Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn soạn giả Nguyễn Phương. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn soạn giả Nguyễn Phương. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

5 thg 1, 2021

Bài Của Đức Phan Trần Về Soạn giả Nguyễn Phương

Ba nuôi tôi SG Nguyễn Phương mất đã hơn nửa năm...
Ông có 8 người con nhưng không ai theo nghề Cải Lương.
Hiện giờ chỉ có tôi ( con nuôi) và đứa em gái út giữ những tài liệu của ông. Tôi giữ khoảng 90% vì có nhiều giai đoạn ông quên chuyển cho tôi.
Em gái út tôi giữ tất cả Computer của ông...nếu lọc lại sẽ có đầy đủ hơn
Một người bạn mới nhắc tôi nên phổ biến những tài liệu ấy cho mọi người biết.
Tôi cũng sắp vào tuổi 80 cũng không người thừa kế...sẽ cố gắng đến đâu hay đến đấy...
Kính lạy hương hồn Ba . Con sẽ cố gắng làm theo những gì Ba dặn và con biết Ba thích...
Bài viết dài không thích hợp với FB nhưng hiện nay đây là phương tiện truyền thông được nhiều người theo dõi nhứt...Ai không thích có thể bỏ qua
Năm 1989 ba nuôi tôi soạn giả Nguyễn Phương qua định cư ở Montreal.
Tôi có đề nghị xin ông viết về Cải lương, ông trả lời rằng :
Con à bác qua đây với 2 bàn tay trắng cùng 5 đứa con chưa đứa nào đi làm được.. chuyện sinh kế là chuyện ưu tiên.

Ba má nuôi tôi làm nghề may để nuôi mấy đứa em thành người.
10 năm sau ! Tôi nhắc lại chuyện viết bài và giới thiệu ông với Tờ Thời Báo Montreal. Ba tôi đã viết đều dặn cho Thờii báo Montreal tới nay.
Ba tôi còn phụ trách chương trình cổ nhạc cho các đài phát thanh hải ngoại nhu RFI, RFA...
Vì tuổi tác giờ ông chỉ còn viết hàng tuần cho Thờii báo mà thôi
Nếu ở VN không thể xem được mời đọc :

Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam
Một bộ môn sân khấu phong phú và có lẽ được yêu chuộng nhất của người dân miền Nam Việt Nam là sân khấu Cải Lương.
Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam
Đây là bô môn nghệ thuật giá trị và độc đáo, vốn văn hóa của miền đồng bằng Nam Bộ mà nếu không được nhắc đến, e rằng sẽ bị mai một. Đó là một di sản văn hóa lớn trong ngành nghệ thuật sân khấu của nước Việt.
Về vấn đề này, tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Đài Á Châu Tự Do hân hạnh được soạn giả Nguyễn Phương dành cho một cuộc phỏng vấn, xin mời quý thính giả theo dõi:

Phạm Điền: Kính chào soạn giả Nguyễn Phương. Xin ông vui lòng cho thính giả của đài Á Châu Tự Do biết khái quát tiểu sử và kinh nghiệm trường trải của soạn giả với sân khấu cải lương cũng như việc trở thành một nhà soạn tuồng cho bộ môn này.
Nguyễn Phương: Chào ông Phạm Điền, xin chào thính giả Đài Á Châu Tự Do. Tôi tên là Nguyễn Phương, tôi sanh ngày 1 tháng 7, 1922. Sanh quán ở làng Điều Hòa , Mỹ Tho. Tôi tốt nghiệp trường Bách nghệ Sài Gòn năm 1940 , sau đó thì tôi đi học tiếp ở Hà Nội, trường Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp 2 năm. Năm 1943 tôi được bổ nhiệm làm cho Sở Bưu Điện ở Sài Gòn, phòng kỹ thuật. Nhà tôi ở đường hẻm Cá Hấp ở gần rạp hát Thành Xương với đường Cầu Quang, nên tôi thường tới coi hát vậy nên tôi quen với nhiều nghệ sĩ lắm. Tới 1948 thì bạn tôi rủ tôi theo gánh hát. Gánh hát Tiếng Chuông của Bầu Căn.
Từ năm 1948 cho tới luôn năm 1989, tôi bỏ luôn nhiệm sở theo gánh hát liên tục hơn 40 năm, tôi học viết tuồng rồi tôi trở thành soạn giả. Tôi cọng tác với các đòan như đòan Tiếng Chuông Bầu Căn, Đòan Ánh Sàng bầu Tập. Đòan Diễn Kịch Năm Châu, Đòan Kim Thoa, Đòan Thanh Minh của bầu Nghĩa, Đòan Thanh Minh Thanh Nga của Bầu Thơ, Đòan Dạ Lý Hương của Bầu Xuân . Lúc đó thì tôi cũng là Trưởng Ban Cải Luơng Phát Thanh Phương Nam, cải lương của Đài Phát Thanh Sài Gòn, rồi tôi là trưởng ban của Kịch Phương Nam, đài Truyền hình Sài Gòn. Tôi viết kịch thường xuyên, kịch Sống của Túy Hồng, ban kịch của Kim Cương, ban kịch của Thẩm Thúy Hằng với cái Chương Trình Lúc Không Giờ của Đài Truyền Hình do đạo diễn Lê Hòang Hoa phụ trách .
Về phim thì tôi là tác giả của các truyện phim Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, của Mỹ Vân phim. Sống Đời Tôi với Lệnh Bà Xã là của Mỹ Ảnh phim, Chàng Ngốc Gặp Hên của Trùng Dương phim, Con Ma Nhà Họ Hứa của Dạ Lý Hương phim.
Sau năm 1975 thì tôi lại chuyên viên kỹ thuật sân khấu của các đòan hát Thanh Nga, rồi Sài Gòn 3, đòan Phước Chung, đòan Hương Nam, Đòan Sài Gòn 2.
Phạm Điền: Thưa ông Nguyễn Phương, xin cho biết ông đã soạn tất cả bao nhiêu vở tuồng rồi cho đến nay?
Nguyễn Phương: Tội soạn hơn 100 kịch bản Cải Lương và kịch nói mà bây giờ thì tôi có thể nhớ những tác phẩm tiêu biểu như Đôi Mắt Người Xưa, Ngã Rẽ Tâm Tình, Bọt Biển, Tình Xuân Muôn Tuổi, Hoa Đồng Cỏ Nội, Tình Của Biển, Chuyện Tình 17, Tiền Rừng Bạc Biển, Chén Trà Của Quỷ…
Năm 1989 tôi định cư ở Canada, tới nay là 15 năm rồi.
Phạm Điền: Thưa soạn giả Nguyễn Phương, ông đã có kinh nghiệm trường trải trong ngành cải lương. Ông đánh giá như thế nào về sân khấu cải lương sao với các bộ môn nghệ thuật trình diễn khác.
Nguyễn Phương: Theo tôi đó, đánh giá một bộ môn Cải Lương trong cái ngành nghệ thuật chung của nước mình thì đó là một việc rất lớn, bao quát, phải phân tích, phải dẫn chứng . So sánh giữa nghệ thuật Cải Lương với các bộ môn sân khấu khác, hát Bội cũng như kịch nói , kịch thì mới có thể làm nổi bật lên được cái tính ưu việt, cái tính đặc sắc của Cải Lương . Trong một buổi nói chuyện ngắn ngủi như vậy đó , nhất là không đủ tài liệu để minh hoạ, khi đề cập đến mọi khía cạnh đặc sắc của cải lương.
Ở nước mình đó, có nhiều người thì thích kịch nói vì cho kịch nói đó là một nghệ thuật tân tiến. Có người lớn tuổi, hòai cổ, thì thích nghệ thuật Hát Bội, vì cho đó là nghệ thuật kinh điển. Có người lại thích nghe Vọng Cổ, coi hát Cải Lương, nhưng mà ngay trong số những người thích coi hát cải lương đó thì có những người có thành kiến, cải lương là một cái gì không thật, phóng đại, đương nói bỗng ca, gần chết rồi mà còn ca vọng cổ mà. Thành ra cái vấn đề sân khấu cải lương có rất nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, nhất là cần phài bàn cho rõquan niệm của người mình xem hát cải lương như thế nào. Những cái đặc trưng của nghệ thuật sân khấu cải lương ra sao thì mới có thể hiểu được sân khấu cải lương.
Chắc là phải có nhiều lần nói chuyện mới từ từ nói hết được cái hay, cái đặc biệt, cái đặc sắc của cải lương . Bữa nay đó thì tui chỉ đóng khung trong cái nhìn khái quát về nghệ thuật sân khấu cải lương thôi.
Phạm Điền: Cái khung đó, nếu bây giờ nói một cách khái quát thì nó như thế nào thưa ông?
Nguyễn Phương: Theo tôi đó, sân khấu cải lương là một loại hình nghệ thuật kỳ diệu, thật là kỳ diệu là bởi vì nó có rất nhiều hình thức để thực hiện rất là độc đáo. Có thể nói cuộc sống phong phú bao nhiêu thì sân khấu cải lương cũng đa dạng bấy nhiêu . Ở cải lương có đủ cả thi, ca, vũ nhạc, kịch, hội hoạ. Trong cách thể hiện và văn phong cải lương thì có tính cách ước lệ, tính tượng trưng , tả thực, tả ý, tả tình , lịch sử , trữ tình. Nói chung , nó là một nghệ thuật tổng hợp phong phú và hấp dẫn Chỉ nói riêng về khả năng chuyên chở đề tài của nghệ thuật cải lương . Về khả năng chuyên chở của đề tài cải lương đó thì tôi thấy rằng nó có một sức chuyên chở vô tận.
Phạm Điền: Thưa soạn giả, như thế hẳn lịch sử cải lương cũng để lại các sắc thái đặc sắc trong quá trình hình thành của nó?
Nguyễn Phương: Tôi xin mời ông Phạm Điền và thính giả luớt qua lịch sử hình thành nghệ thuật cải lương và quá trình phát triển của nó, trong hơn 80 năm thì sẽ thấy cái đặc điểm này . Cái đặc điểm mà theo lối các loại nghệ thuật sân khấu khác là không có làm được . Cái hồi cải lương mới ra đời tôi chỉ nhắc từ năm 1910 thôi. Cải lương còn sơ khai trong cái hình thức ca rao bộ thì cải lương đã diễn ca Lục Vân Tiên Bùi Kiệm gặp Nga, những nhân vật trong Lục Vân Tiên của tác giả Nguyễn Đình Chiểu ở trong cái thời xa xưa, nhưng mà khán giả coi hát cảm khái như là cái chuyện xảy ra trong thời đại hôm nay. Tới cái chuyện ông Trang Tử Cổ Bồn Ca của ông Mạnh Tư Trương Như Tỏan nói chuyện ông Trang Tử giả chết để thử bụng dạ vợ mình .
Chuyện là chuyện cổ bên Tàu, diễn viên ăn mặc theo y phục cổ trang. Trên sân khấu cải lương nhân vật Tàu được ca hát bằng tiếng Việt Nam, khán giả vẫn chấp nhận, thưởng thức nội dung cốt chuyện đó. Sau đó thì ông Mộc Quán Nguyễn Trọng Huyền viết chuyện Phụng Nghi Đình, tuồng Quan Công Phục Huê Dung Đạo ….Lữ Bố Hí Điêu Thuyền, Lữ Bố tròng ghẹo tình tứ với Điêu Thuyền, Điêu Thuyền mê hoặc Đổng Trác, rồi trong tuồng Mê Dung Đạo, Tào Tháo thua trận Xích Bích tới rớt râu sút mão, rồi ca vọng cổ quên đếm mình, tưởng Tháo đã chết nên Tháo khóc một cách ngon lành.
Chuyện ở bên Tàu đời nhà Hán cách nay mấy ngàn năm, tướng Tàu, đào Tàu đều ca vọng cổ, ca bài bản nhạc Việt Nam. Khán giả nghe như chính người Việt Nam nói chuyện với nhau. Sự khác biệt về ngôn ngữ Tàu Việt, khác về lối sống, khác vì dân tộc tính không ngăn cản được cái sự cảm thụ của khán giả khi khán giả xem tuồng Tàu dưới dạng diễn của nghệ thuật cải lương.
Đó cũng chưa hết kỳ diệu đâu, phải kể tới cái thời ông Năm Châu, soạn giả Nguyễn Thành Châu, chuyện Tây, hết Tàu rồi bây giờ đem chuyện Tây Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ thành tuồng cải lương, d’Artagnan mặc y phục của Pháp, kể chuyện tình của hòang hậu nước Pháp với vị quận công nước Anh , vậy mà các nhân vật nước Anh, nước Pháp đó đều ca vọng cổ , ca bài bản Việt Nam, nói tiếng Việt Nam , câu chuyện tình trên đây được chuyên chở dưới dạng cải lương thì khán giả thưởng thức một cách trọn vẹn ngọt sớt như cái chuyện đời xưa nào đó của Việt Nam, hổng phải ở đâu hết.
Nghệ sĩ Năm Châu viết rất nhiều kịch bản lấy kịch Pháp như là Tứ Hoa Vương Nữ…Trong cái thởi kỳ cải lương hát tuồng phương tây đó , nội dung cốt chuyện, tình cảm, nhân vật , nước Anh, nước Pháp, nước Tây Ban Nha. Sân khấu Việt Nam nhưng giống như người Việt Nam chánh gốc. Hòang hậu Mã Nhi Nương Bửu trong Gió Ngược Chiều do nữ nghệ sĩ Thanh Nga thủ diễn . Tâm tình của Hòang Hậu mã Nhi Nương Bửu được Thanh Nga ca vọng cổ khán giả cải lương rất là đồng cảm. Khán giả đã khóc vì cuộc đời bi thương của hòang hậu, khán giả đã khóc vì Trà Hoa Nữ .
Tôi thì tôi cảm giác cái hàng rào ngôn ngữ của các quốc gia khác biệt không có hiện diện khi ta đưa câu chuyện ngoại quốc vào kịch cải lương.
Đó rồi nói tới cái thời kỳ tuồng tiên, tuồng Phật , tuồng Tôn Tẫn Bàng Quyên, Lê Huê Phá Hồng Thủy Trận , tuồng Phật Quan Âm Diệu Thiện , Quan Âm Thị Kính, Phật Nhập Niết Bài, Thích Ca Cầu Đại Nhân, những câu Nam Mô N=Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Sắc Tức Thị Không, Không tức thị Sắc vô vọng cổ lúc Thái tử Sít Đạt ta bỏ hòang thành đi , cứ ca vọng cổ thì không còn thấy dạng niệm Phật của câu tụng kinh nữa mà nó trở thành một câu vọng cổ, nghe rất là êm dịu. Cái thời đó hát rất là đông khách. Tới thời Nhật Bổn, tuồng Nhật Bổn , các nhân vật như là Khi Hoa Anh Đào Nở của Hà Triều Hoa Phượng với Tô Điền Sơn Thành Được , cái đầu trán sói bóng lưỡng , búi tóc nhỏ sau lưng, mặc áo kimono, gươm võ sĩ đạo trên lưng Tô Điền Sơn Thành Được, một kiếm sĩ Nhật Bổn ca vọng cồ nghe mùi riệu. Tới ngày nay , hơn 40 năm sau tôi còn nghe khán giả nhắc tới Tô Điền Sơn Thành Được.
Cái nghệ thuật mà hát cải lương móp đưa được những cái đó . Hát Bội cũng thử, diễn cái tuồng Le Cid của Ưng Bình Thúc Dạ ở Huế ông viết, ồng đề tựa là Nàng Chim Anh Lộ Địch , nhưng mà Hát Bội vô cái tuồng đó không hay bằng cái tuồng giá trị của Năm Châu. Có đưa thử Roméo Julliette, nhưng ma khi diễn Quan Công Phò NHị Tẩu, hay Hán Sở Tranh Hùng thì cái kịch người ta coi thành một cái hài kịch thôi.
Phạm Điền: Thưa soạn giả, những vở tuồng có gia trị như thế có được giữ lại trong kho tài liệu văn hóa nghệ thuật hay không?
Nguyễn Phương: Tôi muốn nói thêm một điều nữa tiếc một điều tiểu thuyết thì có ấn bản, có sách in lưu hậu thế, tuồng tích , nhiều tuồng văn chương đối thoại thiệt là hay, nhưng mà không có in thành sách cho nên khi hát xong rồi, qua một thời gian không còn lưu dấu. Mấy năm sau này thì có cái in dĩa, thu thanh, rồi DVD , nghệ sĩ trẻ còn lưu được. Một điểm nữa tôi nghĩ là các sân khấu khác không có cái đặc điểm của cải lương.
Sân khấu cải lương sản sinh ra rất nhiều nghệ sĩ tài danh, khán giả ái mộ, tặng cho rất nhiều danh hiệu, giả tỉ như Út Trà Ôn là Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn, Hòang Đế Dĩa Nhựa Tấn Tài, Vua vọng cổ Hài Văn Hường, Vua viết Vọng Cổ Viễn Châu, Nữ Hòang Sân Khấu Thanh Nga, Kỳ nữ Kim Cương, Tiếng Hát Liêu Trai Mỹ Châu, Giọng ca Vàng Hữu Phước, Giọng Ca Nhung Lụa Ngọc Giàu, Hòang Hậu Cải Lương Kim Lan , Mỹ Nhân Sân Khấu Thanh Tùng, Vua Cắc Bùm Bảy Cao, Vua Xàng Xê Minh Trí, Đệ Nhất Hương Kim Thoa, Quái Kiệt Ba Vân , Hề Râu Thanh Việt, Tô Điền Sơn Thành Được, Kép Trọc Trường Xuân, Chế Bồng Nga Hòang Giang, Cậu Ấm Thân Việt Hùng, Phá Ca Thanh Nga….
Quá nhiều…Chưa thấy nghệ thuật nước nào giống như nghệ thuật sân khấu cải lương, một nền nghệ thuật có thể chuyên chở tất cả những chuyện ngoại quốc và Việt Nam hóa được hết những chuyện ngoại quốc đó. Những nhân vật Tây Tàu khi vô cải lương được Việt Nam hóa rất tài tình.
Chỉ có một cái quan điểm khán giả và nghệ thuật chưa gắn bó với nhau đó là tại sao đương hát lại ca, tới cái phút đó còn ca , điều này đó thì tôi thấy cái Opéra Pháp với Mỹ cũng ca hòai, ca liên tục, tôi thấy không có ai đặt vấn đề.
Phạm Điền: Đến đây, chúng tôi xin cảm ơn soạn giả Nguyễn Phương đã đến với tạp chí Văn Học Nghệ Thuật để cho thính giả có dịp hiểu nhiều hơn sân khấu cải lương giá trị của Việt Nam. Chào ông.

© 2004 Radio Free Asia 

❤❤❤❤❤

Mời Xem :Kính Mừng Sinh Nhật thứ 98 Soan Giả Nguyễn Phương

2 thg 7, 2020

TIN BUỒN (Bác Nguyễn Phương Tạ Thế (1/7/2020 )

Thưa quý bạn,
Tôi vô cùng xúc động bàng hoàng ngẩn ngơ khi hay tin sét đánh
Bác Nguyễn Phương, 
- Một ngôi sao Bắc Đầu của nền cải lương kịch nghệ Việt Nam,
- Một đàn Bác đồng môn đồng hương thân tình tài hoa của xứ Mỹ Tho 
và trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu của chúng ta
đã vĩnh viễn ra đi .
Đây là một đại tang cho đại gia đình Mỹ Tho.
Trước nỗi mất mát lớn lao nầy tôi xin thắp nén hương lòng kính cẩn 
nghiêng mình trước hương linh Bác Nguyễn Phương
và xin gởi lời chia buồn chân thành nhất tới tang quyến
cũng như xin cầu nguyện hương linh Bác Nguyễn Phương
được an bình nơi cõi Vĩnh Hằng.
Tôi cũng xin gởi bài thơ bày tỏ lòng thương tiếc Bác Nguyễn Phương
Điều vô cùng đặc biệt mà tôi chưa bao giờ thấy trong đời là 
bài thơ chúc mừng sinh nhật Bác và bài thơ tiếc thương Bác 
ĐƯỢC VIẾT TRONG CÙNG MỘT NGÀY  1 tháng 7 (xin xem 2 attachments).
Xin Ngàn Thu Vĩnh Biệt Bác Nguyễn Phương. Rest in Peace.
Kính bái,
Cháu NguyênTrần Nguyễn Tấn Phát, Toronto
     
           Bác Nguyễn Phương  ơi ! Ngàn thu vĩnh biệt

      Nghe tin sét đánh dạ bồi hồi
Bác Nguyễn Phương từ biệt cuộc đời
Một kiếp phù sinh trong số mệnh
Trăm năm thân thế xuôi dòng đời
Tài hoa không thắng câu duyên nghiệp 
Xuất chúng đành thua chữ mệnh Trời
Sự nghiệp một đời dài rực rỡ  
Cải lương tuồng tích ngát trùng khơi./.
Toronto 01/07/2010
      Nguyên Trần
Viết trong niềm đau buồn và nỗi thương tiếc 
     Bác Tiền Bối tài hoa xuất chúng Nguyễn Phương 
                     Bác Nguyễn Phương vĩnh biệt rồi
                 Bác đi để lại bồi hồi tiếc thương


Soạn giả Nguyễn Phương và cuốn hồi ký Buồn Vui Ðời Nghệ Sĩ
                              Di ảnh Bác Nguyễn Phương
Dear Uncle Nguyễn Phương! Farewell forever
      Listen to the unexpected lightning news
      Uncle Nguyễn Phương already ceased to be
      Once life is  in fate
      Hundred years of human beings is along downstream
     Talent does not win karma
     Excellent outstanding can’t  defeat the God’s destiny
     A lifetime of brilliant life
     Old Folk Plays were cumulative immense. /.
Toronto July 1, 2010
Nguyên Trần
Write in sorrow and grief
Uncle Senior with outstanding talent Nguyễn Phương
Farewell Uncle Nguyễn Phương
Uncle gone  to leave us with compassionate mourn

Mời Xem :Kính Mừng Sinh Nhật thứ 98 Soan Giả Nguyễn Phương

1 thg 7, 2020

Kính Mừng Sinh Nhật thứ 98 Soan Giả Nguyễn Phương

Thư từ Nguyên Trần

Bác Nguyễn Phương thân kính,
Nhân ngày 1/7 sinh nhật đại thọ 98th của Bác, con thân kính chúc Bác: 
Thân Tâm An Lạc
Vạn Sự Cát Tường
Sở Cầu Như Ý
và
Phước Như Đông Hải 
Thọ Tỷ Nam Sơn 
để luôn luôn là cây đại thụ của nền cải lương thoại kịch miền Nam.
Ngoài ra cũng xin chúc mừng Bác đã sinh ra đúng ngày giữa trong năm
1 tháng 7. Và ngày 1/7cũng là ngày Quốc Khánh Canada. Đó là 
một điều vô cùng đặc biệt hiếm quý. Và đáng nói hơn cả là hôm nay,
tos̀n thể chính quyền và dân chúng Canada đểu đốt pháo bông mừng 
Sinh Nhật Bác với ánh sáng choáng ngợp trời rực sáng như tài hoa chói lọi 
kiệt xuất của Bác.
Để thể hiện nổi vui mừng cùng Bác trong ngày trọng đại nầy, 
con có làm bài thơ kính tặng Bảc (attachment).
Thân kính,
Toronto 01/07/2020
Nguyên Trần


Kính Mừng Đại Thọ Bác Nguyễn Phương

  Điều Hòa có bác Nguyễn Hòa
  Tài hoa xuất chúng xứng là danh nhân

  Đại thọ kính mừng Bác Nguyễn Phương
    Chín Mươi Tám tuổi vẫn kiên cường
    Một đời soạn truyện lừng muôn hướng
    Trọn kiếp viết tuồng rạng bốn phương
    Sân khấu nố́i liên theo tổ nghiệp
    Cải lương gắn bó với thầy tuồng
    Địa linh anh kiệt Điều Hòa đó
    Hương sắc điểm tô nét kịch trường./.
      Toronto 01/07/2020
  Nguyên Trần

Congratulations 98 th long life Birthday 
          To Uncle Nguyễn Phương

      Uncle Nguyễn Phương in  Điều Hòa Village        who has an outstanding talent which deserves to be an old Celebrity. 
Great congratulations to Uncle Nguyễn Phương
Thought ninety-eight years old but being still resilient
A lifetime of writing stories that made him distinguished
The wholelife of composing plays brough him to the fame in every places
Stage interconnected by plays ancestors
Old Folk Plays sticking with the directors 
That spiritual masterpieces and heroes of Điều Hòa Village
Beauty flavor to decorate the Theater fields./.
Toronto 01/07/2020
Nguyên Trần

21 thg 2, 2020

Đôi dòng tâm sự - Sọan Giả Nguyễn Phương

Mới đó đã trên 10 năm tôi được Ba nuôi giao cho làm người hướng dẫn chương trình lễ Ngân Khánh 2009
Mời xem bài thơ ông làm và đọc trong ngày này
Soạn giả Nguyễn Phương.
Kỷ niệm 60 năm ngày thành hôn 1949 – 2009.
Montréal, 15 tháng 5 năm 2009.


Đôi dòng tâm sự
Kỷ niệm
Sáu mươi năm vợ chồng
Con trai mình gợi ý
Ba tặng Mẹ hoa hồng
Lãng mạn và thâm thúy.

Hơn hai mươi ngàn ngày hạnh phúc
Sáu mươi năm, tặng vợ một đóa hồng!
Một đóa hồng! Không! Ba tặng cả trái tim nồng
Mà con không biết hay chưa hiểu thấu.

Những tác phẩm vui, buồn trên sân khấu
Là những đoá hồng Ba tặng Mẹ con
Những nhân vật đẹp, chung thủy, mặn nồng
Đều mang vẻ đẹp tâm hồn của Mẹ.

Tín nghĩa, đảm đang, thật thà, giản dị,
Chịu đựng hy sinh, vất vả vì chồng con,
Tính cách cao quí của người phụ nữ Việt Nam
Nhân vật đẹp đó, Ba lấy Mẹ con làm người mẫu.

Hơn trăm kịch bản, bốn mươi năm sân khấu
Đêm đêm khi sàn diễn sáng đèn,
Những Thanh Nga, Ngọc Giàu, Út Bạch Lan,
Thay nhau chuyên chở ý, tình, Ba gỡi Mẹ.

Sáu mươi năm trải dài ba thế hệ
Tình vẫn mặn nồng như thuở mới ban sơ
Cùng nhớ nhung Thiên Hộ, cùng tha thiết Bàn Cờ
Cùng sống chết bên nhau khi Tháp Mười rực lửa.

Quên sao được, lúc Ba sa cơ, ngã ngựa,
Khắc khoải chờ chồng, vất vả nuôi con,
Bên chiếc máy may gõ nhịp thời gian,
Cô đơn vô vọng, nỗi buồn thăm thẳm.

Rồi cũng qua dần tháng ngày ảm đạm,
Ba trở về màn nhung rực sáng hào quang,
Mẹ vẫn âm thầm, vẫn chịu đựng hy sinh,
Nguyện làm chiếc bóng theo Ba đường lữ thứ.

Rồi bão lửa quê hương, bầy con lạc xứ,
Đêm đêm chong đèn, thương nhớ lệ không vơi,
Rồi đến lượt Ba, tay trắng, đổi đời,
Cũng chính Mẹ đứng ra đương đầu sóng gió.

Làm lại cuộc đời gần bảy mươi tuổi,
Không dễ dàng như cỡi ngựa xem hoa
Dù các con hiếu thảo, giúp cha mẹ già,
Người tuổi hạc cũng muôn ngàn lao nhọc.

Có đi trong sương, lạc trong tuyết,
Mới biết cái lạnh nhức nhối của mùa đông,
Qua sáu mươi năm đồng cam cộng khổ,
Mới thắm thía nghĩa vợ tình chồng.

Đến xứ người, Ba không sáng tác nữa,
Sân khấu nhỏ, không tác phẩm tặng Mẹ con,
Sân khấu đời, lớn rộng thênh thang,
Ba với Mẹ sáng tác bản tình ca tuyệt đẹp.

Soạn giả Nguyễn Phương.
Kỷ niệm 60 năm ngày thành hôn 1949 – 2009.
Montréal, 15 tháng 5 năm 2009.


Bản Tiếng Pháp
Quelques mots de confidences
Soixante ans de vie conjugale
De mon fils, une suggestion géniale
« Papa, tu vas offrir une belle rose à maman
Oh! Comme c`est romantique comme la belle au bois dormant»

Soixante ans de vie conjugale
À ma chère épouse, une rose d`une beauté sans égal
Juste une rose! Non, ton père va lui offrir tout son cœur en flamme…
Autant d` œuvres de comédies et de drames
Autant de roses d`amour ardent
Déjà offertes à chaque fois à ton adorable maman…
À travers des artistes comme messagers
J``ai coloré la beauté de son âme :
Fidélité, sacrifice, courage, honnêteté, simplicité,
Toutes les qualités que pourrait avoir une femme Vietnamienne
J`ai inspiré de ta maman comme ma bien chère modèle.
Plus de cents textes écrits, quarante ans sur les scènes
Tout ce beau temps d`antan est rempli de mon amour réservé pour elle.
Soixante ans de vie conjugale
S`étalant le long des trois générations
Mon amour pour elle reste encore ardent comme les premières émotions.
Après tant d`orages, tant de tempêtes de la vie,
Je suis revenu encore une fois sur la scène avec des rideaux de velours fleuris,
Ta mère, de son côté, toujours silencieuse comme une ombre qui me suit,
A enduré bien des moments difficiles, relevé bien des défis.
Soudain au tournant de la vie,
Le pays comme la mer en furie,
Mes enfants ont quitté leur patrie,
Et me voilà, à mon tour, parti,
Les mains vides et le cœur meurtri.

C`est encore elle, mon épouse, ta maman,
Elle, oui, encore elle qui se met au devant
Pour faire survivre son mari et ses enfants.

À soixante dix ans, rebâtir la vie, ce n`est pas facile,
Malgré les cœurs chaleureux de leurs bons enfants avec leur piété filiale
Tes vieux parents sentent quand même en face d `une lutte dure et glaciale.

Il faudrait marcher sous la brise, au dessus de la neige,
Pour mieux réaliser le froid rigoureux paralysant des mains engourdies
Il faudrait soixante ans de vie ensermble dans le bonheur comme dans la peine,
Pour mieux valoriser l`intensité et la fidélité dans la vie conjugale.

Dans ce pays en exil, aucune œuvre inspirée,
Sur cette scène si petite, à ta maman, aucun texte dédié,
Mais de la vie, sur la scène immense
Ton père et ta mère composent joliment
Un merveilleux long chant d`amour intense.

Montréal le 15 Mai 2009 .
Nguyễn Phương

FB Phan Trần Đức
 Ông BàNguyễn Phương 

Mời xem :Đặc điểm hóa trang mặt trong Hát bội- Nguyễn Phương

24 thg 1, 2023

Về những cuốn sách toán cổ xưa của người Việt ( Từ Redsvn )

Các tác phẩm toán học cổ của người Việt Nam đều phản ánh một trong những mối quan tâm về ứng dụng toán học quan trọng của người Việt là tính toán các diện tích mặt phẳng, các phép đo đạc và đơn vị đo.


Tác giả: Alexei Volkov, Giáo sư, Trung tâm Giáo dục Đại cương và Viện Lịch sử, Đại học Quốc gia Thanh Hoa, Đài Loan.

Biên dịch: Tạ Duy Phương.

Trong đó, cuốn Toán pháp đại thành mà Lương Thế Vinh (1441 -1496?) được coi là tác giả, được coi là cổ nhất. Những cuốn sách khác đã được biên soạn vào thế kỷ thứ 19 hoặc thậm chí vào đầu thế kỷ XX. Những cuốn sách còn lại không được nhắc tới trong chương Thư mục của Đại Việt thông sử in năm 1749 của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784?), và do đó có thể tin rằng tất cả các sách còn lại được biên soạn không sớm hơn cuối thế kỷ thứ 18.

Nội dung toán học của tất cả những sách này tương tự như các sách toán học Trung Hoa trước thời gian mà các phương pháp toán học châu Âu được các giáo sĩ Dòng Tên giới thiệu ở Trung Hoa vào đầu thế kỷ 17.

1. Bút toán chỉ Nam. Tác giả Nguyễn Cẩn và được Kiều Oánh Mậu (1854-1912) hiệu đính, hiện còn hai bản in năm 1909.

Cuốn sách giải thích phương pháp tính toán phương Tây (các nhà ứng dụng toán học Việt Nam truyền thống sử dụng công cụ tính toán là que tính và bàn tính để thực hiện các tính toán số học), nhưng thực ra nó bao gồm một loạt các chủ đề khá rộng đặc trưng của Toán học Trung Hoa và Toán học Việt Nam truyền thống.

2. Chỉ minh lập thành toán pháp. Cuốn sách này do Phan Huy Khuông viết năm 1820

Cuốn sách mở đầu bằng một hình vẽ bàn tính tái tạo chính xác hình ảnh có trong cuốn sách Toán pháp thống tông của nhà toán học Trung Hoa Trình Đại Vị. Tiếp theo là bảng các lũy thừa của 10, đơn vị tiền, đơn vị đo độ dài, khối lượng và thể tích. Cuốn sách có một “đề thi giả định” với lời giải và các giải thích.

3. Cửu chương lập thành tính pháp. Đây là cuốn sách toán in của Việt Nam sớm nhất hiện tồn.

Cuốn sách tương đối mỏng được viết một phần bằng chữ Nôm và một phần bằng chữ Trung Hoa truyền thống. Cuốn sách được cho là do Phạm Hữu Chung, tên chữ là Phúc, viết.

Cuốn sách không được chia thành các chương và chứa các mục ngắn về các chủ đề khác nhau như bảng nhân, tính diện tích hình phẳng, phân bổ tỷ lệ và các phép toán với phân số.

Cuốn sách có các bài toán được trình bày dưới dạng truyền thống: Bài toán – Đáp số – Lời giải.

4. Cửu chương lập thành toán pháp. Vẫn còn chưa rõ tác giả và thời gian biên soạn.

Hiện tại tồn một bản viết tay năm 1899 và được lưu giữ trong Thư viện Quốc gia Việt Nam (Hà Nội). Cuốn sách giới thiệu tên của các “số lớn”, bảng nhân và tính diện tích các hình chữ nhật và hình cong.

5. Cửu chương toán pháp. Tên khác: Cửu chương toán pháp lập thành. Trong Danh mục của thư viện Hán-Nôm có liệt kê hai bản viết tay của tác phẩm này ghi năm 1882.

Tác phẩm bắt đầu với đề mục “Nam toán”, (toán Việt Nam) với các giải thích về các phép toán số học, bảng tên các số lớn lũy thừa của 10, và bảng nhân 9×9. Mục tiếp theo là mục “lịch sử” viết bằng chữ Nôm chứa những giải thích về các phép toán cơ bản và lịch sử có tính huyền thoại của nguồn gốc toán học Việt Nam bắt nguồn từ toán học Trung Hoa.

Các mục tiếp theo mô tả dưới dạng thơ các phương pháp toán học khác nhau, như khai căn bậc hai, đưa về mẫu số chung, các tính toán cần thiết trong đổi đơn vị đo và đơn vị tiền tệ, tính diện tích các hình phẳng, phân bổ đơn giản và phân bổ có trọng. Phần tiếp theo chứa một lượng lớn các bài toán khác nhau, trong đó có một số bài toán giải hệ phương trình, thí dụ, bài toán về số các con thỏ và con gà có tổng cộng 36 đầu và 100 chân.

6. Đại thành toán học chỉ minh. Tác giả cuốn sách là Phạm Gia Kỷ, một quan chức nhà nước (không biết năm sinh năm mất), và được Tư nghiệp Quốc Tử Giám Phạm Gia Chuyên (sinh năm 1791, đỗ tiến sĩ năm 1832) hiệu đính.

Cuốn sách lưu giữ trong thư viện Hán Nôm được viết tay cẩn thận không có bìa, tuy nhiên tên cuốn sách và tên người biên soạn ở ngay trang đầu của sách. Năm biên soạn không được chỉ rõ.

Cuốn sách chứa 20 mục nhỏ, một số mục khớp với cuốn sách kinh điển Trung Hoa Cửu chương toán thuật. Nhưng một số phần khác hé lộ phần nào sự khác biệt.

7. Đại thành toán pháp. Trang bìa của bản viết tay của cuốn sách được giữ trong thư viện Hán Nôm (Hà Nội) bị mất, và tên Cửu chương toán pháp xuất hiện ở trang thứ hai liên quan đến bảng nhân, do đó khó có thể coi là tên của cuốn sách.

Một tên khác, Đại thành toán pháp, xuất hiện ở trang 5a của bản viết tay, nhưng vẫn chưa rõ đây có phải là tên gốc của cuốn sách hay không.

Được viết bằng chữ Hán nhưng có một số đoạn viết bằng chữ Nôm giải thích một số qui tắc, cuốn sách không được chia thành các chương và có các mô tả về các phép toán số học, các đơn vị đo, và một số các bài toán tính diện tích các hình phẳng, phân bổ đơn và phân bổ có lý, tính thuế ruộng, đổi tiền, qui tắc khai căn bậc hai và bậc ba không có trong cuốn sách.

8 và 9. Lập thành toán pháp. Bản viết tay chữ Hán không có ngày tháng với tên như trên có trong thư viện Hán Nôm.

Bản này chứa phần nhập đề truyền thống về các phép toán số học và bảng nhân, sau đó là một mục dài dành cho tính toán diện tích các hình phẳng kèm theo một số hình vẽ. Phần còn lại là các bài toán dạng khác nhau.

10. Thống tông toán pháp. Bản viết tay Thống tông toán pháp không rõ thời gian biên soạn của tác giả Tạ Hữu Thường  (không rõ năm sinh) được lưu giữ trong thư viện Quốc gia Hà Nội. 

Tên cuốn sách ám chỉ rõ ràng đến cuốn Toán pháp thống tông (1592) của Trình Đại Vị. Tuy nhiên, tác giả Việt Nam đã cải biên một cách đáng kể các phần trong bản gốc Trung Hoa và thêm vào một số lớn các bài toán không tìm thấy trong bản gốc, chuyển hóa các đơn vị đo Trung Hoa sang các đơn vị đo Việt Nam, và trình bày các giải thích của mình bằng chữ Nôm.

11. Toán điền trừ cửu pháp. Bản viết tay không rõ tác giả và ngày tháng được lưu giữ trong Thư viện Hán Nôm.

Như tên của cuốn sách, tác phẩm này trình bày cách tính diện tích các hình phẳng. Văn bản được viết bằng chữ Hán, nhưng chứa các bình luận bằng chữ Nôm.

12. Toán học cách trí. Trang đầu của bản viết tay trong thư viện Hán Nôm bị mất và cuốn sách được ghi trong Danh mục Tran and Gros (1993) với tên không chính xác là Toán pháp.

Nhưng tên thật của cuốn sách này được nhắc lại ở đầu mỗi chương là Toán học cách trí Hoàng Phong Dụ gia thư chính bổn. Tên người biên soạn cuốn sách chưa rõ.

Theo bảng Mục lục, cuốn sách lúc đầu có bốn Chương và một Phụ lục nói về những vấn đề liên quan đến xây dựng.

13. Toán học để uẩn. Vì (các) trang đầu tiên của cuốn sách này bị mất nên không rõ tên tác giả.

Năm biên soạn không rõ, nhưng vì tên của triều đại vua Gia Long (1802-1820) được nhắc tới trong bản thảo, nên có thể giả thiết rằng cuốn sách được biên soạn không sớm hơn 1802.

Cuốn sách chứa 6 chương về các vấn đề sau: các phép toán số học, tính diện tích các hình phẳng, khai căn bậc hai và bậc ba, trình bày sơ lược các phương pháp tương ứng với phân loại trong cuốn Cửu chương của Trung Hoa cổ điển. Có các bài toán về xây dựng và lí thuyết toán học của nhạc.

14. Toán học tâm pháp. Trang đầu tiên của cuốn sách này trong thư viện Hán Nôm bị mất nên tên của cuốn sách này được ghi dựa trên lời nói đầu do Hoàng Phong Dụ viết vào năm 1850.

Bảng mục lục liệt kê 5 chương: các phép toán với các số, tính diện tích hình phẳng, khai căn bậc hai và bậc ba, tính toán liên quan đến xây dựng, và tính toán liên quan đến thuế đất.

15. Toán pháp. Tên chính xác của cuốn sách chưa rõ.

Tên Toán pháp được người chép hoặc thủ thư đặt cho cuốn sách với các trang đầu bị mất dựa trên nội dung của nó. Tác giả và năm biên soạn cũng không được biết.

Cuốn sách không được chia thành các chương, chứa hơn 250 bài toán dành cho các vấn đề như tính diện tích, ứng dụng của tam giác vuông, khai căn bậc hai và bậc ba, và các vấn đề khác.

16. Toán pháp đại thành. Năm biên soạn và tên của tác giả không được rõ.

Cuốn sách cùng tên đã được gán cho tác giả là Lương Thế Vinh (1441-1496?), một quan chức thời Lê (1428-1789), nhưng tác giả và năm biên soạn thực sự của cuốn sách hiện có trong thư viện Hán Nôm không được rõ, và một số phần của cuốn sách bị nghi ngờ là khó có thể đã được biên soạn vào thế kỉ thứ 15.

Hiện có hai bản chép tay của cuốn sách, một cuốn được viết trước 1934 và một bản được chép vào năm 1944. Cuốn sách không được chia thành các chương và chứa 138 bài toán, nếu tính cả các bài toán tự nó như là một vài qui tắc không tương ứng với bài toán riêng biệt nào, sự hiện diện của chúng phần nhiều có thể là do mất một phần văn bản.

Các bài toán được tìm thấy trong tác phẩm liên quan tới các vấn đề phổ biến trong các cuốn sách Trung Hoa cổ như chia phần (phân bổ tỷ lệ), tỷ lệ, qui tắc ba đại lượng, qui tắc vị trí sai kép, khai căn, tính diện tích hình thẳng và hình cong phẳng, tính thể tích các khối, đổi tiền và các đơn vị đo lường các loại, phương trình vô định và “thuật số bói toán”. Cuốn sách cũng chứa một mục lớn và tương đối độc lập liên quan đến thuế ruộng.

17. Toán pháp tiết cương. Tiêu đề Toán pháp tiết cương 算法提綱 của cuốn sách này trong Thư viện Quốc gia Hà Nội không phải là tên thật của cuốn sách. (Các) trang đầu của cuốn sách này bị mất và Toán pháp đề cương chỉ là tên đề mục của phần đầu cuốn sách. Phần thứ nhất của cuốn sách giải thích rất chi tiết các phép toán thực hiện với bàn tính và trình bày một loạt các hình vẽ thể hiện vị trí các hạt trên bàn tính (công cụ được trình bày là bàn tính Trung Hoa chuẩn với 2+5 hạt và 11 thanh ngang). Phần còn lại của cuốn sách là sự biên soạn lại chín chương của toán học Trung Hoa cổ, theo phân tích sơ bộ, có thể giả thiết rằng dựa trên cơ sở của cuốn Toán pháp thống tông của Trình Đại Vị.

18. Toán pháp kỳ diệu. Tên của cuốn sách (không biết tác giả) này được Tran and Gros đặt (1993) có khả năng nhất là dựa trên trang đầu của bản viết tay trong thư viện Hán Nôm.

Nhưng cả phần Mục lục lẫn phần mở đầu của cuốn sách đều chỉ rõ tên của cuốn sách là Tập thành chư gia huyễn nghì toán pháp 集成諸家幻儀算法. Năm biên soạn của cuốn sách không rõ, nhưng do nó có chứa phần phụ lục liên quan đến các tiêu chuẩn thu thuế trong thời Minh Mạng 明命 (từ 1820 đến 1841), có thể kết luận rằng cuốn sách được soạn không sớm hơn 1820 (vẫn không rõ có tồn tại hay không bản in của cuốn sách).

Cuốn sách không được chia thành các chương, nhưng qua tiêu đề của trang (có thể được thêm vào sau), có thể giả định rằng cuốn sách ban đầu chứa “ba chương hợp làm một”. Phần nhập đề của cuốn sách chứa thông tin về các kí hiệu số, đơn vị đo và một số vấn đề phụ trợ khác. Phần cơ bản chứa một loạt các bài toán, các bảng và các giải thích liên quan tới các vấn đề truyền thống như tính diện tích hình phẳng, các phép toán qui đồng phân số, khai căn bậc hai và bậc ba.

19. Toán pháp quyển. Tác phẩm này của tác giá Đỗ Đức Tộ 杜德祚 đã được biên soạn năm 1909.

Cuốn sách bắt đầu với bảng nhân và tập hợp các qui tắc thực hiện trên công cụ tính toán và chứa các bài toán liên quan đến phân bổ tỉ lệ, tính thể tích của các khối, tính diện tích các hình phẳng, khai căn bậc hai, tính thu hoạch từ cánh đồng với diện tích đã cho.

20. Tổng tụ chư gia toán pháp đại toàn. Bản viết tay trong thư viện Hán Nôm không đầy đủ, chỉ chứa chương 3 (48 bài toán), chương 4 (32 bài toán), và hai trang đầu của Phụ lục (chứa một bài toán).

Các bài toán liên quan đến phân bổ có trọng, tính thể tích, và các vấn đề khác, chủ yếu liên quan đến xây dựng, lao động tập thể, và các công việc hành chính. Có thể cuốn sách chứa các bài toán trong các kì thi toán quốc gia (Mở đầu Chương 3 đề cập đến kì thi này).

21. Trùng đính Toán học chỉ nam tân biên. Cuốn sách viết tay không biết tên tác giả nằm trong thư viện Viện nghiên cứu Lịch sử (Hà Nội).

Nó chứa các bài toán liên quan đến tính diện tích các hình phẳng, khai căn bậc hai và bậc ba, ứng dụng của tam giác vuông vào đo đạc từ xa (trong đó có phương pháp cắm hai cọc và các hình vẽ minh họa), sử dụng các cọc đo ruộng đất, và các phương pháp khác.

Cuốn sách nhắc đến hệ thống đơn vị đo được qui định trong thời Gia Long (1802-1820) được viết bằng chữ Hán, do đó chỉ có thể được viết sau nửa đầu của thế kỉ 19. Nhưng cuốn sách chứa một số lớn các tính toán kiểu phương Tây được viết với các chữ số Ả-Rập trong văn bản, điểu này cho phép giả thiết rằng các tác giả của nó hoặc ít nhất người biên tập hoặc người chép cuối cùng đã làm quen với các phương pháp phương Tây, và bản chép tay còn lại được làm rất muộn về sau.

22. Ý Trai toán pháp nhất đắc lục. Nguyễn Hữu Thận (1756-1831), người giữ những vị trí cao trong chính phủ và đã đi sứ sang Trung Hoa vào khoảng giữa các năm 1809 và 1813, đã hoàn thành cuốn sách vào năm 1829. Ông đã tìm được những cuốn sách liên quan đến thiên văn và đã trao đổi với các nhà thiên văn Trung Hoa.

Cuốn sách chứa tám chương dành cho các phép toán số học cơ bản thực hiện với công cụ tính, hệ thống đo lường, tính diện tích hình phẳng, phân bổ có trọng, “khai căn bậc hai” (theo ngôn ngữ hiện đại là giải phương trình bậc hai), các tính chất của tam giác vuông (đặc biệt liên quan đến việc sử dụng trong đo đạc từ xa), “khai căn bậc ba” (nghĩa hiện đại: giải số phương trình bậc ba), và các vấn đề khác của chương trình toán học truyền thống.

Cuốn sách chứa các giải thích của tác giả liên quan đến các phép toán bằng số cần thực hiện, từ nguyên của các danh từ toán học, cơ sở của các qui tắc, và do đó có thể được sử dụng như là một cuốn sách giáo khoa để đào tạo chuyên nghiệp các nhà toán học và các nhà thiên văn quốc gia.

Theo TẠP CHÍ TIA SÁNG