2 thg 7, 2026

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN Ky 1/7/2026 - Ngộ Kho6ngPhi Ngọc Hùng

                                    Chữ nghĩa làng văn 


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Đường thiên lý, đường cái quan 


Nhà Hồ làm đường thiên lý từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa (Quảng Trị và Huế) rồi cho đào kinh dẫn thủy nhập điền ở vùng này lập dinh điền sẵn...cho Nguyễn Hòang sau này.


Sau nhà Nguyễn lập lên đường cái quan (đường cho các quan vi hành) từ Quảng Trị tới Cà Mau.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Con hơn cha là nhà cãi lộn


Xe thổ mộ


Có một nhân vật (*) giải thích thổ là đất, mộ là nấm mộ, xe thổ mộ tức cái xe như nấm mộ lùm lùm chạy trên đường. Hay dân gian chửi đổng “ Mả cha mày chạy chứ mả ai chạy ! ”. 


Thứ từ nguyên học dân gian: Thổ mộ là cách đọc Việt hóa của từ t’ủ mỏ, tức độc mã (một ngựa) đọc theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông. Xe thổ mộ tức xe (một) ngựa. 


(Cao Tự Thanh)


(*) Nhà văn Bình Nguyên Lộc


Góp nhặt cát đá


Mộng


Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng
Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tình cơn mộng.


Câu đối


Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
Chưa ai đối được. 


Chỉ có một người đối tạm: Thằng mù nhìn thằng mù nhìn, thằng mù nhìn không nhìn thằng mù.

Gọi là đối tạm, vì đã là thằng mù thì còn nhìn sao được.


Lợn 


Lợn hạch (còn gọi là lợn dái hay lợn cà) là lợn đực nuôi để lấy giống. Lợn nái nuôi để cho đẻ con. 


Tự điển Khai Trí Tiến Đức có lợn cấn (được định nghĩa là lợn đực nuôi để làm giống). 

Theo Từ điển Hoàng Phê thì lợn cấn là lợn bột (lợn đã thiến hoạn, nuôi để lấy thịt). 


(Nguyễn Dư)


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...


Theo các tác giả Pháp là L.De Grammont và Baurac, các chiếc xe song mã sang trọng được đưa vào đất BìnhDương và miền Đông Nam bộ để phục vụcho một số quý tộc, quan lại Pháp vào nhữngnăm 90 thế kỷ XIX. Thấy loại xe này đẹpvà tiện dụng, người thợ Bình Dương vốnkhéo tay liền mô phỏng để chế tác ra chiếcxe thổ mộ. Việc mô phỏng này thành công dễ dàng,vì ở Bình Dương không chỉ có thợ mộc giỏimà còn có nhiều loại gỗ quý tốt cứng chắcđể làm xe. Lúc đầu trục xe, căm xe làm bằnggỗ cứng, về sau cải tiến làm bằng sắtdo các thợ rèn tài nghệ đảm nhiệm, nên xe càng chắcchắn di chuyển càng thêm dễ dàng. Từ chỗ thùng xeđóng không mui, sau cải tiến thành có mui che mưa nắngthêm tiện lợi. Ban đầu chưa có đèn chuông, vềsau có gắn đèn chai lồng và lục lạc đểbáo hiệu... 

Đặc biệt,khi hoàn chỉnh một chiếc xe, việc chọn giốngngựa ô, ngựa khỏe ở vùng Tân Sơn Nhất, Gò Vấp,Hóc Môn là một bổ sung rất quan trọng để chiếcxe thổ mộ được đưa ra sử dụng.Kiểu dáng, kích thước của chiếc xe thổ mộcó thể thay đổi cho thích hợp tùy theo công việc sửdụng, nhưng nói chung, vẫn luôn có sự cải tiếncho đẹp hơn, tiện dụng hơn. Kích cỡ xethổ mộ về sau dài và rộng hơn xe thờitrước.


Xe thổmộ có lợi thế là rẻ tiền, gọn nhẹ,đi lại được nhiều nơi có địahình phức tạp, nhất là phù hợp với sốđông người lao động thời bấy giờ.Nếu tính từ lúc ra đời, xe thổ mộ đấtThủ đã tồn tại trên 100 năm. Trướcnăm 1945, Bình Dương có rất nhiều xe ngựa, riêng tại chợ Thủ có 3 bến xe thổ mộ vớigần 50 chiếc. Tiền xe một người đi xấpxỉ tiền một tô hủ tiếu cho đoạn đường trung bình.


(Hiếu Học - Hoàng Anh)


Chữ nghĩa làng văn


Theo Hồ Quỳnh gia phả, Hồ Sĩ Anh đời Lê, hai người con là Hồ Thế Viêm và Hồ Phi Cơ. Nguyễn Huệ là cháu bốn đời của Hồ Thế ViêmHồ Xuân Hương là cháu bốn đời của Hồ Phi Cơ. Như vậy cả hai là anh em họ, cùng ông tổ năm đời của Hồ Sĩ Anh. Theo gia phả ông tổ dòng họ Hồ là Hồ Hưng Dật, di dân sang cổ Việt từ thời Ngũ Đại, vốn người Triết Giang, lập cư ở Nghệ An.


Đừng tưởng 


Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau


(Bùi Giáng)


image008

Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Qua kẽm trống

Hai bên thì núi, giữa thì sông,
Có phải đây là kẽm Trống không?
Gió đập cành cây khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
trong hang đá hơi còn hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại,
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.

Nhìn Bùi Giáng "đi vào cõi thơ"

Đi Vào Cõi Thơ, có thể xem đây là tập phê bình (nửa bình luận nửa nhận định) văn chương đặc trưng phong cách Bùi Giáng. 

Không khó đọc, như nhiều trang văn xuôi khác của ông. Nhà xuất bản An Tiêm, Paris, 1998, tái bản hai cuốn, mỗi cuốn trên dưới 160 trang, khổ thường, trình bày sang, trong sáng. Nhìn chung các bài đều ngắn, 2-3 trang, nhiều bài chỉ 5-6 câu, nửa trang. Ở cuốn Hai kích cỡ các bài khá đều; cuốn Một thì thất thường: những bài chỉ 3-4 câu (về Dylan Thomas, Walt Whitman); vài bài thiệt dài: về Huy Cận (21 trang), Hoài Khanh (13 trang), Quang Dũng (8 trang), Tuệ Sỹ (8 trang). Nếu Anton Tchekhov làm phê bình gia, chắc ông sẽ không cần phải mơ đến "những bài gọn bằng một bàn tay" nữa. Chúng có trong Đi Vào Cõi Thơ rồi!

Bùi Giáng đã phê, bình, bàn... về nhiều nhà thơ, nhà tư tưởng cổ kim Đông-Tây. Ở cuốn Hai (dịch, thi ca, triết lý, thượng đế). Chừng 90 tác giả khá tiêu biểu được chọn làm tên bài, và hầu như tên bài cũng chỉ là tên tác giả cần bàn tới. Những tác giả được viết thành bài nhiều nhất là Hồ Dzếnh (7 lần), Nguyễn Du (6), Xuân Diệu (3), Huy Cận (3), Đinh Hùng (3), Phạm Hầu (2), Hoài Thanh (2), Đỗ Long Vân (2), Hoài Khanh (2), Mai Vân Thu (2), Khổng Tử (2), Shakespreare (2), Martin Heidegger (2)... 


(Đỗ Quyên)


Làm báo văn học ở hải ngoại 


Những tình cờ định mệnh : Tôi đưa ý kiến này ra bàn với anh em, và đề nghị nên tìm đọc, mời, chọn đăng những sáng tác hay của các nhà văn nhà thơ trong nước (báo Văn Học). Trịnh Y Thư bản chất hiền lành, không muốn mất lòng anh em, xin theo quyết định của đa số. Hoàng Khởi Phong chín chắn, bảo "Chưa đúng thời điểm". Riêng Cao Xuân Huy cực lực phản đối, tuyên bố rất "quân phiệt": "Cái gì dính líu đến Việt Cộng là tao không ưa, dứt khoát". Như thế, đương nhiên tôi đứng về phe thiểu số.


Thua, nhưng trong lòng vẫn ấm ức. Ý định xuất bản một tờ báo có chủ trương hợp lưu mọi dòng văn học về một mối manh nha trong đầu. Tôi tìm gặp vài anh chị em khác: Nhật Tiến, Đỗ Khiêm, Lê Bi, Nguyễn Hương, Thân Trọng Mẫn, Phạm Việt Cường, Nguyễn Hoàng Nam... và liên lạc bằng điện thoại, thư từ với nhiều anh chị em khác nữa, cư ngụ ngoài Cali và nước Mỹ. Điều tôi không ngờ: hầu hết các văn nghệ sĩ tôi tiếp xúc đều tán đồng chủ trương của tôi. Chẳng những thế, ngoài bài vở, sáng tác, họ còn sẵn sàng đóng góp tiền bạc để tôi có thể xuất bản tờ báo như ý muốn.

Như thế, với nhiều công sức tài lực của nhiều anh chị em, Hợp Lưu ra mắt số đầu tiên đầu tháng 10 năm 1991.


(Khánh Trường)


20 năm văn học hải ngoại 


Văn Học: Trước 1975 tại Sài gòn, anh từng viết văn, làm thơ, làm báo, am tường mọi sinh hoạt liên quan tới chữ nghĩa của miền Nam. Từ kinh nghiệm quí giá đó, anh có thấy văn học hải ngoại tà dòng nối dài của văn học miền Nam hay không?

Viên Linh: Những "sinh hoạt liên quan tới chữ nghĩa" là những sinh hoạt của "viết, đọc, và phê bình". Tôi thu hẹp câu trả lời trước hết vào việc đọc, thứ nhất trên quan điểm thu hoạch được của một độc giả, sau đó mới là quan điểm của một người viết. Phần phê bình sẽ không nhiều. Trong câu hỏi đầu của anh, có mấy chữ "văn học hải ngoại" và "văn học miền Nam". Câu hỏi của anh là văn học hải ngoại có phải là dòng "nối dài" của văn học miền Nam không? Tôi sẽ trả lời song song với một câu hỏi suy diễn để so sánh do tôi đặt ra: Văn học trong nước có phải là dòng "nối dài" của văn học miền Bắc hay không?


Trong trí nhớ chủ quan, mấy chữ "Văn học miền Nam" chỉ được dùng khoảng mười, mười lăm năm sau thời điểm chia cắt đất nước 1954. Trong khoảng 1968-1972, khi điều khiển tuần báo Khởi Hành của Hội Văn nghệ sĩ Quân đội, tôi khởi thảo loạt bài "Sơ thảo 15 năm văn xuôi Miền Nam" với các anh Cao Huy Khanh (biên niên sử), Nguyễn Nhật Duật, Lê Huy Oanh, Huỳnh Phan Anh, và tôi (từng tác giả). Khi rời Khởi Hành để dựng bán nguyệt san Thời Tập(1973-1975), chúng tôi đổi thành "Hai mươi năm văn học miền Nam Việt Nam", cũng vẫn từng ấy người viết. Loạt bài này đã dược nhiều người dùng, đặc biệt là anh Doãn Quốc Sỹ lấy để giảng dạy tại Đại học Văn khoa Sài gòn.


(Viên Linh)


Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.


Minh Thùy: Gần đây trong nước có cho phép tái bản một số tác phẩm của nhà văn miền nam trước năm 1975 như tác phẩm của Lê Xuyên và Dương Nghiễm Mậu mà theo ý kiến của một nhà xuất bản nói là để khơi thông một dòng văn học âm thầm chảy.

Theo chị đây là dấu hiệu gì, là dấu hiệu cho những nhà văn miền Nam trước đây được tái bản những tác phẩm của mình không?

Trần Thị NgH.: Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy truyện của Dương Nghiễm Mậu xuất hiện – những quyển sách rất đẹp về hình thức. Một dấu hiệu đáng mừng riêng cho tác giả, nhưng sao tôi vẫn hơi lo ngại và thắc mắc vì truyện của anh Dương Nghiễm Mậu rất sâu, rất symbolic, có nhiều biểu tượng lấp ló phía sau những điều anh viết khiến người ta có thể diễn dịch nhiều cách. Truyện của anh được tái bản là một điều rất đáng ngạc nhiên.


Minh Thùy: Cũng như là trong dịp khen thưởng những nhà thơ và chọn lựa những bài thơ hay nhất thế kỷ thì nhà nước có đề cập đến một số nhà thơ miền Nam như Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, như vậy theo chị thì có thể nào có chính sách nhìn lại dòng văn học của miền Nam không?

Trần Thị NgH.: Chuyện này hơi sớm để nói vì năm trước anh Thanh Tâm Tuyền qua đời, tôi đọc báo trong nước không thấy một dòng nào nói về cái chết của một nhà thơ vốn rất được trân trọng trong giới thi ca cũng như trong văn xuôi, thành ra chỉ nhắc đến tên thôi, tôi thấy chưa đủ. Hình như tất cả hãy còn mơ màng, hãy còn sớm. Chưa có gì rõ rệt.


Dòng văn học hải ngoại có nhiều chuyện để nói. Riêng tôi rất trân trọng những anh chị đang tiếp tục hoặc mới bắt đầu viết sau 75 trong đó có những bạn cao niên lẫn những bạn trẻ trên dưới 30. Việc duy trì tờ báo Văn, Hợp Lưu, Đất Nước, Trăm Con… là điều hết sức đáng trân trọng.


(Minh Thùy phỏng vấn)


Mộng


Bài vô thường dễ nhớ lại hay
Trong cơn mộng ai biết mình đang mộng


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy


Hôm đó, do mới đọc tác phẩm (Tháng ba gãy súng) của anh, một tiểu thuyết vừa rất thích rất chịu lại vừa rất không thích rất không chịu, nên định bụng gạn hỏi, bàn luận, tranh luận, nhưng rồi tôi thôi. Không phải ngại đụng, cũng không vì anh nhất mực nói cuốn sách không phải tiểu thuyết, mà vì tôi thấy anh thực sự là một trong số khá hiếm những nhà văn không ưa ý kiến ý cò nói ra lời những chuyện văn chương thi phú, nhất là văn chương của cái bản thân mình. Miễn sự văn chương, thì bù lại, chúng tôi giàu chuyện đời để kể với nhau. Tuy nhiên, so trong hai người, đời tôi ít chuyện hơn, hoặc có thể nói là một kiểu đời dễ kể hơn. Cũng nhiều buồn vui sướng khổ, song đại khái những người đồng thời với mình thế nào thì mình thế nấy.  


Còn nhà văn Cao Xuân Huy có thể nói là ngay từ nhỏ đời đã có nhiều cá biệt. Năm 54 anh theo bên ngoại di cư vào Nam, trong khi đó thì ông thân sinh là cán bộ kháng chiến từ Việt Bắc trở về Hà Nội, cha con không gặp mặt. Năm đấy anh bảy tuổi, còn nhỏ nhưng không phải là quá nhỏ, nên nỗi niềm tha hương dù không triền miên day dứt như ở các bậc phụ huynh trong gia đình. song vẫn âm thầm ẩn khuất. 


Anh nói với tôi rằng mình là "ma xó" Sài Gòn, yêu vô cùng, am hiểu vô cùng thành phố và con người của thành phố, thế nhưng suốt thời thơ ấu qua tuổi thanh niên, luôn nặng cảm giác cô đơn bước đi trên đường phố. Đời sống tuy không vất vả, nhưng dù gì cũng một thân phận kiểu như nửa mồ côi nên tính nết không như người đồng trang lứa. Ở trường ở lớp nhiều bạn mà ít bạn thân, và mặc dù rất lặng tính lại thường  bị thầy bà coi là tên học trò ba gai... Tôi vốn không giỏi nói nhưng giỏi nghe. Còn Huy, nói năng chậm rãi, ngắt quãng nhiều và buông lửng nhiều, song tối hôm ấy thực sự là anh đã trải lòng. 


Cảnh hồ Gươm trong khuya, không gian đậm hơi thở của thời xa xưa, thì giờ rộng rãi, thong thả, rượu ngon, bạn nhậu, đấy là cõi tâm tình của người đàn ông. Thêm nữa, sự tương phản tới mức đối chọi nhau trong số phận tôi và anh, nhất là ở những  mốc thời gian đỉnh điểm của thế cuộc và của đời người, chẳng những không đẩy xa mà trái lại, khiến chúng tôi xích gần nhau hơn.


(Bảo Ninh)


Mộng


Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng
Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tình cơn mộng.


Sài Gòn một thóang vãng lai 


Vĩnh biệt Dương Kiền (1939-2015)


Ngày 17-11-2015. Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa. Tin buồn Phùng Nguyễn Da Màu ra đi còn đậm dư âm, lại thêm tin buồn Dương Kiền Thú đau thương ra đi tiếp nối.duongkien1939-2015

Dương Kiền là bạn của anh tôi (đã mất), nhà khảo luận - phê bình văn học Nguyễn Nhật Duật. Ông viết những gì quả thật tôi không nhớ rõ, nhưng tôi biết Dương Kiền không phải cây bút loại thường. Thú Đau Thương, một thi tập hay một tác phẩm kịch thơ, nhiều người nhắc nhớ mỗi khi nhắc nhớ Dương Kiền. Ông xuất hiện thường xuyên trên tạp chí Văn Học ở Sài Gòn một thời, và trợ giúp tờ báo này gần như vai trò một chủ bút. 


Đấy là gương mặt một thi sĩ mà tôi có thể tưởng tượng. Đấy là lần duy nhất tôi gặp ông ở quán cà-phê Hồng trên đường Pasteur, đối diện Viện Pasteur - Sài Gòn. Ông ngồi trầm lặng, bàn tay nắm chặt ly cà-phê đá; tôi nhớ hoạ phẩm Portrait de Poète Sabartés của Picasso, tôi gọi ông là thi sĩ từ lúc đó.


Dương Kiền thì đã phổ hết đời mình trong Thú Đau Thương.

Hôm nay, tưởng niệm người anh của bạn tôi, người bạn của anh tôi, tôi chẳng đặng đừng nhắc nhớ những chuyện như vậy. Chỉ là những gì tôi muốn quên, và Dương Kiền thì đã quên tất cả rồi.


(Nguyễn Đạt)


Mộng


Đường về khép bóng trần gian
Lợi danh gói một hành trang vô thường


Vòng tử sinh trong văn học


vanhoc317

Danh Sỹ Nguyễn Bá Trác   


Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh


Về những người xưa năm cũ như Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh. Với cái chết Nguyễn Bá Trác là một nghi vấn trong văn học sử. Ông là chủ bút phần Hán văn của Nam Phong tạp chí do Phạm Quỳnh sáng lập. Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, Nguyễn Bá Trác (1) bị xử bắn ở Quy Nhơn, Phạm Quỳnh (1) bị xử bắn ở Huế. 


(1) Trong văn học Hà Nội, Tố Hữu có tên…đao phủ thủ (cụm từ của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn). Nguyễn Đình Nghi con nhà văn Thế Lữ thổ lộ: “Ông cụ tôi không hề hé ra một lời nào về hoạt động cộng sản của cụ. Nhưng khủng bố đỏ thì ghi lại và nói cho con trai ghi chép hết cả như đoàn kịch Anh Vũ của cụ đang dựng diễn ở Huế thì Việt Minh lùng bắt ông cụ để thủ tiêu (thời gian này Thế Lữ hoạt động cho VNQDĐ), may mà cụ trốn được. Dạo ấy Tố Hữu phụ trách Xứ ủy Trung Kỳ để trừ Việt gian ghê lắm. Chính dạo ấy Tố Hữu truy sát Phạm Quỳnh (1945) và các trí thức thân sĩ khác (Nguyễn Bá Trác) suốt cả dẻo Trung bộ.


***

Nguyễn Bá Trác sinh năm Tân Tỵ, 1881 tại làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam (địa danh làng này gần với Phan Khôi (1887-1959) ở vùng đất Gò Nổi, vùng đất đã mang lại niềm tự hào cho quê hương Quảng Nam vì đã sinh ra những nhân vật gắn liền với lịch sử và văn học nước nhà. Ông đỗ cử nhân ở Huế. Hưởng ứng lời kêu gọi của phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, Ông tìm cách theo du học sinh sang Tàu, sang Nhật. Khi chính phủ Nhật giải tán học sinh du học, ông sang Trung Hoa rồi trở về Việt Nam năm 1914.


Năm 1917, dưới sự bảo trợ của Louis Marty, Phạm Quỳnh sáng lập Nam Phong tạp chí, và Nguyễn Bá Trác đảm trách phần Hán văn. Ngoài nhiều bài viết trên tờ Nam Phong, Nguyễn Bá Trác đã biên soạn nhiều tác phẩm: Cổ Học Viện Thư Tịch Thủ Sách, ấn hành năm 1921, và Hoàng Việt Giáp Tý Niên Biểu, ấn hành năm 1925, Bàn Về Học Thuật Nước Tàu (1918), và Hạn Mạn Du Ký (1920), trong đó có bài thơ Hồ Trường. 

Rời tờ Nam Phong, ông làm Tá Lý Bộ Học ở Huế, Tuần Phủ ở Quảng Ngãi và Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định.


Thế hệ hậu chiến khước từ thân phận mồ côi

 

LTS: Ngày 6-7 tháng 12, 2014 vừa qua, bốn tổ chức Nb Người Việt, Nb Việt Báo, damau.org, tienve.org thực hiện tại Little Saigon, Quận Cam. 

Dưới đây là trích đoạn của phần trình bày của tác giả.


***

Xin trân trọng kính chào quý vị,


Trong phần trình bày của mình, tôi xin nhắm tới bốn điểm chính. Thứ nhất, 40 năm Văn học miền Nam thất thủ từ cái nhìn của thế hệ hậu chiến. Thứ hai, một số hệ quả văn học và ngôn ngữ đối với thế hệ hậu chiến. Thứ ba, chúng tôi từng mồ côi, nhưng không chấp nhận mồ côi. Và để kết, tôi xin đưa ra một vài gợi ý về căn tính sắc tộc trong sáng tác của những thế hệ ngoại biên, nhất là tương quan của họ với tiếng Mẹ đẻ trong quá trình sáng tạo.


Bài nói này được soạn riêng cho chương trình Hội Thảo Văn Học Miền Nam 1954-1975 cuối tuần này, và là một đề tài liên quan trực tiếp đến những chuyên đề nghiên cứu về người Việt hải ngoại mà tôi thực hiện từ đầu thập niên 90s. Phần trình bày của tôi cũng mang tính bắc cầu, không thuần túy chỉ nói về giai đoạn văn học hai-mươi-mốt-năm này, mà hướng tới ảnh hưởng của nó đối với những thế hệ sáng tác sau đó tại hải ngoại. Vì giới hạn về thời gian, tôi chọn nói về căn tính di dân và căn tính sắc tộc trong tương quan với đề tài của cuộc hội thảo, và do đó, chỉ trích dẫn một số tác giả nhất định trong giai đoạn văn học này. Cánh đồng Văn học Miền Nam mênh mông nhiều màu sắc, và có nhiều tác giả cũng như tác phẩm liên quan đến đề tài này mà tôi chưa có dịp tham khảo vì không có đủ tài liệu. Tôi tin tưởng rằng, khi có một văn khố quy tụ những tác phẩm của Văn Học Miền Nam (và khi tôi dành dụm đủ thời gian để đọc những tác phẩm đó), thì tôi có thể bổ túc thêm cho phần trích dẫn của mình.


(Trangđài Glassey Trầnguyễn)


      Truyện Kiều 


Truyện Kiều và các công trình sưu tầm tục ngữ, phong dao, câu đố, hát ví....sách gối đầu giường, tôi thường đọc. Nhưng chỉ có tuyệt tác của Nguyễn Du và tục ngữ ca dao của dân gian sáng tạo mới đáng đọc, mà ở bất cứ một tác phẩm cổ điển nào chúng ta cũng học được về nguồn gốc chữ, cách nói và viết của người ngày trước.


Trong truyện Kiều có chữ “áy”: Một vùng cỏ áy bóng tà

Phải đến dịp cuối năm ngoái, tôi về vùng Thái Bình, nghe người dân nói: “Cỏ áy”, “mạ áy” mới biết tiếng “áy” đó là của dân gian, mới nhớ ra vợ Nguyễn Du quê ở Quỳnh Côi, Thái Bình.

(Sổ tay viết văn – Tô Hòai)


Tên phố, tên đường


Tên phố là hình ảnh lịch sử, truyền thống và văn hóa, là mỹ quan bộ mặt của thành phố đã góp phần sâu rộng nếp sống và tinh thần của con người ở Hà Nội. Với cách  đặt tên bằng tên danh nhân, di tích kỷ niệm, nghề nghiệp, tên phố phường không chỉ là hàng chữ trên mảnh gỗ, mảnh sắt đơn thuần chỉ dẫn nơi ở, mà tên phố còn có ý nghĩa nhắc nhở giáo dục văn hóa, lịch sử truyền thống. Phố Hà Nội mới được đặt tên từ thời Pháp và thuộc loại phố mang tên hình ảnh đất nước và con người với bước đi mỗi giai đoạn lịch sử.


Trước kia, Hà Nội chỉ thường có tên bao trùm các nghề, các đền chùa, miếu mạo. Hà Nội 36 phố phường, Hàng Mật, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh... Tên phố như ta trông thấy bây giờ ra đời từ khi thực dân chiếm nước ta. 


Hà Nội thành đất thuộc Pháp. Tên phố do Pháp đặt. Ý nghĩa của tên phố theo ý đồ của kẻ thống trị. 


(Hà Nội xưa)


Ba đường lớn ngang thành phố (Các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo) ngày trước gắn biển những tên tướng tá thực dân. Phố Đinh Tiên Hoàng bên Hồ Gươm là phố F.Gácniê (Viên quan ba chết trận ở Cầu Giấy). Phố Hàng Chiếu ở quận Hoàn Kiếm là phố J. Duypuy (tên lái buôn khiêu khích cho Pháp lấy cớ đánh chiếm Hà Nội).


(trích "Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè" – Tô Hòai)


Bên lề chữ nghĩa


Phở


Phở “Thìn” bờ hồ là điểm lựa chọn của nhiều người. Ông chủ tiệm người nhỏ thó tay thớt tay dao làm bát phở như múa với nhịp đập thịt tái, hành củ chan chát vui tai nhưng cũng một kiểu quảng bá thương hiệu riêng của mình. 

Ăn phở Thìn phải xếp hàng, trả tiền trước và tự phục vụ. Bù lại, ông chủ luôn miệng kể chuyện thời sự như một chương trình phát thanh miễn phí. Cái tiện nhất của phở Thìn là an toàn, bởi đang ăn dở, gặp báo động máy bay có thể bê bát chạy xuống hầm trú ẩn công cộng bên đền Ngọc Sơn thưởng thức tiếp.


Để tránh đi lính cho Pháp, năm 1949 ông Thìn phải bôn tẩu lên Hà Nội chọn kiếm sống bằng gánh phở lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm thủ đô. Dần có uy tín, năm 1955 ông quyết định dừng chân mở quán ở 41 đường Đinh Tiên Hoàng đối diện đền Ngọc Sơn. Ông có chín người con, có tới 5 người kế nghiệp ông mở quán đều mang tên “phở Thìn”, ông tự bộc bạch: “Phở là cuộc sống của tôi!”.    

Sau năm 1975, hậu duệ của phở Thìn, phở gia truyền Nam Định, phở Lò đúc, phở Bắc Hải, phở hàng Nón... chính thức chinh phục đất phương nam trên từng cây số.


(Nhiều tác giả)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Buồn tinh nằm ngửa chình inh,

Không ai nằm úp lên minh cho vui.


Lại quay về cà phê vớ đông vui


Có một thời Sàigòn lại rộ lên…cà phê hè phố. Những quán cốc che tạm tấm bạt bên lề đường với những chiếc ghế gỗ lùn làm chổ tụ họp của người Sài Gòn.


Vòng quanh hồ con Rùa, xuống đến Nguyễn Đình Chiểu có hàng mấy chục “túp lều” cà phê như thế mọc lên san sát bên nhau. Chỉ là cà phê hè phố nhưng đông vui, uống một cốc cà phê siêu, cà phê vớ nhưng thoải mài ngồi cả ngày cũng chẳng ai rầy rà. Và các ‘quán cốc liêu xiêu một câu thơ” bên các vĩa hè là chổ dừng chân để… “tám” đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.

Chỉ có ai đó mới thấy được cái thú ngồi quán cà phê bụi lụp xụp mà hầu như đường nào cũng có. Có người còn có thuốc Ruby, con Mèo để phì phà bên ly cà phê vớ nhưng để… phiêu bồng hơn chơi… “bốc – lăn – se” tức thuốc vấn. Anh nào cũng thủ sẵn một bọc trong túi xách để sẳn sàng bày ra cho bạn bè tha hồ vừa bốc vừa lăn vừa se vừa liếm vừa dán rồi phì phèo nhả khói.


Cà phê quán cóc (nhảy nay chổ nầy mai chổ khác như cóc nhảy ấy mà) thời ấy được coi như thời huy hoàng lãng mạn nhất của nền… văn hóa ẩm thực cà phê cóc Sàigòn. Ban ngày đã rộn ràng như thế đến đêm bên những ngọn đèn dầu lù mù loanh quanh những con đường trong thành phố cũng có những quán cóc để dân mê cà phê, mê hòa bình được tận hưởng những giờ phút, sảng khoái, thanh bình, yên ả nhất của đời mình.


Sàigòn dĩ vãng

Sàigòn một thuở là một Paris lấp lánh khắp cõi, tới hôm nay, đã mang tên khác, nhưng người ta vẫn quen gọi tên cũ chính danh là Sàigòn. Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Người Sàigòn không nhất thiết phải sinh ra tại đó, có bao nhiêu đời. Một người, bất cứ ai, cũng có thể nhận chính mình là người Sàigòn, dù chỉ ở đây một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Chỉ sống một ngày ở Sàigòn, nhưng yêu Sàigòn mãi mãi, và mang Sàigòn như một phần của thân xác, linh hồn mình. Chỉ như vậy thôi, người ta có thể ngẩng cao đầu, tự hào vỗ ngực tuyên xưng, tôi chính là người Sài gòn.


Tóm lại, Sàigòn là của tất cả mọi người suốt giải giang sơn, từ Bắc qua Trung tới Nam. Sàigòn dang vòng tay ôm thương yêu quảng đại tới con người tứ xứ, không phân biệt Bắc, Trung, Nam và ngay cả người ngoại quốc nữa. Một người Pháp sinh ra ở Paris, bỗng dưng một hôm tuyên bố, từ nay tôi không còn là một Parisien, cư dân ở Paris nữa.  Tôi là người Sàigòn và sẽ ở lại đây cho tới cuối đời. Thế là dân Sàigòn bèn gọi chàng Tây là anh Hai, hoặc anh Tư gì đó. Người Sàigòn là như vậy đó, thiệt là cởi mở và phóng khoáng.


(Thú vui tao nhã của người Sài Gòn – Khuyết danh)


Nói lái trong nước 


Người có chỗ đứng sẽ cứng chỗ đó


Dưa cà muối và mắm tép


Hũ mắm tép ấm lòng những ngày đông.

Cuối hè, mấy trận mưa rào chưa thể xua hết cái oi nồng, bức bí.  Tuy thế, khi gió chiều nổi lên đã thấy hơi lạnh phảng phất.  Trên mặt ao, tôm tép úi lên từng đám dầy đặc, sẫm cả mặt nước.  Trời nhá nhem rồi tối dần.  Mẹ bắc ghế ra đầu hè, bó gối ngồi.  

Một lúc sau thể nào cũng có ông lão đánh dậm đi ngang qua.  Người chưa đến mà gió đã sực mùi tôm cá.  Cái giỏ đựng tép nặng chịch, vít tấm lưng ông già gập xuống.  Cái dậm thì to kềnh như chiếc diều cứ chực nhấc bổng thân người đẫm nước, tong teo.  Mớ tép rui tươi nguyên trút ra rổ.  Đầy những rong rêu, cọng cỏ.  Mẹ khẽ đảo tay, hàng trăm con tép nhảy tanh tách.  Nước bắn tứ phía, óng ánh như có vẩy bạc.  Dưới đáy rổ thấy cả cọng vó, đòng đong, cân cấn, niềng niễng rúc đầu chạy ..


Ngọn đèn dầu thắp lên khoanh tròn một vầng sáng.  Mẹ cặm cụi đãi nhặt ốc vặn, rơm rác.  Cái giống mắm tép phải làm rõ sạch và kỹ lắm.  Chỉ hơi lẫn một tý là hỏng.  Là ngả màu thâm xỉn, mất hẳn cái mầu đỏ hồng'.  Mẹ giảng giải như thế.  Đãi đi đãi lại cho đến khi rổ tép trắng hồng, trong suốt, mẹ mới cho vào cối đá giã giậm.  Có thế mắm mới nhuyễn, quánh dẻo.  Xong đâu đấy, mẹ nhóm bếp rang thính.  Ngọn lửa không được to quá, chỉ vừa lom dom.  Nhất là phải đảo đều tay.  Trăm hạt gạo như một, vàng rộm, nở đều như hoa cau chín.  Thính giã vừa tới, không được vỡ vụn.  Cứ thế, một lớp tép, lại quải một lớp thính.  Khi cho mắm vào hũ, phải nút chặt bằng lá chuối khô.  Lúc nào hũ mắm cũng để sát cạnh bếp. Nhờ có lửa than, hơi nóng mắm ngấu chín.  Suốt cả tháng trời cứ háo hức chờ lúc mẹ mở nút lá chuối.  Ba gian nhà sực nức mùi vị ngọt ngào, thơm lạ thơm lùng.  Chiều tối đi học về, chạy ù vào bếp.  Cơm vừa chín tới để nguyên trên bếp.  Mâm là cái mẹt chỉ có độc bát canh dưa vùi trong trấu.  Tay mẹ xới lưng cơm nóng hôi hổi, rưới đều từng thìa mắm tươi hồng, đặc sánh.  Hơi cơm bốc nghi ngút quyện với mùi mắm tép ngào ngạt.  


Mẹ nhìn con ăn, mắt rưng rưng. Ngoài trời gió lạnh đã về, hun hút lùa qua khe vách... Của ngon vật lạ, mâm cao cỗ đầy rồi cũng chuội đi, có đọng lại gì.  Sao vẫn nhớ cồn cào vị mắm tép, nhớ đến xót xa quả cà mẹ muối ngày nào.  


Ngót sáu chục năm rồi có bao giờ tìm thấy nữa.


Chữ nghĩa làng văn


Câu đối sắc không của cụ Nguyễn Khuyến


Cuối năm 1946, trên đường tản cư, khi qua làng Văn Tràng, tỉnh Nam Định, chúng tôi thấy trên cổng chùa đề bốn chữ:
Sắc không, không sắc

Bốn chữ tuy ý nghĩa uyên áo song là chữ cửa miệng của nhà Phật tử, không có gì đặc biệt, đặc biệt có chăng lá bên giòng lạc khoản đề tên Tam nguyên Yên Đổ.
Chúng tôi lấy làm lạ sao ông Tam nguyên lại cho bốn chữ thông thường quá như thế, sau có một bạn người làng giảng cho mới hiểu nguyên làng này chuyên về nghề mài dao đánh kéo, trong lúc chế tạo người ta thường hay vấn đáp
- Sắc chưả - Chưa sắc!

Bốn chữ "Sắc không, không sắc" dùng chỗ khác thì không có gì đặc sắc nhưng đề vào chùa một làng mài dao, thì lại ngụ một nụ cười hóm hỉnh! Nụ cười này, giá để ý thì cũng đã nhận ra được phần nàọ. Là vì nếu đặt câu hỏi: sao không dùng như lời nói thường "Sắc sắc không không" hoặc "Không không sắc sắc" mà lại đặt chéo là "Sắc không không sắc"? 

Nếu hỏi thế, ắt đã phải ngợ một dụng ý gì của tác giả. Ngợ thế thôi, chứ cũng chẳng ai ngợ được rằng ông Tam-nguyên đã dùng chữ sắc theo cái nghĩa là sắc bén!


Cua đồng


Tôi đổ cua ra thùng gánh nước vì sợ cua bò đi mất. Đàn cua lúc nhúc, hoảng sợ, xô đẩy lẫn nhau. Tôi chọn những con cua mới lột xác để rang, những con cua già to nhặt ra để nấu canh, còn lại cho vào vại để muối. Trước khi chế biến, mẹ ngâm cua vào nước vo gạo cho nhạt bớt mùi tanh của bùn. Mẹ múc gầu nước đổ vào thùng rửa cua cho sạch. 


Rồi mẹ ngồi nhặt bỏ mai, yếm, khều lấy gạch. Phần thịt cho vào cối giã thật nhuyễn. Cua giã nhừ được lọc vài lần qua lớp vải màn, lấy nước rồi bắc lên bếp củi đun thật nhỏ lửa, thịt cua kết tủa lại thành miếng. Khi thấy tảng thịt ấy nổi lên, mẹ đưa đũa khuấy nhẹ để thịt cua không đọng lại dưới đáy. Mẹ đổ gạch cua vào khiến nồi nước sóng sánh, vàng nghệ. Cuối cùng mẹ cho rau muống, rau đay hoặc mồng tơi đã thái nhỏ cùng mấy lát mướp thơm vào nồi. Đun sôi kĩ, được nồi canh cua đồng ngon tuyệt. 

Có bữa mẹ nấu canh cua với khế chua hay cà tím cho thêm lá hẹ, húng quế vào. Mùi hẹ, mùi húng quế quyện với riêu cua làm cho nồi canh thơm dịu. Cua đồng có thể chế biến được nhiều món như rang muối, kho rim ớt tỏi, canh riêu, nấu cháo với rau má… 


(nguồn: Nguyễn Đại Duẫn)


Don Quixote 


1 Ấn bản đầu tiên Don Quixote bằng tiếng Tây Ban Nha, năm 1605

Ấn bản đầu tiên Don Quixote 

bằng tiếng Tây Ban Nha, năm 1605


Don Quixote (tiếng Tây Ban Nha: Don Quijote) tên tiếng Việt: “Đôn Kihôtê” hoặc “Đông Ki Sốt”, là tiểu thuyết của nhà văn Miguel de Cervantes Saavedra (1547-1616). Cuốn truyện gồm 2 phần, có nhan đề bằng tiếng Tây Ban Nha “El Ingenioso hidalgo Don Quijote de la Mancha” (Don Quijote, đại kịch sĩ xứ Mancha). Phần đầu được xuất bản năm 1605 và phần 2 năm 1615. 


Nội dung cuốn tiểu thuyết xoay quanh những chuyến phiêu lưu của một quý tộc sống ở xứ Mancha tên là Alonso Quixano. Chàng đọc nhiều truyện hiệp sĩ đến mức mất trí và sau đó quyết định trở thành một kỵ sĩ để làm sống lại tinh thần hào hiệp và phụng sự cho quốc gia, dân tộc. Don Quixote đổi tên mình thành “Don Quijote xứ Mancha” và nhận một gã nông dân quê mùa, Sancho Panza, làm người tháp tùng. Khác với chủ, Sancho Panza là người thường sử dụng sự lanh lợi, “tinh ranh một cách trần tục” để đối phó với những lời độc thoại hùng tráng của chủ về vấn đề hiệp sĩ đã quá lỗi thời. 


(Nguyễn Ngọc Chính)


clip_image003_thumb1

Nguyễn Ngọc Chính chào đời ngày 19/6/1946, ở Vĩnh Yên. 1953 di cư vào Đà Lạt. Anh nguyên là một cựu sĩ quan QLVNCH, khóa 4/68 Thủ Đức. Năm 1969, mãn khóa anh tùng sự tại trường Sinh Ngữ Quân Đội. Sau 30 tháng 4, anh đi “cải tạo“ (Trảng Lớn, Tây Ninh). Khi thóat khỏi tù, anh không tìm cách vượt biên hoặc rời đất nước theo diện HO. Anh chọn ở lại, cũng nhờ vậy, chúng ta đọc được những dòng ký ức “Hồi ức một đời người“, đằm thắm tình quê, tình đất, tình người của anh. 


Nguyễn Tất Nhiên, bao năm tình lận đận


T.N: Đọc Tuổi Ngọc. bạn thấy cần đóng góp một ý kiến gì chăng?

N.T.N: Đã có hàng khối ý kiến của bạn ngọc rồi. Nói năng chi cũng thừa !


T.N: Cuối cùng. Nguyễn Tất Nhiên, bạn còn muốn nói thêm gì chăng?

N.T.N: Có lẽ, nên thôi. Bởi tôi sắp sửa đề cập tới nàng con gái khác, trong bài “Hai năm tình lận đận”. Nàng con gái khác nữa. trong bài “Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”…


Trong khi, tôi muốn lúc nào tôi cũng một tên Duyên !


(tuần báo Tuổi Ngọc phỏng vấn)


Tiểu sử: Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh năm 30.5.1952 tại Đức Tu, Biên Hòa. Mất ngày 3.8.1992 tại California.

Tác phẩm: Thơ Nguyễn Tất Nhiên; Những năm tình lận đận; Minh Khúc, Thiên tai


Không đề


Ngày nay ngày nay
Chuyện đẹp qua đi
Thời gian gấp ruổi
Còn lại chúng ta…

(Quang Dũng 1970)


Đám ma Lý Toét  


Nằm dúm trên giường, Lý Toét mở thao láo hai mắt nhìn lên đình màn. Người khô đét như con mắm, tuy đắp chăn mà các đầu xương vẫn hằn ra ngoài, mặt võ vàng, gò má lồi ra, hai mắt sâu thành to thêm. Tóc hai bên thái dương lốm đốm bạc và rụng dần, búi tóc chỉ còn bằng củ hành to.

Đầu giường có vài chiếc bát không, cơ chừng bát uống thuốc; một đĩa mía tiện sẵn, toàn khẩu nạc, mấy quả cam, táo. Cô Ba Vành hết lòng săn sóc bố, nhưng nào bố có ăn được! Hai con mắt vẫn tỉnh lắm, rất tinh nhanh. Có lúc râu mép vểnh lên, mấp máy. Khi mệt yếu quá, Lý Toét rên khừ khừ hay thở dài những tiếng thực mạnh, làm Xã Xệ giật mình chạy lại. Lý Toét nhìn Xã Xệ, dáng tức tối, có lẽ vì Xã Xệ đang uống rượu gian bên.


Trong nhà im lặng. Ai nấy đi lại rón rén, không động mạnh guốc. Cạnh chân giường Lý Toét, mấy cái củi gộc lom dom trong chiếc bếp kê tạm để hâm thuốc, và để cho ấm nhà. Thỉnh thỏang Xã Xệ đến cạnh bếp, cúi lom khom cời lửa. ánh sáng chiếu vào cái đầu mập lù, bóng nhoáng. Cô Ba Vành ngồi trong buồng khâu vội mấy chiếc áo trắng. Bà Lý bận cơm nước, thằng Toe vẫn đi chơi với trẻ. Hai con chó, con Vàng và con Vện, nằm ép dưới gầm cũi, chẳng buồn cắn những người tới hỏi thăm.


(Đỗ Đức Thu)


Giới thiệu

Tất cả bộ mặt xôi thịt làng xã được vẽ lại qua vài nét vẽ phác mà sâu. Hài hước mà đớn đau. Đó là biệt tài của Đỗ Đức Thu, ông đã đạt được nghệ thuật cao của sự mô tả: mỗi nét chấm phá của ông đều vạch ra ít nhất hai bức tranh chồng chéo: bi đi với hài.


(Thụy Khuê)


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Làm sao có được chuyện Tình thiên thu 

Cô đơn nhìn Giọt mưa thu  

Lật từng Lưu bút ngày xanh 

Thấy như Lệ đá vây quanh nỗi niềm  


(Sưu tầm từ VMQH)


Phở Dậu


Đó có phải đúng là phở Dậu xưa không? Tôi ngỡ ngàng. Có phở gà, có giá sống, có tương đỏ tương đen. Đó là thứ phở Dậu vong thân. Đọc xong bài báo, tôi ngẩn ngơ. Tìm trong trí nhớ những người bạn, tôi vội ới các ông bạn bên San Jose coi. Hai ông Phạm Công Bạch và Bùi Quyền đã đi xa, chẳng còn vấn vương chi với phở. Vớ được ông Phạm văn Quảng, anh vợ của ông Phạm Công Bạch, ông mail cho biết : “Sau 1991, tôi lên San Jose nhiều lần thăm Bạch và Bùi Quyền. Chúng tôi rủ nhau đi ăn phở Dậu nhiều lần. Thời gian đó phở Dậu nổi tiếng ngon nhất San Jose. Tôi thấy ngon thiệt tình”.


Chưa thỏa mãn với sự kiệm lời của ông bạn Phạm văn Quảng, tôi tìm tòi thêm. Ông bạn thân nhất của tôi ở San Jose là ông ký giả Hà Túc Đạo (xem Tg&Tp Song Thao phần B kế tiếp) đã bị cô Vy rủ đi mất tiêu, tôi nắm áo ông bạn chung của ông Hà và tôi là ông Nguyễn Xuân Phác, một cây sành ăn. Ông cho tôi một số tin tức: “Vào thời gian sau 2010, tin Phở Dậu mở ở San Jose đã khiến cho dân ghiền phở nơi đây xôn xao và kéo đến thưởng thức hương vị Saigon cũ khá đông đảo. Tiệm phở nằm trên đường Alum Rock thênh thang, chỗ đậu xe rộng rãi, bên trong khang trang, thoáng mát và phục vụ khá chu đáo. Đáng nói nhất là hương vị̣ có khác đi khá nhiều so với khi trước còn lá "phở Trứng Cá". Tôi có hỏi dò bà cụ thường ngồi khiêm nhường ở một góc quầy thì bà xác nhận chính là chủ Phở Dậu ở Saigon trước đây, nay qua San Jose truyền nghề cho đứa con (hay cháu?), tên Dũng đứng ra mở tiệm. Cô vợ ở quầy tính tiền là con gái một ông chủ tiệm vàng nổi tiếng trong vùng. Tiệm đang kinh doanh phát đạt thì đột nhiên bị xé đôi. Nửa tiệm ở lại tại chỗ vẫn mang tên "Phở Bà Dậu" nhưng bấy giờ do cô vợ làm chủ. Nửa kia do ông chồng mang qua một tiệm ăn mới sang nhượng nhưng trước đó có tên là "Quán Nhà Tôi". Sau khi sang nhượng, quán mang tên "Phở Công Lý". Nhưng chỉ một thời gian ngắn, cả hai tiệm đều đã "âm thầm đóng cửa" không biết lú do vì sao”.


(Song Thao)


Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Song niềm hạnh phúc vô bờ của tôi không dừng ở đó. Hôm ấy chính chị là người đứng quầy, chế từng bát phở rồi đẩy qua một cái khay nhôm. Chúng tôi xếp hàng đứng bên ngoài quầy, thò tay qua cái lỗ tò vò, trao cho chị miếng tích kê nhỏ làm bằng tôn mua ở trước cửa mậu dịch rồi nhận lấy bát phở bưng ra bàn ngồi ăn. 


Khi đến lượt tôi, chị tỏ ra ưu ái hơn đối với những người khác là tự tay đẩy một bát phở đến cho tôi. Cảm động quá, thậm chí tôi còn cảm thấy hình như chị nháy mắt với tôi một cái rồi mới nhẹ nhàng quay mặt đi chỗ khác.


Bát phở không người lái hôm đó cũng vẫn ngon lành như mọi khi. Tôi đã cố tình ăn thật chậm, cốt kéo dài cái sự sung sướng không mấy khi có được như thế này. Khi ăn đến miếng cuối cùng, tôi bỗng bàng hoàng phát hiện có một miếng thịt được dấu dưới đáy bát phở. Đích thị đây là ân huệ mà chị người làng quý hóa đã dành cho tôi.


(Phạm Lưu Vũ)


Mộng


Ta ngồi đỉnh núi này đây
Mây ơi xoá hộ mộng vây buộc người


Khoa cử thời xưa


Năm 1396, nhà Trần quy định các kỳ thi Hương và thi Hội. Năm trước thi Hương (để lấy cử nhân), năm sau thi Hội (để lấy tiến sĩ), ai đỗ thi Hội làm bài Văn sách để định cao thấp. Dưới ba triều Lý-Trần-Hồ, số tiến sĩ có 75 người.Leu Chong-1


(Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội - Bùi Xuân Đính)


Lệ Thu, chim oanh về cõi thiên thu


(tưởng niệm ca sĩ Lệ Thu 1943-2021)le_thu


Trong thời gian qua, ca nhạc sĩ đã một thời nổi tiếng ở miền Nam đã vĩnh viễn ra đi: nhạc sĩ Lê Dinh (9/11/2020 tại Canada), nhạc sĩ Lam Phương (22/11), ca sĩ Mai Hương (29/11)… và lần nầy đến ca sĩ Lệ Thu, sau thời gian bị nhiễm Covid-19, vừa qua đời vào 7 giớ tối Thứ Sáu, 15/1/2021 tại Orange County (Quận Cam).


Là người đam mê âm nhạc, thưởng thức những tiếng hát đã một thời, một đời và đã viết về hình ảnh ca sĩ làm thăng hoa nền âm nhạc Việt Nam trong gần 3 thập niên qua. Để tưởng nhớ Mai Hương, tôi viết bài “Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!” như lời tạ từ. “Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm vang” (Tô Vũ). 


Đầu mùa dịch Covid-19, ca sĩ Thái Thanh qua đời vào trưa ngày 17/3/2020 tại Orange County, đêm đó tôi viết: Danh ca Thái Thanh ra đi, gởi lại “Tiếng Hát Vượt Thời Gian & Không Gian”, vì nghĩ đến tang lễ ca sĩ được mọi người ái mộ, tiếc thương do lệnh khắt khe của tiểu bang nhằm tránh sự lây lan của đại dịch nên không đễn tiễn biệt làn cuối. 


(Vương Trùng Dương)


Mộng


Hôm qua mộng lại thật gần
Đừng lay tôi nhé hồng trần mong manh


Tiệm nước


Tiếng Quảng Ðông là ‘chà thỏi’ (bàn nhỏ uống trà), ông bà mình kêu là tiệm nước. Tiệm nước không bán nước. Tiệm nước không bán trà. Tiệm nước bán cà phê, hủ tiếu mì, sáng, trưa, chiều, tối.


Gần khu dân cư lao động chằng chịt biết bao nhiêu cái xuỵt (sur: trên), tiệm nước đóng đô ở vị trí thuận tiện nằm ở ngã tư đường. 


(tiệm ‘Bảy Mập’ ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản) 

Bảng hiệu của người Việt hơi hài hước dễ nhớ như: ‘Bảy Mập’ ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản quận Ba, Sài Gòn.


(Đoàn Xuân Thu)


***


Phụ đính I


Vợ nhà văn


Nhà văn Tô Hoài


Theo Nguyễn Tuân kể lại:

‘’…Tô Hòai bia bọt, gái ghiếc chẳng kém ai, lấy vợ có 7 con. Vợ cứ đẻ sòn sòn. Tôi thì rất ghét người đẻ nhiều, vô kế hoạch. Đi đâu ông cũng tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch. Tôi bực với ông ấy: “Sao đẻ lắm thế?”. Ông ta có câu trả lời rất lạ là: “Sướng con cu mù con mắt”. Rồi cười nhạt nhách: 

Vì vợ tôi nó xấu”. 

Tôi không hiểu được ý ông ấy muốn nói gì. Ông Tô Hoài lại hay đánh vợ. Quái thật! Chả lẽ vì vợ ông ấy…xấu! 

Hỏi ra ông ấy làm cho một câu gọn lỏn: 

“Ông không biết chứ đánh vợ xong, nó chiều mình lắm”.


(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)


***


Phụ đính II


Chữ nghĩa làng văn


Akemi, Đôi mắt người Sơn Tây - 1


Khi tạm rút quân cuộc chiến bảo vệ thành Hà Nội mùa đông năm 1946. Mọi người có thời gian nán lại Chợ Đại - Cống Thần, và biết tại sao Quang Dũng viết Đôi mắt người Sơn Tây, tại sao lại những dòng thơ vừa lãng mạn vừa bi hùng: “Em ở Thành Sơn chạy giặc về/ Tôi từ chinh chiến cũng ra đi. Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì…”.


Đó chính là nàng Akemi, một cô gái Việt, nhưng được gọi tên Nhật bởi một lý do đặc biệt xuất phát từ hoàn cảnh chiến tranh. Akemi quê ở Sơn Tây, là một thiếu nữ yêu kiều, quý phái và có học hành. Thời cuộc ly loạn, chiến tranh đã đưa đẩy mỹ nữ Akemi về thành Hà Nội và một thời gian làm vũ nữ ở các phòng nhảy có sĩ quan Nhật thường xuyên lui tới. Vì chiến chinh xa nhà, nhớ phụ nữ Nhật, nên đã mê mệt và họ đặt cho cô biệt danh Akemi.


(Quốc Việt)      


Chữ nghĩa làng văn


Akemi, Đôi mắt người Sơn Tây - 2


Cô dừng chân ở Chợ Đại - Cống Thần, mở một quán cà phê nho nhỏ bên bờ sông Đáy, độ nhật cùng mẹ già. Quán tranh nhỏ bé, nhưng Akemi pha cà phê rất ngon, đặc biệt là dung nhan và nghệ thuật ăn nói thu hút của cô đã khiến nhiều bậc trai hùng mê mệt, không đành lỡ bước ngang qua. Và tất nhiên, trong đó cũng không thiếu Quang Dũng, một chiến binh Tây Tiến có trái tim thi nhân lãng mạn trong cái vẻ bề ngoài phong trần, khinh bạc... 

  

Quán tranh nhỏ bé, nhưng Akemi pha cà phê rất ngon, đặc biệt là dung nhan và nghệ thuật ăn nói thu hút của cô đã khiến nhiều bậc trai hùng mê mệt, không đành lỡ bước ngang qua. Và tất nhiên, trong đó cũng không thiếu Quang Dũng, một chiến binh Tây Tiến có trái tim thi nhân lãng mạn trong cái vẻ bề ngoài phong trần, khinh bạc...   

Trong một lần say cô hàng cà phê, Quang Dũng đã đề tặng ngay mấy câu thơ lên vách nứa: “Tóc như mây cuốn, mắt như thuyền/ Khuấy nước kênh Đào sóng nổi lên/ Ý nhị mẹ cười sau nếp áo/ Non sông cùng đắm giấc mơ tiên”. 


Tuy nhiên, cuộc hành quân Tây Tiến không thể cho Quang Dũng dừng bước chinh nhân, xây mộng hồ điệp. Giấc mơ tình chỉ như sương khói thoảng qua, thuyền tình theo nước sông Hồng cuốn trôi. Quang Dũng cầm súng lên miền sơn cước Tây Bắc, cô hàng cà phê vẫn bên bờ sông và ngày ngày lại dập dìu khách đến người đi. Nỗi buồn man mác như những câu thơ vọng xa xăm: “Bao giờ tôi gặp em lần nữa/ Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa/ Đã hết sắc màu chinh chiến cũ/ Còn có bao giờ em nhớ ta?”.


(Quốc Việt)      



MỜI XEM :


Chữ nghiã làng văn Kỳ 15/6/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng







Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét