Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thành ngữ : Cung. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn thành ngữ : Cung. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

1 thg 10, 2019

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 37 : CUNG (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi )

  CUNG 弓 là Cung Tên, CUNG 宮 là Cung Điện, CUNG 宮 là Cung Đàn. Ta sẽ lần lượt điểm qua các thứ CUNG nầy trong văn học cổ của Việt Nam ta.

      CUNG 弓, chữ Nho còn gọi là HỒ 弧, với từ TANG HỒ 桑弧 là Cây cung làm bằng gỗ cây dâu (Tang 桑 là Cây dâu tằm ăn), nên trong văn học cổ ta có từ CUNG DÂU, như hai câu thơ trong truyện Nôm Phan Trần sau đây :

                                     Tới tuần hội cả đua nhau,
                         Bút nghiên phỉ chí CUNG DÂU hằng nguyền.

      CUNG DÂU thường được bắn bằng tên làm bằng đường xương sống của cọng cỏ bồng, gọi là BỒNG THỈ 蓬矢 (THỈ đồng nghĩa với TIỂN 箭 là Mũi Tên), nên ta lại có thành ngữ TANG HỒ BỒNG THỈ 桑弧蓬矢 (Cung bằng cành dâu, tên bằng cỏ bồng). Thành ngữ nầy thường bị đọc trại thành HỒ THỈ TANG BỒNG hay TANG BỒNG HỒ THỈ như trong bài hát nói "Nợ Nam Nhi" của cụ Nguyễn Công Trứ :

                                   TANG BỒNG HỒ THỈ nam nhi trái
                                   Cái công danh là cái nợ lần

        Theo sách Lễ Ký-Xạ Nghĩa hữu vân :"Cố nam tử sanh, tang hồ bồng thỉ lục, dĩ xạ thiên địa tứ phương giả, nam tử chi sở hữu sự dã.《礼记.射义》有云:“故男子生,桑弧蓬矢六,以射天地四方,天地四方者,男子之所有事也。” Có nghĩa : vì thế khi đẻ con trai, thì dùng cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng bắn đi bốn phương, bắn lên trời xuống đất nữa là sáu hướng, những nơi mà kẻ làm trai phải tạo dựng nên sự nghiệp". Ý muốn tỏ rõ là Làm trai phải chí ở bốn phương, sau dùng để khuyến khích làm trai phải có chí lớn để tạo dựng nên sự nghiệp.

       TANG BỒNG HỒ THỈ còn được gọi tắt là TANG BỒNG như hai câu thơ bảy chữ cũng trong bài hát nói trên là :
                                   Cũng rắp điền viên vui tuế nguyệt
                                   Trót đem thân thế hẹn TANG BỒNG.

      Hay như trong bài "Chí Nam Nhi" cũng của cụ Nguyễn Công Trứ :

                                           Đố kị sá chi con Tạo,
                                Nợ TANG BỒNG quyết trả cho xong.
                          
                                     TANG HỒ BỒNG THỈ 桑弧蓬矢.

           Cung tên để tạo dựng nên sự nghiệp, nhưng khi đã công thành danh toại, thì cung tên thường bị xếp xó bỏ quên như thành ngữ ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG 鳥盡弓藏,  có nghĩa : Khi chim đã hết thì cung cũng được cất lên. Theo tích sau đây :         
          Theo Thuyết Lâm Huấn của sách Hoài Nam Tử có câu : "Giaỏ thố đắc nhi lạp khuyển phanh, cao điểu tận nhi cường nỗ tàng 狡兔得而猎犬烹,高鸟尽而强弩藏". Có nghĩa : " Khi những con thỏ khôn lanh đã bị bắt, thì con chó săn bị đem đi nấu thịt cầy; Khi các con chim bay cao bị bắn hạ hết thì cây cung mạnh cũng bị đem đi cất lại". Theo sách Sử Ký, Việt Vương Câu Tiễn Thế Gia《史记·越王勾践世家》thì Phạm Lãi 范蠡 là mưu thần đồng thời cũng là tướng giỏi của Việt Vương Câu Tiễn, ông đã giúp cho Câu Tiễn phục thù và tiêu diệt nước Ngô, xưng bá trung nguyên. Nhưng ông cũng biết rằng Việt Vương Câu Tiễn là người chỉ cùng chung hoạn nạn chứ không thể cùng chung phú qúy được. Để tránh cảnh thỏ hết thì chó săn bị giết, chim hết thì cung bị treo lên, nên ông đã từ quan mà vào đất Ngũ Hồ để kinh thương và đã trở thành một thương gia giàu có, đổi tên là Đào Chu Công. Tương truyền là ông cũng đã dắt theo nàng Tây Thi xinh đẹp để vào đất Ngũ Hồ cùng sống cảnh vinh hoa phú qúy an hưởng tuổi già. Nên...

        Câu thành ngữ ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG 鳥盡弓藏, ngày xưa dùng để chỉ khi đế nghiệp đã đạt thành thì các vua chúa hay giết hại công thần; Ngày nay cũng dùng để chỉ khi việc gì đó đã thành công rồi, thì quên hết những người trước kia đã từng ra sức giúp đỡ. Trong văn học cổ của ta gọi là CUNG ĐIỂU CA, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của vua Lê Thánh Tông có câu :

                                       Cổ Kỳ vai ấy còn rành rạnh,
                                   CUNG ĐIỂU CA đâu khéo tỏ tường.
                                    
          CUNG cũng thường đi liền với KIẾM để chỉ về nghề võ hoặc những người theo võ nghiệp như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

                                      Làng CUNG KIẾM rắp ranh bắn sẻ,
                                      Khách công hầu ngắm nghé mong sao.

      Còn trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thì khi Bạc Bà ép Thúy Kiều lấy Bạc Hạnh, nàng đã tỏ lời e ngại dè chừng rằng :

                                       Thiếp như con én lạc đàn,
                                    Phải tên giờ đã sợ làn cây cong.

      Hai câu thơ trên lấy ý ở câu KINH CUNG CHI ĐIỂU KIẾN KHÚC MỘC NHI CAO PHI 驚弓之鳥見曲木而高飛. Có nghĩa : Con chim sợ cung (vì bị tên bắn hụt một lần rồi), cho nên thấy làn cây cong (giống như cây cung) bèn sợ mà bay cao lên.

         Cung A Phòng ngày nay được tái kiến trúc theo tài liệu lịch sử.
         CUNG 宮 còn là Cung Điện 宮殿. Cái cung điện nổi tiếng đầu tiên ngày xưa là A PHÒNG CUNG 阿房宮 do Tần Thủy Hoàng sau khi đã gồm thâu lục quốc muốn phô trương thanh thế mà xây nên (212 trước Công nguyên, năm Tần Thủy Hoàng thứ 35). Khi Hạng Võ Sở Bá Vương đem quân đánh chiếm kinh đô Hàm Dương đã cho đốt cung A Phòng. Tương truyền ngọn lửa cháy đến ba tháng mới tắt.
         Trong văn học cổ ta gọi cung A Phòng là CUNG A, như trong "Tần Cung Nữ Oán Bái Công Văn" của Đặng Trần Thường ở cuối đời Lê đầu đời Nguyễn là :

                    Sương tỏa CUNG A,
                    Mây lồng đồn Bá.
Có nghĩa :
     Các cung nữ đương ở trong cung A Phòng vắng  vẻ vì Bái Công đến đóng đô tại đồn Bá Thượng.

       Ngoài CUNG A ra, trong bài phú trên cụ Đặng còn đề cập đến tên của một CUNG nữa là CUNG VỊ THỦY là các cung điện nằm dọc theo bờ sông Vị ở Hàm Dương, cũng được xây dựng vào đời Tần :
               CUNG VỊ THỦY lúc nỉ non tiếng dế, trướng thu phong lạt bậc quản huyền xưa,
               Cửa Hàm Quan khi chói lói ngọn đào, rèm tà nguyệt ố màu la ỷ cũ.

      "Thời lai phong tống Đằng Vương Các 時來風送藤王閣" là "Khi thời vận đến thì gió sẽ đưa đến Gác Đằng Vương" theo tích của người đứng đầu Tứ Kiệt đời Sơ Đường là Vương Bột. Cụ Nguyễn Du đã mượn tích nầy để nói về tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư và Thúc Sinh trong Truyện Kiều như sau :
                
                        DUYÊN ĐẰNG thuận nẽo gió đưa,
                     Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.  

      Nhưng, Phạm Thái 範泰 (1777-1813), một danh sĩ ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 của ta, không gọi là GÁC ĐẰNG, cũng không gọi là DUYÊN ĐẰNG, mà gọi là CUNG ĐẰNG trong "Sơ Kính Tân Trang" như  sau đây :
                        Bây giờ mượn gió CUNG ĐẰNG,
                    Vì duyên đưa mối xích thằng lại đây.  

      Trong văn học cổ ta còn gặp rất nhiều CUNG không có thật trên đời như CUNG QUẾ, CUNG QUẢNG, CUNG THIỀM, CUNG NGAO LẦU THẬN ...

     -CUNG QUẾ là QUẾ CUNG 桂宮 : Tên cung điện do Hán Vũ Đế năm thứ tư (101 trước Công Nguyên) xây nên, nằm ở tây bắc của thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây hiện nay; cũng là tên của cung điện của Trần Hậu Chúa ở Nam Triều xây cho người đẹp Trương Lệ Hoa ở. Nhưng trong văn học cổ của Việt Nam ta CUNG QUẾ chỉ có nghĩa là CUNG TRĂNG mà thôi, như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ông Như Hầu Nguyễn Gia Thiều viết về nàng cung nữ thất sủng :

                      Trong CUNG QUẾ âm thầm chiếc bóng,
                      Đêm năm canh trông ngóng lần lần.
    ...hay như trong bài "Muốn làm thằng Cuội" của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :

                      Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
                      Trần thế em nay chán nữa rồi.
                      CUNG QUẾ đã ai ngồi đó chửa?
                      Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

     - CUNG QUẢNG là QUẢNG HÀN CUNG 廣寒宮 : Theo thần thoại Trung Hoa là tên của một cung điện trên mặt trăng, nơi mà Hằng Nga ở, như trong Truyện Kiều khi tả Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, Thúy Kiều ở lại một mình đã buồn cho số phân " Sắn bìm chút phận con con" của mình mà than vãn :

                       Thân sao nhiều nỗi bất bằng,
                   Liều như CUNG QUẢNG ả Hằng nghĩ nao!

     - CUNG THIỀM là THIỀM CUNG 蟾宮 : Cũng như CUNG QUẾ, CUNG QUẢNG, CUNG THIỀM cũng dùng để chỉ NGUYỆT CUNG là Mặt Trăng, vì theo thần thoại Trung Hoa xưa trên mặt trăng có con Cóc ba chân gọi là Thiềm Thừ 蟾蜍. Trong văn học cổ của ta thường dùng để chỉ mặt trăng hay chỗ ở của người đẹp, như trong truyện thơ Nôm Lưu Nữ Tướng :
              
                       CUNG THIỀM bóng đã cao giơ,
                    Mãi vui bẻ quế ngại thưa thớt nhàn.

   ... hay như trong truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có câu :

                       Kêu thương tiếng nhạn lay thềm,
                  Phong thư gửi đến CUNG THIỀM được không ?!
               

       
        CUNG NGAO LẦU THẬN là HẢI THỊ THẬN LÂU 海市蜃樓. NGAO 鰲 là một loại rùa biển lớn có thể đội cả một hòn đảo lớn trên lưng; THẬN 蜃 là một loại rồng biển như giao long. Theo Sử Ký-Thiên Quan Thư 史记·天官书 : Con thận trên biển thở hơi có thể kết thành những lâu đài thành quách, núi non sông nước, cảnh vật con người hiện lên trên bầu trời của khoảng không mênh mông trên mặt biển. Vì là cảnh ảo nên rất dễ mất đi. Theo khoa khí tượng học hiện nay thì đó là do hiện tượng quang học bức xạ phản chiếu trong thiên nhiên mà tạo nên những ảnh ảo ở những khoảng không trên biển, trên sa mạc hoặc nơi đồng không mông quạnh. Trong văn học cổ ta gọi là CUNG NGAO LẦU THẬN như trong bài "Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh" (1874) của cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu :

        Người lạc phách theo miền giang hải, CUNG NGAO LẦU THẬN, dành một câu thân thế phù trầm;
        Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, lũy kiến đồn ong, còn bốn chữ "âm dung phảng phất".
                                     HẢI THỊ THẬN LÂU 海市蜃樓 : CUNG NGAO LẦU THẬN                    CUNG 宮 còn là cung bậc đứng đầu ngũ âm trong âm nhạc cổ điển là CUNG, THƯƠNG, GIỐC, TRỦY, VŨ 宮商角徵羽. Trong văn học cổ ta hay gặp từ kép CUNG THƯƠNG 宮商 là hai âm đầu trong ngũ âm đi liền nhau để chỉ âm nhạc, như trong truyện Tây Sương Ký :

                             Vườn hoa đợi lúc thiên lương,
                   Đêm thanh lựa tiếng CUNG THƯƠNG một bài.

       Khi diễn tả tài đàn giỏi của Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã hạ câu :

                      CUNG THƯƠNG làu bậc ngũ âm,
                  Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một chương.
       Ngoài CUNG THƯƠNG ta còn gặp CUNG CẦM là Cung Đàn như khi nàng Kiều ở lầu xanh :

                       ...Đòi phen nét vẽ câu thơ,
                  CUNG CẦM trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
                        Vui là vui gượng kẻo là,
                     Tri âm ai đó mặn mà với ai ?!

    ...hay như khi Thúy Kiều phân bua với Hồ Tôn Hiến lúc "Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu" và đã " Hỏi rằng này khúc ở đâu, Nghe ra muôn thảm nghìn sầu lắm thay ?" Thúy Kiều đã đáp :

                     Thưa rằng : Bạc mệnh khúc này,
                     Phổ vào đàn ấy từ ngày còn thơ.
                     CUNG CẦM lựa những ngày xưa,
                     Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây !
                        
       Xin được kết thúc các CUNG ở đây. Hẹn bài viết tới !
                                                                                               Đỗ Chiêu Đức

2 thg 11, 2021

7 câu thành ngữ tục ngữ quen thuộc nhưng ai cũng đang dùng sai

Những câu thành ngữ, tục ngữ nầy ai cũng dùng sai . ? ( nói ai cũng dùng sai thì tôi nghĩ không đúng đâu ) những thầy gíao , nhà văn , nhà báo. v v… họ đâu có dùng sai . Nên biết khi nói ra những lời nầy thì phải thương cho người dân quê VN, có khi cả đời họ chưa biết đọc, hay viết, vì không được đi học . Chỉ nghe nhân gian truyền miệng , rồi từng địa phương phát âm v v .. Như cá nhân tôi , ví dụ câu 1 . Ướt như chuột lột . Từ xưa đến giờ tôi nghỉ là người ta ví con chuột đồng bị nhúng nước nóng rồi lột da bán ngoài chợ ở Miền Nam.. ( chắc là tôi sai ) ….có thể nói ướt như chuột lội thì đúng là chính xác .

7 câu thành ngữ tục ngữ quen thuộc nhưng ai cũng đang dùng sai

Thành ngữ - tục ngữ vốn là những câu nói quen thuộc, thường được người Việt sử dụng hàng ngày. Những câu thành ngữ - tục ngữ thường được dùng để nói ẩn ý về một vấn đề hay con người nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên ngày nay, tiếng Việt của chúng ta đang dần mất đi sự trong sáng vốn có của nó và những câu ca dao - tục ngữ đó cũng vậy đã bị "tam sao thất bản" qua thời gian, và lâu dần chúng ta đã quen miệng dùng mà không hề hay biết. Bạn không tin ư? Hãy cùng xem qua chùm tranh vui dưới đây để kiểm chứng điều này:

1. “Ướt như chuột lột”

“Ướt như chuột lột”

Ướt như chuột lội mới đúng chứ nhỉ

“Ướt như chuột lột” là một câu thành ngữ mà được nhiều người chúng ta đang sử dụng. Thiết nghĩ chuột thì làm sao mà “lột” được? Chỉ có “rắn lột” được thôi chứ? Điều này chứng tỏ, hầu hết mọi người đang đọc sai câu thành ngữ này.

Nguyên bản của câu thành ngữ này phải là “ướt như chuột lội” câu này có nghĩa chỉ một người bị ướt lướt thướt, quần áo dính chặt vào người giống hình ảnh của một con chuột lội từ dưới nước lên.

2. “Dùi đục chấm mắm cáy”

“Dùi đục chấm mắm cáy”

Dùi đục sao mà ăn được, phải là bầu dục

Trong quá trình giao tiếp hàng ngày, con người ta thường nói “dùi đục chấm mắm cáy”, thế nhưng đây là một câu nói sai. Từ đúng và nguyên dạng của nó phải là “Bầu dục chấm mắm cáy”. Trong câu “dùi đục chấm mắm cay” thì “dùi đục” là chỉ một dụng cụ trong nghề mộc, làm sao có thể ăn được. Còn Bầu dục là món ăn ngon và hiếm. Vậy mà cái món ăn hiếm ấy lại đem chấm với mắm cáy, một thứ mắm xoàng nhất; có thể nói là mạt hạng, trong các loại mắm ở vùng biển! Bầu dục, nếu ăn đúng cách là phải chấm với chanh, hay nước gừng. Còn mắm cáy thì chỉ dùng để ăn với rau muống, dưa, cà...

3. “Chân nam đá chân chiêu”

“Chân nam đá chân chiêu”

Trong câu thành ngữ này, tác giả đã sử dụng thủ pháp “đối”, trong câu này “chiêu” có nghĩa là bên trái, "đăm" sẽ được hiểu là bên phải. Còn “nam” lại không có nghĩa là bên phải.

Vậy xem ra, nguyên gốc của thành ngữ trên phải là “chân đăm đá chân chiêu” mới đúng. Mấu chốt ở đây là ở từ “xiêu”, vốn gắn liền với nghiêng ngả, xiêu vẹo. Nó hoàn toàn phù hợp dùng để chỉ dáng điệu của ai đó hoặc say xỉn, hoặc vội vàng tất tưởi, vụng về... mà đi đứng không ngay ngắn, vững vàng. Anh chàng say “tít cung thang” đó đã “góp phần” làm cho dân gian nói lệch câu thành ngữ độc đáo này.

4. “Râu ông nọ cắm cằm bà kia”

“Râu ông nọ cắm cằm bà kia”

Dâu ông nọ chăn tằm bà kia

Với câu này, chúng ta thường được sử dụng để ám chỉ sự nhầm lẫn, lắp ghép, lộn xộn, không chấp nhận được. Trên thực tế, nghĩa câu này không sai những lại khác nghĩa hoàn toàn với nghĩa gốc.

Nghĩa gốc sẽ là “Dâu ông nọ chăn tằm bà kia”, ý của câu này để ám chỉ việc lợi dụng những thứ thuộc về người khác để làm lợi cho riêng bản thân mình.

5. “Ra ngô ra khoai”

“Ra ngô ra khoai”

Ra khoai ra môn thì mới đúng

Câu này dùng để phân biệt những thứ gần giống nhau. Nhưng trên thực tế, ngô và khoai khác nhau hoàn toàn, không khó để chúng ta có thể phân biệt. Chính vì thế, lâu nay chúng ta đã dùng sai, trên thực tế câu thành ngữ đúng phải là "Làm cho ra môn ra khoai" có nghĩa là làm cho rành mạch, rõ ràng, không thể để nhầm lẫn, lẫn lộn được. Sở dĩ có thành ngữ này là vì cây khoai môn và cây khoai sọ rất dễ bị nhầm lẫn; Khoai môn là khoai có thân và lá dùng làm thức ăn cho lợn, củ ăn bị ngứa lưỡi, thân hình rất giống khoai sọ; còn cây ngô và cây khoai khác nhau rõ ràng, chỉ nhìn bằng mắt là đã có thể phân biệt không thể lầm được.

6. “Chủ vắng nhà gà mọc râu tôm” (hay mọc đuôi tôm)

“Chủ vắng nhà gà mọc râu tôm”

Câu này chỉ sự phá phách khi không có chủ

Để hiểu về câu thành ngữ này, chúng ta cần phải hiểu rằng câu trên được chia thành hai về đối nhau.

Vắng chủ nhà như bố mẹ hay người lớn tuổi trong nhà, trẻ con hay người làm thường nghịch ngợm bày trò phá phách trong nhà.

Gà mọc đuôi tôm: gà trong thời kỳ "mọc đuôi tôm" là thời kỳ vừa mới lớn, đuôi mới mọc một nhúm lông, thường phá phách, ăn ít phá nhiều, ỉa lung tung.

Câu đúng phải là: “Chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm” ý ám chỉ rằng không có chủ nhà cai quản sẽ sinh mấy trò phá phách, hư hỏng.

7. “Cao chạy xa bay”

“Cao chạy xa bay”

Những kẻ trốn kỹ, khó tìm

“Cao chạy xa bay" và "xa chạy cao bay”, hàm ý chỉ sự biệt tăm, trốn kĩ khó tìm thấy ngai lập tức, đây là hai câu thành ngữ được sử dụng song song nhau trong cuộc sống. Tùy vào từng trường hợp hội thoại mà chúng ta có cách sử dụng cho phù hợp. Thế nhưng có thể thấy, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta lại quen sử dụng thành ngữ “cao chạy xa bay” hơn là “xa chạy cao bay”, sự kết hợp của câu này vô cùng ấn tượng và bất bình thường.

 Sưu Tầm

 Từ Cảnh chuyển

__._,

7 thg 8, 2025

7 câu thành ngữ tục ngữ quen thuộc nhưng ai cũng đang dùng sai

Thành ngữ - tục ngữ vốn là những câu nói quen thuộc, thường được người Việt sử dụng hàng ngày. Những câu thành ngữ - tục ngữ thường được dùng để nói ẩn ý về một vấn đề hay con người nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên ngày nay, tiếng Việt của chúng ta đang dần mất đi sự trong sáng vốn có của nó và những câu ca dao - tục ngữ đó cũng vậy đã bị "tam sao thất bản" qua thời gian, và lâu dần chúng ta đã quen miệng dùng mà không hề hay biết. Bạn không tin ư? Hãy cùng xem qua chùm tranh vui dưới đây để kiểm chứng điều này:

1. “Ướt như chuột lột”





“Ướt như chuột lột” là một câu thành ngữ mà được nhiều người chúng ta đang sử dụng. Thiết nghĩ chuột thì làm sao mà “lột” được? Chỉ có “rắn lột” được thôi chứ? Điều này chứng tỏ, hầu hết mọi người đang đọc sai câu thành ngữ này.

Nguyên bản của câu thành ngữ này phải là “ướt như chuột lội” câu này có nghĩa chỉ một người bị ướt lướt thướt, quần áo dính chặt vào người giống hình ảnh của một con chuột lội từ dưới nước lên.
2. “Dùi đục chấm mắm cáy”





Trong quá trình giao tiếp hàng ngày, con người ta thường nói “dùi đục chấm mắm cáy”, thế nhưng đây là một câu nói sai. Từ đúng và nguyên dạng của nó phải là “Bầu dục chấm mắm cáy”. Trong câu “dùi đục chấm mắm cay” thì “dùi đục” là chỉ một dụng cụ trong nghề mộc, làm sao có thể ăn được. Còn Bầu dục là món ăn ngon và hiếm. Vậy mà cái món ăn hiếm ấy lại đem chấm với mắm cáy, một thứ mắm xoàng nhất; có thể nói là mạt hạng, trong các loại mắm ở vùng biển! Bầu dục, nếu ăn đúng cách là phải chấm với chanh, hay nước gừng. Còn mắm cáy thì chỉ dùng để ăn với rau muống, dưa, cà...
3. “Chân nam đá chân chiêu”



Trong câu thành ngữ này, tác giả đã sử dụng thủ pháp “đối”, trong câu này “chiêu” có nghĩa là bên trái, "đăm" sẽ được hiểu là bên phải. Còn “nam” lại không có nghĩa là bên phải.

Vậy xem ra, nguyên gốc của thành ngữ trên phải là “chân đăm đá chân chiêu” mới đúng. Mấu chốt ở đây là ở từ “xiêu”, vốn gắn liền với nghiêng ngả, xiêu vẹo. Nó hoàn toàn phù hợp dùng để chỉ dáng điệu của ai đó hoặc say xỉn, hoặc vội vàng tất tưởi, vụng về... mà đi đứng không ngay ngắn, vững vàng. Anh chàng say “tít cung thang” đó đã “góp phần” làm cho dân gian nói lệch câu thành ngữ độc đáo này.
4. “Râu ông nọ cắm cằm bà kia”





Với câu này, chúng ta thường được sử dụng để ám chỉ sự nhầm lẫn, lắp ghép, lộn xộn, không chấp nhận được. Trên thực tế, nghĩa câu này không sai những lại khác nghĩa hoàn toàn với nghĩa gốc.

Nghĩa gốc sẽ là “Dâu ông nọ chăn tằm bà kia”, ý của câu này để ám chỉ việc lợi dụng những thứ thuộc về người khác để làm lợi cho riêng bản thân mình.
5. “Ra ngô ra khoai”





Câu này dùng để phân biệt những thứ gần giống nhau. Nhưng trên thực tế, ngô và khoai khác nhau hoàn toàn, không khó để chúng ta có thể phân biệt. Chính vì thế, lâu nay chúng ta đã dùng sai, trên thực tế câu thành ngữ đúng phải là "Làm cho ra môn ra khoai" có nghĩa là làm cho rành mạch, rõ ràng, không thể để nhầm lẫn, lẫn lộn được. Sở dĩ có thành ngữ này là vì cây khoai môn và cây khoai sọ rất dễ bị nhầm lẫn; Khoai môn là khoai có thân và lá dùng làm thức ăn cho lợn, củ ăn bị ngứa lưỡi, thân hình rất giống khoai sọ; còn cây ngô và cây khoai khác nhau rõ ràng, chỉ nhìn bằng mắt là đã có thể phân biệt không thể lầm được.
6. “Chủ vắng nhà gà mọc râu tôm” (hay mọc đuôi tôm)





Để hiểu về câu thành ngữ này, chúng ta cần phải hiểu rằng câu trên được chia thành hai về đối nhau.

Vắng chủ nhà như bố mẹ hay người lớn tuổi trong nhà, trẻ con hay người làm thường nghịch ngợm bày trò phá phách trong nhà.

Gà mọc đuôi tôm: gà trong thời kỳ "mọc đuôi tôm" là thời kỳ vừa mới lớn, đuôi mới mọc một nhúm lông, thường phá phách, ăn ít phá nhiều, ỉa lung tung.

Câu đúng phải là: “Chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm” ý ám chỉ rằng không có chủ nhà cai quản sẽ sinh mấy trò phá phách, hư hỏng.
7. “Cao chạy xa bay”





“Cao chạy xa bay" và "xa chạy cao bay”, hàm ý chỉ sự biệt tăm, trốn kĩ khó tìm thấy ngai lập tức, đây là hai câu thành ngữ được sử dụng song song nhau trong cuộc sống. Tùy vào từng trường hợp hội thoại mà chúng ta có cách sử dụng cho phù hợp. Thế nhưng có thể thấy, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta lại quen sử dụng thành ngữ “cao chạy xa bay” hơn là “xa chạy cao bay”, sự kết hợp của câu này vô cùng ấn tượng và bất bình thường.

Sưu Tầm

Từ Cảnh chuyển

12 thg 10, 2017

6 lợi ích tuyệt vời giúp não bộ thông minh hơn khi học tập theo cách này, người Mỹ đã áp dụng thành công




Giáo dục song ngữ là một trong những xu hướng phổ biến nhất trong các trường ở Mỹ. Một số nghiên cứu đã khẳng định rằng giáo dục song ngữ có thể mang lại nhiều lợi ích, tăng sự chú ý, đồng cảm, nâng cao khả năng học tiếng Anh.

Judith Kroll – giáo sư tại Đại học California chỉ ra rằng trong 20 năm qua khả năng song ngữ tại Mỹ đã nâng cao. Theo họ, song ngữ là một kinh nghiệm đã duy trì trong não chúng ta.

Song ngữ đã trở thành xu hướng phổ biến nhất, các lớp học truyền thống tập trung vào đào tạo học sinh càng sớm càng tốt. Ngược lại, các lớp học song ngữ cung cấp hướng dẫn cho học sinh Anh ngữ, và nó trở thành một ngôn ngữ chủ đề. Và hy vọng rằng các học sinh sẽ có thể học song ngữ trước khi học trung học. Hiện nay các thành phố như New York, Bắc Carolina, Delaware, Utah, Oregon và Washington đang mở rộng giảng dạy song ngữ.

Hy vọng rằng các học sinh sẽ có thể học song ngữ trước khi học trung học. (Ảnh: Daubao)

Xu hướng giảng dạy song ngữ đã có cách đây 20 năm. Giáo dục ưu tiên tiếng Anh được biết đến với cự chấp thuận của California về khuyến nghị số 227 năm 1988. Đề xuất này nhằm làm giảm thời gian dành cho người học tiếng Anh trong môi trường song ngữ.

Một vài năm trước đây, nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên song ngữ có điểm IQ thấp hơn. Ellen Bialystok đã chỉ ra thiếu sót trong nghiên cứu đó. Antonella Sorace của Đại học Edinburgh, Scotland, chỉ ra rằng nghiên cứu ban đầu nhằm vào các nhóm người thiệt thòi trong xã hội, trái ngược với kết quả nghiên cứu gần đây.

Những lợi ích tiềm tàng của giáo dục song ngữ với não là gì? 

Chú ý

Bằng nhiều cách, giáo dục song ngữ có một lợi thế lớn trong việc gây chú ý. Khi bạn đi học, trước tiên hãy nói lời “goodbye” với mẹ, đi học nói “xin chào” với thầy giáo, tăng cường tư duy linh hoạt hơn và nâng cao khả năng giải quyết vấn đề. Những kỹ năng này là một phần của chức năng điều hành.

Có lợi thế như thế nào nếu con bạn bắt đầu ngôn ngữ thứ hai từ giai đoạn mẫu giáo. Tuy nhiên, chúng tôi biết rằng học ngôn ngữ và việc sử dụng mô hình này rất phức tạp, nhưng học giả Harvard Luke cho rằng ít nhất một nghiên cứu về việc quét tần số não trẻ cho thấy thanh thiếu niên học song ngữ từ sớm có cấu trúc não phát triển và sớm bắt đầu nói hai thứ tiếng. Khả năng quan sát đối chiếu, so sánh linh hoạt do trẻ luôn chuyển dịch từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ kia.

Nghiên cứu về việc quét tần số não trẻ cho thấy thanh thiếu niên học song ngữ từ sớm có cấu trúc não phát triển (Ảnh: Wait But Why)

Đồng cảm

Nếu trẻ học song ngữ ngay từ nhỏ, các mối quan hệ xã hội sẽ phát triển hơn. Trong trường hợp trẻ em học song song 2 ngôn ngữ ở độ tuổi nhỏ hơn 3 tuổi, kỹ năng xã hội và cảm xúc đóng vai quan trọng việc quan sát và lý thuyết trí tuệ. Trẻ  sẽ phát triển tốt hơn về kỹ năng xã hội từ sự tiếp cận nền văn hóa khác trên thế giới, kỹ năng giao tiếp linh hoạt và tâm thế tự tin.

Khả năng đọc tiếng Anh

Khoảng 10% học sinh ở Portland, Oregon được lựa chọn ngẫu nhiên cho các lớp học song ngữ, học tiếng Tây Ban Nha, Nhật Bản và Trung Quốc.

Giảng viên Steele của Đại học Hoa Kỳ đã thực hiện một kế hoạch trong vòng bốn năm để thấy rằng những sinh viên học song ngữ này đã hoàn thành năm học thứ hai của họ, khả năng đọc tiếng Anh hơn so với các bạn học. Steele lập luận rằng sự khác biệt rõ ràng giữa sinh viên song ngữ và đơn ngữ là sự xuất hiện của thứ tiếng thứ hai trong bài đọc hơn nhiều là toán học, khoa học, và học song ngữ sẽ cho phép sinh viên hiểu ngôn ngữ nói chung hoạt động như thế nào, nghĩa là cái gọi là “nhận thức về Metalinguistic”.

Nghiên cứu của Luke tại Harvard đưa ra một lời giải thích khác. Gần đây cô đã thực hiện một nghiên cứu nhỏ từ 100 sinh viên cùng độ tuổi ở Massachusetts, các sinh viên trong bài kiểm tra tiêu chuẩn đều có điểm đọc hiểu gần như nhau, nhưng kinh nghiệm ngôn ngữ là rất khác nhau. “Nó rất thú vị” – Luke nói “Bạn sẽ mong đợi khả năng hiểu được đọc hiểu bài báo để phản ánh từ vựng, và từ đó là nền tảng của sự hiểu biết.”

Học song ngữ sẽ cho phép sinh viên hiểu ngôn ngữ nói chung hoạt động như thế nào (Ảnh: Hanoi Connection)

Thành tích vượt xa

Nghiên cứu của Thomas và Collier của Đại học George Mason đã chỉ ra rằng sinh viên song ngữ có thành tích tốt hơn sinh viên học bằng ngôn ngữ đơn, chúng có vẻ hạnh phúc hơn và ít xuất hiện các hành vi xấu khi ở trường.

Thay đổi thái độ về vấn đề “tiền bạc”

Nhìn chung, các lớp học công lập của Hoa Kỳ có xu hướng phân biệt chủng tộc và đẳng cấp nhiều hơn, trừ trường học song ngữ. Vì các lớp học song ngữ bao gồm những người nói tiếng Anh bản địa và những người nhập cư mới, nguồn gốc chủng tộc và xã hội đa dạng hơn và cũng có thể giúp trẻ em có nhiều nguồn gốc khác nhau chấp nhận đa văn hóa và các nền văn hoá khác nhau. Các học giả đã chỉ ra rằng theo giáo dục song ngữ, học sinh Anh Ngữ không phải là người bản địa và gia đình của họ sẽ cảm thấy mọ người đang lắng nghe ngôn ngữ của họ, chú ý đến họ và do đó làm tăng cảm giác thân thuộc.

Ngăn ngừa sự suy giảm nhận thức và chứng mất trí


Các học giả đã phát hiện ra rằng sử dụng chủ động cả hai ngôn ngữ dường như có khả năng ngăn ngừa chứng sa sút trí tuệ liên quan đến tuổi tác, có lẽ liên quan đến sự thay đổi cấu trúc não. Nghiên cứu về bệnh Alzheimer của Canada xác nhận rằng người lớn học song ngữ có điểm các bài kiểm tra nhận thức và các chức năng hàng ngày cao hơn người bình thường, sử dụng song ngữ làm chậm quá trình suy giảm trí nhớ từ 2-4 năm.
Hoàng Hà

24 thg 6, 2019

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 31 : BÓNG ( Đỗ Chiêu Đưc Diển Giãi )

 BÓNG
       
                      

        BÓNG chữ Nho gọi là ẢNH 影, nên Bóng của Người gọi là NHÂN ẢNH 人影. Theo Đạo Giáo thì đời sống chính thức của con người là ở trên...Trời, còn đời sống trước mắt ở thế gian nầy chỉ là cái hình chiếu, là Cái Bóng ở trên trời rọi xuống mà thôi, nên Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết trong "Cung Oán Ngâm Khúc" là :

                          Cái quay búng sẵn trên trời,
                     Mờ mờ NHÂN ẢNH như người đi đêm !
      
       Cái BÓNG đầu tiên mà ta thường thấy trong văn học cổ là BÓNG ÁC, BÓNG ÁC TÀ hay BÓNG TÀ đều có nghĩa giống như nhau. Theo sách Ngũ Kinh Thông Nghĩa 西漢劉向的五經通義 của Lưu Hướng đời Tây Hán đã dùng thuyết âm dương để miêu tả là trong mặt trăng có con Thiềm thừ 蟾蜍 (con Cóc), và Ngọc thố 玉兔 (Thỏ ngọc), còn trong mặt trời thì có con Kim Ô 金烏 (Quạ vàng hay Ác vàng) ba chân. Nên trong văn học cổ gọi mặt trăng là Thiềm Cung (cung của con Cóc ở) như trong truyện Nôm Trinh Thử :

                          THIỀM CUNG bóng đã tà tà,
                     Khuyên rằng mau trở lại nhà với con.

                Inline imageInline image
     ... hay còn gọi mặt trăng là Bóng Thỏ (Ngọc thố) như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

                        Khi BÓNG THỎ chênh vênh trước nóc,
                        Nghe vang lừng tiếng giục bên tai.

        Và gọi mặt trời là Ác Vàng (Kim Ô) như bài học thuộc lòng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư :

                        ÁC VÀNG đang lúc tỏ trời,
                    Bỗng đâu mây kéo khắp nơi mịt mù.
                        Giông giục giục, gió vù vù,
                    Cây rung lá đổ lao xao chật đường ...

         Hay gọi mặt trời chiều là Bóng Tà như trong Truyện Kiều tả lúc Kim Kiều sơ ngộ trong Hội Đạp Thanh của Tiết Thanh Minh :

                        BÓNG TÀ như giục cơn buồn,
                    Khách đà lên ngựa người còn ghé theo !

        Vì mặt trời là Vầng Kim Ô, nên còn được gọi là BÓNG Ô, như trong truyện Trinh Thử :

                        Một niềm dạ sắt in vầng thỏ,
                        Mấy lúc lòng vàng chỉ BÓNG Ô.

       Hay gọi chung mặt trăng mặt trời là THỎ LẶN ÁC TÀ để chỉ ngày tháng qua đi một cách nhanh chóng vô tình, như khi Vương Quan kể lể về "Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi", nên khi đã "trâm gãy bình rơi" chết rồi thì chẳng ai đoái hoài :

                         Trải bao THỎ LẶN ÁC TÀ,
                     Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm !

         Inline image Inline image
                       Thỏ lặn                                     Ác tà

       Riêng mặt trăng, do tích Hậu Nghệ Hằng Nga theo sách Hoài Nam Tử 淮南子: Hằng Nga (hay Thường Nga) là vợ của Hậu Nghệ đã lén chồng uống thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu ban cho Hậu Nghệ, nên thành tiên bay lên cung trăng ở trong cung Quảng Hàn, vì thế mặt trăng còn được gọi là Cung Quảng, Cung Nga hay BÓNG NGA ... như Thúy Kiều sau khi viếng mả Đạm Tiên và gặp Kim Trọng xong thì về nhà tối hôm đó đã : 

                        Một mình lặng ngắm BÓNG NGA,
                     Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.
                        Người mà đến thế thì thôi,
                     Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi,
                        Người đâu gặp gỡ mà chi,
                     Trăm năm biết có duyên gì hay không ?

       BÓNG NGA còn dùng để chỉ người đẹp, như khi anh chàng Sở Khanh gặp người đẹp Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, cụ Nguyễn Du đã viết về Thúy Kiều như sau :

                        BÓNG NGA thấp thoáng dưới mành,
                     Trông nàng chàng cũng ra tình đeo đai.

        Không gọi là BÓNG NGA thì gọi là BÓNG TỐ, như trong Hoa Tiên Truyện của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

                        Chập chờn BÓNG TỐ trêu ai,
                     Hoa đâu rụng, lá đâu rơi trước rèm ?
   
       Không gọi là BÓNG TỐ thì gọi là BÓNG THỎ, như trong bài Nghĩ Thiên Vấn trong Phó Huyền Tập có câu : "Nguyệt trung hà hữu? Ngọc thố đảo dược 月中何有?玉兔捣药". Có nghĩa : Trong mặt trăng có gì? Có con thỏ ngọc giã thuốc. Như trên đã nói, trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu có câu :

                       Khi BÓNG THỎ chênh vênh trước nóc,
                       Nghe vang lừng tiếng giục bên tai.

                Inline image
 Inline image
       Không gọi là BÓNG THỎ thì còn gọi là BÓNG QUẾ (hay Cung Quế, Đan Quế ...) do tích trong Dậu Dương Tạp Trở, chương Thiên Xích 酉陽雜俎·天咫 : Trong mặt trăng có cây quế, có thiềm thừ. Cây quế cao năm trăm trượng, dưới có một người cầm búa đốn cây quế nầy, nhưng chặt đến đâu thì cây lại liền ngay đến đó, Người đó tên là Ngô Cương, người đất Hà Tây, theo tu Đạo học tiên, nhưng vì phạm lỗi nên mới bị phạt đốn cây quế như thế" (Tương truyền Ngô Cương có tình ý với Hằng Nga, nên đến cung trăng để bày tỏ tình ý của mình, bị Ngọc Đế biết được nên mới phạt cho đốn cây quế ở cung trăng mãi mãi như thế). Trong Thơ Nôm bài 23 của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tả cảnh thiên nhiên cũng có tình ý như người. Ông muốn níu lại từng làn hương thoảng qua song cửa, ban đêm nâng chén rượu, ông hồi hộp sợ bóng trăng tan đi, không ở lại với mình, nên mới hạ câu :

                           Nương song, ngày tiếc mùi hương lạt,
                           Nối chén, đêm âu BÓNG QUẾ tan...

                 Inline image
  Inline image
         

       Để nuối tiếc cho thời gian qua nhanh một cách vô tình không chờ đợi vị nễ ai cả, ta có thành ngữ BÓNG CÂU QUA CỬA SỔ, như trong bài Thành Ngữ Điển Tích về chữ BẠCH, ta đã biết qua về câu nói của Trang Tử trong Tri Bắc Du《庄子·知北游: “人生天地之间,若白驹之过隙,忽然而已. Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược Bach Câu chi Qúa Khích, hốt nhiên nhi dĩ ". Có nghĩa :" Con người sống trong trời đất cũng giống như là bóng ngựa trắng thoáng qua khe cửa, chỉ trong chốc lát mà thôi". Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều có câu :

                      BÓNG CÂU thoáng qua mành mấy nỗi,
                      Những hương sầu phấn tủi sao xong.

       Để tả vẻ đẹp hấp dẫn gợi tình của nàng cung phi trong Cung Oán Ngâm Khúc ta còn đọc thấy câu :

                      BÓNG GƯƠNG lấp loáng trong mành,
                      Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.

       Để chỉ những nàng con gái đẹp, những giai nhân ngày xưa, ta còn thấy từ BÓNG HỒNG. Từ nầy có xuất xứ từ từ Hồng Quần 紅裙 mà ra, vì ngày xưa các nàng con gái Trung Hoa đi ra ngoài hay mặc quần màu hồng, như cụ Nguyễn Du đã nói về chị em của Thúy Kiều là : "Phong lưu rất mực HỒNG QUẦN" vậy, nên BÓNG HỒNG là bóng dáng của những giai nhân, của những nàng con gái đẹp, cũng trong Truyện Kiều, khi Kim Trọng du xuân đạp thanh gặp chị em Thúy Vân Thúy Kiều, cụ Tiên Điền cũng đã viết :

                      BÓNG HỒNG nhác thấy nẻo xa,
                    Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai !

      BÓNG XUÂN, Xuân là cây Xuân 椿, một loại cây cao bóng cả. Theo sách Trang Tử,chương Tiêu Dao Du 庄子·逍遥游: Thượng cổ hữu đại xuân giả; dĩ bát thiên tuế vi xuân; bát thiên tuế vi thu 上古有大椿者;以八千岁为春;八千岁为秋。Có nghĩa : Đời thượng cổ có cây xuân to; lấy tám ngàn năm là mùa xuân; tám ngàn năm là mùa thu. Nên người xưa lấy cây xuân nầy để chỉ người cha là cột trụ chống chỏi cho gia đình. Trong truyện cổ tích Thạch Sanh có câu :

                       Kể sao xiết nỗi khóc than,
                   BÓNG XUÂN lành lạnh, nhà lan rầu rầu.

      Thường thì trong văn học cổ gọi cha là XUÂN ĐƯỜNG 椿堂, Đường 堂 tiếng Anh là Hall, tiếng Việt không có từ tương đương để dịch, là cái phòng rộng vừa là phòng khách vừa là nơi thờ phượng tổ tiên, lại vừa nơi cha mẹ hay ngồi để cho con cháu vấn an. Trong Truyện Kiều, lúc đêm, khi Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư, thì Thúc Sinh mới :
  
                      Rạng ra trình lại XUÂN ĐƯỜNG,
                  Thúc Ông cũng vội khuyên chàng quy gia.
         
       BÓNG CHIM TĂM CÁ là Bóng dáng của con chim và tăm hơi của con cá, cả hai thứ đều khó thể cầu mà có được, nên để diễn tả cái gì đó cách xa biền biệt không có âm hao tin tức gì cả ! CHIM ở đây là chim Hồng Nhạn, loài chim chuyên dùng để đưa thư; còn CÁ là cá Lý Ngư, theo sách Hán Thư, truyện Tô Võ 汉书·苏武传: Có ghi chép chuyện buộc thư vào chân chim nhạn để truyền tin; Hán. Thái Ung 汉·蔡邕: Trong bài thơ "Ẩm Mã Trường Thành Quật hành" có câu : Khách tòng viễn phương lai, Di ngã song lý ngư, trung hữu xích tố thư 客从远方来,遗我双鲤鱼,呼儿烹鲤鱼,中有尺素书. Có nghĩa : Khách từ phương xa đến, để lại cho ta hai con cá chép, trong bụng cá chép có tờ thư. Người đời sau ghép hai truyện trên vào với nhau thành CHIM CÁ để chỉ thư từ tin tức, nói cho êm tai thành thành ngữ bốn chữ là BÓNG CHIM TĂM CÁ, như trong Truyện Kiều tả lúc Kim Trọng đã thi đậu làm quan rồi muốn đi tìm Thúy Kiều, nhưng ...

                          Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
                     BÓNG CHIM TĂM CÁ biết đâu mà tìm !?

          Inline image Inline image
                                         Bóng chim tăm cá
       
      Trong truyện cổ tích dân gian "Con Tấm Con Cám" của ta thì có câu :

                   BÓNG BÓNG BANG BANG,
                   Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
                   Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người !

      Như phần đầu đã nói...
      BÓNG là Ảnh 影, còn tia Chớp là Điện 電. Bỏ chữ Điện trước chữ Ảnh, ta có từ ĐIỆN ẢNH 電影 là Chớp Bóng. Nhờ Điện Chớp sáng ta mới thấy được Bóng, mà muốn thấy được Bóng cho rõ ràng thì Điện phải được chớp trong phòng tối... Từ đó hình thành thêm một nghệ thuật mới cho cuộc sống nhân sinh : Nghệ Thuật Thứ Bảy : là Điện Ảnh 電影 mà giới bình dân quen miệng gọi là "Đi xem CHỚP BÓNG!".

      Xin được kết thúc từ BÓNG ở đây. Hẹn bài viết tới !

                                                                                                           Đỗ Chiêu Đức