3 thg 6, 2026

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/6/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

                                   Chữ nghĩa làng văn 


“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải – Ngộ Không Phi Ngọc Hùng.


***


Chữ là nghĩa với địa danh


Chúa Nguyễn Phúc Nguyên được gọi là chúa Sãi vì nhà chúa ăn chay và mặc quần áo như nhà sư. 

Chúa lập ra ngôi chợ ở phía đông Ái Tử, dân tình gọi là chợ Sãi.


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ 


Thương anh chín đợi mười chờ

Đến khi mười một em liền bỏ anh


Họ Trần


Họ Trần nguyên thủy tên một tiểu quốc ở Tàu. 

Nước Trần sau biến thành họ.


Góp nhặt cát đá


Mộng


Một hôm mộng thấy:
- Giàu sang tột đỉnh
- Quyền cao chức trọng
- Hạnh phúc tràn đầy...
Giật mình tỉnh giấc: ta vẫn là ta

Buồn


Chữ nghĩa tên đất


Có những tên vùng đất gốc tích Mã Lai hoặc Cao Miên như:

Mỹ Tho – do chữ Me Sa có nghĩa Bà Trắng.

Sa Đéc – do chữ Phsar Dec có nghĩa Chợ Sắt.

Trà Vinh – do chữ Pratapeang có nghĩa Hồ của Phật.

Sóc Trăng – do chữ Soc Treang có nghĩa xứ hay kho.

Bắc Liêu – do chữ Po Loenh có nghĩa cây da cao.


(Thái Văn Kiểm – Ai về Gia Định Đồng Nai thì về)


Dấu xưa xe ngựa... đất Thủ - Bình Dương...


Sự phát triển này còn ghi rõ trong các bài vè, câuhát, ca dao... và trong bài vè chợ Thủ dưới đây chothấy cùng với nghề mộc (trại cưa) nghềxe thổ mộ rất thịnh hành, số xe tại bếnxếp thành hàng dài để chở khách:

“Xuống tới đầuchợ
Trại cưa trước mặt
Thổ mộ có hàng
Rủ nhau soạn bàn
Đi về Bưng Cải
Mênh mông đại hải
Khắp cả Châu Thành”

(Vè chợ Thủ – trích Dân ca Sông Bé, NXBTổng hợp 1991, trang 49)


Từxưa nay, chợ Thủ Dầu Một luôn là ngôi chợtrung tâm của tỉnh lỵ, chợ đầu mốiđưa nhận khách và hàng hóa đi về giữa ThủDầu Một và Sài Gòn – Gia Định hoặc giao nốiđi về các thị trấn làng xã trong tỉnh. Vì thếtrong bài “Vè 47 chợ” đã mô tả nét đặc biệt vềsự nhộn nhịp ra vào “dọc ngang” của đoàn xethổ mộ tại ngôi chợ quan trọng hàng đầunày:

“...Thiên hạ thấtkinh
Là chợ Hớn Quản
Khô như bánh tráng
Là chợ Phan Rang
Xe thổ mộ dọc ngang
Là chợ Thủ Dầu Một
Khỏi lo ngập lụt
Là chợ Bưng Cầu...”

(Vè 47chợ)


(Hiếu Học - Hoàng Anh)


Câu đối tự trào


Vế chữ Nôm

“Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngồi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tầu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoanh ra dáng rạng ra rồng, ngông ra phết, cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng”.


Vế chữ Hán

“Quốc gia lịch tứ thiên dư, do truyền nhân vật, như Tô như Duật, như Phật Tử Quân, như Trần Quốc Tuấn, như Phạm Công thượng tướng quân, như Bạch Vân phu tử, như ngự sử Lê Cảnh Tuân, như công thần Nguyễn Công Trứ, tài chi tuấn thời chi tuế, thế chi ư, khí nhưng nhiên phủ, thần long đắc vũ tiện vân đằng”.


(vua Khải Định)


Bùi Xuân Phái vẽ tranh 

theo thơ Hồ Xuân Hương


Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

(1) Đèo Ba Dội hay Ba Đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, hoxuanhuong10

thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Cái hay cái dở ở thơ Bùi Giáng


Trong các nhà thơ được xếp hạng đó, hình như Thanh Tâm Tuyền, Huy Cận là các nhà thơ ít có những cái dở vô cớ. Xuân Diệu, Nguyễn Bính rồi Bùi tiên sinh nhà ta là các đấng tài hoa kiêm các đấng "hơi bị nhiều" các cái dở vô cớ, các đoạn, bài vớ vẩn. Thật chí vớ va vớ vẩn! 


Còn điều nữa, tương tự: Cái dở trong các bài thơ hay. Tìm hiểu điều dở, điểm bất cập trong những thi phẩm đã được xếp hạng kinh điển xét cho cùng, là vươn qua các thi phẩm cụ thể để thấy cái thú vô tận trong cõi chung, bất định, bất toàn của thi ca.
Hàn Mặc Tử có thơ rằng "Người thơ phong vận như thơ ấy". Bùi Giáng có một đời thơ; và trên hết, còn có những bài thơ, có một trường thơ trong làng thi ca tiếng Việt.


(Bùi Giáng – tranh Đinh Cường)Bui Giang ve Dinh Cuong


Các tiểu phẩm, dịch phẩm, biên khảo, sách giáo khoa của thi sĩ dường như chỉ mang giá trị tinh thần, không nhiều người tìm được giá trị sử dụng. 


Đọc xong ít nhiều trang văn xuôi của ông, tôi chẳng biết dùng nó vào việc gì, nhưng đinh ninh chúng là thứ của chìm cho hành trang sáng tác, suy tư của mình.


(Đỗ Quyên)


Đừng tưởng 


Đừng tưởng góp sức là chung

Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

(Bùi Giáng)


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy


Thư của nhà văn Khánh Trường chỉ mấy dòng, hỏi han sự viết lách và mời dịp nào qua Mỹ thì tới chơi Hợp Lưu. Chót thư anh viết :  ông đưa Huy dạo  phố Hà Nội,  như hồi nào  tôi với ông. Huy viết Tháng Ba Gãy SúngÔng đọc chưa ?


Ra đây là nhà văn Cao Xuân Huy?  Dạo đó,  ở " quốc nội " chắc là còn rất ít độc giả nghe danh nhà văn này. Như là tôi thì chỉ mới vừa đọc xong cuốn sách của anh cách đấy chừng một tháng, ấn tượng vẫn như đang nóng rát trên tay.


Đến khi đó chúng tôi như sực nhớ ra, mới bắt tay nhau. Tôi nói vừa đọc cuốn của anh. Anh nói cũng vậy đã đọc tôi. Anh bảo: 

" quyển tôi viết không phải tiểu thuyết, nó là hồi ký, nên  đọc rồi thì anh biết trong chiến tranh tôi thế nào, là ai, cũng như do đọc anh nên tôi biết ngày đó anh là bộ đội tác chiến trên Cao Nguyên ". 


Anh nói thế, ý là muốn ngay từ đầu rành mạch ra với nhau. Tôi cũng thích như vậy. Thẳng ra với nhau thì mới không xa lạ. Mà chúng tôi thì không xa lạ.  Mặc dù trong chiến tranh, lực lượng tổng trừ bị của quân đội Sài Gòn từng lên ứng chiến ở Tây Nguyên chỉ Dù mũ đỏ và Biệt Động mũ nâu chứ không thấy có Mũ Xanh, nhưng vẫn có thể coi rằng hai chúng tôi là chỗ "quen biết "  đã từ gần ba chục năm về trước. 


Giờ đây, gặp mặt. Một cái tiệm cà phê nho nhỏ, bên lề một con đường đẹp và yên ắng của Hà Nội.


(Bảo Ninh)


Tiểu sử CaoXuanHuy_thumb

Cao Xuân Huy sinh tháng 9.1947 tạii Bắc Ninh. Mất ngày 12.11.2010 tại California.


Tác phẩm

Tháng ba gẫy súng, Vài mẩu chuyện và một số truyện ngắn


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Nói lái trong nước 

Chuyện đau lòng nghĩ đến lại long đầu.


Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH.


Minh Thùy: Theo Minh Thùy được biết  trước đây chị được xem là nhà văn ngổ ngáo nhất trong số các nhà văn nữ thì lý do tại sao, và tên gọi có đúng với phong cách viết văn của chị không?

Trần Thị NgH.: Ngổ ngáo là chữ của người khác đặt cho người viết, còn người viết trong người như thế nào cứ… xịt ra như thế ấy, chả biết có phải là ngổ ngáo không, nhưng mà không thích điệu, thích cắt tóc tém, đi nhanh, ăn mặc gọn; trong văn chương thì không thích uốn éo, không tráng men, chắc vì vậy nên được coi là ngổ ngáo.


Minh Thùy: Chị là người đã viết văn trước 1975, hiện nay cuộc sống của chị ra sao, chị có vẫn tiếp tục viết không và có gửi sáng tác đến các báo, tạp chí trong nước không?

Trần Thị NgH.: Tôi vẫn tiếp tục viết nhưng nghề chính không phải viết văn mà dạy học nên chỉ khi có thì giờ mới viết. Đã có thử gửi một truyện đến một tờ báo Việt Nam nhưng người ta thấy có nhiều vấn đề trong đó. Thí dụ truyện Người Thuận Tai Trái, vài người quen biết trong giới văn học đã đọc truyện đó cho là nó mang tính cách giai cấp và kỳ thị địa phương.


Truyện được viết rất hồn nhiên không có ý gì cả, nhưng có thể nó được diễn dịch theo một cách nhìn nào đó. Năm 1997, một người bạn về Việt Nam thăm nhà – anh Phạm Việt Cường, làm biên tập trong báo Hợp Lưu cùng với anh Khánh Trường, do có sẵn vài truyện ngắn nên tôi để anh mang đi.

Thế là sau 22 năm truyện của tôi xuất hiện lại trên Hợp Lưu; từ đó tôi gửi truyện ra ngoài. Hiện nay ở Việt Nam có một tạp chí rất đẹp về hình thức và phong phú về nội dung, Saigon City Life, song ngữ, với một số bài viết của vài anh chị khá quen thuộc như Trịnh Cung, Thận Nhiên, Mạch Nha… trong đó có Trần Thị NgH…


Tờ báo đó dung nạp bài của những người đã viết cũ, trước 1975. Tôi viết những bài rất là trên trời dưới đất, như trời mưa, Saigon Mưa, và dưới đất như Sài Gòn Hẻm – những truyện không thể diễn dịch ra cách nào khác ngoài …mưa và hẻm.


(Minh Thùy phỏng vấn)


Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ


Tình chỉ đẹp khi tình dang dở
Cưới nhau về tắt thở càng nhanh


Làm báo văn học ở hải ngoại 


Những tình cờ định mệnh


Từ hội họa, bất ngờ, tôi (Khánh Trường) rơi vào lĩnh vực văn chương, báo chí. Đó là thời gian đầu đặt chân đến Mỹ. Đang loay hoay chưa biết làm gì, tôi được một người bạn giới thiệu với Du Tử Lê. Lúc ấy anh đang làm chủ bút tuần báo Tay Phải. Anh hỏi tôi "đã định làm gì chưa", tôi bảo chưa, anh liền đề nghị: "Thế thì về làm báo với mình, cho vui." "Tôi biết gì mà làm?" "Lay-out, tay ngang còn làm được, huống gì anh là họa sĩ".


Đúng như Du Tử Lê nói, chỉ cần một tí khéo tay, thêm một tí kiến thức về mỹ thuật, ai cũng có thể trở thành chuyên viên lay-out. Tôi lại có thêm lợi điểm: dư khả năng lấp đầy những khoảng trống còn thừa trong các cột báo bằng những minh hoạ. Thi sĩ họ Lê có vẻ hài lòng vì đã nhặt được một gã phụ tá... sáng trí, đa năng (!!!) Anh bèn đẩy sự hài lòng cao hơn tí nữa: một hôm, báo thiếu bài, anh nói với tôi: "KT viết hộ cái gì nhé."


Viết? Đề nghị thật bất ngờ. 

Tôi vốn mê đọc, là độc giả trung thành của tất cả nhà văn nhà thơ lớn bé thuộc mọi thành phần, giai cấp, trình độ, trường phái, khuynh hướng, phe nhóm... Từ Bên dòng sông Trẹm đến Bàn tay máu, từ Thung lũng tình yêu đến Hố thẳm tư tưởng, từ Lũ người quỷ ám đến Chiến tranh và hòa bình, từ Buồn nôn đến Dịch hạch... Tôi đọc tuốt tuột bất cứ cái gì vớ được. Nhưng viết thì chưa bao giờ. Tôi không mặn với chuyện viết lách. Bạn tôi, ở Sài Gòn trước và sau 1975, nhiều tên cầm bút, và tên nào trông cũng... không giống ai, khiến tôi... nhợn. Tuy nhiên chưa bao giờ không có nghĩa chẳng bao giờ. Ừ, thì viết. Thử xem. Thế là vài ba bút hiệu lăng nhăng nhảm nhí lần lượt xuất hiện. Lâu dần, trở thành quen. Và cũng lâu dần, nghề dạy nghề, tôi lên... lão làng, trong lĩnh vực "bán chữ" cho các tờ báo tuần, báo tháng.


(Khánh Trường)


“Petrus Ký – Nỗi oan thế kỷ” hay lịch sử bị chối bỏ?


Để gọi là một công trình như cách nói của Giáo sư Phan Huy Lê, nhà nghiên cứu, học giả Nguyễn Đình Đầu đã bỏ ra hơn 50 năm để sưu tầm những tài liệu có giá trị thực tiễn, bắt đầu từ năm 1960, khi ông là hội viên hội nghiên cứu Đông Dương.
Petrus Ký cũng trải qua nhiều sóng gió của khen, chê, tôn vinh, phê phán, nhưng cuối cùng khách quan, trung thực vẫn chi phối.


Giáo sư Phan Huy Lê
“Lúc đầu tôi chỉ chú ý đến tờ Gia Định báo thời Trương Vĩnh Ký làm chủ bút. Tôi đọc những bài viết về chương trình học của trường Thông Ngôn. Tôi thấy rất đặc biệt vì trường Thông Ngôn vừa dạy cho người Pháp vừa dạy cho người Việt (bằng chữ Hán). Sau đó tôi tình cờ thấy trong thư viện có 1 hồ sơ để ở chỗ khá đặc biệt, của Đại tá Hải quân Pháp coi cái đạo quân chiếm đóng Sài Gòn 1960. Trong hồ sơ đó, tôi thấy có hai cái thư của vị đại tá gửi cho thống đốc nói về Trương Vĩnh Ký. Ông thống đốc muốn kiếm 1 người thông ngôn, nói rõ người đó là Petrus Ký.”

***
Từ đó, ông đã tìm những sách mà Trương Vĩnh Ký viết về Gia Định ngày xưa, về Nam Bộ hoặc những bài mà Trương Vĩnh Ký sưu tầm lại về Gia Định cổ, Gia Định mới, lịch sử địa lý Nam Bộ bằng tiếng Pháp…và xem như đây là “một khám giá mới về sự hợp tác của Trương Vĩnh Ký với Pháp, sự nghiệp văn hoá của ông dựa trên tinh thần dân tộc chứ không phải theo thực dân.”

Đến 1991, tôi (Nguyễn Đình Đầu) có dịp đi Pháp nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, những tài liệu ở Pháp có mà nơi khác không có.


image

Một chiếc xe kéo chở khách
trên một con đường ở Hải Phòng 

thời Pháp, khoảng năm 1900. 
AFP photo


(Cát Linh RFA)


Đồng Tháp Mười


Theo tập san Sử Địa số 14, 15 năm 1969, viết:

“Tháp mười là một trong những ngôi tháp làm bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất để thờ vị thần Bà La Môn. Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc cổ, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (sanscrit) ghi tên Tháp thứ mười. “


(Nguồn gốc một số địa danh miền Nam – Hồ Đình Vũ)


Phố Hàng Đào

Mợ Hai vẫn điềm nhiên giơ thước lần lượt đo từng bó. Mợ soi mặt hàng lên, tìm cái gùn, cái gút. Để còn mặc cả bớt chiết chứ chẳng phải giỡn. Pho Sinh Tu


Nhà nào sắp đặt khéo, biết giấu lá lụa kém phía trước vào trong. Mợ Hai giở xem mấy thước, thấy mặt hàng phẳng, mép biên gọn ghẽ. Thế là được, mợ vứt toạch xấp lụa xuống chân sập. Anh thư ký xướng tên chủ lụa, số thước rồi ghi vào sổ cái. Bà bán được lụa nét mặt tươi hơn hớn. Chỉ còn đợi lấy tiền rồi bà bước ra, te tái lên Đồng Xuân, ù một cái vào chợ xách ra xâu lòng, quả dứa ta rồi đứng đợi tàu điện trước cửa chợ, hôm nay may mắn được về sớm.

Mợ Hai thong thả đo từng thước. Trên trần, cái quạt máy quay lọc cọc, khật khưỡng như ngái ngủ. Người ngồi lố nhố tận ngoài chen vào lại nịnh khéo, xuýt xoa kêu mát quá. Bà bên cạnh chép miệng: rõ hươu vượn khen phò mã tốt áo. Cái người vừa nhích lên, ngồi phải chỗ hắt nắng, vẫn nói:hây hẩy thế này mát quá, mát quá. Làm như khôngg để ý câu nói mỉa. Mà cả Hà Nội, có lẽ các phố Hàng Ngang, Hàng Đào này chật hẹp nhất, nóng nhất.

(Chuyện cũ Hà Nội – Tô Hòai)


Phở


Theo thời cuộc
Kháng chiến bùng nổ, người người tản cư và phở gánh cũng lên đường. Tuy nhiên sự lan tỏa chỉ giới hạn trong khu vực đồng bằng sông Hồng, vùng trung du bắc Việt Nam. Nguyễn Tuân - ông “tiên chỉ làng phở” cho chúng ta biết cái không khí rộn rã, tất bật một thời của “phở kháng chiến”. Trong vùng tự do nổi danh phở Giơi; phở Đất; phở Cống không thua gì phở vùng tạm chiếm. 


Phở đã có ở miền Nam trước 1954 song đó là loại phở lai,“nhập nhằng” với món hủ tiếu của người Hoa. Tình hình hoàn toàn đổi khác sau 1954, khi phở Bắc chiếm lĩnh dần mặt tiền các khu phố trung tâm Sài Gòn. Ngay lập tức, phở Nam bộ mang một phong cách riêng. Cái phong cách dễ dãi của vùng đất Nam kỳ thể hiện ngay trong phở: thêm giá sống, rau thơm, húng quế, ngò gai cho bổ bã mát ruột và các vị tương đen, tương đỏ của người Hoa.


Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào nam lập nghiệp, trong đó có phở “Tàu bay”. Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 (chưa đặt tên) ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay, ông rất thích nên thường xuyên đội nó khi bán phở. Thực khách thấy lạ, gọi ông bằng cái tên “ông Tàu bay”. Riết rồi thành tên quán.

 

Điểm mặt các hiệu phở Nam nổi tiếng Sài Gòn, phải điểm danh phở Hòa - Pasteur. Ban đầu lúc ra đời khoảng năm 1960, tiệm mang tên Hòa Lộc, sau khách truyền miệng “cắt” mất chữ Lộc chỉ còn lại phở Hòa: gọn dễ nhớ đúng theo quy luật bất thành văn về loại tên “nhất tự” đặc thù của phở. Đáp ứng thói quen mạnh mẽ, khoáng đạt của hậu duệ lớp người từng khai hoang mở cõi, phở tàu bay, tô xe lửa lần lượt ra đời. Những tô phở “khủng long” ấy hoàn toàn phá bỏ tính chất “quà” của phở phương Bắc và khiến các cô chiêu cậu ấm “cành vàng lá ngọc” thoáng trông thấy cũng đủ hoảng hồn!


(Nhiều tác giả)


Mừng cô Tư Hồng (*)


Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh

Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người


(*) Tư Hồng tên thật là Trần thị Lan, quê ở Phủ Lý (Hà Nam) lấy người Hoa Kiều là chú Hồng ở Hải Phòng, sau lấy người cố đạo phá giới là Croibier Huguet (còn gọi là cố Hồng). Cô Tư Hồng đã nhận đứng thầu phá nốt những mảnh tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê nhờ thế mà trở nên giàu có . Về sau Tư Hồng buôn gạo lậu thuế bị bắt, nói dối là đem phát chẩn, được bọn thực dân đề nghị với triều đình phong kiến cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân” và cho cả bố thị hàm Thi độc . 


Tư Hồng về làng ăn khao linh đình, có người mừng câu đối:

“Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn

Trăm năm danh tiếng của bà to”

(câu đối của Nguyễn Khuyến)


Dưa cà muối và mắm tép


Mặn một đời mẹ tần tảo nuôi con trên trời đều đổ dồn xuống mái nhà nhỏ bé này. Mưa rào xối xả dưới mái hiên. Bên ngoài trời đất mù mịt, u ám. Cố căng mắt mà chẳng nhìn thấy gì. 


Giữa màn nước trắng đục như vừa chợt thấy bóng mẹ ngày xưa vẫn đứng đó...Tay mẹ xanh gầy cầm bát cơm hứng dưới giọt gianh. Nước mưa trong vắt và lạnh. Hạt cơm thì đỏ quạch. Mấy quả cà trắng cứ lập lờ nổi lên, chìm xuống như đời mẹ. Cả đời mẹ quanh quẩn chỉ có cơm cà chan nước mưa, nước vối. Bây giờ được no đủ thì mẹ đã khuất xa...


Quả cà nho nhỏ lăn theo gót chân.

Vào cữ nắng hè ong ong, ủ lửa là lúc nắng già.  Ngoài trời, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt hoa cả mắt. Người ta bảo đấy là ' hoa nắng'.  Trời đứng gió, lá cây lặng ngắt.  Nắng đổ lửa thế cà sai quả lắm. Quả cà nho nhỏ thu hết nắng vào trong. Quả nào quả nấy tròn vo, da căng bóng.  Trong bấy nhiêu loại cà, mẹ chỉ kén cà xứ Thanh.  Là vì quả vừa phải, trăm quả đều tăm tắp như những viên cuội.  Cùi thì dầy mà ruột lại ít hạt.


Citadelle de Saigon 


“Thành Sài Gòn” do Minh Mạng dạy xây năm 1836; Pháp gọi Thành Sài Gòn 1836 là “Citadelle de Saigon”. Đến năm 1859 thành bị hạ bình địa, tính ra xây năm 1836, hạ năm 1859, thành thử chỉ đúng vỏn vẹn hai mươi ba năm, còn vắn số thua Quy Thành của Gia Long nữa:

- Quy Thành, xây năm 1790, phá năm 1835: 45 năm.

- Thành Sài Gòn do Minh Mạng dạy xây năm 1836, phá năm 1859, dùng được 23 năm.

(Minh Mạng vì giận giặc Khôi chiếm cứ mấy năm nên phá bỏ Quy Thành của Gia Long xây cất năm 1790. Qua năm 1836, Minh Mạng ra lệnh xây thành khác làng Nghĩa Hòa).


Ngày 8 tháng 3 dương lịch năm 1859, quân sĩ Pháp đặt 35 ổ cốt mìn phá tan tành. Thành 1836 chỉ còn mấy đống gạch đá vụn; đối với lịch sử thật là một lỗi lầm không nhỏ. Sau khi triệt hạ thành “Citadelle de Saigon”, Pháp xây thành lính “Sơn đá” của họ, tục danh “Thành 11è R.I.C” (Caserne du Onzième Régiment de l’Infanterie Coloniale – Trại Bộ Binh Thuộc địa đội thứ 11; trại nầy nằm gần đúng vị trí Citadelle Việt xưa).


Trại lính 11 è R.I.C và dưỡng đường Grall, có từ năm 1870. Gần hãng Shell bây giờ, ngày trước có chôn những lính tử trận giặc 1859, chừng có nghĩa địa đô thành mới cải táng. Vị trí nghĩa địa ở đầu đường Mạc Đĩnh Chi, tên cũ là Massiges, mà trước nữa là Bangkok. Ông d ' Ormay làm chủ sở Y Tế cho đến năm 1874, bịnh nhơn của ông phần nhiều về nằm nơi nghĩa địa nên lớp Tây cũ nói chơi với nhau, muốn trù ai chết sớm, thường nói: "qu'on l'envoye à Bangkok" (gởi nó đi Bangkok giùm).


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


Văn hóa ẩm thực


Thịt cầy Sài Gòn: 36 nẻo


Số lượng món khẳng định tài nghệ và đẳng cấp của người đứng bếp; nhưng cũng phản ánh cả thói quen ăn uống của vùng miền. Lúc trước ở khu vực miền Trung chỉ có 5 món, hay cùng lắm là 7 món, thường thì không có món đầu chó và dồi chó, nhưng lại có thêm món cháo xương/huyết chó nấu với đậu đen hay đậu xanh. Sài Gòn thì phổ biến với 9 món, tuỳ quán sẽ chọn trong danh sách này: luộc, hấp, tiết canh, rựa mận, nướng, xáo măng, chả chìa, dồi, hon, đùi nướng, đùi chiên (mà quen gọi là di động xối mỡ hay thiên cẩu đánh rơi giày)gần đây còn có cả lẩu lá cải, và chó càri, chó quay. Thế nhưng, mùi vị nguyên zin và để có thể xếp hạng được đẳng cấp bề trên "cầy quán" thì món luộc/hấp vẫn là quan trọng nhất.

Một đĩa luộc/hấp cùng vài lát dồi cũng như gan luộc tại Sài Gòn (năm 2006) giá phổ biến từ 15 đến 20 ngàn, khoảng 1 đến 1,2USD, kèm theo đó là chén mắm tôm với nhiều hương liệu pha chế như sả ớt băm, đường cát trắng, chanh và nửa muỗng café rượu trắng loại ngon, để đánh cho sủi bọt màu trắng. Kèm theo nữa là sả cây, vài lát riềng, lá mơ, lá ngò cưa (ngò gai), lá quế, rau ôm (hủ điếc), chuối cây xắt mỏng,… nhiều nơi còn 'chơi cả' củ tỏi, trái ớt, khế, chuối chát và bất kì rau gì ăn sống được, như đinh lăng, đọt xoài, đọt cóc, rau thơm… 


(Lý Đợi


Sài Gòn 1925 


Hôm nay, nhận được mấy tờ báo, nhìn lại bức ảnh xưa 62 năm, tôi liền lấy giấy ra để viết lại chuyện đời xưa 62 năm đó, nó cũng là một thứ “Vang Bóng Một Thời” phần nào.


Cụ Vương Hồng Sển có viết và cho xuất bản quyển “Saigon Năm Xưa”. Cái năm xưa của cụ Vương là khá xưa, cụ tả cái Saigon thời tiền Gia Long lận kia. Nhưng những cái Saigon về sau, không thấy được ai viết ra. Nay xin viết về Sạigon năm 1925, tuy không xưa đáng kể, nhưng cũng là một thứ chuyện đời xưa ít người biết, vì so với năm nay 1987, thì chuyện cũng đã cũ 62 năm rồi, các cụ mới lục tuần đâu có biết được.


Pháp đặt nền hành chánh tại Saigon vào năm 1861. Đến năm 1925 thì 56 năm đã qua. Trong già nửa thế kỷ, họ đã làm được cái gì, và đã xóa bỏ cái gì của Saigon trước 1861.


(Sài Gòn xưa in ít – Bình Nguyên Lôc)


Góp nhặt…


BBC phỏng vấn giáo sư Keith Weller Taylor, giảng dạy môn lịch sử Việt Nam tại đại học Cornell, Hoa Kỳ. Theo Keith Taylor: Trước thế kỷ 20, những người mà hiện nay ta gọi là người Kinh hay người Mường đã bị không bị phân biệt. Tất cả những người này đã cư trú trong một khu vực tự trị. Rất nhiều người có vai trò quan trọng trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lê Lợi đã ở những vùng mà hiện nay ta gọi là những địa phương người Mường.


Keith Taylor: Năm 1925, tạp chí Nam Phong đã in hai bài về người Mường. Một là do một người Mường đã viết, bài này không dùng thuật ngữ Mường mà chỉ nói về văn hoá tỉnh Hòa Bình và nói về những thế hệ lãnh đạo gọi Quan Lang bao gồm Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn... 


Quan Lang là tước hiệu của người lãnh đạo trong những địa phương hiện nay ta gọi vùng người Mường.


(Ngự Thuyết - Dòng dõi người Việt gốc Hoa?)


Từ điển và từ ngữ Việt Nam


Những sai lầm trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân


Trạng nguyên

Trạng nguyên là người đỗ đầu khoa thi đình. Nên biết rằng, ở Việt Nam, học vị trạng nguyên chỉ tồn tại đến năm Bính Thìn, năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736) đời vua Lê Hy Tông thì chấm dứt, với người đỗ trạng nguyên là Trịnh Huệ, quê ở xã Sóc Sơn, huyện Quảng Hóa (nay thuộc huyên Quảng Xương), tỉnh Thanh Hóa, mặc dầu chế độ khoa cử của Việt Namvẫn tồn tại đến 1919. 


Tuy nhiên, định nghĩa như thế có thể coi là tạm được. Ðiều đáng nói là, soạn giả chưa hiểu nghĩa của các từ tố trạng và nguyên vì ông cho rằng, trạng nghĩa là hình dáng, tình hình, bày tỏ; và, nguyên là đứng đầu. 


(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)


Cà phê Sài Gòn


Thời điểm này những nhà văn, nhà báo tên tuổi cũng có những quán cà phê của họ để gặp gỡ.  Những La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ…


(Cà phê Tây)9-ca-phe-sg-8


Cà phê La Pagode khách không ngồi ghế sắt ghế gỗ mà ngồi trên những salon bọc da để phóng tầm mắt nhìn ra đường 


Catinat con đường đẹp và sang nhất của Sàigòn. Cách La Pagode độ trăm mét Nhà hàng Continental cũng mở một không gian cà phê sang trọng đúng phong cách “Phăng-se”. 


Đối diện Continental là tiệm cà phê Givral nơi nổi tiếng với những món bánh ngọt tuyệt hảo. Tiệm tràn ngập ánh sáng bởi những khung cửa kính nhìn ra Nhà Hát Lớn với một bầu trời khoáng đãng. Những nhà báo, văn nghệ sĩ thường ghé đây uống cà phê trước khi tỏa đi khắp nơi cho công việc riêng của họ.


Còn một quán cà phê với một phong cách phương Tây như bàn ghế, trang trí nội thất sang trọng cũng nằm trên con đường nầy là quán cà phê Brodard. Với một phong cách cũng gần giống với La Pagode, không gian Brodard yên tĩnh, ánh sáng thật nhạt để khách có thể thả hồn êm ả bên tách cà phê nóng hổi quyện hương thơm.


Có thể nói từ giai đoạn nầy người Sàigòn “thức tỉnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ quên và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường… tự do khai thác. 

Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao… nữa mà nó thuần túy chỉ có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn…


(Thú vui tao nhã của người Sài Gòn – Khuyết danh)


Thành "citadelle" Việt xưa


Theo sử sách để lại, thành "citadelle" Việt bắt đầu từ khu Lê Thánh Tôn chạy đến mé sông là dứt, gồm có khu Dưỡng Đường Đồn Đất (Hôpital Grall trước gọi Hôpital Militaire), thành cũ 11 è R.I.C. và một khu vực thương mãi phồn thịnh ở gần thành xưa. 


Nếu xem địa đồ, ta có thể đóng khung "citadelle" trong bốn con đường hiện tại:

- Đường Phan Đình Phùng (Richaud cũ).

- Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Rousseau cũ)

- Đường Mạc Đĩnh Chi (Massiges cũ)

- Đường Nguyễn Du (Mossard cũ)


(Sài Gòn năm xưa – Vương Hồng Sển)


T.T.Kh. và chuyện tình thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

 

Gần đây ta lại biết thêm một chi tiết để có thể phủ nhận ức đoán trên: chuyện tình trong truyện ngắn “Hoa ti gôn” chẳng phải là chuyện tình của Thanh Châu với bà Trần Thị Vân Chung như một số người đã lầm tưởng mà đây chỉ là truyện được nhà văn Thanh Châu hư cấu nên từ cuộc đời thực của một người bạn làm họa sĩ: 

Họa sĩ Lê Phổ, người đã tốt nghiệp khóa đầu của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. 


Họa sĩ Lê Phổ sinh năm 1907 và đã mất tại Pháp năm 2002....

 

***

Thứ đến, hãy nói về Nguyễn Bính: khi đọc đến một đoạn của “bài thơ thứ nhất” – một đoạn thơ khá hay và nhiều ẩn ý:“…Ở lại vườn Thanh có một mình/ Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh/ Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo/  Yêu bóng chim xa , nắng lướt mành…” , ông đã đoán rằng T.T.Kh. là người mình yêu ở Thanh Hóa.

 

Số là Nguyễn Bính lúc trẻ đã bao lần lê gót viễn du suốt từ Nam chí Bắc. Một lần qua Thanh, gặp đêm mưa lớn,  vào trọ một điền trang, được người lão bộc tiếp đãi. Nhà có khu vuờn đẹp, trong nhà có cô gái trẻ đang ngồi quay tơ - mà ông gọi là "Người vườn Thanh" – Vốn là thi sĩnh đa tình, Nguyễn Bính xúc động lắm. 


Mấy năm sau, lại có dịp qua Thanh, tìm đến vườn xưa, lại được người lão bộc tiếp và kể cho nghe "một thiên hận tình" của cô chủ. Bẵng đi một thời gian, Nguyễn Bính chợt đọc được những bài thơ của T.T.Kh. trên Tiểu thuyết thứ bảy và đã viết bài "Dòng dư lệ" với những câu:

“...Truyện xưa hồ lãng quên rồi,
Bỗng đâu xem được thơ người vườn Thanh.
Bao nhiêu oan khổ vì tình,
Cớ sao giống hệt chuyện mình gặp xưa?
Phải chăng? Mình có nên ngờ,
Rằng người năm ngoái bây giờ là đây?.”

 

Về Dòng dư lệ, Nguyễn Bính cho rằng "Người vườn Thanh" chính là T.T.Kh. Ít người đã nghĩ như Nguyễn Bính, nhiều người khác thì cho rằng đây chỉ là ngộ nhận của một thi sĩ đa tình.


(Nguyễn Cẩm Xuyên)


Từ cua cáy phiếm lược đến sông nước miền Nam 


Ăn chay nói dối, ăn mặn nói ngay với miền Nam mưa nắng hai mùa, Bắc kỳ tôi thiên bất đáo địa bất chi về Bến Tre như thế này. Ấy là nhè vào tuổi nhầng nhầng, tôi xuống Bến Tre ăn đám cưới ông anh họ. 


Trong khi chú rể cô dâu đang ấp trứng như anh cua đực ‘’giao phối’’ với chị cua cái. Tôi như gà nấp bóng, ra ngồi ở lan can nhà sàn bên bờ sông câu cá. Nói cho oách vậy thôi, vì cần câu là…cái loong sữa Ông Thọ, thả giây xuống như ông Lã Vọng Tựa gối ôm cần lâu chẳng được - Cá đâu đớp động dưới chân bèo.


Miền Nam sáng nắng chiều mưa, qua đất tạm dung, Bắc kỳ tôi nhờ tam nhật bất độc thư, ngữ ngôn dã vô vị. Ông Khổng Khâu ở đất Trâu bên Tàu diễn Nôm là 3 ngày không đọc sách, nói năng nhạt nhẽo khó nghe

Nhờ vậy tôi bắt qua vua Minh Mạng:


Năm 1832, Minh Mạng thứ 12 dùng 6 chữ từ bài cổ thi: Khoái mã gia biên vĩnh định an hà nghĩa là “phóng ngựa vung roi giữ yên đất nước”. Từ bài cổ thi này, Minh Mạng đặt tên cho 6 tỉnh : Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, và Tiên. 

Theo bản đồ, Nam Kỳ lục tỉnh bắt đầu từ Biên Hoà hướng về Hà Tiên gồm 6 tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.


(Nguồn: Đặc san Phù Sa Sông Cửu)


(xem tiếp kỳ tới)


Ẩm thực miền Bắc


Bánh khúc 


Những chiếc bánh gai nâu xanh sẫm cho đến bánh đúc lạc trắng tròn được gói trong những mảnh lá chuối xanh, hay là tiếng rao bánh giò, bánh khúc ở các góc phố, con ngõ của miền Bắc đã trở thành một phần kí ức của nhưng người con đã đang sống nơi đây. 


Banh Khuc


(Tasty Kitchen)


Ẩm thực miền Bắc


Bánh gai


Banh Gai


Như bánh khúc, những chiếc bánh gai nâu xanh sẫm đã trở thành một phần kí ức của nhưng người con đã đang sống nơi đây.

Sặc sỡ là thế, nhưng dân dã cũng là thế, nhưng ẩm thực miền Bắc luôn mang đến cho người thưởng thức một cảm xúc tràn đầy, trọn vẹn như một tác phẩm nghệ thuật. 


(Tasty Kitchen)


Nguyễn Tất Nhiên, bao năm tình lận đận


T.N: Và dự định về một tập thơ kế tiếp ?

N,T.N: Đó là chuyện năm tới. Tôi đang nghĩ tới một tập mới với tựa Thơ Nguyễn Tất Nhiên.


T.N: Bạn đã gặp may mắn hay trở ngại nào ở tập thơ thứ nhất ?

N.T.N: Như cái nhan đề của nó vậy. Và còn ảnh hưởng về sau này. Cũng nhân đây, tôi muốn ngỏ lời cám ơn các bạn nhỏ của tôi ở Ngô Quyền, Biên Hòa. Đã tiếp tay giúp tôi trong những sinh hoạt văn nghệ.  Và cũng là một lời xin lỗi. Mong các bạn nhỏ hiểu giùm, đợi một ngày gần đây.


(tuần báo Tuổi Ngọc phỏng vấn)


Tiểu sử: Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh năm 30.5.1952 tại Đức Tu, Biên Hòa. Mất ngày 3.8.1992 tại California.

Tác phẩm: Thơ Nguyễn Tất Nhiên; Những năm tình lận đận; Minh Khúc, Thiên tai


Đám ma Lý Toét  



Đỗ Đức Thu sinh 1909, quê làng Mọc, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ học ở Thái Bình, học trung học ở Hà Nội. Truyện ngắn ” Ba ” của ông được giải thưởng khuyến khích của Tự lực văn đoàn năm 1935. Sau 1954, Đỗ Đức Thu sống cuộc đời viên chức tại Sài Gòn và mất năm 1979. Những tác phẩm chính: Vỡ lòng (tiểu thuyết 1940, có in phụ mấy truyện ngắn), Bốc đồng (tiểu thuyết, 1942), Nhà bên kia (tập truyện ngắn, 1942), Đứa con (tiểu thuyết, 1945)… Đám ma Lý Toét rút từ tập truyện ngắn Vỡ lòng 


Lý Toét & Xã Xệ (thân tri sưu tầm)


(Đỗ Đức Thu)


Tác giả: Đỗ Đức Thu sinh ngày 28-12-1909 tại Thái Bình, nguyên quán quê ông ở làng Mọc, huyện Thanh Trì, Hà Đông. Thuở nhỏ, ông học ở Thái Bình, ở Hà Nội, rồi bỏ học sau lần bãi khóa để tang chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Từ đó, ông viết văn. Ông gia nhập nhóm Tự lực văn đoàn năm 1936, sau lần truyện ngắn của ông được tặng giải khuyến khích của văn đoàn này và viết nhiều truyện ngắn đăng trên báo Ngày Nay.. Sau 1954, ông vào Sài Gòn, mất ngày 5-3-1979 tại Tân Định, Sài Gòn, thọ 70 tuổi.

Tác phẩm: Vỡ lòng (tiểu thuyết) NXB Đời Nay, Hà Nội 1940, Nhà bên kia (tập truyện ngắn) NXB Công Lực, Hà Nội, 1943, Đứa con tạp chí Thanh Nghị 1943


Tên 134 bản nhạc trong một bài thơ


Con thuyền không bến có hay

Trăng mờ bên suối ngàn đời

Sao Mùa thu chết còn rơi rớt nhiều

Đèn khuya một bóng cô liêu


(Sưu tầm từ VMQH)


Bát phở không người lái

(Kỷ niệm về thời bao cấp)


Bấy giờ tôi có một chị người cùng làng làm nhân viên trong cửa hàng mậu dịch ấy. Chỉ nội một việc ấy thôi cũng đã là một điều phi thường.


Nói không ngoa tý nào, chị là niềm tự hào của cả làng tôi đấy. Đến nỗi mỗi khi ai đó có việc phải xuống phố huyện, trước khi đi thế nào cũng được nghe những lời dặn dò: “cái ấy, con nhà ấy nó làm ở mậu dịch huyện đấy”. Đi rồi thế nào ở làng cũng túm năm tụm ba kháo nhau: “nhà ấy... hôm nay nó xuống phố huyện, chẳng biết có biết lối mà ghé vào chỗ con ấy… ở mậu dịch không....” Khi trở về thì từ đầu làng tới cuối làng, thế nào cũng hết người nọ đến người kia túm lấy mà hỏi đủ thứ chuyện về chị mậu dịch viên quý hóa muôn vàn tình thương mến ấy.


(Phạm Lưu Vũ)


Chín chữ cù lao


Thành ngữ này thường dùng để chỉ công lao khó nhọc của bố mẹ. (Cù là siêng năng, lao là khó nhọc). Chín chữ cù lao ấy là :
Sinh : đẻ, cúc : nâng đỡ, phủ : vuốt ve, súc : cho bú mớm lúc nhỏ, trưởng: nuôi cho lớn, dục : dạy dỗ, cố : trông nom săn sóc, phục : xem tính nết mà dạy bảo cho thành người tốt, phúc : giữ gìn.


Trong Truyện Kiều có câu :

– Duyên hội ngộ, đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn.
– Nhớ ơn chin chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.


Phở Dậu


Nhà văn Phan Nghị, từng lê lết nơi phở Dậu, nhớ lại: “Phở Dậu có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào: không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó”.


Sau 1975, phở Dậu là ngã ba hẹn hò của giới ăn phở Dậu trước đó, khi thành phố chưa đổi tên. Ngày đó, bạn bè chúng tôi tan tác sau cơn bão dữ, ai còn, ai đi thoát, ai chưa “cải tạo” về, cứ tới phở Dậu là biết hết. Gọi là “ngã ba hẹn hò” cho thêm phần tình cảm chứ thật ra chúng tôi chẳng ai hẹn ai. Cứ thuận chân tới. Tới sẽ gặp. Gặp rồi đấu láo chửi thề. Thường chúng tôi mắng mỏ nhau sao chậm lụt thế. Trông thấy cái mặt nào còn trình diện là thêm một ngao ngán. 


Phở Dậu ngày nay, chỉ có địa điểm là cũ!


Tôi có giấy bảo lãnh đi Canada. Bà Uy mà ai cũng mặc nhiên tưởng bà tên Dậu, cũng cùng một trường hợp. Bà và tôi có thêm thân tình của người đồng hội đồng thuyền. Bà ôm riết tiệm chẳng có thời giờ. Tôi rảnh chân chạy chỗ này chỗ kia nên có một số tin tức. Mỗi lần tôi tới, bà ngước mắt hỏi. Chúng tôi lại to nhỏ. 

Có lần bà xếp tôi ngồi vào góc chiếc bàn trong bếp, bên cạnh những hành ngò, nằm bẹp giữa những thùng bánh phở, những chậu xương còn máu me đỏ lòm. Chẳng phải để bàn chuyện bí mật quốc gia chi mà chỉ vì tiệm hết chỗ.


(Song Thao)


Chữ nghĩa làng văn


Nhớ về nhà văn Cao Xuân Huy - 2


Anh nói thế, ý là muốn ngay từ đầu rành mạch ra với nhau. Tôi cũng thích như vậy. Thẳng ra với nhau thì mới không xa lạ. Mà chúng tôi thì không xa lạ.  Mặc dù trong chiến tranh, lực lượng tổng trừ bị của quân đội Sài Gòn từng lên ứng chiến ở Tây Nguyên chỉ Dù mũ đỏ và Biệt Động mũ nâu chứ không thấy có Mũ Xanh, nhưng vẫn có thể coi rằng hai chúng tôi là chỗ "quen biết "  đã từ gần ba chục năm về trước. 


Đã chiều muộn. Tiệm đông dần lên và bắt đầu nhạc nhọt. Huy nói căn phòng của ông già anh ngay kia, nhưng để bữa khác mời qua chơi, bữa nay mình kiếm chỗ nào. Mà hay nhất là được chỗ còn lưu dấu Hà Thành năm 54. Biết một chỗ như vậy, tôi chạy xe máy chở anh tà tà dọc Phố Huế, Hàng Bài, vòng quanh Bờ Hồ. Rồi dừng ở nhà Thuỷ Tạ. Đa phần người ta đến đấy giải khát, kem que kem cốc, nhưng ở đấy cũng có quầy rượu. Huy nói tửu lực xuống nên bấy lâu chỉ bia, song bữa nay, giữa Hà Nội, bên hồ Gươm, thì đúng là phải thứ gì nặng ký, để tụi mình, thuở nào nón xanh mũ cối giờ đây đầu bạc thù tạc coi sao.


(Bảo Ninh)


Tiểu sử CaoXuanHuy_thumb

Cao Xuân Huy sinh tháng 9.1947 tạii Bắc Ninh. Mất ngày 12.11.2010 tại California.


Tác phẩm

Tháng ba gẫy súng, Vài mẩu chuyện và một số truyện ngắn


Vĩnh biệt Đào Mộng Nam


Báo Văn Nghệ ở Hà Nội, trong một số báo hai năm trứơc, có ghi nhận về công trình nghiên cứu và dịch thuật của Đào Mộng Nam về thơ văn Cao Bá Quát - với người viết là Nguyễn Huy Thuận và tựa bài viết là "Biết thêm về Cao Bá Quát", trích như sau:


"Ngày 16-12-2004, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thuộc Hội Nhà văn đã tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập và Hội thảo khoa học về Cao Bá Quát. Đông đảo các nhà nghiên cứu văn học, các chuyên gia Hán, Nôm, các nhà văn và bạn đọc đã đến dự. Giáo sư tiến sĩ Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm đã ôn lại chặng đường 10 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc, đặc biệt là các công trình lớn về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, về từ điển Tiếng Huế... 


Trong công việc thầm lặng vô cùng khó khăn này, với sự cộng tác tâm huyết của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước, Trung tâm đã sưu tầm, bổ sung nhiều tài liệu đặc biệt quý hiếm, chẳng những có giá trị về văn chương mà còn là những chứng tích rực rỡ về lịch sử, chính trị, dân tộc học, ngôn ngữ học... Vừa công phu lật tìm trong bụi phủ của quá khứ vừa chạy đua với thời gian, vì có nhiều chuyên gia lớn về Hán, Nôm đã trên dưới 100 tuổi, công phu, chuẩn xác, năng động, sáng tạo, chặng đường 10 năm của Trung tâm là một điển hình đẹp đẽ đầy tâm huyết với văn hoá dân tộc… Văn nghệ xin giới thiệu bài Biết thêm về Cao Bá Quát của tác giả Nguyễn Huy Thuận trong Ban quản lý di tích Phú Thị, quê hương Cao Bá Quát. Trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, sinh viên đại học, cao học về Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội) tìm tư liệu về Cao Bá Quát và quê hương Phú Thị. 


(Phan Tấn Hải)


***


Phụ đính II


Làm vợ nhà văn


Nhà thơ Hoàng Trung Thông - 1


Sinh thời, mặc dù từng giữ vị trí lãnh đạo nhiều cơ quan, song nhà thơ Hoàng Trung Thông có cuộc sống rất thanh bần (trong bài Khách ở quê ra chơi, ông gọi mình là "nhà thơ kiết xác").

Đã vậy, những năm cuối đời, ông thường đắm mình bên chén rượu, mặc sức khỏe ngày thêm suy sụp. Và mặc dù, ở nhà, vợ ông luôn chuẩn bị cho ông không ít các vò rượu ngon, song ông vẫn năng đến quán xá, vì ở nơi ấy ông được gặp bè gặp bạn.

Cùng quê Quỳnh Lưu (Nghệ An), bà Hoa kết duyên với tác giả Bài ca vỡ đất với một ý thức hết lòng chăm lo cho sự nghiệp của chồng. Bà tháo vát, đảm đương mọi việc trong nhà, một tay nuôi dưỡng đàn con khôn lớn.


(Phạm Nhật Linh)


Làm vợ nhà văn


Nhà thơ Hoàng Trung Thông - 2


Thương chồng, bà làm thêm đủ thứ, từ gỡ tơ rối, đan len… Bà được xem là người chiều chồng và hiếu khách (nhất là các bạn văn của ông). Để phòng lúc ông quá chén, trong nhà bà luôn trữ sẵn bột sắn dây, đậu xanh để nấu cháo giã rượu cho chồng.

Ông từng có những vần thơ viết tặng vợ Còn anh thơ rượu, em xuôi ngược/ Lo lắng ngày đêm không nghỉ ngơi và Chao ôi, anh lại đi uống rượu/ Anh làm em khổ, khổ vì anh..


Sinh thời, nhà phê bình văn học Ngọc Trai từng kể câu chuyện: Hồi Hội nghị nhà văn Á - Phi được tổ chức tại miền Nam nước ta, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã ao ước, giá tiện xe của ban tổ chức, hội cho vợ mình được đi cùng chồng một chuyến để bà được trông thấy miền Nam thì hay quá. Song tiếc thay, cho đến lúc hai tay buông xuôi từ giã cõi đời, ông vẫn chưa thực hiện được ước nguyện ngỡ như cũng… giản đơn này.


(Phạm Nhật Linh)





 MỜI XEM ;

CHỬ NGHĨA LÀNG VĂN Kỳ 1/5/2026 - Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Tạp Ghi và Phiếm Luận : NHỮNG NHẠC KHÚC MÙA HÈ TRƯỚC 1975 (Đỗ Chiêu Đức)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét