Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thơ Võ Hà Thu Giang. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn Thơ Võ Hà Thu Giang. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

6 thg 2, 2023

Ngân Triều Bình Bài Thơ HOANG MANG Của Võ Hà Thu Giang


  Xin mời quý bạn tham khảo một nỗi niềm đa đoan về cuộc đời, phảng phất ít nhiều sầu tư của một thân hữu đang sống ở Pháp (?!

Hoang mang/
Thơ Võ Hà Thu Giang

Hoang Mang [1]
Trong niềm vui có chút buồn len lén
Quay gót trở về tìm lại dư hương [2]
Của ngày xưa thời biết yêu biết mến
Ôm cả bầu trời tình đẹp bốn phương
*
Ngày tháng mang đi hồn nhiên tuổi nhỏ
Cài lên tóc mây trăm sợi ưu tư
Dòng thời gian nhuộm nhọc nhằn trăn trở
Bỏ lại sau lưng mơ ước vu vơ
*
Chuyến xe đời mang kẻ đi người đến
Tôi ngồi đây làm nhân chứng thời gian
Bạn bè xưa người tôi yêu tôi mến
Vội vã quay lưng trốn kiếp gian nan
*
Chuẩn bį xong cuộc hành trình dong ruổi?
Tôi nhìn tôi, gương phản chiếu hoang mang
Hỏi lại mình còn thêm bao nhiêu tuổi
Chào đón tình yêu những lúc Xuân sang
 
Võ Hà Thu Giang
July 12 / 2015
 
Lời bình, Ngân Triều:
 
Ngân Triều 20:42 12 tháng 7, 2015
Xin diễn ý nội dung bài thơ trên:
♥ Cũng như sống trên đời nầy, ai ai đều có niềm vui, có nỗi buồn. Thường thì vui ít, buồn nhiều.
Những kỷ niệm đẹp ngày xưa, dư hương, đầy ấn tượng, ta vẫn luôn nhớ mãi.
Nhất là những kỷ niệm của thời mới lớn, thời biết yêu biết mến, cái thuở đầu đời.
Khi ấy, ta thấy ta có nhiều hoài bão to tát như ôm cả bầu trời mơ ước; còn tình cảm trân quý thì bao la mênh mông, tình đẹp bốn phương.
♥ Thế rồi, thời gian trôi đi, mang theo tất cả những tính cách hồn nhiên tuổi thơ.
Biết bao nhiêu những phiền muộn đón đường, giăng lối như thêm những sợi tóc ưu tư đa đoan, cài lên tóc mây.
Cũng như biết bao nhiêu màu nhọc nhằn, trăn trở, theo thời gian, đã nhuộm màu trên mái tóc phong sương.
Để thấm thía nhận ra trong ngỡ ngàng, hoài bão đầu đời chỉ là hư ảo, chỉ là mơ ước vu vơ.
♥ Dòng đời như hành trình của một chuyến xe, chuyến xe đời, ta đã từng gặp biết bao người đi, kẻ đến.
Ta sẽ biết, ta sẽ nhớ về họ như ta là một nhân chứng thời gian qua bao nhiêu là bến đỗ.
Nhất là những người bạn chí thân, tôi yêu, tôi mến.
Thật không hiểu nổi! Vì sao họ lại hấp tấp quay lưng trốn chạy, không màng gì đến cái kiếp gian nan, phù du, trên cõi trần nầy, khi còn đầy sức sống?
♥ Riêng tôi, tôi đã hoàn tất, chuẩn bị xong, chuyến du hành của mình.
Phải chăng tôi còn có điều gì do dự, phân vân, hoang mang.
Để tự hỏi bản thân, biết sẽ còn sống không bao lâu, còn thêm bao tuổi nữa.
Để chào đón tình yêu đến với mình, trong những lúc mùa Xuân lại đến trong tưng bừng rộn rã, đầy trời hương sắc yêu thương?
Bài thơ tự sự có âm điệu như một khúc đàn violon trầm lắng, buồn thương; không những qua ngôn từ chọn lọc mà nó còn réo rắt, ngẩn ngơ, phảng phất một nỗi niềm xao xuyến nhẹ nhàng nhưng sâu lắng của một du khách trên một chuyến xe đời hoang mang. ֎
*
Ghi chú:
[1] Hoang mang là tâm trạng không yên, dùng dằng, do dự, e sợ, phân vân...vì không biết phải xử trí như thế nào.
[2] dư hương: là chút hương cuối cùng còn đọng lại, còn sót lại. Ở đây là những kỷ niệm đẹp ngày xưa.
 
 
*
Tác giả bài thơ nầy trước đây sống ở Canada, hiện nay đang sống ở Florida. (Cảm ơn Dũng Ho Khanh đã cập nhật tin).
*

19 thg 10, 2015

TÔI CŨNG BIẾT - YÊN BÌNH : Thơ Võ Hà Thu Giang




Có một ngày mình chân chùn gối mỏi
Có một ngày mình mất hẳn tuổi thơ
Nhường lối đi cho những lời trăn trối
Mắt nhìn xa vùng tăm tối ngu ngơ

Chim chấp cánh bỏ bầy sầu đơn lẻ
Một mình thôi , chờ trông bóng thời gian
Tay run run từng trang thơ buồn tẻ
Một kiếp nhân sinh, một kiếp phù tang

Danh vọng , tình yêu , bạc tiền , hiếu thắng
Gom góp cho vào tro bụi vô vi
Để một mình thôi , một mình trống vắng
Khung cửa cuộc đời , mấy bước chim di ?!

Mấy người bỏ đi, bao người còn lại
Tính sổ thời gian, dời bước không gian
Mười ngón tay thon ngày xưa mềm mại
Ôm lấy bờ vai một kiếp cưu u mang

VÕ HÀ THU GIANG


YÊN BÌNH
Ừ thì thôi vậy nhé em
Thời gian chấp nhận say men rượu tình
Không gian đuổi bóng với hình
Nhớ tà áo tím yên bình năm xưa
Nắng lùa sáo trúc lưa thưa
Bên chờ bên đợi sao chưa tương phùng
Bước chân chim sáo ngập ngừng
Long lanh mắt lệ nửa mừng nửa vui
Đàn tranh bấm phím bùi ngùi
Xôn xao gợn sóng thuyền xuôi theo giòng
Nửa đời dõi mắt chờ mong
Lá rơi từng chiếc long đong tuổi đời
Ngoài kia nắng sớm gọi mời
Giòng thơ ghi lại một thời yêu em
Cầu xin giấc ngủ bình yên

VÕ HÀ THU GIANG
Oct. 17 / 2015
Ottawa- Canada

4 thg 11, 2013

Mùa đông Ottawa (Võ Hà Thu Giang,k.9,SPSG)




   NGÀY MÙA ĐÔNG OTTAWA

 Nắng xuống thắp gió đông luồn thổi lạnh
 Mây chiều đan giăng mắc đón chờ mưa
 Cành cây khô bơ vơ buồn hiu quạnh
 Khói nhà ai lan toả sợi lưa thưa


Theo chu kỳ đông đi rồi trở lại

Cuốn lá vàng theo gió gởi bay đi

Mùa thu ơi tiễn em lòng tê tái

Mắt nhìn nhau nghe nằng nặng bờ mi

Phố vắng người vắng tiếng chim ca hát
Lạnh ngoài trời lạnh đến cả tâm tư
Ngày mùa đông chờ nắng hồng khao khát
Xoá tan đi những trừ tịch âm u

Góc công viên loang loáng sương pha tuyết
Băng đá buồn chờ đợi bóng cố nhân
Bản tình ca ngân vang lời tha thiết
Cung điệu buồn đan dệt khúc lâng lâng

Giòng sông thu nước đóng băng lạnh giá
Thương thật nhiều đàn sáo nhỏ chơi vơi
Người ra đi như bóng chim tăm cá
Bỏ lại sau lưng hàng vạn cuộc chơi
Tàu bỏ neo nằm hiu hắt ngoài khơi
   VŌ HÀ THU GIANG
    30 / 10 / 2013






(ảnh :news.go.vn) 
Cảm tác bài Mùa đông Ottawa .
Mùa đông ở đó quá nên thơ...!
Hấp dẫn làm sao cảnh đẹp mờ...!
Nắng gió mây chiều hơi ấm lạnh,
Hàn băng tuyết phủ lặng như tờ....!
Đâu đây phảng phất hồn thi sĩ...,
Chốn cũ người xưa vẫn đợi chờ....!
Tấu khúc tình ca người lữ thứ,
Ru buồn giấc ngủ trái tim mơ....! (1)

MAI  XUÂN  THANH
09  November 2013
Tặng bạn Võ Hà Thu Giang,
( Tên bạn sao đẹp & hay như thơ của bạn )
Ghi chú : một bài thơ có thể ru ngủ được kẻ thưởng thức thơ, quả thật bài thơ " Ngày Mùa Đông Ottawa " rất tuyệt vời & thành công phải không !..Vâng, rất thành công..

BÀI CẢM TÁC 2 :
Như tranh vẻ đẹp cảnh trời Tây,
Man mác lòng ta ấm lạnh này.
Gió nhẹ chiều xuân màu nắng nhạt,
Mây giăng rải rác ở đâu đây...!
Cô đơn cất bước buồn hiu quạnh,
Lẻ bóng lang thang cũng giải khuây.
Nhỏ nhẹ niềm riêng sầu lắng đọng,
Tâm hồn mẫn cảm ước sum vầy...!



31 thg 7, 2013

Mắm Đậu - Thơ Võ hà Thu Giang (k.9-SPSG)

Xin giới thiệu một bài thơ của Võ hà Thu Giang : Mắm Đậu.
Tác giã nhắc đến một một món ăn của quê hương Tây Ninh xưa.
Đây là một món ăn đạm bạc của nhà nghèo,mẹ làm ra  cho các con ăn  với rau cỏ quanh vườn nhà..
 Trong khó khăn ,khổ sở ...cha mẹ vẫn   nuôi dạy các con thành danh...
Nay  cha mẹ không còn nữa ...và dù  cuộc sống hôm nay quá đủ đầy nhưng những kỷ niệm  xưa vẫn còn mãi trong tim tác  giả...
Mời các bạn đọc để trầm ngâm và nhớ về quá khứ  của mình :Ước gì cho tôi được một lần trở lại ngày xưa

MẮM ĐẬU

Những ngày ăn chay mẹ kho mắm đậu
Cà tím, cà chua ,sả ớt với gừng
Lỏi cây chuối non cho thêm giá sống
Rau hẹ rau dừa rau bợ trộn chung

Cơm nấu nồi đất khói thơm nghi ngút
Mẹ cào bớt than khi nước vừa sôi
Đừng để lửa cao nồi cơm sẽ khét
Nhớ lấy nghe con- lời mẹ dạy tôi

Cả nhà quây quần bữa cơm đạm bạc
Không cao lương không mỹ vị sơn hào
Hương ấm tình nồng chắn che gió bấc
Ngọn lửa gia đình ao ước chiêm bao

Mấy mươi năm qua chim lìa tổ ấm
Ước mơ nhỏ nhoi ăn mắm đậu kho
Rau hái sau vườn cơm thơm lúa mới
Hình ảnh quê nhà ghi đậm trong tâm

VÕ HÀ THU-GIANG
30/7/2013
 (ảnh: FB)

20 thg 4, 2025

Huệ Thu: NHỮNG PHÁ CÁCH TÀI TÌNH TRONG THƠ ( Nguyên Lạc Và Bạn Hửu )

 

Thuở Sơ Ðường người ta làm thơ không chú trọng nhiều về luật. Thật ra luật chỉ làm cho người thơ dễ đạt được ý thơ. Thơ hay không hẳn vì niêm luật. Những bài thơ của các vị Tam Khôi (Tam Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa) hẳn là rất đúng niêm luật. Nhưng những bài thơ ấy vị tất là những bài thơ hay ! Chứng cớ là sau những lần yết bảng, vua thường thiết yến đãi các quan tân khoa. các vị tam khôi đều có làm thơ lưu niệm. Nhưng cho đến nay thứ thơ lưu niệm ấy ít ai còn nhớ lấy dù chỉ một bài ! Vậy thì thơ hay không phải vì đúng luật…. Chẳng qua chỉ là một lối thơ trong trường ốc thì phải câu nệ vào luật . Không thế thì làm sao mà chấm ? Luật để làm tiêu chuẩn cho mọi sự phê phán. Nhưng những người làm thơ hẳn là phải đồng ý với nhau rằng thơ muốn hay trước hết phải có hồn. Hồn thơ là cái duyên của thơ. Thơ không có hồn như người không có duyên. Vô duyên thì đẹp mấy cũng không ai chuộng ! Hồn thơ xuất phát từ sự chân thành, sự giản dị. Hít thở làm nên sự sống, nhưng hít thở phải không cầu kỳ, phải thật tự nhiên thật giản dị. Nằm có cách hít thở của lúc nằm, ngồi có cách hít thở của ngồi, đứng cũng thế. Ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt, cho đến lục bát, song thất… mỗi thứ đều có một lối luật riêng… Lối thở của lúc đứng khác lối thở của lúc nằm. Luật thơ Lục Bát khác xa luật thơ Ðường. Nhưng vẫn là luật nghĩa là những phép tắc riêng giúp cho người thơ đạt được ý thơ. Cho nên cái tài tình của người thơ là biết phối hợp các thể thơ. Tôi xin mượn một bài thơ của Tản Ðà làm ví dụ. Tôi nghĩ Tản Ðà là một thi sĩ thượng thặng của Việt Nam. Ông là người thông thạo thập bát ban võ nghệ. Có nghĩa là lối thơ nào ông cũng rành cả. Cho nên trong một bài thơ ông phối hợp nhiều thể thơ, phối hợp một cánh rất tài tình, rất tự nhiên, đó là bài Cảm Thu, Tiễn Thu, Ông mở đầu bằng:


Từ vào thu đến nay:
Gió thu hiu hắt,
Sương thu lạnh
Trăng thu bạnh
Khói thu xây thành.
Lá thu rơi tụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly.
Nhạn về én lại bay đi,
Ðêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm.
Lá sen tàn tạ trong đầm,
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.
Sắc đậu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương.
Nào người cố lí tha phương,
Cảm thu ai có tư lường hỡi ai?

Nào những ai:
Bảy thước thân nam tử,
Bốn bể chí tang bồng
Ðường mây chưa bổng cánh hồng,
Tiêu ma tuế nguyệt, ngại ngùng tu mi.

Nào những ai:
Sinh trưởng nơi khuê các,
Khuya sớm phận nữ nhi,
Song the ngày tháng thoi đi,
Vương tơ ngắm nhện nhỡ thì thương hoa.

Nào những ai:
Tha phương khách thổ
Hải giác thiên nha,
Ruột tằm héo, tóc sương pha,
Góc phần trạnh tưởng quê nhà đòi cơn.

Nào những ai:
Cù lao báo đức
Sinh dưỡng đền ơn
Kinh sương nghĩ nỗi mền đơn,
Giàu sang bất nghĩa mà hơn nghèo hèn!

Nào những ai:
Tóc xanh mây cuốn
Má đỏ hoa ghen
Làng chơi duyên đã hết duyên
Khúc sông trăng dãi con thuyền chơi vơi!

Nào những ai:
Dọc ngang trời rộng,
Vùng vẫy bể khơi
Ðội trời đạp đất ở đời
Sa cơ thất thế quê người chiếc thân.

Nào những ai:
Kê vàng tỉnh mộng
Tóc bạc thương thân
Vèo trông lá rụng đầy sân,
Công danh phù thế có ngần ấy thôi.

Thôi nghĩ cho:
Thu tự trời,
Cảm tự người.
Người đời ai cảm ta không biết!
Ta cảm thay ai viết mấy lời.

Thôi thời:
Cùng thu tạm biệt
Thu hãy tạm lui,
Chỉ để khách đa tình đa cảm,
Một mình thay cảm những ai ai!

Bài thơ bắt đầu bằng câu ngũ ngôn, rồi xuống câu tam ngôn, tứ ngôn, rồi tiếp theo là lục bát. Không ai băn khoăn hỏi đây là thể thơ gì ? Bởi nó rất thơ, ngũ ngôn thì ra ngũ ngôn, rồi chuyển đến tam tứ ngôn, đều tự nhiên như thế cả.


Bài Tống Biệt :

Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một phút trần ai
Ước cũ duyên thừa có thế thôi
Ðá mòn rêu nhạt
Nước chảy huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi
Cửa động
Ðầu non
Ðường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi…

Bài này không thể nói là thể thơ gì nhưng có ai bảo nó không phải là thơ ?

Tôi nhớ đến một bài thơ khác của ông Hà Thượng Nhân trên báo Tự Do viết gởi ông Kémoularia đại diện liên Hiệp Quốc. Vào ngày 27 tháng 8 năm 1959, Ủy ban Quốc Gia Việt Nam trước sự hiện diện của ông Kémoularia, đại diện đặc biệt của ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc về năm những người tỵ nạn trên thế giới đã nhóm họp tại Sài Gòn.
Bài thơ dưới đây mà ông HTN đã viết để chào mừng vị sứ giả của tình thương ấy. Bài thơ tuy dài nhưng vẫn có tính chất thời sự, vì thế tôi xin chép lại nguyên văn:

Kính chào Kémoularia

Kính chào Kémoularia
Sứ giả tự do
Tiếng nói của con người đau khổ.
Chúng tôi ra đi
Vượt Trường Sơn hiểm trở,
Lấy tay yếu cản đè sóng dữ,
Không cần sống, chỉ cần dân chủ,
Tìm về thế giới tự do
Ở đâu áo ấm cơm no ?
Trăng Thu rung mãi tiếng hò nhặt khoan.
Chúng tôi khinh nguy nan,
Tìm tấm lòng cởi mở.
Lúc gặp nhau vui mừng hớn hở,
Dù mới quen như biết từ lâu.
Mời nhau này một miếng trầu,
Chuyền tay vê điếu thuốc lào cũng vui.
Chúng tôi đổ mồ hôi,
Nâng niu từng tấc đất,
Mỗi tấc đất là tấc lòng tấc ruột,
Là máu xương, là sự nghiệp ông cha.
Mà nay lìa cửa, lìa nhà,
Bởi say ánh sáng, chẳng thà thiêu thân.
Năm châu triệu triệu bước chân,
Của chúng tôi : Những người dân cần cù.
Ơi Tây Ðức mịt mù thăm thẳm,
Ơi Nam Dương ngàn dặm, héo hon !
Bốn phương giang mắc núi non,
Lưới nào bủa được cánh con chim trời ?
Ơi Tây Tạng, những lời nói ngọt,
Tại làm sao chẳng lọt vào tai ?
Ơi Hung Gia Lợi anh tài,
Nắm tay thành bức tường dài : chúng ta,
Kính chào Kémoularia,
Kính chào Liên Hiệp Quốc.
Phẩm giá con người từ lâu nhơ nhuốc,
Chúng tôi đi để chuộc lấy linh hồn.
Rồi những bình minh, rồi những hoàng hôn,
Chợt tỉnh lại ngoảnh về đất Bắc,
Thương cha mẹ đày trong gót giặc,
Nhớ từng lối cỏ bờ tre,
Mùa nào lúa chín đỏ hoe,
Mùa nào gió trở se se, hỡi mình ?
Nếu lấy sống làm vinh,
Chúng tôi không sống nhục.
Chỉ có một cực hình,
Là cúi đầu gục mặt.
Chúng tôi đi, bởi không cam què quặt,
Không học theo lang sói sủa quân thù,
Rạch Cái Sắn thành khoai, thành đỗ,
Rừng cao nguyên thành lúa, thành cơm,
Ðánh tranh gìn giữ cọng rơm,
Ở đây tưởng thấy mùi thơm quê nhà.
Ơi Kémoularia !
Biết lấy chi làm quà,
Trao vào tay sứ giả ?
Xin cho gửi niềm thống khổ,
Mồ hôi nước mắt tin yêu.
Xin cho gửi lời chào,
Những ai cùng cảnh ngộ,
Tiếng nói chúng tôi dù rằng bé nhỏ
Nhưng là tiếng nói can trường.
Nhờ tình yêu dẫn lối đưa đường
Hòa trong tiếng những người “đồng chí”.
Chúng tôi viết giữa không gian hùng vĩ,
Giữa lòng thế kỷ hai mươi :
“Chúng tôi là người,
Chúng tôi muốn làm người.”
Hỡi Kémoularia,
(trích trong tập thơ CHÂN TÂM do Ðỗ Kế Hoàn sưu tập trang 23)


Bài thơ này không viết theo một thể thơ nhất định nào. Nó là phối hợp nhiều thể thơ nhưng là một bài thơ.
Và sau đây là một bài Thất ngôn bát cú :

NGÔNG

Quay ngựa xích thố buộc khóm trúc
Ném gươm long tuyền về non Tây
Chí thôi đã lỡ, kệ binh lửa,
Danh vốn không màng, mặc cỏ cây.
Gà chó đôi con năm tháng rộng
Ruộng vườn dăm khoảnh gió trăng đầy
Buông câu, xốc áo quay nhìn vợ:
Trời đã chiều chưa? Ta đã say!

HTN

Câu đầu toàn vần trắc đến câu hai toàn vần bằng, bài thơ thật hay phá cách thật tài tình. Ông cũng đáng danh là một “đại gia thơ” trong làng thơ Việt Nam.

Như vậy thì thể thơ là một cách nói. Gần đây Bà Vi Khuê có viết và gửi cho tôi một bài thơ
. Mới đọc qua tưởng là luật Ðường. Nhưng theo tôi, đó là bài thơ “có vẻ” là luật thế thôi. Bài thơ như sau :

Bà Huyện Thanh Quan

Một tấm lòng hoa nặng nỗi niềm
Niềm non nỗi nước, mảnh tình riêng
Trong cơn gió bụi chìm hương lửa
Giữa cảnh phong ba lạnh mối giềng
Cung báo quốc não nùng điệu quốc
Giọng thuyền quyên khắc khoải lời quyên
Dừng chân đứng lại, ngùi trông lại
Ðể lại lời thơ vạn cổ truyền

Câu 5 có vẻ không đúng luật, nhưng nhịp của hai câu thơ ấy rõ ràng không còn là nhịp thơ của luật thơ nữa. Cho nên ta vẫn thấy thuận tai. Câu thơ vẫn đứng vững bởi nó đã chuyển qua nhịp thơ Song Thất (nhịp ba).Muốn phá được như thế, trước hết phải nắm vững luật thơ nói chung và dĩ nhiên tài năng phải vào bậc thượng thừa.
Lý Bạch, Thôi Hiệu, Ðỗ Phủ, Nguyễn Du… là những thi sĩ thượng đẳng, những đại gia trong làng thơ. Nhưng bài Anh Vũ Châu của Lý Bạch, bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, bài Khúc Giang của Ðỗ Phủ thất niêm và Ðộc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du cũng thất niêm :
Chưa ai làm thơ nhiều bằng Lý bạch, Thơ đối với ông là không khí. Ông xử dụng nó tự nhiên như hít thở khí trời.
Lý Bạch, tổ sư của thơ, người đời thường gọi ông là Trích Tiên, ông cũng có những bài thơ không chú trọng tới niêm luật :

Anh Vũ Châu

Anh Vũ lai quá Ngô giang thủy
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
Anh Vũ tây phi lũng sơn khứ
Phương châu chi thụ hà thanh thanh
Yên khai lan điệp hương phong noãn
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
Thiên khách thử thời đồ cực mục
Trường châu cô nguyệt hướng thùy minh

Dịch Nghĩa:

Chim Anh vũ xưa bay đến sông Ngô
Bãi trên sông mới truyền lại tên Anh Vũ
Chim anh vũ đã bay về Tây qua núi Lũng
Bãi thơm cây xanh biếc làm sao !
Khói toả ra từ lá cây lan làm gió thơm nổi dậy
Bờ liền với hoa đào, sóng gấm sinh
Lúc ấy người đi đày trông hoài cõi xa
Trên bãi dài mảnh trăng cô đơn còn soi sáng cho ai


Dịch Thơ:

Bãi Anh Vũ

Sông Ngô anh vũ xưa qua đó
Anh vũ thành tên gọi đến giờ
Anh vũ về đây qua núi Lũng
Bãi thơm cây cối những xanh mờ !
Mùi hương lan diệp lừng trong khói
Sóng gấm đào hoa gợn sát bờ
Thiên khách trông vời thôi cũng uổng
Ðợi ai trăng bãi luống bơ vơ !…

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Hay :

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu

Hay là :

Ðộng Ðình Hồ tây thu nguyệt huy
Tiêu tương giang bắc tải hồng phi
Túy khách mãn tiền ca Bạch Tử
Bất tri sương lệ nhạn thu y

Và :

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu

Những câu trích ra trên đây, thất niêm, thất luật lung tung ! Lý Bạch lại không biết luật ư ? Biết mà vẫn không sửa, không cần sửa, bởi nếu ông ta sửa, câu thơ sẽ mất hay !
Những câu thơ hay của Hàn Mặc Tử, của Quang Dũng của Thâm Tâm cũng cần có luật đâu ? Vậy thì niêm luật không cần thiết ư ? ố Không cần thiết thì đặt ra làm gì, nghiên cứu làm gì ?
Xin thưa : niêm luật cần lắm chứ ! Nó giúp người ta rất nhiều để làm những bài thơ “khả thủ”, những tay đại bút thì không cần. Họ chính là luật, họ tạo ra luật. Muốn sáng tạo đương nhiên phải thông thạo nó. Chưa biết mà tấp tểnh phá luật là một điều buồn cười. Người phá luật phải rất thông thạo luật, cũng như người giỏi võ phải thông thạo mọi thế võ, khi đã thạo võ, xuất chiêu là thành võ đâu cần phải câu nệ ? Không một võ sĩ nào khi lên đấu mới nghĩ đến những miếng võ mình cần xử dụng. Lầu thông rồi, nó biến thành những cử chỉ tự nhiên như hơi thở , đi đứng.

Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, là một trong những bài thơ hay trong hàng trăm hàng vạn bài thơ Ðường . Hoàng Hạc Lâu, hay đến nỗi nhà thơ như Lý Bạch, bước đến Lầu Hoàng Hạc thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên vách, liền quăng bút, không dám đề thơ nữa ! Giai thoại là thế, Lý Bạch là thi tiên của đời Ðường, là người uống một đấu rượu làm một nghìn bài thơ (Lý Bạch, đấu tửu thi bách thiên). Theo giáo sư Nguyễn Xuân Vinh thì ông làm gần hai vạn bài thơ.

Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu như sau :

Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ
Thử địa không dư Hàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Tản Ðà đã dịch và cho đến nay vẫn được coi là bài dịch hay nhất :

Lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Tản Ðà

Huệ Thu cũng có bài dịch :
(trong tập SCTÐ)

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?
Biết chăng Hoàng Hạc đây lầu trống trơn
Hạc bay rồi, đã bay luôn
Tầng cao mây trắng cứ vờn thiên thu
Hán Dương cây đứng gục đầu
Châu Anh bờ cỏ xanh màu nhớ thương
Sớm chiều nhắc mãi quê hương
Trên sông khói sóng giăng buồn trời ơi !

huệ thu

Và bài Khúc Giang của Ðỗ Phủ:

Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện
Ðiểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương tống mạc tương vi
Tản Ðà Dịch :


Sông Khúc

Khỏi bệ vua ra cố áo hoài
Bến sông say khướt, tối lần mai
Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?
Sống bảy mươi năm đã mấy người ?
Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn
Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi
Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi
Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.

Câu thứ bảy thất niêm, chữ lưu phải là chữ trắc. Dĩ nhiên Ðỗ Phủ thừa biết như vậy. Ông thất niêm cố ý ! Hỏi tại sao ông lại cố ý thì lại là vấn đề khác.

Bài Ðộc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du cũng vậy :

Tây Hồ mai uyển tẩn thành khư
Ðộc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần lân tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?

Bài thơ viết theo luật bằng :

Tây Hồ mai uyển tẩn thành khư

Ðến câu thứ 7 tự nhiên tác giả chuyển qua luật trắc :
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?

Trong làng thơ Quốc Âm, thơ thất niêm còn để lại cũng khá nhiều, thí dụ bài Vịnh Dế Duỗi của Tú Qui:

Kiến chẳng kiến voi chẳng voi
Ðời sanh dế duỗi cũng loi choi
Ngắn cánh lên trời không đủ sức
Có tay vạch đất cũng khoe tài
Mưa tuôn gió tạt lên cao ở
Lửa bỏng dầu sôi nhảy đến chơi
Quân tử có thương thời chớ phụ
Ðể cho bay nhảy thử mà coi


Bà Hồ Xuân Hương trong bài Ðèo Ba Dội câu đầu Hồ nữ sĩ đã phá luật:

Một đèo, một đèo, lại một đèo !
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm lum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Ðầm đìa lá liễu hạt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân cũng cứ trèo

Trong bài Xướng họa với Chiêu Hổ :

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày ?
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay !

Hay trong bài Khóc Tổng Cóc :


Chàng cóc ơi ! Chàng Cóc ơi !
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đấy nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi !

Câu đầu của hai bài thơ Tứ Tuyệt mỗi câu chỉ có 6 chữ, theo luật vừa phá cách vừa thất niêm, không nhất tứ (theo niêm thơ tứ tuyệt : nhất tứ, nhị tam). Những phá cách của nữ sĩ họ Hồ khó ai bắt bẻ được, bởi thơ bà chữ nghĩa dùng quá hay và quá tài tình.

Những người còn quá câu nệ vào luật thơ thì nên nhớ câu này :

Tận tín thư bất như vô thư = tin hết vào sách thà đừng có sách còn hơn.

Học nhưng phải có sáng tạo nhưng muốn sáng tạo phải biết cho tường tận trước đã.
Bất kể cái gì cũng cần phải học, phải có nguyên tắc. Và cũng phải hiểu, chưa có một nguyên tắc nào là vẹn toàn ! Học như thế mới là học.

Như vậy những bài thơ thất niêm, thất luật còn được truyền tụng phần nhiều là của các bậc danh gia. Vậy thì: “Ðại gia văn chương bất câu niêm luật”ư ?
Sự thật, niêm luật đối với người đã thạo nghề chẳng khác những võ sĩ khi thượng đài không còn phải nhẩm lại các đường quyền phải múa thế nào cho đúng, chân tấn thế nào cho vững! Xuất chiêu dĩ nhiên là có thế võ rồi.
Thiết tưởng sự thất niêm thất luật kia là cố tình chứ không phải sơ ý .

Rất nhiều bài thơ nổi tiếng ở nước ta của Hàn mặc Tử, của Quang Dũng … vừa thất niêm lại thất luật !( xin đọc phần phụ). Cho nên rõ ràng niêm luật chưa phải là thơ. Cứ câu nệ ở niêm luật chưa chừng thơ không còn là thơ nữa !

* Phần phụ Thêm :

Tôi nhớ trước đây tôi có trả lời chị NTND về một câu thơ của tôi chị cho là sai luật, trong bài :

Nhớ Quê Hương

Quê Hương. Trời ! Thao thức không tên *
Một tiếng rao quà mới cất lên
Ðà Lạt mây xưa mờ trước cửa
Trại Hầm mận ngọt lịm nhà bên
Chép thơ trong lớp lòng ngơ ngẩn
Cởi áo qua cầu nổi nhớ quên !
Một chút nắng vàng trên lộ vắng
Rưng rưng ngày ấy thác Prenn .

***

* Vì Câu nầy HThu muốn dùng lối phá thể, nếu không thì có thể viết :
Quê Hương thao thức nhớ không tên – nhưng nếu viết như thế này HThu thấy câu thơ mất đi cái vẻ phóng khoáng !

Câu đầu chị NTND muốn tôi sửa lại vì bị “trật niêm luật” – Nhưng tôi trả lời câu thơ đó tôi viết như thế vì muốn chuyển nhịp…

– Nếu hiểu theo cách học của nhà trường lúc mới vỡ lòng về thơ thì câu ấy sai luật chứ không sai niêm. Muốn sai niêm phải sánh với câu dưới. Còn nếu muốn nói đã sai luật là kéo thêm niêm thì cũng không sao.
Tôi xin kể ra đây một số thơ của những thi sĩ lớn của Việt Nam cũng như của Trung Hoa viết sai luật, cả niêm nữa (Nói đúng hơn là phá niêm luật).

Như trên, trong bài Khúc Giang , Ðỗ Phủ viết :

Truyền ngữ xuân quang cộng lưu chuyển
Trong câu này chữ lưu phải là thanh trắc

Trong bài Hoàng Hạc Lâu Thôi Hiệu viết :

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Chữ thừa thất luật .

Thơ Việt Nam thì Hàn Mặc Tử viết :
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Chữ về thất luật.

Quang Dũng thì viết :
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Chữ luông thất luật.

Trong bài Tống Biệt Hành, Thâm Tâm viết:
Ðưa người ta không đưa qua sông

Cả một câu bảy chữ đều là thanh bằng.

Trong bài Ðộc Tiểu Thanh Ký, Nguyễn Du viết :

Phong vận kỳ oan ngã tự cư

rồi hạ xuống hai câu kết:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như

như thế là thất niêm.
Thật ra, người ta làm thơ trước khi biết luật; Nói được Việt ngữ chẳng hạn trước khi học ngữ phạm Việt Nam. Luật không phải do người sáng chế ra mà chỉ do người khám phá ra luật . Vậy thì luật do đâu mà có ? Luật là quy tắc chung của muôn loài muôn vật : như nước chảy xuống chỗ trũng … Con người quan sát thiên nhiên, khám phá những quy luật của thiên nhiên, rồi quy củ hóa nó, điển chế nó để áp dụng vào thi ca, âm nhạc v… v…
Cái luật cốt tử của nó là luật điều hòa âm dương. Trong thơ, tiếng bằng là âm, tiếng trắc là dương. Mỗi câu thơ dù dài, dù ngắn, phải chia ra thành từng nhịp.
Người hơi có ý thức về thơ, đọc một câu thơ tất phải ngắt nhịp. Thường mỗi câu thơ chia ra làm ba nhịp.

Bây giờ hãy xin nói đến luật thơ Ðường Thi bát cú :

Mỗi bài có tám (8) câu, năm (5) vần, hoặc bốn (4) vần. Có hai thể : thể bằng và thể trắc.
Xin đơn cử một bài theo thể bằng :

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
v… v…

Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh.
Vậy thì chỉ có những chữ thứ 2, 4 , 6 phải theo luật bằng trắc như đã ấn định.
Luật ấy nếu viết tắt ra thì như thế này:

Thể bằng:
Chữ thứ Chữ thứ Chữ thứ
2 4 6

B T B
T B T
T B T
B T B
B T B
T B T
T B T
B T B

Thể Trắc :

Chữ thứ 2 Chữ thứ 4 Chữ thứ 6
T B T
B T B
B T B
T B T
T B T
B T B
B T B
T B T

Nhìn vào đó ta thấy, đếm theo hàng dọc :
B + TT + BB + TT + B

Vì bài thơ là thể bằng nên chữ thứ 2 của câu đầu là thanh bằng.
Nếu đếm theo hàng ngang thì :
B + T + B

Hễ giữa mà trắc, hai bên bằng là đúng luật. Còn đếm theo hàng dọc chữ thứ 2 của câu 1 + 8 giống nhau, chữ 2 của câu 2 + 3 giống nhau, chữ 2 của câu 4 + 5 giống nhau, chữ 2 của câu 6 + 7 giống nhau là đúng niêm.
Niêm luật ấy là chỉ dùng cho việc thi cử (để dễ có tiêu chuẩn mà chấm bài). Những bài thơ đúng luật nhất là những bài thơ của các vị đại khoa (các cụ Trạng, cụ Bảng, cụ Thám, cụ Nghè) khi làm để lưu niệm lúc ngồi ăn với vua. Những bài thơ ấy ngày nay có còn ai nhớ nữa đâu ! Nó chỉ đúng luật chứ chưa phải là thơ.
Những bài thơ mà tôi vừa nêu trên (như bài của Ðỗ Phủ là một bài luật thi hẳn hoi) mà vẫn thất niêm, thất luật. đâu có phải vì những người ấy không hiểu niêm luật.
Nếu chúng ta để ý nhận xét thì thấy thế này; từ tứ tuyệt đến song thất, đến luật thi, đến ca trù, đến thơ mới 8, 9 chữ.., tất cả chỉ có một luật, tất cả các luật đều giống nhau. Sở dĩ trong các sách giáo khoa người ta dạy thơ lục bát khác luật song thất v… v… để cho học trò dễ nhớ. Các thể thơ mà khác nhau là do nhịp thơ. Chính nhịp thơ (chữ cuối mỗi nhịp thơ là luật thơ, bắt buộc (nói bắt buộc là nói tương đối thôi) phải theo đúng bằng trắc còn tất cả tùy tiện muốn viết là bằng hay trắc cũng được. Ðây là tôi chỉ nói một cách sơ lược.


Vì thế trong câu thơ mà chị bảo là sai luật là tôi muốn chuyển nhịp câu thơ đang 2 + 2 + 3 thành 3 + 2 + 2 . Không phải là tôi bảo rằng có thể dùng thể thơ trộn lẫn song thất vào thể thơ thất ngôn. Ấy là tôi nhìn vào cái lý cuối cùng của luật : tạo ra quân bình thoải mái cho câu thơ. Mong sẽ còn lãnh thêm ý kiến của chị và các bạn thơ .

Ở trên tôi đã viết tất cả các thể thơ đều chung một luật : ấy là luật quân bình âm dương. Luật ấy là căn cứ ở những chữ cuối nhịp cửa mỗi câu thơ mà định. Chỉ có 3 chữ ở cuối các nhịp là chữ Luật nghĩa là phải viết đúng theo công thức T (nhịp 1) bằng (nhịp 2) T (nhịp 3) hoặc ngược lại: B (nhịp 1) Trắc (nhịp 2) B (nhịp 3) nghĩa là hễ chữ cuối ở nhịp thứ 2 là trắc thì chữ cuối của nhịp 1 và 3 phải bằng.

Tôi xin chứng minh :
Thể Lục Bát

Trăm năm (B) trong cõi (T) người ta (B)
Chữ tài (B) chữ mệnh (T) khéo là (B) ghét nhau (B)

Bởi câu 8 có 4 nhịp, 2 nhịp 3 và 4 cùng là bằng nên 2 chữ bằng 1 phải có dấu huyền (là) và một chữ không có dấu. Nhịp thơ của thơ lục bát là nhịp 2 – Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có luật lệ như câu :

Mai cốt cách (T) / tuyết tinh thần (B)
Câu thơ này nhịp 3 . Ðã vậy thì cuối nhịp 1 phải là trắc. Thơ lục bát có những biến thể :

Biến thể 1 :
ví dụ ta viết (đây chỉ là ví dụ):

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ mệnh khéo là ghét bỏ chữ duyên

Vần đáng lẽ ở chữ thứ 6 ở câu 2 thì ở đây lại gieo vào chữ thứ 4 . Khi ấy chữ cuối của các nhịp thơ sẽ đổi là nhịp 1 (chữ thứ 2) T, chữ thứ 4 (B), chữ thứ 6 (T) và chữ thứ cùng là bằng thì chữ vần phải có dấu huyền và chữ thứ 8 thì không .

Biến thể 2:
ví dụ :

Nước trong xanh lơ lửng cái con cá vàng
Cây ngô, bây giờ mà cành bích con chim phụng hoàng nó đậu cành trên .

Dù số chữ trong câu có dài hơn nhưng đọc lên câu trên vẫn có 3 nhịp và câu dưới có 4 nhịp . Ðó là 1 kiểu thơ của dân gian cho nên số chữ có thể linh động thêm bớt. Tuy nhịp thơ thì vẫn y nguyên . Nhịp thơ căn cứ vào đâu mà biết ? Thưa: – do linh tính. Ðọc lên là biết liền. Nếu đọc không đúng nhịp thì sẽ thấy trúc trắc .

Luật thơ song thất lục bát :
ví dụ :

Trải vách quế (T)gió vàng (B) hiu hắt (T)
Mảnh vũ y (B) lạnh ngắt (T) như đồng (B)
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má hồng

Luật thơ là : T (quế) B (vàng) T (hắt)
B (y) T (ngắt) B (đồng)
Chữ bằng ở cuối nhịp 1 không có dấu huyền thì chữ thứ 7 bắt buộc phải có. Ta nhìn rõ thì câu thơ theo đúng luật âm dương: giữa bằng thì hai bên trắc và ngược lại.

Thơ mới:
ví dụ :

Ðây là quán / tha hồ / muôn khách đến /
Ðây là bình / thu hợp / trí muôn hương /
Ðây là vườn / chim nhả hạt / mười phương
Hoa mật ngọt / chen giao / cùng trái độc /
Ðôi giếng mắt / đã chứa trời / vạn hộc /
(Xuân Diệu)

Nhịp của các câu thơ 8 chữ có thể là (theo các câu trên)
3 + 2 + 3
3 + 2 + 3
3 + 3 + 2
3 + 2 + 3
3 + 3 + 2
(nghĩa là có thể linh động)

Luật thơ : căn cứ vào các chữ cuối nhịp, ta có :

Câu 1 Quán (T) hồ (B) đến (T)
Câu 2 hình (B) hợp (T) hương (B)
Câu 3 vườn (B) hạt (T) phương (B)
Câu 4 ngọt (T) giao (B) độc (T)
câu 5 mắt (T) trời (B) hộc (T)


Nó đã đi vào luật ban đầu :
Giữa Bằng 2 bên trắc
Giữa Trắc 2 bên bằng

Hát nói:
Ví dụ :
Mới ngày nào / đã biết / cái chi chi
Mười lăm năm / thấm thoát / có ra gì /
Ngoảnh mặt lại / đã tới kỳ / tơ liễu .

Căn cứ vào những chữ cuối nhịp ta có :

nào (B) biết (T) chi (B)
năm ( B) thoát (T) gì (B)
lại (T) kỳ (B) liễu (T)

Cũng vẫn luật : giữa Trắc 2 bên Bằng và ngược lại câu 2, chữ cuối nhịp 3 cũng bằng nhưng không dấu .

Ðây là những hiểu biết thô thiển của tôi về phá cách trong luật thi , xin các quý vị cao minh cho thêm ý kiến để học hỏi thêm.

Huệ Thu
Ngày 10 tháng 3 năm 2008


20 thg 8, 2020

Chùm Thơ Mùa Đông (Hồ Nguyễn,Võ Hà Thu Giang


Take Out Snow Please

As out the window,
I look, more snow today,
Have only one thing to say,
take out snow please.

Six week-ends straight,
snow, snow every where,
have only one thing to say,
take out snow please, today.

So much snow, so much cold,
snow in the streets, snow in the yard,
snow on the car, snow on my shoe,
have only one thing to say,
take our snow please, we don't know what to do.

Winter, oh winter please end,
all of this snow, we don't really want it,
snow falling, flakes dropping
have only one thing to say,
take out snow please, don't delay. 

 * jim foulk


DỊCH THOÁT:
Hôm nay xuyên khỏi cửa,
Nhìn thấy nhiều tuyết rơi.
Có một điều mong nữa,
Mang tuyết đi giùm tôi.

Sáu tuần thêm trước mặt,
Tuyết trãi khắp mọi nơi.
Có một điều chân thật,
Mang tuyết đi giùm tôi.

Tuyết đến mang theo cái lạnh vào,
Tuyết vùi phố sá đến vườn sau.
Trong xe tuyết ngủ, giày đầy tuyết,
Biết nói làm sao tuyết chẳng vào.

Mùa đông có đến nữa? - Xin thôi!
Tuyết đến mà chi quá lạnh rồi.
Tôi có một điều xin được nói,
Thương xin nhặt giúp tuyết giùm tôi.
HỒ NGUYỄN (Texas, 11-10-2012)



                         CẢM TUYẾT
             Nàng tuyết lung linh đẹp tuyệt vời, 
             Khiến lòng rung động gợi niềm vui.
Đó đây tuyết phủ tình thơ cảm,
Tuyết đến bên ta, dáng dễ duôi.

Thân tuyết mong manh nét mượt mà,
Nếu không ai nói tưởng sương sa.
Êm đềm trông ngắm thân mềm mại,
Trần thế hay nơi cõi Ma Ha?

Tuyết rơi õng ẹo, dáng thiên thai,
Tuyết thấm thân ta mát miệt mài.
Tuyết đến rồi đi, ta ở lại,
Lòng buồn rười rượi, tuyết nào hay?

Nắng đã lên rồi tuyết phải đi!
Buồn ơi. . tiễn tuyết cảnh phân kỳ.
Tuyết ơi! Có đến lần sau nữa,
Ta sẽ hôn em đôi cánh mi!

Tuyết đã đi rồi thân rã tan,
Còn ta ở lại biệt đôi hàng.
Thân em đã trở thành nhung loãng,
Đời có gì đâu, khoảnh khắc mang!!
HỒ NGUYỄN
(Austin, Texas- Mùa Đông năm Tân Mão-2011)


SẮC LẠNH MÙA ĐÔNG
1-Đông về tuyết phủ lá buồn than,
Lạnh rét chim kêu bạn bẽ bàng.
Cuối phố người đi chân lạng quạng,
Đầu đường khuyển lạc sủa vang vang.
Cành ôm tuyết phủ đưa thân trụi,
Gốc đón cây khô rạp sắc tàn.
Tuyết lạnh bao trùm vây khắp nẽo,
Chừng nào tuyết thoát để xuân sang?

2-Bao giờ tuyết thoát để xuân sang,
Cái lạnh buông tha ấm ngập tràn.
Hốc hác bay vèo hoa chớm nở,
Co ro thoát bước lá hân hoan.
Cành khô thắm lại hoa đua sắc,
Gốc mộc vun bồi hạt tuyết tan.
Mấy tháng mùa đông qua lạnh lẽo,
Xuân sang hẹn đón cảnh huy hoàng.
(Cali: Nov 01, 2013) HỒ NGUYỄN


NGÀY MÙA ĐÔNG OTTAWA
Nắng xuống thắp gió đông luồn thổi lạnh,
Mây chiều đan giăng mắc đón chờ mưa.
Cành cây khô bơ vơ buồn hiu quạnh,
Khói nhà ai lan toả sợi lưa thưa.

Theo chu kỳ đông đi rồi trở lại,
Cuốn lá vàng theo gió gởi bay đi.
Mùa thu ơi tiễn em lòng tê tái,
Mắt nhìn nhau nghe nằng nặng bờ mi.

Phố vắng người vắng tiếng chim ca hát,
Lạnh ngoài trời lạnh đến cả tâm tư.
Ngày mùa đông chờ nắng hồng khao khát,
Xoá tan đi những trừ tịch âm u.

Góc công viên loang loáng sương pha tuyết,
Băng đá buồn chờ đợi bóng cố nhân.
Bản tình ca ngân vang lời tha thiết,
Cung điệu buồn đan dệt khúc lâng lâng.

Dòng sông thu nước đóng băng lạnh giá,
Thương thật nhiều đàn sáo nhỏ chơi vơi.
Người ra đi như bóng chim tăm cá,
Bỏ lại sau lưng hàng vạn cuộc chơi.

Tàu bỏ neo nằm hiu hắt ngoài khơi.

 VŌ HÀ THU GIANG (30 / 10 / 2013)

                 ĐÔNG VỀ ĐAN ÁO LEN

Đông về đan áo len
Sợi chỉ hồng vàng đỏ
Vạt nắng chiều bẻn lẻn
Luồn trong mắt nai tơ

Phố nhỏ ngủ thiu thiu
Cuộn trong chăn bông ấm
Văng vẳng nhạc bổng trầm
Âm thanh lắng đìu hiu

Chuông giáo đường ngân ngân
Bài thánh ca muôn thuở
Bên máng cỏ thiên thần
Chấp cánh bay qua cửa

Giáng sinh thứ bốn mươi
Người âm thầm lặng lẽ
Pha mực chọn màu tươi
Tâm tình qua tranh vẽ

Áo len vừa đan xong
Ngoài trời mưa ngập tuyết
Biết mẹ đang chờ mong
Gởi giòng thơ tha thiết

VÕ HÀ THU GIANG (Mùa đông Ottawa-2013)

12 thg 11, 2013

Thơ Thu Giang : Muối và Gừng

                                                                    MUỐI và GỪNG

Gừng cay thì thật là cay

Muối thì mặn đắng đắm say cuộc tình
Hoàng hön rồi đến bình minh
Dấu chân trên cát in hình đôi chim
Mặt trời đôi mằt lim dim
Đêm qua thức trắng để tìm vầng thơ
Sóng xô trôi dạt vào bờ
Nghêu sò ốc hến hững hờ cuộc vui
Cát buồn biển cũng bùi ngùi
Mằt sương đẫm lệ nói lời chia tay
Xa xa chênh chếch bóng mây
Chim bay về núi hướng tây chập chùng
Muối mặn trộn lẫn với gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau(*)
Muối càng mặn biển càng sâu
Tình yêu gắn bó bền lâu với gừng
Gió đưa con sóng bềnh bồng
Muối trắng ôm ấp dã tràng xoay xoay
Gừng càng già thì càng cay 
     Muối càng mặn đắng càng  say duyên tình



                                                               VÕ HÀ THU GIANG(k.9-SPSG)

                                                                  14/9/2013

(*) ca dao

Cảm tác bài "Muối và gừng" của Thanh Mai.

Nov 15 at 3:31 AM
Đơn giản thôi là muối với gừng,
Uyên ương đôi bạn cũng nên mừng. !
Một thiên tình sử lưu muôn thuở,
Bách tuế răng long vẫn phấn hưng.
Biển mặn  nên công thành hạt muối,
Non xanh trồng trọt có cây gừng...
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ,....!   (1)
Dầu giận dầu thương cũng muối gừng...!

MAI  XUÂN  THANH
14 November 2013
Ghi chú : Ca Dao :
- " Hai tay bưng dĩa muối gừng,
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau "  !
Bài 2'

           Biển mặn mới sinh hạt muối ngà,
Rừng xanh gốc gát tạo gừng ra...
Thương nhau kỹ niệm đời son trẽ,
Luyến ái vuông tròn khổ cũng qua...!
Muối mặn gừng cay là số phận,
Chim trời cá nước vẫn phôi pha.
Tình yêu dấu ái như chim cá,
"Trả nợ tình xa " đợi đến già...!

MAI  XUÂN  THANH
14 November 2013
Tặng bạn Võ Hà Thu Giang
( Bài Thơ Của Bạn Rất Tâm Đắc )