1 thg 9, 2021

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 82-VƯỜN THƠ MỚI-Chủ Đề : THĂM NHÀ BẠN

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 82-VƯỜN THƠ MỚI

Bài xướng:












THĂM NHÀ BẠN

Cửa đóng then gài bạn ở đâu

Trưa hè nắng cháy bạn đi câu?

Gà con  ríu rít đòi ăn thóc

Vịt mẹ lân la rỉa cọng rau

Trước cửa xinh xinh hàng giậu trúc

Sau hè rậm rạp bụi bông lau

Cảnh quê thanh thản lòng xao xuyến

Sẽ đến thăm nhà dịp lễ sau.

Nguyễn Cang

Họa 1:

           

VỌNG MAI SAU

 

Mõi mòn tin nhạn ở nơi đâu

Thắm thoát năm nào tựa bóng câu

Thu trước vui tươi miền vách đá

Xuân này ủ dột chốn vườn rau

Quạnh hiu làn gió đưa cành trúc

Khoắc khoải nắng chiều chiếu bóng lau

Xa cách tháng ngày lòng quặn thắt

Hoàng hôn nhạt nắng vọng mai sau.

 

PTL

Aug. 23, 2021

 

Họa 2:

            

CỐ NHÂN 

 

Cố nhân biền biệt ở nơi đâu 

Hẹn ước năm nào bóng bích câu 

Thuở trước tri âm tình mộng thắm

Bây giờ cô quạnh nhạt màu rau 

Trưa hè nắng đổ ngoài hiên cửa 

Gió nhẹ đong đưa ngọn cỏ lau 

Mơ ước trông mong ngày gặp lại 

Nào ngờ đợi mãi đến về sau! 

 

Hương Lệ Oanh VA 

Aug  23, 2021 

 

Họa 3:

       

VỀ THĂM KHÔNG GẶP BẠN XƯA.


Thăm người, không gặp kiếm nơi đâu,

Suối mát, dong thuyền, bãi đá câu?

Trước cửa vườn hoa dàn dạ lý,

Hậu đình ao cá luống cà rau.

Nhìn quen lũ trẻ chào ngoan ngoãn,

Thấy lạ con vàng sủa láu lau.

Tuổi hạc về quê tìm bạn cũ,

Mai này chẳng biết có lần sau.

 

Mỹ Ngọc,

Aug. 24/2021.

Họa 4:

          

 THĂM NHÀ BẠN


Sen hồng dẫn lối bạn nhà đâu?

Lặn lội tìm quanh hỏi mấy câu?

Trước cổng tường xanh in bóng nắng

Bên rào lan tím thắm vườn rau

Ngắm mê suối gợn bờ dương liễu

Hóng mải gió lùa đám mía lau

Chí hữu vội mừng trao ánh mắt

Thân tình tri kỷ tận về sau.

 

Kim Trân kính bút

Họa 5:

 

VỀ QUÊ CÙNG BẠN


Một ngày thong thả biết đi đâu?

Cùng bạn về quê vui thú câu...

Kho cá vừa thơm thêm chút ớt,

Nấu canh chờ chín bỏ nhiều rau.

Ong say ngõ trước vàng hoa mướp,

Gió giỡn đồi xa trắng cỏ lau.

Níu bước chân người chim ríu rít,

Vẫy chào xin hẹn những lần sau.

 

Minh Tâm




Mời Xem :


THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 81-VƯỜN THƠ MỚI ( Họa thơ song thất lục bát) ,Chủ Đề :MÙA THU


CORONA VIRUS PHÚC HAY HỌA?

 Đại dịch coronavirus đã diễn ra liên tiếp trong 2 năm nay nhưng con người vẫn chưa thực sự hiểu về nó.

Lúc đầu thì các bác sỹ và các nhà khoa học cho rằng coronavirus gây nhiễm trùng hô hấp thì cũng giống như cúm, chỉ phải đeo khẩu trang khi có triệu chứng để tránh lây cho người khác, thay vào đó rửa tay thường xuyên là quan trọng nhất. Sau đó cũng chính các nhà khoa học lại nói rằng khẩu trang và giãn cách là quan trọng nhất trong phòng Covid?!?
Lúc đầu thì các bác sỹ cho rằng cũng giống như cúm, chỉ những người già, có bệnh lý nền, người suy giảm miễn dịch thì mới có nguy cơ tử vong, người trẻ, hệ miễn dịch tốt thì có mắc cũng chỉ như cúm mùa thôi. Nhưng rồi họ cũng không thể giải thích được tại sao vẫn có rất nhiều ca bệnh trẻ tuổi, khỏe mạnh cũng bị mắc, suy hô hấp nặng và tử vong. Họ nhận thấy rằng virus không phân biệt già trẻ, bệnh lý nền hay không, cũng không phân biệt giàu nghèo, nổi tiếng hay không nổi tiếng, ai cũng có thể bị.
Chúng ta thấy virus xuất hiện khắp nơi, bất cứ chỗ nào. Cho dù người ta đổ cho toàn cầu hóa, mọi người di chuyển máy bay dễ dàng nên có thể lây từ châu lục này sang châu lục khác, nhưng không hoàn toàn như vậy.
Thực tế thì virus bình thường không thể di chuyển nhanh và xa đến thế, thường thì ổ dịch cũng cần thời gian ủ bệnh rồi mới có thể lây lan ra chỗ khác. Mà như vậy thì nếu 1 thành phố hay 1 quốc gia bị bệnh thì các thành phố và các nước xung quanh phải bị lây trước chứ? Tại sao cùng lúc xuất hiện ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ…?
Các nhà khoa học cho rằng virus lây qua giọt bắn, tiếp xúc, nên yêu cầu sát trùng đủ thứ và giãn cách. Họ phân loại F0, F1, F2,… những người tiếp xúc với F0 thì được gọi là F1 và bị cách ly rồi truy vết.
Nhưng dần dần trong quá trình chống dịch, họ đều thấy nhiều trường hợp rất lạ kỳ, người cùng một nhà, nhưng người này bị người kia không bị: chồng dương tính, vợ vẫn âm tính, mẹ dương tính, con 8 tháng tuổi đang bú mẹ lại âm tính. Nhiều người giải thích bây giờ âm tính vì bệnh chưa phát thôi, vài hôm nữa dương ngay ý mà. Nhưng cũng không phải. Người dương tính vẫn là dương tính mà người âm tính vẫn là âm tính. Có những người chẳng đi đâu, chẳng tiếp xúc với ai, chỉ ngồi trong nhà cũng dương tính. Con Covid này hình như nó biết chọn người để… lây nhiễm? Nó không lây nhiễm theo cách mà các bác sỹ và các nhà khoa học từ trước đến nay vẫn hiểu về loài virus. Rồi đến gần đây thì họ lại bắt đầu thay đổi khái niệm, không phải cứ tiếp xúc với F0 là thành F1 ?!?
Vẫn chưa hết, cách đây không lâu, chúng ta vẫn cho rằng vaccine là cứu cánh duy nhất của đại dịch. Nhưng rồi bây giờ thì sao?
Số ca nhiễm Covid ở Mỹ tăng vọt trở lại mặc dù tỷ lệ tiêm chủng của Mỹ đạt rất nhanh trên 50% với Pfizer và Moderna. Tại Israel, số ca nhiễm nặng đang tăng gấp đôi sau mỗi 10 ngày mặc dù tỷ lệ và tốc độ tiêm vaccine của nước này thuộc hàng đầu thế giới. Khả năng lây nhiễm chủng Delta của người đã tiêm chủng đầy đủ cho người khác không thua kém gì từ người chưa tiêm. Điều đó làm dấy lên câu hỏi về tính hiệu quả của việc miễn dịch cộng đồng bằng vaccine mặc dù hiệu quả bảo vệ của vaccine khỏi tình trạng bệnh nặng vẫn cao.
Ngay cả chúng tôi, những người nghiên cứu về vi sinh vật, cũng hiểu rằng, tất cả những biện pháp của con người từ trước đến nay đều là chạy theo vi sinh vật. Các nhà khoa học có điều chế ra loại kháng sinh mới thì chỉ một thời gian ngắn sau là xuất hiện vi khuẩn đề kháng. Vaccine thì chưa hiệu quả nhiều với virus. Đặc biệt, cấu trúc của virus quá đơn giản nên cứ trung bình sau 106 lần nhân lên của virus là xuất hiện 1 đột biến mới. Như vậy thì hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng đều có chủng virus mới, chẳng qua là nó đã đủ trội lên để gây thành dịch do biến chủng mới hay chưa thôi.
Rõ ràng, cần phải bình tĩnh lại và nhìn nhận vấn đề.
Rõ ràng cái dịch bệnh này có điều gì đó mà giới hạn của khoa học hiện nay chưa thể lý giải được một cách cụ thể và chính xác về loài virus này.
Chính tôi, là một tiến sỹ, bác sỹ chuyên ngành vi sinh, nhưng tôi cũng thấy khó giải thích trước tình cảnh dịch bệnh trước mặt, nó khác nhiều so với những gì tôi được học, đã biết, và đã từng nghiên cứu.
Tại thời điểm đợt dịch thứ nhất, phó trưởng khoa Y của đại học y khoa UCSF email cho tôi và nói rằng ông đang rất lo lắng vì không biết làm sao để bảo vệ nhân viên và sinh viên của ông trước đại dịch, chúc lành cho các bạn. Đại học Stanford, tượng đài y khoa của tôi cũng sụp đổ khi họ nói họ chẳng hiểu cái dịch này như thế nào. Cũng từ đó, tôi muốn tiếp cận nó theo hướng mới hơn là khoa học thuần tuý. Tôi cho rằng phải mở rộng trí óc hơn, cái nhìn phải lớn hơn, rộng hơn, dựa trên ba khía cạnh: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, và khoa học tâm linh thì mới hiểu được phần nào về đại dịch này.
Con người chủ yếu mới chỉ nhìn nhận đại dịch ở khía cạnh khoa học, có một số ít người nhìn nhận nó ở khía cạnh khoa học xã hội, và rất ít người hơn nữa nhìn nhận nó ở khía cạnh khoa học tâm linh. Trên mạng, trong sách, đã có quá nhiều người nhìn nhận đại dịch coronavirus ở góc nhìn khoa học, nên tôi không muốn viết về nó nữa, mà tôi muốn nhìn nhận nó ở khía cạnh khoa học xã hội và khoa học tâm linh.
Chẳng hạn, tại sao nếu nhìn vào số lượng người chết do Covid thì thực ra không bằng 1 trận chiến tranh. Thậm chí còn không bằng số người chết hàng năm vì tai nạn giao thông tại Việt Nam.
Tại sao người ta không sợ chiến tranh, không sợ tai nạn giao thông, mà lại hoảng loạn vì virus? Là vì chiến tranh người ta còn biết đánh ai, ai đánh, biết kẻ thù là ai, chiến lược thế nào, đánh từ đâu, phòng thủ thế nào. Nhưng virus thì không thấy đâu cả. Không biết đánh từ đâu, phòng thủ thế nào nên tâm lý con người, tâm lý xã hội, họ sợ và hoảng loạn. Từ đó mà tình hình dịch bệnh cứ nặng dần lên.
Một góc khác ở khía cạnh khoa học xã hội. Mọi người cứ hỏi làm sao để dập dịch, làm sao để chống lại Sars-CoV2. Nhưng riêng tôi, tôi thấy nó là sự cân bằng của Tạo Hóa mang lại. Người ta chỉ nói về tác hại của Covid mà rất ít người nhìn nhận khía cạnh tích cực của nó.

ĐẠI DỊCH NÀY DẠY CHO CHÚNG TA RẤT NHIỀU BÀI HỌC:

1. Khi phải đối diện với bệnh tật hay bất kỳ khó khăn nào trong cuộc sống, cách tốt nhất là giữ sự bình thản. Chúng ta học cách sống chậm lại và có khoảng lặng và yên tịnh cho mình.
2. Con người cần phải học lại cái CĂN BẢN SỐNG. Tôi nhận thấy nhiều người trẻ trong cuộc sống xã hội đủ đầy hiện nay, vốn dĩ chưa từng trải qua thảm họa như chiến tranh, thiên tai, bệnh dịch, cũng chưa từng biết thiếu thốn là gì nên chỉ quan tâm đến những việc phù phiếm.
Ví dụ như đợt dịch thứ nhất, người ta đổ xô đi tranh cướp giấy toilet mà quên đi những nhu cầu tối thiểu khác của con người, họ thiếu căn bản sống, những kỹ năng sinh tồn tối thiểu.
Giãn cách xã hội khiến hàng quán không thể mở cửa, nhiều người vốn dĩ đã quen ăn hàng, không tự nấu ăn bao giờ, tự dưng cuộc sống bị đảo lộn. Họ than vãn rằng dịch buồn quá, chẳng làm được gì, chẳng được đi đâu. Họ cần tập lại từ việc đi chợ, nấu ăn, và lo cho người thân của mình đủ ăn. Họ cần học lại bài học về sự sinh tồn.
3. Con người cần hiểu ra rằng đừng có tham lam vật chất quá. Mà chúng ta cần học cách trân trọng thức ăn, nguồn nước, không phung phí, không bỏ thức ăn thừa mứa. Ví dụ trước kia chê ỏng chê eo món này ngon món kia dở, phải có cái này cái nọ mới chịu được. Bây giờ có miếng rau trong bát cơm đã thấy mừng, chịu thiếu thốn một tý thấy cũng không chết ai. Nhịn một tý, không đi chơi, không đi ăn, thiếu tiện nghi... vẫn sống tốt. Hãy tập trong sự thiếu thốn để biết ĐỦ.
4. Con người học được bài học về CƯ AN TƯ NGUY, nghĩa là lúc đang yên ổn, bình yên thì nên nghĩ tới lúc nguy nan. Chúng ta học được cách phải tiết kiệm, phải biết ăn dè, không tiêu hết những gì mình làm ra để dự phòng lúc nguy cấp.
5. Con người học được bài học về cách lưu trữ bảo quản: Có những điều trước đây con người không chịu làm nhưng bây giờ có dịch thì bắt đầu biết suy nghĩ hơn.
6. Chúng ta học ra được rằng, PHÚC HƯỞNG TẬN THÌ HỌA SẼ TỚI, đừng nên ăn tận, uống tận, hưởng tận. Chừa đường cho người thì trời mở đường cho mình.
7. Chúng ta học cách thích nghi, chấp nhận mọi biến động của cuộc sống. Cũng giống như biến thể Delta còn đang hoành hành, biến thể Lamda mới đã xuất hiện. Chúng ta không còn cách nào ngoài việc thích nghi với mọi nghịch cảnh.
8. Chúng ta hiểu rõ hơn chữ VÔ THƯỜNG, không có gì là bất biến trong cuộc đời này. Chúng ta cảm giác được sự sống chết rất mong manh xảy ra rất gần xung quanh mình. Chúng ta hiểu rõ rằng nên quan tâm, dành thời gian cho cha mẹ già nhiều hơn bởi có thể một biến động quét qua ta không còn kịp nói lời từ giã họ. Đại dịch xảy ra, cũng bộc lộ cái tình giữa con người với con người. Họ kỳ thị những người bị dương tính. Nghĩa tử là nghĩa tận, vậy mà người ta chỉ vì sợ con virus mà quên đi cái tình, cái nghĩa. Thấy tội cho những người ra đi đúng vào đợt dịch. Đám tang lạnh lẽo, lẻ loi, không người đưa tiễn.
Chúng ta cũng học cách nhường cơm xẻ áo và yêu thương những ai đang khó khăn hơn mình. Ta cũng nhận ra tình người tự nhiên vốn dĩ không nên hại nhau, không nên lợi dụng nhau, nên tôn trọng nhau.
9. Đại dịch làm giảm nạn tắc đường mà không một chính phủ nào trên thế giới làm nổi. Nhưng chúng ta cũng học được rằng khi hết dịch sẽ không bao giờ càm ràm nhăn nhó mỗi khi ra đường kẹt xe, nắng nóng.
10. Đại dịch đã làm giảm ô nhiễm môi trường: Môi trường đang ô nhiễm nghiêm trọng, có thể khiến trái đất diệt vong vì hiệu ứng nhà kính, vì sự nóng lên của trái đất, vì băng tan hai cực… Nếu chỉ hô hào kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường thì sẽ chẳng ai làm.
Nhưng chỉ cần đại dịch Covid xảy ra, mọi người không ai ra đường, không xả khói, nhà máy ngừng sản xuất, hàng chục nghìn chuyến bay bị hủy, làm giảm hàng nghìn tấn CO2 thải ra môi trường. Chỉ số môi trường của Hà Nội và TPHCM chưa bao giờ chuyển sắc xanh như vậy.
Nếu nhìn từ Google Earth sẽ thấy có những khu vực cây cối mọc xanh trở lại vì không có sự tàn phá của con người.
Và như vậy, có phải virus corona đang cứu Trái đất khỏi nguy cơ diệt vong không? Đây là một khoảng lặng để con người nhận ra mình đã tàn phá tự nhiên như thế nào. Có thể sau đại dịch con người sẽ thay đổi.
11. Chúng ta học văn hóa xếp hàng và kiên nhẫn chờ đến lượt.
12. Chúng ta học cách hòa hợp với bạn đời, với con cái, với người thân khi ở gần nhau quá nhiều.
13. Chúng ta học cách tự sống ổn một mình, học cách sống cô đơn.
14. Chúng ta học cách thử thách sức chịu đựng của bản thân.
15. Chúng ta học cách tự chữa bệnh khi các bệnh viện đều quá tải.
Chắc hẳn các bạn cũng học được rất nhiều bài học sau dịch Covid này
* Các lời khuyên phòng bệnh COVID:
Ngoài các thuốc theo phác đồ của Bộ y tế và các phác đồ quốc tế, nên áp dụng các biện pháp không dùng thuốc để hỗ trợ:
- Ngồi thiền mỗi ngày có thể giúp cho chúng ta giữ được sự bình thản, tăng sức đề kháng, giảm stress và vì thế phòng ngừa phần nào những tác hại của virus.
- Tập thở tích cực: Ra ngoài sân thoáng (không nên ngồi trong phòng kín). Hít thở bằng miệng, mở miệng ra để thở. Hít vào thật sâu, hai tay giơ lên, cúi xuống thở ra hai tay đưa xuống, khi đến gần cuối thì thở ra, thì thở hắt mạnh ra để đẩy nốt phần khí cặn trong phổi ra.
- Súc miệng nước muối hàng ngày và tránh không để cho cổ họng bị khô.
- Tập thể dục mỗi ngày.
- Mở cửa để không khí lưu thông thông thoáng cho nơi ở.
- Trong trường hợp không may bị nhiễm virus, có thể xông các loại lá có tinh dầu: đun sôi lá sả, chanh, vỏ bưởi, hoa cứt lợn, lá bạc hà, lá tía tô… ngày 2 lần, nếu thấy khó thở thì có thể xông nhiều hơn 3-4 lần. Vùng miền nào có các loại lá có tinh dầu đều có thể dùng được hết. Khi nước đã sôi già, khi chuẩn bị xông, bỏ vài giọt dầu gió vào nồi và xông, khi đó hơi bốc lên cùng với dầu gió làm tăng hiệu quả xông. Hoặc chỉ đun nóng nước rồi cho dầu vào nếu không có cây lá tinh dầu.
- Ăn uống: Cố gắng tìm mọi cách ăn uống đầy đủ trong hoàn cảnh của mình. Một số gợi ý thêm:
o Nước đậu đen
o Nước lá tía tô giúp giải cảm rất tốt. Uống như trà, có thể thay nước lọc.
o Nước gừng, chanh, sả, mật ong cũng rất tốt.
- Và cuối cùng, YẾU TỐ TINH THẦN LÀ QUAN TRỌNG NHẤT VÌ AI CŨNG HIỂU ĐẾN GIỜ NẦY KHÔNG CÓ THUỐC NÀO ĐỂ TRỊ COVID CẢ.
Yếu tố tinh thần và niềm tin sẽ là chất liệu cần thiết để được hồi phục. Người nào có tôn giáo thì nên cầu nguyện theo tôn giáo đó, còn ai không có tôn giáo thì bình tâm, ngồi hít thở đều đặn, không nên hoang mang.
Hãy sống lạc quan và tích cực để có thể vượt qua tất cả mọi khó khăn!
Bài viết của TS.BS. Nguyễn Đỗ Ngọc Linh
H.Phi chuyển

Nhật Bản chế tạo túi đựng từ cám gạo và hộp sữa có thể ăn được

 

Một doanh nhân tại điểm du lịch Nara nổi tiếng của Nhật Bản đã triển khai một giải pháp thay thế cho túi mua sắm bằng nilon nhằm bảo vệ loài hươu quý hiếm của thành phố.

Theo kênh CNN, anh Hidetoshi Matsukawa làm việc tại Nara-ism (một cửa hàng bán đồ lưu niệm tại địa phương) cho biết năm ngoái, những con hươu sống trong công viên của thành phố đã chết sau khi ăn phải túi nilon. “Tôi muốn làm một điều gì đó để bảo vệ loài hươu –  biểu tượng của Nara”, anh Hidetoshi nói.

Cách Kyoto 45 phút đi tàu hỏa, Nara là nơi sinh sống của khoảng 1.000 con hươu quý hiếm – loài được chính thức công nhận là bảo vật thiên nhiên quốc gia ở Nhật Bản. Khi đến đây, nhiều du khách cho hươu tại đây ăn.

Tuy nhiên, tháng 7/2019, một nhóm phúc lợi địa phương báo cáo đã tìm thấy 9 con hươu chết và phát hiện có nilon trong bụng chúng. Tổ chức kêu gọi khách du lịch không nên ném bừa bãi túi nilon ra công viên.

Để giải quyết vấn đề, anh Hidetoshi đã cùng với một nhà sản xuất giấy địa phương và một công ty thiết kế cho ra đời một dự án có tên gọi ShikagamiTúi giấy thay thế cho túi nilon được làm từ cám gạo và hộp sữa. 

“Cám gạo phần lớn bị bỏ đi trong lúc xay xát. Việc lấy nguyên liệu đó làm giấy cũng góp phần giảm lãng phí”, Hidetoshi giải thích. Anh đã thử nghiệm loại túi này và cho biết chúng an toàn đối với con người.

Sau khi sản xuất, loại túi sinh học này đã được thử nghiệm tại các ngân hàng địa phương và đền Todaiji – điểm thu hút khách du lịch chính ở Nara. Nhà chùa và các ngân hàng đã đặt mua 4.000-5.000 chiếc túi với giá 100 yên/chiếc để tham gia dự án thử nghiệm.

Anh Hidetoshi cho biết giá sẽ giảm nếu có thêm nhiều doanh nghiệp đăng ký sử dụng túi này. “Tin tức về những cái chết của loài hươu do túi nilon đã tạo ra một hình ảnh tiêu cực. Công viên như thể nghĩa trang của những chú hươu vậy. Túi giấy có thể bảo vệ hươu, cũng như hình ảnh của Nara”.

Theo Khoa học

Mời Xem- Giữ Sức Khỏe,Chúc Bình An (Từ Wiki Bác sỉ )


 

NHỮNG CÁI CHẾT THỜI...MẮC DỊCH - Lê Hà Thăng


NHỮNG CÁI CHẾT THỜI...MẮC DỊCH

Có cái chết như là chết... dịch
Xếp hàng nằm la liệt khắp nơi
Sân bệnh viện, lò thiêu chật ních
Xót thương cho những kiếp con người.
Có cái chết như là chết... lậu
Không nhang đèn, kèn trống, tiễn đưa
Sáng cười nói chiều nằm hũ cốt
Trốn anh em đem dấu nhà chùa.
Có cái chết như là chết...tức
Tự nhiên không thở được hơi nào
Như đá tảng đè ngay lồng ngực
Thế là die không một lời chào.
Có cái chết như là chết...giả
Nằm thẳng đơ chở tới nhà thương
Mười mấy bữa về cười ha hả
Bảo nợ trần ta trả chưa xong.
Có cái chết sẽ là chết ...thật
Khi hết tiền gạo cũng sạch trơn
Cứ nhốt mãi trong vùng giản cách
Không quy tiên cũng hóa...khùng khùng.

30-8-2021
Lê Hà Thăng


Cậu bé bán thuốc lá dạo ở VN trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Mỹ:GS Trương Nguyện Thành và GS.Võ Tá Đức


                           Giáo sư-Tiến sĩ Hóa học Trương Nguyện Thành

Một nhà khoa học thành danh ở Mỹ với nhiều công trình nghiên cứu và hằng trăm bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế xuất thân từ một cậu bé bán thuốc lá dạo ở chợ Gò Vấp, Sài Gòn. Câu chuyện của Giáo sư-Tiến sĩ Hóa học Trương Nguyện Thành hiện đang giảng dạy tại trường đại học Utah, Hoa Kỳ, là niềm hãnh diện của người Việt trên trường quốc tế và là tấm gương đáng khâm phục để giới trẻ Việt Nam noi theo.



hình minh họa

Năm 11 tuổi, cậu bé Thành đã bắt đầu bươn chải, dãi dầu mưa nắng để kiếm tiền phụ mẹ nuôi 9 anh chị em sau khi cha mình bị liệt bán thân. Ngày ngày, sau giờ tan trường từ giữa trưa đến tận 9, 10 giờ đêm, cậu bé rong ruổi với thùng thuốc lá trên vai đi bán dạo quanh bến xe lam chợ Gò Vấp. Năm 1976, khi Việt Nam mở chiến dịch đưa cư dân ra các vùng kinh tế mới xa xôi, hẻo lánh, gia đình Thành chuyển xuống Lái Thiêu xoay sở tậu được một miếng ruộng nhỏ và một cặp trâu. Ở tuổi 15, Thành bỏ nghề bán thuốc lá dạo để chuyển sang đi cày thuê cuốc mướn. Việc học của cậu bé bị cản trở và chi phối rất nhiều bởi công cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày, nhưng ý chí quyết tâm theo đuổi con đường học vấn để đổi đời đã vun đúc trong lòng cậu bé từ rất sớm.



Tiến sĩ Thành chia sẻ:
“Tôi có tư duy thích học, những lúc rảnh rỗi, tôi thường lấy sách đọc. Chỉ có môn toán là tôi học được vì không đòi hỏi tập trung nhiều. Cứ rảnh là tôi ngó qua một cái rồi để cái đầu tôi làm việc. Tôi được sự dạy dỗ của ông nội và ba tôi. Họ thường khuyên rằng học vấn là con đường ngắn nhất để đưa một người không có gì tới thành công.”
Tới năm học lớp 12, con đường học vấn của cậu bé nghèo, lam lũ bắt đầu rẽ bước ngoặt, xuất phát từ một đáp án dí dỏm của Thành trước câu hỏi của thầy đố các học sinh giỏi. Ấn tượng trước sự thông minh của Thành, người thầy đã soạn đưa cho cậu bé một số sách để tham khảo.

Giáo sư Trương Nguyện Thành kể lại:
“Năm 1979, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức kỳ thi toán toàn quốc. Thầy tôi có đem mười mấy cuốn sách cho tôi mượn, bảo tôi đọc cho biết rồi tới dự lớp thầy dạy cho các học sinh giỏi dự thi toán. Tôi rất cảm động trước nghĩa cử này. Mỗi tối sau giờ làm ruộng, tôi đốt đèn dầu đọc sách từ 9 giờ tới 12 giờ đêm. Thời điểm đó, ở Việt Nam, hạnh kiểm là vấn đề khá quan trọng. Hạnh kiểm tôi tương đối xấu nên cô hiệu trưởng không cho tôi đi thi học sinh giỏi toán. Ông thầy lén đưa tôi đi theo đội tuyển, may quá tôi thi đậu. Tỉnh Bình Dương lúc đó chọn khoảng 30-40 em học sinh giỏi toán lên trên tỉnh học chuyên toán trong 3 tháng. Sau 3 tháng, họ tuyển lại lấy 5 em. Tôi cũng may mắn lọt vào trong 5 em đó. Cũng vì thế, ba tôi nhận ra rằng tôi có tiềm năng. Từ lúc đó, ông khuyên tôi nên nghỉ đừng đi cày thêm mà tập trung học. Và từ đó, ông tìm cách cho tôi ra nước ngoài.”


hình minh họa

19 tuổi, sau khi thi đậu vào đại học Bách Khoa, chàng thanh niên Trương Nguyện Thành vượt biên sang Mỹ. Sau 1 năm ở trung học với những khó khăn bước đầu về ngôn ngữ, anh từ giã gia đình bảo trợ người Mỹ để bắt đầu cuộc sống tự lập ngay từ năm thứ nhất đại học. Để trang trải sinh hoạt phí trong thời đèn sách, phần đông các bạn trẻ ở đây thường phụ việc ở nhà hàng, tiệm giặt ủi, hay đi giao báo. Riêng trường hợp của Thành, anh tìm đến một người thầy và xin được theo chân làm việc trong phòng thí nghiệm để bắt đầu công việc nghiên cứu ngay từ năm đầu đại học, một công việc thường bắt đầu ở bậc cao học. Số tiền kiếm được đủ trang trải các khoản chi phí hết sức tiết kiệm hằng ngày. Còn học phí của anh chủ yếu nhờ các khoản vay từ nguồn quỹ dành cho sinh viên và các phần học bổng của chính phủ. Sau 4 năm đại học, anh ra trường với bằng cử nhân hóa học cùng với 4 văn bằng phụ về lý, toán, công nghệ thông tin, và thống kê.

Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ. Trong thời gian nghiên cứu hậu tiến sĩ, anh dành được học bổng của Qũy Khoa học Quốc gia dành cho các tiến sĩ trẻ có tiềm năng vì lúc tốt nghiệp tiến sĩ, anh đã có 16 bài nghiên cứu trong khi trung bình một tiến sĩ khi ra trường xuất bản chừng 4-5 bài nghiên cứu. Năm 1992, anh về làm Giáo sư hóa cho trường đại học Utah. Một năm sau, anh được chọn là 1 trong những nhà khoa học trẻ nhiều triển vọng của Hoa Kỳ, với giải thưởng 500 ngàn đô la cho công tác nghiên cứu. Năm 2002, anh được cấp bằng Giáo sư Cao cấp, tức bậc cao nhất trong 3 cấp Giáo sư của Mỹ.
Những yếu tố nào giúp một cậu bé lam lũ, nghèo khó từng bán thuốc lá dạo, cày thuê cuốc mướn ở đáy xã hội Việt Nam lột xác, đổi đời thành một nhà khoa học danh tiếng tại Mỹ?


hình minh họa

Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành cho biết:

“Người đó có tiềm năng trời phú. Thứ hai, có môi trường giúp họ phát triển. Thứ ba, người đó có nhận thức được rằng mình có cơ hội đó hay không.

Tiềm năng chỉ là khả năng, muốn đạt được thành công đòi hỏi phải có môi trường để phát triển. Môi trường không cho phép người đó phát triển, thì cũng không làm được. Điển hình là người Việt ở Mỹ hay ở nước ngoài thành công rất cao, thế nhưng tại sao ngay tại Việt Nam không có những ngôi sao như vậy?


Khi tôi bước chân vào trung học ở Mỹ, có một cậu vượt biên cũng giống trường hợp như tôi, đi một mình, được một gia đình Mỹ bảo lãnh. Cậu ta cũng ở gần nhà tôi. Khi tới Mỹ, tôi và cậu ấy có cùng một cơ hội như nhau. Tôi cố gắng hơn, tôi vào đại học. Còn cậu ta làm việc cho một hãng gà Tây, kiếm tiền liền. Một năm sau, tôi về lại làng thăm ba mẹ nuôi và ghé thăm thằng bạn. Công việc nó làm chỉ đứng móc ruột gà Tây thôi, chờ con gà chạy qua, đưa tay vào móc ruột gà ra. Nó khoe với tôi nó có được chiếc xe hơi. Còn tôi lúc đó vẫn chưa có gì. Sau 4 năm đại học, tôi trở về, anh bạn vẫn còn móc ruột gà Tây. Anh đã có được một căn hộ, có TV lớn, dàn máy xịn, xe hơi sports. Còn tôi vẫn chỉ một thùng sách quèn. Sau 5, 6 năm sau, tôi trở về, cậu bạn vẫn còn làm chỗ cũ nhưng cho biết phải đổi nghề vì đau nhức xương khớp tay do làm việc ở phòng lạnh. Lúc đó, tôi sắp ra tiến sĩ. Đó là cái điều kiện thứ 3 mà tôi muốn nói: người có tiềm năng, có môi trường, mà không nhận thức được cơ hội của mình và quyết tâm đạt được cơ hội đó. Thật sự, tôi không có xe hơi, không có bạn gái, không có tình phí, ở nội trú, ăn mì gói. Cho nên, chi phí tôi rất ít. Tôi làm việc trong phòng nghiên cứu chỉ đủ sống. Tôi ra đại học trong túi chỉ có 200 đô la, nợ nhà nước khoảng 15 ngàn đô la (mỗi năm khoảng 3-4 ngàn tiền học phí cộng với tiền phụ thêm để sống), cùng một thùng sách và một giỏ quần áo cũ.”

Thành công ở xứ người, Giáo sư Thành trở lại Việt Nam, giúp thành lập Viện Khoa học Công nghệ Tính toán TP.HCM bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2009. Vừa tiếp tục giảng dạy tại trường đại học Utah ở Mỹ, vừa giúp điều hành Viện nghiên cứu tại Việt Nam, Viện trưởng Trương Nguyện Thành nói về công việc của mình:

“Điều khiển một viện nghiên cứu từ xa rất khó. Cho nên, có một viện trưởng tại Việt Nam chuyên lo các vấn đề hằng ngày như làm việc với chính phủ, hợp đồng, hay mướn người. Còn tôi phụ trách chiến lược phát triển về khoa học, kêu gọi những người khác về giúp phát triển.”

Ngoài ra, cá nhân ông còn nhận bảo trợ cho các sinh viên giỏi từ Việt Nam sang Mỹ du học bằng chính nguồn quỹ nghiên cứu của ông. Đích thân Giáo sư Thành đứng ra phỏng vấn tuyển chọn người tài, và từ năm 2001 tới nay, ông đã tài trợ cho trên dưới 20 sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập, nghiên cứu. Trong số này có nhiều người đã trở về giúp ông phát triển Viện nghiên cứu tại Việt Nam.



hình minh họa


Tiến sĩ Trương Nguyện Thành tâm sự:

“Thời còn đi cày mướn, lời nguyền của tôi là nếu tôi thành công, tôi sẽ đem cơ hội đó cho lại những người khác. Đó là tâm nguyện của tôi lúc còn ở đáy xã hội Việt Nam. Tôi thường nói chuyện với học trò của tôi khi họ tới cảm ơn tôi đã cho họ cơ hội. Tôi bảo họ không cần cảm ơn tôi. Điều họ có thể trả ơn tôi là đem cơ hội đó cho một vài người khác. Chính vì vậy, một số đệ tử của tôi về lại Việt Nam, giúp tôi lập Viện. Tôi gieo những hạt giống và từ đó sẽ nhân thành những hạt giống khác. Một con én không làm nên nổi mùa xuân. Tôi chỉ là người mở đường. Những người khác bước chân theo, làm cho con đường rộng ra, nhẵn thêm, dễ đi hơn.”

Giáo sư Thành nói ai cũng mơ ước thành công, nhưng chỉ có những người chịu khó nỗ lực mới tới được đích đến:

“Tôi chỉ có một lời nhắn nhủ với các sinh viên ở Việt Nam rằng trên đời cái gì cũng có giá phải trả. Nếu muốn thành công, phải chấp nhận trả cái giá đó. Thành công là một con đường đi chứ không phải là một điểm đích. Tôi không nói tôi đã thành đạt điều gì, chỉ là một con đường mà khi quay lại tôi thấy tôi đã đi được rất xa rồi.”


Giáo sư Trương Nguyện Thành chụp tại Viện Khoa Học-Công Nghệ-Thông Tin ở Sài Gòn

Con đường thành công của Giáo sư -Tiến sĩ Trương Nguyện Thành trải qua bao nhiêu năm gian nan, thử thách. Cậu bé bần cùng, lam lũ ở Việt Nam qua đến Mỹ cũng đã nếm trải bao nhiêu những thiếu thốn, khó nhọc để có được vị trí đáng nể như ngày hôm nay. Đó là nhờ sự quyết tâm vượt khó vươn lên, sẵn sàng trả giá cho con đường đã chọn.

Một thiếu niên đạp xích lô ở Việt Nam trở thành khoa học gia nguyên tử ở Mỹ



Tiến sĩ Võ Tá Đức lúc ở trại tị nạn Bataan (Philippines) trước khi sang Mỹ định cư

Tiến sĩ Đức hiện công tác tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, một trong hai phòng thí nghiệm của Mỹ chuyên nghiên cứu chế tạo các loại võ khí nguyên tử và là một trong các viện nghiên cứu đa ngành lớn nhất thế giới. Cậu bé đạp xích lô ở Việt Nam ngày nào giờ đây đã góp công nghiên cứu sáng chế ra những máy móc, thiết bị dò tìm nguyên tử đang được ứng dụng để ngăn ngừa các hình thức vận chuyển nguyên tử bất hợp pháp vào biên giới Hoa Kỳ.

Là con trưởng trong gia đình 11 anh chị em, năm lên 14 tuổi, cậu bé Võ Tá Đức đã trở thành lao động chính trong nhà vì gia cảnh khó khăn. Ba cậu làm thợ nề, nhưng do bệnh tật nên bị mất sức lao động. Mẹ Đức tảo tần buôn bán lặt vặt chạy bữa qua ngày. Hằng ngày, sau giờ tan học, Đức ăn vội cơm trưa rồi cuốc chiếc xe xích lô rong ruổi khắp mọi góc phố ở Tuy Hòa để kiếm tiền phụ cha mẹ nuôi 14 miệng ăn trong gia đình.



hình minh họa


Tiến sĩ Đức nhớ lại:

‘Sau biến cố năm 1975, lúc đó tôi còn rất nhỏ đang học trung học, nhưng vì nhà nghèo quá, nên cũng phải phụ giúp gia đình. Sáng đi học, trưa về ăn cơm xong liền xách xích lô chạy. Đạp xích lô tới chiều tối. Ăn cơm tối xong lại lên xe đi tiếp. Tôi chỉ học buổi sáng, đạp xích lô từ trưa tới sáng hôm sau luôn. Tối đến tôi đậu xích lô ở bến xe ngủ. Hễ nghe tiếng xe đò tới thì tôi tỉnh dậy, chạy về nhà tắm rửa, thay quần áo đi học. Lúc đó tôi đâu có thời giờ học đâu, thỉnh thoảng khi rãnh, tôi ngồi trên xe xích lô lấy bài vở ra làm chút chút vậy thôi. Thời đó, tôi học rất dở vì không có giờ học.’

5 năm trời dầm mưa dãi nắng còng lưng trên chiếc xích lô đạp, việc học hành của Đức hoàn toàn sa sút, nên cậu đã không thi đại học. Tới năm 1981, ba Đức cố xoay sở tìm cách cho cậu theo một người bà con trong Nam đi vượt biên, và cũng từ đó, cuộc đời cậu bé đạp xích lô bước sang một ngã rẽ mới. Thời gian trong trại tị nạn chờ được một nước thứ ba cho đi định cư chính là giai đoạn bước ngoặt đối với Đức, khi chàng thanh niên lam lũ, cơ hàn quyết chí phải đổi đời, phải phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn.

Tiến sĩ Đức cho biết:
“Vượt biên qua tới trại tị nạn, tôi cảm thấy như vậy là từ đây mình có cơ hội đi học, phát triển. Ngay từ lúc đó, tôi đã quyết định phải cố gắng học hành cho thành tài. Còn hồi trước ở Việt Nam, tôi không dám có ước mơ đó vì đi đạp xích lô cả ngày, học hành sao được mà có ước mơ học cho thành công?”

Sau thời gian ở trại tị nạn, anh tới Mỹ và được một gia đình ở bang Iowa nhận làm con nuôi. Thành tích học tập của chàng trai nghèo từ Việt Nam bắt đầu tỏa sáng sau 1 năm rưỡi ở trường trung học Mỹ.

Thông thường sinh viên ở Mỹ khi vào đại học phải trả học phí. Ngoài một số ít sinh viên xuất sắc nhận được học bổng, đa số phải vay từ các nguồn quỹ hỗ trợ của chính phủ dành cho sinh viên. Thế nhưng, cậu bé đạp xích lô ở Tuy Hòa suốt thời gian đại học và cao học ở Mỹ không phải trả bất kỳ khoản tiền học phí nào, nhờ vào thành tích lao động trí óc cần cù. Năm học lớp 12, Đức đoạt giải nhất một kỳ thi khoa học cấp tiểu bang, mang lại cho cậu học trò nghèo học bổng toàn phần cho suốt 4 năm học ở khoa vật lý trường đại học Bắc Iowa. Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ chuyên ngành vật lý nguyên tử, và trong suốt thời gian cao học, anh liên tục nhận được các nguồn học bổng dành cho nghiên cứu sinh. Còn các khoản sinh hoạt phí khác anh trang trải từ thu nhập làm trợ giảng cho các vị giáo sư.


Tiến sĩ Đức cho biết những điều kiện học tập có được ở Mỹ đã khuyến khích ông thêm say mê học tập, nên ông đã không dừng lại ở tấm bằng đại học như dự định ban đầu:

‘Mình đi học ráng học cho lẹ, lấy thiệt nhiều lớp để mau ra trường lấy bằng đi làm kiếm tiền gửi về Việt Nam phụ gia đình. Nhưng tới lúc học gần xong đại học, tôi lại thấy sức mình vẫn còn đi học tiếp được. Cho nên năm cuối đại học, tôi lại nộp đơn xin vào cao học. Tôi thấy vấn đề học hành không khó lắm. Nếu mình chịu khó thì chuyện gì cũng vượt qua được hết. Mỹ là một nước tự do và có cơ hội để mọi người, ai có chí, thì có thể làm nên. Tôi nghĩ nếu không qua Mỹ mà còn ở Việt Nam thì giờ này chắc tôi cũng còn đạp xích lô, không có cơ hội để phát triển thành tài. Nghĩa là phải có cơ hội nào đó đưa đến cho người ta có dịp để phát triển tài năng. Đối với tôi, cơ hội đưa đến là được qua Mỹ để rồi được phát triển đầu óc. Ở Mỹ này tôi thấy nếu mình chịu khó học sẽ có cơ hội đưa cuộc sống mình đi lên. Còn ở Việt Nam, dù cũng có, nhưng cơ hội không đồng đều.’



Scientists at Los Alamos National Laboratory study nuclear explosions by using 3-D simulations

Ai có ngờ một nhà khoa học đang làm việc cho một phòng thí nghiệm nguyên tử nổi tiếng ở Mỹ xuất thân là một người đạp xích lô ở bến xe Tuy Hòa. Điều kỳ diệu ấy đã xảy ra đối với Tiến sĩ Võ Tá Đức thì cũng có thể xảy ra với các bạn, nhất là các bạn trẻ nghèo khó tại Việt Nam, nếu các bạn quyết tâm phấn đấu, cần cù chịu khó học tập để thay đổi số phận của mình.

Tiến sĩ Đức:‘Một thông điệp tôi muốn nói với các bạn trẻ ở Việt Nam, nhất là các bạn nghèo, rằng nếu có ý chí sẽ vượt qua được những khó khăn. Nếu các bạn chịu khó đặt một mục đích nào đó cho tương lai, cho cuộc sống của mình và ráng sống theo mục đích đó, thì sẽ thành công.’

Cùng với thông điệp của tiến sĩ Đức, Tạp chí Thanh Niên xin chúc các bạn thành công và luôn sẵn sàng giới thiệu câu chuyện thành công của các bạn với quý thính giả của đài VOA ở khắp nơi trên thế giới.

H.Phi chuyển

CHUYỆN CON KHỈ, CON BƯỚM VÀ ÔNG QUAN HIỂU RÕ ĐẠO LÝ (Văn Việt )

 Phạm Nguyên Trường

Chuyện con khỉ


Năm 1952, các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu hành vi của Macasa Fuscata, một giống khỉ ở đảo Koshima. Họ cho những chú khỉ ở đây những củ khoai lang khá ngon nhưng bám đầy cát. Một con khỉ cái 18 tháng tuổi phát hiện ra nó có thể dùng nước để rửa khoai. Sau đó nó “dạy” “chiêu” này cho mẹ của nó và những con khỉ khác cùng lứa với nó bắt chước làm theo. Một số ít những con khỉ lớn hơn cũng “tò mò” học theo và biết cách rửa sạch khoai để ăn. Mùa thu năm 1958, một vài điều khác lạ xảy ra. Một đám đông những con khỉ khác nữa cũng lại bắt chước theo và biết cách rửa khoai, ước chừng khoảng 99 con. Cho đến khi, một mức ngưỡng quan trọng xuất hiện. Con khỉ thứ 100 bắt đầu biết rửa khoai. Và từ lúc này, việc rửa khoai trước khi ăn đã lan ra những đảo khác mà không có giao tiếp, hoặc “chỉ dạy” nào giữa những chú khỉ ở đảo này với đảo kia. Việc rửa khoai đã trở thành một kỹ năng trong ý thức của bầy khỉ.

Sau đó TS Rupert Sheldrake (1942-), trong bài báo nhan đề Morphic Fields and Morphic Resonance (Những trường hình thái và cộng hưởng hình thái) (*) đưa ra nhận định chấn động như sau: “Mỗi cá thể vừa đồng thời sử dụng vừa đồng thời đóng góp cho trí nhớ tập thể của chủng loài. Điều này cho thấy các mô thức hành vi mới có thể lan truyền nhanh chóng hơn so với lẽ thường. Ví dụ, nếu một giống chuột nào đó học được một loại hành vi mới ở Harvard (Mỹ), thì những con chuột cùng giống trên khắp thế giới có khả năng sẽ học được cùng một loại hành vi đó nhanh hơn”.

Xuất hiện câu hỏi: Tại sao những con khỉ hay chuột cùng giống loài không nhìn thấy, không “học” đồng loại mà lại “biết” làm những hành động có lợi cho mình?

Hai cuốn sách Bằng chứng về Thiên đường của Eben Alexander (1953-) [Trần Trung Phúc Hạnh dịch, Nhã Nam phát hành] và Power vs. Force của David R. Hawkin (1927-2012) [Quế Chi – Hoàng Lan dịch, Thái Hà Book ấn hành] đều nói đại ý rằng tâm trí của chúng ta, tương tự như một cái Laptop câu thông với kho dữ liệu của cái máy tính khổng lồ của vũ trụ. Chỉ là do chúng ta luôn luôn bận bịu với những ý nghĩ chợt đến chợt đi bất tận của mình cho nên chúng ta không nhận được tín hiệu của cái máy tính khổng lồ với kho dữ liệu vô cùng vô tận kia mà thôi. Đấy có lẽ là lý do mà trong Bát chánh đạo của đạo Phật có Chánh niệm (Chú tâm vào giây phút hiện tại. Chánh niệm là ngưng hoạt động như máy lái tự động và tỉnh giác với bây giờ và ở đây), còn các nhà huyền môn như Osho, Eckhart Tolle, và các nhà sư như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ cũng đều nói đại ý: “dừng ý nghĩ/chuyện nhảm trong đầu”. Khi dừng được những ý nghĩ bất tận ở trong đầu có thể là lúc chúng ta không cho cái Laptop trong hộp sọ của mình tiếp quá trình “tìm kiếm siêu văn bản trong bộ nhớ của chính nó” và đấy là lúc nó có thể câu thông với cái máy tính vĩ đại của vũ trụ. Đức Phật hay Chúa Jesus đều Chứng ngộ/Mặc khải trong khi thiền định sâu, các thiền sư và các nhà huyền môn của tất cả các tôn giáo cũng đều nói tới những trải nghiệm huyền diệu không thể mô tả bằng lời trong khi thiền định.

Thực ra, các nhà huyền môn còn nói rằng con người vốn có bản sự như thế, nhưng do sau này quá dựa vào kĩ thuật nên chúng ta đã “bỏ quên” kho tàng kiến thức vô giá mà vũ trụ lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp cho chúng ta. Muốn tái lập thì phải thiền định.

Xin nói them rằng các loài kiến, chuột, chim thường tránh bão trước khi bão lụt xảy ra; trẻ con hiện nay biết sử dụng Iphone, Ipad, hay remote TV nhanh hơn người lớn và học chữ cũng nhanh hơn hẳn các thế hệ trước; hệ thống kinh lạc và huyệt đạo mà người xưa biết chắc chắn không phải do “nghiên cứu” mà tìm được.

Như vậy là, con khỉ không cần nói với đồng loại là ăn khoai sạch thì ngon hơn, cũng không cần dạy cho những con khỉ khác trên thế giới cách rửa khoai. Việc nó trở thành con khỉ biết rửa khoai là sự kiện vĩ đại của loài khỉ này trên khắp hoàn cầu. Con khỉ này có thể không biết lời giáo huấn của các nhà huyền môn từ cổ chí kim: “Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng lời nói hay việc làm mà đấy là hệ quả của con người mà chúng ta trở thành”, nói cách khác: “Hành bất ngôn cho giáo”.

Đa số nhân loại cũng không biết điều này. Bằng chứng là hàng ngày, hàng giờ biết bao nhiêu tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình trên khắp thế giới và bằng mọi thứ tiếng đang tìm cách tác động vào tâm trí con người và muốn nhân loại thay đổi theo ý những người nắm được các phương tiện đó. Từ khi có mạng xã hội thì hầu như tất cả mọi người đều tìm cách tác động lên nhau cũng với mục đích là làm cho những người kia thay đổi theo hướng tốt lên. Nhưng dường như chẳng có mấy hiệu quả. Vì, như ta thấy đạo đức xã hội ngày càng lao dốc, còn xã hội thì ngày càng hỗn loạn hơn. Hay là không có những người đủ sức làm gương hoặc là có mà do chúng ta quá bận bịu với Iphone, Ipad, với mốt nọ mốt kia… mà không nhìn thấy, không nhận ra họ?

Chuyện con bướm

Năm 1972, nhà khí tượng học và chuyên gia về lý thuyết hỗn độn Edward Norton Lorenz (1917-2008) trình bày trước American Association for the Advancement of Science (Hiệp hội phát triển khoa học Hoa Kỳ) bản tường trình với tựa đề Predictability: Does the Flap of a Butterfly’s Wings in Brazil Set off a Tornado in Texas? (Dự đoán: Liệu con bướm đập cánh ở Brasil có thể gây ra cơn lốc ở Texas?). Trước đó, năm 1961, trong khi mô phỏng một dự đoán về thời tiết trên máy tính, Lorenz đã lỡ nhập số liệu là 0,506 chứ không phải 0,506127 như dự định, và do đó, đã thu được kết quả dự đoán thời tiết hoàn toàn khác so với tính toán ban đầu. Xin lưu ý: đầu vào ở đây thay đổi rất nhỏ. Từ kết quả này Lorenz rút ra kết luận: thay đổi nhỏ của dữ liệu đầu vào dẫn đến thay đổi lớn của kết quả, ví dụ, con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc ở Texas, thậm chỉ ở tận Phần Lan. Người ta thường gọi là Con bướm của Lorenz hay Hiệu ứng cánh bướm.

Đây là lý do vì sao các nhà sư ngày xưa rất thận trọng trong lời nói hay việc làm, thậm chí cả ý nghĩ. Vì nói, ngay cả khi nói những điều tưởng là đúng, nhưng do trình độ học vấn, tâm tính, địa vị xã hội… mà người nghe có thể hiểu sai, người này lại có thể truyền đi theo cách hiểu của mình, làm cho “tam sao thất bản” thì nghiệp chướng quả thật là to lớn. Việc làm, hành động thì còn kinh khủng hơn nữa. Ngày xưa các nhà sư không nói rõ được, nhưng chắc chắn là họ đã cảm nhận được sự kiện “con bướm đập cánh ở Brazil có thể gây ra cơn lốc ở tận Phần Lan”.

Ông quan hiểu đạo lý (Cổ học tinh hoa tân biên)


Chuyện kể rằng, ngày xưa có một ông quan vô cùng công tâm và liêm khiết, chỉ làm theo luật và không bao giờ tơ hào một đồng một cắc nào của dân. Thế rồi, một ngày nọ, đã khá khuya, ông quan đang ngồi đọc sách thì có tiếng gõ cửa, nghe chừng gấp gáp. Ông đành bước ra mở cửa. Khách là một người trung niên, khệ nệ xách vào một va li căng phồng và một thanh gì đó, được bọc trong mấy tờ báo, mới trong đã biết là kim loại vì khá nặng.

Vị khách chắp tay cung kính nói:

- Thưa đại quan, xin ngài tha lỗi cho sự đường đột này vì kẻ hèn biết rằng chỉ gặp ngài vào lúc đêm khuya thanh vắng thì mới thưa được chuyện với ngài.

Rồi người khách hé mở va li và bóc một mảng nhỏ tờ báo bọc thanh kim loại. Hóa ra va li chứa toàn tiền 100 đôla, còn thanh kim loại là thỏi vàng vừa được lấy ra từ kho bạc của ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ.

Đợi một chút cho ông quan bình tĩnh lại, người khách tiếp tục nói:

- Thưa đại quan, xin ngài cho phép tôi đóng hết cửa sổ, cửa ra vào và tắt điện thoại của cả ngài và tôi thì tôi mới dám thưa chuyện.

Ông quan thấy người này khá kì quặc, nhưng cũng tắt điện thoại và bỏ lên bàn. Còn người khách thì đóng tất cả cửa sổ, cửa ra vào và cũng bỏ điện thoại lên cái bàn trước mặt.

Sau đó anh ta mới quỳ xuống và nói:

- Thưa đại quan, dân chúng tôi biết rằng ngài là một người vô cùng công chính và liêm khiết, ngài không nhận của ai bất cứ thứ gì. Nhưng hôm nay, xin ngài đèn giời soi xét, lúc này, đêm khuya thanh vắng, không có ai biết, xin ngài nhận cho chút lễ mọn này…

Ông quan thanh liêm sầm mặt lại và nói:

- Tuy là đêm khuya, các cửa đều đóng cả, nhưng có ông biết, tôi biết, Trời biết, Đất biết, sao lại bảo là không có ai biết?

Người khách còn cố vớt vát thêm một câu nữa:

- Sang năm ngài sẽ nghỉ hưu, mà tôi nhìn gia cảnh…

Nhưng ông quan thanh liêm của chúng ta dứt khoát xua tay, rồi mở cửa tiễn khách.

Có thể nhận thấy đạo lý của câu chuyện này:

1. Thứ nhất, ông quan trong truyện này biết rất rõ tâm lý của con người: Đã một lần nhận đút lót thì sẽ nhận thêm nhiều lần nữa, và sau đó thì tìm cách móc ngoặc để buộc người ta phải hối lộ. Đây là Tri Thức của người bình thường, ai cũng có thể biết.

Thứ hai, ông quan trong truyện này còn biết một Pháp Lý vô cùng quan trọng: Trời-Đất-Người (Thiên-Địa-Nhân) có liên hệ mật thiết và hữu cơ với nhau. Không chỉ hiện tượng của Trời và Đất có ảnh hưởng trực tiếp tới con người, mà con người, thông qua tư tưởng, lời nói, việc làm của mình cũng tạo ảnh hưởng đến cả Trời và Đất. Đây là kiến thức của người có Trí Huệ

Người xưa thường nói “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”, tức là con người nên cố gắng hết sức mà làm việc, cuối cùng thành công hay không thành công cũng đều là do ý Trời; thành công không được tự phụ, mà thất bại cũng chẳng cần đau khổ quá. Ngày xưa, sau khi làm xong một việc lớn nào đó, những người có Trí Huệ đều nói đấy là do Trời Đất, Thần Phật phù hộ; chỉ có người thời nay, với vài kiến thức lỗ mỗ, gọi là Tri Thức, học mót được từ khoa học thực chứng, mà chính những môn khoa học này cũng còn lỗ mỗ lắm, mới dám nhận xằng là tự mình làm được việc gì đó, mới dám “ngạo nghễ” trước Đất Trời.

Không còn tôn trọng quy luật Thiên-Địa-Nhân, tức là không còn quy phạm ước thúc hành vi của con người thì điều gì họ cũng dám làm, vì để thu được càng nhiều của cải vật chất hơn mà phá hủy môi trường sống tự nhiên, tranh giành lợi ích, như thế là đang làm nghịch với ý trời, làm nghịch với quan hệ Thiên-Địa-Nhân; kết quả chắc chắn sẽ là tai họa, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh chắc chắn là sẽ xảy ra, và sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Đấy là Nhân-Quả và Nghiệp Báo. Nhưng con người, do không hiểu biết lại bảo những tai họa như thế là hiện tượng tự nhiên. Thật đáng buồn thay!

Nguồn:  Ban đầu đăng thành ba kỳ trên FB Phạm Nguyên Trường, sau đưa toàn văn lên blog của tác giả. Xin xem: https://phamnguyentruong.blogspot.com/2021/08/chuyen-con-khi-con-buom-va-ong-quan.html

(*) Lý thuyết của Rupert Sheldrake được trình bày chi tiết trong hai cuốn sách: A New Science of Life: The Hypothesis of Morphic Resonance (Los Angeles, CA: J.P. Tarcher, 1981) và The Presence of the Past: Morphic Resonance and the Habits of Nature (New York, NY: Times Books, 1988). Đây là lý thuyết phi chính thống và do đó không được cộng đồng khoa học thừa nhận, thậm chí có người phê phán nặng nề. Tuy thế, Rupert Sheldrake có ảnh hưởng đáng kể: đến nay cuốn trước được dịch sang sáu thứ tiếng: Pháp (1985, 2003), Tây Ban Nha (1989), Đức (2008), Latvia (2012), Ba Lan (2013), Croatia (2015); còn cuốn sau ba thứ tiếng: Pháp (1988), Tây Ban Nha (1990, 2010), Bồ Đào Nha (1995). (Văn Việt)