2 thg 11, 2015

Sai lầm tai hại khi ăn rau muống gây bệnh cho cả nhà

Dưới đây là những sai lầm tai hại khi ăn rau muống gây bệnh cho cả nhà, cần bỏ ngay.
Rau muống rất bổ dưỡng bởi nó chứa nhiều vitamin và khoáng chất như chất xơ, protein, canxi, sắt, vitamin A. Tuy nhiên, khi sử dụng, bạn cần lưu ý những điều sau.
sai lầm khi ăn rau muống
Rau muống rất bổ dưỡng bởi nó chứa nhiều vitamin và khoáng chất.
Chắc hẳn không còn ai xa lạ với món ăn từ rau muống nhưng sẽ ít người biết được rằng rau muống sẽ gây hại khi chế biến không phù hợp. Bạn vẫn chế biến rau muống theo cách thường ngày mà không chú ý đến việc có thể nó gây hại cho sức khỏe . Vậy hôm nay bạn cùng đọc để lưu ý sao cho dùng bữa với rau muống đảm bảo an toàn nhé.
Dù quen thuộc và dễ chế biến đến đâu, việc sử dụng rau muống làm thực phẩm cũng cần có những quy tắc và cả những “kiêng kị” để nó không trở thành món ăn có hại cho bản thân và gia đình.
Với những món nộm bạn thường ăn rau muống sống hoặc chỉ trần qua, nhiều người rất thích ăn món này kèm với rau thơm và nước riêu. Thực sự nó là món ngon và đưa cơm trong những ngày hè. Tuy nhiên việc ăn rau sống như vậy cũng có không ít tác hại và có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Ăn rau muống sống hoặc chưa chín kỹ
Rau muống chẻ để ăn sống là món ăn được nhiều người thích. Nhất là khi nó được ăn kèm với vài lá kinh giới chấm với nước riêu cua, riêu cá chua thanh mát thì dẫu mùa đông rét mướt hay mùa hè nóng nực đều rất đưa cơm.
Tuy nhiên, với tình hình an toàn thực phẩm hiện nay thì món ăn này chứa rất nhiều hiểm họa.
Trong rau muống, đặc biệt là rau muống thủy sinh, có chứa một loại sán lá ruột lớn có tên Fasciolopsis buski. Việc ăn rau muống còn sống hoặc chưa được nấu chín kỹ có thể là con đường đưa loại sán này xâm nhập vào cơ thể người.
Loại ký sinh trùng này khi xâm nhập vào cơ thể người có thể bám vào thành ruột, gây ra các chứng khó tiêu, dị ứng, đau bụng...
Không dừng lại ở đó, ký sinh trùng Fasciolopsis buski còn có thể chui vào máu, theo đường máu di chuyển đến tất cả các bộ phận cơ thể. Sau 1 thời gian, trứng sẽ nở và trở thành sán trưởng thành, gây ra các bệnh mạn tính ở túi mật, vỡ gan, xơ gan, suy gan...
Nếu không được phát hiện kịp thời, loại ký sinh trùng này có thể gây ra những biến chứng nặng dẫn tới tử vong cho người mắc bệnh.
Ăn rau muống trái mùa
Ngày nay, khi trồng rau muống các chủ ruộng đã không màng nguy cơ mà sử dụng các loại thuốc kích thích, thuốc trừ sâu, thu hoạch rau không đúng hạn để đem bán ra thị trường nhằm kiếm lời.
Vì vậy, ăn rau muống trái mùa thường không an toàn bởi lượng thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng trong rau nhiều hơn, từ đó nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
Ăn rau muống cần hết sức lưu ý Theo BS. Bạch Mai, thuộc Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, cho biết bản thân rau muống cũng chứa nhiều vitamin và khoáng chất như chất xơ, protein, canxi, sắt, vitamin A và vitamin C, threonin, valin, leucin... Đây là những axit amin cần thiết cho cơ thể, tốt cho những người ốm dậy, kém ăn, thiếu chất đạm. Nó cũng giúp mọi người phòng và hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường .
Nguồn sắt dồi dào trong rau muống là nguồn thực phẩm xanh hữu hiệu cho sức khỏe cũng những người mắc bệnh thiếu máu và phụ nữ mang thai . Bên cạnh đó, rau muống còn có tác dụng nhuận tràng, kích thích tiêu hóa, hiệu quả với người bị táo bón. Theo Đông y, rau muống có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, nhuận tràng, chữa rôm sảy, mụn nhọt…
Tuy nhiên chúng ta không nên ăn sống rau muống hoặc ăn khi rau chưa chín kĩ bởi người ăn có thể bị đầy bụng, dị ứng hoặc đau bụng. Nguyên nhân là do trong rau muống có một loại kí sinh trùng sán lá ruột lớn có tên khoa học Fasciolopsis buski, chúng có rất nhiều trong loại rau sống ở thủy sinh trong đó có rau muống. Khi vào cơ thể người, trứng sán Fasciolopsis buski nở và phát triển, gây ra những cơn đau bụng nhẹ và triệu chứng tiêu chảy, dị ứng hoặc còn gây ra các bệnh mạn tính ở túi mật, vỡ gan, xơ gan, suy gan... Do đó, tốt nhất là phòng nhiễm sán bằng cách không ăn rau muống sống.
Theo Phunutoday

FM 974: Bắc Hàn: Con Đường Thoát Duy Nhất Là Tin Vào Chúa



Chuyện Thế Giới Trong Tuần

    Lần đầu Joseph Kim, nghe đến mấy chữ “Tin Lành” hay “ Nhà Thờ”, anh không biết nó có nghĩa gì, Kim chưa bao giờ thấy nhà thờ, tín đồ Tin Lành là cái gì đó lạ lùng đối với anh trong suốt những năm đói kéo dài trên đất Bắc Hàn, lạ như vườn thiên đàng Disneyland mà hàng triệu triệu người mơ có ngày được tới đó.
    
     Một người bạn cùng trang lứa, bảo với Kim, “nếu anh qua tới được đất Trung cộng thì nhà thờ Tin Lành sẽ cho anh một số tiền”, Kim ngớ ngẩn hỏi lại “nhà thờ là cái quái gì, tại sao họ lại phải cho mình tiền”, Jin đáp ngay “bởi vì họ là những người theo đạo Tin Lành, con chiên của Chúa Giê-Su”. Sinh ra năm 1990, niềm tin duy nhất mà nó có từ đó đến nay, tôn thờ ngài Đại lãnh tụ”, ngay từ lớp mẫu giáo, Kim được dạy về quyền năng tối thượng của Kim Il Sung, vị lảnh tụ tối cao của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều tiên, anh cũng học thêm rằng, nhà độc tài này, là người thông minh nhất trên thế giới và có thể bay khắp cùng đất Bắc hàn nhìn xem tất cả trẻ con thương yêu của ngài.  Nếu với quyền phép của đại lảnh tụ, không có một con người theo Tin Lành hay bất cứ một tổ chức tôn giáo nào khác trong đầu óc non dại của mình, thì cái vật quan trọng nhất mà anh ta không quên được là đồng tiền. Nạn đói khủng khiếp xãy ra ở Bắc hàn khi Kim mới vừa lên năm tuổi, nó đã giết chết cả hàng triệu người và nó đã làm cho Kim trở thành một đứa trẻ mồ côi, cha Kim chết vì cơn bệnh do đói mà ra, mẹ Kim cuối cùng vào tù và chị anh có lẽ đã bị bán sang Trung cộng làm vợ cho ai đó. Kim đã phải ăn cây cỏ dại, lá dâu, ốc sên và châu chấu, trộm cắp và nhập bầy với các nhóm băng đảng cướp giựt vô gia cư có tên tự gọi là “băng huynh đệ”.
    Năm 2006, 16 tuổi, Kim quyết định tìm đường bỏ đi từ quê nhà, thị trấn Hoeryong, ở phía bắc Bắc hàn, vượt qua sông Tumen vào đất Trung cộng. Kim nhớ lại những gì bạn anh đã nói về chuyện nhà thờ cho tiền, nhưng vì đói khát, Kim lẩn quẩn đi đến gỏ cửa nhà xung quanh đó xin thức ăn, tới nhà một bà người Hoa lớn tuổi, bà bảo Kim “phải đi đến nhà thờ Tin Lành”, nơi có cột treo cái Thánh giá, anh tìm đến một số nhà thờ trong vùng thành phố Tumen, thành phố của Trung cộng, nơi nằm cận biên giới với Bắc hàn, qua đó, họ giới thiệu Kim cho một nhóm người Tin Lành Trung cộng-Triều tiên, là những người đã cứu sống mình. Trong buổi phỏng vấn của báo chí tại Nữu Ước, nơi Kim đang sống, anh cho biết “nếu không có việc này xãy ra, anh thật sự không biết còn đường nào khác để sống còn, không có bà con hay bạn bè ở Trung cộng thì anh làm sao đây, theo họ, nhà thờ Tin Lành là hy vọng duy nhất mà anh có”.
    Lúc đó, Kim chưa biết rằng, sự liên hệ của mình với nhà thờ Tin Lành có nghĩa là, anh đã can dự vào hoạt động của mạng lưới bí mật hậu thuẩn nguy hiểm nhất cho người Bắc hàn đào thoát hiện đang sống trốn lánh bên trong đất Trung cộng. Trường hợp của Kim, anh được ẩn náu trong nhà của một người đàn bà Trung hoa gốc Triều tiên, tuổi hơn 75, mà Kim gọi là “bà ngoại”, bà là một người sùng đạo, là thành viên của một nhà thờ Đại Hàn, nhà thờ này trả một phần tiền thuê mướn nhà và tiền ăn uống chi phí chăm sóc những người Bắc hàn đào thoát, đây là một việc làm nguy hiểm, nếu bà bị bắt là đã che giấu Kim, bà sẽ bị chính quyền Trung cộng phạt ít nhất 5000 đồng nhân dân tệ (khoảng 1000 mỹ kim), đó là một số tiền quá to lớn đối với bà, nếu Kim bị bắt, anh bị tống xuất về Bắc hàn nơi anh sẽ chịu hình phạt nặng nề, vì có liên hệ với nhà thờ Tin Lành, xử tử là chuyện có thể nhưng chắc chắn một điều trước mắt là Kim sẽ bị tống vào trại lao động khổ sai. Nhà ở, cơm ăn, áo mặc mà Kim nhận được từ “bà ngoại” và nhà thờ Tin Lành của bà không chỉ là những thứ duy nhất mà Kim có, bên cạnh đó, như một sự đền trả, nhà thờ muốn Kim theo đạo, muốn tin vào Chúa, Kim đã học đạo, đọc thánh kinh và “bà ngoại’ đã dẫn Kim đi lễ tại một nhà thờ kín.    
    Khi thoát qua đất Trung cộng, trong những ngày đầu, Kim xem mình không khác gì một con thú, cần phải cắn xé cái gì đó ăn cho bằng được, không có cái gì khác, điều mà anh lo ngại là phải tìm thức ăn, nếu không có chuyện đó thì anh sẽ chết, cho nên đạo đức không có nghĩa gì cả, với Kim, nó chỉ là một danh từ rỗng tếch. Kim nhìn nhận lúc đầu, điều anh thích thú là những gì mà hội thánh, nhà thờ Tin lành cho anh, thế thôi, không có một cảm tưởng gì thêm nữa, dần dà, Kim tự nhiên cảm thấy những bài giảng có vẻ hay và bắt đầu suy nghĩ về tôn giáo. Sự hy sinh của “bà ngoại” cho mình và các người tín đồ địa phương so với những gì Kim đọc được từ kinh thánh đã làm cho anh hiểu ra chân lý và giá trị của đời sống hiện tại, những gian nan nguy hiểm mà “bà ngoại” mang lấy, Kim thấy không khác gì sự hy sinh của Chúa, từ đó Kim muốn tìm hiểu nhiều hơn. Nhưng có một đòi hỏi khác mà Kim phải hy sinh mà anh khó lòng chấp nhận, trong thời gian đầu liên hệ với nhà thờ Tin Lành ở Trung cộng, Kim được bảo là đổi tên sinh ra của mình, Kwang Jin thành tên thánh Joseph Kim, anh kinh ngạc và chống đối dữ dội, anh đã chịu mất tất cả, để sống còn, quên tự ái, không cha mẹ, không quá khứ, còn mỗi cái tên để xác định ra mình, giờ cũng bị chịu mất luôn nữa sao.
    Sau khoảng ba tháng sống dưới sự che chỡ của “bà ngoại”, Kim được giới thiệu cho một nhóm phi-tôn giáo có tên “Tự do tại Bắc Hàn –LiNK”, chuyên giúp đở những người Bắc hàn đào thoát đang lẩn trốn tại Trung cộng tìm cách xin đi tỵ nạn. Tổ chức LiNK này đưa Kim đến tòa lảnh sự Hoa kỳ tại thành phố Shenyang và sau bốn tháng ở đó Kim được đến Mỹ định cư, nơi anh đã sống hơn tám năm nay. Ngày nay, Kim đang chuẩn bị ghi danh học đại học Bard, Nữu Ước, về nghành khoa học chính trị, Kim miêu tả mình là một tín đồ Tin Lành, và thuộc họ đạo của nhà thờ Đại Hàn ở Brooklyn, Kim cho mình không phải là một tín đồ Tin lành lý tưởng nhưng anh là một tín đồ Tin lành không hơn không kém. Kim cũng nhìn nhận, anh không cảm thấy thật sự bắt buộc phải theo đạo nhưng trên thực tế, anh không có một sự lựa chọn nào khác, và cũng không có ai bảo Kim là, anh không cần phải trở thành tín đồ Tin lành mới được giúp đở, đối với những người Bắc hàn đào thoát, nhà thờ đã nói rõ, tùy vào họ, dù theo hay không theo đạo Tin lành, nhà thờ vẫn giúp họ như nhau. Riêng Kim, câu hỏi lớn vẫn lởn vởn trong đầu mình là, có thể nào đạo Tin lành là một hình thức mới của chủ thuyết chính trị nào đó, ngay cả không ai buộc Kim phải theo đạo nhưng, Kim tự chịu áp lực trong lòng mình, nếu Kim không tin vào Chúa, họ có còn tiếp tục trơ giúp mình không.
   
    Cho đến bây giờ Kim vẫn còn lấn cấn với ý nghỉ đó nhưng Kim tiếp tục tạ ơn sự hy sinh của “bà ngoại Tin lành” cho anh được sống còn và có được ngày hôm nay, Kim rất tiếc là không thể liên lạc với bà kể từ ngày rời Trung cộng, để nói lời cám ơn, và dù có nghĩ gì đi nữa thì, cũng có một lần nhờ tin vào Chúa, mà Kim đã bình an trên con đường vượt thoát khỏi địa ngục Bắc hàn.
   
       
Thuyên Huy
FM974 - Melbourne.
(ảnh:từ Zing: sông Đồ Môn,Biên giới giữa Nga, Triều Tiên và Trung Quốc)

Viết Nhân Ngày Chị NTL . Tạ Thế (01/11/2015)


Thế là chị đã ra đi không bao giờ trở lại...
Xét theo lẽ Trời...Mọi thứ có sinh thì có diệt. và Mọi thứ đều nằm trong quỷ đạo của Đất Trời .Nhưng với chị em mình ,thời gian qua có nhiều kỷ niệm mà mỗi lần nhớ lại thấy ngậm ngùi ,mắt rưng rưng...
Những ngày đầu gặp chị,cũng rất bình thường như bao người khác nhưng trong em có một chút áy náy về cư xử thế nào cho phải  phép chị chồng,em dâu...Lần lần,những ngăn cách tan dần.
Thật ngạc nhiên là chị có thể nói chuyện bình thường với người Hoa và Mỷ và tài nấu ăn đáng nễ.Em tưởng là chị phải học cao lắm nhưng nhìn chữ viết mới biết
Thì ra  ,đó là kinh nghiệm của một quảng đời thiếu nữ cơ cực.Từ thôn quê lên thành phố,vào làm cho người Hoa,học tiếng,học những bí quyết nấu ăn của họ.Thời Mỷ qua,Mỷ trả lương cao cho đầu bếp.Thông minh,chị đã nói rất thạo tiếng Mỷ và tìm được việc làm có thu nhập rất tốt..
Những đứa con lớn lên đều được  học hành tới nơi tới chốn mà không phải bất cứ đứa trẻ nào từ những gia đình bình thường hay giàu có với đầy đủ cha mẹ có được ..Vất vả là thế nhưng chị cũng không quên bổn phận với cha mẹ và cả anh em nữa
Năm 1977,em mang 6 đứa con từ Tây Ninh lên thành phố với 2 bàn tay trắng...Ngày đó,mọi thứ đều đắt đỏ và khan hiếm..Những đứa trẻ (lớn nhất học lớp 6,nhỏ còn uống nước cơm) luôn thèm thịt.hủ tiếu,cá...những thức ăn có đạm.
Hàng  nhu yếu phẩm bấy giờ phân theo tiêu chuẩn,400g/thịt/tháng..Mẹ phải luôn lấy mở  (được thêm 2,300g..) về rán để bữa sau con ăn dần.Môt hôm em chị nói với em rằng có vợ chồng bà hủ tiếu người Hoa (bán ngay trên lề đường trước ki-ốt may của của chị) thường đổ bỏ nước lèo hủ tiếu bán ế rất ngon,em có xin không ?.
Từ đó,mỗi ngày chị lấy nước lèo dư mỗi ngày  bỏ trong 1 cái xô nhôm,em móc sau ba-ga xe đạp  đem về nấu canh, mì gói,chan cơm cho lủ trẻ ăn bớt tiền mua thức ăn.Khi chị bán hủ tiếu có cần may vá gì thì chị làm dùm không tính tiền
Nhờ vậy mà trôi qua được những tháng ngày đói kém..và chỉ ngưng lại  khi đường Hải Thượng Lản Ông  bị giải tỏa.

Nhắc lai chuyện xưa.,chị cứ tiếc là sau nầy ko biết 2 vợ chồng người Tàu đó đi đâu,nghe nói dọn qua quận 8 mà tội cho bà vợ,quá hiền,luôn bị chồng ăn hiếp
.Em luôn học tấm gương của chị:..Dù thời cuộc và cũng có nhiều điều xảy ra ko như mình mong muốn  ....
Thời gian sau con cái chị  ổn định ,chị tu tại gia  và thường hay làm từ thiện giúp đở người khác...
Chị nói: Chị em mình không có duyên là Chị dâu em chồng thì em coi như là Em Gái chị.
Chị ơi với tấm lòng thành,em xin bày tỏ lòng biết ơn với người mang đến cho em nhiều bài học quí giá về thực tế cuộc sống..
Cầu nguyện cho  hương hồn chị  PHIÊU DiÊU MiỀN CỰC LẠC...
 

Ngày chị  Diệu Hoa Nguyễn thị Liêng mất-1/11/2015


GIẤC MƠ EM - Thơ Sông Trăng



Giấc mơ em một thời thiếu nữ
Có vầng trăng mờ lối, sương rơi
Con bạch mã rời miền hoang mạc
Mang chàng Hoàng Tử đến bên đời

Nhớ giấc mơ ngày xưa, thức giấc
Bóng người còn quanh quất bên em
Vòng tay người đong đầy hơi ấm
Hồn chênh chao rung động ướt mềm

Trăng lung linh trăng chiếu bên thềm
Sương long lanh sương mờ hư ảo
Tiếng lao xao tiếng người huyên náo
Tình yêu anh tình yêu cho em

Giấc mơ em một thời Công Chúa
Thuở hồn nhiên mộng ước đêm xuân
Xe tứ mã chờ anh đến rước
Ta yêu nhau chẳng chút ngại ngần

Giấc mơ em, giấc mơ có thật
Mãi một đời cứ ngỡ là mơ
Tình yêu anh, tình yêu bất tận
Em yêu anh, yêu rất tình cờ

1 thg 11, 2015

8 cách để bạn vượt qua bế tắc của cuộc sống - (từ Vietnamnet)

Trong cuộc sống sẽ có lúc bạn cảm thấy tuyệt vọng và bế tắc. 8 điều dưới đây sẽ khiến bạn lấy lại được tinh thần nếu rơi vào tình trạng khủng hoảng đó.
cuộc sống, bế tắc, kỹ năng sống

1. Không ai khôn lớn mà chưa từng trải qua nỗi đau
Đôi khi cuộc sống đóng một cánh cửa lại vì đó là lúc để cho bạn tiến về phía trước. Gặp khó khăn không có nghĩa là bạn đang thất bại.
Hãy nhớ rằng nỗi đau có hai loại: loại làm bạn tổn thương và loại khiến bạn thay đổi. Thay vì kháng cự hai loại nỗi đau này, hãy chấp nhận chúng vì chúng đều khiến bạn trưởng thành hơn.
2. Tất cả mọi thứ trong cuộc sống chỉ là tạm thời
Trời mưa rồi cũng sẽ tạnh. Vết thương rồi cũng sẽ được chữa lành. Sau màn đêm tăm tối là ánh sáng của buổi bình minh. Không có gì kéo dài mãi mãi cả.
Mỗi khoảnh khắc đều mang lại cho bạn một khởi đầu mới và một kết thúc mới. Mỗi giây trôi qua bạn lại có một cơ hội mới. Bạn chỉ cần nắm bắt cơ hội đó và tận dụng nó.
3. Lo lắng và phàn nàn cũng không thay đổi được gì
Những người hay phàn nàn là những người ít được việc nhất. Bạn có dành cả ngày hôm nay để than vãn về ngày hôm qua thì ngày mai của bạn cũng không khởi sắc được. Thay vào đó hãy bắt tay hành động.
4. Vết sẹo của bạn là biểu tượng của sức mạnh
Một vết sẹo có nghĩa là một nỗi đau qua đi và vết thương đã lành. Nó có nghĩa là bạn đã chinh phục nỗi đau, đã học được một bài học, lớn mạnh hơn, và tiến về phía trước.
Hãy bắt đầu xem những vết sẹo của bạn như là một dấu hiệu của sức mạnh chứ không phải là dấu vết của những nỗi đau.
5. Cuộc đời là một chuỗi những cuộc đấu tranh
Kiên nhẫn không phải là chờ đợi mà là khả năng duy trì một thái độ tích cực trong khi theo đuổi giấc mơ.
Bạn có thể mất đi sự ổn định và thoải mái trong một thời gian dài, thậm chí là “ăn không ngon, ngủ không yên ”. Bạn có thể phải hy sinh các mối quan hệ và tất cả những gì thân thuộc.
Đôi khi bạn phải chấp nhận sự chế giễu từ người khác. Nhưng rồi bạn sẽ nhận ra rằng con đường của bạn được xây dựng nên từ những cuộc đấu tranh với những điều nhỏ nhặt nhất.
6. Bạn không cần phải để tâm đến sự tiêu cực của người khác
Khi xung quanh bạn tràn ngập sự tiêu cực, thì bạn hãy tỏ ra tích cực. Mỉm cười khi ai đó cố tình dìm bạn xuống.
Hãy luôn là chính mình dù ai đó đối xử với bạn tồi tệ. Đừng bao giờ để cho sự cay nghiệt của người khác thay đổi con người bạn. Người ta vẫn sẽ xì xầm về bạn cho dù bạn đã làm tốt như thế nào.
Vì vậy, hãy nghĩ về bản thân trước khi nghĩ về những gì đang diễn ra trong đầu người khác. Hãy làm những gì khiến bạn hạnh phúc và ở bên cạnh bất cứ ai làm cho bạn thường xuyên mỉm cười.
7. Chuyện gì cần đến sẽ đến
Hãy tận hưởng cuộc sống đang mở ra trước mắt bạn. Bạn có thể không đến được nơi mà bạn muốn, nhưng cuối cùng bạn sẽ chắc chắn đến được nơi mà bạn cần.
8. Điều tốt nhất bạn có thể làm là tiếp tục bước đi
Đừng ngần ngại nhận sự giúp đỡ từ ai đó. Đừng ngần ngại yêu thêm một lần nữa. Hãy tìm thấy động lực để cười mỗi ngày và làm cho người khác mỉm cười theo.
Hãy nhớ rằng bạn không cần nhiều người trong cuộc sống, mà chỉ cần một vài người thật sự quan trọng với bạn mà thôi. Chấp nhận khi bạn sai và học hỏi từ nó. Luôn luôn nhìn lại và xem bạn đã trưởng thành được bao nhiêu, và tự hào về chính mình.
(sưu tầm)

Hán Văn Giáo Khoa Thư và Viện Hán Học Huế - Nguyễn Công Thuần (k.3-VHH.Huế)

LỜI GIỚI THIỆU
Tôi còn nhớ, năm 1960, sau khi đỗ THĐIC, một hôm có người bạn thân, đưa tờ báo Tiếng Chuông, rủ tôi đi thi vào Viện Hán Học Huế. Tiêu chuẩn đào tạo và ra trường rất hấp dẫn. Má tôi nói: "Xứ Huế xa lắc, không có bà con, tau rất ái ngại, nhưng tùy con. Mầy đi Tây Ninh, mỗi tháng mỗi về mà tau còn nhớ, còn trông. Ra Huế, mỗi năm chỉ về nhà có 2 lần, ăn ở, đau bệnh, thiếu thốn...thì biết làm sao?". Má tôi lo như vậy cũng đúng. Vả lại, cảnh nhà khó khăn, Ba vừa mới mất... nên tôi trở lại trường cũ học một lèo ba năm nữa, sau đó, nối nghiệp phụ thân, ra trường làm giáo viên hạng A...cho đến ngày nghỉ hưu.
Quả đất thật tròn! Tôi không ngờ qua Chị Cảnh Tú, bình thơ chị Hải Vân rồi quen thân với chị Viễn Phương. Khi họp mặt bạn bè viết lách ở nhà chị Hòa, mới biết quê ngoại của chị ở Hiệp Hòa và nhất là chị là bà con cô cậu ruột với hai người bạn "nối khố" của tôi, là anh em ruột đã cùng tôi chia ngọt sẻ bùi khi học tại Tây Ninh: 2 bạn Tạo, Lập.
Như vậy từ chỗ thân quen, chị Viễn Phương, Cựu SV VHH Huế, đã trở thành một người bạn "tri âm" trong văn chương tự lúc nào...Viết mấy dòng nầy, chân thành hoài niệm và xin giới thiệu một bài viết  về "Hán Văn Giáo Khoa Thư và Viện Hán Học Huế                            (Blog:NganTrieu).
                                          (lễ Khai giảng(1961-62.LM Cao văn Luận đang đọc diễn văn)


Khi mới vào năm thứ nhất Viện Hán Học (niên khóa 1961 - 1962), ngoài việc học những bài trong sách Luận Ngữ với Linh mục Nguyễn Văn Thích, chúng tôi còn được các thầy Ngô Đình Nhuận và Châu Văn Liệu dạy cho những bài trong sách Học Chữ Hán của hai thầy Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao biên soạn. Lúc bấy giờ, tôi có nghe nói hai thầy Võ và Nguyễn còn đang biên soạn một bộ sách khác rất công phu, nhưng chưa thấy xuất bản. Đến giữa niên khóa 1964-1965 thì có tin Viện Hán Học giải tán, tôi chuyển qua học Đại Học Sư Phạm và học thêm ở Văn Khoa với các giáo trình khác.  Khi ra đời đi dạy, tôi chỉ vận dụng những kiến thức căn bản đã học được ở Viện Hán Học để tra cứu các từ điển chứ không không có thì giờ học thêm sách giáo khoa nữa. Vì thế tôi không biết sách của hai vị thầy ở Viện Hán Học trước xuất bản khi nào. Sau 1975, tôi chỉ dạy học vài năm, rồi nghỉ dạy vào Sài Gòn làm việc khác. Những khi rảnh rỗi, tôi thường đến các cửa hàng sách cũ lục tìm những sách cần thiết. Tại một tiệm bán sách cũ bên đường Điện Biên Phủ Q.I. Sài Gòn, tôi thấy quyển HÁN-VĂN GIÁO-KHOA THƯ (HVGKT) Tập I (Đệ thất - Đệ lục), Soạn giả: Võ Như Nguyện - Nguyễn Hồng Giao, in lần thứ nhất, 1965, Bộ Giáo Dục xuất bản.
                              (Hán Văn Giáo Khoa Thư Tập I- Bộ Giáo Dục xuất bản 1965)

Tôi liền mở ra xem. Trang đầu sách là Lời giới thiệu của L.M. Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế:
Bộ Văn Hóa Giáo Dục có ủy thác Viện Đại học Huế soạn thảo một bộ sách dạy Hán văn cho các lớp Trung học Đệ Nhất cấp. Mục đích của Bộ không phải chỉ để giúp ích riêng cho những học sinh theo đuổi Hán văn thuần túy mà còn cho tất cả học sinh nào muốn viết và nói tiếng Việt cho đúng. Hẳn ai cũng biết, muốn giỏi Việt văn cần phải am hiểu Hán văn, để trong khi viết và nói, khỏi bị lầm lẫn về từ ngữ. Sở dĩ trong sách, báo ta thường thấy những chữ dùng sai như “xán lạn” thì viết “sáng - lạng”, “tháp nhập” hóa thành “sát nhập”, “yếu - điểm” lẫn lộn với “nhược - điểm”, “tái nhóm” thay vì “tái hội”, v.v.. Đó là điều khiếm khuyết rất quan trọng mà chúng ta không thể nào bỏ qua được. Viện tôi đã giao việc soạn thảo bộ sách ấy cho hai giáo sư Viện Hán Học là Ông Võ Như Nguyện và Ông Nguyễn Hồng Giao. Hai ông không những là giáo sư giàu kinh nghiệm về việc dạy Hán Văn mà còn là tác giả những cuốn sách giáo khoa có giá trị về ngành này. Khi hoàn thành bản thảo (gồm 2 tập, tập I cho các lớp Đệ Thất và Đệ Lục, tập II cho các lớp Đệ Ngũ và Đệ Tứ) hai ông đưa cho tôi xem, tôi lấy làm vừa ý lắm. Sách soạn công phu và đạt được mục đích của Bộ đã đề ra, nghĩa là hai tác giả đã khéo chọn lựa những câu, những đoạn văn, trong đó những chữ Hán Việt đã giữ một vai trò quan trọng. Hiện nay, những sách dạy Anh văn, Pháp văn bán đầy dẫy các tiệm sách, nhưng sách dạy Hán Văn lại quá khan hiếm. Những học sinh nào muốn trau giồi thêm tiếng Việt Hán đã phải bối rối trong việc tìm kiếm sách học. Bộ sách giáo khoa Hán Văn của hai Ông Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao ra đời, tôi tin chắc sẽ đáp ứng được nhu cầu đã nói. Và tôi cũng trông mong các ông tiếp tục soạn thêm những sách khác cho các lớp trên.

Huế, ngày 14 tháng 1 năm 1964.
L.M. CAO VĂN LUẬN
Viện trưởng Viện Đại học Huế


Tiếp theo là bài Tựa của thầy Phan Văn Dật, Giám Học Viện Hán Học Huế: Theo chương trình cải tổ của Bộ Văn Hóa Giáo Dục, “phần Hán Tự trong chương trình không phải là một phần biệt lập mà là một phần có quan hệ mật thiết với phần Việt Văn Môn học Hán Tự nhằm mục đích gây cho học sinh một căn bản tri thức Hán Việt cần yếu cho việc trau giồi Việt Văn và để cho học sinh có thể thưởng thức được cổ văn Việt Nam với cái phong vị đặc biệt kỳ thú của nó để duy trì những giá trị cổ truyền của dân tộc.”  Phần cuối chương trình còn nói thêm rằng “trong khi chờ đợi đủ sách giáo khoa và giáo sư phụ trách, giờ Hán Tự sẽ được thay thế bằng giờ dạy các thành ngữ Hán Việt.”  Trong năm 1959, hai ông Võ Như Nguyện và Song Anh Nguyễn Hồng Giao có soạn thảo và cho xuất bản quyển “Học Chữ Hán” bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp, tập I theo đường lối và dụng ý nói trên của Bộ. Từ ba năm nay, quyển sách ấy đã giúp rất nhiều cho các học sinh trong giờ Hán tự. Sách ấy cũng chỉ mới ra tập đầu, chỉ vừa dùng cho một lớp Đệ Thất. Cách đây không lâu, trong một tư văn đề ngày 13 tháng 12 năm 1960, gởi cho Linh mục Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, Ông Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục có nhã ý nhờ Linh Mục Viện Trưởng giao cho các giáo sư Viện Hán Học soạn thảo một bộ sách giáo khoa Hán Tự và Hán Văn
theo đúng tinh thần của chương trình 1959.  Hai ông Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao hiện nay lại đều là giảng viên Hán Văn của Viện Hán Học nên hai ông đã sốt sắng đảm nhiệm công việc này. Sẵn có kinh nghiệm khi biên soạn sách “HỌC CHỮ HÁN” cũng như mấy năm đã từng giảng huấn ở Viện Hán Học, hai ông bắt tay ngay vào việc và ra công soạn nên bộ “SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN” gồm hai tập, tập I cho các lớp Đệ Thất, Đệ Lục và tập II cho các lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ. Bộ sách sau này dày gấp bốn quyển “HỌC CHỮ HÁN” và riêng cho mỗi năm số bài soạn có phần nhiều hơn số bài cần thiết cho cả niên khóa, để học sinh có bài học thêm ngoài những bài đã dạy ở lớp và cho quý vị giáo sư có thể tùy nghi lựa chọn. Sách soạn rất công phu và có phương pháp, bắt đầu giảng về cách cấu tạo chữ Hán, phép lục thư, cách tập viết và tính nét, thứ tự các bộ phận trong chữ v.v. Học xong phần đầu nầy, học sinh đã có một ý niệm khái quát về môn học chữ Hán. Từ bài thứ nhất trở đi mới giảng về ngữ vựng, theo lối tiệm tiến, từ dễ tới khó, trong phần nầy có giải nghĩa rõ ràng về cách phối hợp các loại chữ với nhau, văn phạm, từ ngữ, thành ngữ, những chữ đồng căn, đồng nghĩa, hoặc đồng âm dị nghĩa, cách đặt câu, cách dùng hư tự, v.v. và cuối mỗi bài lại có một bài tập. Những thơ văn trích giảng đều được chọn lọc kỹ càng và đều có thể bồi dưỡng cho sự hiểu biết của học sinh về phương diện nào đó. Thỉnh thoảng ta lại tìm thấy một vài giai thoại hay một cuộc so sánh hứng thú làm cho bài học không bao giờ có vẻ khô khan. Với cách trình bày như vậy, học sinh có lẽ không bao giờ đến nỗi nhàm chán và sợ môn Hán tự; ở đâu họ cũng gặp những chữ thường nghe, thường nói, nhưng chưa hiểu được một cách minh xác tường tận. Người học chỉ cần nhận kỹ những điều giảng giải và chỉ dùng trí nhớ về chữ viết thôi. Học hết bộ nầy có thể nói rằng học sinh sẽ biết dùng một cách chắc chắn đa số danh từ Hán -Việt thường gặp trong các sách báo ngày nay. Quý vị giáo sư dạy về môn quốc văn đã phải nhiều phen phàn nàn rằng học sinh lúc nầy dùng chữ sai lầm, cẩu thả, đại để “ngoan cố” hiểu ra “ngoan ngoãn”, “bộc phát” hiểu ra là “bộc lộ” hoặc chưa phân biệt được “công dụng” với “công hiệu”, “tác dụng” với “tác động”, thậm chí dùng lầm “thân chinh” cho “thân hành”, như nói “ông thân chinh ra phố mua hàng”, v.v. những lối dùng chữ sai lạc như trên không thể nào kể hết được. Đó là chưa nói học sinh Trung - Nam vì phát âm không đúng, hay dùng lẫn lộn “bàn hoàn” với “bàng hoàng”, “bàng quan” với “bàng quang” v.v. Trong các giờ giảng văn, nhiều khi giáo sư cũng phải sửng sốt nghe học sinh giảng nghĩa các từ ngữ một cách không ngờ. Cứ cái đà ấy thì sự học quốc văn không khéo sẽ lâm vào một tình trạng rất hỗn độn. Vì những lẽ trên, chúng tôi nhận thấy quyển sách nầy ra đời rất nhằm lúc và sẽ đỡ nhiều khó nhọc cho quý vị giáo sư quốc văn. Nó cũng giải thuyết được một phần nào sự thiếu thốn sách giáo khoa về môn Hán tự. Tuy nhiên, vì sách được soạn thảo trong một thời gian gấp rút để kịp cung ứng cho học sinh một khóa bản sẵn có dưới tay, nên thế nào cũng không tránh được ít nhiều khuyết điểm, những khuyết điểm ấy chỉ khi đem dùng mới thấy. Nếu đợi cho được hoàn toàn, có lẽ còn phải lâu lắm; cứ như vậy, chúng tôi tưởng bộ “SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN” nầy cũng là một cố gắng đáng khen ngợi và khuyến khích.

PHAN VĂN DẬT
Giám học Viện Hán Học Huế.

Sách chỉ có Tập I chứ không có Tập II, nhưng tôi vẫn mua để lưu lại một di vật của các thầy thời Hán Học và cũng là kỷ niệm về trường xưa.  Sau đó, tôi đến nhiều tiệm khác để tìm tập II cho đủ bộ mà không có. Tình cờ một hôm ghé tiệm sách quen ở đường Lý Chánh Thắng, Q.3, người chủ tiệm khoe mới mua được cả bộ hai quyển HVGKT. Tôi mở xem thì thấy trang đầu cả hai tập đều ghi: Trung tâm Học liệu - Bộ Giáo Dục xuất
bản. Tập I : Lớp sáu - Lớp bảy, In lần thứ nhất, 1965, 2000 quyển (đó là quyển sách tôi đã mua); in lần thứ 2, 1972, 5000 quyển; Tập II, Lớp tám - Lớp chín, in lần thứ nhất, 1972, 5000 quyển. Phía dưới, cả hai tập đều ghi Hội Đồng Duyệt gồm: Bửu Cầm - Thuyết trình viên; Thẩm Quýnh - Hội viên; Nghiêm Toản - Hội viên. (Điều này ở Tập I tôi đã mua trước thì không có). Tiếp đó, cả hai tập đều có in Lời Giới Thiệu của Linh mục Cao Văn Luận và lời Tựa của thầy Phan Văn Dật. 
             (Sách HVGKT I & II do Trung Tâm Học Liệu xuất bản)

Sách này thuộc loại bán giá cao nên tôi nhờ chủ tiệm phô-tô cho một bản Tập II rồi trả tiền theo giá “hữu nghị” như một vài bộ sách đắc giá trước đây tôi đã từng mua tại tiệm này. Nhưng lần này chủ tiệm bảo: Ông cứ đem về phô - tô vài ba hôm rồi trả cho tôi cũng được. Tôi liền đem về tiệm quen hối phô - tô gấp rồi chưa hết ngày đã đem trả lại và chủ tiệm cũng không lấy đồng nào. Thế là tôi đã có được đủ bộ một di vật về thầy xưa trường cũ. Sau khi có đủ bộ, thỉnh thoảng tôi mở ra xem, mỗi lần vài ba bài. Tôi nhận thấy các thầy biên soạn rất công phu và khoa học. Sách đi từ dễ đến nâng cao nên những người đã học được ít nhiều như tôi cũng có thể dựa vào đó để củng cố lại căn bản Hán Văn của mình. Có lẽ cũng vì thế nên từ năm 1997 đến nay, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã in lại bộ sách này 3 lần: Năm 1997 in trọn bộ, chia thành 2 quyển như sách của Trung Tâm Học Liệu trước; về sau, năm 2009 và 2013 mỗi lần cũng in trọn bộ nhưng dồn chung 01 quyển 832 trang. Các sách này đều không có Lời Giới Thiệu, bài Tựa, và phần Phàm lệ như sách của Trung tâm Học liệu trước, còn nội dung thì mỗi bài cũng đủ các mục nhưng tôi chưa đối chiếu chi tiết. Tôi nêu lên việc sách HVGKT do Trung Tâm Học Liệu xuất bản trước đã trở thành quí hiếm và việc Nhà xuất bản Đà Nẵng về sau đã nhiều lần in lại bộ sách ấy mà vẫn bán chạy là để chia sẻ niềm tự hào cùng các bạn đồng môn xưa về giá trị của một công trình có thể nói là “vượt thời gian” của các thầy chúng ta trước đây nửa thế kỷ. 
             (Sách HVGKT I & II - Nhà Xuất bản Đà Nẵng)

Mỗi lần cầm quyển sách đọc vài bài, tôi đều lướt qua một đoạn trong lời tựa và mường tượng như nghe thầy Dật nói chuyện ngày xưa. Qua mỗi bài học, tâm trí tôi lại hình dung cả dáng điệu và giọng nói của các thầy khi giảng bài thuở trước; đọc mấy bài văn vần cụ Hồ Đắc Định dịch thơ chữ Hán, tôi như còn nghe rõ giọng cụ ngâm thơ trong lớp ngày xưa. Ngoài ra, khi tra cứu những quyển trong bộ Tứ Thư, tôi cũng thường nhớ lại giọng ngâm bài “Xuân du phương thảo địa” của Linh mục Nguyễn Văn Thích; nhớ cụ Hà Ngại luôn luôn nghiêm chỉnh trọng bộ quốc phục áo dài khăn đóng; đọc những sách của Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam tôi lại nhớ đến thầy Nguyễn Duy Bột hiền lành và tận tụy.  Qua những mốc thời gian ghi trong Lời Giới Thiệu của Linh Mục Viện Trưởng và bài Tựa của thầy Phan Văn Dật, kết hợp với tài liệu của anh Lý Văn Nghiên ghi trong bài viết ở Đặc San kỷ niệm 50 năm thành lập Viện Hán học Huế 1959  – 2009, tôi nhận ra việc biên soạn sách của hai thầy Võ Như Nguyện và Nguyễn Hồng Giao rất phù hợp với mục tiêu và quy trình đào tạo sinh viên Viện Hán học:

1. Sắc lệnh 389-GD thành lập Viện Hán học của Tổng thống ban hành ngày 18/10/1959. Tiếp theo là Nghị định tổ chức số 1505- GD của Bộ trưởng QGGD ban hành ngày 9 /12/
1959. Điều 27 của Nghị định này quy định rằng những sinh viên tốt nghiệp có thể được bổ dụng vào các chức vụ sau đây với chỉ số lương 370:
- Chuyên viên các tòa đại sứ ở các nước Đông Nam Á.
- Chuyên viên tại các viện khảo cổ.
- Giáo sư Trung học đệ nhất cấp ngành Hán học.
Căn cứ Sắc lệnh và Nghị định trên, Viện Hán Học đã được thành lập và nhanh chóng tổ chức thi tuyển khóa 1 vào ngày 25/12/1959, khai giảng vào ngày 4/1/1960.

2. Sau đó, ngày 13/12/1960, Bộ trưởng Giáo dục đã ủy thác Viện Đại Học Huế soạn thảo bộ sách dạy Hán Văn cho các lớp Trung học đệ nhất cấp (theo tinh thần của chương trình 1959). LM Viện Trưởng bèn giao cho hai Giáo sư Viện Hán Học là thầy Võ Như Nguyện và thầy Nguyễn Hồng Giao thực hiện công trình này.

3. Cuối năm 1963, hai vị G.S của Viện Hán Học đã hoàn thành việc biên soạn bộ sách ấy nên sau khi bị bãi chức trở về nhận lại nhiệm vụ cũ, ngày 14/1/1964 LM Viện Trưởng mới viết Lời Giới Thiệu để chuyển giao bộ sách ấy cho Bộ Giáo Dục. Và Bộ Giáo Dục đã tiến hành in đợt đầu 2000 quyển để sử dụng.

4. Về chất lượng của bộ sách thì ngoài những nhận xét của LM Viện Trưởng Viện Đại Học Huế và thầy Giám Học Viện Hán Học còn có Hội Đồng Duyệt xét gồm những vị Giáo Sư chuyên ngành rất uy tín đã tán đồng, nên Trung Tâm Học Liệu trước đây mới in cả vạn quyển và đến bây giờ sách vẫn còn được tiếp tục xuất bản. Như vậy là việc biên soạn bộ sách HVGKT rất phù hợp với quy trình đào tạo của Viện Hán Học, là từ năm 1964 về sau, mỗi năm đều có sinh viên Viện Hán Học tốt nghiệp ra trường để giảng dạy Hán Văn tại các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp một cách bài bản theo sách giáo khoa đã soạn. Thế nhưng việc thành lập Viện Hán Học theo sắc lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và theo Nghị định của Bộ Giáo Dục, mà không có quy chế rõ ràng nên khóa đầu tiên tốt nghiệp đã không được bổ dụng và đương nhiên các khóa sau cũng chẳng hy vọng gì. Lúc bấy giờ, các quan chức đương quyền đều e ngại việc bảo vệ cho một quyết định của ông Ngô Đình Diệm. Ông Bùi Tường Huân, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, cũng cho rằng Viện Hán Học chỉ là một viện tô đẹp cho “mỹ ý” của Tổng Thống Diệm và đã trở thành gánh nặng dư thừa của Viện Đại Học Huế. Lãnh đạo Viện Hán Học là thầy Trần Điền đã vào Nha Bộ vận động cho việc tuyển dụng và duy trì Viện Hán Học nhưng chỉ đạt được kết quả là những lời hứa. Sau đó, toàn thể sinh viên Viện Hán Học đã lãn khóa và cử đoàn đại diện vào Sài Gòn trực tiếp yêu cầu Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục giải quyết việc bổ dụng sinh viên đã tốt nghiệp và bổ sung quy chế tuyển dụng các khóa sau. Khi ấy tôi cũng được cử vào đoàn đại diện. Nhưng khi vào đến Bộ Giáo Dục thì được biết ông Tổng Trưởng Phan Tấn Chức đang thu xếp mọi việc để bàn giao cho ông Tổng Trưởng mới là Nguyễn Văn Trường, nên phái đoàn chỉ được ông Đổng Lý Văn Phòng Bộ Giáo Dục tiếp kiến để ghi nhận nguyện vọng của sinh viên chứ không giải quyết được gì. Nhưng theo ông thì những nguyện vọng chúng tôi đã nêu rất khó được chấp thuận. Chúng tôi chỉ chờ đợi vài hôm chứ không thể ở lại lâu nên cuối cùng đã gởi lại bản kiến nghị nhờ ông Đổng Lý trình lên Tổng Trưởng mới. Trong thời gian ở lại, tôi và anh Lý Văn Nghiên có đến La-San Đức Minh ở đường Hiền Vưong thăm Linh Mục Cao Văn Luận và thưa với ngài về tình hình hiện tại của Viện Hán Học. Lúc ấy ngài không còn giữ nhiệm vụ gì ở ngành giáo dục, nhưng ngài nói ông Nguyễn Văn Trường sắp làm Tổng trưởng Bộ Giáo Dục trước kia là giáo sư của Viện Đại Học Huế, nên ngài sẽ đến nhờ ông tìm cách giải quyết cho sinh viên khỏi bị thiệt thòi. Chúng tôi trở về đem theo nỗi thất vọng cho toàn thể các bạn đồng môn. Sau đó, anh Lý Văn Nghiên với cương vị Chủ Tịch Ban Chấp Hành Sinh Viên Viện Hán Học đã tham khảo ý kiến nhiều giới chức và nhiều thành phần sinh viên của Viện nên đã phát động việc đấu tranh đòi Bộ Giáo Dục giải quyết quyền lợi của tất cả sinh viên Viện Hán Học một lần để sinh viên khỏi phải chờ đợi và chịu thiệt thòi thêm nữa. Bộ Giáo Dục đã chấp thuận và thực hiện đúng những điều khoản đã đề ra. Nhưng đó chỉ là biện pháp chữa cháy, vớt vát để khỏi quá thiệt thòi, chứ không phải là kết quả thỏa đáng. Nếu Bộ Giáo Dục chấp nhận biện pháp duy trì Viện Hán Học thì có khả năng đến nay viện đã phát triển thành một Trung Tâm Văn Hóa. Từ đó đến nay đã bao nhiêu năm danh hiệu Viện Hán Học chỉ còn trong hoài niệm của những cựu sinh viên và không bao lâu nữa thì chẳng còn ai để nhớ đến!
T.T.C
(Trích Đặc San 55 Năm Nhớ Lại của cựu sinh viên Viện Hán Học Huế biên soạn).
Lể Khai giảng NK 1960-61 tại Di luân Đường