1 thg 9, 2020

DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI - Thơ Sông Trăng


DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI 

Cây không đâm chồi trổ búp lộc non
Không thể biết màu xanh tràn hy vọng
Dưới ánh mặt trời chan hòa sự sống
Nên đêm dài mong ngóng sớm tinh sương

Hoa cỏ mùa xuân rực rỡ phố phường
Đầy sáng nắng con đường vui rộn rã
Dưới ánh mặt trời bao điều rất lạ
Mây bồng bềnh trôi thả mộng xinh tươi

Má đỏ hây hây duyên dáng miệng cười
Mắt lóng lánh đời tưng bừng nhịp thở
Dưới ánh mặt trời niềm vui rạng rỡ
Hạnh phúc nào theo gió vút lên cao

Phút bàng hoàng hội ngộ cõi chiêm bao
Ngày chếch choáng tim ứa trào nỗi nhớ
Dưới ánh mặt trời yêu thương òa vỡ
Đóa tương tư chợt nở giữa vô thường

Vũ trụ quay cuồng trong hệ Thái Dương
Luôn đi đúng trên con đường quỹ đạo
Dưới ánh mặt trời muôn trùng giông bão
Vẫn hiên ngang đi theo hướng riêng mình

Chiếu rạng ngời thắp sáng buổi bình minh
Cho trần thế nở nụ tình ngây ngất

                             Sông Trăng 08-2014

🌹🌹🌹🌹Mời Xem Thơ Sông Trăng :
                
                    ĐIỀU GIÃN DỊ

CHUẨN BỊ TÂM TƯ CHO THỜI BUỔI BẤP BÊNH

                        Ảnh:GETTY / ARSH RAZIUDDIN / THE ATLANTIC
Trần Ngọc Cư dịch (VĂN VIỆT)
Các triết gia cổ đại có thể dạy chúng ta những gì về việc chấp nhận các điều chưa biết tới trong đời?
Đây là thời điểm của những câu hỏi không có câu trả lời. Liệu tôi có bị nhiễm coronavirus hay không? Khi nào có vắc xin? Tôi sẽ bị mất việc hay không? Bao giờ thì cuộc sống bình thường trở lại? Các chuyên gia có thể đưa ra những phỏng đoán hoặc ước tính cho một số câu đố này nhưng không có gì chắc chắn, và điều này có thể làm chúng ta phát điên lên được.
Con người sợ hãi sự bấp bênh, và sẽ tìm đủ mọi cách để tránh nó, thậm chí thà chọn một hậu quả xấu đã biết trước còn hơn chấp nhận một kết cục không biết trước nhưng có thể tốt hơn. Trong một nghiên cứu ở Anh, những người tham gia cuộc thí nghiệm đã trải qua sự căng thẳng lớn hơn khi họ có 50% khả năng bị điện giật so với việc họ chắc chắn bị điện giật 100%. Thiếu sức chịu đựng trước sự bấp bênh khiến mọi người có nguy cơ cao hơn về khả năng mắc các bệnh như trầm cảm và chứng rối loạn ám-ảnh-mất-tự-chế [obsessive-compulsive disorder hay OCD].
Chúng ta đinh ninh rằng sự bấp bênh luôn luôn là xấu và ngược lại, sự chắc chắn luôn luôn là tốt. Tuy nhiên, triết học cổ đại, cũng như một tập hợp bằng chứng khoa học ngày càng gia tăng, cho thấy ngược lại. Daniel Gilbert, giáo sư tâm lý học tại Harvard, cho biết: “Sự thiếu chắc chắn không nhất thiết gây khó khăn cho chúng ta, và ở hình thức thích đáng và số lượng phù hợp, nó thực sự là một lạc thú tuyệt vời”.
Chúng ta thích tham gia một số sinh hoạt nào đó – chẳng hạn như xem phim kinh dị hoặc đọc truyện thần bí – chính vì kết cuộc của chúng không được biết trước. Hoặc, giả sử bạn nhận được một bức thư từ một người ngưỡng mộ bí mật. Gilbert nói, chính cái bí ẩn về việc ai đó đã gửi nó mang lại "một dạng bấp bênh mà bạn sẽ thấy ngon lành và thú vị." Tuy nhiên, phần lớn chúng ta vẫn không để ý tới cái tình yêu của chính mình đối với sự bấp bênh dễ chịu – có thể gọi là lành tính – này. Gilbert và các đồng nghiệp của ông thấy rằng mặc dù sự thiếu chắc chắn về một sự kiện tích cực kéo dài niềm vui của mọi người, nhưng chúng ta thường tin rằng chúng ta sẽ hạnh phúc nhất khi mọi bấp bênh được loại bỏ.
Còn về loại bất ổn đen tối hơn, loại mà nhiều người trong chúng ta đang phải đối mặt hiện nay thì sao? Không những chúng ta phải chịu đựng bệnh tật nhanh chóng và mất công ăn việc làm do đại dịch gây ra, mà còn phải chịu đựng cái bản chất bất định của nó. Chúng ta không biết khi nào nó sẽ kết thúc. Có thể bạn đã nhận thấy rằng loại không chắc chắn này – hãy gọi nó là sự bấp bênh có hại – có xu hướng khiến tâm trạng con người trở nên tồi tệ hơn. Nhưng, một lần nữa, đây chỉ là một xu hướng, không phải là một kết luận đương nhiên. Chúng ta không nhất thiết phải đau khổ khi đối mặt với sự bấp bênh ác tính này. Chúng ta có một sự lựa chọn.
Theo kinh nghiệm của tôi, có hai cách để giải quyết “vấn đề” của điều chưa biết: bằng cách giảm lượng rủi ro mà mình cảm nhận được hoặc bằng cách tăng khả năng chịu đựng của chúng ta đối với sự bấp bênh. Hầu hết chúng ta gần như chỉ tập trung vào cái trước. Nhiều triết gia cho rằng đây là một sai lầm.
Các triết gia đã vật lộn với sự bấp bênh và vô thường ít nhất từ thời Hy Lạp cổ đại. Chủ nghĩa Khắc kỷ, một triết học phát triển mạnh vào Thế kỷ thứ ba trước Công nguyên ở Athens, đặc biệt rất thích hợp để giúp mọi người đối phó với sự bấp bênh trong đời. Và vì lý do chính đáng: các nhà Khắc kỷ đã sống trong thời đại cực kỳ bất ổn. Athens đã mất phần lớn nền độc lập của một thị quốc [city state], và cái chết của Đại đế Alexander vài năm trước đó đã để lại một khoảng trống quyền lực trong khu vực. Trật tự cũ đã sụp đổ và trật tự mới vẫn chưa thành hình để thay thế.
Những người theo chủ nghĩa Khắc kỷ tin rằng phần lớn cuộc sống nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn kiểm soát được những gì quan trọng nhất: các ý tưởng, các thôi thúc tâm lý, các khát vọng và các thứ thù ghét của chúng ta. Trạng thái tinh thần và cảm xúc của chúng ta. Câu nói “Thay đổi những gì bạn có thể, chấp nhận những gì bạn không thể” tóm tắt được tín điều của người Khắc kỷ. Họ cho rằng nếu bạn làm chủ được kỹ năng này, bạn sẽ là "bất khả chiến bại” [invincible]. Điều này không dễ dàng, những nhà Khắc kỷ thừa nhận, nhưng có thể làm được. Chấp nhận sự bấp bênh vốn có trong cuộc sống – đặc biệt là cuộc sống có đại dịch – tốt hơn là chiến đấu liên tục chống lại nó, thứ mà chúng ta nhất định phải thua, theo các triết gia Khắc kỷ.
Có một cảnh trong phim Lawrence of Arabia khi Lawrence, do Peter O’Toole thủ vai, bình tĩnh dập tắt một que diêm giữa ngón cái và ngón trỏ của mình. Một sĩ quan bạn ông tự mình làm thử, và anh đã rít lên trong cơn đau đớn.
"Mẹ kiếp, đau quá,” anh nói.
"Chắc chắn là nó rất đau," Lawrence trả lời.
"Vậy thì, ông có mẹo gì?"
“Bí quyết,” Lawrence nói, “là không để ý rằng nó đau.”
Câu trả lời của Lawrence là thuần túy Khắc kỷ. Chắc chắn, anh cảm thấy đau, nhưng nó vẫn là một cảm giác, một phản xạ. Nó không bao giờ di căn thành hoảng loạn. Lawrence không bận tâm đến cơn đau, theo nghĩa đen của từ này: Anh ấy không cho phép tâm trí mình tập trung và khuếch đại những gì cơ thể anh đã cảm thấy.
Tương tự như vậy, đại dịch đã cướp đi các điều kiện an sinh của cuộc đời chúng ta – đó là thực tế mà chúng ta không thể tránh khỏi. Nhưng tâm trí và phản ứng của chúng ta vẫn là của chúng ta.
Để thể hiện sức mạnh của tư duy, các nhà Khắc kỷ sử dụng phép ẩn dụ về một hình trụ lăn xuống đồi. Lực hấp dẫn đảm bảo hình trụ sẽ bắt đầu lăn, nhưng hình dạng của nó quyết định mức độ trơn tru và nhanh chóng của nó. Chúng ta không thể kiểm soát ngọn đồi hay trọng lực, nhưng chúng ta có thể kiểm soát hình dạng của hình trụ, trạng thái tâm trí của chúng ta.
Giả dụ bạn thấy mình, giống như nhiều bậc cha mẹ khác, làm việc tại nhà trong khi chăm sóc con nhỏ. Những dữ kiện đó tượng trưng cho ngọn đồi; chúng là bất động. Những gì bạn có thể di chuyển là thái độ của bạn. Đó cũng không cần phải là một sự thay đổi quá sâu sắc – tất cả chúng ta không thể là Mẹ Teresa – mà đó là một sự điều chỉnh lại thái độ rất tinh tế của mình, từ sự phản kháng đến ít nhất là một sự khoan dung, nếu không phải là sự chấp nhận hoàn toàn.
Khả năng chịu đựng sự bấp bênh có thể mang lại phần thưởng to lớn. Rốt cuộc, sự không chắc chắn thúc đẩy hành trình tìm kiếm kiến thức. Các nhà khoa học giỏi nhất biết điều này bằng trực giác, và sẵn sàng sống chung với những điều chưa biết khi họ thăm dò những biên cương mới. Nhà vật lý lý thuyết Richard Feynman nói: “Tôi không cần phải biết câu trả lời. Tôi không cảm thấy sợ hãi khi không biết mọi thứ, khi bị lạc vào một vũ trụ bí ẩn mà không có bất kỳ mục đích nào." Khả năng chịu đựng đối với sự bấp bênh và mơ hồ cũng liên quan đến tư duy sáng tạo to lớn hơn, như một số nghiên cứu đã phát hiện ra. Nhà thơ lãng mạn người Anh John Keats đã đưa ra thuật ngữ khả năng tiêu cực [negative capability] để mô tả một hiện tượng tương tự. Viết cho anh em của mình vào năm 1817, ông cho rằng các nhà văn có khả năng sáng tạo cao nhất khi “có khả năng ở trong những điều kiện bấp bênh, bí ẩn, nghi ngờ, mà không cảm thấy bức xúc trong nỗ lực theo đuổi sự thật và lý tính.”
Các nhà triết học Nhật Bản đi xa hơn một bước. Họ khuyên chúng ta không những chấp nhận sự bấp bênh của đời sống mà cả người anh em họ của nó là sự vô thường; hãy hân hoan chào đón nó. Yoshida Kenkō, một nhà sư thế kỷ 14, viết: “Điều quý giá nhất trong đời chính là sự vô thường của nó.”
Hãy xem xét hoa sakura hay anh đào Nhật Bản. Loài cây này nổi tiếng phù du. Chúng chỉ nở trong một hoặc hai tuần, và sau đó các cánh hoa biến mất. Các loài hoa khác – chẳng hạn như hoa mận – tồn tại lâu hơn đáng kể. Tại sao lại chịu thương chịu khó như vậy để vun đắp một thứ mong manh như hoa anh đào? Bởi vì “vẻ đẹp nằm trong tiến trình biến mất của chính nó,” Donald Richie nói trong cuốn sách “A Tractate on Japanese Aesthetics” [Luận về Mỹ học Nhật Bản]. Cuộc đời vốn phù du. Mọi thứ chúng ta biết đến và đem lòng yêu quí, một ngày nào đó sẽ không còn tồn tại, kể cả chính chúng ta. Đó là một điều chắc chắn trên đời. Hoa anh đào đáng yêu không phải bất chấp tính phù du của nó mà chính vì tính phù du đó. Điều này luôn luôn đúng. Đại dịch đã bắt ta đối diện với sự phù du của chính mình. Mặc dù yêu cầu ca tụng chân lý này trong hoàn cảnh thảm khốc như vậy có thể là quá đáng, nhưng chúng ta có thể học cách chịu đựng những điều chưa biết, và thậm chí có thể nhìn thoáng qua vẻ đẹp tiềm ẩn dưới những bấp bênh của cuộc đời.

CHUYỆN SUY NGẨM

 ĐÔNG QUYÊN Dich

Đây là một câu chuyện có thật, xảy ra trong thế chiến thứ hai, một câu chuyện đầy tình người, đáng cho chúng ta đọc và suy ngẩm.
Trung uý Charlie Brown 21 tuổi, trưởng phi cơ chiếc B17F Flying Fortress tên phi cơ (Ye Olde Pub) thuộc phi đoàn 527th United States Army Air Force (USAA) đồn trú tại Kimbolton England
Ngày 20 tháng 12 năm 1943. Trung uý Charlie Brown cất cánh từ Kimbolton cùng phi hành đoàn 10 người, trong một phi vụ đánh bom khu kỷ nghệ gần thành phố Bremen Đức Quốc, thành phố được bảo vệ dầy đặc phòng không và 250 chiến đấu cơ gồm Bf 109, Fw 190 và GJ 11.
Trên vòm trời Bremen chiếc B17 của Charlie Brown bį phòng không của Đức bắn gần gãy lìa đuôi, mủi phi cơ bị hư hại nặng, phi cụ không còn hoạt động, điện, thủy điều hoàn toàn hư hỏng. Ba trong bốn động cơ không còn hoạt động được. Sau đó chiếc B17 bị các chiến đấu cơ Đức vây quanh, bắn nát như tổ ong, chiếc phi cơ B17 mất cao độ chúi xuống, trong lúc hỗn loạn không còn phi cụ, phi cơ lạc hướng bay sâu vào nội địa nước Đức. Trung uý Charlie Brown hồi tưởng:Phi cơ trong tình trạng tuyệt vọng nhưng anh không thể ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù được, vì trên tàu còn 4 phi hành đoàn bị thương, một rất nặng, nên anh quyết định bay tiếp cho đến khi nào không còn bay được, anh sẽ đáp ép buộc, và tất cả phải chịu chung số phận với con tàu.
Anh Franz Stigler, người phi công lái chiếc Bf 109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức Quốc) từng hạ 27 phi cơ của đồng minh, đang tiếp tế nhiên liệu, nạp đạn cho phi cơ dưới đất, được lệnh cất cánh khẩn cấp, bắn hạ chiếc B17, đang lảo đảo bay trong không gian vô định
Trung uý Charlie hồi tưởng: tôi phải vất vã lắm mới kéo được con tàu trở lại bình phi, thì lù lù bên trái của tôi một chiếc Bf109 của Đức kèm sát cánh
Trong giây phút kinh hoàng, tôi nhắm mắt lại, hy vọng đây chỉ là giấc mơ. Khi mở mắt ra chiếc Bf109 vẫn còn đó, và người phi công ra lệnh cho tôi phải đáp ép buộc xuống phi trường Đức, hay phi trường nước trung lập Sweden, tôi không đồng ý. Cuối cùng tôi thấy người phi công lái chiếc Bf109 bay nhanh phía trước, lắc cánh ra hiệu cho tôi theo, không còn lựa chọn tôi bay theo, độ hơn một giờ sau tôi nhìn thấy biển Bắc. Chiếc phi cơ Bf109 bay chậm lại song song với tôi, đưa tay chào, rồi lắc cánh nhẹ vài cái, dấu hiệu tạm biệt của người phi công, rồi mất dạng trong sương chiều.
Như một phép lạ, anh Charlie Brown bay được 250 miles(400 km) qua biển Bắc. Sau cùng đáp ép buộc xuống phi trường của hoàng gia Anh ở Seething, nơi đồn trú của phi đoàn 440th bomber group, chỉ có một người chết, còn tất cả những người bị thương đều được cứu. Sau đó tất cả phi hành đoàn báo cáo với sỉ quan chỉ huy ở đây, họ được chỉ thị giữ kín chuyện này, vì nói ra sự thật có vẽ phản tuyên truyền, vì không thể có một phi công Đức nào hào hùng và độ lượng với kẻ thù như vậy
Sau chiến tranh Charlie Brown ở lại phục vụ trong không lực Hoa Kỳ cho đến năm 1972 giải ngũ với cấp bậc trung tá sống tại Florida
Câu chuyện không chấm dứt ở đây. Trở về lại quê hương, anh Charlie Brown viết rất nhiều thư để
mong tìm ra tông tích người phi công Đức đã không
cướp đi mạng sống của cả phi hành đoàn chiếc B17 của anh.Tìm một người phi công sau một cuộc chiến tranh tàn khốc, không tên họ, chỉ có một câu chuyện, đâu phải dể tìm. Không nản lòng anh vẫn tiếp tục. Cuối cùng vào năm 1989, sau 46 năm tìm kiếm, anh Charlie Brown đã tìm ra được người phi công bí mật, lái chiếc Bf109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức) cũng là một thiên thần độ lượng trên vòm trời Bremen vào những ngày cận giáng sinh năm 1943. Đó là anh Franz Stigler
Sau khi chiến tranh chấm dứt anh Franz Stigler di dân sang sống ở Vancouver Canada.Trong bức thư đầu tiên anh Franz Stigler viết cho Charlie Brown “suốt bao nhiêu năm dài tôi luôn tự hỏi, không biết chiếc B17 đó có đưa phi hành đoàn về đáp an toàn hay không “
Họ gặp nhau sau 46 năm tìm kiếm diễn ra rất cảm động. Anh Franz Stigler hồi tưởng: tôi được lệnh cất cánh rượt đuổi bắn hạ chiếc B17, tống ga đuổi kịp, thì tàu của tôi báo hiệu máy đã nóng vượt bực, tôi đến từ phía sau quan sát chiếc B17. Một cảnh tượng thật tang thương, phần đuôi của con tàu gần như tan nát, một lổ hổng lớn có thể nhìn từ đuôi cho đến cockpit, người xạ thủ tail gun turret nằm chết đong đưa,nửa trong nửa ngoài trên pháo tháp. Tôi bay lên quan sát bên thân tàu, cả một vùng thân đầy lổ đạn to lớn, tôi có thể thấy cả phi hành đoàn bị thương nằm la liệt bên trong, người trưởng phi cơ đang vật lộn với con tàu mong giữ được bình phi, tôi ra hiệu cho anh ta theo tôi đáp xuống một căn cứ gần đó, để cứu những phi hành đoàn bị thương, anh ta nhìn tôi chăm chăm rồi nhè nhẹ lắc đầu, tôi không có can đảm giết những người anh hùng không còn vũ khí để tự vệ, tôi là một người phi công hào hùng, tôi chém giết để bảo vệ quê hương tôi, nhưng không hề có thù hận, khi còn chiến đấu ở Bắc Phi, người chỉ huy của tôi đã nói, nếu tụi mầy bắn một người phi công đã nhảy dù ra khỏi phi cơ, đó là một hành động tồi tệ, tao sẽ là người bắn rơi tụi mầy, trong trường hợp nầy cũng vậy, chiếc B17 nầy không còn tự vệ được, tôi phải để cho họ có một cơ hội, ngày mai tôi sẽ bắn họ khi họ ngang ngửa với tôi. Biết là không thể thuyết phục được người trưởng phi cơ B17 tôi bay ra phía trước lắc cánh, tôi cũng mừng khi thấy anh đã bay theo tôi, hướng dẫn chiếc B17 độ một giờ sau thì tôi thấy biển Bắc, tôi bay chậm lại song song, chào anh ta rồi quay trở về đáp, dĩ nhiên là tôi phải báo cáo với cấp trên, là tôi đã bắn hạ chiếc B17 trên biển.
Anh Charlie Brown và Anh Franz Stigler trở nên
đôi bạn thân, họ đã gặp lại nhau nhiều lần, sau đó họ đã được không lực Hoa Kỳ bạn tặng những huy chương cao quý
Anh Charlie Brown mất ngày 24 tháng 11 năm 2008
Anh Franz Stigler mất ngày 22 tháng 3 năm 2008

(H.Phi chuyển)

Ông Giáo Già (Mailoc dịch) & Nguyên Tác của Phạm Đình Lan


Ông Giáo Già 
Cứ mỗi chiều nắng tà vương vấn,
Ông Giáo Già thơ thẩn gậy lần .
Cổng trường đã đóng âm thầm
Buồn nhìn trường sở, vách dầm rêu phong .

Tiếng ve sầu mênh mang gợi nhớ ,
Kỷ niệm về trăm mối ngổn ngang
Ngày xưa, ngày ấy rộn ràng
Thầy trò tương kính lòng tràn mến thương .

Gốc phượng già còn vương dấu vết,
Cái tình xưa hằn nét chưa phai .
Thầy cô sương điểm tóc mai
Tuổi xanh từng lớp nắm tay ra trường .

Cây phượng xưa mái trường còn đấy,
Ông giáo già đã thấy tuổi thu .
Vui theo kỷ niệm mịt mù
Để quên cuộc sống dãi dầu lòng đau:

Biết bao trò đã vào lòng đất ,
Bao nhiêu thằng lây lất vô danh .
Nhiều em lừng lẫy tiếng tăm
Nhiều em cuộc sống âm thầm ai hay .

Như lá vàng, bay bay trong gió,
Lỡ chuyến đò thương khó vai mang .
Cuộc đời cát bụi gió vàng
Bao nhiêu trong cảnh lầm than tủi hờn .

Lá vàng rơi từng cơn theo gió
Rồi thu đi lá bỏ cành không .
Lạnh về sương trắng mênh mông 
Đồng hoang hiu quạnh đông sang lạnh lùng!

Một chiều đông cả vùng được biết,
Ông giáo già vĩnh biệt dương gian .
Phố phường thôn xóm bàng hoàng 
Người đi lặng lẽ lòng trần sạch trơn .

Phượng vẫn nở chập chờn hè đến ,
Ngôi trường xưa đâu bóng Giáo Già ?
Chuông chiều xa vắng ngân nga ,
Đêm dầy buông xuống xót xa mái trường !!
            Mailoc thoát dịch
            Cali 11-20-16
                                     ***** 
 This poem is dedicated to all of my former teachers, who died for the sake of education. 
              Dear teachers, you were the unknown heroes, who silently built our Homeland, VietNam, with multiple difficulties, bitterness and hardship in the thunder of cannons and bomb blast.  Your pure faith was recognized by God.  Rest in peace!  Dear teachers!.
Pham Dinh Lan
          

Every evening when the sunlight faded,
The old teacher walked slowly to the school gate.
The gate was closed.
He sighed with disappointment in contemplating
The mossy walls surrounding the school.
*
The cicada’s songs reminded him
Of mixed memories,
Of the old days’ mutual respect
Between teachers and students.
Many memories have been carved
On the old trunks of the flamboyants (1)
Many teachers got old.
Many young generations were gone.
*
The old school and the flamboyants have existed.
The teacher was at the windy sunset of his age.
He found joys through some vague memories
To forget all of his heart- broken life.
*
Some of his old students died,
Some were alive.
Some had resounding reputation;
Some had their wandering life
Like the yellow leaves scattered in the wind.
They missed the ferry boat
Due to their dusty and stormy life.
*
The yellow leaves fell.
The fall came then left.
The frosty winter came then flew by.
One evening, the urban and rural residents
Learned the old teacher said good- bye to the world.
He left silently in a quiet night.
The dead leaf left the root of worries.
*
The flamboyants bloom, welcoming the Summer.
The old school no longer sees the old teacher
Every evening when the bell resounds from the pagoda.
The thick curtain of darkness covers the mossy school.

(1) Flamboyant (French): flame tree; royal poinciana (English); scientific name:  Delonix regia, Family:  Caesalpiniaceae

Năm khai sinh của các ngọn hải đăng Đại Lãnh, Mũi Dinh, Kê Gà

Vị trí Cap Varella (mũi Đại Lãnh), Cap Padaran (Mũi Dinh) và mũi Kê Gà trên bản đồ năm 1892
Nguyễn Văn Nghệ
   Vào Google tìm kiếm năm khai sinh ra ngọn hải đăng Đại Lãnh, Mũi Dinh ta nhận được các nguồn thông tin đều ghi hải đăng Đại Lãnh khai sinh năm 1890, hải đăng Mũi Dinh khai sinh năm 1906. Số đông đều khẳng định một vấn đề như nhau có hẳn là chân lý không?
  Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1892 ông J. Brien, Phó Thanh tra Trạm và Bưu điện (Sous-Inspecteur des Postes et des Télégraphes) được Toàn quyền De Lanessan ủy nhiệm một chuyến đi khảo sát thực địa từ Qui Nhơn vào đến ranh giới Bình Thuận và Biên Hòa và đã ghi chép tỉ mỉ trong tác phẩm “De Qui Nhon en Cochinchine Exploratons dans le Binh Thuan (Sud-Annam)” xuất bản năm 1893. Mũi Đại Lãnh, Mũi Dinh, mũi Kê Gà được J. Brien ghi chép cẩn thận trong tác phẩm của ông.
    Hải đăng mũi Đại Lãnh
  Người dân địa phương quen gọi mũi Đại Lãnh là Mũi Chùa, Mũi Nạy: “A ce cap Varella ou cap de la Pagode, le Mũi Nại des Annamites finit la cote de la province du Khánh Hòa qui”[1](Từ cái mũi Varella này hay là Mũi Chùa, Mũi Nại của người An Nam là chấm dứt đường bờ biển của tỉnh Khánh Hòa).
   Một vài bản đồ chú thích mũi Đại Lãnh khác với Mũi Nại. Mũi Nại nằm phía bắc của mũi Đại Lãnh, cách nhau bởi Bãi Môn.
   Ngoài ra mũi Đại Lãnh còn có tên Mũi Diều, mũi Kê Gà. Trên các bản đồ phương Tây ghi là Cap Varella (mũi Varella).
   Vào trang Wikipedia tiếng Việt tìm “Mũi Đại Lãnh” sẽ được thông tin: “Mũi Đại Lãnh do một tướng người Pháp phát hiện, nên có tên gọi trước đây là Cap Varella trên các bản đồ cũ”.
  Các bản đồ trong tài liệu của Linh mục Alexandre de Rhodes (năm 1651 và năm 1653) đã có ghi địa danh Varella rồi. Varella nghĩa là gì? Tự điển tiếng Bồ Đào Nha: “Varella hay Varela chỉ chùa hay đền thờ thần của Ấn Độ hay tu viện của họ”[1].
    Từ xa xưa người Champa xem ngọn núi Đá Bia là ngọn núi thiêng với tên gọi Lingaparvata (Linga – Đấng đại sơn thần). Linga là biểu tượng của thần Siva. Ấn độ giáo du nhập vào vương quốc Champa, thần Siva được người Champa suy tôn là “Thần của các vị thần” là “Chúa tể của muôn loài”.
    Bản đồ năm 1823 cho thấy mũi Varella còn gọi là Pagoda Cape (Mũi Chùa). Như vậy chữ “Chùa” phù hợp với nghĩa của tiếng Bồ Đào Nha là Varella. Chúng ta có thể kết luận là địa danh Varella không liên quan gì đến viên sĩ quan người Pháp cả![1]
J .Brien ghi chép khá kỹ càng về khu vực Vũng Rô và mũi Varella: “Au loin, vers le Sud, un contrefort puissant s’échappe de la grande chaine jusqu’à la mer pour former le cap Varella, qui barre formidablement la route, et que l’on franchit par le Đèo Cả.”[2] (Xa xa về phía Nam, một rặng hùng vĩ thoát ra từ rặng núi lớn chạy thẳng đến biển để hình thành nên mũi Varella chận đứng con đường, buộc người ta phải đi qua Đèo Cả).
  Tuyệt nhiên không thấy nhắc đến ngọn hải đăng. Như vậy vào năm 1892 chưa có ngọn hải đăng nào tại mũi Đại Lãnh.
   Paul Doumer làm Toàn quyền xứ Đông Dương từ năm 1897- 1902, trong hồi ký của mình, ông viết về mũi Đại Lãnh: “… Vào ban ngày, người ta dễ dàng thấy mũi này. Ngón tay đó là dấu hiệu không thể nhầm lẫn. Thật may mắn là nó không thường xuyên bị mây che. Đương nhiên là không có hải đăng chiếu sáng ban đêm. Sau đó tôi đã cho khảo sát và xây dựng hải đăng này. Công việc đó chưa hoàn tất khi tôi rời Đông Dương năm 1902. Việc nghiên cứu và xây dựng không thể diễn ra nhanh chóng tại một vùng cách biệt, với vùng rừng núi khó khai phá như ở mũi Đại Lãnh”[3].
 Chúng ta có thể kết luận: Hải đăng Đại Lãnh được khởi công vào những ngày tháng đầu của thế kỷ XX và hoàn thành vào năm 1903 hoặc 1904.
   Sau khi hải đăng Đại Lãnh được chiếu sáng, mũi Đại Lãnh xuất hiện thêm một tên mới đó là Mũi Điện.
   Ngọn hải đăng Mũi Dinh
  Sách xưa gọi Mũi Dinh ở Ninh Thuận là Diên Chủy (chủy là mõm, là mũi. Cái gì hình thế nhọn sắc vẩu ra ngoài đều gọi là chủy, như : sơn chủy: mỏm núi) hoặc gọi nôm na là Mũi Diên. Dân địa phương gọi là Mũi Dinh. Mũi Dinh nằm về phía đông nam của dãy núi Chà Bang: “ Sa pointe sud-est est le Chek Dil des Tjames, le Mũi Dinh des Annamites, le cap Padaran des Européens”[4] (Mũi đông nam của nó, người Chăm gọi là Chek Dil, người An Nam gọi là Mũi Dinh, người Châu Âu gọi là cap Padaran)
   Trong tác phẩm Notes sur l’Annam I le Binh Thuan của Công sứ Étienne Aymonier  xuất bản năm 1885, ghi chép kỹ lưỡng về Mũi Dinh nhưng không thấy nói đến hải đăng.
  Năm 1892 J. Brien đã đi khảo sát thực địa Mũi Dinh và ông cho biết là đã có ngọn hải đăng ở đó rồi: “Nous allons quitter la route mandarine pour faire une excursion jusqu’au phare du Padaran, situé à 20 kilomètres au sud-ouest du tram Thuân trinh”[5] (Chúng tôi sắp rời con đường cái quan, để làm một cuộc du ngoạn xuống ngọn hải đăng Padaran. Ngọn hải đăng này ở 20 cây số phía tây nam trạm Thuận Trinh).
 J. Brien cho biết, người Chăm đến ngọn hải đăng rất nhanh: “Les Chams connaissent un passage sous bois qui conduit du phare au village de Cana, au Sud, en 3 heures environ”[6] (Người Chăm biết con đường đi luồn dưới rừng để đến ngọn hải đăng hay làng Cà Ná về phía Nam, tốn chừng 3 tiếng đồng hồ).
  Con đường từ chân núi lên ngọn hải đăng: “Le petit pic sur lequel est bâti le phare est complètement isolé du massif du Padaran; la route en rampe qui y conduit est très rudimentaire, et pourtant il a fallu employer la dynamite pour la rendre à peu près accessible. Les rochers et le sol sont recouverts d’une brousse maigre et rabougrie brulée par tous les vents”[7](Đỉnh núi nhỏ có ngọn hải đăng được xây dựng ở bên trên hoàn toàn bị cô lập với khối núi Padaran. Con đường dốc dẫn đến đó rất thô sơ, tuy nhiên người ta phải dùng thuốc nổ để làm cho nó hầu như có thể đi lại được. Những ghềnh đá và mặt đất được bao phủ bởi những cây nhỏ nghèo nàn và còi cọt bị cháy sém bởi đủ loại gió).
  Theo J. Brien vị trí có ngọn hải đăng chưa phải là vị trí tốt nhất: “Le phare lui- même est un bel édifice quadrangulaire en pierres de taille; il est situé à 186 mètres d’altitude et possède un feu à éclats blancs et rouges visible à 30 milles en mer. Il aurait été, au point de vue de la navigation, mieux placé sur la pointe Est du grand massif, au Sud-Est de l’emplacement actuel, mais on a du renoncer à l’y construire par suite des difficultés d’accès et aussi pour raisons budgétaires”[8] (Chính hải đăng là một cấu trúc hình bốn góc đẹp bằng đá tảng. Nó nằm ở cao độ 186 mét và sở hữu một ngọn lửa chớp sáng trắng và đỏ. Nhìn thấy được từ 30 dặm trên mặt biển. Lẽ ra theo quan điểm đi tàu, nó phải được đặt trên mũi nhọn mặt đông của khối núi về phía đông nam của chỗ hiện tại, nhưng người ta đành phải từ bỏ xây dựng ở đó vì những khó khăn leo trèo và cũng vì lý do ngân quỹ).
   Bài viết “Vùng biển ven bờ và bờ biển Khánh Hòa qua hồi ký của Paul Doumer” của hai tác giả Nguyễn Lục Gia và Nguyễn Hà Châu Khanh cho biết hải đăng Đại Lãnh hoàn thành “có thể trước hoặc đồng thời với thời điểm hoàn thành công trình hải đăng Mũi Dinh trong năm 1904 ở tỉnh Phan Rang, tức Ninh Thuận về sau”[9].
   Theo hai tác giả của bài viết thì hải đăng Mũi Dinh hoàn thành năm 1904, nhưng trong hồi ký Paul Doumer ghi khác. Thời gian làm Toàn quyền xứ Đông Dương từ năm 1897-1902, Paul Doumer đã đi tàu thủy ngang qua Mũi Dinh và đã ghi chép lại trong Hồi ký của mình: “Từ Mũi Đại Lãnh, đường biển uốn hơi cong về hướng Tây, nhưng bắt đầu từ Mũi Dinh[cap Padaran] thì tuyến đường chạy thẳng về hướng Tây, cũng giống như bờ biển. Trên vùng đất cao của Mũi Dinh, một ngọn hải đăng được đặt ở vị trí tối ưu và chiếu ra ánh sáng đỏ và trắng. Những vị thuyền trưởng trên tuyến Viễn Đông, đã từng đi qua những cảng biển  Ai Cập, Anh, Trung Hoa, Nhật Bản, vẫn thường nói: “Thành phố đẹp nhất ta thấy trên cả tuyến đường là Sài Gòn. Ngọn hải đăng đẹp nhất là ở Mũi Dinh”[10].
  Tuy không biết đích xác năm xây dựng nhưng chúng ta có thể ước chừng ngọn hải đăng được xây dựng trong khoảng thời gian từ sau năm 1885 cho đến năm 1891
   Hải đăng mũi Kê Gà
 Đại Nam nhất thống chí ghi chép về Trạm Thuận Lâm thuộc tỉnh Bình Thuận: “Ở thôn Văn Kê, phía tây đến trạm Thuận Trình 27 dặm linh” và núi Cẩm Kê: “Ở phía nam huyện, phía nam kề bãi biển, dưới chân núi có đá lớn bò ra nước, ngoài biển có hòn Khe Gà”[11].
  Năm 1885, trên đường hành quân từ phía nam ra phía bắc tỉnh Bình Thuận để đánh dẹp phong trào Cần Vương, Công sứ Aymonier đã ghi chép đoạn đường từ trạm Thuận Lâm đến trạm Thuận Lý: “La route, laissant à droite le cap Khe Gà, continue vers l’est en fôret, sur un plateau de cent à cent cinquante mètres d’altitude; plus loin, elle traverse un petit ruisseau limpide; puis elle reprend le bord de la mer entre les flots et des dunes à pic de sable durci. Enfin on atteint le cinquième trạm, celui de Thuận Lý, à deux ou trois lieues au delà du cap Khe Gà.”[12](Con đường nằm bên phải mũi Khe Gà, tiếp tục chạy về phía đông xuyên qua rừng, trên một cao nguyên cao từ 100 đến 150 mét; xa hơn, nó vượt qua một con suối nhỏ nước trong vắt; rồi con đường lại chạy dọc theo bờ biển giữa những con sóng và những cồn cát rắn và thẳng đứng. Sau cùng chúng ta đến trạm thứ năm, trạm Thuận Lý, ở xa hai hoặc ba dặm bên kia mũi Khe Gà).
   Sách do Quốc sử quán soạn và ghi chép của Aymonier đều gọi là Khe Gà.
  Năm 1892 trong chuyến khảo sát từ bắc vào nam, ông J. Brien hành trình từ trạm Thuận Lý đến trạm Thuận Lâm thuộc tỉnh Bình Thuận: “Des deux côtés de la route le terrain est très boisé et donne asile à des quantités de cerfs, de tigre et surtout d’éléphants dont les traces couvrent le sol. Dans cette saison, en effet, ils sortent toutes les nuits des fôrets qui couvrent la pointe Kega et Núi-thi-Đang pour venir boire au ruisseau de Lang-kim”[13](Dọc hai bên đường đất vùng này nhiều cây cối làm chỗ trú cho số lớn hươu nai, cọp và nhất là voi mà vết chân đi đầy trên đất. Trong mùa này quả là, đêm nào chúng cũng từ rừng đi ra cho đến đoạn mũi Kê Gà và núi Thị Đặng để đến uống nước tại suối Làng Kim)
  Vào thời điểm ghi chép của Aymonier và J. Brien thì ở mũi Khe Gà (Kê Gà) chưa có hải đăng. Trên một viên gạch ở hải đăng Kê Gà có con số “1899”. Như vậy con số “1899” chính là năm khai sinh hải đăng Kê Gà.
  Tuy chưa xác định một cách chính xác năm sinh của hải đăng Đại Lãnh và Mũi Dinh, ta có thể sắp xếp thứ tự về việc ra đời của ba hải đăng là : Hải đăng Mũi Dinh, hải đăng Kê Gà, hải đăng Đại Lãnh.
  Trong ba ngọn hải đăng được nêu, chỉ có hải đăng Kê Gà là còn nguyên vẹn không bị phá hủy do chiến tranh và hoạt động liên tục từ năm 1899 đến nay
Bản đồ có chú thích địa danh Mũi Nạy nằm phía bắc Cap Varella (mũi Đại Lãnh), cách nhau bởi Bãi Môn
Vị trí Mũi Diều (Cap Varella). mũi Dinh (Cap Padaran), Pointe Kega (mũi Kê Gà) trên bản đồ “Bai Bung to Mui Dieu” năm 1937

Chú thích:
 [2] – Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam II Le Khánh Hòa, Saigon, Imprimerie Coloniale, 1886,p.14
 [3][6][7][8][9][14]-  J.Brien, De Qui-Nhon en Cochinchine Explorations dans le Binh-Thuan(Sud-Annam), HaNoi, Imprimerie Typo-Lithographique F.-H.Schneider, 1893,p.12; 36; 37; 36; 36-37; 46
  [4][11] Paul Doumer, Xứ Đông Dương, Nxb Thế Giới, tr. 351
  [5][13]- Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam I Le Bình Thuận, SaiGon, Imprimerie Coloniale, 1885, p.26; 12
  [10]- Bài viết “Vùng biển ven bờ và bờ biển Khánh Hòa qua hồi ký của Paul Douumer” Tác giả Nguyễn Lục Gia & Nguyễn Hà Châu Khanh, đăng trên Tạp chí Văn hóa, Thể thao &Du lịch Khánh Hòa số 4/2016 trang 15
  [12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, tr. 148, 136

Có biết Ông Cụ Tổ nghề dạy học là ai không ? (FB.XuanLoc )



Ông là người thầy được suy tôn làm ông tổ nghề dạy học ở Nam Bộ với biệt danh “Vạn thế sư biểu của vùng đất Nam Kỳ”.
Theo sách “Những người thầy trong sử Việt”, nhà giáo Võ Trường Toản (?-1792) chính là người thầy được suy tôn làm ông tổ nghề dạy học ở Nam Bộ với biệt danh “Vạn thế sư biểu của vùng đất Nam Kỳ”.
Theo sách "Đại Nam Nhất Thống Chí”, tổ tiên Võ Trường Toản có nguồn gốc từ miền Trung di cư vào Nam, được khởi phát mạnh mẽ kể từ năm 1623. Địa chí Bến Tre lại chép Võ Trường Toản là người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, không ai rõ năm sinh, không rõ gốc gác, chỉ biết cụ là một nhà nho lớn, một nhà giáo đức độ tài ba, lỗi lạc ở miền Nam ở thế kỷ 18.
Theo sách "Những người thầy trong sử Việt", lớn lên trong bối cảnh chiến tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn diễn ra liên miên, thầy Võ Trường Toản không ra làm quan, ông sống ẩn dật, từ chối mọi lời mời mọc, không tham gia chính sự, không ra làm quan cho bên nào. Thay vào đó, nhà giáo Võ Trường Toản mở trường dạy học ở ngôi đình Hòa Hưng, nay là đình Chí Hòa trên đất Gia Định. Tiếng lành đồn xa, học trò theo học thầy rất đông.
Võ Trường Toản là thầy học của những danh sĩ nổi tiếng như: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Bá Phẩm, Lê Quang Định… Trong đó, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định còn được gọi là “Gia Định tam gia” đồng thời là 3 quan văn đại thần hết sức đắc lực của vua Gia Long.
Trong số hàng trăm học trò do thầy Võ Trường Toản trực tiếp giảng dạy, nổi bật nhất là Ngô Tùng Châu, công thần thờ vua Gia Long, thầy dạy hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh (con cả vua Gia Long). Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu viết về Ngô Tùng Châu rằng: “Sự thực, Ngô Tùng Châu là tay văn học kiệt xuất, tiếc rằng chết sớm, nên đời sau ít nói tới. Là học trò đầu hạng của Võ Trường Toản, ông rất được Nguyễn Phúc Ánh phục tài và tin dùng”.
Thầy Võ Trường Toản nổi tiếng với tư tưởng dạy học vượt thời đại “phê phán lối học vẹt thông thường”. Theo sách “Những người thầy trong sử Việt”, khi giảng với học trò về sách Đại học, một sách trong Tứ thư của Khổng Tử, thầy Võ Trường Toản nói rõ rằng: "Sách Đại học một nghìn bảy trăm chữ, tán ra gồm vô số sự vật, tóm lại còn 200 chữ, tóm nữa thì còn một chữ, tóm lại nữa một chữ cũng không". Đại ý cụ căn dặn học trò cần thấu triệt nội dung của cuốn sách, chứ không nên học vẹt từng câu, từng chữ, cách dạy ấy thường gọi là “Tri ngôn dưỡng khí”.
Thầy Võ Trường Toản mất năm Nhâm Tý (1792). Nghe tin cụ mất, Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) cảm mến, tiếc thương, đã ban tước hiệu “Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh”. Thi hài ông được an táng tại làng Hòa Hưng (Gia Định), nay thuộc quận 10 TP. HCM. Đến năm 1867, di hài ông lại được rước về an táng ở vùng đất Bến Tre ngày nay. Với những đóng góp to lớn cho giáo dục miền Nam, thầy Võ Trường Toản được xem là “Vạn thế sư biểu” - người thầy muôn đời của nền giáo dục Nam Bộ. Tên tuổi ông được đặt cho nhiều ngôi trường, đường phố trên khắp cả nước.
Nguyễn Thanh Điệp (Theo Zing)