24 thg 6, 2018

GIÃ TỪ - Thơ Nguyễn Đăng Hà (K,10-SPSG )

  
    Chào nhau,thế cũng là thừa
Mai xa,nỗi nhớ nào vừa tình tôi
   Chỉ xin em một tiếng cười
Giữ cho đến phút cuối đời. còn trong

   Cần chi phải vẫy khăn hồng
Phải rơi nước mắt phải trông theo người
   Chỉ cần em thoáng nhìn thôi
Là trăm năm đủ để tôi mũi lòng

   Cần chi dòng chữ cuối cùng
Tâm hình kỷ niệm nụ hôn chia lìa
   Chỉ cần với bụi cát kia
Em trao chút nẻo,mai sau,,,,

Nguyễn Đăng Hà

(Trich tập :LAO XAO LỐI SỎI 2 )

Những bức ảnh về Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính nhà báo Pháp

Bộ ảnh cuộc sống Sài Gòn vào những năm 1960 được ghi lai qua ống kính của nhà báo Pháp François Sully.
François Sully là một nhà báo Pháp nổi tiếng trong thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam. Ông đã từng hợp tác với tờ Time đưa tin trong trận Điện Biên Phủ.
Những bức ảnh về Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính nhà báo Pháp - Ảnh 0
François Sully có 24 năm làm việc tại Đông Dương. Những tờ báo ông hợp tác và làm việc là Time, Black Star, Newsweek…
Trong một chuyến bay đến Campuchia vào tháng 2.1971, ông đã gặp nạn. Tất cả hành khách trong chuyến bay đều tử nạn chỉ riêng ông nhảy ra khỏi ghế va rơi xuống ở độ cao 23m. Tuy nhiên, ông bị thương nặng và cũng đã qua đời sau đó. Khi ông qua đời, ông đã để lại một số tiền cho trẻ mồ côi tại VN.
Sau đây là một số hình ảnh về Sài Gòn vào những năm 1960 được ông ghi lại qua ống kính của mình:
Giao thông mùa Hè Sài Gòn năm 1964
Giao thông mùa Hè Sài Gòn năm 1964
Ảnh trước nhà hàt Rex vào tháng 3.1964.
Ảnh trước nhà hàt Rex vào tháng 3.1964.
Những bức ảnh về Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính nhà báo Pháp François Sully
Những bức ảnh về Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính nhà báo Pháp François Sully
Một góc đường ở Sài Gòn năm 1964
Một góc đường ở Sài Gòn năm 1964
Chợ hoa Nguyễn Huệ vào dịp Tết 1966
Chợ hoa Nguyễn Huệ vào dịp Tết 1966
Quầy bán vé của Vietnam Airlines
Quầy bán vé của Vietnam Airlines
Tết Nguyên Đán 1966
Tết Nguyên Đán 1966
Đi xem hội làng vào năm 1968 - Ảnh chụp ở ngoại ô SG
Đi xem hội làng vào năm 1968 – Ảnh chụp ở ngoại ô SG
Chùa Xá Lợi
Chùa Xá Lợi
Minh An (Tổng hợp – Ảnh: François Sully)
Nguồn: Một Thế Giới

23 thg 6, 2018

Thi cử và giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc (P2) - Từ Nghiên Cứu Quốc Trế


Tác giả: Trần Bích San
Hệ Thống Giáo Dục Cao Đẳng Và Đại Học Pháp-Việt Khác Biệt Giữa Trường Cao Đẳng Và Đại Học
Hệ thống giáo dục Pháp-Việt (Enseignement Franco-Indigène) áp dụng ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đã rập khuôn theo chế độ và tổ chức giáo dục của Pháp nhưng được điều chỉnh, thêm bớt cho phù hợp với thực tế ở Đông Dương và chủ yếu là để đạt mục đích khai thác thuộc địa. Vì thế, học chế áp dụng tại Đông Dương cho bậc học cao nhất, hình thức tương tự như ở Pháp (lúc đầu không có thực chất, sau đuợc cải tiến vì lý do chính trị), gồm có hai loại trường là cao đẳng và đại học:
Trường Cao Đẳng (École Supérieure): là loại trường chuyên nghiệp, nhập học phải hội đủ điều kiện văn bằng đòi hỏi và qua một kỳ thi tuyển (concours). Trúng tuyển được cấp học bổng ăn học suốt học trình. Tốt nghiệp phải làm việc cho chính quyền (trong lãnh vực chuyên nghiệp do trường đào tạo) một thời gian ấn định (1), nếu không, theo nguyên tắc, phải bồi thường tiền học bổng. Các trường cao đẳng, đào tạo các chuyên viên có nghề nghiệp nhất định như bác sĩ, kỹ sư, công chức, giáo sư…, chương trình học có qui củ và kỷ luật chặt chẽ.
Trường Đại Học (Université): muốn nhập học các trường đại học chỉ cần đủ điều kiện về văn bằng đòi hỏi mà không phải qua một kỳ thi tuyển. Việc thu nhận sinh viên không hạn định tuổi tác và số lượng. Chương trình học chú trọng đào tạo một căn bản vững chãi cho tri thức chuyên ngành nào đó nhưng không nhất thiết đóng khung trong một lãnh vực nhất định và cũng không mang tính chất nghề nghiệp bắt buộc như các trường cao đẳng chuyên nghiệp. Sinh viên phải tự túc về học phí (ngoại trừ những sinh viên xuất sắc được học bổng).  Khi tốt nghiệp chính quyền không có nhiệm vụ cung cấp việc làm, cá nhân phải tự tìm kiếm.
Các Trường Cao Đẳng Và Đại Học Đông Dương
Ngoại trừ trường Y Dược và Công Chánh được thành lập từ đầu thế kỷ thứ 20, các trường cao đẳng và đại học đã được thành lập vào khoảng cuối đệ nhất thế chiến (trong khoảng từ năm 1917 đến 1924). Ngày 21/12/1917 toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành Học Chánh Tổng Qui ở Đông Dương (Règlement Général de l’Instruction Publique en Indochine) nhằm mục đích thực hiện một cách qui mô chính sách của Pháp đối với các nước ở Đông Dương. Sau đó, Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l’Enseignement Supérieur en Indochine) được toàn quyền Đông Dương ban hành bằng nghị định ngày 25/12/1918. Lúc đầu, điều kiện để được theo học các trường thuộc hệ thống cao đẳng và đại học là phải có bằng cao đẳng tiểu học (tức bằng thành chung). Về sau điều kiện về văn bằng là tú tài toàn phần. Tất cả các trường được xếp vào hệ thống trường cao đẳng và đại học đều ở Hà Nội (2) và thuộc Viện Đại Học Đông Dương (Université Indochinoise) (3), gồm có:
Trường Y Khoa Đông Dương (École de Médecinede l’Indochine): nghị định ngày 08/01/1902 thành lập một cơ sở đào tạo nhân viên y tế của Đông Dương do bác sĩ Yersin làm hiệu trưởng (4).  Ngày 27/02/1902 khóa đầu tiên với 29 học viên đã khai giảng tại cơ sở tạm thời ở làng Nam Đông (tức Thái Hà Ấp). Đến cuối năm 1902 trường chuyển về cơ sở chính thức tức là trường Đại Học Y Khoa Hà Nội bây giờ. Do nghị định ngày 25/10/1904 trường mang tên là Trường Y Khoa Đông Dương nhằm đào tạo các phụ tá cho bác sĩ và dược sĩ (médecine et pharmacian auxiliaire) với học trình 4 năm cho y khoa và 3 năm cho dược khoa. Từ năm 1906 có thêm ban thú y. Trường  còn có một lớp Nữ Hộ Sinh Bản Sứ (Sage Femme Indigène) học trình 2 năm, điều kiện nhập học chỉ cần có bằng tiểu học. Do nghị định ngày 29/12/1913 trường được cải tổ và đổi tên thành Trường Y Dược Đông Dương (École de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine). Từ năm 1919 có thêm nhãn khoa. Đến năm 1923 sắc lệnh ngày 30/08/1923 nâng trường lên bậc cao đẳng (école supérieure) nhằm đào tạo bác sĩ và y sĩ Đông Dương. Trường Kiêm Bị Y Dược (École de Plein Exercise de Médecine et de Pharmacie) đào tạo bác sĩ với chương trình học 6 năm, 4 năm tại Hà Nội, 2 năm cuối học và trình luận án tại Pháp. Section de Médecine et Pharmaciens Indochinois đào tạo y sĩ Đông Dương với chương trình học 4 năm ở Hà nội.  Năm 1930, Trường Y Dược Đông Dương trở thành một khoa (faculté) của Viện  Đại Học Hà Nội (Faculté de Médecine et de Pharmacie de l’Université de Hanoi). Năm 1935 đánh dấu khóa bác sĩ tốt nghiệp đầu tiên ở trong nước do các giáo sư từ trường Đại Học Y Khoa Paris sang giảng dạy và chấm thi (5).
Trường Cao Đẳng Thú Y Đông Dương (École Supérieure Vétérinaire de l’Indochine): ban thú y của Trường Y Dược được tách ra thành trường này do nghị định ngày 05/09/1917, trực thuộc Sở Thú Y Bắc kỳ, nhằm đào tạo phụ tá thú y sĩ với học trình 4 năm. Từ 1918 đến 1925, điều kiện phải có bằng cao đẳng tiểu học. Trường nhận học viên không qua kỳ thi tuyển, tốt nghiệp thành y sĩ thú y. Từ 1925 đến 1935 phải có bằng cao đẳng tiểu học hoặc bằng tú tài và phải qua kỳ thi tuyển. Từ 1935 đến 1940 trường đóng cửa vì thiếu ngân sách.  Từ 1941 trường mở cửa lại, phải có bằng tú tài và khám sức khỏe mới được dự kỳ thi tuyển. Tốt nghiệp với văn bằng bác sĩ thú y. Từ năm này trường được đặt dưới sự giám sát của Tổng Thanh Tra Canh Nông và Chăn Nuôi (6).
Trường Pháp Chính (École de Droit et d’Administration): thành lập ngày 15/10/1917 (7), lúc đầu nhằm đào tạo quan lại “ngạch Tây” phục vụ cho guồng máy cai trị của Pháp về hành chánh, tài chánh, tư pháp, học trình 3 năm, riêng ban tài chánh học 2 năm. Tốt nghiệp được bổ dụng làm tham biện ở các công sở (còn gọi là tham tá), hoặc đi làm tri phủ, tri huyện ở các tỉnh. Trường được đổi thành Cao Đẳng Học Viện Đông Dương (École des Hautes Étude Indochinoises) do nghị định ngày 18/09/1924 với mục đích đào tạo ở bậc cao học về luật pháp, chính trị, lịch sử và triết học. Muốn nhập học phải có bằng tú tài bản xứ hay tú tài Pháp, chương trình học 3 năm. Ngày 11/09/1931 theo sắc lệnh của tổng thống Pháp đổi thành Trường Cao Đẳng Luật Khoa Đông Dương (École Supérieure de Droit de l’Indochine) (8).  Năm 1941 đổi thành Trường Đại Học Luật Khoa (Faculté de Droit).
Trường Cao Đẳng Sư Phạm (École Supérieure de Pédagogie): toàn quyền Albert Sarraut ký nghị định thành lập ngày 15/10/1917, nhằm đào tạo giáo chức cho các trường sư phạm sơ cấp và các trường cao đẳng tiểu học, học trình 3 năm. Từ sau năm 1920 thí sinh dự tuyển phải có bằng tú tài II.  Trường có 2 ban:
– Ban Văn Chương (Section des Lettres): gồm các môn học về văn chương, lịch sử, địa lý và triết học.
– Ban Khoa Học (Section des Sciences): gồm các môn học về toán, vật lý, hóa học và vạn vật học.

Trường Cao Đẳng Nông Lâm (École Supérieure d’Agriculture et de Sylviculture): thành lập do nghị định ngày 21/03/1918 đào tạo phụ tá kỹ sư nông nghiệp và lâm nghiệp, học trình 3 năm.  Năm 1935 trường đóng cửa. Ngày 15/08/1938 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) đào tạo kỹ sư nông nghiệp và lâm nghiệp, học trình học 3 năm.
Trường Công Chánh (École des Travaux Publics): thành lập bởi nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 22/02/1902 để đào tạo cán sự chuyên môn (agent technique) cho các sở công chánh, địa chánh và địa dư với học trình 2 năm, hạn tuổi từ 18 đến 25. Lúc đầu, điều kiện phải có bằng tiểu học.  Từ năm 1913 nếu có bằng thành chung thì được miễn thi (9).  Năm 1944 đổi thành Trường Cao Đẳng Công Chánh (École Supérieur de Traveaux Publics) đào tạo kỹ sư và phó kỹ sư công chánh.
Trường Thương Mại Đông Dương (École de Commerce de l’Indochine): được thành lập do nghị định ngày 02/11/1920, học trình 2 năm. Để bổ túc cho những người tốt nghiệp trường này ở Hà Nội, Trường Thương Mại Thực Hành (École d’Application Commerciale) được thành lập ở Sài Gòn năm 1922 để nâng cao kiến thức về nội và ngoại thương bằng những công tác thực tế. Đến năm 1924 trường Thương Mại Thực Hành được sát nhập vào Trường Thương Mại Đông Dương ở Hà Nội và nghị dịnh ngày 25/08/1925 chương trình thực hành được áp dụng với học trình tổng cộng 3 năm. Nghị định ngày 28/09/1928 nâng lên thành Trường Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương. Nghị định ngày 07/04/1926 mở thêm Khoa Bưu Chính và Điện Báo (Section des Postes et Télégraphes) đào tạo chuyên viên tiếp nhận điện báo (receveur) cho ngành bưu điện. Cũng nghị định này thành lập thêm Khoa Điện Báo Vô Tuyến (Section Radiotélégraphiques) nhằm cung cấp chuyên viên kỹ thuật cao cấp cho Sở Vô tuyến Điện (Service Radiotélégraphie) (10)
Trường Cao Đẳng Văn Khoa (École Supérieure de Lettres): thành lập năm 1923 nhưng đến năm 1924 bị bãi bỏ và sát nhập với Trường Pháp Chính để thành Trường Cao Học Đông Dương.
Trường Khoa Học Thực Hành (École des Sciences Appliquées): thành lập năm 1923 nhưng vì thiếu giáo sư và học cụ nên chỉ được một thời gian ngắn rồi bị bãi bỏ.
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine): Nghị định thành lập do toàn quyền Merlin ký ngày 27/10/1924, chương trình học 3 năm do Sở Học Chánh quản trị. Giám đốc đầu tiên là giáo sư Tardieur. Từ 1926 chương trình đổi thành 5 năm. Năm 1927 thêm ngành kiến trúc. Năm 1928 thêm nghệ thuật sơn mài. Năm 1932 thêm ngành khắc chạm kim loại (ciselure). Năm 1937 Jonchère thay Tardieur làm giám đốc thêm ngành đồ gốm và đồ sứ. Năm 1938 đổi thành Trường Mỹ Thuật và Mỹ Thuật Thực Hành Đông Dương (École des Beaux-Arts et des Arts Appliqués) bằng nghị định ngày 21/05/1938 của toàn quyền Brévié. Nghị định ngày 22/10/1942 đặt trường trực thuộc Viện Đại Học Đông Dương (Université Indochinoise).
Chủ Trương Của Pháp Trong Việc Thiết Lập Các Trường Cao Đẳng Và Đại Học
Năm 1907, trước cao trào thanh niên tìm cách xuất dương du học, người Pháp muốn kìm hãm và ngăn chận phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, nên tuy việc xây dựng hệ thống giáo dục bậc trung học chưa hoàn tất, toàn quyền Paul Beau (nhiệm kỳ 1902-1907) đã ra nghị định ngày 10/11/1907 thành lập Trường Đại Học Hà Nội gồm 5 trường cao đẳng là Luật và Pháp Chính, Khoa Học, Y Khoa, Xây Dựng, Văn Chương (11). Năm sau, 1908, toàn quyền Klobukowski (nhiệm kỳ 1908-1911) bãi bỏ việc thành lập này, nhưng đến năm 1918 toàn quyền Albert Sarraut tổ chức lại và giải thích: “Mở các lớp cao đẳng của Trường Đại Học Hà Nội cho người An Nam để không ai có quyền ra khỏi Đông Dương…” (12)  
Tuy mang tên trường cao đẳng và đại học nhưng trong thời gian từ 1902 đến 1924 thực chất chỉ là các trường chuyên nghiệp trung cấp. Những phê bình và chỉ trích về thực chất các trường cao đẳng và đại học của giới trí thức và báo chí Việt Nam đã áp lực người Pháp đưa đến cuộc cải cách giáo dục năm 1924-1925. Nội dung cải cách nhằm sửa đổi qui chế các trường hiện hữu để thực sự có tính chất cao đẳng, cụ thể là:
– Nâng cao trình độ tuyển sinh: ngoài điều kiện có bằng cao đẳng tiểu học (thành chung) phải có giấy chứng nhận đã học hết 2 năm trung học. Được miễn thi nếu tốt nghiệp 3 năm trung học (tức có bằng tú tài II).
– Nâng cao học trình: trung bình thêm 1 năm so với trước (cũng có trường không tăng)
– Nâng cao nội dung giảng dạy: sửa đổi để có tính chất cao đẳng.
Ngoài các biện pháp trên còn dự tính tăng số giáo chức giảng huấn có học vị cao nhưng thực tế không có gì thay đổi đáng kể. Cơ sở vật chất cũng không có gì thêm.
Ngày 26/06/1940 Pháp thua trận ở chính quốc, tiếp đó Pháp đầu hàng Nhật ở Đông Dương ngày 23/09/1940.  Pháp tiếp tục cai trị dưới quyền kiểm soát của Nhật.  Trong bối cảnh lịch sử đó Pháp sửa đổi chính sách giáo dục nhằm 2 mục đích:

– Mua lòng người Việt để tranh giành ảnh hưởng trên lãnh vực văn hóa với Nhật: nhằm giữ thanh niên Việt Nam trong quỹ đạo của Pháp, người dân thuộc địa hết lòng hết sức với mẫu quốc (13).
– Bảo đảm việc giáo dục cho các con em của người Pháp: vì tình hình chiến tranh không thể về Pháp, các con em của những người Pháp làm việc ở Đông Dương vẫn tiếp tục việc học được.
Với mục đích trên Pháp thực hiện một số thay đổi về các trường cao đẳng và đại học như sau:
– Những thay đổi trong năm 1941: đổi tên Trường Kiêm Bị Y Dược (École de Plein Exercise de Médecine et de Pharmacie) thành Trường Đại Học Hỗn Hợp Y Duợc (Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie),  đổi tên Trường Cao Đẳng Luật Khoa (École Supérieure de Droit) thành Trường Đại Học Luật Khoa (Faculté de Droit) (14), mở lại Trường Cao Đẳng Thú Y và nâng cao qui chế để đào tạo bác sĩ thú y, thiết lập Trường Cao Đẳng Khoa Học (École Supérieure des Sciences) ở Hà Nội theo mô hình Trường Đại Học Khoa Học (Faculté des Sciences) ở Pháp nhằm đào tạo sinh viên về các chứng chỉ cử nhân khoa học.
– Năm 1944 Trường Công Chánh (École des Traveaux Publics) đổi thành Trường Cao Đẳng Công Chánh (École Supérieure des Traveaux Publics) để đào tạo kỹ sư và phó kỹ sư công chánh (Ingénieur et Ingénieur Adjoint Indochinois des Traveaux Publics).
Đến giai đoạn này nếu xét về mặt qui chế thì các trường cao đẳng và đại học mới thực sự có tính chất một nền giáo dục cao đẳng và đại học hiện đại nếu so sánh với những trường tương đương lúc đó ở Pháp. Xét về thành phần giáo chức thì hầu hết do người Pháp đảm nhận, người Việt chỉ đóng vai trò trợ giảng mà thôi. Về phương diện vật chất thiết bị thì các trường Đông Dương ở vị trí thấp nhất. Tuy nhiên, từ năm 1935 việc tuyển lựa, thi cử  rất gắt gao, kỷ luật học tập chặt chẽ. Sinh viên Việt Nam vốn thông minh và chăm học nên phần lớn phẩm chất sinh viên tốt nghiệp đạt mục tiêu đào tạo về mặt khoa học và chuyên môn.
Kết Luận
Sau khi chiếm được toàn bộ Đông Dương người Pháp chuẩn bị và bắt tay ngay vào việc khai thác thuộc địa. Tài lực và vật lực của Đông Dương đã đóng góp một phần đáng kể cho nhu cầu của mẫu quốc, nhất là qua hai cuộc thế chiến (15). Việc thiết lập các trường cao đẳng và đại học nằm trong chính sách quan trọng của Pháp chủ yếu là cung cấp các cán sự phụ tá người Pháp (được đào tạo ở Pháp sang), để việc khai thác tài nguyên và nhân công của thuộc địa Đông Dương trở thành qui mô và hữu hiệu hơn. Việc nâng các trường cao đẳng chuyên nghiệp và đại học cho các trường này có thực chất vào giai đoạn cuối của nền đô hộ không nằm trong chủ trương của người Pháp. Hoàn cảnh chính trị trong giai đoạn này đã đưa đến công cuộc cải tổ có lợi về phương diện giáo dục cho dân tộc Việt Nam.
————
Chú thích:
(1) Theo Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l’Enseignement Supérieur en Indochine) do toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định ngày 25/12/1918 thì khi ra trường phải phục vụ chính phủ ít nhất 10 năm.
(2) Chỉ có một trường cao đẳng duy nhất được thiết lập ở Sài Gòn là Trường Thương Mại Thực Hành nhưng đến năm 1924 sát nhập vào trường Thương Mại Hà Nội.
(3) Theo Contrilention à l’Histoire du Viet Nam của Chesneau thì niên khóa 1937-1938 các trường chuyên nghiệp có 2,051 sinh viên, đại học Hà Nội có 547 sinh viên Việt Nam, trường Luật 335 sinh viên, trường Thuốc 176 sinh viên, trường Mỹ Thuật 33 sinh viên.  Năm 1944 Trường Đại Học Hà Nội có 1,500 sinh viên trong số đó 77% là người bản xứ.
(4) Alexandre Jean Émile Yersin (22/09/1863-18/04/1943): thường gọi là bác sĩ Yersin,  người góp công lớn trong việc thành lập Trường Y Dược và là hiệu trưởng đầu tiên của trường.  Bác sĩ Yersin đã khám phá ra cao nguyên Lâm Viên cùng thành phố Đà Lạt.  Ông cũng là người sáng lập ra Viện Pasteur Nha Trang.
(5) Cho đến niên khóa 1943-1944 giáo sư Việt Nam đầu tiên được nhận giảng dạy chính thức là giáo sư Hồ Đắc Di (1901-1986).  Sau năm 1947 giáo sư Di là hiệu trưởng Trường Đại Học Y Dược Việt Nam ở Việt Bắc, rồi khoa trưởng Đại Học Y Khoa Hà Nội từ 1955 đến khi về hưu.  Tính tới 1945 trường đào tạo được 51 bác sĩ, 152 y sĩ Đông Dương và một số dược sĩ.
(6) Tứ 1918 đến 1925 trường Cao Đẳng Thú Y đào tạo được 83 y sĩ thú y.  Từ 1925 đến 1935, trường có 60 người tốt nghiệp.  Niên khóa 1943 số sinh viên năm thứ nhất có 14 người (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 3, Nam Kỳ: 2, Cao Miên: 4), năm thứ 2 có 8 người (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 2, Nam Kỳ: 1), năm thứ 3 có 5 người (Bắc Kỳ: 4, Nam Kỳ: 1).
(7) Trường Pháp Chính (École de Droit et d’Administration) là hậu thân của Trường Hậu Bổ (École d’Apprentis Mandarins).  Trường Hậu Bổ được thành lập ở Hà Nội do nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 20/06/1903.  Nghị định ngày 18/04/1912 đổi tên trường Hậu Bổ thành  Trường Sĩ hoạn (ÉÙcole des Mandarins).
(8) Đến ngày 01/01/1953 một bộ phận của trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội được tách ra và thành lập tại Đà Lạt với tên là Trường Quốc Gia Hành Chánh Đà Lạt, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục ở Sài Gòn,  nhằm đào tạo cán bộ hành chánh cao cấp.  Đến năm 1954 trường được cải tổ sâu rộng, trực thuộc Phủ Thủ Tướng.  Năm 1955 trường chuyển về Sài gòn và dổi thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
(9) Tính tới năm 1913 Trường Công Chánh đào tạo được 22 nhân viên kỹ thuật. Niên khóa 1913-1914 tổng số học sinh là 58 người (Bắc Kỳ: 25, Trung Kỳ: 6, Nam Kỳ: 23, Cao Miên: 4)
(10) Đến năm 1926 trường Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương có tất cả 3 khoa. Niên khóa 1929-1930 trường có 53 sinh viên trong đó 30 người theo học khoa thương mại.
(11) Nam Phong Tạp Chí số tháng 05, 1922: “Trung học dự bị chưa có mà đã đặt đại học như thế thì cũng trái ngược thật !”.
(12) Năm 1924, Reynaud, Bộ Trưởng Thuộc Địa Pháp sang thăm Đông Dương, khi đi qua cửa Trường Đại Học Hà Nội đã khen: “Ồ, cái bề mặt đẹp quá !” (O, la belle facade !).  Báo chí thời đó nhắc đến câu khen có hàm ý này để phê bình thực chất của danh hiệu đại học và việc làm hình thức của người Pháp ở Việt Nam.
(13) Toàn quyền Decoux thực hiện một số cải cách để mua lòng người Việt.  Danh từ  Đông Dương thuộc Pháp (Indochine Francaise) được đổi thành Liên Bang Đông Dương (Fédération Indochinoise).  Nước Pháp giữ vai trò điều hòa quyền lợi của các xứ chứ không dự vào việc nội trị (trừ Nam Kỳ trực thuộc Pháp).  Để thanh niên không bị lung lạc tinh thần trước thời cuộc và hướng sinh lực giới trẻ vào lãnh vực vô hại cho Pháp, Decoux lập ra Sở Thanh Niên và Thể Thao và tạo nên phong trào thể thao sôi nổi một thời.
(14) Chữ “faculté”ù thường được dịch là ” khoa”.  Nhưng trong tổ chức đại học  (université) của Pháp thì faculté thực sự là một trường đại học, còn université là viện đại học.  Trong qui chế đại học Pháp “faculté”ù cao hơn “école supérieure” (trường cao đẳng) vì faculté đào tạo và cấp học vị tiến sĩ (docteur).
(15) Có hơn 100,000 người Việt đi lính, làm thợ trong cuộc chiến Pháp Đức 1914-1918  (Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, trang 414).
Tài liệu tham khảo:
– Lê Văn Giạng: Lịch Sử Giản Lược, Hơn 1000 Năm Nền Giáo Dục Việt Nam, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2003.
– Lê Văn Giạng, Nguyễn Được, Nguyễn Tùy, Nguyễn Hoặc: Lịch Sử Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp Việt Nam, nxb Viện Nghiên Cứu Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1985.
– Nguyễn Q. Thắng: Khoa Cử và Giáo Dục Việt Nam, nxb Văn Hóa, Hà Nội 1998.
– Nguyễn Thế Anh: Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ, nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1970.
– P. de la Brosse: Une Année de Réforme dans l’Enseignement Public en Indochine 1924-1925.
– Phan Khoang: Việt Nam Pháp Thuộc Sử (1884-1945), nxb Phủ Quốc Vụ khanh Đặc Trách Văn Hóa, Sài Gòn, 1971, nxb Sống Mới tái bản, Hoa Kỳ.
– Vũ Ngọc Khánh: Tìm Hiểu Nền Giáo Dục Việt Nam Trước 1945, nxb Giáo Dục, Hà Nội 1985.

Nguồn: ntt2016.td8895.com

22 thg 6, 2018

Quỉ khóa 2 tính đến 23/6/2018

Tồn Quỉ trước :   ..................................................3.266.000 đ
 - 14/6/2018 chị Pham thị Việt Nga,Nguyễn Ngọc Khanh và anh Đặng Trần Hào (Mỷ )  mỗi người tặng quỉ 100 USD qui ra tiền VNđ   (300 USD là  6.855.000 đ ).
Tồn quỉ cuối ngày 23/6/2018 là ..........................10.121.000 đVN

             (Mười triệu một trăm hai mươi mốt ngàn đồng chẳn  )
                          Trân trọng cảm ơn tấm lòng của các bạn

FM974 Uc Châu :Tân Gia Ba: Kim Jong Un - Chuyện Bên Lề Ngày Họp Thượng Đỉnh Bắc Hàn Hoa Kỳ

Chuyện Thế Giới Trong Tuần
Thứ Hai 18.06.2018
  Cuộc họp thượng đỉnh giữa Hoa Kỳ và Bắc Hàn ngày thứ ba tuần qua tại Tân Gia Ba mà cả thế giới chờ xem, bỏ ra ngoài nội dung cam kết của hai bên, về hình thức thì rõ ràng là nó khá trang trọng và chấm dứt một cách êm thấm, tốt đẹp hơn người ta tưởng.
Tại Bắc Hàn, hình ảnh tổng thống Mỹ, Trump, xuất hiện trên trang đầu của báo chí nhà nước, lần đầu tiên ở đây, đa số công dân Bắc Hàn được xem và thấy hình của ông ta. Rodong Sinmun, tờ báo chính thức của ủy ban trung ương đảng công nhân Bắc Hàn cho đăng 33 tấm hình chụp chủ tịch nhà nước của họ, Kim Jong Un và tổng thống Mỹ, cũng chính tờ báo này, từ trước tới mấy lúc gần đây đều gọi nước Mỹ là một bọn du côn bá quyền và con bệnh ung thư nhưng giờ thì, phần lớn các tấm hình đều có hai khuôn mặt, Kim và Trump cười rạng rỡ bên nhau, kèm theo hàng tít lớn ca ngợi cuộc họp ở Tân Gia Ba là “cuộc gặp gỡ lịch sử”, tờ báo này nhanh chóng tiếp tục cho đăng bài tường thuật và hình ảnh chuyến đi của Kim và đoàn tùy tùng dạo quanh thành phố Tân Gia Ba. Trong một tấm hình chụp ngày họp trên trang đầu, người ta thấy hình cử chỉ Trump thân thiện, vui vẻ trên đường tới chào Kim trong khi bốn trong số tám tấm khác có hình hai người tươi cười bắt tay nhau, ngay cả mấy lá cờ của Mỹ và Bắc Hàn cũng được in màu rõ ràng.

Như đã biết, báo chí truyền thông ở Bắc Hàn đều bị nhà cầm quyền kiểm soát tuyệt đối, người dân sẽ bị trừng phạt tù đày nặng nề nếu bị bắt lén lút xem hay nghe tin tức nước ngoài đặc biệt là các chương trình phát thanh từ Đại Hàn. Trên một trang khác, đăng hình các viên chức của phái đoàn hai nước họp, ăn trưa và cuối cùng ký kết bản tuyên bố chung không thiếu phần nào. Bắc Hàn đã gởi một phái đoàn hùng hậu phóng viên báo chí và nhiếp ảnh viên tới Tân Gia Ba đi theo sát Kim, việc mà báo chí các nước khác không được phép làm. Báo chí Bình Nhưỡng cho rằng cuộc họp thượng đỉnh với Hoa Kỳ ở Tân Gia Ba là một chiến thắng, khi kể ra vài điều mà Trump chịu bỏ đi, đặc biệt như quyết định hủy bỏ các cuộc tập trận chung với Đại Hàn hàng năm. Những bài tường thuật này sau đó được nữ xướng ngôn viên Ri Chun Hee đọc trên đài truyền hình của nhà nước, Ri được thế giới bên ngoài Bắc Hàn biết và nhớ tới đã khóc ròng trên màn ảnh khi đọc báo tin cố chủ tịch Kim Jong Il và Kim Il Sung chết, bà Ri năm nay 75 tuổi, thường xuất hiện trên đài khi có những loan báo quan trọng, trong đó có lần thông báo cho người dân Bắc Hàn sự thành công của việc thử nghiệm nguyên tử lần thứ sáu vào tháng chín năm ngoái.

Lúc sắp đặt những thứ cần thiết cho việc hai bên ký bản tuyến bố chung, chuyện cây viết dùng để ký cũng đã trở thành chuyện đáng để ý, trước khi ký, về phía bên Kim ngồi, nhân viên an ninh của Bắc Hàn mang bao tay trắng tinh, đã cẩn thận lau chùi mấy lần cây viết hiệu Sharpie, nhưng lúc Kim chuẩn bị thì em gái của ông ta, cũng là một nhân vật cao cấp nhì ba trong đảng cầm quyền rút một cây viết khác từ túi áo mình đưa cho Kim thay vì dùng cái đã được người tổ chức bày ra, trong khi cả thế giới đang theo dỏi, trước hành động này người ta cho rằng, có lẽ Kim sợ ai đó tẩm thuốc độc vào cây viết, vì ám ảnh bị ám sát như giới báo chí phương tây đưa tin trước ngày có cuộc họp. Khi Trump cùng Kim trên đường bước vào phòng họp riêng của hai người, cô em gái Kim đã nhanh chân tiến tới gần Kim, một lần nữa, đưa cho ông ta một cây viết khác lấy từ trong túi áo vét của mình, đó là cây viết mà Kim ký bản tuyên bố chung, cam kết tiến hành việc phi nguyên tử hóa hoàn toàn bán đảo Triều tiên. Báo chí cũng tường thuật rằng, Kim cho đem theo “cầu tiêu lưu động” trong lần đi ra ngoại quốc này nhằm đề phòng ai đó tìm cách lấy “phân hay nước tiểu”, để dùng nó làm mẫu phân chất, khám phá ra tình trạng sức khỏe của ông ta.

Ở tuổi khoảng ba mươi, đứa em gái của Kim là người cố vấn mà Kim tin cậy nhất, cô này đã thay mặt Bình Nhưỡng đến tham dự kỳ thế vận hội mùa đông ở Đại Hàn vừa rồi, có tin cho là Kim đang bị bệnh béo phì, tiểu đường hay huyết áp cao, không biết vô tình hay cố ý, tổng thống Trump đã cười bảo mấy anh chàng nhiếp ảnh viên có mặt, tại bữa ăn trưa, gần hết là người của Kim, và nhóm người thâu hình truyền hình của chánh phủ Tân Gia Ba, nhớ chụp hình cho đẹp, nhất là làm cho hình hai người, Kim và ông đẹp hơn ốm đi chút đỉnh. Ngay sau khi cái bắt tay lịch sử của Kim và Trump trước khi vào họp, báo chí bắt đầu đưa ra nhận xét và phân tích quần áo, cặp mắt kiếng, đôi giày mang cũng như kiểu tóc của Kim.

Bộ quần áo kiểu Mao Trạch Đông, trước ngày có cuộc họp, báo chí cho rằng, Kim có lẽ sẽ mặc bộ “vết – tông” với cà vạt hẳn hoi thay vì áo đại cáng Mao vì Kim đã mặc âu phục xám, khi đọc lời tuyên bố ý định gởi phái đoàn vận động viên Bắc Hàn tham dự thế vận hội mùa đông ở Đại Hàn vào tháng Giêng nhân ngày đầu năm mới. Lần này Kim đến họp với Trump lại mặc bộ đồ kiểu Mao, những người quan sát cho rằng, với bộ đồ này Kim muốn cho thế giới biết là, nước ông ta, Bắc Hàn vẫn duy trì chế độ cộng sản mặc dù tỏ ra muốn cải thiện bang giao với thế giới bên ngoài.

Một việc cũng khá đặc biệt nữa là, Kim không gắn cái huy hiệu có hình ông nội và cha mình, cái huy hiệu này, từ ngày lên nắm quyền tới giờ chưa bao giờ thiếu trên áo của Kim, khi đi thăm dân hay trong các cuộc hội họp lễ lộc, nên biết, tại Bắc Hàn, tầng lớp cán bộ, đảng viên cao cấp các ngành, không kể người dân thường nếu muốn đều phải cài gắn cái huy hiệu này trên áo, để tượng trưng cho lòng trung thành với nhà nước, với Kim. Giới quan sát nhận xét là, việc cố tình không mang huy hiệu của nhà nước trên áo của Kim nhằm mục đích chứng tỏ thái độ cởi mở mới, quên đi cái bóng của ông cha tiền nhiệm.

Hình chụp buổi lễ ký kết cũng cho thấy Kim mang đôi giày da đen có đế gót cao hơn bình thường nhưng người ta không đoán được là cao bao nhiêu vì Kim cũng như cha là Kim Jong Il đều thấp người, cha của Kim luôn luôn mang giày loại như vậy và chải kiểu tóc dựng lên để nhìn xem cao hơn, dĩ nhiên người ta đều thấy rõ, Kim thấp hơn Trump gần 2 tấc tây. Cặp mắt kiếng Kim mang lần này xem ra cũng được để ý, trong thời gian trước đây Kim thường mang cặp mắt kiếng gọng lớn, thô kệch, tháng ba vừa rồi, một đoạn phim trên truyền hình cho thấy, không mang kiếng khi tiếp phái đoàn miền Nam nhưng Kim phải lấy ra, mang lên đọc thư của tổng thống Đại Hàn, Moon Lae –in gởi do sứ giả của ông trình lên, báo chí Đại Hàn tin rằng, thị lực của Kim có lẽ đã kém đi vì bệnh tiểu đường do chứng béo phì của Kim gây nên.

Viễn ảnh thành công của cuộc họp có đạt được như hai bên đã cam kết hay không, chưa ai có điều gì cụ thể để có thể nói được, nhưng những chuyện bên lề từ hình ảnh của Kim, một sự trình diễn cố ý, có tính toán của Bắc Hàn, cũng đủ xác đáng, để người ta có thể kết luận như cái kết luận mà thế giới có trong những ngày “tiền hội nghị” là chưa thể tin họ được

Thuyên Huy
Monday 18.06.2018

SỎI ĐÁ - Chuyện Ngắn của Alce Munro (Nobel VC. 2013 )


♦ Chuyển ngữ:
♦ 


Tại thời điểm đó chúng tôi đang sống bên cạnh một mỏ đá cuội. Nó không lớn nhưng bị khoét sâu hoắm bởi những chiếc máy khổng lồ từ một hố sỏi nhỏ mà một người nông dân chắc đã kiếm được ít tiền bán đá sỏi từ nhiều năm trước. Trên thực tế, nhiều hố cũng đủ cạn khiến bạn nghĩ rằng nơi này có thể sử dụng cho vài mục đích khác chẳng hạn đặt nền móng một ngôi nhà gần đó cho tiện, có thể lắm chứ.
Mẹ tôi là người luôn nhấn mạnh cái ý đó. “Chúng tôi sống bên mỏ đá cũ, phía ngoài khu dịch vụ xe hơi,” mẹ kể với mọi người rồi cười bởi mẹ rất hạnh phúc khi bỏ lại sau lưng tất cả mọi thứ liên quan đến nhà cửa, đường phố, người chồng cùng quãng đời trước đây. Thảng hoặc tôi lại nhớ đến khoảng thời gian ấy. Những lúc như vậy tôi có thể hình dung từng giai đoạn một cách rõ ràng, nhưng cũng chỉ như vài mảnh rời rạc của một khung hình – về tổng quan mà thiếu đi sự liên kết các chi tiết bạn cần để tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh. Tất cả những gì còn đậm nét trong đầu tôi về ngôi nhà trong thị trấn là hình những con gấu nhồi bông trên giấy dán tường trong phòng cũ của tôi. Trong ngôi nhà mới này, mà thực sự là một toa xe, chị tôi, Caro, và tôi đã có một cái giường cũi hẹp, nơi hai đứa trẻ chúng tôi thường nằm đè lên nhau. Khi chúng tôi mới chuyển đến đây, Caro đã nói liên phanh với tôi về ngôi nhà cũ, cố gắng để tôi nhớ lại cái này hay cái kia. Cứ khi đi ngủ là chị kể cho tới khi tôi không nhớ nổi chị mới qua chuyện khác. Đôi khi tôi nghĩ rằng tôi đã nhớ ra, nhưng không chắc, sợ sai nên vờ như không biết.
Chúng tôi chuyển đến sống trong toa xe vào mùa hè – có cả con chó Blitzee nữa. Mẹ bảo Blitzee thích ở đây, và đúng vậy thật, nó khoái vùng quê rộng mở? Nàng sủa tất cả xe cộ qua lại, như thể con đường thuộc quyền sở hữu của nàng, và thỉnh thoảng nàng tha xác một con sóc hay một con chuột chũi về nhà. Lúc đầu chị Caro rất bực, và chú Neal phải nói chuyện với chị, giải thích về bản chất loài chó, luật sinh tồn – loài này là thức ăn của loài kia.
“Nhưng nó đã có thức ăn của chó rồi,” Caro cãi. “Giả sử nó không làm thế? Giả sử một ngày nào đó tất cả chúng ta biến mất và nó phải tự lo cho bản thân?”
“Cháu sẽ không, sẽ không biến mất, và cháu sẽ luôn luôn chăm sóc nó.”
“Cháu nghĩ vậy?” chú Neal nói, và mẹ chúng tôi bước vào, lái chú sang hướng khác. Chú Neal rất thích bàn về người Mỹ và bom nguyên tử, chú chuẩn bị bàn đề tài đó còn mẹ chúng tôi không nghĩ chúng tôi sẵn sàng nghe. Mẹ không biết rằng khi chú nêu vấn đề lên là tôi lại liên tưởng cái bánh mì mềm kẹp nguyên tử nào đó. Tôi biết cách hiểu vậy là sai lầm, nhưng tôi không thể thôi thắc mắc và nhịn cười được.
Chú Neal là diễn viên. Trong thị trấn có một rạp hát mùa hè chuyên nghiệp, một điều rất mới tại thời điểm đó. Có người ham, số khác thì lo rằng nhiều thành phần tạp nham, bất hảo dễ mang lại phức tạp, rắc rối. Mẹ tôi và cha tôi nằm trong số những người ủng hộ, mẹ phấn khích hơn hẳn, bởi vì mẹ có thời gian hơn. Cha tôi là nhân viên bảo hiểm và thường công cán xa nhà. Mẹ tôi rất bận rộn với nhiều chương trình gây quỹ cho nhà hát và mẹ còn tự nguyện làm nhiệm vụ của người chỉ chỗ ngồi trong rạp hát. Mẹ nom cũng còn trẻ, đẹp nên dễ bị nhầm là nữ diễn viên. Chắc thế nên mẹ bắt đầu ăn mặc như diễn viên vậy, khăn choàng, váy dài, chuỗi hạt lủng lẳng trên cổ – Từ lâu mẹ đã không còn để ý đến mái tóc và ngưng hẳn việc trang điểm. Tất nhiên, vào thời điểm đó tôi không nhận ra thậm chí chẳng chú ý những thay đổi ấy. Mẹ tôi là mẹ tôi. Nhưng với chị Caro thì không nghi ngờ gì nữa. Và cha tôi cũng vậy. Mặc dù, từ tất cả những gì tôi biết về bản tính của cha tôi và tình cảm mà cha dành cho mẹ, tôi nghĩ có lẽ cha rất hãnh diện khi thấy mẹ thoải mái, phóng túng trong cách ăn mặc cũng như sự hòa hợp, gắn kết của mẹ với những người trong đoàn kịch. Sau này, khi nhớ về quãng thời gian ấy, cha nói mình luôn bằng lòng chấp nhận tất cả vì nghệ thuật. Giờ tôi mới có thể hình dung mẹ phải bối rối đến cỡ nào, khúm na khúm núm nói cười để che đậy sự hèn hạ của mình, khi cha tuyên bố “hiến dâng cho nghệ thuật” trước mặt bạn bè của mẹ ở đoàn kịch.
Rồi chuyện gì đến phải đến, ai cũng đoán được, trừ cha tôi. Tôi không biết liệu điều đó có xảy ra với các “tình nguyện viên” khác không, nhưng tôi chắc – dù không muốn nhớ lại – rằng cha đã khóc và suốt cả ngày hôm đó, cha lẽo đẽo bám theo mẹ, quanh nhà, không để mẹ ra khỏi tầm mắt của cha và một mực chối từ, quyết không tin lời mẹ. Và, thay vì nói với cha bất cứ điều gì làm cha nhẹ lòng, mẹ lại nói một điều gì đó khiến cha cảm thấy tồi tệ hơn.
Mẹ bảo cha rằng đứa bé là của Neal.
Mẹ tôi chắc chứ?
Hoàn toàn chắc chắn. Mẹ đã nhận thức rất rõ điều đó.
Chuyện đã xảy ra sau đó?
Cha đã thôi khóc. Cha phải trở lại làm việc. Mẹ thu dọn đồ đạc, dẫn chúng tôi đến sống với Neal trong toa xe mà chú đã tìm thấy ở vùng quê. Mẹ bảo, sau đó, rằng mẹ cũng khóc và thêm rằng mẹ cảm thấy như được sống lại. Có lẽ lần đầu tiên trong cuộc đời, mẹ thực sự được sống, sống thật với lòng mình. Mẹ cảm thấy như thể được trao cơ hội để bắt đầu cuộc sống mới. Mẹ chăm chút mỗi khi ra ngoài thậm chí còn mang theo sách. Còn khi ở nhà mẹ tháo cất mọi thứ, trần truồng đi lại, miễn là thời tiết vẫn ấm áp.
Điều đó chẳng ra làm sao cả, bởi chị Caro giấu mặt vì ngượng và thậm chí chú Neal bảo chú không thấy hay ho gì.
*
Chú Neal nghĩ gì về mọi chuyện? Triết lý của chú, như sau này chú diễn đạt, là chào đón bất cứ điều gì xảy ra. Tất cả đều như một món quà. Chúng ta cho và chúng ta nhận.
Tôi nghi ngờ những người nói chuyện kiểu này, nhưng tôi không thể nói rằng tôi có quyền đó.
Chú không thực sự là một diễn viên. Chú đã tham gia diễn xuất, chú nói, như một thử nghiệm, như là cách khám phá tìm hiểu bản thân mình. Thời sinh viên đại học, trước khi bỏ học, chú từng có mặt trong dàn hợp xướng “Oedipus Rex.” Chú thích hiến dâng và hòa nhập. Rồi một ngày nọ, trên đường phố ở Toronto, chú tình cờ gặp một người bạn đang tìm một công việc hè ở một đoàn kịch nhỏ mới thành lập. Chú đã đi theo, vì lúc đó cũng chẳng có gì hay hơn để làm, rồi dính vào nghề ấy luôn, trong khi người bạn chú thì không. Chú nhận vai hồn ma Banquo. Thời điểm đó người ta cần một hồn ma hiện hình và chú Neal có cỡ người phù hợp – một con ma thân hình rắn chắc.
Chú đang suy nghĩ đến việc trú đông. Điều khiến mẹ ngạc nhiên là chú đã phát hiện ra toa xe ấy. Chú cũng khá rành nghề mộc để nhận công việc sửa chữa trong nhà hát, công việc sẽ giúp chú có thu nhập đến tận mùa xuân – khoảng thời gian sắp tới mà chú thích thú mơ về.
Chị Caro thậm chí không cần phải chuyển trường. Xe buýt trường học đến tận cuối con hẻm dẫn vào mỏ đá để đưa đón chị. Chị phải kết bạn với những đứa trẻ nông thôn, và phải giải thích vài thứ với bạn bè thị trấn mà chị quen năm trước, nhưng nếu chị có bất kỳ khó khăn gì với chuyện ấy, tôi cũng chẳng bao giờ nghe chị tâm sự.
Blitzee luôn chờ đợi bên đường để đón chị ấy đi học về.
Tôi không được đi mẫu giáo bởi mẹ không có ôtô. Nhưng tôi không lấy làm buồn khi phải chơi một mình. Chị Caro, khi về đến nhà, là đủ cho tôi rồi; và tâm trạng thoải mái, ham vui của mẹ nữa. Ngay khi tuyết bắt đầu rơi mùa đông ấy mẹ và tôi đắp người tuyết và mẹ hỏi, “Chúng ta sẽ gọi là Neal nhé?” Tôi nói ô-kê. Mẹ và tôi cùng nhau trang điểm cho ông người tuyết đó trông buồn cười hơn. Sau đó, chúng tôi quyết định rằng tôi sẽ chạy ra khỏi nhà khi xe của chú về. Tôi sẽ chỉ vào người tuyết và nói, “Đây là Neal, đây là Neal!”. Tôi đã làm điều đó, nhưng chú Neal đã giận dữ ra khỏi xe và hét lên rằng chút xíu nữa là chú đã cán lên tôi rồi.
Đó là một trong rất ít lần tôi thấy chú hành động như một người cha.
Những ngày đông ngắn chắc hẳn lạ lẫm đối với tôi. Trong thị trấn, chạng vạng tối là đèn bật sáng trưng. Nhưng trẻ con trở nên quen ngay những thay đổi. Đôi khi tôi thắc mắc về ngôi nhà của chúng tôi. Không hẳn là nhớ hay muốn quay lại sống ở đó mà chỉ là tôi tự hỏi ngôi nhà đi đâu rồi.
Thời gian tuyệt vời của mẹ với chú Neal là ban đêm. Nếu tôi thức dậy và phải đi vào phòng tắm, tôi sẽ gọi mẹ. Mẹ sẽ đến, vui vẻ nhưng không vội, với mảnh vải hay khăn quấn trên người, kèm theo cái mùi mà tôi sẽ liên tưởng tới nến và nhạc. Và tình yêu.
*
Một cái gì đó đã xảy ra, không làm tôi yên lòng, nhưng tôi đã cố không nghĩ ngợi nhiều vào thời điểm đó. Con chó Blitzee của chúng tôi giờ đã lớn, khó mà giấu nó. Vậy mà… không biết chị Caro, một đôi lần, giấu nó trong áo khoác bằng cách nào nữa. Chị đem được con chó lên xe buýt đưa đón học sinh, và rồi, thay vì đi thẳng đến trường, chị đã thả Blitzee ở ngôi nhà cũ của chúng tôi trong thị trấn, cách đó gần một dãy phố. Cha tôi đã thấy con chó chỗ nhà chái trú đông, không khóa, khi cha trở về nhà, lủi thủi ăn trưa một mình. Hết sức bất ngờ với cha, nàng Blitzee đã tìm về, cứ như một con chó trong truyện, trong phim. Chị Caro nhặng xị, quả quyết suốt buổi sáng hôm đó chị không thấy con chó. Nhưng tuần sau đó chị đã phạm sai lầm khi tiếp tục làm thế. Dù không ai nghi ngờ nhưng mẹ đã có câu trả lời.
Tôi nhớ rất lờ mờ về chuyện đó. Hình như cha mang con Blitzee đến chỗ chúng tôi hay sao ấy. Tôi không thể hình dung ra cha trong toa xe hay ở cửa hay thậm chí cha chỉ đang trên đường đến. Có thể chú Neal đã đến ngôi nhà trong thị trấn đem con chó về. Không thế thì chẳng có gì dễ tưởng tượng hơn.
Sẽ không phải nếu tôi cho rằng lúc nào chị Caro cũng buồn chán và mưu đồ chuyện gì đó. Chị ít khi biểu lộ sự trách oán, tính chị không ưa dỗi hờn. Chị hơi quá quan tâm đến việc gây ấn tượng tốt cho mọi người, thích được yêu mến. Chị ưa khuấy động không khí với những lời hứa hẹn cho vui. Tôi thì không được như vậy.
Giờ tôi nghĩ chị giống mẹ nhất.
Chắc chắn đã có một số khơi gợi, thăm dò về những gì chị đã làm với nàng Blitzee. Tôi nghĩ rằng tôi có thể nhớ được một ít.
“Con đã nói dối đó.”
“Con có muốn đến sống với cha không?”
Tôi tin câu đó đã được hỏi, và tin rằng chị nói không.
Tôi không hỏi chị bất cứ điều gì. Hành động của chị chẳng lạ lẫm với tôi, đứa em – mọi chuyện của người chị cá tính dường như bình thường.
*
Thư của chúng tôi đã được gửi vào hộp thư phía bên kia đường. Mẹ tôi và tôi đi bộ đến đó mỗi ngày, trừ khi bão tố, để xem có gì gửi cho chúng tôi không. Chúng tôi thường làm điều này sau khi tôi ngủ trưa dậy. Vào buổi sáng, chúng tôi xem chương trình thiếu nhi trên ti vi – có khi mẹ đọc sách trong khi tôi xem. (Mẹ bỏ đọc sách lâu lắm rồi.) Chúng tôi hâm nóng vài lon xúp cho bữa trưa, sau đó tôi làm một giấc còn mẹ thì đọc thêm. Bây giờ bụng mẹ đã khá to, tôi có thể cảm thấy em bé đang đạp.
Một ngày nọ, khi chúng tôi gần đến chỗ hộp thư thì mẹ bảo tôi dừng lại, đứng yên.
“Im lặng,” mẹ bảo, mặc dù tôi không nói lời nào, thậm chí cũng không lấy chân hất tuyết như mọi khi.
“Con đang im lặng mà,” tôi đáp.
“Im, quay lại.”
“Nhưng chúng ta chưa lấy thư.”
“Đừng lo. Chầm chậm thôi.”
Tôi nhận ra là không thấy bóng dáng con Blitzee đâu nữa. Có con chó khác bên kia đường, cách hộp thư độ một mét.
Mẹ điện tới rạp hát ngay khi chúng tôi về đến nhà, mở cửa cho con Blitzee đang đợi chúng tôi vào. Không ai trả lời. Mẹ gọi đến trường nhờ người bảo bác tài chở Caro đến tận cửa. Người lái xe buýt đã không thể làm được điều đó bởi tuyết ngập lối vào chỗ chúng tôi đang ở, nhưng ông ấy đã xem chừng cho đến khi Caro vào tới nơi. Không có ai nhìn thấy chó sói lúc đó.
Chú Neal cho ​​rằng không bao giờ có. Và nếu có chó sói đi nữa, chú nói, cũng không nguy hiểm cho chúng tôi, có lẽ nó trú đông.
Chị Caro nói rằng chó sói không ngủ đông. “Chúng con được học ở trường.”
Mẹ chúng tôi muốn chú Neal kiếm một khẩu súng .
“Em nghĩ rằng anh sẽ tìm súng để bắn hạ con sói mẹ đang cố bảo vệ bầy con, cũng như kiểu em hành động vì các con sao?” giọng chú trầm xuống.
Chị Caro nói: “Chỉ có hai. Chúng chỉ sinh hai con mỗi lần.”
“Được rồi. Được rồi. Chú đang nói chuyện với mẹ.”
“Anh chẳng hiểu cái quái gì,” mẹ nói. “Anh không biết …nếu đàn con của nó đói hoặc bất cứ điều gì…”
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mẹ sẽ nói chuyện với chú như thế.
Chú nói, “Dễ thôi. Dễ thôi. Hãy suy nghĩ một chút. Súng là thứ tệ hại, khủng khiếp. Nếu anh sắm súng, vậy thì phải nói sao đây? Rằng cuộc chiến Việt Nam hả. Rằng tôi đã đi lính ở Việt Nam sao?”
“Anh không phải là người Mỹ.”
“Đừng có chọc tức anh.”
Vài lời qua lại rồi kết thúc, chú Neal khỏi tìm súng. Chúng tôi không bao giờ trông thấy “chó sói” lần nào nữa. Tôi nghĩ mẹ thôi đi lấy thư, cũng có thể do bụng mẹ đã lớn, đi lại bất tiện.
Tuyết tan nhanh một cách kỳ diệu. Cây cối vẫn còn đơn côi trụi lá và mẹ tôi bắt chị Caro mặc áo khoác vào buổi sáng. Nhưng khi đi học về thì nó bị chị kéo lê sau lưng.
Mẹ tôi nói, chắc sinh đôi mà bác sĩ bảo không.
“Tuyệt. Tuyệt,” chú Neal nói vẻ mừng rỡ với tin song sinh. “Bác sĩ biết gì.”
Nước đầy các hố sỏi ở khu mỏ đá cũ bởi tuyết tan và mưa lớn do đó chị Caro đã phải đi vòng để ra chỗ đón xe buýt. Gần chỗ ở có một “hồ” nhỏ, mặt nước tĩnh lặng phản chiếu bầu trời trong. Chị Caro ngập ngừng hỏi – vẻ không hy vọng gì lắm – xem chúng tôi có thể chơi ở đó không.
Mẹ nghiêm giọng: “Chắc phải hơn sáu mét nước đó.”
Chú Neal bảo, “Có lẽ ba.”
Chị Caro nói: “Quanh bờ làm gì sâu đến chừng đó.”
Mẹ nạt. “Đúng. Nhưng đừng có mơ. Rớt xuống đó thử xem…không giống biển đâu. Chết tiệt. Tránh xa ra.”
Mẹ bắt đầu dùng từ “Chết tiệt” khá nhiều, có lẽ nhiều hơn cả chú Neal, và bằng một giọng chán đời, bực bội hơn xưa.
“Chúng ta cũng nên giữ con chó tránh hố nước, phải không anh?”
Chú Neal nói không thành vấn đề. “Chó biết bơi.”
*
Một tối thứ Bảy, chị Caro xem bộ phim thiếu nhi “Người khổng lồ thân thiện” với tôi và nhận xét linh tinh. Chú Neal đang nằm trên chiếc ghế dài – khi mở ra là thành giường ngủ của chú và mẹ chúng tôi – hút loại thuốc bị cấm tại nơi làm việc nên hầu hết được đốt vào các ngày cuối tuần. Chị Caro đôi khi làm phiền chú, xin một điếu hút thử. Có lần chú cho nhưng bảo chị ấy đừng kể với mẹ.
Nhưng mà tôi thấy, vì vậy tôi mách mẹ.
Có hốt hoảng dù không lớn tiếng.
“Anh thừa biết ông ấy sẽ dẫn lũ nhỏ biến khỏi đây,” mẹ nói. “Đừng bao giờ làm vậy nữa.”
“Không đâu,” chú Neal xuống nước. “Vậy ông ấy cho chúng ăn mấy thứ bánh ngũ cốc vớ vẩn sao?”
Lúc đầu, chúng tôi không hề nhìn thấy cha. Rồi sau Giáng sinh, một kế hoạch đã được lập ra cho ngày thứ Bảy. Mẹ, về sau, cứ hỏi mãi “vui chứ các con?”. Tôi luôn luôn thật lòng nói “vâng”, bởi vì tôi nghĩ rằng nếu bạn được xem một bộ phim, ngắm hồ Huron hoặc ăn nhà hàng thì nghĩa là bạn đã có một thời gian tuyệt vời. Chị Caro cũng nói có, nhưng với giọng lơ đãng, kiểu như “đó không phải là việc của mẹ”. Sau đó, cha tôi đến Cuba nghỉ đông. Mẹ tôi nhận xét về chuyến đi của cha vẻ tán đồng pha chút bất ngờ.
Sau khi tắt tivi, chị Caro và tôi được cho ra ngoài dạo chơi, như mẹ nói, để hít thở không khí trong lành. Chúng tôi dẫn con chó theo.
Khi ra bên ngoài, việc đầu tiên chúng tôi làm là nới khăn mà mẹ đã quàng vào cổ cho chúng tôi, thả lòng thòng xuống. Dù không thể xâu chuỗi hai sự việc với nhau nhưng sự thật là khi bụng bầu của mẹ càng lớn thì kiểu cư xử của mẹ càng giống bao người mẹ bình thường khác, tỉ như chuyện quàng khăn cho chúng tôi khi không cần thiết hay việc ép chúng tôi ăn đủ bữa. Chúng tôi không còn nhận được nhiều che chở bao bọc của mẹ như hồi mùa thu. Chị Caro hỏi tôi muốn làm gì, tôi bảo, em không biết. Tôi biết chị hỏi cho có nhưng câu trả lời của tôi là thành tâm. Chúng tôi để con chó dẫn đi, dù gì thì nàng Blitzee cũng khoái dạo quanh hố sỏi. Cơn gió làm mặt hồ gợn sóng lăn tăn, và chỉ một hồi sau chúng tôi cảm thấy lạnh run, vì vậy chúng tôi quấn lại khăn cho ấm cổ.
Từ toa xe nhìn ra cũng không bị phát hiện nên chúng tôi cứ lang thang bên bờ hồ – tôi không rõ là bao lâu. Một lát sau, tôi chợt nhận ra rằng mình được dặn đi dặn lại nhiều lần…
Tôi chuẩn bị trở về toa xe, báo cho chú Neal và mẹ…
Rằng con chó bị rơi xuống nước.
Con chó đã rơi xuống nước và chị Caro sợ rằng nó sẽ bị chết đuối.
Blitzee. Chết đuối.
Nhưng Blitzee không có ở dưới nước.
Chắc nó đã rơi xuống. Và có thể chị Caro đã liều mình nhảy xuống để cứu con chó.
Tôi tin mình đưa ra những lý lẽ mập mờ và chứng cớ mơ hồ, tranh cãi nước đôi: nó chưa, chị chưa, có thể xảy ra điều ấy nhưng chưa… Tôi cũng đã nhớ là chú Neal từng nói: chó không thể chìm.
Chị Caro đã chỉ, đã báo trước tôi phải làm theo những gì chị bảo.
Tại sao?
Lẽ ra tôi phải lên tiếng hoặc chỉ đứng yên đó đừng theo lời chị và cố tranh cãi cho tới nơi tới chốn.
Hằn sâu trong tâm trí tôi hình ảnh chị Caro ôm con chó, tung nó lên trong khi nó đang cố bám chặt lấy chiếc áo khoác của chị.
Đột ngột chị Caro lùi lại, lùi lại lấy đà chạy tới, phóng mình xuống nước. Tôi không thể nhớ rõ tiếng va đập của cả hai, con chó trước, chị sau với mặt nước. Có lẽ lúc ấy tôi đã chạy lại toa xe – chắc hẳn tôi đã hành động như thế.
Ám ảnh bởi sự việc này, tôi cứ cắm đầu chạy. Và trong mơ tôi thấy mình không hướng về toa xe mà lại tới hố sỏi. Tôi có thể thấy con chó Blitzee thì thụp bơi lòng vòng còn chị Caro đang sải thẳng tới, rất mạnh mẽ để cứu nó. Tôi thấy chiếc áo khoác ca rô màu nâu nhạt, chiếc khăn len cùng với khuôn mặt đầy tự hào mãn nguyện, mái tóc hung đỏ sậm đi ở phần cuối lọn tóc xoăn chỗ tiếp giáp với mặt nước. Tất cả những gì tôi phải làm là đứng xem, lòng mừng vô hạn – cuối cùng thì không điều gì làm tôi lo lắng nữa cả, xong cả rồi, chẳng cần đến tôi.
Tôi rẽ lên đoạn dốc, đi về phía toa xe, khi đến đó tôi ngồi xuống nghỉ. Cứ như có một mái hiên hay một cái ghế dài ở đó, dù thực tế toa xe chẳng hề có những thứ này. Tôi ngồi và đợi điều sắp xảy ra.
Tôi biết vậy bởi đó là sự thật, tuy nhiên tôi không chắc có đúng theo kế hoạch của tôi hay những gì tôi đang nghĩ không. Tôi đang chờ đợi, có lẽ, cho tình huống sắp đến của chị Caro. Hoặc của con chó.
Tôi không biết là tôi đã ngồi hơn năm phút rồi.
Vậy là tôi ngồi bệt xuống đấy, chờ đợi – trên hay dưới năm phút, tôi không biết nữa. Trời cũng không lạnh lắm.
Tôi đã gặp một người chuyên nghiệp về chuyện này và bà ta thuyết phục tôi – suốt dạo đó, bà ta đã thuyết phục tôi – rằng chắc chắn tôi đã cố mở cửa toa xe và thấy cửa khóa. Khóa bởi vì mẹ và chú Neal đang ân ái và họ đã khóa để khỏi bị quấy rầy. Nếu lúc ấy tôi đập cửa, thì cả hai chắc sẽ giận dữ lắm. Bà luật sư hài lòng vì giúp tôi đi đến kết luận còn tôi cũng rất nhẹ nhõm, thoải mái trong lòng. Được một thời gian dài. Nhưng bây giờ tôi không còn nghĩ đó là sự thật nữa. Tôi không nghĩ là họ đã khóa cửa, bởi có một lần cửa không khóa và chị Caro xộc vào với bộ mặt bối rối thì đã bị họ cười cho.
Có lẽ tôi đã nhớ ra rằng chú Neal nói chó không thể chết đuối được, điều đó có nghĩa rằng việc chị Caro cứu con Blitzee là không cần thiết. Do đó bản thân chị không thể diễn trò. Quá nhiều trò với chị Caro.
Có phải tôi đã nghĩ rằng chị biết bơi? Chín tuổi, nhiều đứa trẻ có thể bơi. Thực tế cho thấy chị có tập bơi mùa hè trước, nhưng khi chúng tôi chuyển đến toa xe thì chị không theo lớp học bơi nữa. Có lẽ chị cho rằng mình bơi tốt, chẳng có gì lo. Trong thâm tâm tôi nghĩ chị có khả năng làm bất cứ điều gì chị muốn.
Bà luật sư đã không đưa ra giả thuyết hay đề nghị tôi thừa nhận là tôi phát ốm với việc phải tuân theo mệnh lệnh của chị Caro, nhưng đã có lúc ý nghĩ đó chợt hiện trong tôi. Dù sao thì cũng khá hợp lý, nếu tôi lớn hơn, có lẽ…còn lúc ấy tôi mong chị đặt mình vào vị trí của tôi. Tôi đã ngồi đó bao lâu? Chắc không lâu. Và có lẽ tôi đã gõ cửa. Chừng một phút sau, không hiểu lý do gì mẹ ra mở cửa, chắc mẹ linh cảm có chuyện.
Điều kế tiếp là tôi ở bên trong. Lúc này mẹ tôi la lớn và hình như đang cố gắng làm cho chú Neal hiểu điều gì đó. Chú đứng lên ôm mẹ với những lời an ủi dịu ngọt. Nhưng đó không phải là điều mẹ tôi muốn, mẹ gạt tay chú chạy ra ngoài. Chú ấy lắc đầu, chán chường nhìn xuống bàn chân trần của mình.
Tôi nghĩa chú ấy nói câu gì đó với tôi bằng giọng ê a buồn bã. Lạ lùng.
Tôi chỉ nhớ bấy nhiêu đó.
*
Mẹ đã không lao mình xuống nước. Sau cú sốc đó, không có chuyện sảy thai hay sinh non. Độ tuần lễ hay chục ngày sau đám tang, em trai tôi, Brent, mới được sinh ra, và nó đủ ngày đủ tháng. Mẹ nằm chờ sinh ở đâu thì tôi không rõ. Có lẽ người ta cố giữ mẹ thật lâu trong bệnh viện để giúp mẹ vượt qua cú sốc này.
Còn ngày tang lễ thì tôi nhớ rất rõ. Một người phụ nữ hiền hậu, dễ tính mà tôi chưa hề gặp trước đây – tên cô ấy là Josie – đã ở bên tôi. Tôi được chơi đu quay, chui vào nhà búp bê, dự tiệc với những món tôi ưa thích. Sau này tôi mới biết cha đã quen cô Josie ở Cuba, và sau khi li dị cô ấy trở thành mẹ kế của tôi, vợ thứ hai của cha.
Mẹ tôi đã hồi phục, lấy lại được thăng bằng, phải vậy thôi, Brent cần được chăm sóc, và cả tôi nữa. Tôi cứ ngỡ mình đã ở với cha và cô Josie – tôi không rõ mình đã ở cùng Brent cho đến khi nó đủ lớn để ngồi trên ghế cao ăn cơm.
Mẹ đã trở lại làm việc tại nhà hát. Lúc đầu có lẽ vẫn là người chỉ chỗ như trước nhưng vào khoảng thời gian tôi đi học thì mẹ có một công việc thật sự, có lương ổn định – quản lý kinh doanh. Nhà hát đã trải qua nhiều thăng trầm và đến giờ vẫn còn hoạt động.
Chú Neal không tin vào chuyện ma chay nên không có mặt tại tang lễ chị Caro. Chú chẳng biết mặt Brent. Chú đã để lại một lá thư – sau này tôi mới tìm thấy – nói rằng chú chưa hề có ý định làm cha và đáng lý chú đã bỏ cuộc ngay từ đầu. Tôi không bao giờ cho Brent biết tí gì về chú bởi tôi nghĩ điều này sẽ làm mẹ buồn lòng. Cũng vì Brent chỉ chút chút giống chú Neal và thực tế thì nó có vẻ giống cha tôi nhiều hơn, giống đến nỗi tôi thật sự thắc mắc về chuyện mẹ mang bầu. Cha chẳng hề hé răng về điều này, và sẽ không bao giờ với một người tốt bụng như cha. Cha đối xử với Brent y chang với tôi.
Cha và cô Josie không có con, tôi nghĩ vấn đề này không gây phiền phức cho họ. Cô Josie là người duy nhất hỏi chuyện về Caro nhưng chỉ đôi khi thôi. Cô khẳng định là cha tôi không có trách nhiệm về mẹ tôi. Cha cũng nói rằng cha khá bảo thủ trong khi mẹ muốn cuộc sống sôi động hơn. Cha cần một bước ngoặt, một sự bứt phá chứ buồn rầu mãi chẳng ích gì. Không có cú hích đó thì cha sẽ không bao giờ gặp được cô Josie để cả hai hạnh phúc như bây giờ.
“Cả hai nào vậy?” tôi sẽ hỏi trật ngược, và cha sẽ nói như đinh đóng cột, “Josie. Tất nhiên là Josie rồi.”
Mẹ không được ai gợi để nhớ lại những khoảnh khắc đã qua và tôi cũng không muốn làm mẹ rối. Tôi biết rằng mẹ đã lái xe đến tận chỗ chúng tôi sống và nhận ra cảnh vật thay đổi nhiều với những căn nhà hiện đại mọc lên.
Thậm chí những nơi trước đây là hố sỏi thì giờ người ta đã san lấp nâng móng xây nhà.
*
Tôi có người bạn tên là Ruthann, trẻ hơn tôi nhưng tôi nghĩ thông minh hơn tôi một chút. Chí ít cũng lạc quan hơn về việc “tạm biệt buồn đau” của tôi. Tôi sẽ không liên lạc với chú Neal nếu không vì sự thúc giục của cô ấy. Tất nhiên đã lâu lắm rồi tôi chẳng có địa chỉ cũng không hề nghĩ tới việc thư từ cho chú nhưng cuối cùng chính chú đã gửi cho tôi. Bức thư rất ngắn để “chúc mừng” – sau khi chú thấy hình tôi trên báo Giáo dục. Tôi không rõ chú đọc tờ đó để làm gì. Tôi là một trong hai sinh viên đã được nhận bằng danh dự trong lễ tốt nghiệp đại học.
Chú đang sống – nơi tôi đã học đại học – cách chỗ tôi dạy khoảng 50 dặm. Lúc đầu tôi không có ý định trả lời thư, nhưng khi tôi nói chuyện đó với Ruthann thì cô ấy khuyên tôi nên hồi âm. Rốt cuộc tôi gửi e-mail và hẹn gặp chú tại một quán nhỏ của trường đại học gần nhà chú.
Chú già hẳn, tóc thưa đi nhiều, trông chú thấp hơn hồi xưa. Chú rót cho tôi ly trà và chúng tôi cùng dùng trà.
Chú làm gì để sống?
Chú nói rằng chú dạy kèm, luyện thi cho sinh viên và giúp họ viết tiểu luận. Dĩ nhiên có thù lao.
“Không có cách nào trở thành triệu phú cả, chú có thể nói với cháu vậy.”
Chú sống khá chật vật nhưng đàng hoàng – chú thích vậy. Chú không quan tâm đến lối ăn bận, đồ rẻ tiền cũng ôkê.
“Theo nguyên tắc của mình.”
Tôi không có bất cứ điều gì để chúc mừng chú nhưng có lẽ chú muốn nghe tôi nói lời nào đó.
“Dù sao đi nữa chú nghĩ cách sống của chú không thú vị lắm, chú nghĩ chắc cháu muốn biết mọi chuyện đã xảy ra như thế nào.”
Tôi không biết nói sao.
“Chú đã bị ném đá vì quá u mê,” chú tiếp – “Vả lại chú chẳng phải là một tay bơi… Không có nhiều hồ bơi nơi chú lớn lên. Lẽ ra…hồi xưa chú…cũng…đã bị chết đuối rồi. Đó là những gì cháu muốn biết phải không?”
Tôi nói rằng riêng chú, thực sự tôi hầu như không có gì thắc mắc.
Rồi chú trở thành người thứ ba mà tôi hỏi câu “Caro đã nghĩ gì?”
Bà luật sư đã từng nói chúng ta không thể biết. “Có khả năng chính Caro cũng không biết mình muốn gì. Nhưng chắc Caro không tự tử dù tâm trạng rất tệ.”
Ruthann đã từng nói: “Để mẹ bạn muốn làm gì thì làm? Để bà ta sáng mắt ra và hiểu rằng bà ta phải quay lại với cha bạn?”
Chú Neal trả lời tôi, “Không thành vấn đề. Có lẽ Caro không bơi tốt như nó tưởng. Nó không biết quần áo ấm sẽ trì níu cản trở thế nào. Hoặc giả không có ai ở đó để giúp nó lúc ấy.”
Chú nói tiếp, “Đừng lãng phí thời gian, đừng suy nghĩ sao mình không nhanh chân, không chạy về kêu cứu ngay. Đừng mang nặng cảm giác tội lỗi trong lòng.”
Tôi đáp rằng mình ghi nhận và sẽ nghĩ thấu đáo lời chú khuyên, nhưng không phải vậy.
“Tất cả đã qua, mọi thứ sẽ ổn thôi,” chú nói. “Cho dù chuyện gì…hãy cố gắng vượt qua. Chỉ vì hoàn cảnh tạo ra. Hãy chấp nhận và rồi bi kịch sẽ tan biến thôi, lúc đó cháu sẽ thấy cuộc đời còn nhiều điều tốt đẹp. Hãy thanh thản nhẹ bước trên con đường của mình.”
Giờ thì, tạm biệt.
Tôi hiểu những gì chú muốn nói. Đó là những việc đúng đắn để thực hiện. Nhưng, trong tâm trí tôi, chị Caro vẫn mãi chạy, chạy hết tốc lực, phóng thẳng xuống mặt nước trong niềm vui chiến thắng. Và tôi vẫn ở đó, đợi chị một lời giải thích. Tôi thoảng nghe tiếng va đập vang vọng, vẫn thấy cột nước bắn lên. Bọt tung trắng xóa hồn tôi.
Nguyễn Trung dịch từ nguyên tác tiếng Anh, truyện ngắn “Gravel.”

 

8.000 container phế liệu: Ăn tiền chở rác về Việt Nam?

(Doanh nghiệp) - Vì lòng tham, vì lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp trong nước đã nhận tiền chở rác từ nước ngoài về Việt Nam.

Ùn ứ gần 8.000 container rác phế liệu
Xác nhận thông tin hiện có gần 8.000 container giấy và nhựa phế liệu đang tồn đọng tại cảng Cát Lái. Ông Nguyễn Năng Toàn, Giám đốc Trung tâm logistics - Tổng công ty Tân cảng cho biết, 1/3 trong số đó đã được nhập về trên 90 ngày và đang có nguy cơ tiếp tục tồn lâu tại cảng.
8.000 container phe lieu: An tien cho rac ve Viet Nam?


Rác phế liệu tồn đọng ở cảng Cát Lái. Ảnh: VnEconomy
Lãnh đạo Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn nhận định, nguyên nhân tồn đọng lượng lớn giấy và nhựa phế liệu tại một số cảng ở Việt Nam do chính sách siết chặt, không tiếp nhận nhập khẩu hàng phế liệu từ Trung Quốc và một số quốc gia trong thời gian gần đây. Cho nên có khả năng các doanh nghiệp đóng rác vào các lô hàng trên để được chuyển tiếp về Việt Nam.


"Chi phí để xử lý một container hàng phế liệu gây ảnh hưởng đến môi trường tại nước ngoài rất lớn, cao hơn chi phí mua một container và thuê chở về Việt Nam. Thế nên các nước lợi dụng điều này để tranh thủ "đổ rác" về Việt Nam", ông Toàn cho biết.
Trước tình trạng trên, ông Toàn cho biết, Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn đã phải ra quyết định ngưng tiếp nhận các container phế liệu nhựa nhập khẩu về 2 cảng Cát Lái và Hiệp Phước vì sau gần 1 tháng siết chặt quản lý nhóm hàng này, tình hình vẫn không được cải thiện. 
Chia sẻ thêm, một lãnh đạo Tổng công ty Tân Cảng cho biết, Tân Cảng chỉ làm nhiệm vụ xếp dỡ hàng hóa và nhận tiền, việc cấp phép, cho nhập rác về là thuộc các cơ quan có chức năng khác.
Vì thế, việc xem xét trách nhiệm với các container rác thải bị ùn ứ là vô cùng khó khăn, không biết ai là người chịu trách nhiệm.
Nhận tiền chở rác về Việt Nam đổ?
Chia sẻ sâu hơn về vấn đề này, ông Nguyễn Đình Quân, nguyên Phó Trưởng khu (Bãi trung tâm), liên quan đến hoạt động đóng rút hàng tại Tân Cảng cho biết, tình trạng ùn ứ rác thải vẫn diễn ra theo chu kỳ vài năm một lần. 8.000 container bị ùn ứ được thông báo mới chỉ là con số thống kê từ đầu năm tới nay.
Đáng lưu ý, tình trạng trên xảy ra ở hầu hết các cảng biển, không riêng gì với Tân Cảng.
Ông Quân nói rõ, việc nhập rác thải về gây ùn ứ là lỗi của doanh nghiệp trong nước.
Đồng tình với giải thích của lãnh đạo Tổng Công ty Tân Cảng, việc ùn ứ có nguyên nhân từ chính sách siết, không tiếp nhận nhập khẩu hàng phế liệu từ Trung Quốc và một số quốc gia trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, ông Quân cho rằng, nguyên nhân lớn hơn xuất phát từ lòng tham của doanh nghiệp Việt.
"Việc xử lý rác thải độc hại ở nước ngoài là vấn đề lớn, cần chi phí cao. Nhiều nước như Nhật, Mỹ, Hàn... còn phải trả thêm tiền để được mang rác đi.
Trong khi đó, chi phí để thuê các doanh nghiệp Việt chở rác về Việt Nam có thể lớn nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 1/10 chi phí phải bỏ ra để xử lý rác.
Vì lòng tham, vì lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp trong nước đã biến các cảng biển của Việt Nam thành bãi đáp rác thải, nhận tiền từ nước ngoài chở rác về đổ đấy", ông Quân chỉ rõ.
Gay gắt lên án hành vi cố tình mang rác về nước để kiếm lợi của các chủ tàu, các doanh nghiệp Việt, ông Quân cho rằng, hành vi trên đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường Việt Nam cũng như gây nhiều khó khăn, tốn kém trong việc xử lý rác.
"Bây giờ họ đã cố tình mang về để đấy, nếu chủ tàu người ta không nhận thì cũng không biết làm thế nào. Có nhiều trường hợp kê khai không đúng tên tuổi, nên cũng không tìm được ai để xử lý, để chịu trách nhiệm, trong khi đó, mình muốn xuất đi thì không nước nào nhập, xử lý thì vô cùng tốn kém.
Cuối cùng, doanh nghiệp được hưởng lợi một chút tiền công chở rác nhưng lại gây thiệt hại lớn cho môi trường và ngân sách", ông Quân bức xúc.
Để ngăn chặn tình trạng trên, ông Nguyễn Đình Quân cho rằng phải siết mọi hoạt động nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam. Đặc biệt, tăng cường thanh kiểm tra các hoạt động mua bán, chế biến phế liệu để đảm bảo môi trường. Quá trình nhập hàng phải có kê khai và phải qua máy soi của hải quan, nếu phát hiện các mặt hàng rác thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải kiên quyết không cho nhập.
Về phía cảng, cũng phải xây dựng nguyên tắc, hàng hóa phải được thanh lý sau 90 ngày cập cảng, nếu sau thời hạn trên chủ tàu không chuyển được đi thì phải trả lại chủ tàu hoặc xử phạt thật nặng.
  • Lam Nguyên