22 thg 12, 2021

VỊNH CON TRÂU - HGTC (Vương văn Ký )

 VỊNH CON TRÂU

Nghiệp dữ chất chồng phải hóa trâu,
Trăm cay nghìn đắng chất lên đầu.
Ngày ngày lăn lóc trong bùn đất,
Tối tối nằm nhơi đống rạ khô.
Lũ đĩa to tròn đeo lủng lẳng,
Muổi mòng mặc sức hút nê no.
Già nua, chậm chạp người ta giết,
Thân xác biến thành buổi tiệc to!...*

 
*Cùng với các bạn trẻ thân yêu thích thơ Đường,
Từ thế kỷ thứ 9 trở về trước tức là cách đây trên 1100 năm) ,người Trung quốc và người Việt Nam có làm thơ “ Thất Ngôn Bát Cú’, tuy có gieo vần nhưng không bị ràng buộc bởi nhiều niêm luật quá khó khăn. Dó là “thơ cổ phong”, (có phong cách xưa). Đến thế kỷ thứ 10, khi nhà Đường trị vì thiên hạ, thơ cổ phong đươc được điều chỉnh lại một cách có qui củ, bầng những luật lệ phúc tạp và được gọi là Thơ Đường Luật:
-Luật đối câu, đối chữ ( câu trên câu dưới phải đối nhau theo băng trắc về ý nghĩa như: nước trong leo lẻo cá đớp cá / Trời nắng chan chan người trói người, như “ trời dối với “ đất”, “đi” đối với đúng”.v.v..,
Hàng trên là danh từ riêng thì chữ hàng dưới cũng phải danh từ riêngv...v...Điều nầy chỉ áp dụng cho câu thứ 3 đối với câu thứ 4, câu 5 đối với câu 6.
- Luật gieo vần ( những chữ cuối của các câu 1-2 -4- 6-8 phải cùng một vần: Lom kkhom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác đác bên sông chợ mấy nhà. Có ép vận đôi chút cũng không sao nhưng không xuất sắc
- Tuy nhiên, những chữ thứ 1-3-5- không bị bắt buộc bởi luật bằng trắc ( nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh)
- Thơ Đường lại còn chia làm 3 thể loại khác nhau: 1- luật bằng vần bằng như bài THU ĐIẾU của cụ Nguyễn Khuyến) 2- luật trắc vần bằng( như bài Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan)
- 3- Luật trắc vần trắc ( Tôi ko có làm bài nào và cũng ko nhớ bài nào ví chói lỗ tai!)
- Ngày xưa, Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình mà làm một bài thơ Đường sai luạt hay phạm úy thì kể như hỏng hoàn toàn, dù những bài khác có xuất sắc đi nũa!)...

☃ Bức thư minh chứng về sự tồn tại của ông già Noel vẫn lay động con tim bao thế hệ🌲


 Đường Tân • 20/12/21


Chưa ai tận mắt gặp ông già Noel bằng xương bằng thịt cả nhưng điều đó không có nghĩa là ông già Noel không có thực. Những điều chân thực nhất trong thế giới chúng ta là những điều mà trẻ em và người lớn đều không thể thấy được...

Cứ đến mùa Giáng sinh, hầu hết mọi đứa trẻ đều đặt ra câu hỏi: Liệu ông già Noel có thật hay không? Hơn một trăm năm trước, cô bé Virginia O’Hanlon, 8 tuổi ở Manhattan, Hoa Kỳ cũng từng có câu hỏi tương tự với bố mình...

Thay vì trả lời con gái, bố Virginia đã gợi ý con gửi thư cho tờ ‘The Sun’, một tờ báo nổi tiếng ở New York vào thời điểm đó. Trong bức thư của mình, cô bé viết:

“Kính gửi ban biên tập!

Con năm nay 8 tuổi. Một vài người bạn của con nói rằng trên thế giới không có ông già Noel. Cha con từng bảo nên hỏi tạp chí The Sun. Xin các cô chú hãy nói cho con biết thực sự trên thế giới này có ông già Noel không?”

Và thế là Biên tập viên Francis Pharcellus Church đã thay mặt tòa soạn ‘The Sun’ viết một bức thư trả lời cô bé, đồng thời cho đăng câu chuyện này lên số báo ngày 21/9/1897 trong một bài xã luận với tựa đề: ‘Yes, Virginia, there is a Santa Claus’ – Có, Virginia, Santa Claus là có thật.

Không ngờ bức thư phúc đáp của Church đã trở nên nổi tiếng hơn 100 năm qua, và liên tục được kể lại trong mỗi mùa Giáng sinh.



Nội dung bức thư phúc đáp có ghi:

“Virginia, các bạn cháu nói không đúng. Những người như họ luôn hoài nghi mọi thứ. Họ chỉ tin vào những gì họ tận mắt nhìn thấy và hiểu được, mặc dù trí óc của họ nhỏ bé biết bao. Virginia à, trí tuệ của con người, dù là người lớn hay trẻ em, tất cả đều nhỏ bé. Trong vũ trụ vĩ đại mà chúng ta đang sống, nếu ta hình dung chân lý rộng lớn như là một không gian bao la thì kiến thức của con người chỉ nhỏ nhoi bằng một con kiến mà thôi.

Đúng thế, Virginia, ông già Noel có thực. Ông có thực cũng như tình yêu và lòng quảng đại luôn hiện diện quanh ta, nhờ đó mà cuộc sống của chúng ta được vui tươi và hạnh phúc. Nếu không có ông già Noel thì thế giới của chúng ta ảm đạm biết bao. Nếu không có những em bé như cháu thì thế giới của chúng ta sẽ như thế nào? Khi đó cuộc sống sẽ chẳng có những tâm hồn trẻ thơ, chẳng có thi ca, chẳng có lãng mạn. Con người chỉ là những cỗ máy khô khan. Ánh sáng niềm tin và hy vọng của trẻ em trên khắp thế giới cũng sẽ tiêu tan.

Nếu không tin có ông già Noel, cháu cũng sẽ chẳng tin vào những chuyện thần tiên. Cháu có thể nói với bố nhờ người canh cửa trong đêm Giáng sinh để bắt gặp bằng được ông già Noel, nhưng ngay cả nếu như không gặp được ông đi chăng nữa thì cũng đâu chứng minh được điều gì? Chưa ai tận mắt gặp ông già Noel bằng xương bằng thịt cả nhưng điều đó không có nghĩa là ông già Noel không có thực. Những điều chân thực nhất trong thế giới chúng ta là những điều mà trẻ em và người lớn đều không thể thấy được. Cháu có bao giờ nhìn thấy các nàng tiên nhảy múa trên thảm cỏ chưa? Dĩ nhiên có thể là chưa nhưng đó đâu phải là bằng chứng để cho rằng không có chuyện đó.

Không ai có thể hiểu và tưởng tượng được những điều kỳ diệu mà họ chưa từng thấy và không thể thấy được trong thế giới của chúng ta. Cháu có thể dễ dàng đập vỡ một cái lúc lắc để tìm xem cái gì kêu lách cách bên trong, nhưng trên đời này có một thế giới kỳ diệu được bao phủ bởi một bức màn kiên cố mà không một sức mạnh nào của thế gian có thể xuyên qua được. Chỉ có bằng niềm tin và tình yêu chúng ta mới vén được bức màn và cảm nhận được vẻ đẹp lộng lẫy huy hoàng bên trong. Những chuyện đó có thực không? Virginia à, đó là điều chân thực nhất trên thế gian này.

Ông già Noel không có thực ư? Nhờ Chúa, ông vẫn sống và sẽ sống mãi. Hàng nghìn năm sau Virginia à, mà không phải, hàng trăm nghìn năm sau, ông vẫn sẽ tiếp tục mang đến niềm vui và hạnh phúc cho những tâm hồn trẻ thơ trên khắp hành tinh này. Chúc cháu Giáng sinh hạnh phúc”.

Những thông điệp từ bức thư đã làm rung động hàng triệu con tim người đọc bởi giá trị nhân văn của nó. Hơn một thế kỷ sau, lời hồi đáp mà Biên tập viên Francis Pharcellus Church từng gửi cho cô bé Virginia vẫn được giữ nguyên văn và được đăng tải trên nhiều tạp chí, sách vở, các tác phẩm điện ảnh, tem thư, áp phích… và được dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau.

Biên tập viên Francis Pharcellus Church là một cây bút bình luận kỳ cựu của tòa báo The Sun. Ông viết bức thư phúc đáp này khi 57 tuổi và qua đời năm 1906, ở tuổi 66.

Ông già Noel có thực cũng như tình thương yêu của con người dành cho nhau là có thực? (Ảnh: Pixabay)

See the source image

Great Day GIF by memecandy

Andy Van

See the source image

Còn cô bé 8 tuổi Virginia O’Hanlon – người từng đưa ra câu hỏi về sự tồn tại của ông già Noel năm nào, sau này đã trở thành một nhà giáo nổi tiếng, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và công tác từ thiện hỗ trợ các trẻ em tật nguyền trên khắp nước Mỹ. Virginia vẫn không quên truyền rộng thông điệp kỳ diệu về ông già Noel mà nhà báo Francis đã gửi cho bà qua bức thư và bài xã luận tới khắp mọi người. Cũng bởi lẽ đó, trong suốt cuộc đời mình, Virginia O’Hanlon đã không ngừng nhận được những lá thư của nhiều đứa trẻ hỏi về sự tồn tại thực sự của ông già Noel. Mỗi lần nhận được thư và hồi đáp lại cho bọn trẻ, bà đều gửi thêm cho chúng bài xã luận có ảnh hưởng tới cả cuộc đời mình khi xưa, kèm theo vài dòng nhắn nhủ:

“Trên thế giới này thực sự có ông già Noel không? Các bạn nhỏ của ngày hôm qua và ngày hôm nay yêu quý, khi tôi là cô bé cùng độ tuổi các bạn, tôi cũng đã đặt câu hỏi này và luôn muốn tìm thấy câu trả lời. Sau khi trưởng thành, trở thành một giáo viên, tôi luôn hy vọng các bạn nhỏ sẽ như tôi khi đều có thể tin rằng ông già Noel là có thực trên thế giới này. Bởi tôi hiểu được niềm tin vào sự tồn tại của ông già Noel và những câu chuyện cổ tích, niềm tin vào những điều vui vẻ huyền diệu trong các câu chuyện cổ tích thực sự quan trọng tới mức nào”.

Vào năm Virginia 80 tuổi, bà phải nhập viện vì căn bệnh tim quái ác. Trong viện có một người thợ sửa chữa tên gọi John Harms, sau khi biết được bà chính là cô bé đã viết thư cho tờ The Sun năm nào, John Harms đã cải trang thành ông già Noel và tới phòng bệnh thăm bà trong đêm Giáng sinh diệu kỳ.

Khi được ‘ông già Noel’ John Harms tặng quà và hôn lên má, Virginia đã vô cùng xúc động. Bà nghẹn ngào nói:

– Tôi vẫn tin rằng trên thế giới này thực sự có ông già Noel.

Virginia O’Hanlon mất năm 1971, ở tuổi 81. Bà đã mang theo lá thư phúc đáp của nhà báo Francis Pharcellus Church trong suốt cuộc đời mình.

See the source image
Đường Tân (tổng hợp)

Em Đi Thu Về Muộn - Thơ Nguyễn Đạm Luân


 
Nhớ người con gái tên L đã quên nhau từ tuổi mười tám

Từ ngày em đi Thu về muộn

Đường Phượng úa lá chậm thay màu

Nơi này vẫn còn vàng nắng Hạ

Nắng Hạ vàng chiều đi bên nhau

 

Ghế công viên đầu Thu phố nhỏ

Mình ngồi nhìn nắng rớt bên sông

Tóc dài như một dòng suối nhớ

Em thẹn thùng tôi cứ ngập ngừng

 

Âm thầm mình tôi về lối cũ

Ngậm ngùi sỏi đá cũng biết đau

Bên đường rã rời hoa cỏ rũ

Xót xa cho một chuyện tình đầu

 

Từ đó phố không chờ Thu tới

Mây mùa Thu cũng nhạt màu xưa

Tôi chờ nhưng chờ mà không đợi

Thả gió bay đi chút hương thừa

 

Nguyễn Đạm Luân

Chiều xa nhà 2020



Mời Xem :



Phố Chiều Cuối Đông - Nguyễn Đạm Luân

TRUYỆN THẬT NGẮN .....


TRUYỆN THẬT NGẮN .....

Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên…
Uống chung một ly rượi mừng, chụp chung tấm ảnh... cuối cùng khi anh là chú rễ còn em chỉ là khách mời. Từ nay, hai đứa sẽ không còn có gì chung nữa, anh giờ là riêng của người ta…
--------------
Bàn tay
Hai đứa cùng trọ học xa nhà, thân nhau. Lần vào quán nước, sợ tôi không đủ tiền trả em lòn tay xuống gầm bàn đưa tôi ít tiền. Vô tình đụng tay em... mềm mại.
Ra trường, hai đứa lấy nhau. Sống chung, em hay than phiền về việc xài phí của tôi. Bận nọ tiền lương vơi quá nửa đem về đưa em... chợt nhận ra tay em có nhiều vết chai.
Tự trách, mấy lâu mình quá vô tình.

*Ngậm ngùi*
Ba mất nửa năm, má dẫn hai con nhỏ về quê. Xin được mảnh đất hoang, cùng mần cỏ, dọn nền, lối xóm lạ hoắc tới tiếp dựng mái lá ở tạm. Tối, má gói bánh – nấu. Sáng, hai nhỏ út bưng bán. Má mượn xuồng đi chợ, áo thâm kim, nón lá rách.
Anh Hai ở Sài Gòn, thành đạt, giàu. Hôm về quê, anh đi dọc bờ sông, má thấy, bơi xuồng riết theo, goi tên con hụt hưởi. Anh ngoái nhìn rồi quay mặt đi tiếp. Má tủi, gạt dầm, cúi mặt khóc. Nước mắt má làm xuồng quay ngang!

Tết
Ngồi một mình trong căn phòng chung cư ở tầng 15, anh đón Tết một cách lặng lẽ. Ở nơi này vẫn có bánh chưng, bánh tét, vẫn có pháo, có hoa nhưng hình như vẫn thiếu một thứ gì đó.
Đã 35 cái Tết tha hương nhưng hình như trong anh vẫn còn tìm kiếm, dẫu rằng sự tìm kiếm đó ngày càng nhạt nhòa theo năm tháng. Phải chăng ‘thứ ấy’ là hương vị Tết quê nhà?
“Phải đi ngủ sớm thôi” Anh tắt đèn tự nhủ, “Mai còn phải đi làm…”

*Lương tâm*
Con ốm, nhập viện. Làm thủ tục, bác sĩ mặt lạnh tanh. Biết ý, tay mẹ run run dúi trăm nghìn vào túi “lương y”… Bác sĩ thân mật: “Nằm giường này cháu, đừng lo có bác!”. Biết đâu mẹ đang xỉu dần vì bán máu cho con. Lương tâm?
----++++-----
Xứ lạ quê người
Qua xứ người được vài năm thì ông anh họ của tôi bắt đầu gởi tiền về, giục các con lo học tiếng Anh và vi tính đẻ mai mốt qua đó có thể dễ dàng kiếm việc làm.
Hôm vừa rồi, anh gọi điện về thăm gia đình chúng tôi, tôi hỏi anh có địa chỉ eMail chưa để tiện liên lạc, giọng anh chùng hẳn xuống: ” Suốt ngày hết rửa bát lại dọn bàn trong quán, anh có thì giờ đâu mà biết đến những thứ hiện đại đó hả em?! “.
-----++++
- Nghĩa tình
- Bố bị tai biến mạch máu não, nằm liệt giường. Em phải xin nghỉ việc để về nhà phụ mẹ chăm sóc bố. Hơn năm sau, bố mất. Em lại phải đi làm xa kiếm tiền gởi về cho mẹ trả nợ nần, thuốc men. Mãi bươn chải vì chén cơm manh áo, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa lập gia đình.
-Anh hai giục mẹ bán nhà ra ở với ảnh, có dâu có cháu cho vui tuổi già.
- Ngày về căn nhà ngày xưa đã đổi chủ, em chỉ còn biết khóc.
--------------
Bóng nắng, bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố. Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ?
Trời vẫn nắng, vẫn râm...
...Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
--------------
Câu Hỏi
Ngày đầu tiên cô phụ trách một lớp học tình thương đa phần là những trẻ lang thang không nhà cửa.
Cuối buổi học.
- Cô ơi. Dạy tụi con hát đi cô.
- Hát đi cô.
Còn mười phút. Nhìn những cái miệng tròn vo và những đôi mắt chờ đợi, cô dạy cho tụi trẻ bài "Đi học về".
- Hát theo cô nè... Đi học về là đi học về. Con vào nhà con chào ba mẹ. Ba mẹ khen...
Phía cuối lớp có tiếng xì xào:
- Tao không có ba mẹ thì chào ai?
- ...
Cô chợt rùng mình, nghe mắt cay cay.
------------
Ba Và Mẹ
Mẹ xuất thân gia đình trí thức nghèo, yêu thích thơ, văn. Ba tuy cũng được học nhưng là con nhà nông “chánh hiệu”.
Mẹ sâu sắc, tinh tế. Ba chất phác, hiền hòa.
Mỗi khi ba mẹ đấu lý, chị em nó thường ủng hộ mẹ, phản đối ba. Mẹ luôn đúng và thắng.
Hôm ba bệnh nặng, cả nhà lo lắng vào ra bệnh viện.
Tối ba nói sảng điều gì đó không ai hiểu. Nhưng lần đầu tiên nó nghe mẹ nói “Đúng! Ông nói đúng…” Quay đi, mẹ sụt sùi. Nó thút thít khóc.
-----+++----
Tình Đầu
Về quê, lần nào cũng vậy, hễ chạy qua ngã ba An Lạc là tôi cho xe chạy chậm hẳn lại, mắt nhìn vào ngôi nhà khuất sau vườn lá. Một lần, đứa con trai mười tuổi của tôi hỏi:
- Ba tìm gì vậy?
- Tìm tuổi thơ của ba.
- Chưa tới nhà nội mà?
- Ba tìm thời học sinh.
- Nội nói, lớn ba học ở Sài Gòn mà?
- À, ba tìm người... ba thương.
- Ủa, không phải ba thương mẹ sao?
- Ừ, thì cũng ... thương.
- Ba nói nghe lộn xộn quá. Con không biết gì cả.
- Ba cũng không biết.
Chỉ có Hồng Hạ biết. Mà Hạ thì hai mươi năm rồi tôi không gặp.
-----------
Bão
Sống miền duyên hải, công việc của anh gắn liền với tàu, với biển, với những chuyến khơi xa. Anh đi suốt, về nhà chẳng được bao ngày đã tiếp tục ra khơi. Mỗi lần anh đi chị lại lo. Radio, ti vi báo bão. Đêm chị ngủ chẳng yên, sợ bão sẽ cuốn anh ra khỏi đời chị.
Cuộc sống khá hơn, anh không đi biển nữa mà kinh doanh trên bờ. Anh đi sớm về trễ, có đêm vắng nhà, bảo vì công việc làm ăn. Nhưng nghe đâu...
Không phải bão, anh vẫn bị cuốn xa dần. Sóng gió, bão trong lòng chị.
----------
Khóc
Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.
Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.
Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói:
- Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh.
------------
*Đánh Đổi*
Chị yêu anh vì vẻ lãng mạn và coi thường vật chật. Chị xa anh cũng vì lẽ đó. Nhân chứng của cuộc tình là chiếc xe đạp, nó chở đầy kỷ niệm của một thời yêu nhau.
Mười năm xa cách, anh lao vào cuộc mưu sinh và có một gia sản ít ai bằng.
Tình cờ anh gặp chị tại nhà, nhìn thấy chiếc xe đạp ngày xưa, chị hỏi: anh còn giữ nó? Anh nghẹn ngào: anh làm ra những thứ này mong đánh đổi những gì anh có trên chiếc xe đạp ngày xưa.
----++-+----
*Mẹ tôi*
Mẹ sinh tôi giữa ruộng bùn vì lúc có mang tôi cũng là lúc gia đình lâm vào túng quẫn, mẹ đi cấy thuê lặn lội đồng sâu nước độc nên sinh tôi thiếu tháng. Tôi ốm đau èo uột. Mẹ thường cõng tôi qua sông đến nhà thầy thuốc. Tôi khỏe. Nhưng mẹ phải còng lưng ba năm trời để trả nợ.
Lớn lên tôi định bỏ học đi làm sớm. Mẹ quyết nhịn ăn bắt tôi đến trường. Mẹ là tấm gương soi suốt đời tôi.
-+++++----
Túi khoai thối
Thử hình dung những cơn giận dữ của ta như những củ khoai, mỗi lần giận là bỏ vào túi một củ, ngày càng nhiều và chúng dần thối đi. Nếu không biết bỏ qua lỗi lầm của người khác, cứ giận họ mãi thì với ta chẳng lợi ích gì, họ cũng chẳng vì ta giận họ mà mập hay ốm đi, còn ta khác nào phải mang theo túi khoai vừa thối vừa nặng. Nếu biết bỏ qua, ta sẽ có nhiều bạn, không còn phiền lòng vì túi khoai thối ấy.

Sưu tầm 

Tranh Nguyễn Sơn

21 thg 12, 2021

ẤM ÁP HỘI AN - Thơ Đổ Mỷ Loan

 

sao anh không dắt em về Hội An?
thăm sông Hoài mơ màng một thuở
thăm tuổi thơ anh dưới mái trường làng
vì chiến trận phải học hành dang dở

sao anh không dắt em đi dạo chùa Cầu?
lời anh hứa rêu mờ theo năm tháng
em rất thèm… thèm ăn món cao lầu
món bánh đập anh gọi là đặc sản

em thích cùng anh tung tăng phố cổ
ngắm mấy đèn lồng huyền ảo đêm trăng
thích giọng rao hàng: - Ai… xí mà phủ…?...
vị ngọt quê anh... chưa nếm một lần

hai tiếng Hội An nghe sao ấm áp
mơ được hôm nào anh dắt về thăm…

Đỗ Mỷ Loan

Hoa...Kỳ (thơ Tếu) - Tú Cù

HOA   . . .KỲ. . .

(thơ tếu)  

 
















Nuớc nầy tên gọi nước Hoa. . .Kỳ

Nhiều chuyện xem chừng “kỳ” quá đi

Nghiền ngẩm bấy lâu nay ghi lại

Cô bác xem chơi, thấy tức thì.

                                   

Con cái vô tâm đến chẳng ngờ

Cha mẹ già nua chẳng phụng thờ

Thích mua mèo chó về chăm sóc

Thật đúng là làm chuyện bá vơ !!!

                       

Chuyện uống ăn cũng “ngộ” quá trời

Thức ăn đủ thứ bán khắp nơi

Ham ăn, mắc bệnh, “mở nhiều máu”

Chết vì no quá, mới ngược đời.

                                   

Xứ gì , đạo lý  ”lộn lèo” rồi

Ðánh con, đi tù dễ như chơi

Vợ mà lở “quánh”, chồng phải nhịn

Kêu “nai oanh oanh” là tiêu đời !

                       

Lại thêm chuyện nầy đang nở rộ

“Thẩm mỹ viện” , các bà cứ vô

Bơm hai trái quít thành trái bưởi

Hoặc hai cái chun thành cái tô !!!(1)

                                   

Thêm chuyện nầy, xem ra cũng ngộ

Chỉ nhà giàu mới được đi bộ

Người nghèo cứ ô tô mà chạy

Nhanh đến chỗ làm cho kịp giờ.

                       

Ông trời sinh ra, có cái miệng

Ðể uống ăn và để nói chuyện

Ở Mỹ lắm người  nói . . .bằng tay

Quơ tới, quơ lui cũng hiểu liền.

                                   

Sẵn có tiền, các bà thi đua

Háng hóa “on sale” cứ việc mua

Gom về cả đống, không xài tới

Thì mở “yard sale”, bán như cho.

 

Còn chuyện nầy thật là buồn cười

“Tư bản Mỹ dẩy chết tới nơi”

Chưởi Mỹ,nhưng mà ai cũng thích

“hạ cánh an toàn” để hưởng đời.

                                   

Xứ Hoa Kỳ nhiều điều kỳ quá

Ðất nước gì đâu rộng bao la

Dân cư hợp chủng từ khắp xứ

Nhưng đều biết nói chữ  ÐÔ LA !!!

                                                                       

Tú Cù.

 

(1)   cái chun nhỏ xíu, nhỏ  hơn cái tách, thường dùng rót rượu lễ hay trà.        

 



Từ trang DĐQGHCTC 

Cô Út Về Rừng - Sơn Nam


Má ơi ! Đừng gả con xa.

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu…



Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 hoặc 1940 gì đó.

Trời sáng trăng. Thường lệ cứ đến chín giờ tối là nhà ông hương Cả Ba đóng cửa ngủ sớm. Đêm ấy, có khác. Cây đèn “măng sông” cất lâu trong tủ được đem ra lau chùi, đốt sáng lên. Ông Cả nheo mắt, nhìn đăm đăm ra sân tìm một góc tối om nào đó mà định thần hòng gỡ mối tơ vò rối rắm của gia đình. Ngoài sân, trăng sáng yên lành ; lớp thủy ngân xao động, nhảy nhót, gờn gợn trên lá trên cành của vườn cam, trên ngọn tre mềm dịu đang chuyển động từng cơn.
Ông lẩm bẩm :
-Kìa… mà gió trở ngọn. Gió chướng qua gió nồm. Hết nắng sang mưa.
Bà Cả lắc đầu :
-Ông này vớ vẩn. Gả con Út hay là không ? Sáng mai mình phải trả lời cho cậu Quỳnh biết. Ở đó mà lo gió chướng, gió nồm! Hai đứa nó đâu rồi ?

-Tụi nó ở ngoài sân nói chuyện rù rì, bà không nghe sao ? Thế nào tôi với bà cũng tính cho xong xuôi nội đêm nay.

“Tính” đây là cả một bài toán. Làm thế nào có lợi cho gia đình mình ? Gả cô Út cho cậu Quỳnh, ông bà rất đỗi vui mừng vì gặp nơi môn đăng hộ đối. Nhưng về mặt tình cảm thì thiệt thòi quá. Gả con gái về chốn Cạnh Đền xa xăm ! Tháng trước, ông xuống đó để dò xét thân thế gia đình của đàng trai : căn nhà ngói vách ván, xung quanh có vườn tược lai rai, xa xa nhô lên vài nhà của người Miên. Và rừng xanh một dãy che phủ tứ phía chân trời !

Ông đáp :

-Tôi nhứt định gả. Hai đứa nó thương nhau từ hồi còn đi học ở Sài Gòn. Bên đàng trai khá giả. Mình đòi bắt rể, ai mà chịu. Thôi đành vậy…

Bà Cả thở dài :

-Tôi ngại quá. Mình có mụn con gái. Gả đi xa xôi không nói làm gì. Ngặt xứ đó kỳ quái, hiểm nguy. Nội cái tên Cạnh Đền nghe cũng dị hợm…

-Tưởng bà ngại điều gì chớ chuyện đó thì dễ. Dân ở dưới hiền lành lắm. Bộ thiên hạ ăn thịt con gái mình sao mà nguy hiểm?

-Tức chết đi ! Nói vậy mà không hiểu ! Ông không nghe người ta hát sao ?

Xứ đâu hơn xứ Cạnh Đền,
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh.

Ông Cả nghe qua, cười ngất hồi lâu. Bà Cả càng sôi gan :

-Ông cười tôi nói bậy à ? Ở xứ đó chạng vạng là ai nấy phải vô mùng để… ăn cơm

-Nhưng sự thật là họ ăn cơm sớm, hồi cỡ bốn giờ chiều để khỏi cần vô mùng. Bà nghe ai nói lại vậy ?

-Ông có tài binh vực cho xứ Cạnh Đền. Dẹp chuyện muỗi một bên, tôi bàn qua chuyện đỉa để ông có giỏi thì cãi. Nè, tôi nghe nói… phen đó cô dâu nọ ở chợ Cần Thơ gả xuống. Cổ xuống bến làm cá, xong xuôi đem trút vô chảo, nấu canh chua. Dè đâu chừng con đỉa đeo trong khứa cá. Cô dâu nọ bị đuổi vì tội… nấu canh chua bằng đỉa. Oan ức quá. Xứ đỉa nhiều, đâu ai dè trước ! Tôi sợ con Út nhà mình phải bị đuổi trở về mà mang nhục với xóm riềng.

Ông Cả cười dòn :

-Thiên hạ đồn nhưng có thiệt lần nào chưa ? Tôi nói cho bà nghe : chuyện đó dóc. Hồi xuống Cạnh Đền, tôi nhắc chuyện… “đỉa lềnh như bánh canh”. Thiên hạ ở dưới đó cắt nghĩa : Cạnh Đền là nơi nước mặn gần mãn năm. Hơn nữa, ruộng ít khi cày trâu. Làm sao có đỉa ở vùng nước mặn ? Chẳng qua là mấy người đặt bài hát đưa em, thêm nhưn thêm nhụy để bắt vần. Đỉa nhiều ở là xứ nước ngọt như Bình Thủy, Ô Môn đây nè ! Bà biết chưa. Ở đây, từ hồi nào tới giờ, có ai lỡ nấu canh chua đỉa không ? Bà chỉ cho tôi coi thử.

Bà Cả đuối lý, cố suy nghĩ, tìm cách bảo thủ ý kiến của mình.

Sau rốt, bà nói :

-Gả con về rừng khổ lắm. Xưa nay, người ta hát :

Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí rợ dưa hường nấu canh.

“Đằng này mình gả con về rừng… Bao nhiêu người chịu tai nạn đó rồi”.

Ông Cả hút điều thuốc, chập sau mỉm cười, đắc thắng. Bà day lại :

-Ông gả thì gả đi. Đường xá xa xôi làm sao nó về thăm mình được. Nãy giờ tôi quên nói chuyện đó.

-Dễ ợt. Miễn con gái của mình có hiếu… Gả con… ở trong nước Việt Nam chờ qua bên Tây bên Tàu gì sao ! Một khi quên cha quên mẹ thì dầu ở kế bên nhà nó cũng không thèm về thăm. Tôi thì tôi tin con Út lắm. Công cha mẹ nuôi dưỡng, cho đi ăn học lẽ nào nó quên.

Bà Cả bỏ đi chỗ khác, nói lại một câu :

-Để coi nó nhớ hay quên ! Xuống miệt Cạnh Đền, muỗi ăn thịt nó. Nó bỏ thây ở dưới, hai ba năm chưa chắc về thăm mình được một lần. Lần hồi mất gốc rễ, nó nhè lấy tên mình, đặt trùng lại cho con cháu của nó mà không hay.

-Tại sao vậy ? Bà này vô lý quá…

Tuy cãi lời bà, trong thâm tâm ông cảm thấy chút gì buồn bực đuối lý. “Ông có lý luận đúng, nhưng bà… không lẽ nói sai”. Nghĩ vậy, ông lại nằm nơi ghế trường kỷ, lẩm bẩm :

-Ông Tơ xếp đặt rồi. Phận con Út vậy đành vậy.

Thế là tháng chạp năm đó, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.
Hai năm qua.
Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái. và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá ! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông

-Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không

Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em :

Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu ?

hoặc :

Thương chồng phải lụy cùng chồng,
Đắng cay phải chịu , mặn nồng phải theo


Mỗi khi tiết trời lập đông là cơ thể rêm nhức, tuổi già của ông càng đè nặng hai vai. Não nuột quá những câu hát :

Một mai ai đứng bên kinh,
Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài ?

Bên kinh đã có con trai,
Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu
Hỏi nào chàng rể ở đâu ?
Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm…


Ông nhìn trời. Ngày nào đó ông chết, con gái không về kịp để phò giá triệu, càng không có chàng rể. Nhưng ông tin tưởng rằng đứa rể của ông ở vùng Cạnh Đền xa xôi kia, giờ phút này đang cặm cụi làm ăn nhớ cha mẹ vợ, không bao giờ uống rượu nói xàm vì chàng là kẻ có ăn học. Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mòn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông !

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái :

-Phải chỗ cây mù u này không ? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp :

-Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại :

-Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cầu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn :

-Ở đây nè, bà con ơi ! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy ! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt :

-Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh :

-Úy ! Bộ con Út đẻ năm một sao ? Con nhỏ đó thiệt …

Khách trả lời :

-Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

-Sao vậy cà ? Sao vậy cà ? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ đẻ nhiều quá vậy ?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói :

-Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ chồng con cái rút vô mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng “muỗi kêu như sáo thổi” ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói :

-Ừ ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột :

-Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt ?

Khách trả lời :

-Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết :

-Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi ! Hồi đó ông cãi tôi…

Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu, ai rinh quan tài ? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân : Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác ; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu – và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận :

-Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa ? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về dùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Sơn Nam

Từ trang QGHCUC