19 thg 7, 2026

NỬA CHÉN CƠM TRẮNG (FB,Ghim Ho- SPSaigon )

 


Nửa chén cơm trắng.

Mẹ mất đã hơn hai mươi năm nhưng giờ đây tôi mới biết thêm một điều về mẹ. Nước mắt bỗng rưng rưng khi nghe được điều này từ một cô em họ.
Sau gần bốn mươi năm xa cách, một ngày giỗ gia đình tôi gặp lại em. Em đã có chồng, sống đầm ấm ở Hòa Lan với hai đứa con ngoan. Bằng giọng nói từ tốn, nhẹ nhàng em kể lại chuyện ngày xưa. Chuyện xa xưa nhưng đối với tôi là mới nguyên vì bây giờ mới kể.
Cha em là cậu tôi đi lính chết trận, mẹ em phát điên rồi cũng chết chìm ở một dòng sông quê Quãng Ngãi. Bầy con ba đứa tan đàn sẽ nghé, sống nhờ vào tình thương cô bác. Sau chiến tranh 30 tháng 4, em theo nội về Căm Xe sống với mẹ tôi. Em còn nhỏ, có lẽ vừa độ tuổi mẫu giáo. Không biết cha mẹ là ai, trong trí óc non nớt em chỉ nghĩ bà nội như là mẹ. Nội của em là ngoại của tôi.
Ở khu kinh tế mới của huyện Bình Long, Sông Bé ngày ấy. Sau chiến tranh là những ngày đói khổ. Người ta ăn cơm độn bằng nhiều thứ, khoai mì, khoai lang, lá mì, lá lang, củ nần…. Ngoại tôi người Quãng nên chủ trương trồng khoai lang. Theo lệnh của bà chúng tôi phải đắp đất lên giồng lang cao nghệu, cao hơn hẳn đầu gối nên lên giồng rất vất vả. Có lẽ nhà tôi là nơi duy nhất đã trồng lang chi ly thế. Những gia đình khác chỉ cắm mì hoặc dây lang vùi xuống đất là xong. Nhờ thế nên chúng tôi có dư khoai lang để ăn và bán cho hàng xóm. Tuy nhiên món ăn chánh vẫn là lá lang nấu với chút mắm ruốc, nước mắm là trái điều vắt nước, cho gia vị và nấu lên.
Mỗi sáng bọn tôi phải đi hái hơn một cần xé lá lang, cả lá non lẫn già về nấu lên ăn độn. Cứ mỗi bửa ăn là ba chén lá lang rồi mới được chén cơm trắng. Giữa khung cảnh thiên nhiên và tình cảm đầm ấm gia đình, tôi không quan tâm đến những vất vả trong cuộc sống. Mỗi ngày trôi qua là niềm vui với sự vô tư và thanh thản. Ngày làm rẫy, đêm về sinh hoạt thanh niên, cùng ca hát.
Gặp lại em, ôn chuyện ngày xưa tôi hiểu thêm về mẹ.
Em gọi mẹ tôi là cô hai. Em nhớ ơn cô hai và xem Nội và cô hai như hai người mẹ trong đời. Cô bé mồ côi khổ sở ngày xưa nay đã có cuộc sống ổn định ở Hòa Lan muốn tìm lại cô hai thì cô đã mất.
Ngày ấy mỗi buổi cơm, người lớn như tôi được ăn ba chén lá lang rồi mới được một chén cơm. Trẻ con chỉ được nửa chén cơm. Em bảo vì em không ăn được lá lang, cứ ăn vào là ói ra. Mỗi ngày cô hai phải lén đưa thêm cho em nửa chén cơm, không dám cho ai biết.
Một ngày, vì nhiều chuyện gia đình xảy ra, ngoại phải bỏ về Vũng Tàu sống với dì tôi. Ngoại định cho em ở lại nhưng cô hai đã nói với em. Cô rất thương em nhưng vì tương lai của em. Ở đây quá khổ và em không thể ăn lá lang. Cô muốn giúp em nhưng không thể che dấu cho em mãi được. Về Vũng Tàu em có thể sung sướng hơn.
Ngày nay nghĩ lại những tình cảm cô đã dành cho em, em vô cùng trân trọng chỉ tiếc là không có dịp đáp lại ân tình.
Nghe em kể, nước mắt bỗng tràn lên mi. Mẹ chết đi không có gì nhiều để lại cho con nhưng những mẫu chuyện nhỏ thế này làm tôi tràn ngập niềm hạnh phúc. Lúc còn sống bà là chổ dựa để tôi tìm về. Mỗi khi khổ sở tôi vẫn thấy bóng dáng bà đâu đó.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét