Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn hải chiến Hoàng Sa. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn hải chiến Hoàng Sa. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

1 thg 6, 2014

Thư tịch Trung Hoa thừa nhận Hoàng Sa,Trường Sa là của Việt Nam

Hoàng Sa Trường Sa

Theo chính sử Trung Hoa, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần, Hán đến sau Thế chiến thứ II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu chữ nào ghi rằng Biển Đông (Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa ghi lại trong lịch sử đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
China1740Bản đồ nước Tàu năm 1740
Một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Hoa là cuốn “Lịch sử Trung Quốc thời trung cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, học giả Hsieh Chiao-Min trong bài “Nghiên cứu về lịch sử và địa lý” nhận định về cuộc thám hiểm của Trung Hoa tại đại dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết với đại dương”. Theo các tài liệu lịch sử chính thống “thảng hoặc triều đình Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ III và thứ II (TCN) và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ XV. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Hoa” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ III TCN đến nhà Thanh từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX).
Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục Biển Đông nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế đoàn thuyền chỉ đi ngang qua Biển Đông nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hòa đã góp phần làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.
Sử gia Triệu Nhữ Quát đời nhà Tống trong cuốn Chư Phiên Chí đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 TCN, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra 2 quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ I TCN, Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam. Mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII) mới đặt lại quyền cai trị”. Triệu Nhữ Quát cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Hoa không nên đến gần vì chỉ đi sai một tí là có thể chìm đắm. Nhan đề sách là Chư Phiên Chí, có nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, có nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.
Một trang trong cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt.
Đời nhà Đường có sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập tới cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu chép những chuyện kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Sách này chép, tại Thất Châu Dương (nhóm An Vĩnh, quần đảo Hoàng Sa) là nơi có nhiều đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt đi qua không được. Điều này đã khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc về Giao Châu xưa (nay là Việt Nam). Trong đời Nam Tống, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”. Chư Phiên Đồ đời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương hay Biển Giao Chỉ là Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi Hoàng Sa và Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ hàng trăm dặm về phía nam. Như vậy, các thư tịch cổ Trung Hoa từ đời nhà Tống đã cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc về nước khác mà Trung Quốc gọi là phiên quốc hay Giao Châu, Giao Chỉ.
Vào đời nhà Nguyên, quân và dân Đại Việt đã 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược và góp phần phá tan kế hoạch Đông Tiến (đánh Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn. Sau 3 phen thất bại, nhà Nguyên không còn dòm ngó Đại Việt cả trên lục địa đến các hải đảo. Trong suốt các thế kỷ XIII và XIV, theo chính sử Trung Hoa, quân Mông Cổ không hề có ý định xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Dư Địa Đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư Đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561 phần cực nam lãnh thổ Trung Hoa là đảo Hải Nam.
Đời nhà Minh, Thiên Hạ Thống Nhất Chi Đồ trong Đại Minh Nhất Thống Chí (1461), Hoàng Minh Đại Thống Nhất Tổng Đồ trong Hoàng Minh Chức Phương Địa Đồ (1635) đã vẽ phần cực nam Trung Hoa là đảo Hải Nam. Trong khi cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi Biển Đông là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hoà Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa (hay theo cách gọi của Trung Hoa là Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc) trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương (Tây Dương). Nhiều tài liệu chính sử nhà Minh cho biết, từ thế kỷ XV, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Lưu ý rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh để giành lại chủ quyền cho Đại Việt bị Minh Thành Tổ chiếm đoạt từ 20 năm trước (1407).
Đại Thanh nhất thống toàn đồ
Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.
Đời nhà Thanh, từ thế kỷ thứ XVII đến XX, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Bản Đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ XX, sự kiện này còn được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: “Điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại vĩ tuyến 18”. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ vĩ tuyến 20 (ngang Thanh Hoá) đến vĩ tuyến 18 (ngang Nghệ An – Hà Tĩnh). Trong khi quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 8 (Cam Ranh – Cà Mau). Bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do triều đình nhà Thanh ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cũng không thấy ghi theo cách gọi của Trung Quốc là Tây Sa, Nam Sa, Vịnh Lạc, Tuyên Đức…). Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) chép: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Trong bộ sách địa lý Đại Thanh Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán nhà Thanh biên soạn năm 1842 với lời tựa của hoàng đế Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa). Trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (1744), vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Trong vụ ngư dân đảo Hải Nam cướp tàu chở đồng bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa những năm 1895-1896, để trả lời văn thư phản kháng của Chính phủ Anh, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trung Hoa đã phủ nhận trách nhiệm với lý do: “Hoàng Sa không liên hệ gì tới Trung Quốc”. Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự (1695) của Thích Đại Sán một nhà sư thời Khang Hy đã đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn ngày 29 tháng giêng năm Ất Hợi (13-3-1695) thuật lại chuyến hải hành này và ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII.
Các tài liệu cổ của Trung Hoa rõ ràng cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hoà bình và liên tục không có sự phản đối của bất cứ quốc gia nào kể cả của Trung Quốc. Điều đó được minh chứng từ tư liệu chính sử của nhiều triều đại Trung Quốc trong đó đã mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hơn 22 thế kỷ từ thời Tần, Hán cho đến đầu thế kỷ XX.
VietNam1771
Việt Nam 1771.
(st và chuyển:H.Phi)

17 thg 2, 2017

17/2/1979 "Công bằng, sòng phẳng để nói cho rõ, cho hết mọi vấn đề"

(Dân trí) - Đó là phát biểu của GS-TSKH Nguyễn Quang Ngọc – Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam.


(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Bởi biết bao xương máu cha ông đã hi sinh, giành lại hòa bình độc lập cho dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, thì không cớ gì trong các cuộc kháng chiến chống sự bành trướng, xâm lược của Trung Quốc chúng ta lại lãng quên, hoặc ghi chép không đầy đủ.
Theo Bộ Giáo dục – Đào tạo, mặc dù các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, phía Tây Nam, hải chiến Hoàng Sa, Trường Sa… đã được đưa vào sách giáo khoa, nhưng dung lượng thông tin như hiện nay là quá ngắn gọn, chưa làm thỏa mãn được những nhà viết sử, thầy cô giáo và học sinh.
37 năm đã trôi qua kể từ cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc ngày 17/2/1979 là quãng thời gian vừa đủ để chúng ta nhìn lại dấu mốc lịch sử đáng nhớ này, để đặt cho nó một vị trí đúng tầm, trả lại cho nó một vai trò, vị trí xứng đáng hơn giống như những gì chúng ta đã làm đối với hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Trao đổi trên Tuần VietNamnet, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình khẳng định: “Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử. Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ”.
Nhìn nhận lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, sách giáo khoa lớp 12 chỉ dành đúng 11 dòng để thông tin về cuộc chiến là quá ngắn, quá ít ỏi để có thể miêu tả hết những giá trị về mặt tầm vóc, ý nghĩa của cuộc chiến mà “chính nghĩa đứng về phía Việt Nam” trong việc bảo vệ biên cương, lãnh thổ trước sự xâm lược của Trung Quốc.
Nói như GS-TSKH Nguyễn Quang Ngọc – Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 là cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. “Việc đưa cuộc chiến tranh với Trung Quốc năm 1979 vào sách giáo khoa Lịch sử một cách tương xứng với tầm vóc cuộc chiến là việc dứt khoát phải làm. Với cuộc chiến này, chúng ta phải công bằng, sòng phẳng để nói cho rõ, cho hết mọi vấn đề", GS Ngọc bày tỏ quan điểm.
“Công bằng, sòng phẳng” nghĩa là chúng ta cần có những bằng khen, những phong tặng danh hiệu anh hùng bảo về Biên giới phía Bắc, phía Tây Nam trong các cuộc chiến từ 1979 cho đến gần 10 năm sau chứ không chỉ là “anh hùng chống Pháp”, “anh hùng chống Mỹ”. Tổ quốc ghi công cho những liệt sỹ chống Pháp, chống Mỹ thì tại sao lại lãng quên việc ghi công máu xương của cha ông đã đổ xuống trong thời kỳ này? Những bà mẹ Việt Nam anh hùng mất chồng, mất con trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ được vinh danh thì tại sao chúng ta bỏ quên những bà mẹ cũng mất chồng, mất con trong cuộc chiến bảo vệ biên giới? Hàng vạn con người Việt Nam đã không tiếc máu xương, hi sinh bảo vệ tổ quốc vẫn chưa được các nhà chép sử đưa vào sách giáo khoa một cách đầy đủ để ghi nhận công lao như nó cần có?
Trao đổi với VietNamNet, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết, sách giáo khoa hiện hành tuy không đề cập đầy đủ nhưng cũng đã nói đến cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung, chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia và một số nội dung liên quan đến Trường Sa, Hoàng Sa. “Thông qua nhiều kênh khác nhau, Bộ đã được nghe ý kiến của các chuyên gia, nhà sử học về việc cần đưa nội dung các cuộc chiến tranh vào sách giáo khoa với dung lượng phù hợp", Thứ trưởng Hiển khẳng định. Đây quả thực là tin đáng mừng, là sự lắng nghe hết sức cầu thị từ phía Bộ Giáo dục – Đào tạo.
Nhà thơ Rasul Gamzatop từng nói một câu rất nổi tiếng: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng một khẩu súng lục, thì tương lai sẽ nã vào anh bằng đại bác”. Vì vậy, đưa thông tin đầy đủ sự thật, xứng đáng với tầm vóc của các cuộc chiến bảo vệ biên giới, hải đảo vào sách giáo khoa rõ ràng là việc dứt khoát phải làm, dù muộn vẫn còn hơn không, phải không các bạn ?


Thế Nam

13 thg 3, 2016

Sự xảo trá của TQ khi tuyên truyền về trận Gạc Ma (từ Zings)



Sau khi dùng vũ lực chiếm đóng Gạc Ma, Trung Quốc ra sức tuyên truyền bóp méo sự thật, lừa dối thế giới về trận hải chiến năm 1988.
Sự xảo trá của TQ khi tuyên truyền về trận Gạc Ma
Vị trí đá Gạc Ma ở các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa. Ảnh: NASA

Trong các ấn bản tiếng Anh, phía Trung Quốc luôn rêu rao Việt Nam gây hấn cũng như khai hỏa tấn công các tàu Trung Quốc trước, dẫn tới cuộc xung đột trên đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đồng thời Bắc Kinh khẳng định cái gọi là chủ quyền không thể chối cãi với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bất chấp việc thiếu bằng chứng lịch sử, pháp lý cũng như thực tế họ đã chiếm đoạt nhiều đảo, đá bằng vũ lực, vi phạm luật pháp quốc tế.
Theo lời rêu rao của Trung Quốc, ngày 13/3/1988, tàu khu trục Trung Quốc phát hiện tàu vận tải HQ-604 của Việt Nam tiến tới gần đá Gạc Ma. Tàu HQ-605 tiến tới đá Len Đao và tàu đổ bộ HQ-505 tiến về phía đá Cô Lin. Ở thời điểm này, Trung Quốc đang huy động nhiều chiến hạm, bao gồm các loại tàu khu trục và hộ vệ tên lửa ở khu vực Trường Sa của Việt Nam. Dựa vào chức năng của các loại tàu mà Trung Quốc điều tới, dễ dàng nhận thấy âm mưu của Trung Quốc muốn dùng vũ lực để cướp lãnh thổ Việt Nam.
Luận điệu giả trá, lừa thế giới
Về trận hải chiến ngày 14/3/1988, Trung Quốc ngang ngược đổ lỗi xung đột là do quân đội Việt Nam cắm cờ trên đá Gạc Ma, trên thực tế thuộc chủ quyền của Việt Nam từ xa xưa. Theo luận điệu dối trá của phía Bắc Kinh, một trận chiến giáp lá cà xảy ra khi lính Trung Quốc cố gắng giành cờ khỏi tay bộ đội Việt Nam trên thực thể địa lý thuộc chủ quyền của Việt Nam. 
Tuy nhiên, thực tế lại không giống như những lời Trung Quốc vẫn tuyên truyền. Theo lời kể của các nhân chứng còn sống sót, Trung Quốc sử dụng xuồng máy để đưa lính lên Gạc Ma. Lực lượng này được trang bị súng trường tấn công. Sau khi uy hiếp tinh thần và giằng cờ nhưng không thể khuất phục được các chiến sĩ Việt Nam, Trung Quốc nổ súng tấn công các chiến sĩ đang nỗ lực giữ quốc kỳ để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.
Trung Quốc vu khống tàu HQ-604 của Việt Nam nổ súng tấn công tàu khu trục tên lửa Nanchong của Trung Quốc. Cáo buộc một tàu vận tải Việt Nam tấn công tàu khu trục tên lửa Trung Quốc trong bối cảnh chiến hạm nước này áp đảo cả về số lượng và uy lực đã nói lên sự dối trá của Trung Quốc. Trên thực tế, HQ-604 đã bị loạt đạn 12 ly 7 của tàu Trung Quốc bắn trúng ở khoảng cách chừng 300 m.
Sự xảo trá của TQ khi tuyên truyền về trận Gạc Ma
Tàu HQ-604 khi nhận lệnh ra Gạc Ma. Ảnh tư liệu Lữ đoàn 125
Tương tự, Trung Quốc bịa đặt việc tàu HQ-605 của Việt Nam tấn công tàu khu trục Xiangtan dù thực tế trái ngược hoàn toàn. Trước hỏa lực vượt trội của tàu Trung Quốc, HQ-605 cũng chịu chung số phận với HQ-604. Tuy nhiên, Việt Nam bảo vệ thành công chủ quyền với đá Len Đao. Trung Quốc chỉ cướp được Gạc Ma.
Bên cạnh những tuyên bố chính thức của chính quyền, Bắc Kinh còn tận dụng con bài là các học giả mang danh trung lập, nhưng thực chất là những người có gốc gác và quan hệ với Trung Quốc, để đánh lừa cả thế giới. Chiêu bài này được Trung Quốc sử dụng nhiều lần nhằm hiện thực hóa yêu sách chủ quyền trên Biển Đông chứ không riêng vụ hải chiến Gạc Ma.
Trong bài viết về Hải chiến Gạc Ma trên Wikipedia, ý kiến trung lập được sử dụng là hai giáo sư người Mỹ Cheng Tun-jen và Tien Hung-mao, những người có gốc gác Trung Quốc. Dù nhiều người đặt câu hỏi với độ tin cậy của các bài viết trên Wikipedia nhưng thực tế, đây vẫn là nguồn thông tin dễ tìm kiếm nhất mà người dùng có thể sử dụng để có cái nhìn toàn cảnh về cuộc đụng độ năm 1988.
Theo nhận định của Cheng Tun-jen và Tien Hung-mao, cuối năm 1987, Trung Quốc bắt đầu triển khai binh sĩ để chiếm các đá và rạn san hô “vô chủ” ở Trường Sa, bất chấp việc quần đảo này thuộc chủ quyền Việt Nam. Nhận định của hai giáo sư gốc Trung Quốc thực chất là lời biện minh cho hành động phi pháp của Bắc Kinh khi dùng vũ lực chiếm Gạc Ma của Việt Nam năm 1988.
Cheng Tun-jen, giáo sư người Mỹ gốc Hoa, đang giảng dạy tại Trường cao đẳng William và Mary, bang Virginia, Mỹ. Cheng là chuyên gia về quan hệ quốc tế và chính sách ở Đông Á. Dù mang trong mình nguồn gốc Trung Quốc nhưng những nghiên cứu của Cheng lại có tiếng nói trong cộng đồng quốc tế vì người ta thường không chú tâm tới gốc gác của vị học giả này.
Trong khi đó, Tien Hung-mao là chính trị gia của đảo Đài Loan. Ông ta từng đứng đầu cơ quan ngoại giao đảo Đài Loan từ năm 2000 tới 2002. Tien được cấp bằng thạc sĩ tại trường Đại học Wisconsin–Madison, bang Wisconsin, Mỹ năm 1969, với luận án về sự phát triển chính trị ở Trung Quốc trong giai đoạn 1927 tới 1937. Tien tiếp tục theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu, trở thành giáo sư đại học và có quốc tịch Mỹ trước khi trở về Đài Loan. Dù Trung Quốc và đảo Đài Loan có nhiều bất đồng nhưng vấn đề Biển Đông không phải là một trong số đó.

Chiến dịch tuyên truyền sai sự thật

Hải chiến Gạc Ma không phải là lần đầu Trung Quốc đánh lừa dư luận. Trong bài viết “Sự thật, Hư cấu và Biển Đông” đăng trên tạp chí Asia Sentinel, phóng viên kỳ cựu của BBC Bill Hayton đã vạch trần sự giả dối của Trung Quốc trong việc khẳng định cái gọi là “chủ quyền không thể chối cãi” với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thông qua câu chữ của các học giả.

Sự xảo trá của TQ khi tuyên truyền về trận Gạc Ma
Tàu HQ-505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14/3/1988.
Ảnh tư liệu.

Theo tác giả Hayton, từ những năm 1970, Trung Quốc đã sử dụng các học giả cũng như ấn phẩm bằng tiếng Anh để nói về cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Tuy nhiên, ban đầu, những tài liệu mà Trung Quốc hay những nhà nghiên cứu thân Trung Quốc viết ra lại có giá trị cao vì chúng là những tài liệu phổ dụng hiếm hoi đề cập tới vấn đề này bằng tiếng Anh.
Không nhiều người biết rằng tác giả những bài phân tích đầu tiên đăng trên tạp chí Far Eastern Economic Review chỉ là một sinh viên vào tháng 1/1974. Tác giả của các bài biết, Cheng Huan, là một sinh viên luật người Malaysia gốc Hoa sống ở London, Anh. Đáng nói, những tuyên bố của Cheng vẫn được nhiều học giả sử dụng làm cơ sở dữ liệu để khẳng định cho cái gọi là “chủ quyền của Trung Quốc” trên Biển Đông.
Những tác phẩm điển hình cho sự thiếu khách quan khác là "Cạnh tranh ở Biển Đông" của các tác giả Marwyn Samuels cũng như loạt đề tài nghiên cứu khoa học của Hungdah Chiu, Choo Ho Park. Đây đều là những học giả gốc Hoa hoặc thân Trung Quốc nên việc đánh giá không thực sự khách quan. Thậm chí, các bài viết còn được dựa vào tài liệu một chiều, bóp méo do chính phủ Trung Quốc cung cấp.
Sự xảo trá của TQ khi tuyên truyền về trận Gạc Ma
Trung Quốc tiến hành các hoạt động bồi lấp phi pháp trên Biển Đông. Ảnh: CSIS

Hayton cho biết, những tài liệu do các học giả này sử dụng hoàn toàn không kiểm chứng với các nguồn từ Việt Nam, đặc biệt là 8 thông cáo báo chí mà Đại sứ quán Việt Nam ở Washington, Mỹ đã đưa ra. Nó càng khiến các bài viết trở nên thiếu khách quan, thậm chí là sai lệnh so với thực tế.
Theo Hayton, Trung Quốc không chỉ nói mà còn tạo ra những bằng chứng giả hoặc sự kiện không có thật nhằm khẳng định cái gọi là chủ quyền “không thể tranh cãi” với hai quần đảo của Việt Nam. Tháng 6/1937, Huang Qiang, Trưởng khu hành chính của số 9 của Trung Quốc đã bí mật tới Hoàng Sa. Con tàu ông ta chở theo 30 tấm bia đá, khắc số 1902, 1912 và 1921.
Ngoài việc chôn bia đá giả, Trung Quốc còn tiến hành nhiều việc làm dối trá nhằm khẳng định cái gọi là chủ quyền trên Biển Đông. Nhà báo Hayton nhấn mạnh, không thể cổ vũ cho yêu sách chủ quyền của Trung Quốc dựa vào những bằng chứng thiếu sức thuyết phục, vô căn cứ cũng như ngụy tạo này.


Hồng Duy

6 thg 6, 2018

Đọc Trên Báo : Tuần VN :Trung Quốc và lời nói dối thập kỷ xung quanh chuyện Biển Đông

Trung Quốc lại có chiêu trò mới về “bản đồ mới của nước CHND Trung Hoa”, cho rằng tấm bản đồ này lần đầu tiên được công bố năm 1951 và mới được “phát hiện”, đồng thời quốc gia này liên tục có những hành động trái với luật pháp quốc tế tại Biển Đông.
Giới quan sát chính trị đối ngoại liên tục cảnh báo, Trung Quốc đã lắp đặt – có thể là thường trực – các vũ khí tấn công trên các đảo nhân tạo mà họ đã xây dựng trái phép tại Biển Đông. Việc triển khai các vũ khí này là đỉnh điểm của một loạt thủ đoạn, gia tăng các hành động ngày càng hiếu chiến và các hoạt động bất hợp pháp trong khu vực này trong gần một thập kỷ qua. 
Biển Đông,xây dựng trái phép,Hoàng Sa,Trường Sa,Quân sự hóa Biển Đông
Chiến đấu cơ JH-7A của quân khu Thẩm Dương (Trung Quốc) bay lượn trên đảo Phú Lâm (thuộc Hoàng Sa của Việt Nam) tháng 8/2015 - Ảnh: Bộ Quốc phòng TQ
Năm 2015, chính Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã hứa không quân sự hóa các đảo tại quần đảo Trường Sa mà nước ông đã xây dựng trái với luật pháp quốc tế. Quần đảo Trường Sa là một chuỗi đảo gồm hầu hết là các dải san hô ngầm nằm ở phía Đông Biển Đông, liền kề với các tuyến liên lạc chính trên biển (SLOCs) và là nơi các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển có tiềm năng sinh lời, như sinh vật biển và dầu khí. Hiện Trung Quốc cùng với Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam đều có tuyên bố chủ quyền đối với nhiều phần tại quần đảo này. Tuy nhiên, không nước nào quân sự hóa đảo nhanh chóng và mạnh mẽ như Trung Quốc. Rõ ràng Trung Quốc đã chưa minh bạch về các ý định của mình đối với các đảo nhân tạo.
Một số đảo và đá đã có các đường băng và hải cảng có thể tiếp nhận máy bay và tàu chiến của quân đội. Cuối năm 2016, Trung Quốc đã triển khai thường trực súng chống tăng và các hệ thống vũ khí đánh chặn tầm cực gần (CIWS) tại một vài trong số các thực thể trên. Đáng chú ý có các loại súng Gatling kết nối với máy cảm ứng, có thể hoạt động tự động chống các mối đe dọa đến từ trên không.
Mới đây nhất, người ta còn phát hiện Trung Quốc đã triển khai tên lửa hành trình chống hạm (ASCMs) và tên lửa tầm xa hạm đối không (SAMs) tại ít nhất 3 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa – gồm Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Subi. Hệ thống SAM, được cho là HQ-9B, có tầm xa 200km. Trong khi đó YJ-12B ASCM của Trung Quốc là một tên lửa siêu thanh với tầm bắn gần 300km. Cả hai tên lửa này có thể được sử dụng để ngăn chặn tàu và đe dọa các lực lượng hải quân nước khác trong một khu vực rộng lớn ở phía Đông Biển Đông.
Cùng với các hành động quân sự hóa diễn ra dồn dập tại quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng có các hành động tương tự tại quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh đã mở rộng và hiện đại hóa các thực thể tại đảo Phú Lâm, đã kéo dài sân bay trên đảo tới 2.700m, để phù hợp với hầu hết máy bay chiến đấu của Trung Quốc (trên thực tế, máy bay J-11B của Không quân Trung Quốc đã được phát hiện tại đảo này năm 2016). Cùng lúc đó, Bắc Kinh cũng cải thiện các cơ sở cảng biển tại đảo Phú Lâm, và đầu năm 2016, có tin cho biết HQ-9 SAMs đã được triển khai tại đây.
Cuối cùng, Trung Quốc cũng lắp đặt nhiều trạm radar tại đa số các đảo này và từng bước thực hiện các chiến dịch trên không và trên biển trong khu vực. Các hoạt động triển khai này, cộng với việc lắp đặt tên lửa, trên thực tế đã đặt toàn bộ Biển Đông trong tầm ngắn của quân đội Trung Quốc.
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Chiến tranh hải quân Mỹ đã cảnh báo khi lên tiếng cáo buộc các hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc trong khu vực là âm mưu tạo ra một “eo biển chiến lược” ở Biển Đông. Nói cách khác, thông qua việc triển khai sức mạnh quân sự của Trung Quốc (thường trực hay không thường trực) tại cả hai cực Đông – Tây của Biển Đông, Bắc Kinh đang tìm cách biến vùng biển này từ một SLOC quốc tế thành một hải trình bị Trung Quốc kiểm soát và một “nút cổ chai chiến lược” gây trở ngại đối với các nước khác.
Chuyên gia Richard A. Bitzinger, thuộc Chương trình Biến đổi quân sự tại Đại học Nghiên cứu quốc tế Rajaratnam, Đại học Kỹ thuật Nanyan (Singapore), nhận định việc triển khai các khí tài hỗn hợp đồng nghĩa với việc “thái độ xác quyết từng bước” trong nhiều thập kỷ qua của Trung Quốc tại vùng biển này đã trở thành một cuộc tấn công tổng lực. Nói cách khác, Trung Quốc đang bất chấp dư luận, biến Biển Đông thành một vùng chống tiếp cận/xâm nhập (A2/AD). Điều này cũng có nghĩa là đẩy các đối thủ cạnh tranh quân sự (đặc biệt là Hải quân Mỹ) ra ngoài khu vực, hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do đi lại và hoạt động của họ bên trong khu vực này.
Trên tờ Asia Times, chuyên gia Bitzinger nhận định âm mưu biển Biển Đông thành vùng lãnh hải của Trung Quốc tất nhiên gây ra nhiều tác động. Nó có thể giới hạn nghiêm trọng tự do hàng hải và cho phép Trung Quốc “ngấu nghiến” toàn bộ tài nguyên biển trong khu vực phục vụ lợi ích kinh tế nước mình. Đặc biệt, âm mưu này có thể gây khó khăn hơn cho các lực lượng hải quân nước khác khi đi lại giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Âm mưu này cũng sẽ gây phương hại đến chủ quyền của nhiều quốc gia trong khu vực.
Ý định của Trung Quốc đối với Biển Đông đã trở nên rõ hơn trong nhiều năm qua, và lời nói dối thập kỷ của Bắc Kinh cũng đã lồ lộ.
 (Còn tiếp )

Xem Thêm :Dự thảo Luật đặc khu: Cho thuê đất 99 năm: "Đại bàng" ba đời xây ổ

3 thg 5, 2019

GS. Ngô Đức Thọ: ĐƯỜNG LƯỠI BÒ - LAI LỊCH VÀ THỰC CHẤT


Lời dẫn của Ngô Đức Thọ: Người Trung Quốc có vẽ một cái bản đồ có những đường đứt đoạn có hình chữ U nên  gọi là Bản đồ chữ U. Nhưng vì tham vọng bá quyền quá xấu xa lộ liễu nên dư luận thế giới nhiều người gọi nó một cách khinh bỉ là Bản đồ đường lưỡi bò hoặc Bản đồ Lưỡi bò. Những ngôn luận về cái bản đồ đó, trước ai cũng nghĩ đó chỉ là một vài ý kiến vu vơ không nghiêm chỉnh, nhưng sau khi Việt Nam trình hồ sơ thềm lục địa kéo dài của mình lên Liên Hợp Quốc, đến tháng 5-2009 Trung Quốc liền đem cái bản đồ hình chữ U tức bản đồ Lưỡi bò ấy nộp lên Liên Hợp Quốc để tuyên bố chủ quyền biển đảo của mình trên 80% diện tích Biển Đông! Đòi hỏi chủ quyền đó hết sức ngang ngược trắng trợn, nhưng không hề có bất cứ một cơ sở pháp lý nào - thậm chí không có bất cứ một toạ độ biển nào đường ghi chú trên các hòn đảo có tên trên bản đồ, nên đã bị dư luận thế giới trong đó có các chính trị gia, luật gia, nhà nghiên cúư về công pháp quốc tế và luật biển phê phán mạnh mẽ. Mặc dù vậy những kẻ chủ mưu bành trướng lãnh thồ không từ bỏ dã tâm mà vẫn tiếp tục thực hiện nhiều hành đông khiêu khích gây hấn với Việt Nám, Philippine và một số nước ĐNÁ có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.Nhà cầm quyền Bắc Kinh cũng như những kẻ chủ mưu bành trướng thường giải thích các hành vi gây hấn xâm lược là để thực hiện chủ quyền theo Bản đồ Lưỡi Bò ấy.
Trong năm 2011, chính quyền đảo Hải Nam đơn phương công lệnh cấm bắt cá trùm lên cả vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, kể cả chung quanh quần đảo Hoàng Sa là vùng biển mà ngư dân Việt Nam ở các tỉnh từ Quảng Nam đến Khánh Hòa vẫn thường ra đánh cá. Trung Quốc điều nhiều tàu Hải giám ra ngăn chăn, nổ súng đe doa và xua đuổi họ, bắt giữ tàu thuyền, tàn bạo đánh đập ngư dân và giam giữ nhiều ngày, bắt nộp tiền phạt một cách vô lý rồi mới tha cho về. Đặc biệt nghiêm trọng ngày 26/5/2011 Trung quốc cho 3 tàu Hải giám lén cắt lén giây cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 2 của PetroVietnam .Hai ngày 29 và 30/5 tàu khảo sát Viking II do PetroVietnam thuê tìm dầu khí bãi Tư Chính (thuộc chủ quyền của Việt Nam) cũng bị tàu Hải giám của Trung Quôc xông đến cắt giây kéo dụng cụ thăm dò. Hai vụ xâm phạm nghiêm trọng này đã gây nên một làn sóng phẫn nộ lên án sự khiêu khích gây hấn của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Việt Nam.
Mặc dù từ cuối năm 2011 đã có những cuộc tiếp xúc cấp cao, như chuyến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Bắc Kinh và hội dàm với Tổng bí thư ĐCSTQ Hồ Cẩm Đào, tháng 10-2011 ;Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam cuối tháng 12-2011 v.v., nhưng tình hình không cải thiện được bao nhiêu do phía Trung Quốc vẫn không ngừng có các hành động khiêu khích xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc điều nhiều tàu chiến và dàn khoan dầu khí xuống phía nam Biển Đông sát các vùng đảo chủ quyền của Việt Nám, tiêpds tục uy hiếp bắt bớ tầu thuyền và ngư dân Việt Nam, một mặt để cho những phần tử hiếu chiến tiếp tục kích động dư luận, kêu gọi “dạy cho Việt Nam bài học” v.v… 
Trước tình hình đó, ngày 19-6-2012 Quốc Hội Việt Nám đã thông qua và cho công bố Luật biển Việt Nam trong đó ngay điêu1 khẳng định hai quần đào Hoàng Sa -Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nhà cầm quyền Trung Quốc lập tức phản đối rất gay gắt, tiếp đó công bố nâng cấp cho thành lập một cách phi pháp đơn vị hành chính là thành phố Tam Sa để quản lý cả hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa của Việt Nam; liền sau đó công khai tuyên bố đặt chỉ huy và quân đồn trú ở TP Tam Sa; đồng thời cho phép Tổng công ty Dầu khí Trung Quốc cho gọi thầu 9 lô thăm dò dầu khí  nằm sâu vào thềm lục địa của VN, chồng lên các lô từ 128 đến 132 và từ 145 đến 156 mà PVN đã và đang tiến hành các hoạt động dầu khí từ lâu nay. Bộ ngoại giao Việt Nam và các cơ quan hữu quan của Việt Nam đã ra Tuyên bố cực lực lên án các hành động phi pháp nói trên, coi đó là những việc làm khiêu khích, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của nước CHXHCN Việt Nam.
Tất cả những hành động khiêu khích gây hấn nói trên đều là những bứơc đi thâm độc và nguy hiểm có tính chất khiêu khích đe doạ chiến tranh chống Việt Nam, Philippine, thực hiện âm mưu bành trướng muốn nuốt trọn Biển Đông như thể hiện ở tấm bản đồ đường Lưỡi bò đầy tham vọng ngông cuồng xấu xa.
Để giúp đông đảo bạn đọc tìm hiểu để biết rõ về cái gọi là Bản đồ đường Lưỡi bò, năm 2011 tôi đã có bài đăng trên báo mạng Vietnamnet :
Ngô Đức Thọ, Lai lịch và thực chất của Đường Lưỡi bò: http://www.tuanvietnam.net/2011-08-04-lai-lich-va-thuc-chat-cua-duong-luoi-bo
Nay tôi công b tiếp bài viết này, trong đó có phần chính đã đăng trên Viêtnamnet, nhưng có những thông tin đầy đủ hơn về đường Lưỡi bò chưa có trong bài đã đăng nói trên.
Đường lưỡi bò - lai lịch và thực chất  

Ngô Đức Th

04/08/2011
                                      
I. Mấy ý kiến chung 
II. TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA BẢN ĐỒ 10/1947.   
III. LÝ DO BẢN ĐỒ 10/1947 ĐƯỢC ĐỀ CAO 
1. Sự mờ nhạt thiếu thuyết phục của các cứ liệu thư tịch - bản đồ cổ của Trung Quốc    
2. Tư duy “lãnh thổ, lãnh hải chủ trương” được hiện thực hoá            
3.Sự giải thích vá víu và con đường phá sản của bản đồ lãnh hải đường lưỡi bò    
4.Nhà cầm quyền Trung Quốc hãy đặt UNCLOS lên trên tham vọng lãnh hải, chấm dứt các hành động phi pháp, khiêu khích đe doạ xâm lược Việt Nam, trở lại các hoạt động đàm phán ngoại giao nghiêm chỉnh để đi đến COC! 

I. Mấy ý kiến chung

Với chưa đến 1000 từ dịch rá tiếng Việt từ tờ China Daily, tác giả là một nhà nghiên cứu thuộc VKHXHTQ thông báo với dư luận những căn cứ để xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với  biển đảo trên gần 80% diện tích Biển Đông (TQ gọi là Nam Hải), trong đó có cả các đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam. Bài báo cho biết Trung Quốc có bằng chứng cho thấy từ thời Tần - Hán (từ thế kỷ 3 TCn) người Trung Quốc đã có các hoạt đọng đi lại, đánh bắt cá ở một số vùng gần của Biển Đông và từ thời nhà Đường (618-907 SCn) triều đình đã điều lực lượng hải quân đến “kiểm soát và thực thi thẩm quyền đối với khu vực”. Từ thời Tống Nguyên đến Minh Thanh thì việc thực thi những hoạt đọng thẩm quyền đó “bao trùm tất cả các đảo”, và như vậy đã “thiết lập biên giới hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông.”. Do khuôn khổ của bài viết, tác giả không nêu danh bất cứ một thư tịch hoặc bản đồ cổ nào mà Trung Quốc vẫn nói là họ có rất nhiều và đều là những bằng cứ lịch sử không thể bác bỏ được. 

1.Như vậy, bài báo này không có bất cứ một diễn tiến nào trong việc cung cấp các cứ liệu thư tịch cổ để chứng minh chủ quyền cuả Trung Quốc, do đó tôi không có điều gì để tranh biện lại. 

Nhưng vì qua đoạn văn (chiếm khoảng 1/3 bài đó), mặc dù không trưng ra bất cứ bằng chứng gì thuyết phục, tác giả bài báo đã hết sức chủ quan và có thể nói là muốn thao túng dư luận Trung Quóc và thế giới rằng Trung Quốc đã có quyền lợi ở các đảo trên biển Đông từ hơn 2000 năm trước và thực tế đã hoàn toàn “thiết lập biên giới hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông” và “từ đầu thế kỷ XX Trung Quốc liên tục nỗ lực để thực hiện chủ quyền” trên vùng biển đó. Vì tác giả đã nói tổng quát một cách rất chủ quan và mơ hồ, cho nên chúng tôi không thể chấp nhận đựoc và buộc phải nguyên đai nguyên kiện đóng gói tất cả ngôn từ đó gửi trả về cho tác giả.

2. Tôi cũng gửi trả cả gói đoạn văn mà tác giả tỏ ra không những thiếu kiến thức, bất chấp các cư liệu lịch sử, mà còn có thể nói là rất ngạo mạn khi đưa ra nhận xét trùm lấp cho rằng: 

“Việt Nam, Malaysia và Philippines hầu như không biết bất kỳ điều gì về các đảo ở Biển Đông trước triều nhà Thanh (1644-1911), cũng như không có bằng chứng chứng tỏ các hoạt động của tổ tiên họ ở Biển Đông, dù chỉ là để lại một cái tên với bất kỳ hòn đảo nào” Một người nghiên cứu chân chính  có lòng tự trọng thì không thể có những nhận xét hồ đồ, “vơ đũa cả nắm” như vậy. Đây là sự thể của 3 quóc gia binh đẳng với Trung Quốc trong LHQ chứ khong phải chuyện vu vơ nơi đầu đường xó chợ mà coóthể tung ra những câu nói thô bỉ: “không có bằng chứng chứng tỏ các hoạt động của tổ tiên họ ở Biển Đông, dù chỉ là để lại một cái tên với bất kỳ hòn đảo nào”. 

Đọc câu này có thể nói không một người Việt Nam (và người các nước nói trên) không phẫn nộ!

Đối với phản bác vô căn cứ này tôi xin nhắc lại với tácgiả trên tờ China Daily rằng Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ chứng cứ lịch sử về chủ quyền của mình đới với các các đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Quý độc giả của tờ China Daily có thể tham khảo tìm hiểu các tài liệu ấy trong các văn kiện chính thức của Chính phủ CHXHCN Việt Nam .

3. Tuy bài báo có nêu các bản đồ 12-1934, tháng 4-1935, 2/ 1948; nhưng chủ yếu là muốn tuyên truyền tính chính danh, chính nghĩa cho bản đồ 11 đoạn hình chữ U do Bộ Nội Chính chính phủ Quốc dân đảng ấn hành 10-1947.

Tấm bản đồ đó trước đây ít người biết, nhưng từ năm 2006 khi Trung Quốc chính thức khẳng định ý nghĩa của nó, thì không chỉ ở Việt Nam mà người dân ở các nước ĐNÁ và nhiều nước khác không khỏi ngạc nhiên trước tham vọng của Trung Quốc muốn làm chủ đến 80% diện tích biển Đông. Người ta quen gọi cái bản đồ hình chữ U đó là bản đồ Lưỡi Bò và có thể nó cũng bám khí vị không mấy thơm tho từ trong dạ dày của con bò phả ra! Vì là vấn đề trung tâm được tác giả bài báo trên nêu lên, cho nên ở bài này tôi thấy cần bỏ những điểm lướt ngoại vi để đi thẳng vào vấn đề về tấm bản đồ lãnh hải hình chữ U đó.

II. TÁC GIẢ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA BẢN ĐỒ 10/1947.

Để gây thanh thế cho bản đồ này, báo chí Trung Quốc có liên hệ đến một nhân vật lịch sử khá có danh tiếng của Trung Quốc là tướng quân Lâm Tắc Từ (Trước đây THVN cũng có chiếu một bộ phim mang tên ông tướng này).Lâm Tắc Từ 林則徐(1785 - 1850) là một vị tướng của nhà Thanh, nổi tiếng trong chiến tranh Nha phiến (1840-1843) chống thực dân Anh . Ông này không ăn nhập gì với chuyện bản đồ Lưỡi bò này, nhưng người ta nhắc đến tên ông trong vì ông có người cháu năm sáu đời gì đó là Lâm Tuân 林遵[1] làm sĩ quan trong hải quân  CP Quốc dân đảng. Sau chiến tranh thứ II, Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch là một nước trong phe Đồng minh thắng trận, hải quân của chính quyền Tưởng phái chiến hạm mang tên Thái Bình do Lâm Tuân chỉ huy đi tuần sát biển Nam xem có tàn dư quân Nhật hoặc nạn dân kẹt lại đâu đó hay không. Trong tình hình lúc bấy giờ căn cứ hải quân của Mỹ thì đóng tại Hawai, số hạm thuyền ở biển Đông đang bị hút cả vào cho các kế hoạch Marchall hậu chiến ở Nhật Bản. Pháp đang phải đối phó với chính phủ của cụ Hồ Chí Minh, có mấy chiếc tàu nát đậu nhờ ở đâu chứ chưa có danh nghĩa gì để vào bờ biển Việt Nam. Singapo còn lâu mới lập quốc, Malaixia thì chưa tách khỏi Thái Lan! Gía lúc ấy bọn Lâm Tuân có đánh tàu sang tận Ấn Độ Dương cũng chẳng phải xin phép ai cả! Kỳ thực tàu của Lâm Tuân chỉ làm được một vòng rất hạn hẹp, cho quân xuống cắm cờ ở một vài đảo, chứ không phải đi được khắp biển Đông! Nhưng khi về căn cứ, Lâm Tuân cùng thuộc hạ là mấy chuyên viên quan trắc, hoạ đồ xúm lại vẽ ra một tấm bản đồ gọi là 南海諸島位置圖Nam Hải chư đảo vị trí đồ (Bàn đồ vị trí các đảo Nam Hải), chuyển cho Ti Phương vực Bộ Nội Chính đem in xuất bản năm tháng 10-1947. Không những bàn gốc hiện đã được bảo quản cẩn mật mà cả bản ảnh điện tử của nó cũng hầu như rất ít xuất hiện trên mạng của Trung Quốc. vì vậy, ở Phụ lục, tôi cho đăng bản chụp ảnh kỹ thuật số nguyên bản tấm bản đồ ấy để cung cấp tư liệu cho các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài có thể tham khảo để biết “bản lai diện mục” của cái gọi là bản đồ Lưỡi bò ấy.
   
Nguồn:
http://blog.sina.com.cn/ s/blog_ 67cf346 f0100iv1r.html
 
Thoạt xem thì tưởng đâu những nét đứt ấy thể hiện hành trình của tàu Thái Bình mà bọn Lâm Tuân đã đi. Nhưng không phải thế! Cái đường lưỡi bò âý hoàn toàn do bọn Lâm Tuân tự nghĩ rồi vẽ ra một cách rất chủ quan. Có thể nói bọn họ tuỳ thích ước muốn cho đường lãnh hải đến đâu thì vẽ các nét đứt đến đấy, khong theo bất cứ một nguyên tắc quy chuẩn nào. Riêng phần qua Việt Nam , bọn Lâm Tuân vẽ đến 4/11 đoạn mà chưa ôm hết! 

Khoảng những năm 45-46, đầu 47 tình thế Việt Nam còn bộn bề. Cách mạng đã thành công, nhưng Pháp đang lăm le quay lại. (Khi bản đồ xuất bản 10-1947 thì cuộc KC chống Pháp toàn quốc đã nổ ra). Lực của cả Việt Minh và cả Pháp đều đang rất yếu, quốc tế thì chưa biết đến cuộc kháng chiến của Việt Nam . Giá như bọn Lâm Tuân thưa với Tưởng tổng thống cho thêm tàu thêm quân đổ bộ vào Việt Nam thì không khéo lại có thể có giấc mơ khôi phục thời thiên triều đô hộ ngàn năm!  Nhưng tình thế lúc bấy giờ chính quyền QDĐ rất khốn quẫn, GPQ của ĐCS TQ đang tiến rất nhanh về Bắc Kinh, Thượng Hải; chính phủ Tưởng Giới Thạch đã rục rịch cuốn gói chạy ra Đài Loan! Cái bản đồ bộ Nội chính in ra 10-1947 ấy chưa phát hành được bao nhiêu  thì đã thành đồ “vứt sọt rác”!

III. LÝ DO BẢN ĐỒ 10/1947 ĐƯỢC ĐỀ CAO

1. Sự mờ nhạt thiếu thuyết phục của các cứ liệu thư tịch - bản đồ cổ của Trung Quốc

Biết bao sự kiện rất lớn đã diễn ra ở Trung Hoa lục địa, Đài Loan và cả ở Việt Nam . Vấn đề Biển Đông (mà TQ gọi là Nam Hải) nổi cộm và nóng dần lên. Khởi đầu là việc chính quyền Trung Quốc cho quân xâm lược Hoàng Sa của Việt Nam 01-1974, kế đến là việc Trung Quốc đánh chiếm một số đảo trong QĐ Trường Sa thuộc chủ quyền CHXHCNVN 10-1988. Chính phủ VN đã nhiều lần tuyên bố Việt Nam có đầy đủ những căn cứ pháp lý để xác định chủ quyển của Việt Nam ở các vùng biển đảo nói trên. Nhưng phía Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng bá quyền, nhiều lần công bố các tài liệu thư tịch cổ mà họ cho là gián tiếp hoặc trực tiếp xác nhận chủ quyền của Trung Hoa ở Nam Hải: Không những Đông Sa, Trung Sa thuộc Trung Quốc mà cả Hoàng Sa của Việt Nam (mà Trung Quốc đặt tên mới là Tây Sa) và cả QĐ Trường Sa (mà TQ gọi là Nam Sa) vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam và một số nước ĐNÁ ( Philippin, Malaixia, Indonesia và Brunei). Thấy các bằng  cứ tù trong các thư tịch cổ của mình không thuyết phục được ai , nhà cầm quyền Bắc Kinh hướng sự chú ý vào các bản đồ. Khác với nguồn thư tịch dù không mấy thuyết phục nhưng cũng còn có cái tên để nêu lên, thể loại bản đồ cổ thì Trung Quốc rất vắng thiếu và hầu như không có các cứ liệu ủng hộ cho lập trướng bành trướng của họ đối với biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa! (Xem bài trên tờ China daily cũng có thể thấy sự vắng thiếu ấy). Lâm vào tình thế đó, thậm chí người ta thấy những bài viết bắt đầu lánh dần vấn đề các cứ liệu thư tịch - bản đồ, mà chuyển dần  sang chủ điểm nói về một thứ “lãnh hải” rất kỳ quái mà họ gọi mà “lãnh hải chủ trương” – nghĩa là lãnh hải (trên biển Đông) mà nhà cầm quyền Trung Quốc “chủ trương” muốn có và cần phải có. Chẳng hạn một sĩ quan cao cấp (về hưu) của TQ đã viết:

任何对领土、领海的主张都离不开以国力,国际话语权为后盾。“搁置争议、共同开发”这是我国的现阶段解决领土、领海等边界问题的方针之一。就我国现阶段的国力以及国际环境来说这个方针是最好的了。
“Bất cứ chủ trương nào đối với lãnh thổ, lãnh hải cũng không thể tách rời khỏiạư hậu thuẫn của sức mạh đất nước và  quyền đối thoại quóc tế”. (Tạp đàm, 2008-http://blog.sina.com. cn/s/blog_ 59877c5c0100a2ne.html, 07-29 15:35:19) 

Xem bài đó không những người Việt Nam mà người dân các nước khác cũng đủ thấy cái gọi là “chủ trương lãnh thổ, lãnh hải” đó không gì khác hơn là cái tham vong bất chấp sự thật lịch sử của chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh trên đất liền cũng như trên biển. Không chỉ đối với biển Đông, chẳng hạn đối với Nhật Bản trong vấn đề Điếu Ngư Đài (tức QĐ Lưu Cầu, Nhật Bản gọi là 尖閣諸島Tiêm Các chư đảo/ Senkaku Shotō ) phía Trung Quốc cũng ứng xử theo kiểu “lãnh hải chủ trương” như vậy, khiến cho mâu thuẫn ở biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản có xu hướng gia tăng.

2. Tư duy “lãnh thổ, lãnh hải chủ trương” được hiện thực hoá

Kiểu lý luận “lãnh hải chủ trương” như vậy đang được “tập huấn”  cho quán triệt thì đâu đó lại loé lên hy vọng từ nguồn cứ liệu bản đồ. Không biết ai đó bỗng dưng phát hiện ra  còn giữ được tấm bản đồ sọt rác do bọn Lâm Tuân vẽ hồi nào! Các ngài bành trướng ở Trung Nam Hải phát hiện ra "cái hay nhất" ở bản đồ Lưỡi bò là khiến cho cái tư duy "chủ trương lãnh thổ" hay "lãnh thổ chủ tương" (mơ tưởng) của các ngài lãnh đạo bành trướng được loại hình hoá, giấy trắng mực đen hoá bằng bản đồ, chứ không còn phải nói khơi khơi chung chung nữa! Thế bản đồ của Bộ Nội chính CP QDĐ ấn hành tháng 10-1947 (do Lâm Tuân chủ trì biên vẽ) xuýt bị vứt vào sọt rác được lôi ra giới thiệu trang trọng, ra sức tung hô, coi đó là bằng chứng có giá trị duy nhất về chủ quyền lãnh hải của Đại Hán từ xưa đến nay ...và cả mai sau nữa!! Từ bằng chứng “mấy nghìn năm”, nay họ rút xuống chỉ cần cái bằng chứng 64 năm ấy là quá đủ, không phải bàn thảo gì nữa! Chế độ Tưởng Giới Thạch cái gì cũng bị họ sổ toẹt cả, duy nhất cái bản đồ Lưỡi bò đó được coi là “quốc bảo”, rất mực được đề cao. Từ năm 2006 Chính phủ TQ quy định tất cả bản đồ TQ đều phải thể hiện đường lãnh hải chữ U đó.  Những ngưòi nặng đầu ốc sôvanh suốt ngày xắn tay lớn tiếng: "CHNDTH hoàn toàn kế thừa cái bản đồ [Lưỡi bò] ấy! (Chẳng hạn xem: http://blog.sina.com.cn/ s/blog_ 67cf346 f0100iv1r.html ) 

Chính phủ TQ thì không hô như thế, nhưng như mọi người đã biết, ngày 6-5-2009 Bộ Ngoại giao TQ trình lên LHQ tấm bản đồ hình chữ U (tức bản đồ Lưỡi bò ) ấy để đăng ký lãnh hải của Trung Quốc tức là chính thức gắn cho văn bản ấy một tính chất quóc tế chứ không còn là vấn đề tung hô trong nội bộ nữa!

3.Sự giải thích vá víu và con đường phá sản của bản đồ lãnh hải đường lưỡi bò

Như vậy, Vấn đề lãnh hải hình Lưỡi bò không còn là vấn đề riêng của vài quốc gia mà đã trở thành vấn đề công khai của các nước ĐNÁ với Trung Quốc. Một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản cũng tuyên bố họ có quyền lợi liên quan đến hoà bình và ổn định ở các tuyến hàng hải trên Biển Đông. Không những các nước ĐNÁ trực diện phê phán lãnh hải lưỡi bò của Trung Quốc mà nhiều chính phủ và chính khác quóc tế cũng bày tỏ sự nghi ngại lớn đối với tham vọng của Trung Quốc ở vùng biển quan trọng này. 

Gần đây TQ lại cho xuất hiện mọt vài cách giải thích mong làm cho một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản yên lòng. Bài đăng trên China Daily dẫn lời của Triệu Lý Hải đưa ra khái niệm “sở hữu danh nghĩa” là một mưu toan khiến người ta hiểu rằng Trung Quốc nhận quyền “ sở hữu danh nghĩa" như vậy, còn trên thực tế thì có thể các nước có thể không bị ảnh hưởng gì! Hoặc điều đó “không có nghĩa là toàn bộ vùng biển trong đường này thuộc về vùng nội thủy của Trung Quốc”, các nước qua đàm phán với Trung Quốc vẫn có thể được Trung Quốc cho tự do đi lại trên một số tuyến hàng hải nào đó theo quy định của Trung Quốc! Chấp nhận sự giải thích mơ hồ đó có nghĩa là bất kể các nước ĐNÁ hay các cường quốc hàng hải nào trên thế giới đang đựoc tự do đi lại trên biển Đông đều bị đặt vào tình thế phải đàm phán với Trung Quốc mới có thể tiếp tục được hưởng quyền tự do đi lại trên vùng biển quốc tế! Điều đó chẳng khác gì một toán cướp biển ập tới chặn đường tàu bè rồi tuyên bố nếu “làm việc” với chúng thì vẫn có thể đựoc tự do đi lại! Dù cách giải thích có “mềm hoá” đến bao nhiêu cũng không che lấp được được ý đồ vừa thâm hiểm mà cũng không kém phần trắng trợn của chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh! Tiềm lực kinh tế quân sự thì các nước khác nhau, nhưng thế giới văn minh ngày nay làm sao người ta có thể chịu đựoc những áp đặt hoang đường như vậy? China Daily há không nhận ra mức độ không tưởng của những luận điểm theo kiểu giải thích của Triệu Lý Hải đã được dẫn thuật hay sao?

Tham vọng “vô bờ” như vậy đối với chủ quyền ở Biển Đông không những bị dư luận thế giới phản đối, mà ngay ở trong nnước những người Trung Quốc có lương tri cũng cho rằng chủ trương lãnh hải hình chữ U (Lưỡi bò) ấy là không khả thi. Có bài báo viết: nếu theo đó thì có những nơi ngươi dân “ nhảy xuống nước bơi một đoạn, ngẩng đầu lên đã là ra nước ngoài rồi”! Hoặc có người nói: “Đem lãnh hải đến đặt trước cửa nhà người ta như thế thì ai người ta chịu?” v.v…

Bản đồ lãnh hải Lưỡi bò chínht thức ung ra đến nay cũng đã 5-6 năm dù được đề cao hết mức nhưng xem ra tương lai của nó cũng không khác gì con bệnh đã đến hồi di căn. Một số kẻ có tư tưỏng bá quyền Đại Hán cực đoan đã tiên liệu đến lúc phải xếp xó cái lưỡi bò hôi hám ấy. Những ngườig ấy không chủ trương tô son trát phấn cho đường Lưỡi bò nữa, nếu nó chết yểu, hãy tuyên bố rằng Trung Quốc không cần một cái lưỡi gì khác nữa! Vẫn viên sĩ quan có bài trên mạng Thiết huyết thẳng thừng nêu chủ trương:

国际政治遵循的是丛林法则,有理没理不重要,重要的是实力,美国能占住遥远的夏威夷,英国能占住阿根廷门口的马尔维纳斯群岛,我们当然也能占住南海,这就是持强凌弱,没什么不好意思的。
"Pháp luật mà chính trị quốc tế tuân theo là pháp luật rừng (tùng lâm pháp tắc丛林法则), có lý không có lý không quan trọng, cái quan trọng nhất là thực lực. Nước  Mỹ có thể chiếm đóng Hawai xa xôi, nước Anh có thể chiếm quần đảo Manvinat ở ngay cửa khẩu của Achentina, thì chúng ta [tức Trung Quốc] cũng có thể chiếm biển Nam Hải! Đấy tức là kẻ mạnh lấn lướt kẻ yếu, có điều gì là xấu hổ đâu!"

4.Nhà cầm quyền Trung Quốc hãy đặt UNCLOS lên trên tham vọng lãnh hải, chấm dứt các hành động phi pháp, khiêu khích đe doạ xâm lược Việt Nam, trở lại các hoạt động đàm phán ngoại giao nghiêm chỉnh để đi đến COC!

Loại ý kiến cực đoan như dẫn trên cố nhiên không phải là quan điểm của Chính phủ Trung Quốc và chúng tôi chân thành tin rằng kiểu lý luận thời trung cổ ấy không chỉ bây giờ mà mãi mãi không bao giờ là quan điểm chính thống của nhân dân và chính phủ Trung Quốc!

Trung Quốc là một nước lớn, một trong năm thành viên của HĐBA, chúng tôi chân thành mong Chính phủ Trung Quốc đặt UNCLOS lên trên tham vọng lãnh hải, chấm dứt các hành động phi pháp, khiêu khích đe doạ xâm lược Việt Nam, trở lại các hoạt động đàm phán ngoại giao nghiêm chỉnh để đi đến COC!
 
          PGS.TS NGÔ ĐỨC THỌ

     (Viện nghiên cứu Hán Nôm, đã nghỉ hưu)
Nguồn: Ngô Đức Thọ Blog

Tễu Blog đăng lần đầu tại đây ngày 23.11.2012 

GS.Ngô Đức Thọ  sinh năm 1936 tại Hà Tỉnh,đã tạ thế ngày 30/4/2019 tại Hà Nội ,nguyên là Trưởng Ban Văn Bản của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm,Ông được giải thưởng Phan Chu Trinh năm 2013

17 thg 1, 2024

HẢI CHIẾN HOÀNG SA

 
( Để tưởng nhớ trận hải chiến 17/1/1974)
 
Như là một giấc mơ...
Ngày đó, tuổi trẻ hào khí, lưng gấu vai beo, tung hoành trên sóng biển rất... rất là oai hùng.
Nhớ những ngày rượt đuổi vây bắt bọn Thái, Indo xâm nhập vào hải phận VN... đánh cá có, buôn lậu có, cướp biển có luôn. Khi lùa bọn nó lên boong, đứa nào cũng vằn vện, hung ác. Hỏi cung nó, nó xồ cả tràng tiếng miên mọi hiểu thế nào được. Đấm nó một cái, nó nhe răng cười khì. Nó ỉ vào cái răng nanh đeo trước ngực. Nói theo dân gian là nó chơi bùa. Phải bắn một phát vào đầu gối thằng trùm. Cả bọn mới quỳ lạy van xin. Làm gì nó giờ ?, bắt rồi thả thôi, kéo tàu nó về Bạch Đằng chớ nhốt nó thì lại ra tòa, lại ngoại giao lôi thôi tốn kém lắm. Hạm trưởng bảo vậy....
Nhớ ngày đó, đang ở biển nghe lịnh về Đà Nẳng, mừng húm nghĩ là sắp lên bờ xả hơi. Dè đâu là về nạp nhiên liệu, đạn dược chuẩn bị cho đánh lớn. Không đứa nào được rời tàu. Hải quân ở biển ít nghe tin tức, biết là đang chiến tranh nhưng vẫn nghĩ đơn giản là giống như những lần trước, vây bắt và rượt đuổi mấy tàu VC chở vũ khí thôi. Đâu biết là sắp phải hải chiến và đổ bộ.
Chỉ khi tàu ra khơi nghe phổ biến nhiệm vụ tác chiến mới biết là Trung Cộng đã chiếm đảo Hoàng Sa và nhiệm vụ là dẫn quân ta đổ bộ giành lại đảo....
Là đại đội Người Nhái, một trong những lực lượng tinh nhuệ nhất của quân lực VNCH thời ấy. Mỹ gọi là Sea Geal, còn sau này người ta gọi là đặc công thủy hay biệt kích biển gì đó. Hồi đó chỉ gọi là Người Nhái.
Đêm... tàu lớn không đổ vào sát bờ được, phải thả anh em từ xa, súng giơ ngang đầu, mình trần, vai đeo đạn lội vào bờ. Địch phát hiện, pha đèn và bắt đầu gõ đại liên. Không đánh trả được, anh em cứ lầm lì mà tiến. Lâu lâu một người trúng đạn dẫy đành đạch mấy cái rồi chìm.... Tội nhất là thằng chỉ huy điện về : Báo cáo đại bàng... chết quá nửa rồi tiến hay lùi.... Lịnh của đại bàng ở đâu đó trong Bạch Đằng : Cứ tiến...
Anh em trên tầu mở ống nhòm theo dõi, có thằng tức quá khóc bù lu bù loa, có thằng chạy tới ổ trọng pháo gào lên : Bắn đi, Đù mẹ mày anh em chết hết rồi. Lịnh của hạm trưởng là không được bắn. Xung quanh mình tàu TC dầy đặc. Sơ hở là nó diệt mình ngay...
Trời sáng điểm quân lại, mình có 4 chiếc tàu to thuộc loại hạm còn TC có 11 tàu nhỏ hơn nhưng cơ động hơn và có trang bị hỏa tiển ( không phải loại B40 hay M79 thông dụng đâu ). Mình chỉ có đại bác. Tất cả đều hạ nòng và chỉa thẳng vào tàu địch. Đôi bên lượn qua lượn lại, ép sát hay cắm mũi phá tàu. Gần đến mức có thể đứng bên này và bên kia vạch c ra chửi nhau. Bọn mình thì đụ má đụ mẹ còn bọn nó thì tỉu nà má alý hồ hồ cái củ c gì đó nhưng chưa ai dám nổ súng..
Đến trưa thì lịnh xuống... OK, 123 bắn... Loạt đại bác đầu tiên quất liền của nó 4 chiếc. Chắc nó cũng không ngờ VN dám đánh. Hải chiến nổ ra tức thì...
Vào cuộc chiến mới biết, là lính khi đó bất cứ súng gì, khẩu đội gì chỉ còn biết quay nòng thấy tầu địch ở đâu là bắn... Còn tầu lạng lách kiểu gì tiến hay lùi, đánh vòng trái phải gì là do tài nghệ của của hạm trưởng và máy trưởng.
Máy bay Tàu gầm rú trên trời, Từ xưa giờ, ta chỉ có nả pháo lên đầu địch chớ có bao giờ đối phó với giặc trên đầu đâu. May, Hạm trưởng phát loa : Đừng sợ cứ bắn cho đúng, nó chỉ thị uy chớ không bắn được đâu, không có xăng bay về... Yên tâm mà đánh, nói vậy chớ lúc lâm nguy còn biết sợ gì nữa một sống hai chết mà...
HQ 10 ( Nhật Tảo cháy ) ... nhìn anh em bờ lông rông các kiểu từ trên boong, trên cao xuống biển mà đứt ruột.. Cũng không thể dừng tầu mà vớt được..
Hạm đội Mỹ đua vào nhưng có lịnh của Nixon phải rút ra xa dự khán qua radar và kính viễn vọng
Tầu mình cũng trúng đạn nhiều nhưng là tầu lớn chẳng sao
Cuối cùng cũng phải rút, HQ 1 là soái hạm gọi anh em rút. Trong lúc tháo chạy, hai tàu TC kè sát sườn nhả đạn liên tục. May sao lúc cùng hạm trưởng bỗng nhớ ra hạ lịnh xoay hai nòng ngư lôi. Nguyên thủy HQ 1 là ngư lôi hạm cũ của Mỹ. Khi về VN thì được gọi là tuần dương hạm và là chiếc lớn nhất trong lịch sử hải quân. Bà mẹ nó chỉ còn giàn phóng chớ có ngư lôi đâu. Vậy mà khi xòe giàn phóng ra hai bên hai thằng tàu con hãi quá rẽ sóng quay ngược cấp kỳ...
Tàu mang thương tích về Bason sữa chữa. Chuyện kể rằng hạm trưởng Ngụy Văn Thà cho anh em bỏ tàu nhưng ông nhất quyết ở lại giữ đúng truyền thống hạm trưởng chết theo tàu. Cuối cùng khi ông trúng thương nặng .. Anh em đưa được ông xuống cano nhưng ông hy sinh vì mất quá nhiều máu và cuối cùng trong cảnh đó đành... thủy táng
Bây giờ nhớ lại, người ta nhớ đến 74 chiến sĩ hải quân hy sinh trong thủy chiến nhưng không ai biết tên tuổi của đại đội người nhái anh hùng đã chìm trong sóng biển ngày xưa
Liệu có ai còn nhớ...
( Ghi theo lời kể của bạn tôi. Một hạ sĩ trên HQ1 Trần Hưng Đạo ngày ấy )
TRẦN PHONG VŨ
17/1/2018


15 thg 3, 2022

Cái chết của Brent Renaud, lại nhớ nhà báo nước ngoài ở Hải Dương 981 năm 2014 (Văn Viet )

Trần Tuấn

Brent Renaud, 51 tuổi, nhà báo, nhà làm phim tài liệu người Mỹ đã bị lính Nga bắn chết hôm qua Chủ nhật 13/3/2022 tại Irpin cách thủ đô Kyiv (Ukraine) khoảng 10 cây số về phía tây bắc. Khi ông cùng 2 đồng nghiệp đang trên một chiếc xe cố gắng tiếp cận dòng người di tản để thực hiện loạt phim tài liệu về "cuộc khủng hoảng người tị nạn toàn cầu" cho một dự án của Time Studios, như thông báo của giám đốc điều hành Time. Hai đồng nghiệp trên xe bị thương…

Brent Renaud không phải phóng viên chiến trường xông vào nơi hòn tên mũi đạn để đưa tin chiến sự. Mà ông đang thực hiện một dự án nhân đạo! Chỉ những kẻ vô nhân đạo mới bắn chết những con người như vậy.

Brent Renaud cùng anh trai Craig Renaud là những nhà báo, nhà làm phim tài liệu, nhà sản xuất truyền hình nổi tiếng. Công việc của anh em nhà Renaud đã đưa họ đi khắp thế giới đến nhiều khu vực xung đột và nóng trong thập kỷ qua, bao gồm các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, trận động đất ở Haiti, cuộc chiến ma túy ở Mexico và bất ổn chính trị ở Ai Cập. Các bộ phim và chương trình truyền hình của họ đã giành được các giải thưởng bao gồm một giải Peabody (2015), một giải IDA cho Phim truyền hình hay nhất, hai giải thưởng Câu lạc bộ báo chí nước ngoài, hai giải thưởng Columbia Dupont và một giải thưởng Edward R. Murrow cho tác phẩm của họ với The New York Times. Năm 2019, Renaud được bổ nhiệm làm giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Arkansas…

Nhớ lại những ngày tháng sục sôi mùa hè năm 2014 khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại Hoàng Sa – trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tôi đã may mắn đi trên chuyến tàu Cảnh sát biển cùng 11 nhà báo nước ngoài ra Hoàng Sa ngày ấy (trong đó có nhà báo Võ Trung Dung đến từ Pháp).

Và suốt 12 ngày đêm trên các tàu tiếp cận HD 981, tôi luôn dõi sang các tàu của Trung Quốc chạy rượt đuổi phun vòi rồng sát bên cạnh, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng một ống kính quay phim, máy ảnh nào. Đồng nghĩa với việc các tàu Trung Quốc không đưa nhà báo ra thực địa, nhà báo nước ngoài lại càng không!

Những ngày giao tiếp, sinh hoạt với cánh phóng viên nước ngoài trên các tàu CSB, tôi mới hiểu rằng: Báo chí có thể đến mọi nơi để đưa tin, nhưng nhà báo thì chỉ đứng về bên chính nghĩa!

Đưa lại đây trích đoạn bài thơ dài "Những trích đoạn Hoàng Sa" tôi viết giữa Hoàng Sa những ngày ấy, để hiểu hơn những nhà báo chính nghĩa quốc tế.

(…)

buổi sớm mịt mùng sóng dữ đối diện giàn khoan ma quái

tôi lần vịn ra mạn boong đã thấy Muroi Yasaku

chàng phóng viên Đài TBS Nhật Bản cũng đang dán người bám chặt boong tàu chòng chành đặt máy vệ tinh truyền hình ảnh về nhà.

Muroi nhỏ thó Muroi trầm tư

Muroi buồn

ống kính luôn hướng về những họng tên lửa họng súng họng mắt China xung quanh đang chĩa vào mình

tôi chưa xem được đoạn phim nào của chàng trai Nhật bốn mươi cân ấy

nhưng đoán được nỗi niềm nhức nhối

Danien Siong Tzin Chung – phóng viên đài CNBC Mỹ quốc tịch Anh gốc Hàn

vóc dáng nụ cười trông như diễn viên phụ phim truyền hình Hàn Quốc

đứng quay hình bên cửa cabin, sóng quật mạnh ngã văng xuống sàn vẫn khư khư ôm máy

hai ống chân bị va đập bầm đen.

bác sĩ trên tàu vội vã lên kiểm tra, xoa bóp.

dịu bớt cơn đau, Chung bập bẹ

“Cám ơn Việt Nam !”.

tôi nhớ Pluno Laymond Phillip báo Le Monde

Philippe Alfred Leltien đài Radio France

nhà báo truyền hình TV5 Pháp gốc Việt Võ Trung Dung

trưa ấy sát bên nhau trên boong tàu CSB 4033 nghiêng ngả

cùng hát say sưa “Vì nhân dân quên mình” và những điệu dân ca về biển với những người lính Việt Nam

tôi nhớ Eunice Yoon kênh truyền hình CNBC Mỹ

Hawley Samantha hãng tin Úc ABC

Akiko Ichihara từ đài truyền hình NHK Nhật Bản

- những nhà báo nữ xinh đẹp quả cảm nơi đầu sóng

bao phen cùng chúng tôi ướt lạnh giữa Hoàng Sa

tôi nhớ từng cái tên từng gương mặt cái bắt tay của Toshihiro Yatagai người Nhật báo Kyodo News, Robert Mathew McPride người Anh đài Al Jazeera, Kuojui Yeh đến từ Singapore của Chanel News Asia, James William Borton phóng viên tự do người Mỹ, Euan McKirdy của CNN, Hoàng Đình Nam AFP tại Hà Nội…

bình thản xoãi chân ghì máy quay giữa xối xả vòi rồng, những cú đâm hủy diệt

cùng chúng tôi đu trên đầu sóng

lắt lẻo giữa đại dương theo những cú rời tàu

mỗi lần hạ xuồng chia tay ai nấy nhoài người ghi lại cảnh tượng và giơ tay thốt lên "Vietnam" đầy cảm thán

Việt Nam trên những chuyến tàu bão có mặt họ cùng chung cơn say nhào cùng nổi chìm trên từng đỉnh muối

Việt Nam – Hoàng Sa trên từng bản tin nóng thước phim nóng dội khắp năm châu

Việt Nam những ngày không bình yên Hải Dương 981

(…)

14.3.2022

Brent Renaud (trái) và anh trai Craig Renaud – Photo: ulitzercente

Brent Renaud đi tuần tra với cảnh sát tại một trong những khu vực nguy hiểm nhất của Honduras. Hình ảnh của Stephen Bailey. Honduras, 2015. 

Nhà báo Võ Trung Dung cùng đồng nghiệp nước ngoài tác nghiệp trên tàu CSB 2016 tại khu vực HD 981, phía trước là tàu hộ vệ tên lửa của TQ – ảnh Trần Tuấn 

Cảnh sát biển VN chăm sóc vết thương cho nhà báo Danien Siong Tzin Chung – phóng viên đài CNBC Mỹ khi ông bị sóng lớn hất văng trên boong tàu – ảnh Nguyễn Á 

Những phóng viên nước ngoài trong một lần chuyển tàu giữa Hoàng Sa – ảnh Nguyễn Á 

Nhà báo quốc tế tác nghiệp đối diện giàn khoan HD 981 tại Hoàng Sa – ảnh Nguyễn Á 

Tràn Tuấn