Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn bs. Đặng quang Tâm. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn bs. Đặng quang Tâm. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

17 thg 3, 2022

LÀM SAO ĐỂ BIẾT MÌNH BỊ SUY TIM - BS.Đặng Quang Tâm


 

 Để hiểu bài viết này, bạn cần làm quen với những từ sau đây:
1-Số lượng máu tim bơm ra trong một phút. CO= Cardiac output. Trung bình CO=5.6 lít.
2-Số nhịp tim đập trong một phút. HR= Heart rate. Trung bình HR= 70 nhịp.
3-Lượng máu tim bơm ra mỗi nhịp. SV= Stroke Volume. Trung bình SV=80 mL.

Số lượng máu tim bơm ra trong một phút (CO) được tính bằng công thức CO=HRxSV.

Tim bắt đầu bị suy khi SV bắt đầu giảm.  Để giữ CO không thay đổi khi SV giảm, HR cần phải tăng. Thí dụ khi SV giảm còn 60 mL thì nhịp tim HR phải tăng từ 70 lên 94 để giữ CO= 5.6L. Nhưng khi tim đập nhanh quá, thời gian để máu từ trong phổi chảy về tim ngắn lại, kết quả là một phần máu sẽ còn đọng lại trong phổi. Trường hợp này cũng giống như phổi có nước. Người bịnh sẽ thở hào hển (shortness of breath) khi bắt đầu vận động (tim đập nhanh). Do đó, thở hào hển là dấu hiệu dùng để biết tim bạn bị suy.

Tiến trình tim bị suy đi qua 4 giai đoạn:


-giai đoạn 1: người bịnh không có bất kỳ dấu hiệu gì khi vận động .
-giai đoạn 2: người bịnh bắt đầu thở hào hển nếu vận động nhanh như chạy bộ, nhưng thở bình thường nếu đi bộ chậm.
-giai đoạn 3: người bịnh thở bình thường nếu nằm nghĩ, nhưng bắt đầu thở hào hển khi đi chừng 5 thước.
-giai đoạn 4: người bịnh thở hào hển dù nằm nghĩ trên giường.

Ngoài việc thở hào hển ra, những dấu hiệu sau đây cho biết tim đã bị suy:

- Chân bị phù ở mắc cá và bàn chân (do máu không trở về tim hết)
- Ho khan không có đàm, ho kinh niên (do máu đọng lại trong phổi)
- Khó ngũ, tim đập nhanh, bỏ nhịp hoặc đập loạn.
- Người lúc nào cũng uể oải, dễ bị xây xẩm (số lượng máu bơm lên đầu giảm)

Khi nền Y học còn thô sơ, muốn biết tim người bịnh bị suy hay không, ta dắt họ leo cầu thang. Nếu họ leo 60 bậc (khoảng 4 tầng lầu) trong 1 phút rưởi (90 giây) thì tim họ còn tốt. Trên 1 phút rưởi mà thở hào hển là tim có vấn đề.

Bây giờ thì người ta dùng Cardiac Stress Test. Trong test này, bạn sẽ đi bộ trên máy treadmill với vận tốc tăng từ từ để đo điện tâm đồ EKG, áp suất máu và nhịp đập của tim. Nếu trong lúc Test, bạn bị nhói ngực (angina), nhịp tim bị bỏ nhịp hoặc đập loạn, áp suất máu của bạn tăng quá cao, mạch máu nuôi tim của bạn có thể đã bị nghẹt. Muốn biết nghẹt bao nhiêu thì người ta sẽ làm CT scan của tim. Ngoài ra, người ta có thể làm Echo heart scan để đo SV hoặc đo hiệu quả của tim.

Muốn ngừa suy tim, ta nên:


-tập thể dục mỗi ngày, ít nhất 15-30 phút
-nếu bạn hút thuốc, uống bia rượu, bạn nên cố bỏ ngay, càng sớm càng tốt. Khói thuốc có chất làm mạch máu bị bóp nhỏ lại, áp suất máu tăng cao. Ai không tin, hảy đo áp suất máu trước và sau khi hút một điếu thuốc sẽ thấy chênh lệch có thể từ 10-20 mmHg tuỳ mạch máu của bạn đã bị nghẹt nhiều hay ít.
-ăn ít chất béo, thịt mỡ. Đặc biệt ăn phở. Tôi đã làm thí nghiệm với khá nhiều người. Tôi biểu họ đi ăn một tô phở, một tiếng đồng hồ sau, đến phòng mạch tôi lấy máu thử coi lượng Triglycerides (chất béo)(TGL) được bao nhiêu. Kết quả là lượng này thay đổi từ 900 đến 1000. TGL thường dưới 150.
-nếu trọng lượng của bạn trên mức lý tưởng (1) bạn nên cố gắng xuống ký. Vòng bụng càng to, xác suất chết bất đắc kỳ tử càng cao.
-chửa trị ngay từ lúc đầu những bịnh sau đây:

1-Áp huyết cao. Cố giữ SBP (2) áp suất dưới 140. Nếu bạn đang uống thuốc hạ áp suất, bạn phải uống suốt đời chứ không phải uống 3-4 ngày rồi ngưng. Càng lớn tuổi, áp suất càng cao, bạn phải đo áp suất của mình thường. Nếu lên cao quá, đặc biệt vào buổi chiều, bạn phải đi Bác Sĩ để người ta điều chỉnh độ thuốc.

2-Tiểu đường. Nên giữ độ đường trung bình HgbA1c dưới 6.5. Bớt ăn đồ ngọt. Có những thứ bạn nghĩ nó không ngọt nhưng đường rất cao, đó là cơm nếp, bia, rượu và mì gói. Nếu bạn bị tiểu đường, bạn nên tránh mấy thứ này.

3-Mở cao. Cố giữ Cholesterol dưới 200. Nếu bạn phải uống thuốc để giữ mức Cholesterol dưới 200, bạn phải uống suốt đời.

Khi tập thể dục, bạn nên mang đồng hồ có thể đo được nhịp đập của tim, hoặc mang pulse oxymeter tức là máy đo độ dưỡng khí trong máu. Máy này thường cũng đo luôn nhịp đập của tim. Hiện nay, loại máy này có bán trên Amazon khoảng từ 10-20 đô. Khi tim đập trên 150, nên tập chậm lại, cố gửi nhịp đập của tim ở mức mà tuổi mình cho phép. Dùng công thức này để tinh nhịp đập của tim: lấy 220-tuổi của mình. Thí dụ: 55 tuổi thì giử nhịp tim dưới 165, người 70 tuổi thì nên giữ nhịp tim dưới 145 (tốt nhất 120-135). Công thức này chỉ trúng nếu bạn không bị bịnh tim. Những người bị bịnh tim, đặc biệt bịnh Atrial Fibrillation AF, phải uống thuốc cho tim đập chậm, không nên để tìm đập trên 110, dù bất cứ tuổi nào.

Có rất nhiều ngườ xỉu hoặc chết vì tập thể dục quá sức. Khi tim đập trên 160-170, mà nếu có những bịnh “nền”, thì rất dể dẫn đến nhồi máu cơ tim (Heart Attack). Ngoài ra, lúc ta vận động, áp suất máu sẽ tăng, thường từ 160-200, nhưng nếu tăng trên 200, rất dể bị đột quỵ. Tóm lại, ta không nên chơi những môn thể thao đòi vận động cao như đánh tennis, chạy bộ nếu có bịnh tim hoặc áp suất cao. Rất nhiều người chết vì quên uống thuốc trước khi đi đánh tennis. Tôi có một bịnh nhân bị đột quỵ chỉ đi bộ. Hỏi kỷ lại thì hôm đó anh quên uống thuốc áp suất cao, hạ mở, tiểu đường. Cứ tưởng đi một chút về uống không sao. Kết cuộc anh bị đột quỵ, ngồi xe lăn 3 năm thì mất. Điều quan trọng cần nhớ ở đây là nên uống thuốc áp suất cao trước khi vận động.

Bác Sĩ ĐẶNG QUANG TÂM, MD

(1) CÁCH TÍNH TRỌNG LƯỢNG LÝ TƯỞNG

Có nhiều cách để tính trọng lượng lý tưởng. Cách đơn giản nhứt là 100 lbs + 5.5x số inches nhiều hơn 5 ft. Thí dụ, nếu cao 5 ft 3, thì trọng lượng lý tưởng sẽ là: 100+5.5x3=116-117lbs. Công thức sau đây của J. Hamwi tính ra kg.
Male: 48.0 kg + 2.7 kg per inch over 5 feet
Female: 45.5 kg + 2.2 kg per inch over 5 feet
Thí dụ: trường hợp phụ nữ cao 5ft3, thì trọng lượng lý tưởng sẽ là 45.5+2.2x3=52 kg.

(2) Ý NGHĨA CỦA ÁP SUẤT MÁU (BP Blood Pressure)


BP=SBP/DBP
-SBP (Systolic Blood Pressure) là tử số hoặc số đầu của máy đo áp huyết. Đây là áp suất trong động mạch máu lúc tìm bơm máu ra để nuôi cơ thể. SBP dưới 140 là tốt.
-DBP (Diastolic Blood Pressure) là mẩu số hoặc số thứ hai trên máy đo áp huyết. Đây là áp suất trong động mạch máu lúc tìm ngừng bơm để nhận máu từ phổi chảy về. DBP từ 80-90 là tốt.
-P (Pulse)là nhịp tim thường khoảng 69-73.


 

6 thg 7, 2021

XIN HỌC Y KHOA (1) Ở MỸ - Bs. ĐẶNG QUANG TÂM

Mời Đoc - Có Giống Hoc Y Khoa Ở  Nam VN trước 1975 không...?

XIN HỌC Y KHOA (1) Ở MỸ

Ở Mỹ, việc xin vô học Y Khoa không dễ như những nghành khác. Nội hồ sơ nộp đơn xin học thôi cũng đã rất phức tạp.  Ngoài điểm trung bình học bạ (GPA), giấy giới thiệu của trường, của thầy dạy, giấy chứng nhận làm thiện nguyện trong nhà thương, giấy làm việc cho Bác Sĩ đờ đầu, giấy chứng nhận làm nghiên cứu sinh, còn có điểm thi MCAT (Medical College Admission Test). Trong số giấy tờ nộp đơn này, điểm thi MCAT và GPA là hai điểm quan trọng nhứt. Vậy thì MCAT là cái gì?  MCAT là kỳ thi trên toàn nước Mỹ để xin vào học trường Y Khoa (2). Điểm thi MCAT là điểm chuẩn dùng để lọc hồ sơ nộp đơn. Trừ một số rất ít học sinh trung học quá xuất sắc được tuyển thẳng vào trường Y (3), 99.9% phải học ít nhất 2 năm dự bị Y Khoa, rồi mới đi thi MCAT.

Đây là cuộc thi không có chuyện đậu hay rớt. Vấn đề là thi được bao nhiêu điểm. Tuỳ số điểm thi MCAT mà trường Y sẽ gọi đi phỏng vấn. Rất ít người chỉ học 2 năm dự bị rồi đi thi MCAT, 99% học hết 4 năm mới dám đi thi. Trường Y không cần bạn tốt nghiệp 4 năm Đại Học. Tuy nhiên, nếu bạn tốt nghiệp Cử Nhân Toán, Triết, Văn Chương hoặc Kỹ Sư Điện, Hoá, Cơ Khí hay bất cứ bằng cấp 4 năm nào khác, đơn của bạn sẽ được cứu xét ưu tiên hơn. Nhưng nếu bạn có bằng 4 năm (BS )hoặc cao hơn (MS, PhD) (4), mà điểm thi MCAT của bạn thấp thì hồ sơ của bạn sẽ có số phận hẩm hiu. Điều kiện bắt buộc để nộp đơn vô học Y là bạn phải có 2 năm Dự Bị. Trong 2 năm đó, bạn phải học:

-2 lớp Vật Lý
-2 lớp Hoá Đại Cương (General Chemistry)
-2 lớp Hoá Hữu Cơ (Organic Chemistry)
-2 lớp Vạn Vật (Biology 1 &2) hoặc 2 lớp Sinh Hoá (Biochemistry)
-2 lớp Toán (Calculus 1&2)
-1 lớp Toán Xác Xuất
-2 lớp Anh Văn
-1 lớp Tâm lý Học (Psychology)
-1 lớp Xã hội Học (Sociology)
Tất cả những lớp này đều phải lấy ở trường Đại Học của Mỹ.

Bài thi MCAT có 4 phần. Điểm tối đa mỗi phần là 132. Như vậy, điểm lớn nhất của MCAT là 528. Điểm thấp nhất là 472. Điểm trung bình là 500. Dưới đây là 4 phần của bài thi MCAT:

1. Căn bản Vật Lý và Hoá Học (Chemical and Physical Foundations of Biological Systems)
2. Đọc và hiểu Anh Văn (Critical Anlysis and Reasoning Skills)
3. Vạn Vật và Sinh hoá (Biological and Biochemical Foundation of Living Systems)
4. Tâm Lý học, Xã Hội Học và Cách ứng xử trong Vạn Vật học (Psychological, Social, and Biological Foundations of Behavior).

Trong 2 phần, Vật Lý Hoá Học và Vạn Vật Sinh hoá, 1/4 câu hỏi là câu hỏi đơn, 3/4 là đoạn văn dài, mỗi đoạn có khoảng 3 câu hỏi. Câu hỏi đơn là câu hỏi trực tiếp (stand alone) về kiến thức, nếu bạn giỏi, bạn sẽ dể trả lời trúng. Do Covid 19, bài thi MCAT bị rút ngắn, họ bỏ tất cả các câu hỏi đơn. Tôi biết một thí sinh gốc Việt, có bằng MS of Med Science (5), thi MCAT trước COVID 19 được 506, nộp đơn chỉ được 1 trường kêu đi phỏng vấn, được xếp dự khuyết, nhưng không được kêu vô nhập học. Năm sau đi thi lại MCAT, vì không còn những câu hỏi đơn, chỉ thi được 502, phần Đọc và hiểu tiếng Anh giảm từ 125 xuống chỉ còn 123. Thê thảm.

Đối với những thành phần thiểu số cần được nâng đỡ (Mễ, Mỹ gốc đen và dân da đỏ bản xứ) hoặc gia cảnh nghèo khó chỉ cần 499 là được kêu đi phỏng vấn, những thành phần khác, điểm được kêu đi phỏng vấn phải trên 506 là ít nhất. Điểm trung bình để vào học Y thường khoảng 510. Những trường Y có tiếng ở Texas như Baylor hoặc UT Southwestern đòi ít nhất 514 mới hy vọng được kêu đi phỏng vấn.

Đây là cuộc thi rất khó. Cách đây 4-5 năm, tôi có đọc một bài viết của vị phụ huynh ở Cali, trong bài đó, vị này khoe đủ thứ về đứa con học trường chuyên của mình ở VN, cậu con này chỉ mới qua Mỹ 2 năm là đi thi MCAT. Cậu về nói với phụ huynh là bài thi MCAT rất dễ, chỉ cần học xong trung học ở VN là đủ sức đi thi. Cái đó tôi cho là nói chơi. 38 năm trước, tôi đã dại dột vác đầu đi thi MCAT, nên tôi biết nó khó lắm. Hồi đó, thi MCAT tốn 2 ngày, bây giờ rút ngắn lại chỉ còn 1 ngày. Thi xong, bảo đảm ai cũng mệt mỏi và chỉ muốn ... đi ngủ. ĐIểm thi MCAT mỗi năm mỗi cao hơn. Số người nộp đơn xin học tăng mỗi năm, gắp đôi so với 4 năm về trước. Có nhiều sinh viên phải bỏ ra từ 6 tháng đến một năm để “gạo”. Đủ biết chuyện thi MCAT sanh tử thế nào.

Tại sao bài thi MCAT khó? Đối với học trò sanh đẻ ở Mỹ, bài đọc và hiểu Anh Văn đã khó, học trò ngoại quốc thì phải nói trăm lần khó hơn. Đừng thấy người ta nói tiếng Anh như “bắp rang” rồi nghỉ là họ sẽ thi bài này được điểm cao. Trong giao tiếp hằng ngày, chỉ cần 200 chữ là ta có thể đủ sức “nổ” tiếng Anh, nhưng muốn thi MCAT phải cần ít nhứt 1500 chữ.  Học sinh ngoại quốc thi phần này được 123-124 là quá giỏi, nhưng 124 là điểm dưới trung bình, nếu bạn không thuộc thành phần cần được nâng đỡ, dưới điểm này, hồ sơ của bạn sẽ khó được cứu xét. Tiếng Mỹ gọi điểm này là điểm cut off. Học trò gốc Việt sanh đẻ ở Mỹ, thi phần đọc Anh Văn này phần lớn được từ  124-127(6). Nhưng đâu phải chỉ bài thi Đọc và hiểu Anh Văn là khó thôi đâu, những bài khác cũng rất khó. Đó là những đề thi dài cả trang giấy, nội chuyện đọc không thôi là đã nhức đầu rồi, đừng nói đến trả lời mấy câu hỏi sau đó. Bài thì về Tâm Lý, Xã Hội cũng vậy. Đó là những đoạn văn dài bàn về các vấn đề dính líu đến Tâm Lý, Xã Hội nhưng sau đó là những câu hỏi hóc búa về với các đồ biểu (graph). Tức là nó thuộc loại problem solving. Bạn cần phải có khả năng phân tích dữ kiện để xử lý nó. Không dễ trả lời 59 câu hỏi trong 95 phút nếu bạn phải đọc tới đọc lui để hiểu câu hỏi. Tóm lại, bài thi MCAT là bài thi đọc tiếng Anh, loại tiếng Anh rắc rối. Nó hoàn toàn khác hẳn với những bài thi ở trường bạn học, những câu hỏi trong bài thi này, ngoài chuyện bạn phải hiểu rất rõ câu hỏi, bạn phải biết phân tích rồi mới trả lời trúng được.

Ở Mỹ, đi học dự bị Y Khoa không có nghĩa là đi học Y Khoa.  Cứ 30 người đi học dự bị, sau hai năm sẽ chỉ còn 10 người là có gan tiếp tục theo đuổi, phần còn lại phải bỏ cuộc. Tại sao phải bỏ cuộc? Dễ hiểu thôi. Nếu bạn học toàn điểm B hoặc bị 1-2 con C của “cua” Hoá Hửu Cơ (Organic Chemistry) hoặc Sinh Hoá (Biochemistry) là bắt buộc bạn phải bỏ cuộc, vì 2 con C này đủ để đưa điểm trung bình GPA xuống dưới 3.7, mà dưới điểm này, đơn xin học của bạn ít khi được cứu xét. Sau kỳ thi MCAT, thì chỉ còn 2-3 người có điểm trên 504 để nộp đơn. Ít hơn điểm này, nếu bạn không thuộc thành phần thiếu số hoặc con nhà nghèo, bạn nên đi thi lại hoặc bỏ cuộc. Trong 2-3 người còn lại nộp đơn, chỉ 1 người là vô được Y Khoa. Ở tiểu bang Texas, mỗi năm có khoảng hơn 9000 người nộp đơn, nhưng chỉ nhận chừng 1650 người.  Vì điểm MCAT là điểm chuẩn trên toàn quốc nên nó là điểm trường Y đùng để lọc hồ sơ. Nếu điểm MCAT của bạn thấp hơn điểm tối thiểu mà trường Y bạn nộp đơn đặc ra, thí dụ 507, thì hồ sơ của bạn sẽ vô thùng rác (trash). Trên điểm 507, người ta sẽ coi thêm điểm GPA rồi mấy giấy giới thiệu để quyết định có nên kêu bạn đi phỏng vấn hay không (7).

Nếu bạn nhận được giấy trường Y mời bạn đi phỏng vấn, cơ hội bạn được nhận vô học Y Khoa tăng từ 0% lên 50%. Càng nhiều trường gọi bạn đi phỏng vấn, xác xuất được nhận càng tăng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp có người được 4 trường kêu đi phỏng vấn, nhưng chẳng có trường nào nhận. Mỗi một cuộc phỏng vấn sẽ dạy cho bạn kinh nghiệm để kỳ phỏng vấn tới bạn sẽ làm khá hơn. Hồi tôi đi phỏng vấn cách đây gần 40 năm, chỉ có 2 người phỏng vấn tôi. Bây giờ số người phỏng vấn có thể tăng lên 4 người hoặc hơn nữa, tuỳ trường. Cuộc phỏng vấn có thâu băng để hội đồng nhận sinh viên vô học xem lại nếu cần. Người Mỹ rất giỏi trong việc tìm kiếm nhân tài. Ở Mỹ, người ta vẫn nói học trò điểm C thường làm xếp của mấy anh điểm A. Người Á Đông mình cứ cho mấy anh học giỏi ở trường là số một, Tây Phương họ nghĩ khác. Giỏi không phải chỉ giỏi Toán Lý Hoá mà nó còn phải giỏi ở cách ăn nói, xử trí nhanh trong những hoàn cảnh khó khăn. Đây là cơ hội để bạn chứng tỏ cho trường Y, bạn là người xứng đáng được họ nhận vô học. Tôi sẽ không bàn về kỹ thuật trả lời phỏng vấn ở đây, vì nó là chuyện bạn phải tập luyện lâu ngày, mà cũng có thể nói, Trời có cho bạn khả năng để tập hay không.

Tóm lại, việc xin học Y Khoa ở Mỹ rất khó khăn, nó không dễ như có nhiều người nổ. Các phụ huynh không nên ép con mình nếu nó không có khả năng. Ở đời này, thiếu gì nghề khác cũng làm ra tiền, đâu cần phải học Y.

Bác Sĩ ĐẶNG QUANG TÂM, MD
Diplomate American Board of Anesthesiology


(1) Ở Mỹ có 2 loại trường Y: trường MD (Doctor of Medicine) và trường DO (Doctor of Osteopathic Medicine). Học trò tốt nghiệp ở 2 trường này điều đủ điều kiện để dự kỳ thi lấy bằng hành nghề Bác Sĩ ở Mỹ. Trường MD có lâu đời hơn, điều kiện xin vô học khó hơn trường DO. Cả hai điều học cùng một chương trình, nhưng trường DO còn phải học thêm 200 giờ OMM (Osteopathic Manual Medicine). Đây là phương pháp dùng tay để định bịnh, trị bịnh và ngừa bịnh. Hiện giờ, ở Mỹ có 154 trường MD và 38 trường DO.

(2) Nói rỏ hơn, dù bạn ở Cali hay New York, bạn sẽ thi cùng một bài thi, do dó điểm thi MCAT được dùng làm điểm chuẩn để so sánh. Trong khi đó, điểm GPA thay đổi tuỳ trường, tuỳ thầy dạy. Điểm GPA được nhận vào học trường Y càng ngày càng cao. Hiện giờ, ở những trường công trong tiểu bang Texas, điểm GPA của những bạn được nhận vào học là từ 3.8 trở lên.

(3) Nói là được nhận tuyển thẳng vô Y Khoa, nhưng những học sinh này cũng phải học 2 năm dự bị Y Khoa ở trường do trưởng Y chỉ định, phải thì MCAT và điểm MCAT phải trên 500 mới được chánh thức vô học năm thứ nhứt Y Khoa. Tóm lại, họ chỉ được bảo đảm vô trường Y mà thôi. Chứ không phải học xong Trung Học là đủ “sức” vô học Y Khoa ở Mỹ. Hiện giờ, chương trình loại này gần như đã chấm dứt, vì người ta rút kinh nghiệm: học giỏi ở Trung Học, chưa chắc học giỏi ở Đại Học.

(4) BS Cử Nhân
        MS Cao Học
        PhD Tiến Sĩ
Trong số những người nộp đơn xin học trường Y không ít người có bằng MS hoặc PhD.  Chuyện này thường thôi. Lớp tôi học có 6 người có bằng PhD, một người có bằng DDS (Nha Sĩ).

(5) MS of Med Science (MS=Master of Science) là chương trình hậu đại học, kéo dài 12-18 tháng, dành cho những ai không vô được trường Y. Ngoài một số giờ dạy luyện thi MCAT, phần còn lại học giống như chương trình năm thứ nhất của trường Y. Hiện giờ có vô số trường mở chương trình này vì nhu cầu xin học Y Khoa rất lớn.

(6) Đây là sự thật đau lòng. Muốn thi phần đọc Anh Văn này, bạn phải tập luyện từ thời còn học.... Trung Học. Nếu điểm thi SAT phần Anh Văn, ở Trung Học, của bạn không cao, nó là lời cảnh cáo quan trọng. Bạn phải đọc báo, sách để có thêm từ (vocabulary), phải biết cách nào để hiểu ý chánh của bài văn, để từ đó có thể đoán câu trả lời. Nếu cần bạn nên bỏ tiền ghi tên học những lớp dạy thêm. Phần lớn thí sinh mà Anh Văn không phải là tiếng mẹ đẻ, không học Trung Học ở Mỹ, thi bài Đọc và hiểu tiếng Anh chỉ được từ 120-121.

(7) Sau đây là 2 câu hỏi tiêu biểu cho ý chính của bài viết này. Nên nhớ bạn chỉ có 1 phút để trả lời 1 câu hỏi mà thôi.

1-Căn cứ theo bài viết này, tỷ số được dùng đề tính số sính viên còn lại sau 2 năm dự bị, sau kỳ thi MCAT và sau khi được nhận vào học trường Y là:
(A) 1/5
(B) 1/4
(C) 1/3
(D) 1/2

2-Điểm tối thiểu của bài thi Đọc và hiểu tiếng Anh để được trường Y cứu xét hồ sơ nộp đơn là
(A) 123
(B)  124
(C) 125
(D) 126

3-Theo tác giả bài viết, câu trả lời nào dưới đây sai về bài thi MCAT
(A) Phần thi đọc và hiểu tiếng Anh rất khó vì đòi hỏi nhiều từ (vocabulary) khó khăn
(B) Phần thi Vạn Vật, Hoá Học, Sinh Hoá và Vật Lý cũng là những bài thi đòi hỏi trình độ Anh Văn cao
(C) Phần thi Vạn Vật, Hoá Học, Sinh Hoá và Vật Lý đòi hỏi trình độ hiểu biết cao hơn chương trình dự bị Y Khoa
(D) Trong thời đại dịch Covid, bài thi MCAT bị rút ngắn và không còn những câu hỏi đơn (stand alone)

*Ảnh minh hoa từ dantri.com

Mời Xem : 1 Bài Viết của Đặng Quang Tâm :BỆNH ZỜi ĂN ( SHINGLES ) -
Ngoài ra BS.Tâm còn làm nhiều bài thơ,

13 thg 11, 2021

XIN HỌC Y KHOA Ở MỸ - Bác Sĩ Đặng Quang Tâm

 XIN HỌC Y KHOA Ở MỸ
Tác Giả: Bác Sĩ Đặng Quang Tâm


Ở Mỹ có 2 loại trường Y: trường MD (Doctor of Medicine) và trường DO (Doctor of Osteopathic Medicine). Học trò tốt nghiệp ở 2 trường này điều đủ điều kiện để dự kỳ thi lấy bằng hành nghề Bác Sĩ(BS) ở Mỹ (1). Trường MD có lâu đời hơn, điều kiện xin vô học khó hơn trường DO. Cả hai điều học cùng một chương trình, kéo dài 4 năm, nhưng trường DO còn phải học thêm 200 giờ OMM (Osteopathic Manual Medicine). Đây là phương pháp dùng tay để định bịnh, trị bịnh và ngừa bịnh. Hiện giờ, ở Mỹ có 154 trường MD và 38 trường DO. Năm 2020, trường MD có 20,387 người tốt nghiệp MD, trường DO có 7,448 người tốt nghiệp DO.

Việc xin vô học Y Khoa không dễ như những ngành khác. Nội hồ sơ nộp đơn xin học thôi cũng đã rất phức tạp. Ngoài điểm trung bình học bạ (GPA), giấy tự giới thiệu của mình (personal statement), giấy giới thiệu của trường, của thầy dạy, giấy chứng nhận làm thiện nguyện trong nhà thương, giấy làm việc cho Bác Sĩ đở đầu, giấy chứng nhận làm nghiên cứu sinh, còn có điểm thi MCAT (Medical College Admission Test). Trong số giấy tờ nộp đơn này, điểm thi MCAT, GPA và giấy tự giới thiệu của bạn (personal statements) là quan trọng nhứt. Trong giấy tự giới thiệu, bạn phải giải thích lý do bạn muốn trở thành BS và tại sao trường sẽ chọn bạn thay vì những thí sinh khác. Trong ba giấy tờ nộp đơn đó, điểm thi MCAT là quan trọng nhất. Vậy thì MCAT là cái gì? MCAT là kỳ thi trên toàn nước Mỹ để xin vào học trường Y Khoa (2). Điểm thi MCAT là điểm chuẩn dùng để lọc hồ sơ nộp đơn. Trừ một số rất ít học sinh trung học quá xuất sắc được tuyển thẳng vào trường Y (3), 99.9% phải học ít nhất 2 năm dự bị Y Khoa, rồi mới đi thi MCAT.

Đây là cuộc thi không có chuyện đậu hay rớt. Vấn đề là thi được bao nhiêu điểm. Tuỳ số điểm thi MCAT mà trường Y sẽ gọi đi phỏng vấn. Rất ít người chỉ học 2 năm dự bị rồi đi thi MCAT, 99% học hết 4 năm mới dám đi thi. Trường Y không cần bạn tốt nghiệp 4 năm Đại Học. Tuy nhiên, nếu bạn tốt nghiệp Cử Nhân Toán, Triết, Văn Chương hoặc Kỹ Sư Điện, Hoá, Cơ Khí hay bất cứ bằng cấp 4 năm nào khác, đơn của bạn sẽ được cứu xét ưu tiên hơn. Nhưng nếu bạn có bằng 4 năm (BS )hoặc cao hơn (MS, PhD) (4), mà điểm thi MCAT của bạn thấp thì hồ sơ của bạn sẽ có số phận hẩm hiu. Điều kiện bắt buộc để nộp đơn vô học Y là bạn phải có 2 năm Dự Bị. Trong 2 năm đó, bạn phải học:

-2 lớp Vật Lý
-2 lớp Hoá Đại Cương (General Chemistry)
-2 lớp Hoá Hữu Cơ (Organic Chemistry)
-2 lớp Vạn Vật (Biology 1 &2) hoặc 2 lớp Sinh Hoá (Biochemistry)
-2 lớp Toán (Calculus 1&2)
-1 lớp Toán Xác Xuất
-2 lớp Anh Văn
-1 lớp Tâm lý Học (Psychology)
-1 lớp Xã hội Học (Sociology)
Tất cả những lớp này đều phải lấy ở trường Đại Học của Mỹ. Trường Y không nhận những tín chỉ dự bị Y Khoa lấy ở các trường ngoài nước Mỹ, dù bạn có bằng MS hoặc Ph D ở trường Mỹ. Nói rõ hơn, bạn phải lấy lại phần lớn những cua căn bản như Vật Lý, Hoá Học, Vạn Vật và Sinh Hoá ở trường Mỹ.

Bài thi MCAT có 4 phần. Điểm tối đa mỗi phần là 132, thấp nhứt là 118. Như vậy, điểm lớn nhất của MCAT là 528. Điểm thấp nhất là 472. Điểm trung bình của thí sinh là 500. Điểm trung bình để vào học trường MD là 510, trường DO là 506. Cộng 4 và trừ 4 vào điểm trung bình cho ta điểm tối đa và tối thiểu MCAT của 80% sinh viên được chọn vào học. Số 4 này được tính từ công thức: 80% diện tích của Bell shape =1.285xđộ lệch chuẩn (standard of deviation), trong trường hợp này, độ lệch chuẩn trung bình của MCAT từ 2016-2020 là 3. Như vậy 1.285x3 gần bằng 4, tính như là 4 đi. Điểm tối thiểu là điểm trường dùng để lọc hồ sơ. Dưới điểm này khó được trường cứu xét hồ sơ.
Sau đây là 4 phần của bài thi MCAT:

1. Căn bản Vật Lý và Hoá Học (Chemical and Physical Foundations of Biological Systems)
2. Đọc và hiểu Anh Văn (Critical Anlysis and Reasoning Skills)
3. Vạn Vật và Sinh hoá (Biological and Biochemical Foundation of Living Systems)
4. Tâm Lý học, Xã Hội Học và Cách ứng xử trong Vạn Vật học (Psychological, Social, and Biological Foundations of Behavior).

Trong 2 phần, Vật Lý Hoá Học và Vạn Vật Sinh hoá, 1/4 câu hỏi là câu hỏi đơn, 3/4 là đoạn văn dài, mỗi đoạn có khoảng 3 câu hỏi. Câu hỏi đơn là câu hỏi trực tiếp (stand alone) về kiến thức, nếu bạn giỏi, bạn sẽ dể trả lời trúng. Do Covid 19, bài thi MCAT bị rút ngắn, họ bỏ tất cả các câu hỏi đơn. Tôi biết một thí sinh gốc Việt, có bằng MS of Med Science (4), thi MCAT trước COVID 19 được 506, nộp đơn chỉ được 1 trường kêu đi phỏng vấn, được xếp dự khuyết, nhưng không được kêu vô nhập học. Năm sau đi thi lại MCAT, vì không còn những câu hỏi đơn, chỉ thi được 502, phần Đọc và hiểu tiếng Anh giảm từ 125 xuống chỉ còn 123. Thê thảm.

Đối với những thành phần thiểu số cần được nâng đỡ (Mễ, Mỹ gốc đen và dân da đỏ bản xứ) hoặc gia cảnh nghèo khó chỉ cần 499 là được kêu đi phỏng vấn, những thành phần khác, điểm được kêu đi phỏng vấn phải trên 506 là ít nhất. Điểm trung bình để vào học Y MD thường khoảng 510. Những trường Y MD có tiếng ở Texas như Baylor hoặc UT Southwestern điểm trung bình là 514, điểm tối thiểu được họ kêu đi phỏng vấn là 510.

Đây là cuộc thi rất khó. Cách đây 4-5 năm, tôi có đọc một bài viết của vị phụ huynh ở Cali, trong bài đó, vị này khoe đủ thứ về đứa con học trường chuyên của mình ở VN, cậu con này chỉ mới qua Mỹ 2 năm là đi thi MCAT. Cậu về nói với phụ huynh là bài thi MCAT rất dễ, chỉ cần học xong trung học ở VN là đủ sức đi thi. Cái đó tôi cho là nói chơi. 38 năm trước, tôi đã dại dột vác đầu đi thi MCAT, nên tôi biết nó khó lắm. Hồi đó, thi MCAT tốn 2 ngày, bây giờ rút ngắn lại chỉ còn 1 ngày. Thi xong, bảo đảm ai cũng mệt mỏi và chỉ muốn ... đi ngủ. ĐIểm thi MCAT mỗi năm mỗi cao hơn. Số người nộp đơn xin học tăng mỗi năm, gắp đôi so với 4 năm về trước. Có nhiều sinh viên phải bỏ ra từ 6 tháng đến một năm để “gạo”. Đủ biết chuyện thi MCAT sanh tử thế nào.

Tại sao bài thi MCAT khó? Đối với học trò sanh đẻ ở Mỹ, bài đọc và hiểu Anh Văn đã khó, học trò ngoại quốc thì phải nói trăm lần khó hơn. Đừng thấy người ta nói tiếng Anh như “bắp rang” rồi nghỉ là họ sẽ thi bài này được điểm cao. Trong giao tiếp hằng ngày, chỉ cần 200 chữ là ta có thể đủ sức “nổ” tiếng Anh, nhưng muốn thi MCAT phải cần ít nhứt 1500 chữ. Học sinh ngoại quốc thi phần này được 123-124 là quá giỏi, nhưng 124 là điểm dưới trung bình, nếu bạn không thuộc thành phần cần được nâng đỡ, dưới điểm này, hồ sơ của bạn sẽ khó được cứu xét. Tiếng Mỹ gọi điểm này là điểm cut off. Học trò gốc Việt sanh đẻ ở Mỹ, thi phần đọc Anh Văn này phần lớn được từ 124-127(6). Nhưng đâu phải chỉ bài thi Đọc và hiểu Anh Văn là khó thôi đâu, những bài khác cũng rất khó. Đó là những đề thi dài cả trang giấy, nội chuyện đọc không thôi là đã nhức đầu rồi, đừng nói đến trả lời mấy câu hỏi sau đó. Bài thì về Tâm Lý, Xã Hội cũng vậy. Đó là những đoạn văn dài bàn về các vấn đề dính líu đến Tâm Lý, Xã Hội nhưng sau đó là những câu hỏi hóc búa về các đồ biểu (graph) trong đoạn văn. Tức là nó thuộc loại problem solving. Bạn cần phải có khả năng phân tích dữ kiện để xử lý nó. Không dễ trả lời 59 câu hỏi trong 95 phút nếu bạn phải đọc tới đọc lui để hiểu câu hỏi. Tóm lại, bài thi MCAT là bài thi đọc tiếng Anh, loại tiếng Anh rắc rối. Nó hoàn toàn khác hẳn với những bài thi ở trường bạn học, những câu hỏi trong bài thi này, ngoài chuyện bạn phải hiểu rất rõ câu hỏi, bạn phải biết phân tích rồi mới trả lời trúng được.

Ở Mỹ, đi học dự bị Y Khoa không có nghĩa là đi học Y Khoa. Cứ 30 người đi học dự bị, sau hai năm sẽ chỉ còn 10 người là có gan tiếp tục theo đuổi, phần còn lại phải bỏ cuộc. Tại sao phải bỏ cuộc? Dễ hiểu thôi. Nếu bạn học toàn điểm B hoặc bị 1-2 con C của “cua” Hoá Hửu Cơ (Organic Chemistry) hoặc Sinh Hoá (Biochemistry) là bắt buộc bạn phải bỏ cuộc, vì 2 con C này đủ để đưa điểm trung bình GPA xuống dưới 3.7, mà dưới điểm này, đơn xin học của bạn ít khi được cứu xét. Sau kỳ thi MCAT, thì chỉ còn 2-3 người có điểm trên 504 để nộp đơn. Ít hơn điểm này, nếu bạn không thuộc thành phần thiếu số hoặc con nhà nghèo, bạn nên đi thi lại hoặc bỏ cuộc. Trong 2-3 người còn lại nộp đơn, chỉ 1 người là vô được Y Khoa. Ở tiểu bang Texas, mỗi năm có khoảng hơn 9000 người nộp đơn, nhưng chỉ nhận chừng 1650 người. Vì điểm MCAT là điểm chuẩn trên toàn quốc nên nó là điểm trường Y dùng để lọc hồ sơ. Nếu điểm MCAT của bạn thấp hơn điểm tối thiểu mà trường Y bạn nộp đơn đặc ra, thí dụ 506, thì hồ sơ của bạn sẽ vô thùng rác (trash). Trên điểm 506, người ta sẽ coi thêm điểm GPA rồi mấy giấy giới thiệu, đặc biệt giấy tự giới thiệu của bạn (personal statement), để quyết định có nên kêu bạn đi phỏng vấn hay không. Trong giấy tự giới thiệu của bạn, bạn phải giải thích lý do bạn muốn trở thành BS và tại sao trường Y sẽ chọn bạn thay vì các thí sinh khác. Bạn phải đọc kỹ phần mục tiêu của trường(missions statement) để viết sao cho phù hợp với mục tiêu của họ. Sau điểm MCAT, giấy tự giới thiệu của bạn ảnh hưởng rất lớn trong quyết định trường Y có gọi bạn đi phỏng vấn hay không.

Nếu bạn nhận được giấy trường Y mời bạn đi phỏng vấn, cơ hội bạn được nhận vô học Y Khoa tăng từ 0% lên 50%. Càng nhiều trường gọi bạn đi phỏng vấn, xác xuất được nhận càng tăng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp có người được 4 trường kêu đi phỏng vấn, nhưng chẳng có trường nào nhận. Mỗi một cuộc phỏng vấn sẽ dạy cho bạn kinh nghiệm để kỳ phỏng vấn tới bạn sẽ làm khá hơn. Hồi tôi đi phỏng vấn cách đây gần 40 năm, chỉ có 2 người phỏng vấn tôi. Bây giờ số người phỏng vấn có thể tăng lên 4 người hoặc hơn nữa, tuỳ trường. Cuộc phỏng vấn có thâu băng để hội đồng nhận sinh viên vô học xem lại nếu cần. Đây là cơ hội để trường Y sẽ chọn bạn thay vì chọn thí sinh khác khi cả hai có cùng điểm MCAT, cùng GPA. Tài ăn nói, cách giao tế của bạn sẽ rất quan trọng trong cuộc phỏng vấn này. Người Mỹ rất giỏi trong việc tìm kiếm nhân tài. Ở Mỹ, người ta vẫn nói học trò điểm C thường làm xếp của mấy anh điểm A. Người Á Đông mình cứ cho mấy anh học giỏi ở trường là số một, Tây Phương họ nghĩ khác. Giỏi không phải chỉ giỏi Toán Lý Hoá mà nó còn phải giỏi ở cách ăn nói, giao tế hằng ngày và nhất là cách bạn xử trí nhanh trong những hoàn cảnh khó khăn. Nên nhớ rằng ở bất cứ xã hội nào, ngoài chuyện may mắn ra,tài ăn nói và nghệ thuật giao tế vẫn là hai chìa khoá giúp bạn thành công trên đường đời. Đây là cơ hội duy nhất để bạn chứng tỏ cho trường Y, bạn là người xứng đáng được họ nhận vô học. Tôi biết có thí sinh điểm MCAT 510, được 4 trường Y kêu đi phỏng vấn nhưng chẳng có trường nào nhận vô học. Sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc, những người phỏng vấn bạn sẽ ngồi xuống quyết định có nên nhận bạn vào học hay không. Do đó, cuộc phỏng vấn này rất quan trọng. Tôi sẽ không bàn về kỹ thuật trả lời phỏng vấn ở đây, vì nó là chuyện bạn phải tập luyện lâu ngày, mà cũng có thể nói, Trời có cho bạn khả năng để tập hay không.

Tóm lại, việc xin học Y Khoa ở Mỹ rất khó khăn, nó không dễ như có nhiều người nổ. Điểm thi MCAT rất quan trọng. Muốn có điểm cao, bạn nên cố gắng học thêm tiếng Anh ngay từ thời Trung Học. Rèn luyện mỗi ngày để có thêm từ mới. MCAT là bài thi đọc và hiểu tiếng Anh. Không giỏi tiếng Anh không thể nào có điểm cao được. Điều quan trọng là cố gắng hết sức mình. Không bỏ cuộc. Các phụ huynh không nên ép con mình nếu nó không có khả năng. Ở đời này, thiếu gì nghề khác cũng làm ra tiền, đâu cần phải học Y.

Bác Sĩ ĐẶNG QUANG TÂM, MD
Diplomate American Board of Anesthesiology


(1) Muốn có bằng hành nghề BS ở Mỹ, bạn phải qua 4 giai đoạn:

(a) thi bước 1 của USLME (US License Medical Exam) sau khi học xong năm thứ 2 trường Y. Bài thi này chỉ có đậu hoặc rớt, chứ không có điểm số.
 

(b) thi bước 2 của USLME, phần bịnh lý (Clinical knowledge) sau khi xong năm thứ 3. Bài thi này rất quan trọng trong việc nộp đơn xin làm nội trú. Điểm bước 2 càng cao thì cơ hội bạn xin vô được nghành chuyên môn tốt càng nhiều hơn. Hai kỳ thi bước 1 và 2 này tốn $940 cho mỗi kỳ thi.
 

(c) thi bước 3 của USLME, phần định bịnh (Clinical Skill) sau khi làm xong một năm nội trú ở nhà thương, nghành chuyên môn nào cũng được, miễn là xong một năm. Kỳ thi này tốn $1,580.


(d) sau khi đã đậu 3 kỳ thi trên, bạn phải thi luật hành nghề BS ở tiểu bang bạn muốn hành nghề (Medical Jurisdiction Test)

Ở tiểu bang Texas, bài thi này tốn $34. Nếu bạn học trường DO, bạn có 2 chọn lựa. Hoặc thi USMLE như học trò MD, hoặc thi COMPLEX dành riêng cho học trò trường DO. Kỳ thi này cũng có 3 bước như USMLE. Mỗi bước của USMLE  hoặc của COMPLEX bạn được thi tổng cộng 3 lần, nếu bạn rớt cả ba lần, bạn không được đi thi nữa. Nếu đó là bước 1 hoặc bước 2 của USMLE hay của COMPLEX, trường Y sẽ không cho bạn tiếp tục học nữa, còn nếu là bước 3 thì nhà thương bạn đi làm nội trú sẽ cho bạn nghỉ việc. Bằng BS của bạn chỉ dùng đi dạy học chứ không hành nghề BS được.

Đậu xong 4 bước này bạn mới xin được giấy hành nghề BS. So với kỳ thì MCAT thì kỳ thi USLME tương đối dễ hơn, những câu hỏi thường là những câu mà tối thiểu một người BS cần phải biết, trong khi MCAT, bạn phải suy nghĩ để đoán câu trả lời. Tóm lại, bài thi USLME giống như bài thi bạn học ở trường Y, bạn hiểu rõ vấn đề là bạn trả lời trúng, không cần phải phân tích, suy đoán như bài thi MCAT.

(2) Nói rỏ hơn, dù bạn ở Cali hay New York, bạn sẽ thi cùng một bài thi, do dó điểm thi MCAT được dùng làm điểm chuẩn để so sánh. Trong khi đó, điểm GPA thay đổi tuỳ trường, tuỳ thầy dạy. Điểm GPA được nhận vào học trường Y càng ngày càng cao. Hiện giờ, ở những trường công trong tiểu bang Texas, điểm GPA của những bạn được nhận vào học là từ 3.8/4.0 trở lên. Ở Mỹ người ta tính điểm bài thi thế này:
*90-100 điểm A=4.0
*80-90 điểm B=3.0
*70-80 điểm C=2.0
*60-70 điểm D=1.0
Dưới 60 điểm F(rớt)

(3) Nói là được nhận tuyển thẳng vô Y Khoa, nhưng những học sinh này cũng phải học 2 năm dự bị Y Khoa ở trường do trường Y chỉ định, phải thi MCAT và điểm MCAT phải trên 500 mới được chánh thức vô học năm thứ nhứt Y Khoa. Tóm lại, họ chỉ được bảo đảm vô trường Y mà thôi. Chứ không phải học xong Trung Học là đủ “sức” vô học Y Khoa ở Mỹ. Hiện giờ, chương trình loại này gần như đã chấm dứt, vì người ta rút kinh nghiệm: học giỏi ở Trung Học, chưa chắc học giỏi ở Đại Học.

(4) BS Cử Nhân
MS Cao Học
PhD Tiến Sĩ
Trong số những người nộp đơn xin học trường Y không ít người có bằng MS hoặc PhD. Chuyện này thường thôi. Lớp tôi học có 6 người có bằng PhD, một người có bằng DDS (Nha Sĩ).

(5) MS of Med Science (MS=Master of Science) là chương trình hậu đại học, kéo dài 12-18 tháng, dành cho những ai không vô được trường Y. Ngoài một số giờ dạy luyện thi MCAT, phần còn lại học giống như chương trình năm thứ nhất của trường Y. Hiện giờ có vô số trường mở chương trình này vì nhu cầu xin học Y Khoa rất lớn.

(6) Đây là sự thật đau lòng. Muốn thi phần đọc Anh Văn này, bạn phải tập luyện từ thời còn học.... Trung Học. Nếu điểm thi SAT phần Anh Văn, ở Trung Học, của bạn không cao, nó là lời cảnh cáo quan trọng. SAT là bài thi để xin học Đại Học, học trò lớp 11 phải thi lúc tựu trường khoảng 1 tháng. Bạn phải đọc báo, sách để có thêm từ (vocabulary), phải biết cách nào để hiểu ý chánh của bài văn, để từ đó có thể đoán câu trả lời. Nếu cần bạn nên bỏ tiền ghi tên học những lớp dạy thêm. Phần lớn thí sinh mà Anh Văn không phải là tiếng mẹ đẻ, không học Trung Học ở Mỹ, thi bài Đọc và hiểu tiếng Anh chỉ được từ 120-121.

(7) Sau đây là 3 câu hỏi tiêu biểu cho ý chính của bài viết này. Nên nhớ bạn chỉ có 1 phút để trả lời 1 câu hỏi mà thôi.

1-Căn cứ theo bài viết này, tỷ số được dùng đề tính số sính viên còn lại sau 2 năm dự bị, sau kỳ thi MCAT và sau khi được nhận vào học trường Y là:
(A) 1/5
(B) 1/4
(C) 1/3
(D) 1/2

2-Điểm tối thiểu của bài thi Đọc và hiểu tiếng Anh để được trường Y cứu xét hồ sơ nộp đơn là
(A) 123
(B) 124
(C) 125
(D) 126

3-Theo tác giả bài viết, câu trả lời nào dưới đây SAI về bài thi MCAT
(A) Phần thi đọc và hiểu tiếng Anh rất khó cho thí sinh mà tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ dù họ sinh đẻ ở Mỹ
(B) Phần thi Vạn Vật, Hoá Học, Sinh Hoá và Vật Lý cũng là những bài thi đòi hỏi trình độ Anh Văn cao
(C) Phần thi Vạn Vật, Hoá Học, Sinh Hoá và Vật Lý đòi hỏi trình độ hiểu biết cao hơn chương trình dự bị Y Khoa
(D) Phần thi Tâm lý và Xã Hội không đòi hỏi bạn phải có trình độ chuyên môn cao về 2 môn này
(E) Chẳng có câu nào SAI cả

TB: Tôi viết bài này cuối năm 2019 đầu 2020, nên có nhiều chi tiết đã thay đổi do điểm MCAT càng ngày càng cao. Năm nay, 2021, điểm trung bình MCAT để vào học trường MD ở Texas, đã không còn 510 nữa. Có nhiều thí sinh tôi biết, 510 cũng chỉ được 1-2 trường kêu đi phỏng vấn, nhưng chẳng có trường nào nhận vô. Điểm tối thiểu của JAME students, tức là những người thuộc diện cần giúp đỡ cũng tăng từ 499 lên 502. Điều này cho biết việc xin học BS ở Mỹ càng ngày càng khó khăn hơn.

23 thg 12, 2015

Ký Ức Về SPSG - Phạm Hòa (K.2-SPSG)

Nơi gợi nhớ và chia sẽ những tình cảm trong veo của một thời áo trắng 



                         Dãy lớp học phía gần cổng SPSG -1963

Chúng tôi đã từng học tại SPSG cách nay  gần 50 năm.
Sau khi tốt nghiệp nhiều người đã tự học để tiến xa hơn mục đích được đào tạo ban đầu là giáo học bổ túc(,là GV dạy lớp cao nhất bậc tiểu học)
Trường Sư pham Sai gòn là nấc thang đầu tiên,vững chắc để các bạn có được sức mạnh để theo nghề""gõ đầu trẻ""với lương tâm và trách nhiệm của 1 thầy ,cô giáo chân chính.
Chúng tôi viết trang tên tuổi  Thầy  Cô đã từng giảng dạy trong 2 năm học từ 1963-1965 như một  Tri ân thầy cô còn sống và tưởng nhớ đến các Thầy Cô đã khuất núi.
Danh sách nầy không có các Thầy Cô phụ trách văn phòng vì những hạn chế bởi thời gian  và thông tin thời đó.
Hiệu Trưởng :Trương Hữu Tước,năm 1964 thầy về hưu và thay thê là thầy Trần Hữu Văn
Giám học : T.Nguyễn Quý Bổng,thầy nầy còn phụ trách môn:Những vấn đề giáo dục.
Tổng giám thị :T. Phạm văn Phúc,kiêm GS Pháp văn.
Các môn học thời đó và GS phụ trách:
Việt văn :  T.Nguyễn Tá Minh,Phạm Hương Tích,Doãn Quốc Sỷ,Đoàn Viết Bửu,Đặng Phúc Xuân.
Pháp :cô Bùi thị Ánh,Lưu thị Kim Vân,Phạm văn Phúc.
SP Lý thuyết và thực hành:cô Nguyễn thị Hạnh,Dương thị Ninh.,thầy Đăng Phúc Xuân
Quản trị học đường: T.Vũ Ngô Xán,Trương văn Đức.,Trần văn Quế
Luân lý Chức nghiệp :cụ Nguyễn Gia Tường.
GD  Công dân :cô Phạm thị Mỷ.
Tâm lý Giáo dục :cô Nguyễn thị Hoa,t.Đoàn Hửu Khánh.
Giáo dục Cộng Dồng:T.Đỗ văn Trần,Nguyễn Duy Linh,Hoàng Trần Hoạch.
Các VĐ GD:T .Nguyễn Quý Bổng,Vũ Ngọc Đại.
Vận dụng khoa học: T.Đoàn Hửu Khải.
Dụng cụ giáo khoa: T.Nguyễn Hửu Tài.,cô Lưu thị Dậu.
Thủ công :cô Lê thi Mão,Cô Võ  Minh Vân.
Dung cụ thính thị:T.Nguyễn Tử Quý.
Vệ sinh: BS Nguyễn Hửu Nam.
Nhạc: T.Huỳnh văn Hóa.Lại Minh Lương
Thể dục: Cô Trần thị Hoa,Trần thị Hương Thủy,T.Trần Quang Minh,Vũ văn Tịch.
Vẽ: T.Trần thanh Thanh,họa sĩ Văn Đen.
Nữ công,gia chánh:cô Phạm thị Thân (nữ học HK1 năm thứ nhất)
Giám thị nữ: cô Nguyễn-t-Lục.GT. Nam:T.Huỳnh Hửu Thanh,T.Xinh,Cô Huỳnh Tư Muối
Ngoài giờ học lý thuyết,chúng tôi thường được dự giờ ở trường Sư pham thực hành,bên cạnh trường SP.Thầy cô dạy ở đây  đều là những nhà giáo giỏi,có kinh nghiệm.

Gs môn Tâm lý GD Nguyễn thị Hoa và các nam GS (1964)
Sau đây là DS các bạn ở 2 lớp nữ (tổng số khoãng 90.
1/ Ngô thị Ngọc Anh    2/ Hà Lê Chân                       3/ Từ thị Cảnh
 4 / Nguyễn thị Cúc       5/ Lê Ngọc Châu                   6/ Nguyễn thị Ngọc Diệp
7 Châu Ngọc Diễm       8/ Nguyễn thị Diễm               9/Trần thị Nghi Dung.
10/ Trần thị Đầm (12/16  11/  Lê Ngọc Rỡ (mất)          12/ Trương-t-Hồ Điệp(mất).
13/ Nguyễn Hồng Điệp   14/ Lê thị Hà                          15/ Võ Hồng Hạnh.
16/Pham-t-Hòa                 17/ Đinh-t Hỏi                        18/ Lê Doãn-t-Hiền.
19/ Hồ Mỷ Hương             20/ Phan-t-Hường                 21/ Tạ thị Huê.
22/ Võ Tuyết Hà                 23 Nguyễn-t-Xuân Hà           24/ Nguyễn -t-Thanh Hương.
25/ Nguyễn Ngọc Khanh    26/ Nguyễn-t-Ngọc Kiêm      27/ Nguyễn-t-Kim Liên.
28/ Trương Hồng Liên        29/ Trần-t-Lê                          30/ Nguyễn-t-Bảo Lộc
31/ Phùng-t-Lang                 32/ Nguyễn-t-Ngọc Lan         33/ Đỗ-t-Lựu
34/Nguyễn-t-Lợi   .                35 Trần-t-Ấu Mai                   36/ Nguyễn-t-Tuyết Mai.
37/ Nguyễn-t-Mười                38/ Phạm-t-Việt Nga             39/ Trần-t-Hoàng Nga.
40/ Lê kim Ngân (mất2016)   41/  Nguyễn Ngọc Nhung      42/ Mai Hồng Nhung.
43/ Trần-t-Nhuần                      44/   Huỳnh-t-Nhường               45/ Trần-t-Phú.
46/ Phạm quý Phi                    47/ Nguyễn-t-Phụng.              48/ Lê-t-Phượng,
49/ Võ-t-Phương(mất)             50/ Vũ-t-Phúc                         51/ Ng.-t-Hồng Phúc.
52/ Huỳnh-t-Thiên Phương      54/ Diệp-t-Phước                  54/  Hồ kiêm  Quang
55/ Trần-t-Sáng                       56/ Vũ-t-Tuấn                           57/ Võ thị Ánh Vân..
58/ Trịnh -t-Vạng                      59/ Nguyễn-t-Liêm (mất 2015)      60/  Phan-t-Quế Phương
61/ Cao thị Hải                         62/ Vỏ thị Trưa                        63/ Đặng thị Hạnh.
64/Nguyễn-t-Quế Hương          65/Ng.-t-Bảo Khanh                66/ Thái -t-Hơn.
67/ Hồ-t-Dung                            68/Nguyễn-t-Chính                  69/ Nguyễn-t-Thái.(1992)



                          thầy Đỗ văn Trần GS GDCĐ và các nữ GS thăm TTGDCĐ Long An 1964

Danh sách nam GS: từ lớp nhất niên 3 đến 8.
1/ Nguyễn tuấn Anh                            2/ Lý tuyết Ánh  ( 2020 )              3/ Nguyễn Ngọc Ẩn
4/ Lê-v-Bầm                                   5/ Lê Minh Châu (mất trước 75            6/ Trần Ngọc Minh Châu.
7/ Lâm Hòa Chiếm (mất )                8/ Lương Trác Cường                9/  Nguyễn-v-Chinh-(BD, mất)
10/ Huỳnh Ngọc Chơn                   11/  Đỗ-v-Cư                                12/  Trần Ninh Cường.
13/ Đặng-v-Di                                  14/ Huỳnh-v-Dĩ  (2021)                          15/ Trần-v-Đại
16/ Nguyễn-v-Điền                         17/ Võ -v-Đởm                             18/ Nguyễn Đình Đức
19/ Nguyễn-v-Đôi  (2022)                         20/ Nguyễn Doãn Đoan              21/ Nguyễn-v-Đúng
22/ Trần-v-Gòn(1996)                     23/ Đào Cẩm Giang                    24/ Ngô Ngọc Hải.
25/ Nguyễn Đức Hảo                    26/  Bùi-v-Hoa                              27/ Võ-v-Hoà
28/Đỗ-v-Hồng (2018)                 29/ Nguyễn phước Hào              30/ Đinh Ngọc Khôi.
31/ Nguyễn Ngọc Khương            32/ Nguyễn Trọng Khoan            33/ Nguyễn Thành Kiên (mất)
34/ Trần Hửu Lễ                              35/ Nguyễn Khắc Lộc(mất)        36/ Nguyễn Lộc
37/ Trần Trung Long                        38/ Nguyễn-v-Môn                      39/ Nguyễn-v-Mum.
40/ Lê Ru Nghi                                 41/ Nguyễn Bá Nghĩa                 42/ Nguyễn Đức Nghĩa(6/17).
43/ Võ Trọng Nghĩa                          44/ Nguyễn Phước Ngọc          45/ Nguyễn Hửu Nhân.
46/ Dương thành Nhơn                            47/ Nguyễn Minh Nhựt         48/ Lợi Quốc Thụy
49/ Nguyễn Ngọc Nưa                      50/ Phạm-v-Phi.                         51/ Nguyễn -v-On
52/Lê Trung Phong(mất 2/16                53 Võ Hửu Phương                 54 Nguyễn đăng Phu.
55 Huỳnh Bá Phước                        56  Phan -v-Quí                          57 Trần-v-Quen.
58 Hà huy Quang                              59/ Ngô tấn Quan                      60/ Ngô-v-Quyến
61 Nguyễn-v-Sâm                             62 Võ-v-Sinh                              63/ Nguyễn-v-Sơn
64 Lê thanh Sơn ( 2018                65 /Trần Ngọc Sơn                         66/ Sơn Soul.
67/Đỗ y Sỉ                                          68/Đoàn Chánh Tâm                 69/ Trần Quang Tấn.
70/ Trần Minh Thấu                            71/ Nguyễn-v-Thế                      72/ Nguyễn Ngọc Thi.
73/ Tô-v-Thiện                                    74/ Trần Đại Thìn                       75/ Võ-v-Thơ.
76/ Nguyễn-v-Thông                           77/ Lê-v-Thuyên (mất )                78/Lê Phước Trần.
79 /Nguyễn-v-Triều                             80/ Huỳnh Nam Triều                 81/ Nguyễn Tất Trúc,
82/ Đỗ đình Trữ ( 2015 )                         83/ Phạm-v-Tư                           84/ Trịnh-v-Tưa.
85/ Đoàn quốc Tuấn.                          86/ Đặng-trần-Hào.                    87/ Lê Duy Quý
88/ Dương xuân Hiếu                        89/ Trần Dũng                            90/ Lê Mạnh Giỏi
91/ Nguyễn-v-Thành                           92/ Nguyễn ngọc Sương            93/ Nguyễn văn Xưởng
94/ Võ mộc Tân                                   95/ Phan văn Xỉ                         96/ Nguyễn Đình Biêm
97/ Nguyễn Rép                                   98/ Hồ châu Bửu                       99/ Tạ Nguyên Hoài
100/. Nguyễn ngọc Phương              101 Nguyễn văn Cang              102 Nguyễn Minh Sao
103 / Nguyễn Hiếu Học                  104/ Nguyễn văn Huy  2/2016).105./ Ng.Thành Thảo (2021 )
106./ Khoan Hồng Hải                      107./ Nguyễn Nho Lưu              108./ Phạm Minh Châu
 109/ Nguyễn Phát Thanh                110/ Trịnh văn On                       111/ Ô Hòang Khanh
112/ Đỗ Quan Dư                              113/ Hồ Thành Tri                       114/ Trần Ngọc Chót.
115/ Nguyễn văn Chức                     116/ Nguyễn văn Khoa                117/ Trần Đình Kỷ.
118./ Lê Thoại Khanh                       119/ Võ văn Thành                     120/ Nguyễn-v-Đông.
121/Dương xuân Tôn                       122/Ng.Thành Bửu                     123/ Ng.Hiền Đức.
124/Nguyễn văn Se                            125/ Nguyễn -v-Lương                 126/ Hà Cẩm Vương.
127/  Nguyễn  Thanh Sơn                   128/Hồ Công Lượng                   129/Ng.Trọng Lương.
130/Nguyễn văn Tập                          131/Nguyễn Ngọc Mỹ                 132/Trần Hưng Long
133/Đào Trung Thung                       134/.Nguyễn văn Bắc                 135/. Huỳnh Hửu Cử( 1/18)
136/Đặng Mỷ Chô                             137/Lê Trung Thành                   138/.Nguyễn Ngọc Chẩn
139/ Nguyễn Thanh Liêm                140/.Nguyễn Thới Chuẩn            141/ Mai văn Vinh
142/ Nguyễn Quang Thục                143 Trương.....Quyền                  144/La Minh Viện
145/ Hà Phước Trọng                      146 / Huỳnh Kim Quang             147./ Nguyễn Hửu Nhân (2022 )

DS nầy lấy từ  trang web SPSG và từ trí nhớ bạn bè.
Tổng số GS ra trường năm 1965 là 360( xem học bạ Việt Nga).Nếu cộng 2 DS lại số người có tên ở đây chỉ  hơn phân nửa.
Các bạn ơi,hiện ở đâu,vui lòng lên tiếng.
Chúng tôi rất vui mừng được các bạn giúp  thêm tên những người năm cũ vào DS

31 thg 3, 2023

QUAN HỆ XƯNG HÔ THẦY TRÒ Ở ĐẠI HỌC- Lê Bá Vận.

“Chiều nay có giờ anh Tâm dạy đấy, từ 2 đến 4 giờ, cậu nhớ đi sớm, giành ngồi bàn trước.”

Một anh bạn tôi quen từ năm ngoái ở lớp PCB (Lý Hóa Sinh) nhắc nhở tôi. Chúng tôi là sinh viên Y năm thứ nhất đang đi thực tập tại Bệnh viện Bạch Mai mỗi buổi sáng.

 

Sau khi đỗ Bac (Tú tài Pháp) ở Sài Gòn, tôi ra Hà Nội học, mấy lâu vẫn ao ước. Hà thành nơi ngàn năm văn vật, nơi có 36 phố phường, hồ Gươm, đường Cổ Ngư, hồ Trúc Bạch. Nhà ở tỉnh nhỏ miền Trung, thời đó cha mẹ gởi con vào Sài Gòn, ra Hà Nội học tốn kém biết bao.

 

Chính quyền cũng thể hiện tốt sự quan tâm. Chính sách chung của bộ Giáo Dục tại Sài Gòn là ưu ái cấp học bổng cho các sinh viên tỉnh lẻ đi học xa, Sài Gòn hoặc Hà Nội, có trường đại học. Thông thường được chấp thuận là học bổng đại học toàn phần, 500 đồng mỗi tháng, tái cấp hàng năm nếu không ở lại lớp.

Hồi đó suốt trong thập niên 1950, số tiền 500 đồng là dư dả để trả tiền trọ hàng tháng, ăn và ở tốt cho sinh viên. Ở Hà Nội hàng quán ăn uống, hàng hóa và các dịch vụ may mặc, cắt tóc, giặt ủi, đi lại… đều rẻ hơn ở Sài Gòn, thấy rõ, chỉ các mặt hàng xa xỉ Sài Gòn nhập từ Pháp là đắt hơn. Con người Hà Nội thì duyên dáng, nếp sống thanh lịch, cảnh sắc hữu tình.

____

 

Trở lại buổi học chiều hôm đó với anh Tâm.

Anh Tâm đây là giáo sư Phạm Biểu Tâm (1913-1999), đỗ Thạc sĩ Y khoa, Agrégé des Universités tại Paris, Pháp năm 1948. Ông đang là giáo sư tại ĐHYD Hà Nội.

Anh bạn tôi, người Hà Nội, mới bước chân vào trường Y, cũng trẻ hơn GS PB Tâm gần 20 tuổi mà gọi GS Tâm vào hàng cha chú là ‘anh’ thì tưởng đâu có bà con, quyến thuộc.

 

Tôi lần này không còn ngạc nhiên với lối xưng hô thân mật ‘anh, em’ trên của anh bạn.

Chân ướt chân ráo bước vào đại học, năm ngoái trong lớp PCB dự bị Y khoa, tuy các giáo sư mỗi môn đều là người Pháp song trong các phòng thí nghiệm cũng có người Việt, cử nhân khoa học phụ trách, vd. Nguyễn Thị Lâu, Vũ Văn Chuyên về thực vật học, Nguyễn Chung Tú về Vật lý và tôi đã mục kích lối xưng hô ‘thưa anh, chị’ của các bạn bè. (1)

Tôi cảm thấy có phần lúng túng nên tránh né bằng cách dùng tiếng Pháp để thưa gởi.

 

Sinh viên Y mỗi sáng đi thực tập tại bệnh viện, chiều thì học lý thuyết tại trường.

Thời đó sinh viên 2 năm đầu YK1 và YK2 được chia đi thực tập 2 nơi, tại khoa Nội bệnh viện Bạch Mai và tại khoa Ngoại bệnh viện Phủ Doãn, hoán chuyển giữa niên khóa học.

Tôi nằm trong nhóm đi thực tập đầu tiên tại bệnh viện Bạch Mai.

 

Ở khoa Nội BV Bạch Mai, Giáo sư Blondel là giáo sư thực thụ. Giáo sư Đặng Văn Chung (1913-1999), ngang tuổi với GS Phạm Biểu Tâm, vừa qua Pháp về, lấy bằng thạc sĩ Y Khoa, 1952. Ông ký tên trên giấy tờ và mang trước ngực bảng tên oai vệ “Professeur Agrégé” (Phó giáo sư).

 

GS ĐV Chung tất nhiên giảng dạy bằng tiếng Pháp song khi đi thăm bệnh, tại trại bệnh ông cũng hỏi bệnh nhân bằng tiếng Việt, giọng Nam bộ. Và các sinh viên trẻ mới chập chững vào trường đối thoại với GS Chung thì : “Thưa anh”, nói với nhau thì ‘anh Chung’.

 

Tôi chỉ nghe uy danh của GS PB Tâm song chưa gặp mặt vì ông xem bệnh, mổ xẻ tại bệnh viện Phủ Doãn mà nhóm của tôi chưa đến thực tập. Song chiều hôm đó ông có giờ dạy tại viện Cơ thể học.

Tôi háo hức chờ đợi. GS Tâm bước nhanh vào lớp mặc áo blouse trắng gài nút sau lưng. Tôi hơi thất vọng vì trái với danh tiếng nổi như cồn, ở tuổi 40 ông xem ra không có bề ngoài. Người không thấp song ông nhỏ xương, nét mặt gầy, nước da không sáng, lại tàn nhang, tóc hơi quăn.Tuy nhiên Giáo sư PB Tâm là một bậc thầy tài cao đức trọng được mọi người kính ngưỡng.

 

Hôm đó ông dạy bài cơ thể học của bàn tay, bài này khó và rất dài. Ông vào bước ngay lên bục và bắt đầu bài giảng ngay lập tức, thao thao bất tuyệt như chạy đua với thời gian để hoàn tất bài giảng trong 2 tiết. Tiếng Pháp của ông hoàn hảo dù ông không hẳn có giọng Pháp. Ông là cựu học sinh trường Bưởi cũng như GS Tôn Thất Tùng, BS Lê Khắc Quyến và đều là người Huế.

 

Lúc đổi sang thực tập tại bệnh viện ngoại khoa Phủ Doãn tôi gặp GS PB Tâm hàng ngày. Có hôm ở phòng tiểu phẫu tôi đứng xem ông đích thân rửa gắp sỏi niệu đạo cho một bệnh nhân. Lúc đó tại bệnh viện Phủ Doãn có GS Huard, tương đương với GS Blondel ở bệnh viện Bạch Mai. GS Huard lại là khoa trưởng ĐHYD Hà Nội. Tiếp đó là GS PBTâm, đồng thời là giám đốc bệnh viện Phủ Doãn. Và nhiều bác sĩ trợ giảng, gọi là ‘chef de clinique’ (clinical instructor).

 

Cũng như trường hợp GS ĐVChung, các sinh viên Y đi thực tập xưng hô với GS PB Tâm là “thưa anh” ở ngôi thứ 2, “anh Tâm” ở ngôi thứ 3 và tự xưng ‘em’ hoặc ‘tôi’. Đối với các bác sĩ Trần Ngọc Ninh, Đào Đức Hoành, Trần Anh, Ngô Gia Hy v.v… họ dĩ nhiên gọi: “anh Ninh, anh Hoành, anh Anh, anh Hy”. Lối xưng hô ‘anh’ đã quen vẫn giữ lúc các vị ấy trở thành giáo sư, trường hợp các GS PB Tâm, ĐV Chung cũng thế. (2).

 

Rút cục ra Hà Nội học Y tôi chưa gọi ai bằng thầy, cũng chưa nghe ai phát thoại chữ ‘thầy’.

Có lúc tôi nghĩ điều này cũng có khi đúng vì suy cho cùng tất cả, giáo sư và sinh viên, đều là bạn đồng môn, xuất thân từ ĐHYD Hà Nội, kẻ trước, người sau. Gà cùng một mẹ, khác lứa.

 

Năm 1954 ĐH Hà Nội di cư vào Nam nhập vào ĐH Sài Gòn. Tại ĐHYD có thêm các giáo sư người Pháp, GS Trần Quang Đệ (1905-1997) và một số bác sĩ. GS TQ Đệ học Y tại Pháp, đỗ thạc sĩ y khoa, có quốc tịch Pháp, luôn nói tiếng Pháp giọng Paris, cũng như người nói tiếng Bắc đúng giọng Hà Nội. Khi giao tiếp với GS Đệ thì chỉ dùng tiếng Pháp, không ‘thưa anh hoặc thưa thầy”.   

____

 

Quan hệ xưng hô ở học đường khác biệt ở cấp tiểu học, trung học và đại học.

*Ở bậc tiểu học, thầy cô giáo tự xưng là ‘Thầy’ hoặc ‘Cô’ và gọi học trò là: “con, em, trò+tên”.

Học trò thì thưa “thầy, cô” và tự xưng là “con, em, hoặc xưng tên”.

 

*Ở bậc trung học, lớp nhỏ và vừa các thầy cô có thể giữ cách xưng hô như ở tiểu học. Ở các lớp lớn thầy cô giáo thường tự xưng là ‘tôi’, gọi học sinh là “anh, chị, em”.

Học trò thưa “thầy, cô” và tự xưng là ‘con, em’.

 

*Ở bậc đại học, khác hẳn tiểu học, trung học, người dạy không tự xưng là ‘thày/thầy, cô’’, cho dù được tôn sùng, luôn xưng ‘tôi’ và gọi sinh viên là “anh, chị”.  Sinh viên tự xưng là “tôi, em” và tùy theo sự cách biệt tuổi tác, “thưa giáo sư/anh/thầy/cô”.

           

Ở ngoài Bắc chữ ‘Thày’ thường được dùng thay thế chữ ‘Thầy”.

Tuy nhiên chữ ‘thày’ chỉ dùng trong ý nghĩa “thày trò” về chuyển đạt kiến thức. Chữ ‘thầy’ rộng nghĩa xã hội hơn vì bao gồm ý nghĩa “thầy thợ”. Thí dụ ta nói “thầy đờn, thầy tu, thầy chùa, thầy bói, thầy dòng…  là những người không lao động chân tay và xưng hô với họ: “thưa thầy”.

Như vậy chữ ‘thầy’ chỉ nói lên một chức nghiệp lao động trí óc.

Với ý nghĩa này, học sinh lẫn phụ huynh đều chào hỏi: “thưa thầy/cô” với thầy cô giáo.

___

 

Các cựu sinh viên ĐHYD Sài Gòn viết nhiều hồi ký về trường xưa và các giáo sư. Đã có những bài viết như: “Nhớ thầy tôi, Giáo sư Trần Quang Đệ”, ”Nhớ thầy tôi Giáo sư Phạm Biểu Tâm”, “ Thầy tôi: Giáo sư Trần Ngọc Ninh”,  “Thầy Đào Đức Hoành” v.v… tri ân và kính mộ.

Trong các thầy cũ, GS Nguyễn Hữu tính xuề xòa với sinh viên nhất, thứ đến GS ĐĐ Hoành.

 

Các cựu sinh viên ĐHY Huế đặc biệt có bài viết: “Tưởng niệm Thầy Lê Văn Bách – Khóa 13 Y Khoa Huế 1972” ca ngợi y đức của người thầy quá cố, mệnh chung ngày 2 tháng 4, 2002.

Trước đó trên một tháng GS Lê Văn Bách có viết thư hồi đáp cho các sinh viên thăm hỏi:

“Rất cảm động và chân thành ghi nhớ trong lòng về tình cảm và mối quan tâm đối với tôi của tất cả anh chị em. Cầu mong anh chị em….    19/2/02. Thân mến. Lê Văn Bách”.

 

Các sinh viên Y khoa Huế suốt thời gian học tập và sau đó ra trường gặp lại, luôn xưng hô: “thưa thầy, thưa cô”, tự xưng là ‘em’, hãn hữu tuổi gần đồng: “anh, tôi, em”.

Tháng trước vào ngày chủ nhật 12/12/2021 một buổi gặp mặt cuối năm được tổ chức ở quận Cam, nam Cali. Buổi gặp mặt được tường thuật lại trên diễn đàn hội Y Khoa Huế Hải ngoại:

“Chúng tôi mời Thầy Cô Võ Đăng Đài, kế đó Thầy Cô Lê Thanh Minh Châu. Chúng tôi rất vinh dự và hãnh diện được cả 2 Thầy Cô nhận lời…”

 

Riêng tôi đã có may mắn gặp lại thầy giáo cũ dạy lớp nhất tiểu học. Thầy NV Huân đến khám bệnh. Tôi nhận ngay ra thầy, mừng rỡ và xúc động thốt lên: “thưa thầy”. Các thầy cô dạy chúng ta lúc còn nhỏ, tâm hồn trong trắng, bao giờ cũng để lại tình cảm thương yêu chan chứa.

 

Lê Bá Vận.

 

 

 

 

Chú Thích.

(1) Các vị NT Lâu, VV Chuyên, NC Tú thời gian sau đều trở thành Giáo sư Tiến Sĩ.

 

(2) GS Trần Ngọc Ninh (1923- -) Tiến sĩ Y khoa 1948, Thạc sĩ Y khoa 1961.

GS Đào Đức Hoành (1920-2002) Tiến sĩ Y khoa 1948, Thạc sĩ Y khoa 1964.

GS Ngô Gia Hy (1916- 2004) Tiến sĩ Y khoa 1948, Thạc sĩ Y khoa 1962.

GS Trần Anh (?-1968). Tiến sĩ Y khoa 1948?, Thạc sĩ Y khoa 1963?

Lần đầu gặp BS Trần Anh ở Viện Cơ thể học, Hà Nội, tôi ngỡ được gặp GS PB Tâm song không đúng. GS Trần Anh nét mặt sáng sủa giống tây lai, tử nạn năm 1968 tại Sài Gòn.

 

GS TN Ninh trẻ nhất, kém GS PB Tâm 10 tuổi, là cựu Nội trú bệnh viện Phủ Doãn, 1946-1948  trong lúc GS PB Tâm đỗ Thạc sĩ Y khoa năm 1948. Các GSBS kể trên luôn xưng hô ‘thưa anh’ với GS PB Tâm, như là đàn anh đồng môn, kẻ trước dìu dắt người sau.

DungHoKhanh chuyển

5 thg 5, 2017

Suyễn do phế khí suy - BS.Đặng Trần Hào

Phế chủ khí, là vật chất trọng yếu để duy trì sự sống. Khí được tạo do hai nguồn: Một là khí ở trời do phế hít vào, hai là tinh khí trong đồ ăn uống vào dạ dày được phối hợp với tì và chuyển hóa thành hai phần khí.
Phần thanh khí chuyển lên phổi để đưa vào tim đi nuôi cơ thể. Phần trọc khí đưa xuống ruột non, ruột già thanh lọc một lần nữa. Phần thanh đưa lên phế, phần trọc đưa xuống ruột già và bàng quang thải ra ngoài.
Hai khí này kết hợp lại chứa ở lồng ngực gọi là tôn khí. Tôn khí là nguồn gốc của khí trong toàn thân có nhiệm vụ trao đổi hít thở, dồn về tâm và đưa vào kinh mạch, đi nuôi cơ thể.
Tâm chủ về huyết và phế chủ về khí. Cơ thể nhờ sự vận hành tuần hoàn của khí huyết để vận hành chất dinh dưỡng, duy trì hoạt động cơ năng hoạt động nhịp nhàng giữa các tạng phủ. Tâm với phế, huyết với khí nương tựa nhau tạo nên sự làm việc chặt chẽ và nhịp nhàng trong thân thể của chúng ta.
Phế còn thông điều thủy đạo, và túc giáng: Nếu phế mất khả năng túc giáng, sự thay đổi cũ mới của thủy dịch sẽ gây ra trở ngại, thì thủy dịch sẽ dồn lại, tiểu tiện sẽ không thông, lâu ngày sẽ sinh ra phù thũng.
Phế chủ về khí, cho nên lỗ chân lông cũng gọi là khí môn. Người bệnh phế khí hư có thể gây ra suyễn và da lông cũng thường bị hư yếu, hay ra mồ hôi, còn dễ bị cảm khi thời tiết đổi từ nóng sang lạnh, hay đổi từ Thu sang Ðông là như vậy.
Một khi thận dương suy, ảnh hưởng tới phế khí suy gây ra thận bất nạp khí. Bệnh nhân thở hụt hơi, có nghĩa hít vào ngắn hơn thở ra, suyễn, đau phần dưới lưng, sợ lạnh, sắc mặt đen sậm, tinh thần mệt mỏi, hay sợ sệt.
Ðể chữa bệnh này dĩ nhiên chúng ta phải dùng bài Bát Vị Ðịa Hoàng Thang, gia thêm: hoàng kỳ, tử tô tử, bách bộ, khoảng đông hoa, tử uyển, bán hạ.
Bài Bát Vị Ðịa Hoàng Thang 1. Phục linh 9 grs 2. Mẫu đơn bì 9 grs 3. Quế bì 3 grs 4. Thục địa 15 grs 5. Sơn thù du 9 grs 6. Phụ tử 6 grs 7. Trạch tả 9 grs 8. Hoài sơn 9 grs
Gia:
1. Hoàng kỳ 9 grs
2. Khoảng đông hoa 9 grs
3. Bán hạ 6 grs
4. Tử tô tử 9 grs
5. Tử uyển 9 grs
6. Bách bộ 9 grs
7. Cam thảo 3 grs

Bát vị địa hoàng thang trong Ðông y được dùng chữa trị những loại bệnh sau: Phù thũng, tê tứ chi, bao tử ứ nước, tiểu đường. Toa thuốc này mục đích chính là tái tạo lại sự suy của thận dương, nang thượng thận và sản xuất lại tinh. Thường cho bệnh nhân quá mệt mỏi và suy nhược, ăn uống chậm tiêu, táo bón, tiểu khó, tiểu nhiều, khát nước kèm khô lưỡi, đau lưng, yếu vùng rốn.
Nhiệm vụ của từng vị trong bài thuốc:
– Thục địa: Gia tăng sức lực, bổ dưỡng và nuôi dưỡng.
– Sơn thù du: Gia tăng sức lực, tăng cường thận, ấm bụng và chân, gia tăng sinh lực cho nam giới.
– Hoài sơn: Nuôi thận, giảm lạnh thân thể và giúp da trở lại mượt mà.
– Mẫu đơn bì: Tan máu cục và giảm đau.
– Phục linh: Thoát nước.
– Trạch tả: Gia tăng đường tiểu tiện và giảm khát.
– Quế bì: Giúp cho thục địa trong sự lưu thông máu và phục linh còn gia tăng sự tiểu tiện ở vùng hạ tiêu.
– Phụ tử: Gia tăng thân nhiệt, tái tạo lại trách nhiệm của tạng phủ bị suy yếu và ăn khó tiểu sẽ nhờ phục linh và quế khai thông.

Nhiệm vụ của sáu vị thêm vào bài Bát Vị có tác dụng làm ôn phế, thông phê, tiêu đàm và giáng phế khi nhờ tử tô tử.
Bài thuốc này giúp cho thận và phế ấm lại, người bệnh cảm thấy phấn chấn ra, hết suyễn, hết sợ lạnh, sợ gió, hơi thở trở lại bình thường, bớt đi tiểu nhiều lần và nhất là khi ho nước tiểu không bị nhỉ ra nhất là đối với phụ nữ. Lý do thận khí suy là cơ vòng bị nhão ra không đàn hồi theo như ý mình muốn, vì vậy phải bổ thận khí.
Ví dụ, chúng ta tìm hiểu những bệnh liên quan tới thận và phế khi suy. Một khi phế yếu không hít thở được đầy đủ oxy cần thiết cho cơ thể và tế bào có cơ hội bị ung thư nhiều hơn người có phế khí khỏe để lấy đầy đủ oxy.
Viết đến đây tôi nhớ tới tài liệu của bệnh viện Johns Hopkins nổi tiếng ở Hoa Kỳ cho biết: “Những tế bào ung thư không thể phát triển được trong môi trường đã được oxy hóa. Tập thể dục hằng ngày và thở sâu để đưa nhiều oxy vào ngăn nhỏ tế bào. Chữa bệnh bằng cách hít oxy vào còn được coi như một dụng cụ tiêu hủy các tế bào ung thư.”
Tài liệu này còn nói trong một đời người chúng ta có thể bị tế bào ung thư tấn công từ sáu tới 10 lần. Khi hệ miễn nhiễm của chúng ta mạnh có thể phá hủy được tế bào ung thư và ngăn ngừa được tế bào ung thư phát triển và tạo những ung bướu.
Khi một người có tế bào ung thư có nghĩa là người đó ăn uống thiếu bổ dưỡng, cũng có thể do di truyền, nhưng cũng do môi trường sống, công ăn việc làm, đồ ăn và cách sống của mình.

Trước khi là BS.Đông y tại Mỷ BS.Đặng Trần Hào học k.2-SPSaigon.
Với những cố gắng học tập,không mệt mõi
anh đã theo ngành Đông y mà mình ưa thích và hiện đang hành nghề tại Mỷ.
Chúc anh nhiều sức khỏe  để  giúp mọi người bệnh nhiều hơn ...
Bài nầy đăng từ báo "Người Việt"- anh Hào là Cộng tác viên