe thấy

có tiếng gì bay xa

rồi đêm trăng mờ ảo

anh lại về thăm em

như lá vàng lảo đảo

anh lui về trong đêm

(Đêm Thu)

 Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn là bậc tiền bối, tôi là kẻ hậu sinh không cùng thế hệ, lại chưa đọc hết những sáng tác của ông, nên không dám bình luận, chỉ biết rằng ngày xưa ông được làng văn sắp xếp là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam cùng với Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên chắc chắn phải có được sự cảm phục của nhiều người trong văn giới, vì ngày ấy nếu không có thực tài thì không ai công nhận.

 Nhà văn Võ Phiến, đã có nhận xét độc đáo về Nguyễn Đức Sơn:

“Hầu hết những ai bắt đầu xun xoe vào làng văn đều muốn tỏ ra khác người, nghĩa là ngông nghênh. Để có thể tha thứ những bậy bạ hư hỏng ở một kẻ nào, ta tắc lưỡi kêu: hắn trót có tí “máu văn nghệ” trong người. Trong đám văn nghệ với nhau thì nhố nhăng nhất phải thú thật là những chàng thi sĩ. Một nhà nho như ông Tản Đà mà để xứng danh thi sĩ ông cũng làm trò con nít: gửi thư lên chị Hằng, gánh thơ đi bán chợ trời v.v... Còn Chế Lan Viên thì thấy trăng sáng vội kêu: “Ta cởi truồng ra, ta cởi truồng ra” Nguyễn Đức Sơn không cần phải làm như thế. Hãy xem cốt cách của ông: điềm nhiên giản dị hơn biết bao:

đầu tiên tôi thở cái phào

                                                  bao nhiêu phiền não như trào ra theo

                                                   nín hơi tôi thở cái phèo

                                           bao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không…

                                              (Một mình nằm thở đủ kiểu trên bờ biển)

 Cứ thế ông thở “đủ kiểu". Rồi qua một bài thơ khác ông lại “khoái trí nằm thở nữa”. Một đằng cố gắng làm ra lạ đời nên phải cởi truồng, phải chọc trời ghẹo trăng cho to chuyện; một đằng vốn có bản lĩnh tự nhiên, nên chỉ nằm mà thở thong thả cũng đủ độc đáo chán. Trong thơ, ta đã mấy ai nghe những tiếng thở cái phào cái phèo ngang tàng như vậy? (Nhất là đọc cho đến hết bài “thở đủ kiểu” ta giật mình thấy không phải đó là cái ngông vô cớ, ta không ngờ những hơi thở ấy lại đưa ta đi xa đến thế.) Khi Chế lan Viên muốn cho khác thường, ông đòi: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh”, còn Nguyễn Đức Sơn thì chẳng xin một tinh cầu nào, cứ việc nằm ngay trên bờ biển mà vọc c… Khi Chế Lan Viên muốn tỏ ra ngông, ông đòi cởi truồng để tắm trăng; còn Nguyễn đức Sơn thì lại lăn cù trên bờ biển, rồi ngủ quên trên bờ biển, nửa khuya bị mưa ướt, thức dậy tự hỏi mình: “đã đời chưa con?”(3)

Thời trẻ, ông kiêu hãnh, xác định thế đứng của mình bằng cách tự chủ trương tờ “Mặt Đất”, trên trang 1 số 1, tháng 11-1965 ông viết: ”Đấu trường của bọn trẻ tự động và ý thức nhất. Chủ trương biên tập Nguyễn Đức Sơn, vô gia cư, vô nghề nghiệp, vô địa táng. Tòa soạn lưu động tất hữu, và trường kỳ. Hiện tại không có địa chỉ liên lạc”. (4) Với những lời thơ cao ngạo:

Tao viết văn làm thơ

Cho tụi bây quăng viết

Mặc dù tao không đời nào thèm giết

Những cái thứ cà rơ

(Thì ra)

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn là tổng hợp của những nghịch lý, nơi ông không chỉ có những vần thơ ngông, với lối viết trịch thượng mà ông còn là một nhà thơ xuất thần với những vần thơ đẹp.

 rồi mai huyệt lạnh anh về

ru nhau gió thổi bốn bề biển xưa

trăng tà đổ bóng cây thưa

mộng trần gian đã hái vừa chưa em

(Tịch Mạc)

Một lần tình cờ xem phóng sự trên tivi về người trồng thông trên Đại Lào – Lộc Châu – Lâm Đồng, hình ảnh một ông già gầy gò nhanh nhẹn chống gậy đi trên đồi thông, ngày ấy, tôi không biết đó là nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, vì người ta chỉ giới thiệu là người gìn giữ những đồi thông và tự mình trồng ngàn cây thông trên Đại Lào. Nghe nói, ông đã từng bị thương khi bảo vệ tới cùng một tổ chim trên cây rừng Phương Bối do đám người có hung khí tới phá phách.

 Nếu không có quỷ ma

Khó bề thấy được Phật

Đó là sự thật của trái đất

Nhưng nghĩ cho cùng tất cả đều trật lất

(Tất Cả Đều Trật Lất)

Hơn ba năm trước, trong một lần tôi đi Đà Lạt tham dự triễn lãm phòng tranh của họa sĩ Đinh Cường, ngày ấy đến tham dự có Bửu Ý ở Huế, vợ chồng anh Nguyên Minh – chị Lan, anh Trương Văn Dân – Elêna ở Sài Gòn, anh chị Lữ Kiều – Thanh Hằng, trong căn nhà trên đỉnh dốc cheo leo giữa rừng chiều, lần đầu tiên tôi biết đến tên nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, khi các anh bàn đi thăm Sơn Núi ở Bảo Lộc, lúc đó tôi chỉ biết ông là một người bạn của các anh, một nhà thơ trước năm 1975 lập dị sống xa lánh mọi người, không muốn tiếp xúc xã hội, thoát tục như Lão Trang.

Những bài thơ ông viết mang mang chất thiền:

một đêm sao ở trên rừng

đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian

hồn tôi cây cối liên hoan

rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ

tuổi vàng suối mộng trời thơ

lớn lên tôi chết trên bờ hư không.

(Trên bờ hư không)

 Lão du sĩ trên núi Phương Bối ngày này vẫn sống trong mộng, canh giữ rừng thông, như ngày xưa trong một bức thư viết cho cha (5)

Sáng mênh mông

Ta đi thơ thẩn trong vườn hồng

Ô bông, ồ mộng, ồ không.

 Bây giờ lão vẫn mộng, nhưng là mộng trên đồi thông với tình yêu màu xanh bất diệt.

 Trên những con đường xinh tươi nhất

Tôi đi và hát một mình

Rừng cây xanh và rừng cây xanh

Trời trong xanh và mây trong xanh

Trên đồi cây xanh dưới đồi cây xanh

Tôi dừng lại để nghe chim hót

Và theo điệu riêng tôi lại hát

Cho rừng thêm xanh cho ngày thêm xanh

thơ trước năm 1975 lập dị sống xa lánh mọi người, không muốn tiếp xúc xã hội, thoát tục như Lão Trang.

 Những bài thơ ông viết mang mang chất thiền:

 một đêm sao ở trên rừng

đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian

hồn tôi cây cối liên hoan

rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ

tuổi vàng suối mộng trời thơ

lớn lên tôi chết trên bờ hư không.

(Trên bờ hư không)

 

Lão du sĩ trên núi Phương Bối ngày này vẫn sống trong mộng, canh giữ rừng thông, như ngày xưa trong một bức thư viết cho cha (5)

 

Sáng mênh mông

Ta đi thơ thẩn trong vườn hồng

Ô bông, ồ mộng, ồ không.

 

Bây giờ lão vẫn mộng, nhưng là mộng trên đồi thông với tình yêu màu xanh bất diệt.

 

Trên những con đường xinh tươi nhất

Tôi đi và hát một mình

Rừng cây xanh và rừng cây xanh

Trời trong xanh và mây trong xanh

Trên đồi cây xanh dưới đồi cây xanh

Tôi dừng lại để nghe chim hót

Và theo điệu riêng tôi lại hát

Cho rừng thêm xanh cho ngày thêm xanh

Tôi thấy đời như đang bé dại…

Mặc người đời đua nhau nơi chốn phồn hoa, thêu dệt nhiều giai thoại, xem ông như một “con quỷ làm thơ” (6), Nguyễn Đức Sơn, lão quái dị trên rừng Phương Bối, ngày ngày vẫn thong dong với trời thơ của riêng mình, một mình một cõi ta bà.


NK.Phi Ngọc Hùng chuyển

…




GẦN ĐÓ MÀ XA - Thơ Thuyên Huy

 


Gần Đó Mà Xa

Đường về gần đó mà xa

Mưa len lén khẻ hôn tà áo quen

Chiều đi để phố lên đèn

Cũng xưa dáng nhỏ tóc mềm gầy vai

Lá thu vờn gió thu bay

Ngập ngừng em chậm bước gầy dấu xưa

Cổng hờ hờ khép ngẫn ngơ

Người qua phố muộn đứng chờ một mai

Một mai đường về thôi dài

Cho người gởi chút tình say tới người


Thuyên Huy

2021



BiBi Ngô: Bão tan rồi. Về thôi!

 Một cậu bé 11 tuổi lần đầu tiên được chạm tay vào cái lạnh buốt của bông tuyết, và đó cũng là lần cuối cùng trong đời của cậu.

Một người phụ nữ sau một đêm tỉnh dậy, vĩnh viễn mất ba người thân yêu nhất. Nỗi đau thấu trời cao.
Một cô gái làm nghề giao hàng, được gia đình khách mời ở lại nhà một tuần lễ vì xe của cô bị kẹt trong bão tuyết.
Một siêu thị kêu gọi khách hàng mau ra về, đừng lo việc phải thanh toán tiền hàng hoá, vì trời đang tối dần, vì điện đã bị ngắt toàn bộ.
Một tỷ phú khởi nghiệp với $5,000 và câu slogan “Save your money” 20 năm trước, nay ông đã ba lần “Save your life”.
Một người phụ bếp, nhỏ nhẹ: “Cho tôi phụ giúp 50 ổ bánh mì gửi bà con đang khó khăn.”
***
Cậu bé ấy đã được đưa về Honduras - quê hương của cậu, cho ông bà nhìn mặt lần cuối, trước khi tiễn cậu về với đất.
Người phụ nữ đã có thể xuất hiện trên rất nhiều báo chí truyền thông Mỹ, đã có thể đối diện với ánh sáng, kể lại đêm kinh hoàng với Don Lemon của CNN. Trang gofundme của gia đình lập ra có goal từ $200,000, nay đã là $700,000. Mong bà thực hiện được những ước nguyện đúng – ước nguyện của bà, và của những người thương đang ở nơi xa.
Cô gái giao hàng nay có thêm một gia đình để thương nhớ.
Siêu thị H.E.B nay nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ khách mua sắm. Ông TR Henessy – người đăng tải tấm ảnh khách hàng rời siêu thị với những giỏ hàng đầy thực phẩm mà không cần thanh toán đã cùng vợ quay lại, trả tiền những món hàng đã mua và quyên góp hàng tháng vào quỹ từ thiện của H.E.B.
Những người homeless đã trở về “nhà” của họ, nơi góc đường, trước một cửa tiệm, dưới chân cầu nào đó. Ông tỷ phú lại tiếp tục với công việc kinh doanh, đắn đo lời lỗ mỗi ngày. Một ngày nào đó, khi tha nhân cần, ông lại có mặt.
Người phụ bếp vẫn tiếp tục với công việc mỗi ngày. 50 ổ bánh mì - có lẽ tương đương hai ngày lương của bà, đã giúp nhiều người vượt qua những ngày gian khó.
***
Trong tất cả những định nghĩa của sự phi thường, có lẽ định nghĩa đơn giản nhất: Phi thường là những việc bắt nguồn từ sự bình thường nhất. Phi thường vì không cần phải có lý do. Phi thường vì không cần đáp lại. Phi thường vì không cần phải đắn đo. Phi thường vì… rất bình thường. Đôi khi, chúng ta trót tham lam đi tìm những điều quá to lớn, mãi chạy theo những định nghĩa về nhân sinh quan vĩ đại, chú tâm vào những con số LIKE, SHARE mà không biết chúng hoàn toàn đã được sắp đặt sẵn theo thuật toán AI ma quỷ cũng do con người tạo ra…
Mỗi ngày, ta bán cảm xúc của mình cho những bình luận của chuyện từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc. Ta buồn, vui theo những câu chuyện mà thời gian không làm chủ được giá trị của nó. Ta hài lòng hoặc thất vọng với những điều hoàn toàn không thêm được cho chúng ta một ngày để sống trong sổ sinh tử của mỗi người.
Rồi, một ngày nào đó, nghe bản nhạc yêu thích, ta giật mình nhận ra, lâu lắm rồi mình không hàn huyên với người nhạc sĩ/ca sĩ ấy. Ta đã hoàn toàn quên mất lời bà dặn “thỉnh thoảng phải gọi cho cô nhé. Mong đến ngày mình lại được thăm nhau.” Sự dễ dãi cho bản thân đã biến ta thành người đoạn tình vô nghĩa.
Rồi, một ngày nào đó, trên đoạn đường xe chạy với tốc độ 80 miles/h, ta chợt thấy nao nao khi chợt thấy hình ảnh những chú ngựa hoang nhởn nhơ gặm cỏ bên đường. Lúc đó, chân thắng không thể dừng kịp để tay có thể ghi lại một chú ngựa trắng lạc đàn, hiền lành đã vụt qua. Đường xa lộ hun hút không thể quay lại một giây phút thảnh thơi rất đỗi bình thường của đàn ngựa hoang, nhưng lại rất phi thường giữa mớ thời gian ngồn ngộn của mình.
Rồi, một sáng nào đó, quyết định đưa cô bé đến trường sớm hơn mọi ngày, vì: Chúng ta sẽ đi bộ. Lúc đó, ta chợt hoảng hốt nhận ra, lâu lắm rồi mình không ngửi thấy mùi sương sớm. Lâu rồi, ta mải mê vuốt ve yêu chiều cảm giác quấn chăn ngủ muộn và đổ lỗi cho mùa Đông, để rồi quên mất một buổi sáng đó sẽ không bao giờ quay lại. Nói chuyện với cô bé đi cạnh, chợt nhận ra, hôm nay không cần phải cúi người xuống thấp nữa. Hai chiều cao đã tương đối đồng đều. Con đường đến trường đang ngắn lại.
Rồi, một đêm nào đó, giở lại những con chữ cũ, giật mình nhận ra, lâu lắm rồi mình đã quên mình. Ta đã quên những ngày đầu đặt chân đến nước Úc xa xôi, mang theo ước mơ vẽ vời, phim ảnh kể chuyện thế nhân. Ta đã quên màu sắc hoà lẫn tạo ra giai điệu. Ta đã quên bản vẽ, quên tiết tấu, quên ước vọng, quên lời hứa làm “người kể chuyện”...quên mất từ buổi trưa hè 19 tuổi năm đó, cái cảm giác va chạm xác thịt đầu tiên đã đưa ta vào giấc ngủ “mộng bình thường”…
Bao nhiêu ngày rồi nhỉ? Ta đã quên người! Rồi ta cũng đã quên mình?
Đến một ngày, ta bỗng dưng chợt nhận ra, mình thèm khát được chạm lại vùng xưa cũ. Thèm khát được vuốt ve chú ngựa trắng nhởn nhơ bên hàng cỏ cháy khô vì lạnh. Thèm được ghi lại những nơi đã qua, kể lại những người tình đã đến. Thèm được nghe những câu chuyện đời trên đoạn đường sẽ qua.
Từ nay, xin lưu trữ dòng chảy ký ức bất tận của đời người bằng màu sắc, ngôn từ, và hình ảnh. Xin được ghi lại những câu chuyện, những con người, những cuộc tình BÌNH THƯỜNG nhưng rất PHI THƯỜNG.
BÃO TAN RỒI. VỀ THÔI!